Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm Việt Nam Mới Nhất / 2023 / Top 15 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 11/2022 # Top View | Bac.edu.vn

Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm Mới Nhất 2022 / 2023

Ra đời từ năm 2000 và được sửa đổi bời Luật kinh doanh bảo hiểm mới nhất số: 61/2010/QH12 ban hành ngày 24/11/2010, nhằm điều chỉnh tổ chức và hoạt động kinh doanh bảo hiểm, xác định quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân tham gia bảo hiểm. Nhưng KHÔNG áp dụng đối với bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm tiền gửi và các loại bảo hiểm khác do Nhà nước thực hiện không mang tính kinh doanh.

Bộ luật kinh doanh bảo hiểm

Luật kinh doanh bảo hiểm (PDF)

NỘI DUNG CỦA LUẬT SỬA ĐỔI LUẬT KINH DOANH BẢO HIỂM 2020

Ngày 14/06/2019, Quốc hội thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kinh doanh bảo hiểm, Luật Sở hữu trí tuệ 42/2019/QH14. Cụ thể, cá nhân cung cấp dịch vụ phụ trợ bảo hiểm phải mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp cho việc cung cấp dịch vụ tư vấn bảo hiểm; tổ chức cung cấp dịch vụ này phải mua bảo hiểm trác nhiệm nghề nghiệp phù hợp với từng loại hình dịch vụ phụ trợ bảo hiểm. Ngoài ra, cá nhân, tổ chức nói trên còn có trách nhiệm sử dụng đúng mục đích thông tin khách hàng, không cung cấp thông tin cho bên thứ 3 nếu không được khách hàng đồng ý…Mặt khác, tổ chức cung cấp dịch vụ phụ trợ bảo hiểm không được cung cấp dịch vụ giám định tổn thất bảo hiểm và hỗ trợ giải quyết bồi thường bảo hiểm cho hợp đồng mà mình là bên mua hoặc bên được bảo hiểm hoặc người thụ hưởng. Doanh nghiệp môi giới bảo hiểm không được cung cấp dịch vụ giám định tổn thất bảo hiểm cho hợp đồng mà mình thu xếp thực hiện.

NỘI DUNG LUẬT KINH DOANH BẢO HIỂM MỚI NHẤT

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 7. Các loại nghiệp vụ bảo hiểm

Bảo hiểm nhân thọ bao gồm:

a) Bảo hiểmtrọn đời;

b) Bảo hiểm sinh kỳ;

c)Bảo hiểm tử kỳ;

d) Bảo hiểmhỗnhợp;

đ) Bảo hiểm trả tiền định kỳ;

e) Bảo hiểm liên kếtđầu tư;

g) Bảo hiểmhưu trí.

Bảo hiểm phi nhân thọ bao gồm:

 a) Bảo hiểmtài sản và bảo hiểm thiệt hại;

b)Bảohiểm hàng hoá vận chuyển đường bộ, đường biển, đường thủy nội địa, đường sắt và đường hàng không;

c)Bảo hiểm hàngkhông;

d) Bảo hiểmxecơ giới;

đ) Bảo hiểm cháy, nổ;

e) Bảo hiểmthân tàu và trách nhiệm dânsự của chủ tàu;

g) Bảo hiểmtrách nhiệm;

h) Bảo hiểmtín dụng vàrủi ro tài chính;

i) Bảo hiểm thiệthại kinh doanh;

k)Bảo hiểm nôngnghiệp.

Bảo hiểm sức khoẻ bao gồm:

a) Bảo hiểm tai nạn con người;

b) Bảo hiểmy tế;

c) Bảo hiểmchăm sóc sức khoẻ.

Điều 8. Bảo hiểm bắt buộc

1. Bảo hiểm bắt buộc là loại bảo hiểm do pháp luật quy định về điều kiện bảo hiểm, mức phí bảo hiểm, số tiền bảo hiểm tối thiểu mà tổ chức, cá nhân tham gia bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm có nghĩa vụ thực hiện.

Bảo hiểm bắt buộc chỉ áp dụng đối với một số loại bảo hiểm nhằm mục đích bảo vệ lợi ích công cộng và an toàn xã hội.

2. Bảo hiểm bắt buộc bao gồm:

A) Bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới, bảo hiểm trách nhiệm dân sự của người vận chuyển hàng không đối với hành khách;

B) Bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp đối với hoạt động tư vấn pháp luật;

C) Bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp của doanh nghiệp môi giới bảo hiểm;

D) Bảo hiểm cháy, nổ. ( chi tiết)

3. Căn cứ vào nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội từng thời kỳ, Chính phủ trình ủy ban thường vụ Quốc hội quy định loại bảo hiểm bắt buộc khác.

Điều 9.

 Tái bảo hiểm

Doanh nghiệp bảo hiểm có thể tái bảo hiểm cho doanh nghiệp bảo hiểm khác, bao gồm cả doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài, tổ chức nhận tái bảo hiểm nước ngoài. Doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài, tổ chức nhận tái bảo hiểm nước ngoài phảiđạt hệ số tín nhiệm theo xếp hạng của công ty đánh giá tín nhiệm quốc tế do Bộ Tài chính quy định.”

HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM

Điều 12. Hợp đồng bảo hiểm

1. Hợp đồng bảo hiểm là sự thoả thuận giữa bên mua bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm, theo đó bên mua bảo hiểm phải đóng phí bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm.

Điều 19. Trách nhiệm cung cấp thông tin

2. Doanh nghiệp bảo hiểm có quyền đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng bảo hiểm và thu phí bảo hiểm đến thời điểm đình chỉ thực hiện hợp đồng bảo hiểm khi bên mua bảo hiểm có một trong những hành vi sau đây:

A) Cố ý cung cấp thông tin sai sự thật nhằm giao kết hợp đồng bảo hiểm để được trả tiền bảo hiểm hoặc được bồi thường;

B) Không thực hiện các nghĩa vụ trong việc cung cấp thông tin cho doanh nghiệp bảo hiểm theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 18 của Luật này.

3. Trong trường hợp doanh nghiệp bảo hiểm cố ý cung cấp thông tin sai sự thật nhằm giao kết hợp đồng bảo hiểm thì bên mua bảo hiểm có quyền đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng bảo hiểm; doanh nghiệp bảo hiểm phải bồi thường thiệt hại phát sinh cho bên mua bảo hiểm do việc cung cấp thông tin sai sự thật.

Điều 21. Giải thích hợp đồng bảo hiểm

Trong trường hợp hợp đồng bảo hiểm có điều khoản không rõ ràng thì điều khoản đó được giải thích theo hướng có lợi cho bên mua bảo hiểm.

VỀ HOẠT ĐỘNG ĐẠI LÝ VÀ MÔI GIỚI BẢO HIỂM

Điều 85. Nội dung hoạt động đại lý bảo hiểm

Đại lý bảo hiểm có thể được doanh nghiệp bảo hiểm uỷ quyền tiến hành các hoạt động sau đây:

1. Giới thiệu, chào bán bảo hiểm;

2. Thu xếp việc giao kết hợp đồng bảo hiểm;

3. Thu phí bảo hiểm;

4. Thu xếp giải quyết bồi thường, trả tiền bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm;

Điều 90. Nội dung hoạt động môi giới bảo hiểm

Nội dung hoạt động môi giới bảo hiểm bao gồm:

1. Cung cấp thông tin về loại hình bảo hiểm, điều kiện, điều khoản, phí bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm cho bên mua bảo hiểm;

2. Tư vấn cho bên mua bảo hiểm trong việc đánh giá rủi ro, lựa chọn loại hình bảo hiểm, điều kiện, điều khoản, biểu phí bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm;

3. Đàm phán, thu xếp giao kết hợp đồng bảo hiểm giữa doanh nghiệp bảo hiểm và bên mua bảo hiểm;

Điều 98. Đầu tư vốn

1. Việc đầu tư vốn của doanh nghiệp bảo hiểm phải bảo đảm an toàn, hiệu quả và đáp ứng được yêu cầu chi trả thường xuyên cho các cam kết theo hợp đồng bảo hiểm.

2. Doanh nghiệp bảo hiểm chỉ được sử dụng vốn nhàn rỗi của mình để đầu tư ở Việt Nam trong các lĩnh vực sau đây:

A) Mua trái phiếu Chính phủ;

B) Mua cổ phiếu, trái phiếu doanh nghiệp;

C) Kinh doanh bất động sản;

D) Góp vốn vào các doanh nghiệp khác;

Đ) Cho vay theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng;

E) Gửi tiền tại các tổ chức tín dụng.

LUẬT, NGHỊ ĐỊNH, THÔNG TƯ HƯỚNG DẪN THI HÀNH 

Tên văn bản

Ngày ban hành

Cơ quan ban hành

Nội dung văn bản

Luật Kinh doanh bảo hiểm 24/2000/QH10

09/12/2000

Quốc hội

Luật quy định về hoạt động kinh doanh bảo hiểm

Download

Nghị định 45/2007/NĐ-CP

27/03/2007

Chính phủ

Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Kinh doanh bảo hiểm

Download

Nghị định 46/2007/NĐ-CP

27/03/2007

Chính phủ

Quy định chế độ tài chính với doanh nghiệp bảo hiểm và doanh nghiệp môi giới bảo hiểm

Download

Luật sửa đổi bổ sung Luật kinh doanh bảo hiểm

61/2010/QH12

24/11/2010

Quốc hội

Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật kinh doanh bảo hiểm

Download

Nghị định 123/2011/NĐ-CP

28/12/2011

Chính phủ

Quy định chi tiết một số điều của Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Kinh doanh bảo hiểm và sửa đổi bổ sung nghị định 45/2007/NĐ-CP

Download

Thông tư 124/2012/TT-BTC

30/07/2012

Bộ Tài chính

Hướng dẫn thi hành nghị định 45/2007/NĐ-CP và Luật Sửa đổi bổ sung luật Kinh doanh bảo hiểm

Download

Download phụ lục

Thông tư 125/2012/TT-BTC

30/07/2012

Bộ Tài chính

Quy định về các khoản mục chi phí trong kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ

Download

Thông tư 232/2012/TT-BTC

28/12/2012

Bộ Tài chính

Hướng dẫn kế toán áp dụng với doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ, doanh nghiệp tái bảo hiểm và chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài

Download

Nghị định 98/2013/NĐ-CP

28/08/2013

Chính phủ

Quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm, kinh doanh xổ số

Download

Nghị định 68/2014/NĐ-CP

09/07/2014

Chính phủ

Sửa đổi bổ sung một số điều của nghị định 45/2007/NĐ-CP

Download

Thông tư 194/2014/TT-BTC

17/12/2014

Bộ Tài chính

Sửa đổi bổ sung một số điều của Thông tư 124/2012/TT-BTC và Thông tư 125/2012/TT-BTC

Download

Nghị định 12/2015/NĐ-CP

12/02/2015

Chính phủ

Quy định chi tiết thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các Luật và thuế sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định về thuế

Download

Quyết định 15/QĐ-QLBH

10/03/2015

Bộ Tài chính

Ban hành quy chế tổ chức thi, cấp chứng chỉ đại lý bảo hiểm

Download

Nghị Định 73/2016/NĐ-CP của Chính phủ

01/07/2016

Chính Phủ

CẦN TƯ VẤN VỀ LUẬT KINH DOANH BẢO HIỂM MỚI NHẤT

Hoặc muốn trở thành đối tác phân phối sản phẩm bảo hiểm với thu nhập thu động ngay trên app Moncover, đơn giản bạn tải apps moncover và trở thành đối tác của chúng tôi.

#luatkinhdoanhbaohiem

Luận Án: Pháp Luật Về Kinh Doanh Bảo Hiểm Nhân Thọ Tại Việt Nam / 2023

, ZALO 0932091562 at BÁO GIÁ DV VIẾT BÀI TẠI: chúng tôi

Published on

Download luận án tiến sĩ ngành luật kinh tế với đề tài: Pháp luật về kinh doanh bảo hiểm nhân thọ ở Việt Nam – Những vấn đề lý luận và thực tiễn, cho các bạn làm luận án tham khảo

1. BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI TRẦN VŨ HẢI PHÁP LUẬT VỀ KINH DOANH BẢO HIỂM NHÂN THỌ Ở VIỆT NAM NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC HÀ NỘI, 2014

2. BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI TRẦN VŨ HẢI PHÁP LUẬT VỀ KINH DOANH BẢO HIỂM NHÂN THỌ Ở VIỆT NAM NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ MÃ SỐ: 62.38.01.07 NGƯỜI HƯỚNG DẪN: 1. TS. BÙI NGỌC CƯỜNG 2. TS. NGUYỄN VĂN TUYẾN HÀ NỘI, 2014

3. LỜI CAM ĐOAN Tôi cam đoan luận án này là công trình nghiên cứu do chính tôi thực hiện. Mọi số liệu, kết quả nghiên cứu đã công bố được tham khảo trong luận án đều trung thực và trích dẫn nguồn tài liệu đúng quy định. Những kết quả nghiên cứu của luận án chưa từng được công bố trong bất cứ công trình của tác giả nào khác. Nghiên cứu sinh Trần Vũ Hải

6. DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN BHNT : Bảo hiểm nhân thọ BVNĐBH : Bảo vệ người được bảo hiểm DNBH : Doanh nghiệp bảo hiểm HĐBH : Hợp đồng bảo hiểm HĐBHNT : Hợp đồng bảo hiểm nhân thọ IAIS : Hiệp hội quốc tế các cơ quan giám sát bảo hiểm International Association of Insurance Supervisors ICP : Các nguyên tắc cốt lõi của bảo hiểm Insurance Core Principles NAIC : Hiệp hội quốc gia các Ủy ban bảo hiểm Hoa Kỳ The National Association of Insurance Commissioners WTO : Tổ chức Thương mại Thế giới World Trade Organization

9. – 4 – Với yêu cầu về dung lượng, luận án được xác định giới hạn nghiên cứu như sau: – Đối tượng nghiên cứu là hệ thống quy định pháp luật về kinh doanh BHNT ở Việt Nam kể từ khi có Luật kinh doanh bảo hiểm năm 2000 cho đến hiện nay, trong đó tác giả tập trung chủ yếu vào hệ thống các quy định pháp luật hiện hành. Giai đoạn trước khi Luật Kinh doanh bảo hiểm có hiệu lực không thuộc phạm vi nghiên cứu của luận án, tuy nhiên có thể được đề cập khi so sánh và đánh giá các quy định pháp luật hiện hành. – Những nghiên cứu của luận án hướng tới hệ thống các quy định pháp luật điều chỉnh đối với hoạt động kinh doanh BHNT nói chung, không đi sâu vào các quy định cá biệt để điều chỉnh một số sản phẩm BHNT đặc thù. 4. Phương pháp nghiên cứu Để thực hiện được những nhiệm vụ nghiên cứu và mục đích nghiên cứu, dưới giác độ khái quát, luận án được tiếp cận theo phương pháp luận của chủ nghĩa Mác Lênin trong việc giải quyết nhiệm vụ nghiên cứu. Đối với từng nội dung cụ thể, đề tài chủ yếu sử dụng phương pháp phân tích, thống kê, phương pháp so sánh luật học và phương pháp lịch sử. Phương pháp phân tích được áp dụng phổ biến trong việc xây dựng các luận điểm trong từng nội dung của luận án. Thông qua việc phân tích từng khía cạnh của đối tượng nghiên cứu, luận án sẽ xây dựng các khái niệm hoặc chứng minh các luận điểm đã được đưa ra. Phương pháp thống kê được áp dụng trong quá trình đánh giá thực tiễn về áp dụng pháp luật về kinh doanh BHNT. Bằng việc sử dụng các số liệu thực tế thông qua phương pháp thông kê sẽ chứng minh cho các nhận định được đưa ra. Phương pháp so sánh luật học được áp dụng tương đối phổ biến trong quá trình phân tích các luận điểm. Nội dung so sánh chủ yếu bao gồm so sánh các quy định pháp luật hiện hành của Việt Nam với quy định pháp luật của một số quốc gia trên thế giới và so sánh giữa quy định pháp luật hiện hành của Việt Nam với các tiêu chuẩn, tập quán quốc tế. Phương pháp lịch sử được sử dụng để nghiên cứu quá trình phát triển của hệ thống pháp luật kinh doanh BHNT gắn với bối cảnh phát triển kinh tế xã hội Việt Nam. 5. Ý nghĩa khoa học và tính thực tiễn Luận án là công trình chuyên khảo xây dựng hệ thống lý luận về pháp luật kinh doanh BHNT cũng như đánh giá tương đối toàn diện thực trạng pháp luật hiện hành điều chỉnh lĩnh vực này. Do đó, luận án sẽ góp phần bổ sung tri thức trong ngành khoa học pháp lý nói chung và chuyên ngành Luật kinh tế nói riêng về lĩnh vực pháp luật kinh doanh BHNT.

10. – 5 – Kết quả nghiên cứu của luận án có tính ứng dụng thực tiễn. Một là, luận án đóng góp những căn cứ khoa học cho việc tiếp tục hoàn thiện pháp luật về kinh doanh BHNT ở Việt Nam. Hai là, luận án sẽ góp phần đóng góp vào hệ thống kiến thức pháp lý để các cơ quan quản lý nhà nước, DNBH và người tham gia bảo hiểm áp dụng các quy định của pháp luật một cách hiệu quả. 6. Kết cấu của luận án Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận án có 4 chương, cụ thể như sau: Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu Chương 2: Những vấn đề lý luận về kinh doanh bảo hiểm nhân thọ và pháp luật kinh doanh bảo hiểm nhân thọ Chương 3: Thực trạng pháp luật kinh doanh bảo hiểm nhân thọ ở Việt Nam Chương 4: Những giải pháp hoàn thiện pháp luật kinh doanh bảo hiểm nhân thọ ở Việt Nam

14. – 9 – sâu và toàn diện trong tác phẩm “Một số vấn đề về quyền tự do kinh doanh trong pháp luật kinh tế hiện hành tại Việt Nam” [27]. Những quan điểm này có thể áp dụng trong phân tích những nội dung về nguyên tắc tự do kinh doanh trong lĩnh vực BHNT. Nguyên tắc bảo vệ quyền lợi người tham gia bảo hiểm có một số quan điểm đáng chú ý như: Dominique Ponsot (2010) trong bài tham luận “Bảo vệ người tiêu dùng chống lại các điều khoản lạm dụng” [57] và Takahiro Yasui (2001) trong tác phẩm “Policyholder Protection Fund: Rationale and Structure” [148]. Qua các công trình kể trên, có thể đánh giá như sau: – Các công trình thường không đề cập cùng một lúc hai nguyên tắc quan trọng của pháp luật kinh doanh BHNT là nguyên tắc đảm bảo quyền tự do kinh doanh và nguyên tắc bảo vệ quyền lợi người tham gia bảo hiểm. – Nội dung của các nguyên tắc chưa được phân tích cụ thể, đặc biệt là nguyên tắc bảo vệ quyền lợi của người tham gia bảo hiểm. Đồng thời, các công trình nghiên cứu chưa đề cập đến việc xây dựng các quy định pháp luật như thế nào để đảm bảo những nguyên tắc này được thực hiện. – Về cấu trúc pháp luật kinh doanh BHNT Việc nghiên cứu về cấu trúc pháp luật về kinh doanh BHNT có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định nội dung pháp luật về lĩnh vực này. Đề cập đến vấn đề này có những quan điểm chủ yếu sau: John Birds và Norma chúng tôi (2004) trong tác phẩm “Modern Insurance Law” [94]; Muriel L.Crawford (1998) trong tác phẩm “Life & Health Insurance Law” [102]. Jérôme Yeatman (2001) trong “Giáo khoa quốc tế về bảo hiểm” [89] và một số công trình khác. Qua các công trình kể trên, có thể đánh giá là đa số các nghiên cứu thường hướng đến việc xác định nguồn luật điều chỉnh đối với nội dung nhất định của pháp luật về kinh doanh BHNT hơn là trả lời câu hỏi pháp luật về lĩnh vực này cần điều chỉnh những nội dung gì. Nhiều công trình (ví dụ như của Jonh Birds và Norma J.Hird, của Muriel L.Crawford) đã nhìn nhận cấu trúc pháp luật kinh doanh bảo hiểm xuất phát từ mối quan hệ HĐBH. Quan điểm của Jérôme Yeatman (2001) có tính hợp lý hơn cả khi tác giả thấy được quan hệ kinh doanh bảo hiểm rộng hơn là quan hệ HĐBH, nhưng tác giả chỉ coi các quy định điều chỉnh về địa vị pháp lý của DNBH thuộc về nội dung giám sát của nhà nước. Đi sâu vào từng nội dung lý luận về của từng bộ phận trong cấu trúc pháp luật về kinh doanh BHNT, có một số công trình đáng chú ý như: – Các ấn phẩm do Hiệp hội quốc tế các nhà giám sát bảo hiểm (IAIS) ấn hành, trong đó đáng chú ý nhất là các ấn phẩm như: IAIS (2011), Insurance core principles, standards, guidance and assessment methodology [121]; IAIS (2002), Guidance Paper

15. – 10 – on Public Disclosure by Insurers [117]; IAIS (2007), Guidance paper on use of internal models for risks and capital management purposes by insurers [120], v.v.. Những tác phẩm này là những công trình nghiên cứu mà IAIS đã tổng kết nhiều nội dung thực tiễn, từ đó đưa ra quan điểm và khuyến nghị đối với hoạt động giám sát bảo hiểm của các quốc gia thành viên. Những quan điểm và khuyến nghị này có ảnh hưởng mạnh mẽ đến các quy định pháp luật của nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam. Tuy nhiên, IAIS chỉ nhìn nhận dưới giác độ quản lý và giám sát, còn vận dụng vào cụ thể vào các quy định pháp luật như thế nào thì không được đề cập. – Một số công trình tập trung nghiên cứu về khả năng thanh toán của DNBH mà nổi bật nhất là công trình nghiên cứu của Takahiro Yasui (2001) là “Policyholder Protection Fund: Rationale and Structure” [148]. Tác phẩm này đóng góp rất nhiều nội dung về mặt lý luận khi tác giả đã nghiên cứu và có sự so sánh từ nhiều quốc gia khác nhau. Bên cạnh đó, một công trình khác rất đáng chú ý là Nguyen Van Thanh & Takao Atsushi (2005) với tên gọi “Proposals of the Suitable Solvency Regulation for the Vietnamese Life Insurance Industry – Based on the Experience from the US and Japan” [145]. Trong công trình này, các tác giả đã khảo cứu định lượng về khả năng thanh toán của các DNBH ở Việt Nam trong giai đoạn 1998 – 2004 theo mô hình đánh giá dựa trên rủi ro và đã có những nhận xét quan trọng, đặc biệt là so sánh giữa cách tiếp cận về khả năng thanh toán của Liên minh Châu Âu và cách tiếp cận của Mỹ và Nhật Bản. Tuy nhiên, những đề xuất pháp lý được đưa ra từ công trình này lại không nhiều. – Một số công trình nghiên cứu về những khía cạnh khác nhau của HĐBHNT, trong đó nổi bật như: GS,TS. Trương Mộc Lâm và Lưu Nguyên Khánh (2001) với tác phẩm “Một số điều cần biết về pháp lý trong kinh doanh bảo hiểm” [50], John Birds và Norma chúng tôi (2004) với “Modern Insurance Law” [94] và Trần Vũ Hải (2006) với “Hợp đồng bảo hiểm nhân thọ – những vấn đề lý luận và thực tiễn” [39]. Trong tác phẩm “Một số điều cần biết về pháp lý trong kinh doanh bảo hiểm”, các tác giả có phân tích nhiều loại hình HĐBH, trong đó có BHNT, tuy nhiên chỉ tập trung vào những đặc điểm của HĐBHNT chứ chưa đề cập nhiều đến nội dung lý luận khác. Tác giả Trần Vũ Hải (2006) đã xây dựng nhiều nội dung lý luận quan trọng, đặc biệt là nội dung về điều khoản mẫu. Tuy nhiên, tác giả cũng chỉ dừng lại ở sự phân tích theo quan điểm cá nhân, chưa có sự so sánh thấu đáo với các quan điểm khoa học khác. – Ngoài những tác phẩm của IAIS, có một số công trình nghiên cứu về hoạt động giám sát kinh doanh bảo hiểm mà đáng chú ý nhất là: Rodney Lester (2009) với tác phẩm “Consumer Protection Insurance” có những đánh giá về tầm quan trọng của khu vực tư (bên cạnh các cơ quan công quyền) trong hoạt động giám sát [127]; Võ Trí Thành & Lê Xuân Sang (2013) trong “Giám sát hệ thống tài chính: Chỉ tiêu và mô hình định lượng” có đề cập đến các mô hình giám sát [75]. Tuy nhiên, những công

16. – 11 – trình này chưa luận giải về cấu trúc các quy định về hoạt động giám sát kinh doanh BHNT gồm những nội dung gì. Như vậy, có thể kết luận, vấn đề cấu trúc pháp luật về kinh doanh BHNT ở Việt Nam hiện nay chưa được nghiên cứu một cách tổng thể, đồng thời cách tiếp cận của các tác giả cũng rất khác nhau cần được tiếp tục nghiên cứu và làm rõ. Các tác giả chưa xuất phát từ các mối quan hệ pháp luật phát sinh trong hoạt động kinh doanh BHNT với một bên chủ thể là DNBH. Đối với từng bộ phận thuộc cấu trúc pháp luật về kinh doanh BHNT, có một số công trình nghiên cứu có thể kế thừa, từ đó hình thành các luận điểm mới để xây dựng cấu trúc pháp luật về kinh doanh BHNT. – Về những yếu tố chi phối đến pháp luật kinh doanh BHNT Có thể khẳng định hiện nay chưa có công trình nào chỉ ra tổng thể những yếu tố chi phối đến pháp luật kinh doanh BHNT. Tuy nhiên, ở giác độ khái quát và từng yếu tố cụ thể thì đã có một số tác giả nghiên cứu với những kết quả nhất định. Ở góc độ lý luận chung về pháp luật, tác giả Nguyễn Minh Đoan (2008) trong tác phẩm “Vai trò của pháp luật trong đời sống xã hội” đã phân tích về yếu tố phong tục tập quán có ảnh hưởng đến việc xây dựng và thực hiện pháp luật [36]. Còn tác giả Bùi Ngọc Cường trong tác phẩm “Pháp luật Việt nam trong tiến trình hội nhập quốc tế và phát triển bền vững” đề cập đến yếu tố tư duy kinh tế và bối cảnh Việt Nam hiện nay [85]. Viện Khoa học Tài chính (2005) đã có những đánh giá tương đối chi tiết về những tác động của việc mở cửa thị trường đối với ngành bảo hiểm từ việc thực thi các cam kết khi gia nhập WTO, hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ, bao gồm những DNBH có nguồn vốn trong nước và DNBH có nguồn vốn nước ngoài; đổi mới về quản lý nhà nước như cấp phép hoạt động v.v.[87]. Đối với yếu tố chính sách của Đảng và Nhà nước đối với việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật bảo hiểm cũng được một số tác giả đề cập rải rác trong các công trình nghiên cứu. Về nội dung này, có thể đưa ra những đánh giá chung như sau: – Các công trình nghiên cứu chưa giải quyết được một cách tổng thể những yếu tố chính ảnh hưởng đến pháp luật về kinh doanh BHNT, mà thường chỉ tập trung vào một số những yếu tố nhất định, trong đó đặc biệt nhấn mạnh đến yếu tố hội nhập quốc tế. Tuy nhiên đối với yếu tố hội nhập quốc tế, các công trình chỉ tập trung nghiên cứu những tác động của việc gia nhập WTO và Hiệp định Thương mại Việt Nam Hoa Kỳ mà chưa nghiên cứu nội dung tập quán quốc tế của lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm. Từ năm 2009, cơ quan quản lý bảo hiểm của Việt Nam đã là thành viên Hiệp hội quốc tế các cơ quan giám sát bảo hiểm (IAIS) nên những quy tắc, hướng dẫn của cơ quan này rất có ảnh hưởng đến nội dung pháp luật Việt Nam nhưng chưa được nghiên cứu. – Nhiều yếu tố quan trọng không được nghiên cứu như sự tương tác giữa các bộ

18. – 13 – thể dưới giác độ chuyên ngành kinh tế học, chưa có đánh giá tổng quan dưới góc độ luật học để đưa ra những khuyến nghị rõ ràng về việc hoàn thiện pháp luật hiện nay. Hai là, nhiều nội dung chưa được nghiên cứu một cách thỏa đáng như vấn đề thành lập và cơ cấu tổ chức của DNBH kinh doanh BHNT, thực trạng quy định về hoạt động kinh doanh của DNBH như cung ứng sản phẩm BHNT và hoạt động đầu tư, việc đánh giá về thực trạng quy định khả năng thanh toán, về Quỹ BVNĐBH, v.v.. b) Thực trạng quy định về HĐBHNT Vấn đề thực trạng quy định về HĐBHNT được nhiều công trình nghiên cứu đề cập nhiều hơn là những nội dung khác của pháp luật về kinh doanh BHNT. Hầu hết các công trình nghiên cứu đều đề cập đến những khía cạnh cụ thể về thực trạng quy định đối với HĐBHNT như nghĩa vụ nộp phí, việc xác định quyền lợi có thể được bảo hiểm, quan hệ bồi thường v.v.. Tác giả Nguyễn Văn Tuyến (2011) trong bài báo “Quyền và nghĩa vụ tài sản của vợ chồng khi tham gia quan hệ kinh doanh bảo hiểm” đã có nghiên cứu về vấn đề tài sản giữa vợ và chồng trong quan hệ bảo hiểm. Tác giả cũng chỉ ra rằng, sự mơ hồ trong các quy định về vấn đề tài sản vợ chồng sẽ làm phức tạp quan hệ bảo hiểm và có thể khó giải quyết các tranh chấp phát sinh [86]. Cũng đề cập đến trách nhiệm bảo hiểm, tác giả Phí Thị Quỳnh Nga (2006) lại quan tâm đến các quy định về loại trừ trách nhiệm bảo hiểm. Tác giả cho rằng quy định tại Điều 16 và Điều 39 Luật Kinh doanh bảo hiểm còn bất hợp lý và chưa rõ ràng, có thể dẫn đến những cách hiểu và vận dụng khác nhau giữa các DNBH, cũng như không phù hợp với thông lệ của pháp luật nhiều quốc gia trên thế giới [54]. Tác giả Trần Vũ Hải (2006) trong tác phẩm “Hợp đồng bảo hiểm nhân thọ – Những vấn đề lý luận và thực tiễn” đã có những kết quả nghiên cứu nhất định, trong đó đã chỉ ra nhiều nguyên nhân cơ bản dẫn đến thực trạng quy định và áp dụng pháp luật, tuy nhiên tác giả còn lúng túng trong việc sắp xếp các nội dung, còn nhầm lẫn giữa hiện tượng và nguyên nhân của thực trạng [39]. c) Thực trạng quy định về hoạt động giám sát trong kinh doanh BHNT Hiện nay có rất ít công trình nghiên cứu về thực trạng pháp luật điều chỉnh hoạt động giám sát trong kinh doanh bảo hiểm, tiêu biểu chỉ có một số kết quả đáng chú ý. Chẳng hạn, TS.Võ Trí Thành & Lê Xuân Sang (2013) trong “Giám sát hệ thống tài chính: Chỉ tiêu và mô hình định lượng” có nhận xét là mô hình giám sát hiện nay của Việt Nam về thị trường tài chính còn nhiều bất cập nên việc giám sát không hiệu quả, trong đó có thị trường bảo hiểm [75]. Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm (2012) trong bài “Đánh giá thực tiễn hoạt động giám sát các tập đoàn, doanh nghiệp cung cấp các dịch vụ tài chính có kinh doanh bảo hiểm tại Việt Nam”, đã nhận định rằng các chuẩn mực giám sát của Việt Nam hiện nay đã lạc hậu, cần được sửa đổi, bổ sung [26].

19. – 14 – Như vậy, các công trình nghiên cứu kể trên còn chưa phân tích được về thực trạng pháp luật điều chỉnh hoạt động giám sát thông qua những nhóm nội dung lớn của quy định pháp luật như yêu cầu minh bạch thông tin, thẩm quyền giám sát, nội dung giám sát và phương thức giám sát. Tóm lại, người viết xin được đánh giá chung về các kết quả nghiên cứu thực trạng pháp luật về kinh doanh BHNT như sau: – Một số công trình đã có những kết quả nghiên cứu có thể kế thừa, phát triển khi triển khai phân tích, đánh giá về thực trạng pháp luật ở Chương 3. Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách tổng thể tất cả những nội dung pháp luật về kinh doanh BHNT, do đó chưa có những đánh giá mang tính chất xuyên suốt làm cơ sở để sửa đổi toàn diện pháp luật kinh doanh BHNT hiện hành. – Rất ít các công trình tiếp cận dưới giác độ khoa học pháp lý nên những đánh giá, nhận xét thường nghiêng về khía cạnh quản lý hơn là chỉ ra những bất cập và hiệu quả áp dụng của các quy định pháp luật. – Trong hầu hết các công trình, việc so sánh giữa các quy định của pháp luật Việt Nam với các quy định pháp luật của các quốc gia khác còn tương đối hạn chế, đặc biệt là chưa đánh giá thực trạng của các quy định hiện hành so với tiêu chuẩn của IAIS và những thông lệ phổ biến trong pháp luật của các quốc gia khác. 1.1.3. Những đề xuất trong các công trình nghiên cứu nhằm nâng cao tính hiệu quả thực thi pháp luật về kinh doanh bảo hiểm nhân thọ ở Việt Nam – Về những đề xuất đã công bố nhằm hoàn thiện các quy định của Luật kinh doanh bảo hiểm và các văn bản hướng dẫn thi hành Trong các công trình nghiên cứu kể trên, cũng có khá nhiều đề xuất, kiến nghị đáng chú ý đã được công bố, ví dụ như: – Phí Thị Quỳnh Nga (2006) trong bài báo “Những bất cập của điều khoản loại trừ trách nhiệm bảo hiểm trong Luật kinh doanh bảo hiểm” cho rằng một số quy định của Luật Kinh doanh bảo hiểm cần được sửa đổi vì chưa bao quát được hết các trường hợp cần điều chỉnh [54]. – PGS,TS.Hoàng Trần Hậu và ThS.Nguyễn Tiến Hùng (2013) trong “Giám sát an toàn tài chính đối với các doanh nghiệp bảo hiểm ở Việt Nam” đề xuất giải pháp khắc phục sự khác biệt giữa Chuẩn mực kế toán số 19 và quy định về trích lập dự phòng nghiệp vụ theo Thông tư 125/2012/TT-BTC. – Võ Trí Thành & Lê Xuân Sang (2013) trong tác phẩm “Giám sát hệ thống tài chính: Chỉ tiêu và mô hình định lượng” có đề xuất về xây dựng mô hình giám sát hợp nhất từ nay đến năm 2020. Tuy nhiên, các tác giả chưa đề xuất cụ thể các bước thực hiện mục tiêu này.

20. – 15 – Về những đề xuất nêu trên, người viết cho rằng các kết quả này cần được kế thừa và phát triển, tuy nhiên còn rất nhiều nội dung pháp luật cần hoàn thiện những chưa được nghiên cứu và đề xuất giải pháp hoặc mới chỉ đưa ra những giải pháp chung chung, rất ít các giải pháp hoàn thiện các quy định pháp luật cụ thể. Đồng thời, nhiều đề xuất ở trên còn chưa gắn kết với những chủ trương, định hướng lớn của Đảng và nhà nước trong việc phát triển thị trường bảo hiểm như Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Chiến lược phát triển kinh tế xã hội giai đoạn 2011 – 2020 và Báo cáo chính trị của Ban chấp hành trung ương Đảng Khóa X về đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển nhanh và bền vững. 1.2. ĐỊNH HƯỚNG NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN ÁN 1.2.1. Những vấn đề mà luận án cần giải quyết a) Xây dựng hệ thống lý luận về pháp luật kinh doanh bảo hiểm nhân thọ Trong nội dung này, luận án cần giải quyết những nhiệm vụ cụ thể sau: – Xây dựng khái niệm BHNT thể hiện bản chất pháp lý của loại hình bảo hiểm này với những đặc trưng của nó, phân biệt được BHNT với các nghiệp vụ bảo hiểm khác. Cùng với đó, xây dựng khái niệm “sản phẩm BHNT” để làm cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu hệ thống pháp luật về kinh doanh BHNT. – Xây dựng khái niệm “kinh doanh BHNT”, trong đó chứng minh rằng nội hàm của hoạt động kinh doanh này bao gồm cung cấp dịch vụ BHNT thông qua các sản phẩm bảo hiểm và hoạt động đầu tư từ nguồn phí bảo hiểm nhàn rỗi. – Xây dựng các nguyên tắc cơ bản của pháp luật kinh doanh BHNT, bao gồm nguyên tắc đảm bảo quyền tự do kinh doanh và nguyên tắc bảo vệ quyền lợi người tham gia bảo hiểm. – Xây dựng nội dung lý luận về cấu trúc pháp luật kinh doanh BHNT dựa trên các quan hệ pháp luật đặc thù của lĩnh vực này, với xuất phát từ giác độ DNBH. – Đánh giá tổng thể những yếu tố quan trọng nhất chi phối đến pháp luật kinh doanh BHNT. b) Phân tích, đánh giá tổng thể về thực trạng pháp luật về kinh doanh bảo hiểm nhân thọ Trong nội dung này, luận án cần giải quyết những nhiệm vụ cụ thể sau: Phân tích thực trạng của từng bộ phận pháp luật nằm trong cấu trúc pháp luật hiện hành điều chỉnh hoạt động kinh doanh BHNT bao gồm các quy định điều chỉnh doanh nghiệp kinh doanh BHNT, các quy định về HĐBHNT và các quy định về giám sát kinh doanh BHNT. Trong đó, bên cạnh việc đánh giá thành tựu đạt được, luận án

21. – 16 – tập trung phân tích những bất cập của pháp luật để làm cơ sở đưa ra các kiến nghị hoàn thiện. Trong quá trình phân tích, đánh giá, cần có sự so sánh với thông lệ quốc tế và pháp luật các quốc gia khác để có được những nhận định khách quan và khoa học. c) Đề xuất những giải pháp có căn cứ khoa học để hoàn thiện pháp luật kinh doanh bảo hiểm nhân thọ Trong nội dung này, luận án cần giải quyết những nhiệm vụ cụ thể sau: – Xác định rõ những yêu cầu trong việc việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh BHNT từ chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước. – Đề xuất hoàn thiện các quy định của pháp luật về địa vị pháp lý của DNBH, các quy định về HĐBHNT và quy định về giám sát đối với hoạt động kinh doanh bảo hiểm trên cơ sở giải quyết được những vướng mắc, bất cập hiện đang tồn tại, phù hợp với thông lệ quốc tế, góp phần tăng cường hiệu quả pháp luật và hội nhập quốc tế. 1.2.2. Nội dung chính của luận án Để giải quyết những nhiệm vụ của luận án đã nêu ra ở trên, nội dung chính của luận án sẽ bao gồm 3 chương từ Chương 2 đến Chương 4, cụ thể như sau: – Chương 2 với tiêu đề “Những vấn đề lý luận về kinh doanh bảo hiểm nhân thọ và pháp luật kinh doanh bảo hiểm nhân thọ”. Nội dung của chương này được phân chia thành 2 phần chính. Phần 2.1 tập trung phân tích làm rõ những vấn đề lý luận về kinh doanh BHNT, trong đó có xây dựng những khái niệm quan trọng và khái niệm BHNT, “sản phẩm BHNT” và “kinh doanh BHNT”. Phần 2.2 tập trung xây dựng nội dung lý luận về pháp luật kinh doanh BHNT như các nguyên tắc, cấu trúc pháp luật kinh doanh BHNT và các yếu tố chi phối đến pháp luật kinh doanh BHNT. – Chương 3 với tiêu đề “Thực trạng pháp luật kinh doanh bảo hiểm nhân thọ ở Việt Nam”. Chương này cũng chia thành 3 phần chính nhằm phân tích, đánh giá hệ thống các quy định hiện hành về pháp luật kinh doanh BHNT bao gồm các quy định về doanh nghiệp kinh doanh BHNT, quy định về HĐBHNT và quy định về giám sát hoạt động kinh doanh BHNT. Những nội dung của phần này thống nhất với cấu trúc pháp luật đã được xây dựng ở Chương 1 để đảm bảo những nội dung lý luận sẽ góp phần đánh giá thực trạng một cách chính xác. – Chương 4 với tiêu đề “Những giải pháp hoàn thiện pháp luật kinh doanh BHNT ở Việt Nam”. Chương này cũng được chia thành 2 phần chính. Phần 4.1 đưa ra những yêu cầu cơ bản trong việc hoàn thiện pháp luật theo định hướng của Đảng và Nhà nước. Phần 4.2 đưa ra những đề xuất về các giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện những nội dung còn bất cập, hạn chế đã được đánh giá ở Chương 3. Do đó, phần 4.2 cũng tuân theo cấu trúc pháp luật đã xây dựng, đồng thời đảm bảo những bất cập đã được kết luận ở Chương 3 sẽ có những giải pháp tương ứng.

22. – 17 – KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 1. Đề tài “Pháp luật về kinh doanh bảo hiểm nhân thọ ở Việt Nam – Những vấn đề lý luận và thực tiễn” là đề tài nghiên cứu có tính mới, chưa có công trình nghiên cứu nào giải quyết ở cấp độ luận án tiến sỹ luật học. Tuy nhiên, từng khía cạnh của đề tài thì cũng có nhiều công trình đề cập đến ở những mức độ khác nhau, bao gồm những kết quả nghiên cứu trong nước và nước ngoài. Một số kết quả trong những công trình này tiếp tục có giá trị kế thừa, nhưng đa số kết quả lại chưa giải quyết triệt để những nhiệm vụ đặt ra đối với đề tài, đặc biệt dưới khía cạnh khoa học pháp lý. 2. Những hạn chế của những kết quả nghiên cứu trước đây có thể khái quát như sau: một là, các kết quả nghiên cứu thiếu tính hệ thống khi chưa xây dựng các khái niệm cơ bản, đồng thời chỉ đề cập đến từng khía cạnh cụ thể mà không xác định được cấu trúc pháp luật về kinh doanh BHNT; hai là, các kết quả nghiên cứu về lý luận còn nhiều hạn chế, việc đánh giá thực trạng pháp luật còn thiếu so sánh giữa quy định Việt Nam và pháp luật nước ngoài cũng như ít đề cập đến thông lệ quốc tế. 3. Từ những đánh giá về kết quả nghiên cứu, người viết đã xác định rõ những vấn đề mà luận án cần giải quyết, từ đó xác định cụ thể những nhiệm vụ nghiên cứu về lý luận và thực trạng pháp luật kinh doanh BHNT cũng như đề xuất những giải pháp hoàn thiện pháp luật. Những nhiệm vụ này sẽ được giải quyết ở Chương 2, Chương 3 và Chương 4 của luận án này.

23. – 18 – CHƯƠNG 2 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KINH DOANH BẢO HIỂM NHÂN THỌ VÀ PHÁP LUẬT KINH DOANH BẢO HIỂM NHÂN THỌ 2.1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KINH DOANH BẢO HIỂM NHÂN THỌ 2.1.1. Bảo hiểm nhân thọ và sản phẩm bảo hiểm nhân thọ a) Khái niệm bảo hiểm nhân thọ Trong lịch sử phát triển của ngành bảo hiểm, BHNT với tư cách là dịch vụ thương mại xuất hiện muộn hơn so với loại hình bảo hiểm phi nhân thọ, đồng thời gắn với sự ra đời và phát triển của ngành khoa học xác suất và thống kê. Bằng chứng lâu đời nhất về sự xuất hiện các hình thức sơ khai của BHNT là thời Babilon cổ đại [149]. Cho đến tận đầu thế kỷ 17, BHNT vẫn còn hết sức đơn giản. Việc tham gia bảo hiểm chỉ là có mục đích tiết kiệm và tương trợ lẫn nhau trong cộng đồng mà không phải là hoạt động kinh doanh. Lý do chính giải thích cho hiện tượng này là thời điểm đó khoa học chưa phát triển để có thể tính toán được chi phí bồi thường nhằm đảm bảo khả năng kinh doanh có lãi đối với lĩnh vực BHNT. Thế kỷ 18 đánh dấu sự ra đời nhanh chóng của các DNBH kinh doanh BHNT đặc biệt là ở Vương quốc Anh và Hoa Kỳ. Từ những DNBH nhân thọ đầu tiên, sau khoảng hai thế kỷ rưỡi phát triển, đến nay thị trường BHNT đã trở nên rất quen thuộc với người dân hầu hết các quốc gia trên thế giới. Ở những nước phát triển, thị trường BHNT có quy mô khá lớn với một hệ thống pháp luật tương đối hoàn thiện, góp phần không nhỏ trong việc bảo vệ cuộc sống con người và tái đầu tư cho xã hội. Ở Việt Nam, BHNT là một dịch vụ tài chính tương đối mới mẻ. Mặc dù BHNT cũng đã từng xuất hiện trong thời kỳ Pháp thuộc và ở miền Nam trước ngày đất nước thống nhất nhưng không đáng kể. Sau ngày thống nhất đất nước, trong nền kinh tế theo cơ chế tập trung, lĩnh vực BHNT không có cơ hội phát triển [50, tr.199]. Về mặt pháp lý, thị trường BHNT chính thức được tái lập cách đây gần 20 năm bởi sự ra đời Nghị định 100/CP ngày 18/12/1993 của Chính phủ về kinh doanh bảo hiểm. Nhưng trên thực tế, hoạt động kinh doanh BHNT chỉ thực sự được triển khai theo Quyết định 281/BTC-TCNH ngày 20/3/1996 của Bộ trưởng Bộ Tài chính cho phép Tổng Công ty Bảo hiểm Việt Nam (Bảo Việt) được thí điểm kinh doanh sản phẩm BHNT với các nghiệp vụ bảo hiểm 5 năm, 10 năm và bảo hiểm trẻ em. Trải qua hơn 18 năm kể từ khi xuất hiện cho đến nay, thị trường BHNT Việt Nam được đánh giá là tương đối đa dạng các loại sản phẩm bảo hiểm và có tốc độ phát

25. – 20 – kết hợp với các hình thức đầu tư chứng khoán hoặc đầu tư vốn” [94, tr.9]. Định nghĩa này có ưu điểm là không những đề cập đến nội dung cốt lõi của nghiệp vụ BHNT mà còn đề cập đến tính tiết kiệm là một đặc trưng quan trọng trong hầu hết các sản phẩm BHNT hiện nay. Tuy nhiên, định nghĩa này chưa thật khái quát, hay nói cách khác, nó chỉ là quan niệm về BHNT trong những trường hợp cụ thể. Nhiều quốc gia cũng định nghĩa BHNT trong các văn bản pháp luật của mình. Luật Công ty bảo hiểm của New Zealand năm 1994 có đưa ra định nghĩa về BHNT là “bảo hiểm bằng việc trả tiền cho cái chết của người tham gia bảo hiểm (không loại trừ là do tai nạn hoặc có nguyên nhân bệnh tật hoặc đau ốm) hoặc do bất kỳ một sự cố ngẫu nhiên nào đó có tác động làm kết thúc hoặc duy trì cuộc sống của người đó; và kể cả một thỏa thuận pháp lý quy định việc trả phí bảo hiểm theo thời hạn phụ thuộc vào sự kết thúc hoặc tiếp tục sống của người được bảo hiểm cũng như đảm bảo một khoản trợ cấp định kỳ phụ thuộc vào cuộc sống tiếp tục của người đó” [132]. Một định nghĩa tương tự cũng được quy định trong phần giải thích thuật ngữ của Đạo luật Bảo hiểm của Cộng hòa Singapore năm 1970 (bản sửa đổi năm 1994) [3, tr.468]. Cách định nghĩa như trên là khái quát, đề cập cả trường hợp BHNT trọn đời, nhưng tương đối phức tạp trong cách tiếp cận, nhất là đối với quốc gia có hệ thống pháp luật còn đang trong quá trình hoàn thiện như Việt Nam. Đạo luật BHNT Australia năm 1995 không đưa ra định nghĩa về BHNT, nhưng liệt kê HĐBHNT bao gồm nhiều loại, trong đó đặc trưng nhất là thỏa thuận giữa DNBH và người tham gia bảo hiểm mà theo đó, DNBH sẽ trả một khoản tiền phụ thuộc vào sự sống hoặc chấm dứt sự sống của người được bảo hiểm; khoản tiền này có thể trả một lần hoặc hàng năm (niên kim); và một số HĐBHNT có thỏa thuận liên kết đầu tư (investment-linked). Để đảm bảo tính nhất quán của định nghĩa, đạo luật này cũng quy định: Một hợp đồng không phải là HĐBHNT nếu theo các điều khoản của hợp đồng, thời hạn của hợp đồng là không quá một năm và chỉ thanh toán trong trường hợp chết do tai nạn hoặc chết do duy nhất một bệnh nhất định [92]. Ở Việt Nam, Luật kinh doanh bảo hiểm năm 2000 có đưa ra định nghĩa BHNT như sau: “BHNT là loại nghiệp vụ bảo hiểm cho trường hợp người được bảo hiểm sống hoặc chết” [59]. Định nghĩa này mặc dù đã khái quát được về sự kiện bảo hiểm, nhưng có nhiều hạn chế như chưa làm rõ được đối tượng bảo hiểm cũng như sự kiện bảo hiểm thực sự là gì cũng như chưa nêu được đặc trưng phổ biến của hầu hết các sản phẩm BHNT là tính tiết kiệm đối với người tham gia bảo hiểm. Từ những phân tích nêu trên, có thể khẳng định rằng việc định nghĩa BHNT là không dễ dàng vì nhiều lý do. Một là, cách hiểu về BHNT có thể khác nhau ở từng quốc gia, do đặc điểm kinh tế xã hội khác nhau, chính sách phát triển kinh tế nói chung

28. – 23 – (trong trường hợp sống) hoặc gia đình họ (trong trường hợp chết) là rất quan trọng. Vì đối tượng bảo hiểm là tuổi thọ nên không thể xác định được giá trị, cùng với đó là thời hạn bảo hiểm dài nên để hấp dẫn người tham gia bảo hiểm, DNBH thường cam kết đảm bảo về giá trị khoản tiền bảo hiểm ở mức độ nhất định, trong mối tương quan với số phí bảo hiểm. Chính vì vậy đã từ lâu, các DNBH đã gắn nghiệp vụ bảo hiểm cho cuộc sống của con người với quá trình đầu tư từ phí bảo hiểm và nó trở thành một đặc trưng quan trọng của BHNT. Xu hướng chung là người tham gia bảo hiểm mong muốn số tiền bảo hiểm ngày càng tăng để đảm bảo về sức mua. Chính vì thế, trong rất nhiều sản phẩm BHNT, DNBH có cam kết với bên tham gia bảo hiểm việc trả lãi cho người được bảo hiểm dựa trên số phí bảo hiểm đã nộp hoặc đảm bảo số tiền bảo hiểm không thấp hơn tổng số phí bảo hiểm. Ngay cả đối với sản phẩm bảo hiểm tử kỳ, mặc dù yếu tố tiết kiệm và đầu tư không thật sự rõ ràng như các sản phẩm BHNT khác nhưng DNBH cũng cần thực hiện hoạt động đầu tư sinh lời để giảm mức phí bảo hiểm, tạo điều kiện người tham gia bảo hiểm được hưởng quyền lợi bảo hiểm tốt hơn so với số phí bảo hiểm đã nộp. Chính vì BHNT có yếu tố tiết kiệm và đầu tư nên quyền đầu tư của DNBH kinh doanh BHNT thường được quy định rộng hơn so với DNBH kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ. Hiện nay, có nhiều sản phẩm BHNT được thiết kế nhằm nổi bật yếu tố tiết kiệm và đầu tư gọi là sản phẩm BHNT liên kết đầu tư, qua đó thu hút được khá nhiều sự quan tâm của khách hàng có ý định tham gia BHNT. Về mặt lý luận, do sản phẩm BHNT có yếu tố đầu tư nên rất cần thiết phải phân biệt với sản phẩm tiền gửi tại tổ chức tín dụng. Giữa hai sản phẩm này tuy có điểm chung là đều mang yếu tố đầu tư, nhưng sự khác biệt là hết sức rõ ràng. Đầu tiên, sản phẩm BHNT có yếu tố bảo hiểm là nội dung chính, chứ không phải là nội dung đầu tư, mặc dù đối với một số sản phẩm BHNT thì yếu tố đầu tư ngày càng quan trọng. Do đó, phí bảo hiểm được coi là doanh thu của DNBH chứ không phải là một khoản nợ theo đúng nghĩa như trong sản phẩm tiền gửi của TCTD đối với khách hàng gửi tiền. Bên cạnh đó, theo M. Todd Henderson (2009) thì trên thực tế có nhiều sản phẩm tín dụng khá giống với sản phẩm bảo hiểm, nhưng điểm khác biệt rõ nhất là ở chỗ việc cung ứng các sản phẩm BHNT là do DNBH thực hiện với những yêu cầu nghiêm ngặt về mặt pháp lý, và hầu hết các quốc gia trên thế giới đều có một hệ thống pháp luật về bảo hiểm khá độc lập so với pháp luật về ngân hàng và tín dụng [114]. Như vậy, một cách khái quát dưới góc độ khoa học pháp lý, có thể đưa ra khái niệm BHNT như sau: BHNT là loại hình nghiệp vụ bảo hiểm thương mại mà theo đó, DNBH cam kết trả một khoản tiền xác định theo thỏa thuận khi xảy ra sự kiện bảo hiểm là người được bảo hiểm sống hoặc chết trong một thời gian nhất định, có gắn liền hoặc không gắn

30. – 25 – chiếc xe ô tô, những tiện ích của chiếc xe phải do chính người đó thực hiện như lái xe đến một địa điểm cần đến. Trong trường hợp người đó muốn đi đến một nơi và thuê xe taxi thì người lái xe taxi sẽ đáp ứng nhu cầu đó và đây là một dịch vụ chuyên chở. Sản phẩm BHNT là một dịch vụ nên có tính vô hình, không biểu hiện dưới một hình thái vật chất cụ thể mà thông qua những cam kết của DNBH đối với người tham gia bảo hiểm. Lợi ích cơ bản nhất từ sản phẩm BHNT là được trả tiền trong trường hợp xảy ra sự kiện bảo hiểm. Bên tham gia bảo hiểm có thể được hưởng một số lợi ích khác nếu có thỏa thuận như: được hoàn lại một phần phí bảo hiểm trong trường hợp hủy hợp đồng, được miễn nộp phí bảo hiểm nếu bị thương tật, bệnh hiểm nghèo, v.v.. Nhiều DNBH còn sẵn sàng cho người tham gia bảo hiểm vay tiền sử dụng trong thời hạn có hiệu lực của HĐBHNT nếu hợp đồng đã có giá trị hoàn lại. Những dịch vụ thông thường chỉ cung cấp cho khách hàng những tiện ích hưởng thụ thông qua cảm nhận bằng các giác quan của con người như ăn, mặc, ở, giải trí, kể cả việc tiếp nhận tri thức (trong dịch vụ tư vấn, thiết kế…), trong khi đó sản phẩm nói chung và sản phẩm BHNT nói riêng lại có tính tài sản, đó là quyền được trả tiền bảo hiểm hoặc giá trị hoàn lại của hợp đồng. Đối với hầu hết các sản phẩm BHNT (trừ bảo hiểm tử kỳ thuần túy), trách nhiệm này là bắt buộc và chắc chắn sẽ được thực hiện. Giá trị hoàn lại của HĐBHNT tại một thời điểm nhất định (nếu có), về bản chất là thuộc sở hữu của bên tham gia bảo hiểm. Thứ hai, cũng như các sản phẩm bảo hiểm khác, sản phẩm BHNT có quy trình kinh doanh tương đối đặc biệt: Doanh thu có trước chi phí chủ yếu và chi phí không chắc chắn cho từng sản phẩm cũng như đối với từng khách hàng. Trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm nói chung và BHNT nói riêng, DNBH nhận phí bảo hiểm trước rồi mới trả tiền bảo hiểm sau. Đối với DNBH, phí bảo hiểm về bản chất không phải là chi phí mà chính là doanh thu mà DNBH được nhận khi cung cấp sản phẩm bảo hiểm cho khách hàng. Theo cách thức kinh doanh thông thường, để sản xuất một sản phẩm nhất định, chủ thể kinh doanh phải bỏ ra các chi phí (nguyên liệu, tiền công, dịch vụ mua ngoài, v.v.), sau đó bán hàng mới có được doanh thu. Nhưng đối với sản phẩm BHNT, DNBH sẽ nhận phí bảo hiểm từ bên mua bảo hiểm (về bản chất là doanh thu), rồi sau đó mới phải trả tiền bảo hiểm (về bản chất là chi phí) khi xảy ra sự kiện bảo hiểm. Chính vì vậy, đã có quan điểm thống nhất rằng kinh doanh bảo hiểm nói chung và BHNT nói riêng có chu trình kinh doanh đảo ngược [37, tr.9]. Tuy nhiên, theo ý kiến của người viết, khẳng định như vậy là chưa thỏa đáng vì hai lý do cơ bản sau đây: một là, việc trả tiền bảo hiểm hoặc giá trị hoàn lại không phải là chi phí duy nhất mà DNBH phải bỏ ra để cung cấp sản phẩm BHNT, vì còn có nhiều chi phí khác đã xuất hiện trước khi cung cấp sản phẩm

33. – 28 – lợi, mà còn ở những dịch vụ “chăm sóc” khách hàng. Những DBNH có các dịch vụ tốt, thái độ phục vụ khách hàng chu đáo tất nhiên sẽ có khả năng cạnh tranh cao hơn trên thị trường bảo hiểm. Thứ năm, cơ sở kỹ thuật cơ bản của sản phẩm BHNT là quy luật về số đông, bảng tỷ lệ tử vong, lãi suất kỹ thuật và phí bình quân. Để thiết kế một sản phẩm BHNT, với tư cách là một loại hình bảo hiểm thương mại, DNBH phải dựa trên những cơ sở kỹ thuật nhất định nhằm cùng một lúc đạt được hai mục tiêu song song: đem lại quyền lợi cho người tham gia bảo hiểm với mức chi phí hợp lý, đồng thời đem lại lợi nhuận cho DNBH. Cũng giống như các sản phẩm bảo hiểm khác, cơ sở kỹ thuật đầu tiên của sản phẩm BHNT là dựa trên quy luật về số đông. Quy luật về số đông được hiểu trên hai phương diện cơ bản. Một là, quy luật về số đông đòi hỏi việc tham gia BHNT phải gồm nhiều người. Quỹ bảo hiểm sẽ do nhiều người cùng đóng góp để chi trả cho những trường hợp xảy ra tổn thất hoặc có cam kết trả tiền của DNBH. Do yếu tố xác suất, nếu số lượng người tham gia quỹ bảo hiểm không đủ, thì đương nhiên DNBH không thể đủ khả năng tài chính để thực hiện việc bảo hiểm. Hai là, việc xác định tỷ lệ rủi ro chỉ chính xác trong trường hợp khảo sát với số lượng đủ lớn. Điều này thường được minh họa bằng tình huống tung đồng xu có hai mặt sấp và ngửa, theo đó nếu số lần tung càng nhiều thì số lượng xuất hiện mặt sấp hoặc ngửa sẽ có khuynh hướng bằng nhau. Bên cạnh quy luật về số đông, BHNT dựa vào cơ sở kỹ thuật thứ hai rất đặc trưng là bảng tỷ lệ tử vong được xây dựng dựa trên nguyên tắc thống kê với số lượng lớn cá nhân sống qua các độ tuổi khác nhau. Thông thường, bảng tỷ lệ tử vong có thể có hai loại là bảng tỷ lệ tử vong sống và bảng tỷ lệ tử vong chết. Bảng tỷ lệ tử vong sống xác định số người sống đến độ tuổi x nào đó trên tổng số người khảo sát, còn bảng tỷ lệ tử vong chết xác định số người chết ở độ tuổi x nào đó trên tổng số người khảo sát [89, tr.185]. Bên cạnh đó, bảng tỷ lệ tử vong còn được chia thành hai loại là bảng tỷ lệ tử vong dân số (được lập thông qua các cuộc điều tra chính thức của cơ quan có trách nhiệm) và bảng tỷ lệ tử vong kinh nghiệm (được điều chỉnh dựa trên kinh nghiệm của DNBH kinh doanh BHNT) [37, tr.23]. Hiện nay có 2 bảng tỷ lệ tử vong quốc tế được sử dụng phổ biến là Bảng tỷ lệ tử vong năm 1980 (Commissioners Standard Ordinary, viết tắt là CSO 1980) và Bảng tỷ lệ tử vong 2001 (CSO 2001). Để đảm bảo công bằng, pháp luật một số quốc gia như quy định nhất quán áp dụng một bảng tỷ lệ tử vong làm cơ sở cho các DNBH tính toán mức phí bảo hiểm đối với khách hàng. Ví dụ như ở Hoa Kỳ, từ năm 2009 đã thống nhất áp dụng CSO 2001 theo quy định của Hiệp hội quốc gia các Ủy ban bảo hiểm Hoa Kỳ (NAIC). Theo đánh giá

Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm Là Gì ? Tìm Hiểu Về Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm / 2023

Luật kinh doanh bảo hiểm là đạo luật quy định tổ chức và hoạt động kinh doanh bảo hiểm, quyền, nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân tham gia bảo hiểm, được Quốc hội Khoá X, kì họp thứ 8 thông qua ngày 09.12.2000 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01.4.2001.

Ở Việt Nam, trong thời kì thực dân Pháp đô hộ, hầu hết các hoạt động kinh doanh bảo hiểm do các công tỉ bảo hiểm Pháp tiến hành.

Trong cơ chế kinh tế kế hoạch hoá tập trung, tương tự các nước xã hội chủ nghĩa khác, ở Việt Nam, hoạt động kinh doanh bảo hiểm do Nhà nước thực hiện nên được gọi là bảo hiểm nhà nước. Văn bản pháp luật đầu tiên về kinh doanh bảo hiểm là Quyết

định số 179/CP của Hội đồng Chính phủ ban hành ngày 17.12.1964 quy định thành lập Công ti bảo hiểm Việt Nam (Bảo Việt) trực thuộc Bộ Tài chính, chuyên trách hoạt động bảo hiểm nhà nước. Trong điều kiện đất nước có chiến tranh và nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, hoạt động của Bảo Việt vừa mang tính kinh doanh, vừa mang tính quản lí nhà nước. Các quy tắc bảo hiểm do Bảo Việt quy định trong một thời gian dài được áp dụng như quy phạm pháp luật.

Chuyển sang nền kinh tế thị trường, Nhà nước thực hiện chính sách phát triển nhiều thành phần kinh tế kinh doanh bảo hiểm. Để thúc đẩy hoạt động kinh doanh bảo hiểm và tăng cường quản lí nhà nước đối với hoạt động kinh doanh bảo hiểm, phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội, ngày 18.12.1993 Chính phủ ban hành Nghị định số 100/CP về kinh doanh bảo hiểm. Đây là văn bản pháp luật đầu tiên quy định tương đối có hệ thống về hoạt động kinh doanh bảo hiểm theo hướng phát triển thị trường bảo hiểm trong điều kiện nền kinh tế thị trường.

Luật kinh doanh bảo hiểm năm 2000 có mục đích là bảo vệ quyển và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân tham gia bảo hiểm; phát triển thị trường bảo hiểm; thúc đẩy và góp phần duy trì sự phát triển một cách bền vững của nền kinh tế – xã hội; tăng cường hiệu lực quản lí của Nhà nước trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm. Phạm vi điều chỉnh của Luật kinh doanh bảo hiểm là quan hệ tổ chức và hoạt động kinh doanh bảo hiểm, quy định quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân tham gia bảo hiểm.

Luật gồm lời nói đầu, 9 chương, 189 điều, có những nội dung cơ bản sau đây: quy định nguyên tắc và phạm vi kinh doanh bảo hiểm; quy định hình thức tổ chức kinh doanh bảo hiểm, các loại sản phẩm bảo hiểm; quy định về hợp đồng kinh doanh bảo hiểm; quy định quản lí nhà nước về kinh doanh bảo hiểm.

Luật kinh doanh bảo hiểm năm 2000 là đạo luật đầu tiên đặt nền móng cho việc xây dựng pháp luật kinh doanh bảo hiểm trong điều kiện nền kinh tế thị trường ở Việt Nam. Khác với Luật kinh doanh bảo hiểm của nhiều nước, Luật kinh doanh bảo hiểm năm 2000 của Việt Nam không áp dụng với các hoạt động bảo hiểm y tế, bảo hiểm tiền gửi và các loại bảo hiểm khác do Nhà nước thực hiện không mang tính kinh doanh. Tương tự ở nhiều nước, Luật kinh doanh bảo hiểm năm 2000 của Việt Nam áp dụng chung cho cả hoạt động kinh doanh bảo hiểm nhân thọ và phi nhân thọ. Ở một số nước, về kĩ thuật lập pháp có sự phân biệt giữa đạo luật điều chỉnh quan hệ kinh doanh bảo hiểm nhân thọ và đạo luật điều chỉnh quan hệ kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ. Ví dụ: Thái Lan có hai đạo luật về kinh doanh bảo hiểm: Đạo luật bảo hiểm nhân thọ năm (1992) (B.E 2535), Đạo luật bảo hiểm phi nhân thọ năm (1992) (B.E 2502).

Tiểu Luận Khái Quát Về Kinh Doanh Bảo Hiểm &Amp; Pháp Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm / 2023

KHÁI QUÁT VỀ KINH DOANH BẢO HIỂM & PHÁP LUẬT KINH DOANH BẢO HIỂM.

Phần I : TỔNG QUAN VỀ BẢO HIỂM – PHÁP LUẬT VỀ KINH DOANH BẢO HIỂM I. KHÁI NIỆM KINH DOANH BẢO HIỂM VÀ PHÁP LUẬT KINH DOANH BẢO HIỂM. 1/ Khái niệm chung về bảo hiểm và kinh doanh bảo hiểm Dù phương thức sản xuất nào, con người và tài sản cũng luôn bị đe doạ bởi thiên tai và các tai biến bất ngờ phát sinh ngay trong hoạt động của con người. Dù muốn hay không nhiều loại rủi ro đã xuất hiện vẫn tồn tại và sẽ còn chi phối đến cuộc sống của mỗi người, mỗi gia đình, DN và toàn xã hội. Chính sự tồn tại của rủi ro là nguồn gốc phát sinh tồn tại của bảo hiểm. Nguyên nhân gây ra những rủi ro là yếu tố tự nhiên, kỹ thuật và yếu tố xã hội khác. Suốt trong lịch sử của mình, loài người đã phải chịu đựng và chứng kiến biết bao hiểm hoạ, nào là động đất, núi lửa, bão lụt, hạn hán, sóng thần, dịch bệnh, chiến tranh, tai nạn giao thông, hoả hoạn, phóng xạ, ô nhiễm. .. Rủi ro, hiểm hoạ bất ngờ xảy ra không biết trước về thời gian, địa điểm, quy mô, mức độ thiệt hại, điều đó ảnh hưởng đến cuộc sống, cũng như quá trình sản xuất kinh doanh ở từng cá nhân, gia đình, tổ chức và cũng ảnh hưởng đến sự ổn định chung của xã hội. Đứng trước thực trạng đó, con người luôn có những hành động tích cực, chủ động để ngăn ngừa, khắc phục có hiệu quả những tổn thất do thiên tai, tai nạn bất ngờ xảy ra với tất cả khả năng của mình, nhằm giảm tới mức thấp nhất những thiệt hại để sớm phục hồi quá trình sản xuất kinh doanh và đời sống. Các biện pháp phổ biến được con người sử dụng là: -Biện pháp phòng ngừa: là biện pháp do con người sử dụng do nhận thức được quy luật của tự nhiên như đắp đê chống lũ, trồng rừng phòng hộ, xây dựng các trạm phòng cháy, xây dựng hệ thống dự báo thời tiết… -Biện pháp cứu trợ: biện pháp này được thực hiện khi đã có rủi ro xảy ra để khắc phục hậu quả của rủi ro. Biện pháp này có thể do chính quyền nhà nước thực hiện hoặc do các tổ chức, cá nhân thực hiện trên tinh thần nhân đạo và mang tính tự nguyện nhằm giúp đỡ các tổ chức, cá nhân gặp rủi ro khắc phục các hậu quả. -Biện pháp dự trữ – bảo hiểm: Bảo hiểm là biện pháp phòng xa để nhằm hạn chế tới mức thấp nhất những rủi ro gây ra. Mần mống của bảo hiểm có từ xa xưa khi con người chưa biết đến bảo hiểm nhưng họ đã có ý thức được việc làm cần thiết để bảo đảm cho sự sinh tồn như dự trữ lương thực, vật nuôi trong ngày săn bắn được nhiều để dùng cho những ngày mưa rét không đi săn bắn và hái lượm được. Đó là là những dấu hiệu đầu tiên về hoạt động bảo hiểm mang tính chất tự bảo hiểm. Bảo hiểm thực chất là việc con người phải dành ra một phần sản phẩm trong kết quả lao động hàng năm của mình để lập ra quỹ dự trữ đủ lớn về vật tư hoặc bằng tiền (quỹ đó gọi là quỹ dự trữ bảo hiểm ) nhằm : -Hỗ trợ tài chính cho việc đề phòng và hạn chế tổn thất khi hiểm hoạ chưa hoặc đang xảy ra.

1

-Bù đắp và bồi thường kịp thời những thiệt hại và tổn thất về người và tài sản, sau khi xảy ra hiểm hoạ. Có 3 loại quỹ được thành lập và chi dùng cho mục đích nêu trên là : -Quỹ dự trữ nhà nước được lập ra từ ngân sách nhà nước (quỹ dự phòng trong ngân sách, quỹ dự trữ quốc gia, quỹ dự trữ tài chính ). Quỹ này thuộc sở hữu nhà nước do nhà nước quản lý, nó được sử dụng để bù đắp những thiệt hại do thiên tai, tai nạn bất ngờ gây ra trên diện rộng quy mô lớn, vì phạm vi hoạt động rộng, nên chỉ sử dụng khi có những biến cố rủi ro lớn trên nhiều vùng, ảnh hưởng tới nhiều tầng lớp dân cư. quỹ này không được sử dựng khi rủi ro thiệt hại mang tính cá biệt. Do đó nó không đáp ứng đầy đủ các nhu cầu của từng tổ chức, gia đình, cá nhân. -Quỹ dự phòng riêng của từng tổ chức, cá nhân, gia đình: ( Quỹ dự trữ phân tán) Quỹ này do các doanh nghiệp, gia đình, cá nhân tự lập ra bằng thu nhập của mình, họ tự quản lý, sử dụng cho nên nó có thể đáp ứng kịp thời, nhanh chóng chủ động đối với những tổn thất vừa và nhỏ, nhưng vì quy mô quỹ không lớn, không thể bù đắp cho những tổn thất lớn, không phát huy được tính cộng đồng tương trợ, nó chỉ đóng khung trong từng đơn vị, không cơ động, có thể dẫn đến tình trạng ứ đọng vốn, lãng phí vốn, hiệu quả kinh tế không cao. -Quỹ bảo hiểm tập trung do đông đảo những người tham gia bảo hiểm đóng góp theo một chế độ thống nhất và bình đẳng (Quỹ dự trữ tập trung mang tính cộng đồng ). Quỹ này được lập bằng tiền do những tổ chức, cá nhân có cùng khả năng gặp những biến cố nào đó đóng góp, tạo lập quỹ. Nó được sử dụng để phòng ngừa và bù đắp những tổn thất cho các tổ chức, cá nhân tham gia lập quỹ khi có sự kiện bảo hiểm xuất hiện. Phương thức tạo lập và sử dụng quỹ này trên nguyên tắc ” lấy số đông bù cho số ít ” nên nó mang tính kinh tế, tính xã hội cao. Bởi vì: Giúp cho người tham gia bảo hiểm khắc phục nhanh chóng những thiệt hại, đảm bảo cho quá trình sản xuất và đời sống phát triển bình thường. Nó là biện pháp dự trữ bảo hiểm có hiệu quả kinh tế cao nhất, có khả năng thanh toán nhanh, bù đắp lớn. Đối với mỗi cá nhân hàng năm chỉ phải chi ra một lượng tiền nhỏ để đóng phí bảo hiểm, không ảnh hưởng đến đời sống của mình. Đối với các cơ sở sản xuất kinh doanh thì phí bảo hiểm là một chi phí xã hội cần thiết nó được hạch toán vào giá thành sản phẩm. Nếu đem số phí đó phân ra theo từng đơn vị sản phẩm và phân bổ cho cả năm tài chính thì số phí baỏ hiểm phải gánh chịu trên một đơn vị sản phẩm là không đáng kể. Trong trường hợp có xảy ra rủi ro thì người tham gia bảo hiểm được đền bù toàn bộ hay một phần thiệt hại, vốn kinh doanh được bảo toàn, đời sống ổn định. Hình thức dự trữ bảo hiểm này sẽ đáp ứng một cách đầy đủ, linh hoạt nhất đối với mọi nhu cầu đa dạng của mọi tổ chức, cá nhân trong nền kinh tế. Dưới góc độ kinh tế tài chính thì bảo hiểm là phương pháp lập quỹ dự trữ bằng tiền do những tổ chức, cá nhân có cùng khả năng gặp những sự cố nào đó đóng góp và để từ quỹ đó sử dụng để đề phòng, ngăn ngừa và bù đắp những tổn thất cho những tổ chức, cá nhân tham gia lập quỹ khi họ gặp những rủi ro bảo hiểm hoặc để thực hiện những chính sách xã hôi. Như vậy, việc tạo lập quỹ bảo hiểm là một yếu tố, một yêu cầu không thể thiếu được để đảm bảo cho nền kinh tế -xã hội phát triển bình thường khi gặp phải tổn thất do những yếu tố khách quan bất ngờ gây ra. Người ta ví “không có bảo hiểm như cầu thang không có tay vịn” Cùng với sự phát triển của xã hội loài người do nhu cầu ổn định sản xuất và đời sống các loại bảo hiểm khác nhau đã ra đời. Đặc biệt khi nền kinh tế hàng hoá phát triển nhu cầu bảo hiểm ngày càng đòi hỏi đa dạng, con người đã đã xây dựng các quỹ dự trữ bảo hiểm khác

2

nhau. Nhưng để đạt hiệu quả kinh tế -xã hội cao trong hoạt động bảo hiểm, kinh doanh dịch vụ bảo hiểm ra đời và nó không ngừng phát triển trong nền kinh tế hàng hoá -tiền tệ. Bảo hiểm không chỉ đơn thuần làm lá chắn cho sự phát triển kinh tế và ổn định đời sống, mà còn thực sự trở thành một lĩnh vực kinh doanh đặc biệt để thu lợi nhuận cao cho các doanh nghiệp. Hai mục đích đó vừa là tiền đề, vừa là điều kiện để hoạt động bảo hiểm tồn tại và phát triển. Do tính chất đa dạng của các loại rủi ro xâm hại đến lợi ích của nhiều chủ thể đòi hỏi phải có nhiều loại hình bảo hiểm: – Căn cứ vào đối tượng bảo hiểm có bảo hiểm tài sản, bảo hiểm con người, bảo hiểm TNDS; -Căn cứ vào tính chất pháp lý trong baỏ hiểm có bảo hiểm bắt buộc bảo hiểm tự nguyện; * căn cứ vào tính chất, phương thức và mục đích sử dụng các loại quỹ bảo hiểm tập trung mang tính cộng đồng, người ta chia bảo hiểm thành hai loại bảo hiểm mang tính kinh doanh và bảo hiểm phi kinh doanh: Bảo hiểm không mang tính kinh doanh là loại hình bảo hiểm do nhà nước thực hiện nhằm thực hiện chính sách kinh tế xã hội. Nó đặt dưới sự bảo trợ của nhà nước, Mục đích của hoạt động bảo hiểm này không đặt ra mục tiêu kinh doanh lấy lợi nhuận. Loại hình bảo hiểm phi kinh doanh ở nước ta hiện nay là bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm tiền gửi … Bảo hiểm có tính kinh doanh là hoạt động bảo hiểm do doanh nghiệp bảo hiểm thực hiện thông qua việc lập quỹ bảo hiểm từ nguồn thu phí bảo hiểm của các tổ chức, cá nhân tham gia, sau đó quỹ này được sử dụng để bồi thường, chi trả cho các trường hợp thuộc diện được bảo hiểm khi có sự kiện bảo hiểm. Nếu so sánh giữa bảo hiểm không mang tính kinh doanh mà điển hình là bảo hiểm xã hội với loại hình kinh doanh bảo hiểm thì giữa chúng có những diểm giống nhau đó là: chúng đều có mục đích giúp ổn định kinh tế, đảm bảo đời sống, khắc phục khó khăn do nguyên nhân khách quan gây ra. Người tham gia đều có trách nhiệm đóng phí bảo hiểm. Bên cạnh đó, chúng có điểm khác nhau cơ bản sau: Nội dung ph ân biệ t Bản chất

Bảo hiểm xã hội (một loại hình bảo hiểm không mang tính kinh doanh)

Kinh doanh bảo hiểm

Là một chính sách thuộc lĩnh vực đảm Là một dịch vụ tài chính xuất phát bảo xã hội của một nhà nước từ nhu cầu được bảo vệ, ngoài sự đảm bảo chung của xã hội

Đối tượng Là người lao động, người làm công, ăn Con người, tài sản, trách nhiệm dân bảo hiểm lương sự Phạm vi bảo hiểm

Trong giới hạn một quốc gia

Vượt ra ngoài phạm vi quốc gia(Tái bảo hiểm ).

3

Nguồn Chủ yếu huy động sự đóng góp của Được tạo lập từ sự đóng góp phí hình thành người lao động,người sử dụng lao động của tổ chức, cá nhân có nhu cầu quỹ và có thể một phần trợ cấp từ ngân được bảo hiểm. sách. bảo hiểm Mục đích sử quỹ

Để trợ cấp cho người lao động khi họ Chi bồi thường cho những tổ chức, dụng tạm thời hay vĩnh viễn mất sức lao cá nhân tham gia gặp rủi ro thuộc động. phạm vi trách nhiệm bảo hiểm.

Không vì lợi nhuận mà vì quyền lợi của Nhằm mục tiêu kinh doanh lấy lợi người Lao động và của cả cộng đồng. nhuận

thể Do cơ quan nhà nước quản lý theo quy quỹ chế chung thống nhất.

Doanh nghiệp bảo hiểm

Luật điều Bộ luật lao động và VBPL về bảo hiểm Luật kinh doanh bảo hiểm chỉnh xã hội khác 2/ Khái niệm chung về kinh doanh bảo hiểm Theo nghĩa rộng kinh doanh bảo hiểm là hoạt động có mục đích sinh lời của các chủ thể kinh doanh trên thị trường bảo hiểm để nhằm tới việc ký kết và thực hiện tốt được các hợp đồng bảo hiểm. Tại Điều 3, Luật kinh doanh BH năm 2000: “Kinh doanh bảo hiểm là hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm nhằm mục đích sinh lời, theo đó doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận rủi ro của người được bảo hiểm, trên cơ sở bên mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm để doanh nghiệp bảo hiểm trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho ngươì được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm”. Một số khái niệm được sử dụng trong định nghĩa trên được pháp luật giải thích như sau: – Bên mua bảo hiểm là tổ chức, cá nhân giao kết hợp đồng bảo hiểm với doanh nghiệp bảo hiểm và đóng phí bảo hiểm. Bên mua bảo hiểm có thể đồng thời là người được bảo hiểm hoặc người thụ hưởng. – Người được bảo hiểm là tổ chức, cá nhân có tài sản, trách nhiệm dân sự, tính mạng được bảo hiểm theo hợp đồng bảo hiểm. Người được bảo hiểm có thể đồng thời là người thụ hưởng. – Người thụ hưởng bảo hiểm là tổ chức cá nhân được bên mua bảo hiểm chỉ định để nhận tiền bảo hiểm theo hợp đồng bảo hiểm con người. -Sự kiện bảo hiểm là sự kiện khách quan do các bên thoả thuận hoặc pháp luật quy định mà khi có sự kiện đó xảy ra thì doanh nghiệp bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm.

4

5

6

Doanh nghiệp bảo hiểm

Doanh nghiệp môi giới bảo hiểm

Đại lý bảo hiểm

7

* Pháp luật về hợp đồng bảo hiểm; Bao gồm tất cả quy định chung về hợp đồng bảo hiểm * Pháp luật về chế độ bảo hiểm cụ thể –

PL về bảo hiểm con người

Pl về bảo hiểm tài sản

PL về bảo hiểm trách nhiệm dân sự

2.3. Các nguyên tắc pháp lý trong kinh doanh bảo hiểm. Tại điều 6 Luật kinh doanh bảo hiểm có quy định các nguyên tắc cơ bản trong kinh doanh bảo hiểm gồm: Thứ nhất, tổ chức, cá nhân có nhu cầu bảo hiểm phải tham gia bảo hiểm tại doanh nghiệp bảo hiểm được thành lập và hoạt động tại Việt Nam Việc đặt ra nguyên tắc này nhằm bảo vệ lợi ích quốc gia, tạo điều kiện cho sự phát triển lành mạnh và lâu dài của thị trường bảo hiểm Việt Nam, đồng thời bảo đảm sự quản lý chặt chẽ của Nhà nước và phù hợp với các quy định của pháp luật hiện hành và tập quán quốc tế. Tuy nhiên do thực trạng phát triển của thị trường bảo hiểm ở Việt Nam chưa đáp ứng được hết nhu cầu bảo hiểm của xã hội, Tại Điều 3 Nghị định quy định chi tiết thi hành một số điều của luật kinh doanh bảo hiểm có quy định về điều kiện, nguyên tắc tham gia bảo hiểm: 1. Tổ chức, cá nhân muốn hoạt động kinh doanh bảo hiểm, kinh doanh tái bảo hiểm, hoạt động môi giới bảo hiểm tại việt nam phải được bộ tài chính cấp giấy phép thành lập và hoạt động theo quy định của luật kinh doanh bảo hiểm. 2. Tổ chức, cá nhân có nhu cầu bảo hiểm có quyền lựa chọn doanh nghiệp bảo hiểm và chỉ được tham gia bảo hiểm tại doanh nghiệp bảo hiểm được phép hoạt động tại việt nam. không một tổ chức, cá nhân nào được phép can thiệp trái pháp luật đến quyền lựa chọn doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm của bên mua bảo hiểm. Tổ chức, cá nhân có nhu cầu bảo hiểm có thể tham gia bảo hiểm tại doanh nghiệp bảo hiểm không có trụ sở ở Việt Nam trong những trường hợp: Các doanh nghiệp bảo hiểm hoạt động ở Việt Nam chưa cung cấp được loại sản phẩm bảo hiểm mà tổ chức, cá nhân có nhu cầu tham gia bảo hiểm hoặc theo quy định của các điều ước quốc tế mà Chính phủ Việt Nam đã ký kết hoặc tham gia. Hợp đồng bảo hiểm được giao kết giữa các tổ chức, cá nhân Việt Nam với doanh nghiệp bảo hiểm không có trụ sở ở Việt Nam trái với các quy định trên đều bị coi là vô hiệu. Thứ hai, Doanh nghiệp bảo hiểm phải duy trì khả năng tài chính phù hợp với quy mô kinh doanh của mình để bảo vệ quyền lợi của tổ chức, cá nhân tham gia bảo hiểm. Với tính chất là hoạt động kinh doanh rủi ro và mang tính xã hội hoá cao, với vai trò quan trọng của kinh doanh bảo hiểm đối với nền kinh tế và sự ổn định của đời sống xã hội việc bảo đảm khả năng tài chính của doanh nghiệp bảo hiểm để bảo đảm quyền lợi cho các tổ chức, cá nhân tham gia bảo hiểm là rất quan trọng, bởi nó không chỉ tạo uy tín tạo ra khả năng kinh doanh có hiệu quả cho doanh nghiệp bảo hiểm mà nó còn có ý nghĩakinh tế xã hội lớn. Với việc quy định nguyên tắc chung cơ bản này trong Luật kinh doanh bảo hiểm, để trên cơ sở đó

8

9

kho¶n 5 ®iÒu 3 luËt kinh doanh b¶o hiÓm n¨m 2000.

10

doanh nghiệp bảo hiểm phải xây dựng các quỹ dự phòng để bảo đảm các cam kết của mình trước những người tham gia bảo hiểm khi có các sự cố bảo hiểm xảy ra. Các quỹ này là nguồn quan trọng để tham gia đầu tư nhằm tăng khả năng tài chính của doanh nghiệp bảo hiểm nhưng phải đảm bảo nguyên tắc tính an toàn, tính sinh lời, và tính thanh khoản của các khoản vốn đầu tư. Thông thường thì tính bồi thường tổn thất thực tế cho người được bảo hiểm trong một hợp đồng bảo hiểm thường rất lớn, lớn gấp nhiều lần so với số phí bảo hiểm đã đóng. Vì thế, để đảm bảo và ổn định nguồn tài chính cho việc bù đắp tổn thất, trong hoạt động bảo hiểm phải áp dụng nguyên tắc lấy số đông bù số ít, tức là phải cung cấp nhiều sản phẩm bảo hiểm cho nhiều loại khách hàng, trên nhiều vùng thị trường khác nhau… để lấy phí bảo hiểm đóng góp từ nhiều người nhằm bù đắp cho một số ít người gặp rủi ro. Trên thực tế, đối với những hợp đồng có giá trị lớn hoặc trường hợp có khả năng doanh nghiệp bảo hiểm phải bồi thường cho nhiều người được bảo hiểm trong cùng một sự cố, để giảm bớt trách nhiệm tài chính đối với rủi ro bảo hiểm doanh nghiệp bảo hiểm thường phải thực hiện nghiệp vụ tái bảo hiểm hoặc đồng bảo hiểm. Mặt khác, để giảm bớt chi phí bồi thường, doanh nghiệp bảo hiểm phải tăng cường giám sát các biện pháp phòng ngừa hạn chế tổn thất bảo hiểm. Thứ hai, Doanh nghiệp bảo hiểm được tổ chức thành lập và hoạt động theo các qui định của Luật kinh doanh bảo hiểm và các qui định khác của pháp luật. Xuất phát từ tính chất đặc thù của hoạt động kinh doanh bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm được coi là một tổ chức kinh doanh ngành nghề đặc biệt, nên pháp luật phải có những qui định riêng áp dụng cho doanh nghiệp bảo hiểm, đó là Luật kinh doanh bảo hiểm. Trong việc tổ chức thành lập và hoạt động của mình doanh nghiệp bảo hiểm phải tuân theo Luật kinh doanh bảo hiểm. Tuy nhiên, bên cạnh việc áp dụng các qui định trong Luật kinh doanh bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm còn phải tuân thủ theo các qui định khác của pháp luật trong hệ thống pháp luật Việt Nam – nếu như vấn đề nào đó Luật kinh doanh bảo hiểm không quy định, không điều chỉnh trực tiếp …Chẳng hạn doanh nghiệp bảo hiểm là công ty cổ phần thì việc tổ chức và hoạt động của doanh nghiệp phải tuân theo các qui định trong Luật kinh doanh bảo hiểm đồng thời còn phải tuân thủ các qui định dành cho công ty cổ phần quy định Luật doanh nghiệp … Thứ ba, Doanh nghiệp bảo hiểm chịu sự quản lý trực tiếp của Bộ Tài Chính. Để quản lý hoạt động kinh doanh bảo hiểm hầu hết các quốc gia trên thế giới đều giao cho một cơ quan quản lý nhà nước nhất định. Một số nước ở Châu á như Singapor, Philipin, cơ quan quản lý nhà nước về hoạt động kinh doanh bảo hiểm có tên gọi là Uỷ ban giám sát bảo hiểm. Các nước khác như Anh, Nhật Bản, cơ quan này là một phòng trực thuộc vụ quản lý các ngân hàng. ở Việt Nam, công tác quản lý nhà nước về hoạt động bảo hiểm được Chính phủ giao cho Bộ Tài chính thống nhất lãnh đạo và quản lý công tác bảo hiểm. Trước đây do tính độc quyền trong kinh doanh bảo hiểm, lúc đó Bộ tài chính đã giao cho Bảo Việt thực hiện hai chức năng quản lý và trực tiếp kinh doanh bảo hiểm. Sau khi đất nước ta chuyển đổi sang kinh tế thị trường thì để đáp ứng yêu cầu quản lý trong cơ chế kinh tế này, ngày 15 tháng 5 năm 1992 Bộ trưởng Bộ tài chính đã ra quyết định số 223TC/ QĐ- BTC thành lập phòng quản lý bảo hiểm trực thuộc vụ tài chính ngân hàng và tổ chức tài chính, Như vậy, bằng qui định trên Bộ Tài Chính đã tách chức năng quản lý và chức năng kinh doanh bảo hiểm của Bảo Việt. Từ thời điểm đó cho đến nay Bộ Tài chính là cơ quan của Chính phủ trực tiếp thực hiện chức năng quản lý nhà nước về hoạt động kinh doanh bảo hiểm. Điều này đã được Luật kinh doanh bảo hiểm qui định cụ thể: “Bộ Tài chính chịu trách nhiệm trước Chính Phủ thực hiện quản lý nhà nước về kinh doanh bảo hiểm “(Khoản 2, Điều 121)

11

Đây là đặc điểm giúp ta phân biệt doanh nghiệp bảo hiểm với doanh nghiệp khác trong nền kinh tế. Bởi vì, trong khi các doanh nghiệp kinh doanh trong các lĩnh vực ngành nghề khác chịu sự quản lý của các cơ quan quản lý nhà nước khác như các tổ chức tín dụng chịu sự quản lý nhà nước trực tiếp của Ngân hàng nhà nước, các doanh nghiệp kinh doanh chứng khoán chịu sự quản lý nhà nước của Uỷ ban chứng khoán nhà nước … 1.2. Các loại hình doanh nghiệp bảo hiểm. Trước đây, trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung lĩnh vực bảo hiểm rủi ro là lĩnh vực độc quyền của nhà nước (gọi tên là bảo hiểm nhà nước). ở nước ta chỉ duy nhất có Tổng công ty bảo hiểm Việt Nam (bảo Việt). Cơ quan “Bảo Việt” thực hiện đồng thời cả hai chức năng quản lý nhà nước và kinh doanh bảo hiểm rủi ro. Chuyển sang cơ chế kinh tế mới – cơ chế kinh tế thị trường, Nhà nước không còn giữ độc quyền trong lĩnh vực bảo hiểm rủi ro mà cho phép các thành phần kinh kế được tham gia kinh doanh bảo hiểm-. Nhà nước có phân định rạch ròi giữa chức năng quản lý và chức năng kinh doanh trong bảo hiểm rủi ro – Thị trường bảo hiểm đã hình thành và phát triển cùng với sự phát triển của kinh tế xã hội. Nhiều loại hình doanh nghiệp bảo hiểm ra đời, sản phẩm bảo hiểm phát triển rất đa dạng để đáp ứng nhu cầu của xã hội. Vì vậy, việc phân loại các loại hình doanh nghiệp bảo hiểm là rất cần thiết. Có nhiều tiêu chí để phân loại doanh nghiệp bảo hiểm, mỗi cách phân loại có ý nghĩa và mục đích riêng. * Nếu căn cứ vào tính chất sở hữu vốn điều lệ trong doanh nghiệp bảo hiểm (cách phân loại này theo Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000 chưa sửa đổi bổ sung) thì có các loại hình doanh nghiệp bảo hiểm sau: – Doanh nghiệp bảo hiểm nhà nước là một tổ chức kinh doanh bảo hiểm do nhà nước đầu tư vốn, thành lập và tổ chức quản lý, thực hiện kinh doanh bảo hiểm và thực hiện những nhiệm vụ nhà nước giao. Bên cạnh việc áp dụng các qui định của Luật kinh doanh bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm nhà nước còn phải tuân thủ các qui định trong các văn bản pháp luật dành riêng cho doanh nghiệp nhà nước. Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta những doanh nghiệp nhà nước nói chung và doanh nghiệp bảo hiểm nhà nước nói riêng đóng vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế, luôn được Đảng và Nhà nước ta quan tâm, tạo điều kiện khuyến khích phát triển để nó trở thành thành phần kinh tế chủ đạo trong những ngành, lĩnh vực then chốt của nền kinh tế. – Công ty cổ phần bảo hiểm: là loại doanh nghiệp bảo hiểm trong đó các thành viên cùng góp vốn để kinh doanh bảo hiểm, cùng chia nhau lợi nhuận, cùng chịu lỗ tương ứng với phần vốn góp và chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi phần vốn góp của mình góp vào công ty.Thực chất thì công ty cổ phần bảo hiểm là những công ty cổ phần kinh doanh trong lĩnh vực bảo hiểm. Việc tổ chức và hoạt động của công ty cổ phần bảo hiểm luôn chịu sự điều chỉnh của Luật kinh doanh bảo hiểm và Luật doanh nghiệp. – Tổ chức bảo hiểm tương hỗ; Tổ chức bảo hiểm tương hỗ là tổ chức có tư cách pháp nhân được thành lập để kinh doanh bảo hiểm nhằm tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau giữa các thành viên. Thành viên tổ chức bảo hiểm tương hỗ vừa là chủ sở hữu vừa là bên mua bảo hiểm”. Theo quy định của pháp luật hiện hành,Thành viên tổ chức bảo hiểm tương hỗ là Tổ chức, công dân Việt Nam từ đủ 18 tuổi trở lên, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, hoạt động trong cùng một lĩnh vực, ngành nghề, có nhu cầu bảo hiểm đều có quyền tham gia thành lập tổ chức bảo hiểm tương hỗ với tư cách là thành viên sáng lập. Chỉ các tổ chức, cá nhân giao kết hợp đồng bảo hiểm với tổ chức bảo hiểm tương hỗ mới có thể trở thành thành viên của tổ chức bảo

12

hiểm tương hỗ. Việc thành lập, tổ chức và hoạt động của tổ chức bảo hiểm tương hỗ do Chính phủ quy định. Trên thế giới, phần lớn các doanh nghiệp bảo hiểm được tổ chức dưới hình thức công ty bảo hiểm tương hỗ. Đây là loại hình doanh nghiệp được thành lập nhằm tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau giữa các thành viên, mục đích kinh doanh chỉ là thứ yếu. ở Việt Nam, thị trường bảo hiểm mới ở giai đoạn đầu của sự phát triển thì đây là một mô hình mới, chưa hề có một tổ chức bảo hiểm tương hỗ nào tồn tại trên thực tế. Việc qui định loại hình doanh nghiệp bảo hiểm này ở Việt Nam hiện nay là cần thiết, phù hợp với tính chất và đặc thù của nền kinh tế Việt Nam. Bởi vì đối với một số lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng, đánh bắt thuỷ sản tại Việt Nam là những lĩnh vực mà ta có thế mạnh mà các doanh nghiệp bảo hiểm hiện chưa phục vụ được hoặc hoạt động không có hiệu quả. nếu chúng ta có doanh nghiệp bảo hiểm tương hỗ trong những lĩnh vực như vậy có nhiều lợi thế. Việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống các văn bản qui phạm về tổ chức bảo hiểm tương hỗ là hết sức cần thiết, tạo điều kiện để loại hình doanh nghiệp này phát triển. Doanh nghiệp bảo hiểm có vốn đầu tư nước ngoài (gồm doanh nghiệp bảo hiểm liên doanh; Doanh nghiệp bảo hiểm 100% vốn đầu tư nước ngoài). Là doanh nghiệp bảo hiểm được thành lập có một phần vốn hoặc 100% vốn điều lệ của doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài để kinh doanh bảo hiểm tại Việt Nam. Doanh nghiệp bảo hiểm có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam là pháp nhân Việt Nam hoạt động theo pháp luật Việt Nam. -Doanh nghiệp bảo hiểm liên doanh: Là doanh nghiệp bảo hiểm được thành lập trên cơ sở góp vốn của bên Việt Nam và bên nước ngoài. (Tỷ lệ góp vốn của bên Việt Nam trong doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm liên doanh không được thấp hơn 30% vốn điều lệ.) Doanh nghiệp bảo hiểm 100% vốn đầu tư nước ngoài: Là doanh nghiệp bảo hiểm do tổ chức bảo hiểm nước ngoài đầu tư 100% vốn, thành lập tại Việt Nam. Doanh nghiệp này hoàn toàn do chủ đầu tư là bên nước ngoài sở hữu và kiểm soát, không có sự tham gia của bên Việt Nam. Theo pháp luật hiện hành, doanh nghiệp bảo hiểm có vốn đầu tư nước ngoài không bị hạn chế về nội dung, phạm vi hoạt động khi bán sản phẩm bảo hiểm cho các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, tổ chức và cá nhân nước ngoài; các doanh nghiệp ngoài quốc doanh; các sản phẩm phục vụ cho những chương trình phát triển nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp và bảo hiểm rủi ro tài chính, bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp. Tuy nhiên, việc mở rộng nội dung, phạm vi hoạt động sẽ được thực hiện theo hướng dẫn của Bộ Tài chính, phù hợp với nhu cầu phát triển thị trường và các điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia. Cụ thể: Trong năm hoạt động đầu tiên, doanh nghiệp bảo hiểm có vốn đầu tư nước ngoài chỉ được phép mở một chi nhánh ngoài trụ sở chính để tiến hành hoạt động kinh doanh bảo hiểm. Sau 3 năm kể từ khi hoạt động, doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm có vốn đầu tư nước ngoài được phép mở thêm 2 chi nhánh để tiến hành hoạt động kinh doanh bảo hiểm, môi giới bảo hiểm. Sau 5 năm kể từ khi hoạt động, việc mở thêm chi nhánh của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm có vốn đầu tư nước ngoài được thực hiện theo nhu cầu phát triển thị trường và điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia. Theo điều 59 Luật kinh doanh bảo hiểm được sửa đổi bổ sung năm 2010 quy định: Các tổ chức kinh doanh bảo hiểm bao gồm:

13

– Công ty cổ phần bảo hiểm. – Công ty trách nhiệm hữu hạn bảo hiểm. – Hợp tác xã bảo hiểm. – Tổ chức bảo hiểm tương hỗ. * Căn cứ vào nghiệp vụ bảo hiểm mà doanh nghiệp bảo hiểm được thực hiện thì các doanh nghiệp bảo hiểm được chia thành hai loại là doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ và doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ. – Doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ là doanh nghiệp kinh doanh nghiệp vụ bảo hiểm nhân thọ. Bảo hiểm nhân thọ là chế độ bảo hiểm cho tuổi thọ con người. Mặc dù đối tượng bảo hiểm nhân thọ là con người, nhưng so với các loại hình bảo hiểm con người khác nó có một số dâú hiệu đặc trưng sau: bảo hiểm nhân thọ thời hạn hợp đồng dài và luôn có tính đền bù. Bảo hiểm nhân thọ là sự kết hợp giữa hình thức bảo hiểm và hình thức tiết kiệm vừa là hình thức đầu tư. Do thời hạn bảo hiểm dài, mức phí bảo hiểm thường lớn, pháp luật có quy định cho phù hợp với tính chất và đặc điểm của loại hình nghiệp vụ bảo hiểm này, nhằm bảo vệ quyền lợi cho các bên tham gia quan hệ bảo hiểm. Chẳng hạn các quy định về đóng phí bảo hiểm của bên mua bảo hiểm, hoặc pháp luật quy định về vấn đề đầu tư vốn của loại hình doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ có sự khác biệt với hoạt động đầu tư vốn của doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ để bảo vệ sự an toàn trong thanh toán, tính hiệu quả trong hoạt động đầu tư cho doanh nghiệp bảo hiểm, bảo vệ quyền, lợi ích cho người tham gia bảo hiểm và cho cả doanh nghiệp bảo hiểm… – Doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ là doanh nghiệp kinh doanh nghiệp vụ bảo hiểm phi nhân thọ. Bảo hiểm phi nhân thọ là loại nghiệp vụ bảo hiểm tài sản, trách nhiệm dân sự và các nghiềp vụ bảo hiểm khác không thuộc bảo hiểm nhân thọ. Do sự khác nhau về tính chất, đặc điểm của mỗi loại nghiệp vụ bảo hiểm trên mà Điều 60 khoản 2 Luật kinh doanh bảo hiểm quy định ” Doanh nghiệp bảo hiểm không được phép đồng thời kinh doanh bảo hiểm nhân thọ và bảo hiểm phi nhân thọ, trừ trường hợp doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ kinh doanh nghiệp vụ bảo hiểm sức khoẻ và bảo hiểm tai nạn con người bổ trợ cho bảo hiểm nhân thọ”. Vì thế trong các doanh nghiệp bảo hiểm ở nước ta hiện nay có hai loại hình doanh nghiệp bảo hiểm là doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ và doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ. Chúng khác nhau không chỉ về tên gọi, nghiệp vụ kinh doanh mà trong những chế độ cụ thể, pháp luật có những quy định cho chúng khác nhau, đặc biệt là trong chế độ tài chính đối với hai loại hình doanh nghiệp bảo hiểm này . 1.3 Quy chế cấp giấy phép thành lập hoạt động, kiểm soát đặc biệt, giải thể, phá sản doanh nghiệp bảo hiểm, Pháp luật hiện hành có quy định về điều kiện và thủ tục để được cấp giấy phép thành lập và hoạt động đối với các doanh nghiệp bảo hiểm. Trong đó có một số điều kiện quan trọng như điều kiện về vốn điều kiện về nhân sự như: – Không thuộc các đối tượng bị cấm theo quy định tại khoản 2 Điều 13 của Luật Doanh nghiệp;

14

– Phải có số vốn điều lệ đã góp không thấp hơn mức vốn pháp định theo quy định của Chính phủ (kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ: 300 tỷ đồng Việt Nam; Kinh doanh bảo hiểm nhân thọ: 600 tỷ đồng Việt Nam); – Người quản trị, người điều hành có năng lực quản lý, chuyên môn, nghiệp vụ về bảo hiểm…cụ thể: Chủ tịch Hội đồng quản trị của doanh nghiệp bảo hiểm phải là người có uy tín, đạo đức nghề nghiệp và kinh nghiệm về hoạt động kinh doanh bảo hiểm. Tổng giám đốc (Giám đốc) của doanh nghiệp bảo hiểm phải là người có uy tín, đạo đức nghề nghiệp, có thực tiễn quản lý kinh doanh hay quản lý nhà nước về bảo hiểm ít nhất 3 năm và phải thường trú tại Việt Nam trong thời gian đương nhiệm… – Có hồ sơ xin cấp giấy phép thành lập và hoạt động theo quy định tại Điều 64 của Luật này; – Có loại hình doanh nghiệp và điều lệ phù hợp với quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật; * Doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài đầu tư thành lập doanh nghiệp bảo hiểm 100% vốn đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp bảo hiểm liên doanh giữa doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài với doanh nghiệp Việt Nam phải đáp ứng các điều kiện sau: – Doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài được cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài cho phép hoạt động kinh doanh bảo hiểm trong lĩnh vực dự kiến tiến hành tại Việt Nam; – Doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài đang hoạt động hợp pháp ít nhất 10 năm theo quy định của nước nơi doanh nghiệp đóng trụ sở chính tính tới thời điểm nộp hồ sơ xin cấp Giấy phép; – Doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài có tổng tài sản tối thiểu tương đương 2 tỷ đô la Mỹ vào năm trước năm nộp hồ sơ xin cấp Giấy phép; – Doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài không vi phạm nghiêm trọng các quy định về hoạt động kinh doanh bảo hiểm và các quy định pháp luật khác của nước nơi doanh nghiệp đóng trụ sở chính trong vòng 3 năm liền kề năm nộp hồ sơ xin cấp Giấy phép. * Về Hồ sơ xin cấp Giấy phép thành lập và hoạt động thực hiện theo quy định tại Luật Doanh nghiệp, Điều 64 của Luật Kinh doanh bảo hiểm cụ thể hoá trong 7 NĐ bao gồm: a) Đơn xin cấp Giấy phép thành lập và hoạt động theo mẫu do Bộ Tài chính quy định; b) Dự thảo điều lệ doanh nghiệp phù hợp với quy định tại Luật Doanh nghiệp, Luật Kinh doanh bảo hiểm và các văn bản hướng dẫn thi hành. Dự thảo Điều lệ doanh nghiệp phải có đầy đủ chữ ký của người đại diện theo pháp luật, của các cổ đông sáng lập hoặc người đại diện theo uỷ quyền của cổ đông sáng lập; c) Danh sách cổ đông sáng lập và các giấy tờ kèm theo d) Xác nhận của ngân hàng được phép hoạt động tại Việt Nam về mức vốn điều lệ gửi tại tài khoản phong toả mở tại ngân hàng đó; đ) Phương án hoạt động 5 năm đầu phù hợp với lĩnh vực kinh doanh xin cấp Giấy phép, trong đó nêu rõ phương thức trích lập dự phòng nghiệp vụ, chương trình tái bảo hiểm, đầu tư vốn, hiệu quả kinh doanh, khả năng thanh toán của doanh nghiệp bảo hiểm và lợi ích kinh tế của việc thành lập doanh nghiệp kèm theo các quy trình nghiệp vụ, quy trình kiểm soát

15

16

độc lập về tình hình hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm nước ngoài nơi đóng trụ sở chính trong 3 năm gần nhất; – Văn bản của cơ quan có thẩm quyền của nước nơi doanh nghiệp đóng trụ sở chính: + Cho phép doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm thành lập doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm tại Việt Nam. Trường hợp quy định của nước nơi doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm đóng trụ sở chính không yêu cầu phải có văn bản chấp thuận thì phải có bằng chứng xác nhận việc này; + Xác nhận doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm đang hoạt động kinh doanh bảo hiểm, môi giới bảo hiểm trong lĩnh vực dự kiến tiến hành hoạt động ở Việt Nam; + Xác nhận doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm đang trong tình trạng tài chính lành mạnh và đáp ứng đầy đủ các yêu cầu quản lý tại nước nơi doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm đóng trụ sở chính. Hồ sơ xin cấp Giấy phép của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm được lập thành 3 (ba) bộ trong đó có 1 (một) bộ là bản chính, 2 (hai) bộ là bản sao. Hồ sơ đề nghị cấp Giấy phép của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm có vốn đầu tư nước ngoài được lập thành 3 (ba) bộ, mỗi bộ gồm 1 (một) bản bằng tiếng Việt và 1 (một) bản bằng tiếng nước ngoài thông dụng. Các bản sao tiếng Việt và các bản dịch từ tiếng nước ngoài ra tiếng Việt phải được cơ quan công chứng Việt Nam xác nhận theo quy định của pháp luật về công chứng. Chủ đầu tư phải chịu trách nhiệm về tính chính xác của hồ sơ xin cấp Giấy phép. Pháp luật quy định rõ cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp và thu hồi giấy phép thành lập và hoạt động cho các doanh nghiệp bảo hiểm cụ thể: Bộ Tài chính cấp giấy phép thành lập và hoạt động cho doanh nghiệp bảo hiểm theo quy định. Trong thời hạn 60 ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ xin cấp giấy phép thành lập và hoạt động, Bộ Tài chính phải cấp hoặc từ chối cấp giấy phép. Trong trường hợp từ chối cấp giấy phép, Bộ Tài chính phải có văn bản giải thích lý do. Giấy phép thành lập và hoạt động đồng thời là giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Pháp luật còn quy định: Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày được cấp Giấy phép thành lập và hoạt động, doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm phải đăng báo hàng ngày của báo trung ương và báo địa phương nơi doanh nghiệp đặt trụ sở chính trong 5 số báo liên tiếp về những nội dung chủ yếu như sau: Tên, địa chỉ trụ sở chính, Chi nhánh, Văn phòng đại diện của doanh nghiệp bảo hiểm; Nội dung, phạm vi và thời hạn hoạt động; Mức vốn điều lệ và số vốn điều lệ đã góp; Họ, tên của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp; Số Giấy phép và ngày cấp Giấy phép thành lập và hoạt động; Các nghiệp vụ bảo hiểm, nghiệp vụ môi giới bảo hiểm được phép kinh doanh. Trong thời hạn 12 tháng, kể từ ngày được cấp Giấy phép thành lập và hoạt động, doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm phải hoàn tất các thủ tục cần thiết theo quy định của pháp luật để chính thức hoạt động kinh doanh bảo hiểm, môi giới bảo hiểm. Nếu quá thời hạn này mà doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm không bắt đầu hoạt động thì bị thu hồi Giấy phép thành lập và hoạt động.

17

Doanh nghiệp bảo hiểm phải được Bộ Tài chính chấp thuận bằng văn bản khi thay đổi một trong những nội dung sau đây: Tên doanh nghiệp; Vốn điều lệ; Mở hoặc chấm dứt hoạt động của chi nhánh, văn phòng đại diện; Địa điểm đặt trụ sở chính, chi nhánh, văn phòng đại diện; Nội dung, phạm vi và thời hạn hoạt động; Chuyển nhượng cổ phần, phần vốn góp chiếm 10% số vốn điều lệ trở lên; Chủ tịch Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc (Giám đốc); Chia, tách, sáp nhập, hợp nhất, giải thể, chuyển đổi hình thức doanh nghiệp… Doanh nghiệp bảo hiểm có thể bị thu hồi giấy phép thành lập và hoạt động khi xảy ra một trong những trường hợp như: Hồ sơ xin cấp giấy phép thành lập và hoạt động có thông tin cố ý làm sai sự thật; Sau 12 tháng kể từ ngày được cấp giấy phép thành lập và hoạt động mà không bắt đầu hoạt động; Giải thể, chia, tách, hợp nhất, sáp nhập, phá sản, chuyển đổi hình thức doanh nghiệp; Hoạt động sai mục đích hoặc không đúng với nội dung quy định trong giấy phép thành lập và hoạt động; Không bảo đảm các yêu cầu về tài chính để thực hiện các cam kết với bên mua bảo hiểm; doanh nghiệp bảo hiểm có vốn đầu tư nước ngoài có thể bị thu hồi giấy phép thành lập và hoạt động khi doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài nơi đóng trụ sở chính bị thu hồi giấy phép thành lập và hoạt động. Trong trường hợp Bộ Tài chính cấp, thu hồi giấy phép thành lập và hoạt động, chấp thuận cho doanh nghiệp bảo hiểm thay đổi một trong những nội dung quy định, Bộ Tài chính thông báo ngay bằng văn bản kèm theo bản sao giấy phép thành lập và hoạt động, quyết định thu hồi giấy phép thành lập và hoạt động hoặc quyết định chấp thuận việc sửa đổi, bổ sung giấy phép thành lập và hoạt động cho cơ quan đăng ký kinh doanh cấp tỉnh nơi doanh nghiệp đặt trụ sở chính, chi nhánh, văn phòng đại diện. Doanh nghiệp bảo hiểm phải luôn duy trì khả năng thanh toán trong suốt quá trình hoạt động kinh doanh bảo hiểm. Doanh nghiệp bảo hiểm được coi là có đủ khả năng thanh toán khi đã trích lập đầy đủ dự phòng nghiệp vụ theo quy định và có biên khả năng thanh toán không thấp hơn biên khả năng thanh toán tối thiểu theo quy định của Chính phủ. Trong trường hợp có nguy cơ mất khả năng thanh toán (khi biên khả năng thanh toán của doanh nghiệp đó thấp hơn biên khả năng thanh toán tối thiểu theo quy định) thì doanh nghiệp bảo hiểm phải chủ động thực hiện ngay các biện pháp tự khôi phục khả năng thanh toán đồng thời phải báo cáo nguy cơ mất khả năng thanh toán cho Bộ Tài chính trong đó nói rõ về thực trạng tài chính, nguyên nhân dẫn đến nguy cơ mất khả năng thanh toán và các biện pháp khắc phục….Trong trường hợp doanh nghiệp bảo hiểm không khôi phục được khả năng thanh toán theo phương án đã được chấp thuận, thì Bộ Tài chính có quyền yêu cầu doanh nghiệp bảo hiểm thực hiện khôi phục khả năng thanh toán, gồm những biện pháp như: Bổ sung nguồn vốn chủ sở hữu; Tái bảo hiểm; thu hẹp nội dung, phạm vi và địa bàn hoạt động; đình chỉ một phần hoặc toàn bộ hoạt động; Củng cố tổ chức bộ máy và thay đổi người quản trị, điều hành của doanh nghiệp; Yêu cầu chuyển giao hợp đồng bảo hiểm; Các biện pháp khác. Trong trường hợp doanh nghiệp bảo hiểm không khôi phục được khả năng thanh toán theo yêu cầu của Bộ Tài chính thì Bộ Tài chính ra quyết định thành lập Ban kiểm soát khả năng thanh toán để áp dụng các biện pháp khôi phục khả năng thanh toán của doanh nghiệp bảo hiểm. Ban kiểm soát khả năng thanh toán có những nhiệm vụ, quyền hạn sau đây: – Chỉ đạo và giám sát việc triển khai thực hiện các biện phục khả năng thanh toán theo phương án đã được chấp thuận;

18

19

Tổ chức hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm bao gồm: – Trụ sở chính; – Chi nhánh, sở giao dịch, hội sở, công ty thành viên hạch toán phụ thuộc (được gọi là Chi nhánh) trực thuộc doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm, có nhiệm vụ thực hiện toàn bộ hoặc một phần chức năng của doanh nghiệp kể cả chức năng đại diện theo uỷ quyền; – Văn phòng đại diện là đơn vị phụ thuộc của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm, có nhiệm vụ đại diện theo uỷ quyền cho lợi ích của doanh nghiệp và bảo vệ các lợi ích đó; – Địa điểm kinh doanh, phòng giao dịch (được gọi là địa điểm kinh doanh) là nơi hoạt động kinh doanh cụ thể, trực thuộc Chi nhánh của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm. Doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm muốn mở Chi nhánh, Văn phòng đại diện phải đáp ứng các điều kiện sau: – Vốn điều lệ thực có phải đảm bảo theo quy định của Bộ Tài chính; – Bộ máy quản trị, điều hành và hệ thống kiểm tra, kiểm soát nội bộ hoạt động có hiệu quả; – Không vi phạm nghiêm trọng các quy định của pháp luật trong 3 năm liên tục ngay trước năm nộp hồ sơ. Doanh nghiệp bảo hiểm không vi phạm quy định về khả năng thanh toán; – Có Quy chế tổ chức và hoạt động của Chi nhánh, Văn phòng đại diện; – Người điều hành Chi nhánh, Văn phòng đại diện có kinh nghiệm và kiến thức chuyên môn về hoạt động kinh doanh bảo hiểm và không thuộc các đối tượng bị cấm theo quy định của pháp luật; – Có hồ sơ xin mở Chi nhánh, Văn phòng đại diện theo quy định Hồ sơ xin mở Chi nhánh, Văn phòng đại diện bao gồm: – Đơn xin mở Chi nhánh, Văn phòng đại diện có chữ ký của người đại diện có thẩm quyền của doanh nghiệp, trong đó trình bày tóm tắt sự cần thiết, tên gọi, địa điểm, nội dung, phạm vi hoạt động của Chi nhánh, Văn phòng đại diện; – Phương án hoạt động 3 năm đầu của Chi nhánh, Văn phòng đại diện trong đó nêu rõ nhu cầu khách hàng; dự báo thị trường; nội dung, phạm vi hoạt động, các sản phẩm bảo hiểm dự kiến kinh doanh; dự kiến kết quả kinh doanh; tổ chức bộ máy, nhân sự; địa điểm đặt Chi nhánh, Văn phòng đại diện và cơ sở vật chất kỹ thuật; – Giấy tờ hợp lệ chứng minh doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm đáp ứng các điều kiện quy định. Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được đầy đủ hồ sơ hợp lệ, Bộ Tài chính phải trả lời bằng văn bản về việc chấp thuận hoặc từ chối chấp thuận. Trong trường hợp từ chối chấp thuận, Bộ Tài chính phải có văn bản giải thích lý do.

20