Xây Dựng Kinh Tế Biển Xanh

Du lịch biển Quy Nhơn (Ảnh: TTXVN)

Việt Nam là quốc gia biển, có lịch sử, truyền thống, văn hóa và quá trình dựng nước, giữ nước gắn liền với biển. Biển Đông có vị trí đặc biệt quan trọng về địa chiến lược, chính trị, kinh tế, tự nhiên đối với nước ta. Trong xu thế phát triển mở cửa, đẩy mạnh khai thác các tiềm năng lợi thế của Biển, Ban Chấp hành Trung ương đảng (khóa X) đã ban hành Nghị quyết Nghị quyết số 09-NQ/TW ngày 9/2/2007 về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2024. Đây là chủ trương lớn, có tầm nhìn xa rộng, phù hợp với xu thế chung của thế giới và đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Qua 10 năm thực hiện Nghị quyết, chúng ta đã đạt được nhiều thành tựu cơ bản, quan trọng, từ tư duy đến nhận thức; từ kinh tế đến đảm bảo quốc phòng, an ninh, đối ngoại, hợp tác quốc tế…

Tuy nhiên, để Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh trong giai đoạn mới, cần có tư duy đổi mới, đột phá, phù hợp với xu thế chung toàn cầu về phát triển bền vững, hài hòa giữa bảo phát triển và bảo tồn biển, nhằm giải quyết ô nhiễm môi trường xuyên biên giới, biến đổi khí hậu. Trong đó, xây dựng kinh tế biển xanh trên nền tảng tri thức, sáng tạo và tiềm năng tự nhiên đóng vai trò trung tâm. Điều này phải là định hướng chiến lược cho quan điểm, mục tiêu về phát triển bền vững biển Việt Nam trong giai đoạn mới.

Nền tảng bảo tồn đa dạng sinh học, các hệ sinh thái biển

Hiện nay, những thách thức toàn cầu, đặc biệt suy thoái và ô nhiễm môi trường, suy giảm đa dạng sinh học, biến đổi khí hậu đã và đang đe dọa nghiêm trọng sức khỏe biển và đại dương trên toàn thế giới cũng như tại Việt Nam. Điều đó đặt ra yêu cầu cấp bách về bảo vệ sức khỏe biển, đại dương vì đại dương khoẻ mạnh.

Mục tiêu phát triển của Liên hợp quốc về bảo tồn và sử dụng bền vững biển, đại dương và tài nguyên biển đã trở thành thước đo phát triển của các quốc gia. Hội nghị Bộ trưởng Môi trường của Nhóm 7 nước công nghiệp phát triển (G7) tại Canada trong các ngày 19-20/9/2024 vừa qua một lần nữa khẳng định vai trò tối quan trọng của đại dương khỏe mạnh và bền vững đối với sự thịnh vượng của các quốc gia trên toàn thế giới.

Trong bối cảnh đó, kinh tế biển xanh hiện đã được hầu hết các quốc gia công nhận là giải pháp phát triển bền vững biển và dần đưa thành yêu cầu bắt buộc trong chiến lược, chính sách phát triển. Theo Ngân hàng Thế giới, kinh tế biển xanh được hiểu là “sử dụng bền vững các nguồn tài nguyên biển, đại dương nhằm mục tiêu tăng trưởng kinh tế, cải thiện sinh kế đồng thời bảo tồn sức khoẻ của các hệ sinh thái biển, đại dương”.

Nhìn lại giai đoạn trước đây ở nước ta, có thể thấy mối quan hệ giữa phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường biển chưa được gắn kết chặt chẽ, trong một số trường hợp còn tạo ra xung đột. Sức khỏe của các vùng biển của Việt Nam chưa được bảo đảm do chúng ta chưa thể hài hòa giữa khai thác, sử dụng tài nguyên, môi trường biển với công tác bảo vệ, bảo tồn và phục hồi các hệ sinh thái biển, ven biển. Do đó, ô nhiễm môi trường biển có lúc, có nơi vẫn còn diễn ra nghiêm trọng như sự cố môi trường biển tại bốn tỉnh miền Trung; ô nhiễm rác thải nhựa đại dương đã trở thành vấn đề cấp bách; một số tài nguyên biển bị khai thác quá mức, đa dạng sinh học suy giảm; công tác ứng phó với biến đổi khí hậu, nước biển dâng, biển xâm thực còn hạn chế.

Vì vậy, phát triển kinh tế biển xanh vì sức khỏe biển, đại dương trước hết phải được hiểu theo cách tiếp cận dựa trên nền tảng bảo tồn, phát triển bền vững đa dạng sinh học biển. Cụ thể là phát triển các ngành kinh tế biển cần chuyển từ nền kinh tế khai thác và gây ô nhiễm môi trường sang kinh tế xanh, đầu tư vào vốn tự nhiên trong chuỗi kết nối hữu cơ, từ trong đất liền ra đến biển: giảm thiểu các nguồn gây ô nhiễm môi trường biển ngay từ trong đất liền. Theo đó, việc hạn chế phát triển các ngành sử dụng công nghệ lạc hậu, gây ô nhiễm môi trường kết hợp cơ chế thúc đẩy tái chế, tái sử dụng, nâng cao hiệu quả tài nguyên thông qua mô hình kinh tế tuần hoàn để sản phẩm, phát thải của ngành, lĩnh vực này là tài nguyên đầu vào cho các ngành, lĩnh vực khác sẽ giúp giảm thiểu phát thải ra môi trường, góp phần phòng ngừa, ngăn chặn các nguồn gây ô nhiễm và các sự cố môi trường biển.

Lễ Khao lề thế lính Hoàng Sa trên huyện đảo Lý Sơn (Ảnh: TTXVN)

Tăng cường đầu tư vào giá trị tự nhiên, bảo tồn, phát triển giá trị đa dạng sinh học thông qua mở rộng diện tích và lập mới các khu vực bảo tồn biển, phục hồi các hệ sinh thái tự nhiên, đặc biệt là các rạn san hô, thảm cỏ biển, rừng ngập mặn, rừng phòng hộ ven biển. Nâng cao năng lực dự báo, cảnh báo, chủ động phòng, tránh và giảm nhẹ thiên tai từ biển, thích ứng với biến đổi khí hậu và nước biển dâng. Triển khai đồng bộ các biện pháp phòng, chống biển xâm thực, ngập lụt, xâm nhập mặn do triều cường, nước biển dâng cho các vùng duyên hải.

Đồng thời phải tiến hành tái cơ cấu các ngành kinh tế biển và ven biển dựa trên hệ sinh thái và phù hợp với lợi thế, tiềm năng tự nhiên. Trong đó, cần ưu tiên phát triển các ngành, lĩnh vực như du lịch biển, đảo, năng lượng tái tạo (năng lượng gió, năng lượng dòng chảy thủy triều và năng lượng sóng biển) từng bước đầu tư phát triển công nghệ sinh học biển, dược liệu biển bên cạnh việc thúc đẩy các ngành kinh tế biển truyền thống như kinh tế hàng hải; khai thác dầu khí và các tài nguyên khoáng sản biển; nuôi trồng, khai thác thủy hải sản và phát triển hạ tầng nghề cá; công nghiệp đóng tàu.

Tăng cường kết nối giữa các hệ sinh thái kinh tế

Một trong những hạn chế khiến trong những giai đoạn vừa qua, Việt Nam chưa phát huy tối đa lợi thế, tiềm năng là cửa ngõ vươn ra thế giới của các địa phương có biển đó là do chúng ta chưa tạo được chuỗi kết nối giữa các địa phương có biển và các địa phương không có biển, giữa các ngành, các lĩnh vực kinh tế, kết cấu hạ tầng. Chính vì vậy, chúng ta chưa phát triển được các cảng biển mang tầm cỡ quốc tế; một số ngành kinh tế biển mũi nhọn như hàng hải, dầu khí, công nghiệp đóng tàu chưa tận dụng được cơ hội, các tiềm năng lợi thế để phát triển.

Khắc phục hạn chế nêu trên đặt ra yêu cầu phải đổi mới từ nhận thức đến hành động của các cấp, các ngành và toàn xã hội theo hướng phát triển kinh tế biển xanh tiếp cận quản lý tổng hợp, kết nối đồng bộ, hữu cơ như hệ sinh thái tự nhiên: cộng sinh, không làm suy yếu và loại trừ lẫn nhau, vừa hỗ trợ vừa làm động lực thúc đẩy lẫn nhau. Các địa phương có biển cần phát huy tối đa lợi thế, tiềm năng là cửa ngõ vươn ra thế giới, trong khi các địa phương không có biển đóng vai trò hỗ trợ thông qua việc tăng cường phát triển sản xuất hàng hóa phục vụ xuất khẩu. Ngược lại, các địa phương có biển đóng vai trò tạo động lực cho phát triển sản xuất của các địa phương không có biển bằng cách cung cấp các dịch vụ cảng, logistic cho xuất khẩu hàng hóa.

Để đạt được mục tiêu trên, chúng ta cần một quy hoạch mang tính tổng thể, toàn diện, phát huy tối đa lợi thế so sánh về điều kiện tự nhiên, vị trí địa lý, bảo đảm tính kết nối, tránh tình trạng các địa phương, các vùng tự phát cạnh tranh và làm suy yếu lẫn nhau. Có như thế, mới tăng cường được sự gắn kết, tạo thành chuỗi kết nối khép kín, nâng cao giá trị sản phẩm hàng hóa, sức cạnh tranh cho các ngành, các địa phương và các vùng trong cả nước.

Dựa trên xã hội hướng biển, văn hóa sinh thái biển

Một trong những nguyên nhân khiến cho phát triển kinh tế biển ở nước ta trong giai đoạn trước đây còn hạn chế là do chúng ta chưa phát huy hiệu quả bản sắc văn hóa biển; chưa quan tâm đúng mức xây dựng thiết chế văn hóa các vùng biển và ven biển, cũng như chưa hình thành được văn hóa sinh thái biển với sự tham gia của mọi tầng lớp nhân dân.

Để thu hút sự tham gia của mọi tầng lớp nhân dân, chúng ta cần đảm bảo quyền tiếp cận công bằng, bình đẳng và có trách nhiệm của người dân với biển, đề cao vai trò của phụ nữ trong phát triển bền vững biển. Điều đó phải được thể hiện qua việc tạo sinh kế, phúc lợi cho mọi tầng lớp nhân dân từ biển; khuyến khích, tạo điều kiện để người dân, doanh nghiệp tham gia phát triển các ngành kinh tế biển như du lịch sinh thái, thám hiểm – khoa học, du lịch cộng đồng, gắn với nâng cao trách nhiệm của mọi tổ chức, doanh nghiệp, cộng đồng dân cư và mỗi người dân trong phát triển bền vững biển Việt Nam.

Trong giai đoạn vừa qua, kinh tế biển Việt Nam chưa phát huy được tiềm năng to lớn của mình là do nguồn nhân lực và đội ngũ cán bộ khoa học công nghệ về biển chưa đáp ứng được yêu cầu về số lượng, chất lượng; trình độ, năng lực khoa học, công nghệ và điều tra cơ bản về biển còn hạn chế so với các nước tiên tiến trong khu vực và thế giới. Do đó, khoa học, công nghệ hiện đại và nguồn nhân lực biển chất lượng cao chính là nhân tố đột phá để phát triển bền vững biển Việt Nam trong giai đoạn mới.

Cụ thể là để vươn ra biển và làm chủ biển, cần phải dựa trên phát triển khoa học, công nghệ, thúc đẩy đổi mới, sáng tạo, tận dụng các thành tựu của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 kết hợp tăng cường điều tra cơ bản biển, đẩy mạnh nghiên cứu, xác lập luận cứ khoa học cho việc hoạch định, hoàn thiện chính sách, pháp luật; ưu tiên đầu tư đánh giá tiềm năng, lợi thế về điệu kiện tự nhiên, tài nguyên, hệ sinh thái và các ngành, lĩnh vực kinh tế như hàng hải, chế biến hải sản, nuôi trồng thủy hải sản, năng lượng tái tạo, thông tin và công nghệ số biển, nano biển, sinh dược học biển, thiết bị tự vận hành ngầm…

Đồng thời phải có nguồn nhân lực biển chất lượng cao. Để làm được điều đó, ngay từ bây giờ cần phải chú trọng đầu tư phát triển đội ngũ nhà khoa học, chuyên gia chất lượng cao đáp ứng nhu cầu thị trường và yêu cầu phát triển trong thời kỳ mới. Bên cạnh đó, cần ưu tiên đầu tư cho công tác đào tạo, đào tạo lại nghề cho người dân, bảo đảm nhu cầu lao động của các ngành kinh tế biển khi tiến hành tái cơ cấu các ngành này.

Để hoàn thành mục tiêu Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh, đạt cơ bản các tiêu chí về phát triển bền vững. Trong đó, kinh tế biển xanh đóng vai trò chủ đạo; xây dựng văn hóa sinh thái biển, chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, nước biển dâng; ngăn chặn xu thế ô nhiễm, suy thoái môi trường biển, phục hồi và bảo tồn các hệ sinh thái biển quan trọng trên nền tảng khoa học, công nghệ tiên tiến của cuộc cách mạng 4.0, cần có sự thống nhất tư tưởng, nhận thức về vị trí, vai trò, tầm quan trọng đặc biệt của biển đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân. Phát triển bền vững biển Việt Nam phải được coi là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, quyền, nghĩa vụ của mọi tổ chức, doanh nghiệp, cộng đồng dân cư và mỗi người dân./.

Nguồn: TTXVN

Luật Sư Nói Về Vụ Cây Xanh Gẫy Đổ Gây Chết Người

Luật sư, Tiến sĩ Nguyễn Thị Kim Vinh, Giám đốc Công ty luật TNJ, cho rằng, việc xem xét trách nhiệm của cá nhân hay tổ chức đối với hậu quả xảy ra do việc quản lý cây xanh này sẽ được xem xét theo quy định về quản lý công viên và cây xanh đô thị trên địa bàn được ban hành kèm theo Quyết định 199/2004/QĐ-UB, ngày 18/8/2004 của UBND TP. Hồ Chí Minh.

Trước tình huống cây xanh đổ làm 1 học sinh tử vong, khi xem xét trách nhiệm, cần nghiên cứu ở nhiều phương diện mới thoả mãn đầy đủ trách nhiệm, cụ thể, theo Điều 4 của quyết định định nêu trên thì các cơ quan tổ chức sau đây chịu trách nhiệm:

– Sở Giao thông công chính là cơ quan quản lý thống nhất công viên và cây xanh.

Luật sư, Tiến sĩ Nguyễn Thị Kim Vinh, Giám đốc Công ty luật TNJ

– UBND phường, xã, thị trấn hỗ trợ ngành công viên cây xanh trong công tác bảo vệ hệ thống công viên và cây xanh trên địa bàn quản lý.

Trường THCS Bạch Đằng, nơi xảy ra vụ việc. (Ảnh: PLO)

Còn về phía nhà trường, theo quy định tại Điều 16 phải có trách nhiệm trồng theo quy định, làm theo sự hướng dẫn về chăm sóc hay đốn hạ cưa cành đều phải theo sự quản lý của cơ quan Khu quản lý giao thông đô thị thành phố.

Vấn đề là trường đã làm đúng trách nhiệm theo Điều 16 chưa? Nếu chưa thì khó quy trách nhiệm tiếp theo cho Khu quản lý giao thông đô thị thành phố, do hiện có 3 đơn vị là Ban quản lý khu đô thị Nam thành phố, Ban Quản lý khu đô thị Thủ Thiêm và Ban Quản lý khu đô thị Tây Bắc. Vậy quận 3 thuộc Khu quản lý giao thông đô thị nào thì khu đó phải chịu trách nhiệm cùng nhà trường xem xét việc quản lý, chăm sóc cây để xảy ra hậu quả nghiêm trọng gây chết người.

Có phải là sự kiện bất khả kháng không?

Cùng quan điểm trên,Luật sư Nguyễn Văn Chiến, Chủ nhiệm Đoàn luật sư TP Hà Nội chia sẻ : ” Cần xét đến đơn vị sở hữu, chủ sở hữu, chiếm hữu được giao nhiệm vụ chăm sóc cây xanh phải chịu trách nhiệm bồi thường khi gây ra các tình huống ảnh hưởng đến sức khoẻ, tính mạng, thiệt hại vật chất do cây đổ gây ra. Tuy nhiên, không phải trường hợp nào cũng phải bồi thường, cần chia tình huống”.

Cụ thể, tại Nghị định 64/2010 của Chính phủ quy định về quản lý cây xanh đô thị đã quy định chi tiết về hoạt động chăm sóc định kỳ cây xanh, trong đó Điều 11 nêu rõ việc trồng cây xanh đô thị phải tuân thủ quy hoạch đô thị, đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt; việc trồng cây xanh đô thị phải đảm bảo đúng quy trình kỹ thuật, đúng chủng loại, tiêu chuẩn cây và bảo đảm an toàn; cây xanh mới trồng phải được bảo vệ, chống giữ thân cây chắc chắn, ngay thẳng đảm bảo cây sinh trưởng, phát triển tốt.

Luật sư Nguyễn Văn Chiến, Chủ nhiệm Đoàn luật sư TP Hà Nội .

Bên cạnh đó, việc trồng cây phải được định kỳ chăm sóc, kiểm tra và xác định tình trạng phát triển của cây để có biện pháp theo dõi, bảo vệ và xử lý kịp thời các tác động ảnh hưởng tới sự phát triển của cây. Ngoài ra, theo quy định tại Điều 604, Bộ luật Dân sự 2024 nêu rõ, chủ sở hữu người chiếm hữu, người được giao quản lý phải bồi thường thiệt hại do cây cối gây ra. Như vậy, xét trong tình huống cây đổ ở trường học vừa qua, cần xét đến đơn vị sở hữu, chủ sở hữu, chiếm hữu được giao nhiệm vụ chăm sóc cây xanh phải chịu trách nhiệm bồi thường khi gây ra các tình huống ảnh hưởng đến sức khoẻ, tính mạng, thiệt hại vật chất do cây đổ gây ra. Tuy nhiên, không phải trường hợp nào cũng phải bồi thường, cần chia tình huống. Cụ thể, tại Điều 584 Bộ luật Dân sự 2024, sẽ không phải bồi thường thiệt hại bởi sự kiện bất khả kháng; hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại.

Và để làm rõ “như thế nào là bất khả kháng”, Điều 156 Bộ luật Dân sự 2024 quy định, sự kiện bất khả kháng là sự kiện xảy ra một cách khách quan, không thể lường trước được và không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép. “Chính vì quy định này, nếu nhà trường đã triển khai các biện pháp như cắt tỉa cành cây, buộc cây, xử lý mối mọt… để giảm thiểu tai nạn có thể gây ra thì sẽ không phải bồi thường”, Luật sư Chiến nói thêm./.

Khoa Học Và Công Nghệ Biển Phải Trở Thành Động Lực Phát Triển Kinh Tế Biển Xanh Ở Nước Ta

Phát triển kinh tế biển xanh và bền vững ở nước ta là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, là quyền và nghĩa vụ của mọi tổ chức, doanh nghiệp, cộng đồng dân cư và mỗi người dân, trong đó khoa học và công nghệ (KHCN) được xác định là một trong ba khâu đột phá quan trọng.

Kinh tế biển đã có những đóng góp quan trọng cho nền kinh tế quốc dân, nhưng quy mô phát triển đến nay chưa tương xứng với tiềm năng và những giá trị mà biển đem lại. Bên cạnh đó, trên con đường phát triển bền vững kinh tế biển, Việt Nam cũng đang đứng trước những lựa chọn, hoặc phải bứt phá để vươn lên hoặc chấp nhận sự tụt hậu.

Phát triển kinh tế biển xanh đã được lựa chọn làm nền tảng cho phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030 và xa hơn theo tinh thần của Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 22/10/2024 của Hội nghị Trung ương 8 khóa XII về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Đây là con đường để Việt Nam vừa tăng trưởng kinh tế biển, vừa thích ứng với biển đổi khí hậu, đồng thời bảo vệ được tài nguyên, môi trường, bảo toàn nguồn vốn tự nhiên biển cả trong ngắn hạn và dài hạn, hướng tới phát triển kinh tế biển nhanh, hiệu quả và bền vững. Phát triển kinh tế biển xanh phải dựa trên nền tảng KHCN tiên tiến, đặc biệt là các thành tựu của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0; cần có sự thống nhất tư tưởng, nhận thức về vị trí, vai trò và tầm quan trọng đặc biệt của biển đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong toàn Đảng, toàn dân và toàn quân(1).

PHÁT TRIỂN KINH TẾ BIỂN XANH VÀ NHU CẦU KHCN

Kinh tế biển xanh lấy môi trường và tài nguyên làm “chất xúc tác” cho tăng trưởng, thoát dần nền “kinh tế biển nâu”, chú trọng tăng cường phúc lợi xã hội lâu dài. Kinh tế biển xanh thúc đẩy phát triển kinh tế biển theo hướng bền vững dựa trên tăng cường đầu tư vào duy trì và sử dụng hiệu quả nguồn vốn tự nhiên biển, bao gồm các dịch vụ hệ sinh thái biển, ven biển và đảo. Đây cũng là luận điểm cơ bản của Chiến lược biển 2030 khi xem kinh tế biển xanh là một phương thức phát triển mới và trở thành xu hướng chủ đạo của phát triển bền vững kinh tế biển nước ta trong bối cảnh biến đổi khí hậu.

Phát triển kinh tế biển xanh cũng đòi hỏi phải có các giải pháp xanh (Blue solution) được áp dụng ở cả cấp quốc gia và cộng đồng. Cho nên, hợp tác quốc tế của các ngành kinh tế biển, bao gồm lĩnh vực nghiên cứu KHCN biển là một nhu cầu thực tế, khách quan. Vấn đề này cũng được nhấn mạnh trong Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh thời kỳ 2011 - 2024, tầm nhìn đến năm 2050(3). Đồng thời cũng được đề cập trong Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 22/10/2024 của Hội nghị Trung ương 8 khóa XII về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Theo đó, “Lấy khoa học, công nghệ tiên tiến, hiện đại và nguồn nhân lực chất lượng cao làm nhân tố đột phá. Ưu tiên đầu tư ngân sách nhà nước cho công tác nghiên cứu, điều tra cơ bản, đào tạo nguồn nhân lực về biển; kết hợp huy động các nguồn lực trong và ngoài nước. Chủ động, nâng cao hiệu quả hội nhập, hợp tác quốc tế, ưu tiên thu hút các nhà đầu tư chiến lược hàng đầu thế giới có công nghệ nguồn, trình độ quản lý tiên tiến trên nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi, tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam”.

KHCN - ĐỘNG LỰC PHÁT TRIỂN KINH TẾ BIỂN XANH

Lịch sử phát triển thế giới chỉ ra rằng KHCN có 3 giá trị cốt lõi mang tính quốc tế rất rõ nét: 1) phục vụ cho phát triển kinh tế; 2) tạo ra tri thức mới phục vụ nhân loại; và 3) tham gia giải quyết các vấn đề toàn cầu. Chính những giá trị này đã đưa KHCN của mỗi quốc gia đến gần với nhau hơn trong một thế giới toàn cầu hóa và ngày càng liên kết chặt chẽ như hiện nay để tạo ra một xu thế hội nhập KHCN mạnh mẽ và không thể đảo ngược(5). Theo Yves Michaud(6), bước sang thế kỷ XXI, cuộc sống con người tiếp tục được cải thiện dựa trên nền tảng của những tiến bộ khoa học – kỹ thuật và công nghệ, đặc biệt của cuộc Cách mạng 4.0. Đó là một cơ hội mới khi xem tiến bộ khoa học - kỹ thuật và công nghệ là nền tảng của các tiến bộ xã hội. Theo đó, KHCN trở thành động lực phát triển kinh tế – xã hội, trong đó có kinh tế biển xanh.

Ở nước ta, bên cạnh các chủ trương, đường lối về phát triển kinh tế nhanh và bền vững, vai trò của KHCN cũng được cụ thể hóa trong các văn kiện của Đảng và Nhà nước. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội 1991 đã chỉ rõ: KHCN cùng với giáo dục và đào tạo phải được coi là quốc sách hàng đầu. KHCN giữ vai trò then chốt trong phát triển lực lượng sản xuất, phân bố lại lực lượng lao động các ngành, nghề biển; nâng cao trình độ quản lý, tăng sức cạnh tranh của sản phẩm hàng hoá, bảo đảm an sinh xã hội và bảo vệ môi trường, sinh thái biển; bảo đảm chất lượng và tốc độ phát triển kinh tế biển; góp phần tích cực trong đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển đảo của đất nước. Trong quá trình xây dựng và bảo vệ đất nước, Đảng và Nhà nước ta luôn đặt ra yêu cầu, phát huy và nâng cao vai trò của KHCN mang “bản sắc Việt Nam”.

Khoa học và Công nghệ là nội dung được Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng khẳng định trong bài viết Chuẩn bị và tiến hành thật tốt Đại hội XIII của Đảng, đưa đất nước bước vào một giai đoạn phát triển mới: “Thực hiện nhất quán chủ trương KHCN là quốc sách hàng đầu, là động lực quan trọng nhất để phát triển lực lượng sản xuất hiện đại, đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế”.

Mới đây, các quan điểm chiến lược lớn về KHCN một lần nữa được nhấn mạnh và làm rõ trong bài viết quan trọng của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng(7). Đây không chỉ là chủ trương gợi mở cho Đại hội XIII sắp tới, mà còn là những định hướng nhiệm vụ khái quát, có tầm chiến lược, xuyên suốt trong thời gian dài sắp tới về KHCN biển nước nhà.

Triển khai chủ trương này, Tổng bí thư, Chủ tịch nước yêu cầu phải bảo đảm tính đồng bộ, khả thi, vừa đáp ứng được các yêu cầu lâu dài, vừa có trọng tâm và các khâu đột phá chiến lược cần ưu tiên thực hiện. KHCN phải gắn liền với thực tiễn, xuất phát từ nhu cầu của thực tiễn và quay trở lại giải quyết được các vấn đề của thực tiễn. Người đứng đầu Đảng và Nhà nước cũng chỉ ra mức độ gắn kết của KHCN với tư cách là động lực phát triển đất nước và để thực hiện thành công cần phải cụ thể hóa thành những định hướng chiến lược KHCN quốc gia, bao gồm các hành động phù hợp với thực tế và bối cảnh của đất nước. Trước mắt là các tác động mạnh mẽ, khó lường và diễn biến nhanh chóng của tình hình Biển Đông, của đại dịch COVID-19 và của biến đổi khí hậu. Đặc biệt, cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 phát triển mạnh mẽ, tạo đột phá trên nhiều lĩnh vực, tạo ra cả thời cơ và thách thức đối với mọi quốc gia.

Thời gian tới, để đưa nền kinh tế biển nước ta phát triển nhanh và bền vững, KHCN phải là khâu đột phá trong xây dựng kết cấu hạ tầng hiện đại, đồng bộ, đa dụng, tạo tiền đề thúc đẩy sự phát triển của những ngành mới, lĩnh vực mới, nhất là kinh tế số, kinh tế biển tuần hoàn, tự động hóa, di động hóa và giám sát đáy biển, v.v.. Có thể nói, nguồn vốn đầu tư cho một “đơn vị biển” thường lớn hơn rất nhiều so với trường hợp tương tự trên đất liền, cho nên hoạt động khai thác biển đòi hỏi phải là những ngành, nghề có “hàm lượng KHCN” cao mới đạt được hiệu quả ổn định trong dài hạn. Trong khi trình độ khai thác biển của nước ta vẫn còn lạc hậu (chưa muốn nói là khá lạc hậu) so với khu vực thì đầu tư phát triển KHCN biển trong thời gian tới cần phải ưu tiên cao và phải được xem là khâu quyết định chất lượng tăng trưởng bền vững các lĩnh vực của kinh tế biển. Trước yêu cầu nói trên, từ Nghị quyết 09 - NQ/TW, ngày 9/2/2007 của Hội nghị Trung ương 4 khóa X về Chiến lược Biển Việt Nam đến năm 2024 đến Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 22/10/2024 của Hội nghị Trung ương 8 khóa XII về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 đều đưa ra các định hướng cơ bản và giải pháp để thực hiện các nhiệm vụ dài hạn của KHCN biển.

Cùng với việc mở rộng và khai thác biển theo hướng vươn ra xa hơn và xuống sâu hơn, nước ta cần chú trọng phát triển mạnh các hướng KHCN biển then chốt của thế giới, như: Công nghệ khảo sát thăm dò tài nguyên, đặc biệt là dầu khí và khoáng sản biển sâu; Công nghệ sinh học trong nuôi trồng hải sản, tách chiết các hợp chất thiên nhiên trong sinh vật biển; Khai thác vật liệu, hóa phẩm trong nước biển; Công nghệ tiến tiến (dàn nổi, di động, bảo quản, vận chuyển, chế biến,…) trong ngành dầu khí và băng cháy; Công nghệ hóa lý (nhất là công nghệ màng) trong khai thác nước ngọt từ nước biển; Công nghệ dự báo nguồn lợi hải sản trên phạm vi quốc gia; Công nghệ quan trắc và dự báo ô nhiễm môi trường biển, xử lý sự cố ô nhiễm; Công nghệ xây dựng công trình biển, thiết kế thi công, chẩn đoán công trình cố định và công trình nổi có neo, bảo vệ bờ biển, cầu cảng; Công nghệ đóng tàu biển; Công nghệ thông tin, dự báo tai biến địa chất biển; Công nghệ khai thác năng lượng biển tái tạo (sóng biển, thủy triều, thủy nhiệt,…), năng lượng gió và mặt trời. Về phương pháp, kỹ thuật nghiên cứu, cần tăng cường áp dụng những tiến bộ kỹ thuật hiện đại trong điều tra khảo sát biển và đại dương, như: Kỹ thuật viễn thám, công nghệ GPS và GIS, chụp ảnh hồi âm lập thể đáy biển, đo laser từ máy bay vùng ven bờ; phát triển kỹ thuật tự động hóa (nổi, di động, tự động hóa,…) trong quan trắc và khảo sát biển, kỹ thuật lặn sâu, khảo sát đáy biển cực sâu tới 6.000 - 10.000 m. Trong nghiên cứu phát triển mạnh các phương pháp mô phỏng toán học để nghiên cứu, dự báo các hiện tượng, yếu tố tự nhiên biển; đẩy mạnh nghiên cứu sinh học ở mức độ phân tử, phát triển công nghệ sinh học biển. Ứng dụng rộng rãi kỹ thuật tin học vào lưu trữ, quản lý, sử dụng và trao đổi dữ liệu biển.

PHÁT TRIỂN KHCN BIỂN Ở VIỆT NAM TOÀN DIỆN VÀ ĐÚNG TẦM

Sáu yêu cầu đối với KHCN biển để phục vụ phát triển kinh tế biển xanh, bền vững ở nước ta thời gian tới cần chú ý là: Duy trì nguồn vốn tự nhiên biển; Bảo tồn biển và các khu bảo tồn biển; Bảo vệ môi trường và tài nguyên biển; Phát triển kinh tế biển hiệu quả, bền vững; Thực thi chính sách, pháp luật hiệu quả trong khai thác, sử dụng biển, đảo và Truyền thông, tuyên truyền về kinh tế biển xanh và bền vững.

Đến năm 2030, triển khai một số nhiệm vụ trọng điểm về KHCN phục vụ phát triển kinh tế biển xanh(8) như: 1) Nghiên cứu, kiểm kê, đánh giá nguồn vốn tự nhiên biển; dự báo xu thế diễn biến tài nguyên và môi trường biển trong điều kiện biến đổi khí hậu. 2) Nghiên cứu và ứng dụng các quy trình công nghệ khai thác, sử dụng tài nguyên biển ít gây tác động môi trường và hạn chế ô nhiễm biển; sử dụng các nguồn năng lượng biển tái tạo và ít tác động môi trường như nhiệt, gió, sóng, thuỷ triều và sinh khối. 3) Đẩy mạnh nghiên cứu ứng dụng trong xử lý ô nhiễm và ứng phó sự cố môi trường, thiên tai trên biển. 4) Nghiên cứu ứng dụng các giải pháp tái tạo và phục hồi tài nguyên và môi trường; mở rộng diện tích vùng biển được bảo tồn. 5) Phát triển công nghệ cao, kỹ thuật hiện đại và quy trình tiên tiến phục vụ điều tra nghiên cứu, khai thác hiệu quả, tiết kiệm tài nguyên biển, bảo vệ môi trường. 6) Đẩy mạnh giám sát và dự báo thiên tai, sự cố môi trường biển bằng các thiết bị hiện đại, công nghệ cao và tăng cường năng lực cho hệ thống trạm quan trắc, phục vụ dự báo và cảnh báo các hiện tượng thời tiết bất thường trên biển. 7) Xây dựng cơ sở khoa học cho phát triển kinh tế, dịch vụ môi trường (nhấn mạnh đến xác định nguồn vốn tự nhiên biển) và xã hội hóa hoạt động bảo vệ môi trường. 8) Nghiên cứu xây dựng các quy trình, quy chuẩn quản lý, quy định kỹ thuật, định mức kinh tế – kỹ thuật phục vụ xây dựng các chính sách, các quy định pháp luật để sử dụng hợp lý tài nguyên, bảo vệ môi trường biển, đảo, thích ứng với biến đổi khí hậu và nước biển dâng. 9) Nghiên cứu và tư vấn hỗ trợ quá trình hiện thực hóa quản lý tổng hợp biển và vùng bờ biển và quy hoạch không gian biển.

Tóm lại, để phát triển kinh tế biển xanh và bền vững ở nước ta, những nhóm nội dung nhiệm vụ chiến lược cần quan tâm thực hiện trong thời gian tới là:

Một là, tăng cường năng lực và hiện đại hóa KHCN biển phục vụ lĩnh vực điều tra, nghiên cứu biển và tạo động lực thúc đẩy phát triển các ngành nghề kinh tế biển, bảo đảm an ninh, quốc phòng biển, đảo phải là vấn đề ưu tiên hàng đầu để đạt được mục tiêu của Chiến lược biển 2030.

Hai là, xây dựng và thực hiện nhiệm vụ đã được xác định trong Chiến lược biển 2030, cũng như Mục tiêu phát triển bền vững số 14 về biển và đại dương tại Việt Nam. Xây dựng và thực thi “Chiến lược Phát triển KHCN biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn 2045” với các lộ trình phát triển cụ thể định kỳ 5 năm.

Ba là, tái cơ cấu hệ thống KHCN biển quốc gia với hệ thống các viện chuyên ngành về KHCN biển theo vùng và đầu tư xây dựng các phòng thí nghiệm biển trọng điểm quốc gia, đạt “đẳng cấp” khu vực đến năm 2030 và quốc tế đến năm 2045. Xây dựng đội tàu điều tra, nghiên cứu biển, đại dương hiện đại đáp ứng nhu cầu phát triển biển trong tình hình mới và đủ khả năng hội nhập quốc tế về biển và đại dương.

Bốn là, tập trung đào tạo nguồn nhân lực KHCN biển có trình độ khoa học và kỹ năng kỹ thuật cao, tạo nguồn cho lực lượng cán bộ quản lý biển giỏi đến năm 2030 và những năm tiếp theo./.

Nguồn: http://tuyengiao.vn

 (1) Trần Hồng Hà: Xây dựng kinh tế biển xanh – trọng điểm cho phát triển bền vững biển Việt Nam. Báo Nhân dân điện tử ngày 29/9/2024.

(2) UNEP (2024): Regional Seas and SDG14: The contribution of regional seas conventions and action plans to a healthy ocean. A final draft. 

(3) Quyết định số 1393/QĐ-TTg ngày 25/9/2012 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt “Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh thời kỳ 2011- 2024 và tầm nhìn đến năm 2050”.

(4) Đặng Hữu: Khoa học, công nghệ với sự phát triển kinh tế – xã hội, Nxb. Sự thật, H, 1989.

(5) Triệu Bảo Hoa: Động lực và tác động của hội nhập quốc tế về KHCN từ góc nhìn lý thuyết, Tạp chí Khoa học và Công nghệ, số 1/2024.

(6) Yves Michaud: Khoa học, Công nghệ và Phát triển kinh tế – Tập hợp của mọi trí thức (Tài liệu dịch từ tiếng Pháp) Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, H, 2000.

 (7) Nguyễn Phú Trọng, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Trưởng Tiểu ban Văn kiện Đại hội XIII của Đảng: Chuẩn bị và tiến hành thật tốt Đại hội XIII của Đảng, đưa đất nước bước vào một giai đoạn phát triển mới, Hà Nội ngày 31/08/2024.

 (8) Bộ Khoa học và Công nghệ (2024): Tổng kết 10 năm KHCN thực hiện Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2024, Báo cáo dự thảo, lưu tại Bộ KHCN.

Kinh Nghiệm Tự Lập Hồ Sơ Không Qua Luật Sư: Đổi Thẻ Xanh Có Điều Kiện (2 Năm) Sang Thẻ Xanh Vĩnh Viễn (10 Năm)

Chào các bạn, mình trở lại với việc lập hồ sơ đổi thẻ xanh có điều kiện (2 năm) sang loại thẻ xanh vĩnh viễn (10 năm).

Loại thẻ xanh có điều kiện ra đời vì do nhiều trường hợp kết hôn giả, hoặc kết hôn thật nhưng khi vừa sang đến Mỹ thì người được bảo lãnh kia ly dị vợ/chồng mình ngay lập tức. Vì thế, SDT muốn hạn chế số lượng người kết hôn giả hay kết hôn vì mục đích định cư không phải tình yêu thực sự, và theo phân tích cuộc hôn nhân nào vượt qua được hai năm đầu tiên thì sẽ đi đến hôn nhân lâu dài. Nên SDT muốn cái cặp đôi này cần có bằng chứng cho cuộc sống hôn nhân chung giữa hai người trong 2 năm đầu tiên tại Mỹ, sau khi xem xét họ sẽ cấp thẻ xanh mới (10 năm) hay yêu cầu bổ sung thêm bằng chứng, và cuối cùng là phỏng vấn lại nếu họ có nghi ngờ về mối quan hệ hôn nhân của hai bạn.

Đầu tiên các bạn cần làm thẻ an sinh xã hội (SSNC-Social Security Number card) tại văn phòng Social Security Administration địa phương (chỉ cần lên Maps tìm nơi gần nhất là bạn đang sống). Nơi này không cần lấy hẹn trước, bạn chỉ cần mang theo giấy tờ tuỳ thân để chứng minh nhân thân của mình thôi: hộ chiếu kèm visa định cư, hồ sơ nhập cảnh, nên đi cùng vợ/chồng vì nhân viên sở tại sẽ hỏi bạn 1 số câu hỏi thêm. Sau 7-14 ngày họ sẽ gửi thẻ này về cho bạn, ghi nhớ thật kỹ điều này: không cho bất cứ ai số thẻ của bạn, phải tự ghi nhớ nó trong đầu, không mang theo thẻ bên mình, cất giữ ở 1 nơi an toàn, không ai biết. Vì mã số này nếu để cho người xấu biết, họ lợi dụng thẻ này mở các tài khoản, hay vay mượn ngân hàng, đăng ký các dịch vụ mà bạn không biết thì sẽ ảnh hưởng xấu đến lý lịch của bạn. Bên Mỹ quan trọng Thông tin cá nhân: tk ngân hàng, số an sinh, số thẻ tín dụng, số ID …, bạn cần làm quen với việc này. Giữ lại lá thư mà họ gửi vì bạn cần nó như 1 minh chứng cho việc bạn đang ở tại địa chỉ này, lúc bạn đi làm ID (chứng minh nhân dân) sẽ cần tới nó.

Bạn đến DMV (Department of Motor Vehicles) để đăng ký làm ID, họ cần hộ chiếu để xác minh ngày sinh, và hai lá thư bất kỳ để xác minh chỗ ở của bạn, vì thế các bạn giữ lại hai lá thư từ văn phòng an sinh và ngân hàng. Cũng sau 7-10 ngày ID của bạn sẽ được gửi về nhà.

Chờ khoản 60-70 ngày sau khi nhập cảnh, thẻ xanh 2 năm sẽ được gửi về. Bạn cất thẻ ở nơi an toàn nhất,tránh mất cắp. Phần quan trọng, bạn cần giữ lại thư này, nửa dưới lá thư (phần có mã vạch) bạn sẽ dùng lại cho khi đổi thẻ 10 năm, vì nó có mã vạch hồ sơ của bạn tại SDT, nó giúp bạn đẩy nhanh quá trình làm hồ sơ sau này, giữ thật kỹ lại.

Lúc này, bạn có đủ giấy tờ để đi làm được rồi, nhớ làm việc đóng thuế đầy đủ, trốn thuế là việc mang tội nặng ở Mỹ.

Nhờ vợ/chồng đăng ký mở thêm đường dây điện thoại chung với gia đình chồng, hoặc chỉ hai người thôi cũng được.

Nhờ gia đình, bạn bè giúp đỡ cho bạn để học thì lý thuyết lấy bằng viết lái xe (Instruction Permit), sau đó tập thì lái xe để lấy Bằng lái (Driver License). Bằng lái sẽ được dùng như ID. Hoặc bạn có thể đăng ký các lớp học lái xe có giá khoảng $550-750 tuỳ nơi, có thầy dậy kèm cho đến khi mình có bằng, có nơi bạn sẽ được tặng thẻ giảm giá khi mua bảo hiểm xe.

Có bằng lái, bạn có thể đứng tên chung trong giấy tờ xe với vợ/chồng mình, mua bảo hiểm chung.

Ở Mỹ có các chợ đồ sỉ, bạn cần có thẻ để vào mua đồ, nên đăng ký mở thẻ chung với vợ/chồng, 1 năm trả tiền mở thẻ khoảng $40-55 tuỳ chợ.

Chăm chỉ chụp hình cùng gia đình vợ/chồng, bạn bè, đi chơi, hay riêng tư của hai người.

Sau hai năm, chính xác là 1 năm 9 tháng, bạn sẽ gửi hồ sơ đi trước 90 ngày trước khi thẻ xanh của bạn hết hạn.

Hồ sơ gồm có:

Cover Sheet (lá thư bìa cho hồ sơ của bạn), ghi rõ thông tin cá nhân, ngày sinh, số thẻ xanh, visa loại nào, ngày có hiệu lực và hết hạn của thẻ xanh, thông tin cá nhân của vợ/chồng, cần nêu ngắn gọn các giấy tờ, bằng chứng có trong hồ sơ

Đơn mẫu Form I-751 (petition to remove conditions on residence) tải mẫu đơn mới nhất tại chúng tôi

Copy mặt trước và sau của thẻ xanh

Copy hộ chiếu.

Phần mã vạch hồ sơ của lá thư thẻ xanh bạn nhận từ 2 năm trước thể đẩy nhanh việc đổi thẻ.

Tấm Check đóng lệ phí đổi thẻ: $680 (trong đó $595 là phí, $85 phí chụp hình lăn tay)

Bằng chứng gồm có: (chỉ nhận Copy, giữ lại hồ sơ gốc, làm thêm 1 bộ Copy giống vậy để nếu lỡ có thất lạc sẽ có bộ này thay thế)

Các loại giấy tờ, hoá đơn, chứng từ, bảo hiểm, thẻ, đường dây phone, tài khoản ngân hàng có tên chung của hai người.

Giấy thuế qua hai năm

Khai sinh của con chung (nếu có)

Hình ảnh gia đình, hai vợ chồng với nhau.

Các thiệp chúc vào các dịp giáng sinh, năm mới, dịp lễ trong năm (nếu có)

Giấy xác nhận của 3 người là công dân Mỹ biết về cuộc hôn nhân của vợ chồng bạn (bạn thân, hàng xóm, người quen, bạn đồng nghiệp…) (nếu có)

Sau khi gửi hồ sơ đi khoảng 2-4 tuần sau bạn sẽ nhận được biên nhận của lệ phí $680, và trong đó ghi rõ gia hạn thẻ xanh của bạn thêm 1 năm, có thể dùng giấy này kèm thẻ xanh hết hạn để tiếp tục làm việc hay ra ngoài nước Mỹ (khuyên bạn chân thành không nên đi đâu ngoài nước Mỹ cho đến khi bạn nhận được thẻ chính thức để tránh rắc rối)

Bạn sẽ vào trong trang chúng tôi để “check case” bằng mã số của biên nhận trên WAC#########.

Khoảng 3-6 tháng, hồ sơ của bạn sẽ được chuyền về văn phòng địa phương gần nhất nơi bạn đang ở.

Khoảng 8 tháng tính từ ngày gửi hồ sơ đi bạn sẽ nhận được thư hẹn đi chụp hình lăn tay.

Nếu hồ sơ chưa thể xong trong 1 năm, bạn có thể sẽ nhận được thư báo chờ thêm 6 tháng nữa tức là 18 tháng kể từ khi thẻ xanh bạn bị hết hạn, để văn phòng di trú giải quyết hồ sơ.

Sau đó là 1 thư chúc mừng bạn đã được chấp thuận đổi thẻ xanh Vĩnh viễn, vài ngày sau thẻ sẽ được gửi đến nhà bạn (nơi bạn đăng ký địa chỉ nhận thẻ).

Trong trường hợp của mình, cuối tháng 10/2024 gửi hồ sơ đi, giữa tháng 11/2024 nhận biên nhận và gia hạn 1 năm thẻ xanh. Tháng 5/2024 đi lăn tay chụp hình. Tháng 9/2024 giấy báo gia hạn thêm 6 tháng cho thẻ xanh. Tháng 1/2024 nhận thẻ mới. Là Tròn 1 năm 3 tháng chờ đợi tính từ ngày gửi hồ sơ đi, tròn 1 năm nếu tính từ ngày hến hhận thẻ xanh.

Thân ái!

Chương 3: Luật Của Rừng Xanh

Tácdăng chậm chạp mở tờ giấy mà một thủy thủ đưa cho chàng trên xuồng và bắt đầu đọc. Lá thư với những dòng chữ độc địa khơi dậy trong lòng chàng nỗi căm uất, ý định báo thù khốc liệt.

“Lá thư này là nhằm nói rõ cho Ngài biết ý muốn của tôi về số phận của thằng bé con Ngài và số phận của chính bản thân Ngài.

Ngài đã chào đời như một con khỉ. Và cũng giống như một con khỉ, Ngài đã sống, đã lớn lên trong rừng sâu. Vậy thì có gì đáng ngạc nhiên khi Ngài phải trở về cái quê hương chôn rau cắt rốn của Ngài. Nhưng riêng con trai của Ngài thì không thể lập lại con đường cũ của bố nó. Theo quy luật tất yếu của sự tiến hóa, con hơn cha là nhà có phúc. Thằng bố là một con khỉ độc. Thế thì thằng con được phép làm một con người. Nó sẽ được đeo bên hông những thứ đồ trang sức bằng đồng. Có thể mũi nó cũng sẽ được sỏ một cái khoang bằng sắt. Ngài hãy hình dung thằng con trai nối dõi tông đường của Ngài như vậy! Bởi vì nó sẽ trở thành một thành viên của bộ lạc ăn thịt người. Nó được phép làm người, nhưng sẽ là một người rừng chính hiệu. Tôi đã có thể giết Ngài dễ như trở bàn tay. Nhưng chỉ giết Ngài thì vô ích vì Ngài chẳng còn biết gì về số phận con Ngài. Nếu để Ngài sống ở một nơi nào đó, một nơi mà Ngài không thể thoát, ngài sẽ có khối thời giờ để mà suy nghĩ, tưởng tượng về thằng con bất hạnh của mình.

Gieo gió thì phải gặp bão. Chính Ngài tự chuốc tai họa vào mình. Sự trừng phạt như vậy là xứng đáng. Bởi vì đã biết bao lần Ngài cản đường tôi.

NicôlaiRôcốp.

Tái bút: Sự trừng phạt sẽ còn lớn hơn nữa khi bổ xuống đầu vợ Ngài. Điều ấy thì tôi để cho Ngài tự hình dung lấy…”

Trong lúc đang đọc những dòng chữ trên, Tácdăng nghe thấy sau lưng mình có tiếng động sột soạt. Tiếng động nghe có vẽ rất quen thuộc, khiến chàng sực tỉnh và biết ngay điều gì đang đến với mình. Toàn bộ giác quan mạnh mẽ của chàng đã hồi sinh trở lại. Trong phút chốc chàng đã biến thành Tácdăng – Đứa con của rừng già. Chàng quay phắt lại với tư thế của con mãnh thú chuẩn bị bước vào trận đấu. Bản năng sinh tồn và phản xạ tự vệ trỗi dây, khiến cả cơ thể của chàng căng lên. Chàng rùng mình một cái rồi hạ thấp người, mặt đối mặt với địch thủ, trước mặt chàng lúc này là một con vượn khổng lồ.

Đã hai năm trôi qua tính từ khi Tácdăng từ giã rừng già. Chính vì thế sức mạnh của vị chúa tể muôn loài trong người chàng có phần vơi cạn. Cuộc chiến đấu với con vượn đực đang tuổi sung sức đối với chàng đã thành một sự thử sức gian nan. Nhìn ra xung quanh chàng còn thấy có mấy con vượn khác. Những kinh nghiệm của cuộc sống bầy đàn đã cho chàng biết rằng những con vượn đó sẽ không tấn công chàng. Đàn vượn bao giờ cũng để cho con đầu đàn chiến đấu một mình.

Con vượn lắc đầu một cái rồi xông thẳng về phía Tácdăng. Nếu như mấy năm trước, Tácdăng cũng có thể dương trán ra ứng chiến. Nhưng đã bao ngày sống với con người, tất nhiên chàng đã biết nhiều thế đánh mà đối với loài thú là điều hoàn toàn xa lạ. Ngay tức khắc, chàng né sang bên. Con thú vừa lao qua, chàng đã giáng một cú đấm nặng tay vào bụng nó. Con vượn rống lên đau đớn, ngã khuỵu xuống đất. Nó vừa nhổm mình đứng dậy, đối thủ da trắng đã áp sát bên canh, vung tay bồi hết cú đấm này tới cú đấm khác. Chẳng còn thấy gì trong giây phút này những dấu hiệu của chàng huân tước nước Anh. Tácdăng đã trở lại là đứa con hung dữ của vượn mẹ Kala thủa nào. Hai hàm răng trắng khỏe mạnh của chàng cắn ngập vào cổ họng địch thủ. Còn quả đấm của chàng thì tới tấp giáng xuống bộ mặt lông lá của con vật chẳng khác gì chiếc búa máy. Con vượn lúc này chỉ biết nhe răng, sùi bọt mép, giẫy dụa một cách bất lực. Những con vượn trong đàn đã vây quanh lại thành một vòng tròn, quan sát cuộc chiến. Có mấy con vượn to béo cất tiếng hú ầm ỹ, chạy lồng lộn, có vẻ muốn khích lệ bạn mình. Đột nhiên chúng dừng chân, giương mắt nhìn kinh ngạc khi trông thấy con vượn da trắng, không lông đã vòng ra phía sau, xiết chặt gáy đối phương rồi dí mạnh xuống đất. Tácdăng đang sử dụng lại lối đánh rất hiệu quả mà chàng đã dùng lần đầu trong cuộc chiến đấu với Tơ cốt ngày xưa.

Từ cơ thể con thú bỗng vang lên một tiếng ” rắc” giống như tiếng cành cây bị gió bẻ gẫy. Cái đầu to xù của con vượn rũ gục xuống ngực. Tiếng kêu thét, gầm gừ tắt lịm. Đàn vượn xung quanh giương tròn mắt, hết nhìn cơ thể bất động của con vượn bạn, lại nhìn sang con thú da trắng đang đứng phủi tay bên cạnh. Đàn vượn không hiểu vì sao bạn nó không đứng dậy tiếp tục tấn công kẻ thù hai chân kia. Vừa lúc đó, kẻ thù hai chân nọ bước tới, đặt chân lên cổ con vượn rồi ngửa mặt rú lên man dại – Tiếng thét chính hiệu của loài vượn sau khi chiến thắng đối thủ. Tới lúc ấy đàn vượn mới biết rằng con vượn đầu đàn của chúng đã chết.

Tiếng thét của Tácdăng sắc nhọn như mũi dao, xuyên qua từng kẽ lá. Lũ vượn con trên các lùm cây nô đùa vội vàng nép vào lưng mẹ. Chim chóc ngừng kêu. Cả một dải rừng già im ắng. Chỉ thỉnh thoảng đó đây vang lên tiếng quả khô rơi xào xạc.

Tácdăng dừng lại, không thét nữa. Chàng lắc đầu cho mái tóc bay lên khỏi trán. Đó là một thói quen từ thời chàng còn để tóc dài ngang vai.

Quan sát một hồi kỹ lưỡng, chàng nhận ra đàn vượn bao quanh chàng rất giống bộ lạc vượn cũ của mình. Chàng nhớ rằng, theo tập quán, nếu một con vượn nào đó được thừa nhận là thủ lĩnh, nó có toàn quyền hành động, có thể tự do cắn xe đồng loại bất cứ lúc nào, tùy thích. Nếu một thành viên của bộ lạc khác đến nhập bầy mà giết chết hoặc khuất phục được thủ lĩnh đương quyền, nó sẽ nghiễm nhiên ” lên ngôi” trở thành người kế vị. Chính vì vậy nếu Tácdăng bỏ đi, sớm muộn lũ vượn đực cũng phải cắn xé nhau để lựa chọn kẻ thống trị bộ lạc.

Tácdăng còn đang băn khoăn thì một con vượn đực cao lớn tiến thắng đển chỗ chàng. Con vượn này đang độ trung niên, sung sức. Những bắp cơ của nó nổi lên từng múi lớn, rùng rùng chuyển động dưới lớp lông đen, bóng mượt. Nó há mồm, gầm gừ, để lộ những chiếc răng to, trắng lớn. Tácdăng vẫn đứng im lặng, theo dõi từng cử động nhỏ của con vật. Chàng biết rằng nếu lúc này chàng tiến hoặc lùi một bước, đều có nghĩa là chấp nhận cuộc chiến đấu. Thực lòng chàng không muốn thử sức lần thứ hai. Vì vậy chàng vẫn tiếp tục đứng im, bình thản nhìn con thú đang nhe răng tiến tới.

Nhưng cái điều chàng không muốn lại cứ xảy ra. Sau phút bỡ ngỡ vì tiếng thét dữ dội của kẻ chiến thắng lạ mặt, đàn vượn lại xiết chặt vòng vây quanh chàng. Chúng có vẻ muốn chứng kiến cuộc tỉ thí và kiểm nghiệm sức mạnh của ứng cử viên thủ lĩnh. Vòng vây của đàn vượn càng kích thích dòng máu nóng trong mình con vượn đực. Sự cổ vũ âm thầm của đồng loại đã thôi thúc con vượn đực vững tâm lao vào cuộc chiến. Đôi chân của nó hơi ngắn nhưng khá nhanh nhẹn. Cái đầu to xù của nó hơi cúi xuống đất nhưng gồ vai của nó vẫn cao ngang mặt Tácdăng.

Đột nhiên trong đầu Tácdăng lóe lên những âm thanh quen thuộc của thời thơ ấu. Chàng đã nhớ ra ngôn ngữ của bộ lạc vượn.

– Mày là ai? – Tácdăng hỏi con vượn đực – mày đang xúc phạm Tácdăng con trai của Kala đấy.

– Tao là Acút- Con vượn đực trả lời – Môlát chết rồi thì tao làm thủ lĩnh. Mày hãy cút đi! Nếu không tao sẽ giết mày.

– Mày đã trông thấy tao giết Môlát rất dễ dàng, nếu tao muốn làm thủ lĩnh, tao có thể giết mày như thế. Nhưng Tácdăng này không muốn làm thủ lĩnh bộ lạc. Tácdăng chỉ muốn sống bình yên trên mảnh đất này thôi. Mày và Tácdăng này hãy trở thành bạn bè! Tácdăng sẽ giúp mày và mày cũng giúp đỡ Tácdăng.

– Mày không thể giết được Acút! – Con vượn đực trả lời – Không có ai khỏe bằng Acút này. Nếu mày không giết Môlát thì Acút cũng giết nó. Bởi Acút này đã quyết định trở thành thủ lĩnh từ lâu rồi.

Thay cho câu trả lời , Tácdăng bất thần lao vào con vượn ngang bướng. Nhanh như chớp, chàng đẩy mạnh chiếc mỗm con vượn sang bên trái rồi vòng sang bên phải, áp người phía sau lưng nó. Con vượn bàng hoàng, chưa kịp ứng phó đã bị Tácdăng vòng tay qua nách, khóa chặt cổ địch thủ, giống như lần trước. Chàng không muốn giết Acút nên chỉ gì chặt cánh tay để cho nó hiểu thế nào là sức mạnh Tácdăng.

– Ka gô đa? – Tácdăng thì thào hỏi Acút. Đó là câu mà chàng đã có lần hỏi Kétchác ngày xưa. Trong ngôn ngữ của loài vượn ” Ka gô đa?” có nghĩa là ” đầu hàng chứ?”

Acút chợt nhớ tiếng thét man rợ cảu Tácdăng sau khi giết chết Môlát. Nó khẽ rùng mình. Nhưng nó vẫn thích vị trí của người cầm đầu bộ lạc. Vì vậy nó không trả lời, cố vùng vẫy để xoay chuyển tình thế. Tuy vậy vòng tay đối thủ trên cổ nó mỗi lúc một xiết mạnh, làm nó vô cùng đau đớn. Chịu đựng được vài giây, nó buộc phải bật mồm run run kêu lên:

– Ka gô đa.

Tácdăng thả lỏng cánh tay.

– Tao để cho mày sống mà làm thủ lĩnh- Tácdăng nói – Tácdăng này không thích cầm đầu bộ lạc. Nếu có kẻ nào tranh quyền thủ lĩnh của mày, Tácdăng này sẽ giúp cho mày.

Acút đứng thẳng dậy, lắc cái đầu to xù, gầm gừ nhìn từng con vượn đực đang bao quanh. Nó biết rằng rất nhiều con vượn đực khỏe mạnh như nó cũng muốn làm thủ lĩnh. Nửa phút im lặng trôi qua không một con vượn nào xông ra tuyên chiến. Ngược lại lũ vượn đực xung quanh đã khiêm tốn lùi ra một quãng. Cuối cùng Acút nhập vào đàn biến mất vào rừng sâu.

Trên bờ biển chỉ còn trơ lại một mìnhTácdăng. Cho tới lúc này chàng cảm thấy đau. Hoá ra trong cuộc vật lộn với Môlát, da chàng bị cào rách mấy mảng. Tuy vậy chàng vẫn kiên nhẫn chịu đựng và có phần dửng dưng với các vết máu,chẳng khác gì một con thú rừng. Chàng nghĩ bụng: Cần phải sắm sửa vũ khí càng sớm càng tốt.Tiếng gầm của các loài hổ báo từ rừng sâu vọng ra nhắc cho chàng nhớ rằng cuộc sống nơi đây cũng đầy đe doạ. Chảng còn cách nào khác là phải trở về với lối sống ngày xưa. Cuộc đấu tranh sinh tồn trong rừng xanh là vậy: Mày không giết tao, tao sẽ giết mày! Từ hôm nay chàng lại sẽ bị thú dữ rình mò săn đuổi. Ngai từ giờ phút này chàng phải có vũ khí phòng thân.

Ngay ven bờ biển có một vách đá màu xanh. Nhìn màu đá Tácdăng biết đó là một loại đá cứng. Loay hoay một hồi chàng đã lấy được một thanh đá mỏng, có đầu nhọn. Vừa mài vừa đập, mấy tiếng đồng hồ sau, chàng đã có con dao bằng đá – thứ công cụ của loài người nguyên thuỷ. Sau dó chàng vào rừng kiếm một cành cây rất cứng bẻ lấy một đoạn rồi vót ngọn một đầu. Chàng tìm một lỗ đá trên đỉnh núi và nhồi vào đó một ít vỏ cây khô, thọc mũi gậy cứng vào lỗ đá rồi xoay chiếc gậy liên tục bằng hai lòng bàn tay. Sự kiên nhẫn của chàng đã được bù đắp lại chính đáng. Chỉ một lát sau từ lỗ đá chứa vỏ cây đã bốc lên một làn khói mỏng. Vỏ cây bốc cháy. Chàng nhanh nhẹn gạt những cành củi khô lên trên. Một hồi sau ngọn lửa đã bốc lên cháy rần rật.

Từ lúc có lửa, Tácdăng miệt mài làm việc. Chàng mài dũa hoàn chỉnh con dao bằng đá. Chàng còn chế tạo các vũ khí cần thiết giống như ngày trước. Đốc dao găm, một cánh cung, một ống tên và một ngọn giáo. Sau khi có đủ các trang bị cho cuộc sống săn bắn và tự vệ. Chàng tìm một lùm cây cao ven sông làm một cái chòi rất kín đáo. Chàng dùng lá cọ lợp thành mái che và dùng cỏ khô rải làm lớp đệm.

Trời đã tối từ lúc nào, Tácdăng không hề biết. Chàng chợt nhận ra là bụng mình rỗng tuếch. Cơn đói bắt đầu hành hạ chàng. Trong lúc lang thang tìm kiếm vật liệu làm vũ khí, chàng đã phát hiện được đoạn sông mà lũ thú rừng thường tới uống nước.

Với sự khéo léo nhanh nhẹn của loài khỉ, Tácdăng chuyền qua các lùm cây hướng thẳng tới máng nước đó. Rừng sâu đã bắt đầu rậm rịch tiếng chân các loài thú ăn đêm. Tácdăng khẽ thở dài. Nếu không có nỗi lo lắng nhớ nhung vò xé trong lòng, chắc hẳn chàng sẽ cảm thấy mình là người hạnh phúc. Bởi vì sau bao ngày tháng lăn lộn trong thế giới loài người, tới giờ này chàng mới trở về cuộc sống tự do của thời niên thiếu. Bằng một cú nhảy nhẹ nhàng, chàng vọt sang một cành cây cổ thụ mọc ngả xuống lối mòn mà thú rừng thường qua lại. Đôi mắt tinh tường của chàng đảo bốn xung quanh, tìm kiếm con mồi. Quả là ” cầu được ước thấy”, chàng vừa co chân theo tư thế của loài báo vồ mồi, đã trông thấy một con hươu thủng thẳng đi tới. Nhưng con hươu không phải đi tới một mình. Bám sát sau lưng nó , còn có một con vật khác. Hình như con hươu không hề trông thấy, cũng không đánh hơi được kẻ đang bám sau lưng mình. Từ trên cành cây, đứa con trai của rừng xanh đã trông thấy tất cả. Chàng chưa biết chắc chắn con thú sau lưng hươu là con gì, nhưng ắt hẳn là một loài thú dữ cũng đang kiếm ăn như chàng. Có thể đó là một con sư thử hoặc một con báo Sêta. Nếu con hươu không chạy nhanh tới chỗ Tácdăng, Tácdăng tất dễ bị con thú hớt tay trên, cái ý nghĩ lo sợ mất mồi vừa thoáng hiện trong đầu Tácdăng, thì ngay lúc đó con hươu giật mình phóng thẳng tới chỗ Tácdăng. Hình như con hươu đã phát hiện ra mối đe doạ rình rập sau lưng mình nên định chạy thoạt sang bên kia vũng lội. Đúng thế, sau lưng con hươu khoảng dăm chục thước lộ ra thân hình uyển chuyển của con sư tử Numa, Tácdăng đã nhận rõ mặt con sư tử. Cùng lúc ấy con hươu đã chạy tới tầm vồ của chàng.

Không do dự, Tác dăng nhảy thẳng xuống lưng hươu. Trông thấy kẻ cướp mồi, sư tử Numa vội vàng phóng tới. Tácdăng nhanh tay tóm chặt sừng hươu , nghiến răng xoắn cổ con vật gần hết một vòng. Con vật chỉ kịp kêu ré lên một tiếng ngạt hơi rồi dãy chết. Tácdăng vác con hươu còn đang dãy trên vai rồi leo lên cành cao đúng lúc sư tử Numa lao tới gốc cây. Chàng mỉm cười hài lòng, cúi đầu nhìn xuống đất. Đôi mắt màu vàng lóng lánh của sư tử Numa đang chiếu thẳng vào mặt chàng bằng thứ ánh sáng của lòng căm uất tột độ. Sau khi ngồi thật thoải mái trên cây, chàng thong thả rút dao khoét một miếng thịt thật ngon ở mông hươu, đưa lên miệng. Phía dưới đất, con sư tử vẫn lồng lộn chạy qua chạy lại, thỉnh thoảng lại với hai chân trước lên gốc cây, cào xoàn xoạt. Tiếng gầm gừ của nó mỗi lúc một nhỏ dần. Nó đã có vẻ tuyệt vọng, chán chường vì tên cướp chưa kịp nhìn rõ mặt.

Sau khi nếm đủ hai chục miếng thịt nóng ngọt ngào, Tácdăng đặt con hươu ăn dở lên một chạc cây. Chẳng thèm để ý tới con sư tử còn đang tức tối, lởn vởn phía dưới, Tácdăng vội vã chuyền qua các lùm cây, tìm về mái chòi của mình. Món ăn tươi bữa tối vẫn còn để lại dư vị ngon lành cho tới khi chàng sửa soạn chỗ ngã lưng. Dòng máu rừng già trong cơ thể chàng hình như bắt đầu chảy mạnh hơn. Chàng huân tước Grâyxtâu chợt nhận ra rằng, bữa thịt hươu vừa rồi ngon gấp trăm lần những bữa đại tiệc trong các vũ hội của giới quý tộc Luân đôn… Chàng kéo búi cỏ gối đầu rồi ngủ một mạch cho tới bữa trưa ngày hôm sau.