Mục Đích, Yêu Cầu Thực Hiện Pháp Luật Về Nghĩa Vụ Quân Sự

Mục đích, yêu cầu thực hiện pháp luật về Nghĩa vụ quân sự được quy định như thế nào? Xin chào Ban biên tập Thư Ký Luật, tôi là một độc giả của báo Quân đội nhân dân, có một thắc mắc muốn nhờ Ban biên tập Thư Ký Luật giải đáp như sau: Mục đích, yêu cầu thực hiện pháp luật về Nghĩa vụ quân sự được pháp luật quy định như thế nào? Vấn đề này được quy định cụ thể tại văn bản nào? Mong Ban biên tập Thư Ký Luật giải đáp giúp tôi. Chân thành cảm ơn.

(0978******)

Mục đích, yêu cầu thực hiện pháp luật về nghĩa vụ quân sự được pháp luật quy định tại Điều 2 Thông tư liên tịch 20/2024/TTLT-BGDĐT-BQP hướng dẫn thực hiện pháp luật về nghĩa vụ quân sự và đào tạo nhân viên chuyên môn kỹ thuật cho quân đội do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo – Bộ Quốc phòng ban hành như sau.

1. Mục đích:

a) Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về nghĩa vụ quân sự cho các đối tượng quy định tại Khoản 2 Điều 1 Thông tư liên tịch này, trong độ tuổi nhập ngũ và thực hiện nghĩa vụ quân sự theo quy định tại Điều 30 và Điều 32 của Luật Nghĩa vụ quân sự;

b) Hướng dẫn các cơ sở giáo dục trong hệ thống giáo dục quốc dân quy định tại Khoản 2 Điều 1 của Thông tư liên tịch này đào tạo nhân viên chuyên môn kỹ thuật cho quân đội theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ.

2. Yêu cầu:

a) Các cơ sở giáo dục xây dựng nội dung chuyên đề tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về nghĩa vụ quân sự. Đưa nội dung tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về nghĩa vụ quân sự vào chương trình giảng dạy, tập huấn, tuyên truyền phổ biến kiến thức pháp luật cho phù hợp với từng đối tượng;

b) Các cơ sở được giao nhiệm vụ theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ xây dựng chương trình đào tạo theo quy định của Bộ Quốc phòng về kiến thức chuyên ngành, nghề cho nhân viên chuyên môn kỹ thuật trình độ sơ cấp, trung cấp, cao đẳng.

Trân trọng!

Ký Nghị Quyết Liên Tịch Nhằm Mục Đích Gì?

Chiều 15/6, tại nhà Quốc hội, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Bí thư Thành ủy chúng tôi Nguyễn Thiện Nhân đã ký Nghị quyết liên tịch của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Đoàn Chủ tịch Ủy ban T.Ư MTTQ VN quy định chi tiết các hình thức giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

Theo đó, Nghị quyết gồm 4 chương, 25 điều, trong đó tập trung nêu rõ các hình thức giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; tổ chức đoàn giám sát; giám sát của ban thanh tra nhân dân, ban giám sát đầu tư của cộng đồng; tham gia giám sát với cơ quan, tổ chức có thẩm quyền.

Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc và Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Bí thư Thành ủy chúng tôi Nguyễn Thiện Nhân tại lễ ký nghị quyết liên tịch. Ảnh: TTXVN

Nghị quyết cũng quy định rõ trách nhiệm của các tổ chức chính trị – xã hội, cơ quan, tổ chức. Nghị quyết có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký.

Phát biểu tại lễ ký, ông Trần Thanh Mẫn – phó chủ tịch, tổng thư ký Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cho biết, việc tiếp tục hoàn thiện cơ chế, trong đó có việc quy định chi tiết về các hình thức giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ở nghị quyết liên tịch này sẽ góp phần tháo gỡ về cơ chế, nâng cao về chất lượng công tác giám sát, phản biện xã hội trong thời gian tới.

Ông Trần Thanh Mẫn đề nghị trong thời gian tới, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ tiếp tục quan tâm phối hợp với Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam triển khai thực hiện phần trách nhiệm của mình được quy định trong Nghị quyết liên tịch để Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam nói chung, Nghị quyết liên tịch nói riêng được sớm đi vào thực tiễn cuộc sống.

Nghĩa Vụ Quân Sự Là Gì?

Nghĩa vụ quân sự là gì? Tại sao phải đi Nghĩa vụ quân sự? Tôi luôn nghe mọi người nói phải đi Nghĩa vụ quân sự để bảo vệ Tổ quốc. Nhưng tôi luôn thắc mắc, có phải Nghĩa vụ quân sự là đi lính không? Ngoài đi lính thì Nghĩa vụ quân sự còn làm việc nào khác không? Mong nhận được tư vấn của Ban biên tập Thư Ký Luật. Chân thành cảm ơn!

Tại Khoản 1 Điều 4 Luật Nghĩa vụ quân sự 2024 có quy định: “Nghĩa vụ quân sự là nghĩa vụ vẻ vang của công dân phục vụ trong Quân đội nhân dân. Thực hiện nghĩa vụ quân sự bao gồm phục vụ tại ngũ và phục vụ trong ngạch dự bị của Quân đội nhân dân.”

Vì vậy, bạn nên hiểu rằng nghĩa vụ quân sự là bắt buộc, là một nghĩa vụ thiêng liêng để cống hiến cho tổ quốc. Thế nên Khoản 2 Điều 4 Luật Nghĩa vụ quân sự 2024 có quy định như sau: “Công dân trong độ tuổi thực hiện nghĩa vụ quân sự, không phân biệt dân tộc, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ học vấn, nghề nghiệp, nơi cư trú phải thực hiện nghĩa vụ quân sự theo quy định.”

Về các công việc được coi là thực hiện nghĩa vụ quân sự thì ngoài đi lính, còn nhiều công việc khác. Tại Khoản 3 và Khoản 4 Điều 4 Luật Nghĩa vụ quân sự 2024 có quy định:

Công dân phục vụ trong lực lượng Cảnh sát biển và thực hiện nghĩa vụ tham gia Công an nhân dân được coi là thực hiện nghĩa vụ quân sự tại ngũ.

Công dân thuộc một trong các trường hợp sau đây được công nhận hoàn thành nghĩa vụ quân sự tại ngũ trong thời bình:

a) Dân quân tự vệ nòng cốt đã hoàn thành nghĩa vụ tham gia dân quân tự vệ, trong đó có ít nhất 12 tháng làm nhiệm vụ dân quân tự vệ thường trực;

b) Hoàn thành nhiệm vụ tham gia Công an xã liên tục từ đủ 36 tháng trở lên;

c) Cán bộ, công chức, viên chức, sinh viên tốt nghiệp đại học trở lên, đã được đào tạo và phong quân hàm sĩ quan dự bị;

d) Thanh niên đã tốt nghiệp đại học, cao đẳng, trung cấp tình nguyện phục vụ tại đoàn kinh tế – quốc phòng từ đủ 24 tháng trở lên theo Đề án do Thủ tướng Chính phủ quyết định;

đ) Công dân phục vụ trên tàu kiểm ngư từ đủ 24 tháng trở lên.

Trân trọng!

Phát Tán Thông Tin Về Hoạt Động Điều Tra Vụ Ts Bùi Quang Tín Nhằm Mục Đích Gì?

Việc TS Bùi Quang Tín đột ngột qua đời, để lại nhiều sự tiếc thương cho gia đình và bạn bè. Dư luận xã hội bày tỏ sự tiếc thương, đòi hỏi cơ quan chức năng tìm ra nguyên nhân cái chết và xử lý những cá nhân có hành vi phạm tội (nếu có) là điều bình thường.

Đáng nói hơn, chỉ một ngày sau cái chết của nạn nhân, trên mạng xã hội đã lan truyền Bản tường trình của bà Nguyễn Thanh Bích, vợ nạn nhân, tố cáo một Hiệu phó Trường Đại học Ngân hàng TP HCM có mâu thuẫn với nạn nhân và nghi ngờ chồng bà bị giết bởi người này.

Việc bà Bích tố cáo, nghi ngờ chồng bị sát hại là hoàn toàn phù hợp, nhưng việc bản tường trình vừa nộp cho cơ quan công an, gần như ngay lập tức được lọt ra ngoài, lan truyền trên mạng xã hội là điều rất kỳ lạ. Sự lọt, lộ này là vô tình hay ai đó đã cố ý phát tán nhằm gây sức ép lên cơ quan điều tra? Ai đã làm lọt, lộ bản tường trình này lên mạng xã hội và nhằm mục đích gì, chắc sẽ được cơ quan chức năng xác minh làm rõ.

Khi bản tường trình bị lọt, lộ lên mạng xã hội, nhiều thông tin về nhân thân, uy tín, danh dự của cá nhân bị nêu trong đơn bị ảnh hưởng. Một số tài khoản còn dùng những lời lẽ mắng chửi, xúc phạm, quy kết người bị nêu tên trong bản tường trình như tội phạm, trong khi cơ quan tố tụng còn chưa khởi tố vụ án.

Nếu cái chết của nạn nhân là vụ án hình sự thì không có gì để bàn. Ngược lại, nếu cơ quan chức năng kết luận cái chết của TS Bùi Quang Tín không phải do người bị nêu tên trong bản tường trình gây ra, ai chịu trách nhiệm về việc người bị nêu tên trên mạng xã hội bị xâm phạm danh dự, uy tín, nhân phẩm?

Thông tin điều tra bị tường thuật quá chi tiết!

Theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2024, cơ quan tố tụng chỉ được khởi tố vụ án khi xác định có dấu hiệu tội phạm. Khi tiếp nhận tin báo tố giác tội phạm, cơ quan điều tra thực hiện các hoạt động tiền tố tụng để xác định xem có dấu hiệu tội phạm hay không để từ đó ban hành một trong các quyết định: Khởi tố vụ án; Không khởi tố vụ án; Tạm đình chỉ việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm.

Trong vụ việc của nạn nhân Bùi Quang Tín, Cơ quan CSĐT Công an TP HCM đã tiếp nhận tin báo tố giác tội phạm và thực hiện một số hoạt động điều tra. Theo quy định của BLTTHS và Luật tổ chức điều tra hình sự, những thông tin trong quá trình điều tra vụ án hình sự là tài liệu mật, không được tiết lộ ra ngoài.

Đối với vụ việc này, dư luận rất quan tâm nên các cơ quan báo chí “săn” tin hoạt động điều tra của cơ quan điều tra là điều không tránh khỏi. Tuy nhiên, một số cơ quan báo chí đã tường thuật quá chi tiết về những buổi làm việc của vợ nạn nhân với cơ quan điều tra là điều không nên. Thậm chí, bản phân tích, đưa ra các tình huống giả định, nghi ngờ mà vợ nạn nhân gửi cơ quan điều tra cũng được tung lên facebook.

Vì vậy, các cơ quan truyền thông cần có trách nhiệm hơn trong việc chọn lọc, đăng tải thông tin trong quá trình cơ quan điều tra tiến hành hoạt động điều tra – tức chưa có kết luận cuối cùng về vụ việc.

Bài: Lâm Hoàng; Ảnh: TL

Luật Nghĩa Vụ Quân Sự

Vì chủ quyền an ninh biên giới quốc giaVì chủ quyền an ninh biên giới quốc giaBài giảng

Luật nghĩa vụ quân sự Nội dung bài gảngSự cần thiết xâydựng vàhoàn thiệnLuậtNVQSNội dungcủaLuậtNVQS Trách nhiệmcủa học sinhA- sự cần thiết xây dựng và hoàn thiệnluật nghĩa vụ quân sự.Để kế thừa và phát huy truyền thống yêu nước, chủ nghĩa anh hùng cách mạng của nhân dân – Dân tộc ta là lịch sử của một dân tộc có truyền thống kiên cường, bất khuất chống giặc ngoại xâm. Lực lượng vũ trang làm nòng cốt cho toàn dân đánh giặc nên luôn được chăm lo xây dựng của toàn dân.– Chế độ tình nguyện tòng quân trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ đã phát huy tác dụng trong thời kỳ lịch sử đó. Kế thừa và phát huy thắng lợi của chế độ tòng quân, năm 1960miền Bắc bắt đầu thực hiện nghĩa vụ quân sự. 2. Thực hiện quyền làm chủ của công dân và tạo điều kiện để công dân làm tròn nhĩa vụ bảo vệ Tổ quốc. Bảo vệ Tổ quốc là nghĩa vụ thiêng liêng và là quyền cao quý của công dân, công dân có bổn phận làm nghĩa vụ quân sự và tham gia xây dựng quốc phòng toàn dân. Luật Nghĩa vụ quân sự quy định trách nhiệm của các cơ quan Nhà nước, các tổ chức xã hội, nhà trường, gia đình trong việc tạo điều kiện để công dân hoàn thànhnghĩa vụ với Tổ quốc.3. Đáp ứng yêu cầu xây dựng quân đội trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.– Nhiệm vụ hàng đầu của quân đội nhân dân là sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ chế độ, bảo vệ Đảng, bảo vệ chính quyền cách mạng, bảo vệ nhân dân, đồng thời có nhiệm vụ tham gia xây dựng đất nước.– Luật Nghĩa vụ quy định việc tuyển chọn, gọi công dân nhập ngũ trong thời bình để xây dựng lực lượng thường trực, đồng thời xây dựng, tích luỹ lực lượng dự bị ngày càng hùng hậu để sẵn sàng động viên trong mọi tình huống cần thiết, đáp ứng yêu cầu xây dựng quân đội trong giai đoạn cách mạng hiện nay.B- Nội dung cơ bản của Luật NVQS.Cấu trúc của Luật NVQS gồm: Lời nói đầu, 11 chương với 71 điều.Chương1: Những quy định chung, từ điều 1 đến điều 11.Chương này quy định quyền và nghĩa vụ của công dân trong thực hiện nghĩa vụ quân sự, những người không được làm nghĩa vụ quân sự, trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức và gia đình trong giáo dục, động viên và tạo điều kiện cho công dân làm tròn nghĩa vụ quân sự.I- Giới thiệu khái quát nội dung của Luật.Chương 2: Việc phục vụ tại ngũ của hạ sỹ quan, binh sỹ, từ điều 12 đến điều 16.Nội dung chương 2 quy định về độ tuổi nhập ngũ và thời hạn phục vụ tại ngũ của hạ sỹ quan và binh sỹ.Chương 3: Việc chuẩn bị cho thanh niên nhập ngũ, từ điều 17 đến điều 20.Nội dung chương 3 quy định trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức trong huấn luyện quân sự phổ thông cho học sinh ở các trường trung học phổ thông và quy định về đăng ký nghĩa vụ quân sự.Chương 4: Việc nhập ngũ và xuất ngũ, từ điều 21 đến điều 36.Nội dung chương 4 quy định thời gian gọi nhập ngũ trong năm, số lượng công dân nhập ngũ, trách nhiệm của công dân có lệnh gọi nhập ngũ, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức trong việc gọi công dân nhập ngũ và những trường hợp được hoãn gọi nhập ngũ hoặc miễn làm nghĩa vụ quân sự.Chương 5: Việc phục vụ của hạ sỹ quan và binh sỹ dự bị, từ điều 37 đến điều 44.Nội dung chương 5 quy định về hạn dự bị, hạn tuổi phục vụ của hạ sỹ quan và binh sỹ ở ngạch dự bị và việc huấn luyện cho quân nhân dự bịChương 6: Việc phục vụ của quân nhân chuyên nghiệp, từ điều 45 đến điều 48.Nội dung chương 6 quy định tiêu chuẩn trở thành quân nhân chuyên nghiệp, thời hạn phục vụ của quân nhân chuyên nghiệp.Chương 7: Nghĩa vụ, quyền lợi của quân nhân chuyên nghiệp, hạ sỹ quan binh sỹ tại ngũ và dự bị, từ điều 49 đến điều 57.Nội dung chương 7 quy định quyền lợi, nghĩa vụ của quân nhân chuyên nghiệp, hạ sỹ quan binh sỹ tại ngũ và dự bị, chế độ chính sách đối với gia đình quân nhân chuyên nghiệp, hạ sỹ quan binh sỹ tại ngũ và dự bị.Chương 8: Việc đăng ký nghĩa vụ quân sự, từ điều 58 đến điều 62.Nội dung chương 8 quy định địa điểm đăng ký quân nhân dự bị và công dân sẵn sàng nhập ngũ, trách nhiệm của quân nhân dự bị và công dân sẵn sàng nhập ngũ, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức trong việc thực hiện các quy định về việc đăng ký nghĩa vụ quân sự.Chương 9: Việc nhập ngũ theo lệnh tổng động viên hoặc lệnh động viên cục bộ, việc xuất ngũ theo lệnh phục viên, từ điều 63 đến điều 68.Nội dung chương 9 quy định việc nhập ngũ, xuất ngũ trong trường hợp đặc biệt. Chương 10: Việc xử lý các vi phạm, điều 69.Chương 11: Điều khoản cuối cùng, điều 70 và điều 71.Nội dung chương 11 quy định hiệu lực của Luật và trách nhiệm tổ chức thi hành Luật. II- Nội dung cơ bản của Luật Nghĩa vụ quân sựNhững quy định chung. Nghĩa vụ quân sự là nghĩa vụ vẻ vang của công dân, làm nghĩa vụ quân sự bao gồm phục vụ tại ngũ và phục vụ trong ngạch dự bị của quân đội. Công dân phục vụ tại ngũ gọi là quân nhân tại ngũ, công dân phục vụ trong ngạch dự bị gọi là quân nhân dự bị. Công dân làm nghĩa vụ quân sự trong suốt khoảng thời gian từ đủ 18 tuổi đến hết 45 tuổi.Nghĩa vụ của quân nhân tại ngũ và quân nhân dự bị. – Tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, nhân dân và Nhà nước, nêu cao cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh bảo vệ vững chắc Tổ quốc và hoàn thành mọi nhiệm vụ. – Tôn trọng quyền làm chủ tập thể của nhân dân, kiên quyết bảo vệ tài sản của Nhà nước, tài sản, tính mạng của nhân dân. – Gương mẫu chấp hành đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, điều lệnh, điều lệ của quân đội. – Ra sức học tập chính trị, quân sự, văn hoá, kỹ thuật nghiệp vụ, rèn luyện tính tổ chức, tính kỷ luật và thể lực, không ngừng nâng cao bản lĩnh chiến đấu. – Công dân nam không phân biệt thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hoá, nghề nghiệp, nơi cư trú có nghĩa vụ phục vụ tại ngũ trong quân đội nhân dân Việt Nam. – Công dân nữ trong độ tuổi từ 18 đến 40 có chuyên môn kỹ thuật cần cho quân đội trong thời bình có trách nhiệm đăng ký nghĩa vụ quân sự và được gọi huấn luyện, nếu tự nguyện thì có thể được phục vụ tại ngũ. – Người đang tong thời kỳ bị pháp luật hoặc toà án tước quyền phục vụ trong lực lượng vũ trang nhân dân hoặc người đang bị giam giữ thì không được làm nghĩa vụ quân sự. Việc chuẩn bị cho thanh niên nhập ngũ. – Huấn luyện quân sự phổ thông. – Đào tạo cán bộ, nhân viên chuyên môn kỹ thuật cho quân đội. – Đăng ký nghĩa vụ quân sự và kiểm tra sức khoẻ đối với công dân nam đủ 17 tuổi. Phục vụ tại ngũ trong thời bình. – Độ tuổi gọi nhập ngũ đối với công dân nam trong thời bình là từ đủ 18 đến hết 25. – Thời hạn phục vụ tại ngũ trong thời bình của hạ sỹ quan, binh sỹ là 18 tháng, của hạ sỹ quan chỉ huy, hạ sỹ quan và binh sỹ chuyên môn kỹ thuật là 24 tháng. – Đăng ký nghĩa vụ quân sự và kiểm tra sức khoẻ đối với công dân nam đủ 17 tuổi.Chú ý: Thời gian đảo ngũ không được tính vào thời hạn phục vụ tại ngũ Những công dân được hoãn gọi nhập ngũ trong thời bình.– Chưa đủ sức khoẻ phục vụ tại ngũ theo kết luận của Hội đồng khám sức khoẻ. Là lao động duy nhất phải trực tiếp nuôi người khác trong gia đình không còn sức lao động hoặc chưa đến tuổi lao động. Có anh, chị hoặc em ruột là hạ sỹ quan, binh sỹ đang phục vụ tại ngũ. Giáo viên, nhân viên y tế, thanh niên xung phong đang làm việc ở vùng sâu, vùng xa, biên giới hải đảo, vùng đặc biệt khó khăn, cán bộ, công chức, viên chức được điều động đến làm việc ở những vùng này.Đang nghiên cứu công trình khoa học cấp Nhà nước được Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ hoặc người có chức vụ tương đương chứng nhận. Đang học ở các trường phổ thông, dạy nghề, trường trung cấp chuyên nghiệp, trường cao đẳng, đại học do Chính phủ quy định. Đi xây dựng vùng kinh tế mới trong ba năm đầu.Những công dân được miễn gọi nhập ngũ trong thời bình. Con của liệt sỹ, con của thương binh hạng một, con của bệnh binh hạng một.Một người anh hoặc em trai của liệt sỹ.Một con trai của thương binh hạng hai.– Thanh niên xung phong, cán bộ, công chức, viên chức đã phục vụ từ 24 tháng trở lên ở vùng sâu, vùng xa, biên giới hải đảo, vùng đặc biệt khó khăn do Chính phủ quy định.Chế độ chính sách đối với hạ sỹ quan, binh sỹ tại ngũ.Đảm bảo về lương thực, thực phẩm, quân trang, thuốc phòng, chữa bệnh, chỗ ở, phụ cấp hàng tháng và nhu cầu về văn hoá, tinh thần.Chế độ nghỉ phép, phụ cấp quân hàm.Khi xuất ngũ được cấp tiền tàu xe, phụ cấp đi dường, trợ cấp xuất ngũ, trợ cấp tạo việc làm.Trước lúc nhập ngũ làm việc ở cơ quan, cơ sở kinh tế nào thì được cơ quan, cơ sở đó tiếp nhận lại. Khi xuất ngũ về địa phương được ưu tiên trong uyển sinh, tuyển dụng hoặc sắp xếp việc làm.Trước lúc nhập ngũ có giấy gọi nhập học vào các trường cao đẳng, đại học. thì khi xuất ngũ được vào học ở các trường đó.– Nếu bị thương, bị bệnh hoặc chết. thì bản thân và gia đình được hưởng chế độ ưu đãi theo quy định.

Quyền lợi của gia đình hạ sỹ quan, binh sỹ tại ngũ.

– Bố, mẹ, vợ và con được hưởng chế độ trợ cấp khó khăn đột xuất theo chính sách chung của Nhà nước.Thân nhân của hạ sỹ quan, binh sỹ được khám bệnh theo chế độ bảo hiểm y tế nếu không thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm y tế bắt buộc.– Con gửi ở nhà trẻ, học tại các trường mẫu giáo, trường phổ thông của Nhà nước được miễn học phí và tiền đóng góp xây dựng trường.

Trách nhiệm của học sinhHọc tậpchính trị,quân sự,rèn luyệnthể lựcChấp hànhquy định về đăng kýNVQS Đi kiểm trasức khoẻ vàkhámsức khoẻChấp hànhlệnh gọi nhập ngũNội dung 1: Học tập chính trị, quân sự, rèn luyện thể lực do trường, lớp tổ chức.

Vệc huấn luyện quân sự phổ thông cho học sinh ở các trường thuộc chương trình chính khoá; nội dung huấn luyện do Bộ trưởng Bộ Quốc phòng phối hợp với Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định.– Học sinh có thái độ nghiêm túc, trách nhiệm đầy đủ trong học tập, rèn luyện.– Học phải đi đôi với hành, vận dụng kết quả học tập vào việc xây dựng nề nếp sinh hoạt tập thể có kỷ luật, văn minh trong nhà trường và ngoài xã hội, chấp hành đầy đủ những quy định thực hiện Luật Nghĩa vụ quân sự.. Nội dung 2: Chấp hành quy định về đăng kýnghĩa vụ quân sự.

Đăng ký nghĩa vụ quân sự là việc kê khai lý lịch và những yếu tố cần thiết khác theo quy định của pháp luật của người trong độ tuổi đăng ký nghĩa vụ quân sự để cơ quan quân sự địa phương quản lý và tổ chức thực hiện quy định của pháp luật về nghĩa vụ quân sự đối với các đối tượng trong độ tuổi thực hiện nghĩa vụ quân sự. Mục đích của đăng ký nghĩa vụ quân sự là nhằm nắm chắc tình hình bản thân, gia đình học sinh để đảm bảo việc tuyển chọn và gọi nhập ngũ được chính xác, bảo đảm công bằng xã hội trong thực hiện nghĩa vụ quân sự. Học sinh đến độ tuổi đăng ký nghĩa vụ quân sự (Nam từ đủ 17 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên có chuyên môn cần phục vụ cho quân đội) phải đăng ký nghĩa vụ quân sự. Đăng ký nghĩa vụ quân sự được tiến hành tại nơi cư trú của công dân do Ban Chỉ huy quân sự cấp xã và Ban Chỉ huy quân sự cấp huyện chịu trách nhiệm thực hiện. Nội dung 3: Đi kiểm tra sức khoẻ và khám sức khoẻ

Khám sức khoẻ là nhằm tuyển chọn những người đủ tiêu chuẩn vào phục vụ tại ngũ Việc kiểm tra sức khoẻ cho người đăng ký nghĩa vụ quân sự lần đầu (Đủ 17 tuổi) do cơ quan quân sự cấp huyện phụ trách. Việc khám sức khoẻ cho những người trong diện được gọi nhập ngũ do Hội đồng khám sức khoẻ cấp huyện phụ trách. Học sinh đi kiểm tra sức khoẻ và khám sức khoẻ theo giấy gọi của Ban Chỉ huy quân sự cấp huyện nơi cư trú. Học sinh phải có mặt đúng thời gian, địa điểm quy định trong giấy gọi, khi đi kiểm tra sức khoẻ hoặc khám sức khoẻ phải tuân thủ đầy đủ nguyên tắc, thủ tục ở phòng khám.Nội dung 4: Chấp hành nghiêm lệnh gọi nhập ngũ

Hằng năm, việc gọi công dân nhập ngũ được tiến hành từ một đến hai lần. Theo quyết định của UBND, Chỉ huy trưởng quân sự cấp huyện gọi từng công dân nhập ngũ. Lệnh gọi nhập ngũ phải được đưa trước 15 ngày. Công dân được gọi nhập ngũ phải có mặt đúng thời gian và địa điểm ghi trong lệnh gọi nhập ngũ, nếu có lý do chính đáng không thể đến đúng thời gian, địa điểm thì phải có giấy xác nhận của UBND cấp xã nơi cư trú.

Xin trân trọng cảm ơn!Vì chủ quyền an ninh biên giới quốc gia