Luật Phá Sản Ngân Hàng Việt Nam / Top 3 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 1/2023 # Top View | Bac.edu.vn

Việt Nam: Ý Kiến Về ‘Phá Sản Ngân Hàng’?

Một chuyên gia nói tin Việt Nam chính thức cho phá sản ngân hàng từ ngày 15/1 “hợp xu hướng quốc tế” trong lúc người khác cảnh báo “nguy cơ hiệu ứng dây chuyền.”

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Các tổ chức tín dụng chính thức có hiệu lực từ ngày 15/1, lần đầu tiên đưa ra phương án phá sản một ngân hàng để tái cấu trúc hệ thống.

Theo đó, Ngân hàng Nhà nước sẽ trình Chính phủ quyết định chủ trương phá sản ngân hàng được kiểm soát đặc biệt theo quy định tại Luật này.

‘Tín hiệu tốt’

Hôm 16/1, trả lời BBC, ông Nguyễn Việt Khoa, giảng viên Khoa Luật, Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh, nói: “Việc cho phá sản ngân hàng là phù hợp với xu hướng quốc tế, nhưng quan trọng hiện là tái cơ cấu hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam trong một thời gian dài bị lợi ích nhóm chi phối.”

“Một số ngân hàng không đủ chuẩn theo quy định của Ngân hàng Nhà nước hoặc kinh doanh không hiệu quả buộc phải hợp nhất, sáp nhập hoặc buộc phải phá sản bắt buộc.”

“Về lâu dài, tôi cho rằng quy định này mang lại tín hiệu tốt cho nền kinh tế, xoá bỏ mục đích lập ngân hàng để phục vụ lợi ích riêng và làm sân sau cũng cấp vốn cho các ông chủ công ty, tập đoàn kinh tế.”

Đề cập về những quan ngại của người đang gửi tiền tiết kiệm tại các ngân hàng Việt Nam, ông Việt Khoa cho biết: “Ban đầu, tin quy định này có hiệu lực ít nhiều ảnh hưởng đến tâm lý người gửi tiền. Tuy nhiên, hoạt động gửi tiền cũng được xem là một hoạt động kinh doanh, và ngân hàng thương mại cũng là một doanh nghiệp nên việc chịu rủi ro trong kinh doanh cũng là tất yếu.”

“Vì vậy, người gửi tiền buộc phải lựa chọn hoặc phân tán số tiền gửi vào những ngân hàng thương mại làm sao để được an toàn nhất, đó cũng là động lực buộc các ngân hàng thương mại cải tiến đặc biệt là hệ thống quản lý rủi ro để tạo niềm tin cho khách hàng.”

“Tôi cho rằng, với tình hình hiện nay tại Việt Nam, quy định cho phá sản ngân hàng thương mại chẳng ảnh hưởng nhiều đến nền kinh tế. Nền kinh tế không lo thiếu vốn khi đã có những ngân hàng nước ngoài và các quỹ đầu tư đã quen với thị trường Việt Nam.”

“Trong hàng chục năm qua, có thể nói đây là giai đoạn khởi đầu cho việc điều hành hệ thống ngân hàng mà tôi cho là tốt nhất, đi đúng quỹ đạo của nền kinh tế, và là mạch máu đúng nghĩa của nền kinh tế.”

‘Vấn đề lớn’

Trái ngược ý kiến trên, Tiến sĩ Nguyễn Văn Phú nói với Ben Ngô của BBC Tiếng Việt từ Đại học Strasbourg, Pháp:

“Việc một tổ chức tín dụng (ngân hàng) bị thua lỗ đi đến phá sản là một hiện tượng bình thường của nền kinh tế, cũng như các doanh nghiệp khác được lập ra, lớn mạnh lên, và phá sản hoặc biến mất đi vào một thời điểm nào đó.”

“Tuy nhiên, các tổ chức tín dụng lại có nhiều vai trò khác. Nó không chỉ là nơi nhận tiền gởi của khách hàng, mà có vai trò cung cấp vốn cho các hoạt động sản xuất kinh doanh, bảo hiểm.”

“Nếu một tổ chức tín dụng bị phá sản, mà là một ngân hàng lớn thì sẽ có nguy cơ gây hiệu ứng dây chuyền, có thể gây ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế.”

“Theo Luật Các tổ chức tín dụng, khi một ngân hàng bị phá sản, người dân sẽ chỉ được đền bù tối đa là 75 triệu đồng. Đó là về phía người dân. Tuy nhiên, việc phá sản này sẽ gây khó khăn cho các doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp ký gởi tiền hoặc là chủ sở hữu/cổ đông ở đây. Ngoài ra, khi một ngân hàng bị phá sản, nguy cơ là các ngân hàng khác cũng bị liên đới, chẳng hạn vì có sở hữu chéo. Những điều này sẽ gây hiệu ứng dây chuyền và ảnh hưởng rộng lên các hoạt động kinh tế.”

Ông Nguyễn Văn Phú nói thêm: “Tất nhiên, có luật về phá sản của các ngân hàng là tốt, nhưng cho phép một ngân hàng phá sản trên thực tế sẽ là vấn đề lớn trong tình hình hiện nay.”

“Việt Nam nên nghiên cứu kỹ các kinh nghiệm trên thế giới. Ví dụ như qua cuộc khủng hoảng toàn cầu vừa qua, bắt đầu từ việc phá sản của ngân hàng Lehman Brothers năm 2008 ở Hoa Kỳ. Nền kinh tế Iceland bị khủng hoảng trầm trọng khi ba ngân hàng lớn bị phá sản và phải bị quốc hữu hóa, dẫn đến việc nước này nằm trên bờ vực phá sản.”

“Trường hợp của Hy Lạp và Tây Ban Nha trong đợt khủng hoảng vừa qua cũng gần như vậy.”

Theo ông Phú, “Trong trường hợp của Việt Nam, trong khi thông tin thiếu minh bạch, hay nói cách khác là thông tin bất đối xứng, tin đồn có ảnh hưởng rất lớn, việc cho một ngân hàng phá sản là việc phải rất cẩn thận. Cần phải xem xét quy mô của việc này, xem xét ảnh hưởng có thể có lên người dân và doanh nghiệp, nhất là trong môi trường thông tin thiếu minh bạch.”

“Ngoài ra, cũng cần lưu ý là việc cho phá sản một ngân hàng nhiều khi không thực hiện được vì những lý do nêu trên, nên nhà nước phải can thiệp, như là quốc hữu hóa. Đã có tiền lệ là Ngân hàng Nhà nước mua ba ngân hàng GPBank, OceanBank và CBBank với giá 0 đồng. Do đó cần đánh giá hệ lụy có thể có lên ngân sách nhà nước và nợ công của việc quốc hữu hóa các ngân hàng này.”

Liệu việc cho phá sản ngân hàng có thể giúp ngăn ngừa cuộc khủng hoảng ngành tài chính Việt Nam trong tương lai?

Ông Nguyễn Việt Khoa chia sẻ thêm với BBC: “Giá như, quy định cho phá sản ngân hàng có hiệu lực sớm hơn, nghĩa là nếu lãnh đạo Ngân hàng Nhà nước cầu thị trước các ý kiến của các chuyên gia và không bị lợi ích nhóm chi phối thì hàng ngàn tổ chức, cá nhân đã không bị mất tiền oan trước quyết định mua ngân hàng thương mại không đồng, hay việc yêu cầu cổ đông phải ủy quyền không hủy ngang tất cả các cổ phần cho Ngân hàng Nhà nước.”

“Có thể nói hai quyết định trước đây của Ngân hàng Nhà nước nằm ngoài khía cạnh luật pháp để lại hậu quả là hàng nghìn cán bộ, nhân viên ngân hàng thương mại phải đứng trước vành móng ngựa và ít nhiều góp phần làm quá tải nhà tù hiện nay.”

“Và đây có thể nói là một bài học đắt giá trong việc điều hành chính sách, nhưng về lâu dài, Luật Các tổ chức tín dụng cần sửa đổi theo hướng đặt vị trí Ngân hàng Nhà nước độc lập với cơ quan hành pháp, nghĩa là thống đốc trực thuộc Quốc hội và không bị chi phối bởi việc điều hành kinh tế của Chính phủ.”

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật các Tổ chức tín dụng được Quốc hội Việt Nam thông qua hồi tháng 11/2017.

Luật này chính thức có hiệu lực thi hành kể từ 15/01/2018.

Thủ Tục Phá Sản Ngân Hàng Theo Luật Phá Sản 2014

1. Cơ sở pháp lý điều chỉnh thủ tục phá sản ngân hàng

Cơ sở pháp lý điều chỉnh thủ tục phá sản ngân hàng là Luật Phá sản 2014.

2. Thủ tục phá sản ngân hàng là một thủ tục đặc biệt

Sự tồn tại và hoạt động của ngân hàng ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế, xã hội, đến lợi ích chung của cộng đồng nên việc phá sản các doanh nghiệp này cũng được pháp luật quy định một cách thận trọng, chặt chẽ. Thủ tục phá sản ngân hàng không giống thủ tục phá sản thông thường áp dụng đối với các doanh nghiệp và hợp tác xã – bạn có thể tham khảo Thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã.

3. Về thời điểm nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản ngân hàng

Việc nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với ngân hàng chỉ thực hiện sau khi Ngân hàng nhà nước có một trong các văn bản sau:

văn bản chấm dứt kiểm soát đặc biệt

văn bản chấm dứt áp dụng biện pháp phục hồi khả năng thanh toán

văn bản không áp dụng biện pháp phục hồi khả năng thanh toán…

Khi ngân hàng có nguy cơ mất khả năng thanh toán, Ngân hàng nhà nước sẽ xem xét, quyết định áp dụng biện pháp kiểm soát, đặc biệt đối với ngân hàng đó. Việc mở thủ tục phá sản đối với ngân hàng sẽ được thực hiện khi ngân hàng không có khả năng khôi phục được khả năng thanh toán.

4. Về quyền, nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản ngân hàng

Nhũng người sau đây được quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với ngân hàng:

Chủ nợ không có bảo đàm, chủ nợ có bảo đảm một phần;

Người lao động, công đoàn cơ sở, công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở ở những nơi chưa thành lập công đoàn cơ sở;

Cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu từ 20% số cổ phần phổ thông trở lên trong thời gian liên tục ít nhất 06 tháng;

Cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu dưới 20% số cổ phần phổ thông trong thời gian liên tục ít nhất 06 tháng trong trường hợp điều lệ ngân hàng có quy định;

Ngân hàng có nghĩa vụ nộp đơn yếu cầu mở thủ tục phá sản; trường hợp ngân hàng không nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản thì Ngân hàng Nhà nước Việt Nam nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sân đốị với ngân hàng đó.

5. Về thụ lí đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản ngân hàng

Toà án nhân dân thụ lí đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản ngân hàng khi đã có một trong các văn bản sau:

văn bản chấm dứt kiểm soát đặc biệt

văn bản chấm dứt áp dụng hoặc không áp dụng biện pháp phục hồi khả năng thanh toán của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

mà ngân hàng vẫn mất khả năng thanh toán.

6. Về hoàn trả khoản vay đặc biệt trong thủ tục phá sản ngân hàng

Nếu ngân hàng bị tuyên bổ phá sản có khoản vay đặc biệt của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, ngân hàng khác theo quy định của Luật Các ngân hàng thì phải hoàn trả khoản vay đặc biệt trước khi thực hiện phân chia tài sản theo quy định.

7. Về hoàn trả tài sản gửi giữ cho khách hàng trong thủ tục phá sản ngân hàng

8. Về giao dịch cùa ngân hàng trong giai đoạn kiểm soát đặc biệt

Các giao dịch của ngân hàng thực hiện trong giai đoạn Ngân hàng Nhà nước Việt Nam áp dụng biện pháp kiểm soát đặc biệt hoặc áp dụng biện pháp phục hồi khả năng thạnh toán sẽ không áp dụng quy định về giao dịch vô hiệu, bởi đó đều là những giao dịch cần thiết cho việc đảm bảo khả năng thanh toán của ngân hàng.

9. Về thứ tự phân chia tài sản trong thủ tục phá sản ngân hàng

Việc phân chịa tài sản cua ngân hàng có những khác biệt so với doanh nghiệp, hợp tác xã thông thường. Thứ tự ưu tiên phân chia tài sản như sau:

a. Nhóm ưu tiên số 1 phân chia tài sản trong thủ tục phá sản ngân hàng

Chi phí phá sản;

Các khoản nợ tiền công, tiền lương đối với người lao động

Các khoản tiền gửi, khoản tiền tổ chức bảo hiểm tiền gửi phải trả

Các khoản nợ ngân sách nhà nước

b. Nhóm ưu tiên số 2 phân chia tài sản trong thủ tục phá sản ngân hàng

Nhóm ưu tiên số 2 gồm chủ sở hữu ngân hàng, các thành viên góp vốn là tổ chức và cá nhân.

Trường hợp giá trị tài sản không đủ để thanh toán theo quy định cho các khoản nợ theo quy định thì các đối tượng thuộc cùng một thứ tự ưu tiên được thanh toán theo tỉ lệ phần trăm tương ứng với số nợ.

10. Về quyết định tuyên bố ngân hàng phá sản

Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày Quản tài viên, doanh nghiệp quản tí, thanh lí tài sản lập xong danh sách chù nợ, danh sách người mắc nợ, bảng kê tài sản của ngân hàng, Toà án nhân dân ra quyết định tuyên bố ngân hàng phá sản.

11. Thi hành quyết định tuyên bố phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã

Các bước thi hành quyết định tuyên bố phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã là:

a) Xác định tài sản phá sản của doanh nghiệp, hợp tác xã

Bạn có thể tìm hiểu thêm khi đọc bài viết Xác định tài sản phá sản của doanh nghiệp, hợp tác xã của chúng tôi.

b) Thi hành quyểt định tuyên bố phá sản

Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định tuyên bổ phá sản, cơ quan thi hành án dân sự có ttách nhiệm ra quyết định thi hành, phân công Chấp hành viên thi hành quyết định tuyên bố phá sản.

Sau khi nhận được quyết định phân công của Thủ ttưởng cơ quan thi hành án dẫn sự, Chấp hành viên thực hiện các nhiệm vụ sau:

Mở một tài khoản tại ngân hàng đứng tên cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền thi hành quyết định tuyên bố phá sản để gửi các khoản tiền thu hồi được của doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản;

Giám sát, Quản tài viên, doanh nghiệp quản lí, thanh lí tài sàn thực hiện thanh lí tài sản;

Thực hiện cưỡng chế để thu hồi tài sần, giao tài sản cho người mua được tài sản trong vụ việc phá sản theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự;

Dựa trên báo cáo của Quản tài viên, doanh nghiệp quản lí, thanh lí tài sản về kết quả thanh lí tài sản, Chấp hành viên thực hiện phương án phân chia tài sản theo quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản. Việc phân chia tài sản phải thực hiện theo thứ tự do pháp luật quy định. Để hiểu thêm, bạn hãy đọc bài viết Thứ tự phân chi tài sản khi phá sản của chúng tôi. Nểu giá trị tài sản không đủ để thanh toán thì từng đối tượng cùng một thứ tự ưu tiên được thanh toán theo tỉ lệ phần trăm tương ứng với số nợ.

13. Dịch vụ luật sư doanh nghiệp của Luật Thái An

Trong bối cảnh kinh doanh sôi động, doanh nghiệp càng phát triển thì việc kinh doanh và quản trị doanh nghiệp càng khó khăn, phức tạp. Một trong các thách thức đối với tất cả các doanh nghiệp là bảo đảm hoạt động kinh doanh và quản trị doanh nghiệp tuân thủ các quy định của pháp luật. Làm được điều này sẽ giúp doanh nghiệp tránh được các rủi ro pháp lý như bị các cơ quan có thẩm quyền xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự, cũng như phòng ngừa ranh chấp lao động, tranh chấp nội bộ doanh nghiệp hoặc các kiện tụng từ phía khách hàng, đối tác…

Nếu bạn cần được tư vấn luật doanh nghiệp, luật đầu tư… hãy tham khảo bài viết Tư vấn pháp luật cho doanh nghiệp của chúng tôi.

Tác giả bài viết:

Tiến sỹ luật học, Luật sư Nguyễn Văn Thanh – Giám đốc Công ty luật Thái An

Thành viên Đoàn Luật sư TP. Hà Nội và Liên đoàn Luật sư Việt Nam

Lĩnh vực hành nghề chính: * Tư vấn pháp luật: Doanh nghiệp, Đầu tư, Xây dựng, Thương mại, Lao động, Dân sự, Hình sự, Đất đai, Hôn nhân và gia đình * Tố tụng và giải quyết tranh chấp: Kinh doanh thương mại, Đầu tư, Xây dựng, Lao động, Bảo hiểm, Dân sự, Hình sự, Hành chính, Đất đai, Hôn nhân và gia đình 

Pháp Luật Về Phá Sản Ngân Hàng Thương Mại

TS. DƯƠNG KIM THẾ NGUYÊN – Khoa Luật, Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh

Tại hội thảo quốc tế “Phát triển bền vững thị trường tài chính Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế” do Học viện Ngân hàng tổ chức ngày 28/10, tại Hà Nội, ông Jonathan Dunn – Trưởng đại diện Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) tại Việt Nam đã nhấn mạnh rằng, cần phải có vòng cải cách các ngân hàng lần hai, bao gồm cả việc đóng cửa, thanh lý một số ngân hàng thương mại yếu kém, không tồn tại được để nâng cao sức cạnh tranh của thị trường tài chính Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Trong nền kinh tế thị trường, tất cả đều chịu sự chi phối mãnh liệt của quy luật cạnh tranh, việc thành lập, phá sản là một quy luật tự nhiên trong kinh doanh. Vì vậy, việc phá sản những ngân hàng yếu kém là một quy luật tất yếu khách quan của xã hội, phù hợp với quy luật cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay. Vậy pháp luật Việt Nam quy định như thế nào về phá sản ngân hàng thương mại? Trong bài viết này, tác giả nêu lên thực trạng pháp luật về phá sản ngân hàng thương mại và một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật về vấn đề này.

Trong thời gian qua, dưới sự tác động của các đợt suy giảm kinh tế trên thế giới, đã đẩy những ngân hàng nhỏ ở Việt Nam lâm vào tình trạng khó khăn. Trong năm 2012, lợi nhuận trung bình của Ngành Ngân hàng giảm gần 50% so với năm 2011[1]. Nợ xấu của toàn bộ hệ thống ngân hàng tăng cao, thậm chí đến mức báo động gây nguy hiểm cho hệ thống tài chính quốc gia, đặc biệt nợ xấu tại một số tổ chức tín dụng ở mức nguy hiểm đến sự tồn tại của tổ chức tín dụng đó[2]. Một loạt các biện pháp tái cấu trúc ngân hàng đã và đang được tiến hành như tái cấu trúc vốn chủ sở hữu ngân hàng, thực hiện sáp nhập ngân hàng… Tuy vậy, khi các giải pháp nhằm giải cứu ngân hàng thương mại không thành công, vấn đề cho phép phá sản ngân hàng thương mại đã được đặt ra.

1. Thực trạng pháp luật về phá sản ngân hàng thương mại ở Việt Nam

Cho đến nay, thực tiễn xử lý tình trạng mất khả năng thanh toán của các ngân hàng thương mại cho thấy, chưa có một vụ phá sản ngân hàng nào được thụ lý giải quyết bởi Tòa án. Điều này xuất phát từ việc Nhà nước đã nhận thức rõ những tác động to lớn của việc phá sản ngân hàng đối với nền kinh tế. Chính vì thế, trong quá trình hình thành và phát triển hệ thống pháp luật về ngân hàng tại Việt Nam, khuôn khổ pháp lý về xử lý tình trạng mất khả năng thanh toán với việc ưu tiên sử dụng các giải pháp xử lý tiền phá sản đã dần được hình thành. Đến thời điểm hiện tại, có thể sơ lược về các nội dung pháp lý cho việc xử lý tình trạng mất khả năng thanh toán của các ngân hàng thương mại như sau:

1.1. Cho vay đặc biệt

Huy động vốn ngắn hạn để cho vay dài hạn, nợ vay chỉ có thể được hoàn trả khi đến hạn nhưng nợ huy động của công chúng phải sẵn sàng hoàn trả khi có yêu cầu của khách hàng dù đã đến hạn hay chưa là những đặc điểm của hoạt động kinh doanh tiền gửi có thể gây ra khủng hoảng tiền mặt cho các tổ chức tín dụng khi có đột biến rút tiền gửi. Để giảm thiểu những tác động đến sự ổn định của hệ thống ngân hàng xảy ra do một ngân hàng bị mất khả năng thanh toán hoặc do những sự cố nghiêm trọng nào đó làm cho tổ chức tín dụng có thể mất khả năng chi trả của ngân hàng, cần có sự can thiệp kịp thời từ phía ngân hàng trung ương. Cho vay đặc biệt được quy định tại Điều 24 Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam năm 2010, Điều 151 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010. Tại Việt Nam, lịch sử hoạt động ngân hàng đã chứng kiến một số sự cố gây mất khả năng chi trả của tổ chức tín dụng, điển hình là sự cố rút tiền hàng loạt của người gửi tại Ngân hàng Á Châu vào tháng 10 năm 2003[3], nếu không có sự hỗ trợ kịp thời của Ngân hàng Nhà nước để đảm bảo khả năng chi trả cho người gửi tiền vào thời điểm đó, thì khả năng sụp đổ một ngân hàng lớn như Ngân hàng Á Châu là có thể xảy ra.

1.2. Kiểm soát đặc biệt

Ngân hàng trung ương sẽ thực hiện các biện pháp quản lý nghiệp vụ đặc biệt để kiểm soát, giám sát trực tiếp tình hình tổ chức và hoạt động của tổ chức tín dụng nhằm bảo vệ quyền lợi khách hàng, giúp đỡ tổ chức tín dụng và bảo đảm an toàn cho hệ thống tài chính trong nền kinh tế. Các biện pháp này được gọi là kiểm soát đặc biệt. Theo Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, thì kiểm soát đặc biệt là việc một tổ chức tín dụng bị đặt dưới sự kiểm soát trực tiếp của Ngân hàng Nhà nước do có nguy cơ mất khả năng chi trả, mất khả năng thanh toán (khoản 1 Điều 146). Như vậy, kiểm soát đặc biệt là biện pháp xử lý tình trạng mất khả năng thanh toán của tổ chức tín dụng bằng biện pháp hành chính khi tổ chức tín dụng do có nguy cơ bị lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán, mất khả năng chi trả nhằm mục đích hạn chế tới mức thấp nhất sự đổ vỡ của tổ chức tín dụng bị kiểm soát, đồng thời khoanh vùng, hạn chế sự sự lan rộng sang các tổ chức tín dụng khác gây ra những bất ổn cho hệ thống tổ chức tín dụng. Do là một biện pháp hành chính, nên kiểm soát đặc biệt có tính áp đặt thực hiện các hoạt động hỗ trợ và giúp đỡ ngân hàng phục hồi năng lực tài chính cho tổ chức tín dụng. Đây là bước chuyển tiếp từ quá trình hoạt động bình thường của tổ chức tín dụng sang quá trình tổ chức tín dụng nhận được sự giúp đỡ từ bên ngoài để tự nó phục hồi, đứng vững trở lại, hoặc giảm bớt thiệt hại mà nó có thể gây ra trước khi chấm dứt hoạt động bằng một thủ tục thanh lý phá sản.

Có thể khẳng định, thủ tục đặc biệt đối với các ngân hàng thương mại là biện pháp hạn chế phá sản trong giai đoạn tiền phá sản ngân hàng thương mại. Kết thúc kiểm soát đặc biệt có thể làm phát sinh nhiều hệ quả khác nhau, đó là:

– Phục hồi ngân hàng thương mại: Đây là một kết quả lý tưởng mà bản thân ngân hàng thương mại và cơ quan quản lý mong muốn đạt được nhất khi thực hiện biện pháp kiểm soát đặc biệt. Với hệ quả này, khi kết thúc kiểm soát đặc biệt, ngân hàng thương mại tiếp tục hoạt động như trước đây, giữ nguyên tư cách chủ thể của mình.

– Tổ chức lại ngân hàng thương mại: Hệ quả này xảy ra khi ngân hàng thương mại được đặt trong tình trạng kiểm soát đặc biệt hoặc không đủ mức vốn điều lệ tối thiểu hoặc quản trị, điều hành, hoạt động yếu kém có thể tự nguyện hoặc bị buộc phải sáp nhập, hợp nhất hoặc mua lại. Trong trường hợp này, tổ chức tín dụng bị kiểm soát đặc biệt có thể được chuyển giao sở hữu, chấm dứt tư cách pháp nhân và toàn bộ quyền, nghĩa vụ chuyển giao cho ngân hàng thương mại khác.

– Giải thể hoặc tuyên bố phá sản ngân hàng thương mại: Hệ quả này chỉ xảy ra khi quá trình kiểm soát đặc biệt không có khả năng xử lý được nguyên nhân dẫn đến tình trạng kiểm soát đặc biệt và Ngân hàng Nhà nước quyết định thu hồi giấy phép hoạt động (theo khoản 3 Điều 154 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 thì tổ chức tín dụng giải thể trong trường hợp bị thu hồi giấy phép thành lập và hoạt động) hoặc sau khi Ngân hàng Nhà nước có văn bản chấm dứt kiểm soát đặc biệt hoặc văn bản chấm dứt áp dụng hoặc văn bản không áp dụng các biện pháp phục hồi khả năng thanh toán, hoặc chấm dứt áp dụng kiểm soát đặc biệt mà tổ chức tín dụng không có khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn thì được coi là lâm vào tình trạng phá sản và ngân hàng thương mại đó phải làm đơn yêu cầu Tòa án mở thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản theo quy định của pháp luật về phá sản (khoản 1 Điều 155 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010). Trong trường hợp giải quyết phá sản khi đã qua thủ tục kiểm soát đặc biệt, thì tổ chức tín dụng không được áp dụng thủ tục phục hồi nữa mà chuyển sang ngay thủ tục thanh lý đi đến chấm dứt hoàn toàn hoạt động. Điều đó có nghĩa là, khi tổ chức tín dụng không thể phục hồi hoặc được chuyển giao thông qua hoạt động tổ chức lại trong giai đoạn kiểm soát đặc biệt, thì việc chấm dứt sự tồn tại là kết quả tất yếu.

1.3. Vấn đề tuyên bố phá sản ngân hàng thương mại theo pháp luật Việt Nam

Phá sản ngân hàng thương mại là giải pháp cuối cùng, được thực hiện khi những nỗ lực xử lý trong giai đoạn kiểm soát đặc biệt không được thực thi thành công. Việc giải quyết phá sản ngân hàng thương mại hiện nay được thực hiện theo quy định của Luật Phá sản năm 2014. Ngoài các quy định chung áp dụng cho việc giải quyết phá sản các doanh nghiệp nói chung, việc tuyên bố phá sản ngân hàng thương mại được quy định tại Chương VIII (từ Điều 97 đến Điều 104) của Luật Phá sản năm 2014. Trong đó, điều kiện Tòa án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản phải là sau khi Ngân hàng Nhà nước có văn bản chấm dứt kiểm soát đặc biệt hoặc văn bản chấm dứt áp dụng hoặc không áp dụng biện pháp phục hồi khả năng thanh toán mà tổ chức tín dụng vẫn mất khả năng thanh toán. Việc tổ chức hội nghị chủ nợ và thủ tục phục hồi cũng không thực hiện khi Tòa án giải quyết phá sản ngân hàng (Điều 97 Luật Phá sản năm 2014) bởi tính đặc thù về số lượng chủ nợ và việc xử lý tiền phá sản đã được tiến hành trong giai đoạn kiểm soát đặc biệt, phục hồi khả năng thanh toán. Một số vấn đề chi tiết về xử lý tài sản và bảo toàn tài sản trong mối tương quan giữa quyền lợi của ngân hàng mất khả năng thanh toán, chủ nợ, khách hàng cũng được giải quyết như các quy định về hoàn trả khoản vay đặc biệt (Điều 100); thứ tự phân chia tài sản với ưu tiên cho khoản tiền gửi; khoản tiền tổ chức bảo hiểm tiền gửi phải trả cho người gửi tiền được trả trước nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước; khoản nợ không có bảo đảm (Điều 101); trả lại tài sản nhận ủy thác, nhận giữ hộ (Điều 102)…

Ở Việt Nam hiện nay, đã có nhiều quy định được ban hành tạo khuôn khổ pháp lý để xử lý ngân hàng thương mại có nguy cơ lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán, khả năng chi trả. Việc xử lý này sẽ do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tiến hành theo những giải pháp như cho vay đặc biệt để đáp ứng nhu cầu thanh toán kịp thời của ngân hàng thương mại mà không cần đặt ngân hàng thương mại đó vào tình trạng kiểm soát đặc biệt hoặc đặt ngân hàng thương mại đó vào tình trạng kiểm soát đặc biệt. Giai đoạn kiểm soát đặc biệt của ngân hàng thương mại có thể xem là giai đoạn xử lý “tiền phá sản” đối với ngân hàng thương mại. Trong giai đoạn này, các giải pháp xử lý được đưa ra nhằm phục hồi hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại, trả ngân hàng thương mại trở về với trạng thái bình thường. Kết thúc giai đoạn này, nếu ngân hàng thương mại không còn lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán, khả năng chi trả thì ngân hàng thương mại đó đã được phục hồi thành công, ngược lại, nếu các giải pháp phục hồi không thành công, ngân hàng thương mại đó được chuyển sang một giai đoạn mới để chính thức áp dụng thủ tục phá sản.

2. Một số nhận xét và kiến nghị

Có thể thấy rằng, không thể hoàn toàn áp dụng luật phá sản để giải quyết phá sản các ngân hàng thương mại. Do đặc tính của các ngân hàng thương mại là những tổ chức có tính đại chúng nên việc giải quyết phá sản các ngân hàng thương mại cần đảm bảo yêu cầu về sự thận trọng, hạn chế thấp nhất các tác động đến nền kinh tế, bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền vì vậy việc phá sản ngân hàng thương mại cần có cơ chế đặc thù. Việc xây dựng cơ chế đặc thù không nhất thiết phải thể hiện dưới một hình thức là một văn bản luật phá sản các ngân hàng thương mại hoàn toàn riêng biệt, mà có thể chỉ đơn giản là có các quy định riêng trong pháp luật về phá sản hoặc ngân hàng. Ở Việt Nam không phải là hoàn toàn không có pháp luật về phá sản các ngân hàng thương mại, mà từ lâu Việt Nam đã nhận biết và bước đầu đã ban hành các quy định về giải quyết phá sản các ngân hàng thương mại với nhiều biện pháp lựa chọn để xử lý tình trạng mất khả năng thanh toán của các ngân hàng thương mại. Về cơ bản, các biện pháp này là phù hợp với thông lệ xử lý phá sản ngân hàng ở các nước phát triển.

Tuy đã có khuôn khổ pháp lý cho việc giải quyết tình trạng mất khả năng thanh toán các ngân hàng thương mại, nhưng Việt Nam vẫn phải tiếp tục hoàn thiện nhiều nội dung để khuôn khổ pháp lý này đảm bảo được tính công khai, minh bạch và có thể dự báo được. Những nội dung cần hoàn thiện bao gồm:

Một là, cần hệ thống hóa các quy định về phá sản các ngân hàng thương mại trong Luật Các tổ chức tín dụng. Các quy định về giải quyết tình trạng mất khả năng thanh toán các ngân hàng thương mại hiện được quy định rải rác trong các văn bản dưới luật, thiếu tính hệ thống, khó tiếp cận. Vì vậy, cần nâng cao hiệu lực pháp lý của các quy định bằng cách luật hóa (đưa vào Luật Các tổ chức tín dụng).

Hai là, thiết lập các tiêu chí để phân loại ngân hàng thương mại mất khả năng thanh toán xử lý. Khái niệm tổ chức tín dụng theo pháp luật hiện hành là quá rộng, bao gồm ngân hàng thương mại, các quỹ tín dụng, các công ty tài chính… Các tổ chức tín dụng khác nhau sẽ có quy mô và mức độ ảnh hưởng đến thị trường khác nhau, nên việc xử lý không thể hoàn toàn giống nhau. Hiện nay, tiêu chí phân loại tổ chức tín dụng để xử lý vẫn chưa rõ ràng, mà việc quyết định hình thức xử lý như thế nào hoàn toàn phụ thuộc vào quan điểm của cơ quan quản lý (Ngân hàng Nhà nước).

Ba là, cần quy định rõ các các bước xử lý tình trạng mất khả năng thanh toán của ngân hàng thương mại và sự lựa chọn các bước. Pháp luật hiện hành quy định nhiều hình thức xử lý như cho vay đặc biệt, kiểm soát đặt biệt, sáp nhập, mua lại, giải thể, phá sản… Tuy nhiên, tiêu chí lựa chọn phương thức xử lý không được quy định rõ ràng.

Bốn là, có cơ chế giám sát và quy định rõ ràng trách nhiệm của cơ quan quản lý và thành viên ban kiểm soát đặc biệt. Trong quá trình xử lý ngân hàng thương mại bị mất khả năng thanh toán, Ngân hàng Nhà nước quyết định đặt ngân hàng thương mại vào tình trạng kiểm soát đặc biệt và cử ban kiểm soát đặc biệt. Các quy định về nhiệm vụ và quyền hạn, trách nhiệm của ban kiểm soát đặc biệt cho thấy, ban kiểm soát đã được trao quyền đặc biệt, có quyền can thiệp sâu và trực tiếp vào hoạt động quản lý kinh doanh của ngân hàng thương mại bị đặt vào tình trạng kiểm soát đặc biệt. Thực chất của việc kiểm soát đặc biệt là tạm thời tước quyền điều hành tổ chức tín dụng của người quản lý và điều hành ngân hàng. Trong bối cảnh Việt Nam còn thiếu những chuyên gia quản trị về ngân hàng, thì cần bổ sung các quy định về giám sát hoạt động của các thành viên ban kiểm soát và đảm bảo quyền khiếu nại đối các hành động gây thiệt hại cho ngân hàng thương mại của các thành viên ban kiểm soát.

Có thể thấy rằng, không phải đến khi Luật Phá sản năm 2014 ra đời thì Việt Nam mới có quy định về phá sản tổ chức tín dụng áp dụng cho ngân hàng, mà do tính chất đặc biệt của các ngân hàng thương mại, thì từ trước đó Việt Nam đã ban hành các quy định về cho vay đặc biệt, kiểm soát đặc biệt, hình thành công cụ xử lý hữu hiệu cho các các ngân hàng thương mại mất khả năng thanh toán. Cho đến nay, Việt Nam đã hình thành được khuôn khổ pháp lý cơ bản để giải quyết phá sản các ngân hàng thương mại. Dưới sức ép từ thị trường, trong bối cảnh hệ thống các ngân hàng thương mại ngày càng phát triển về số lượng và mức độ cạnh tranh cao đã làm không ít các ngân hàng thương mại gặp phải những khó khăn trong quá trình hoạt động, do vậy, việc phá sản ngân hàng thương mại hoàn toàn có thể xảy ra và khi đó chỉ có một hệ thống pháp luật về giải quyết phá sản các ngân hàng thương mại hữu hiệu mới có thể đạt được mục tiêu “phá sản các tổ chức tín dụng được tiến hành thận trọng, xử lý được các khoản nợ của người gửi tiền, đồng thời đảm bảo an toàn hệ thống ngân hàng và kinh tế – xã hội của đất nước”[4].

[2]. Số liệu nợ xấu theo một báo cáo của Ngân hàng Nhà nước vào tháng 9/2012, nếu tính cả những khoản nợ được tái cơ cấu là 17,21%. Như vậy, nợ xấu hiện nay có thể lên tới 20% tổng dư nợ, nếu những khoản nợ được tái cơ cấu không thể phục hồi. Điều này có nghĩa, nợ xấu của Việt Nam đã lên tới 540.000 tỷ đồng (27 tỷ USD), tương đương với khoảng 20% trên GDP. Dẫn theo Hà Tâm (2013), Xử lý nợ xấu bằng tài sản đảm bảo, có tại http://baodautu.vn/news/vn/ngan-hang/xu-ly-no-xau-bang-tai-san-dam-bao.html, (truy cập lần cuối ngày 12/10/2015).

[3]. Vụ ngân hàng Á Châu tác động đến thị trường tài chính: Cảnh báo lớn từ tin đồn nhỏ. Xem tại http://dddn.com.vn/27527cat117/vu-ngan-hang-a-chau-tac-dong-den-thi-truong-tai-chinh-canh-bao-lon-tu-tin-don-nho.htm (truy cập ngày 12.12.2012).

[4]. Kết luận của Bộ Chính trị tại Thông báo số 19-TB/TW ngày 01/9/2005 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng.

Có Luật Cũng Không Dễ Cho Ngân Hàng Phá Sản

Có luật cũng không dễ cho ngân hàng phá sản

Luật Phá sản mới được Quốc hội thông qua đã dành một chương quy định về thủ tục phá sản của tổ chức tín dụng (TCTD). Nhiều người kỳ vọng điều này sẽ thúc đẩy nhanh quá trình tái cấu trúc hệ thống ngân hàng. Tuy nhiên, thực tế cho thấy cho phá sản đúng nghĩa một TCTD nào đó ở Việt Nam là điều không hề dễ dàng.

* Ngân hàng “thua lỗ thì nhập lại, không cho phá sản”

Nhìn lại quá khứ

Từ trước đến nay, Việt Nam chưa ghi nhận việc một ngân hàng nào bị tòa tuyên bố phá sản. Vào những năm 1990 cũng đã có một đợt tái cấu trúc hệ thống ngân hàng mạnh mẽ khi hệ thống tài chính gặp khó khăn. Rất nhiều ngân hàng bị sáp nhập, hợp nhất, giải thể và chuyển nhượng. Sau giai đoạn này số lượng ngân hàng thương mại giảm từ 51 xuống chỉ còn 39 vào năm 2001.

Năm 2008, hệ thống tài chính Việt Nam một lần nữa đối mặt với khủng hoảng. Không ít ngân hàng rơi vào tình trạng bị kiểm soát đặc biệt. Nhiều vụ sáp nhập ngân hàng của Việt Nam vừa qua về danh nghĩa là theo tinh thần “tự nguyện” nhưng thực chất là cách duy nhất để cứu những ngân hàng này.

Đơn cử, việc Habubank sáp nhập SHB được xem là cách tốt nhất để cứu ngân hàng này khỏi sụp đổ. Báo cáo giám sát đặc biệt của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cho thấy vốn chủ sở hữu của Habubank chỉ còn hơn 195 tỉ đồng, trong khi báo cáo tài chính đã được kiểm toán 2011 vẫn ghi nhận vốn chủ sở hữu là 4.051 tỉ đồng. Habubank gần như mất hoàn toàn khả năng thanh toán. Trước đó, ba ngân hàng bị mất thanh khoản trầm trọng gồm Ngân hàng TMCP Sài Gòn ( SCB), Ngân hàng TMCP Đệ Nhất (FicomBank) và Ngân hàng TMCP Việt Nam Tín Nghĩa (TinnghiaBank) cũng đã hợp nhất để tránh sụp đổ. Ngoài hai thương vụ đình đám này thì cũng có một loạt những cuộc sáp nhập khác diễn ra gần đây.

Liệu ngân hàng Việt Nam có thể thực sự phá sản?

Luật Phá sản sửa đổi năm 2014 đã dành ra một chương quy định về thủ tục phá sản TCTD. Trước đó, dù không có những quy định dành riêng cho TCTD nhưng Luật Phá sản năm 2004 cũng đã bao trùm những quy định việc phá sản của TCTD. Tiếp theo, Nghị định số 05/2010/NĐ-CP ban hành ngày 18-1-2010 hướng dẫn Luật Phá sản 2004 quy định chi tiết thủ tục phá sản TCTD. Như vậy, có thể xem hành lang pháp lý cho việc phá sản ngân hàng cũng đã có từ trước.

Quyền lợi các nhóm lợi ích đan xen và sự thiếu quyết liệt của NHNN đã khiến cho “sức khỏe” thực sự của hệ thống ngân hàng vẫn nằm trong “hộp đen” và chỉ lộ diện khi nào mà NHNN công bố “báo cáo giám sát đặc biệt”.

Tuy nhiên, từ quy định của pháp luật đến thực thi trên thực tế thường là một khoảng cách rất lớn. Luật Phá sản sau 10 năm chính thức ra đời nhưng số vụ phá sản mà tòa tuyên bố chỉ có 83 trường hợp trong số 336 đơn yêu cầu tuyên bố phá sản. Trong khi đó, theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, chỉ riêng năm 2013 đã có tới 60.737 doanh nghiệp dừng hoạt động. Như vậy, trong 10 năm qua đã có tới hàng trăm ngàn doanh nghiệp về thực chất đã phá sản nhưng số vụ phá sản được tòa tuyên chưa đến 1%. Nguyên nhân, không chỉ do sự hạn chế của hệ thống pháp luật mà còn do sự yếu kém của việc thực thi.

Trong khi đó, so với doanh nghiệp bình thường thì việc phá sản của ngân hàng phức tạp và mức độ ảnh hưởng lớn hơn rất nhiều. Ngoài ra, thủ tục phá sản, định giá, thanh lý tài sản có thể phức tạp vượt khả năng kiểm soát và kinh nghiệm xử lý của cơ quan quản lý của Việt Nam hiện nay. Do vậy, việc thực thi các thủ tục và xử lý phá sản ngân hàng ở Việt Nam không hề dễ dàng.

Một nguyên nhân nữa khiến cho việc phá sản ngân hàng ở Việt Nam khó diễn ra là sự mập mờ, kém minh bạch. Nếu như số liệu nợ xấu vào khoảng 15% như dự đoán của một số tổ chức nước ngoài thì trên thực tế nhiều tổ chức tín dụng đã âm vốn chủ sở hữu và đã phá sản về mặt kỹ thuật. Trong khi đó, theo số liệu báo cáo của các TCTD, thì nợ xấu hiện nay chưa đến 4%, tức là vẫn an toàn. Quyền lợi các nhóm lợi ích đan xen và sự thiếu quyết liệt của NHNN đã khiến cho “sức khỏe” thực sự của hệ thống ngân hàng vẫn nằm trong “hộp đen” và chỉ lộ diện khi nào mà NHNN công bố “báo cáo giám sát đặc biệt”. Do đó, không có mấy sức ép để phá sản tái cấu trúc theo cơ chế thị trường đúng nghĩa.

Như vậy, việc phá sản ngân hàng ở Việt Nam là một điều gần như không thể xảy ra. Những ngân hàng yếu kém sẽ tiếp tục được xử lý bằng cách sáp nhập, hợp nhất hoặc tự tái cấu trúc. Tuy nhiên, quá trình này cũng sẽ diễn ra một cách chậm chạp.

Hồ Bá Tình

tbktsg