Luật Sư Cứu Nguyễn Ái Quốc / 2023 / Top 16 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 12/2022 # Top View | Bac.edu.vn

Rắc Rối Tên Của Luật Sư Bào Chữa Cho Nguyễn Ái Quốc / 2023

– Ngày 25/11, Giám đốc Bảo tàng Hồ Chí Minh Chu Đức Tính gửi thư đến Nhà Xuất bản (NXB) Giáo dục thuộc Bộ GD-ĐT phản hồi về việc sách giáo khoa (SGK) phiên âm sang tiếng Việt tên người đã bào chữa và bảo vệ thành công cho Tống Văn Sơ – một tên của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh tại tòa án Hồng Công năm 1931 là chưa chính xác. Cụ thể, tên luật sư Loseby trong sách giáo khoa có phiên âm là “Lô dơ bai”.

Nguyễn Ái Quốc lúc ở Hồng Công với tên gọi Tống Văn Sơ và luật sư Frank Loseby năm 1931 ở Hồng Công.

Ông Chu Đức Tính đưa ra 6 luận điểm để chứng minh có việc SGK phát âm tên của luật sư Loseby.

Đầu tiên là trong bản thảo bút tích tách phẩm “Vừa đi đường vừa kể chuyện” với bút danh chúng tôi Chủ tịch Hồ Chí Minh dùng từ nguyên gốc tiếng Anh là Loseby để gọi tên vị luật sư, và trong bản in của Nxb Sự thật, Hà Nội, 1963, in là Lôdơbi.

Sau đó là minh chứng từ cuộc gặp trực tiếp của đồng chí Trịnh Ngọc Thái – Nguyên phó Trưởng ban Đối ngoại Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam với vị luật sư tại sân bay Gia Lâm năm 1960: “Khi đón gia đình tại sân bay Gia Lâm, tôi chào: Kính chào ông luật sư Lôdơbai. Ông Loseby lập tức sửa ngay lại cho tôi là: Tên tôi đọc là Lôdơbi chứ không phải Lôdơbai”.

Điểm quan trọng dẫn tới quyết định “cần phải gửi công văn lên đến Bộ trưởng” theo ông Tính là vì, lời của con gái và cháu ngoại của gia đình luật sư muốn bảo tàng sửa cho đúng tên của bố, ông ngoại mình.

Công văn cũng viện dẫn một số tài liệu minh chứng khác mà hiện nơi này còn lưu giữ được. Theo ông Chu Đức Tính: “Bảo tàng Hồ Chí Minh đã nhiều lần đính chính trên tạp chí, báo và các phương tiện thông tin đại chúng, song không có kết quả. Mình không nói ai đúng sai, nhưng thiết nghĩ đây là việc cần làm để thể hiện sự tôn trọng với gia đình luật sư. Hơn nữa, trước đó, chính Bác Hồ đã có chắp bút viết tên luật sư như vậy rồi (tức Lôdơbi – PV)”.

PGS.TS Vũ Thị Thanh Hương, Trưởng phòng Ngôn ngữ học ứng dụng, Viện Ngôn ngữ học Việt Nam cho rằng: “Nếu đọc sai tên cũng tức là không tôn trọng người đó đúng mức. Tên gọi là một phần quan trọng của bản sắc cá nhân. Khi gia đình luật sư có đề nghị sửa cách gọi tên luật sư thì đây là chứng cớ xác đáng để sửa, nên sửa.

Đôi khi ta phát âm sai tên người nước ngoài vì chưa biết chính xác cách đọc tên đó của người bản ngữ. Tôi nghĩ Bộ GD-ĐT và NXB Giáo dục không khó khăn gì để sửa cả”.

Cần sửa không?

Trong cuộc trao đổi ngắn với VietNamNet, ông Nguyễn Quý Thao, Tổng biên tập NXB Giáo dục cho biết: “Chúng tôi đã nhận được kiến nghị của phía Bảo tàng Hồ Chí Minh. Hiện NXB đang xem xét, họp để thống nhất phương án trình lên Bộ GD-ĐT cho ý kiến cuối cùng.

Tuy nhiên, hiện nay việc phiên chuyển tên nước ngoài dù có quy định nhưng thực hiện lại không thống nhất. Sửa SGK không khó nhưng nó ảnh hưởng đến cả hệ thống nên cần phải thận trọng, không thể vội vàng”.

PGS.TS Vũ Thị Thanh Hương cho biết: “Từ những năm 60 – 70 của thế kỷ XX, Nhà nước, mà cụ thể ở đây là Ủy ban Khoa học Việt Nam đã có những cuộc họp, hội thảo và quy định về việc phiên âm tên riêng, tiếng nước ngoài. Tuy nhiên, việc phiên chuyển tên riêng nước ngoài ở ta vẫn còn nhiều chỗ chưa thống nhất, rất cần được chuẩn hóa.

Hơn bao giờ hết, chúng ta cần có một bộ quy tắc về việc phiên âm tên riêng, thuật ngữ khoa học để mọi người cùng sử dụng, tránh tình trạng rối ren như hiện nay. Đấy cũng là cách bảo vệ sự trong sáng của tiếng Việt.

Trao đổi với VietNamNet, một số giáo viên giảng dạy môn Lịch sử và tiếng Anh trong trường THPT đều cho rằng họ vẫn đọc và dạy học sinh tên của vị luật sư là “Lôdơbai”, có giáo viên còn ngạc nhiên khi biết vị luật sư này tên “Lôdơbi”.

Cô Lê Thị Thu, giáo viên dạy Lịch sử, Trường Nguyễn Tất Thành (quận Cầu Giấy, Hà Nội) cho biết: “Tên của vị luật sư và nội dung bài học này nằm trong một phần nhỏ của SGK môn Lịch sử lớp 12. Lâu nay, chúng tôi vẫn đọc và dạy học sinh là Lôdơbai”.

“Chúng tôi không có chuyên môn về ngoại ngữ nên chủ yếu là qua đọc tài liệu và xem trên TV. Và mọi người thì vẫn đọc là Lôdơbai thôi” – cô Phạm Thị Thủy, một giáo viên môn Lịch sử khác cũng của trường này chia sẻ.

Không quen với việc sử dụng phiên âm tiếng Anh sang tiếng Việt nhưng cô Nguyễn Hương Thảo, giáo viên dạy tiếng Anh của trường cũng khẳng định cần phải đọc âm cuối tên riêng của vị luật sư người Anh này là “bai”.

*****************************

Vụ Án Nguyễn Ái Quốc Ở Hồng Kông / 2023

Sau Đại hội lần thứ V của Quốc tế Cộng sản (1924), với tư cách Ủy viên Ban phương Đông, phụ trách Cục phương Nam – một thành viên chính thức của Quốc tế Cộng sản, Nguyễn Ái Quốc được cử đến Trung Quốc để chỉ đạo phong trào cách mạng ở một số nước Châu Á. Tháng 11- 1924, Nguyễn Ái Quốc tới Quảng Châu và bắt đầu triển khai hoạt động về các nước Đông Nam Á.

I. Diễn tiến vụ án

1. Tới nửa đầu năm 1930, Nguyễn Ái Quốc đã hoàn thành bước đầu một số công tác ở các nước (Xiêm, Malaysia, Indonesia, Singapore…). Sau khi thoát khỏi cuộc vây bắt ở Singapore, đầu tháng 5 – 1930, Nguyễn Ái Quốc trở lại Hồng Kông. Lúc này, Hồng Kông là một thành phố “bỏ ngỏ”, chính quyền nơi này không đòi hỏi những người đến đây phải làm những thủ tục nhập cảnh phức tạp. Ở đây các tổ chức dân chủ đều có thể tồn tại tương đối tự do, những người thuộc các dân tộc khác nhau có thể đến cư trú nếu họ bị chính quyền nước họ truy nã vì hoạt động chính trị.

2. Trong thời gian ở Hồng Kông, giấy căn cước của Nguyễn Ái Quốc mang tên Trung Quốc là Tống Văn Sơ. Địa chỉ thường trú là số nhà 186 Tam Kung. Nơi đây là cơ sở bí mật, có mật hiệu an toàn cho các đồng chí đến liên lạc cảnh báo để không bị bắt. Tổng hợp những tài liệu tịch thu được ở Sài Gòn, Singapore, Thượng Hải, mật thám Pháp đã phối hợp với mật thám Anh tìm ra được địa chỉ này của Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông.

3. Sáng sớm, ngày 6-6-1931, khi Nguyễn Ái Quốc còn đang rửa mặt, một nữ đồng chí khác đang quét nhà, thì cửa lớn bị xô mạnh bật ra: Một tốp cảnh sát ập vào xích tay cả hai người và lục soát. Không tìm được chứng cứ gì. Cả hai bị dẫn ra xe đưa về Sở Cảnh sát Hồng Kông. Nguyễn Ái Quốc bị giam ở đây suốt một tuần. Khi bị bắt, qua thẩm vấn của Thư ký Trung Hoa vụ ở Hồng Kông, Nguyễn Ái Quốc khai tên là Tống Văn Sơ, sinh tại Trung Quốc. Ngày 12-6 cảnh sát đưa Nguyễn Ái Quốc chuyển về nhà tù Victoria và giam ở đây suốt gần hai năm, từ tháng 6-1931 đến tháng 1-1933.

4. Sau khi Nguyễn Ái Quốc bị bắt ở Hồng Kông, các giới chức của Pháp ở Đông Dương và các Bộ trưởng ở chính quốc tỏ thái độ chúc tụng, mừng rỡ; đồng thời vạch kế hoạch vận động chính quyền Hồng Kông giao Nguyễn Ái Quốc cho Pháp bằng cách dẫn độ về Việt Nam để thi hành bản án tử hình vắng mặt mà Tòa án Vinh (Nghệ An) đã tuyên từ tháng 10 – 1929. Nếu không được thì giam giữ Nguyễn Ái Quốc ở một thuộc địa xa xôi nào đó của Anh, không để Nguyễn Ái Quốc tiếp tục hoạt động và tuyệt đối tránh trả tự do cho Nguyễn Ái Quốc bằng mọi giá.

II. Luật sư tham gia bào chữa từ giai đoạn điều tra – Cãi vì nghề chứ không vì tiền

1. Sáng ngày bị bắt (6-6-1931), trong lúc bị dẫn về Sở Cảnh sát Hồng Kông, Tống Văn Sơ đã gặp Hồ Tùng Mậu từ trong tù được thả bước ra. Nguyễn Ái Quốc kịp đưa mắt ra hiệu cho Hồ Tùng Mậu. Hồ Tùng Mậu hiểu ý và ngay sau đó đã đến gặp ông Francis Henry Loseby – một luật sư dân chủ tiến bộ người Anh, đang hành nghề ở Hồng Kông nhờ giúp đỡ.

2. Ngày 8-6, Luật sư Loseby quyết định đi tìm gặp Tống Văn Sơ ở trại giam. Với lương tâm nghề nghiệp, luật sư tự coi mình có nghĩa vụ bảo vệ thân chủ người Đông Dương này. Đến Sở Cảnh sát người ta từ chối không tiếp ông. Mấy hôm sau, luật sư lại đến, người ta nói không bắt ai là Tống Văn Sơ cả. Mãi đến ngày 25-6, do đòi hỏi kiên quyết, Luật sư Loseby mới được cho gặp Tống Văn Sơ. Hai người trao đổi với nhau bằng tiếng Anh khá lâu. Luật sư biết được một số chi tiết quan trọng: Tống Văn Sơ mướn nhà 186 Tam Kung. Khi bị bắt, trong người và trong nhà không có tài liệu gì. Lúc bắt người, cảnh sát không đọc lệnh, thực tế lúc này chưa có lệnh bắt của ủy viên công tố…

3. Qua tiếp xúc, Tống Văn Sơ cảm ơn luật sư, nhưng thật thà bảo với luật sư rằng mình không có tiền để nhờ luật sư cãi. Luật sư Loseby nói: “Tôi cãi hộ ông vì danh dự chứ không nhất thiết chỉ vì tiền. Ông chỉ cần nói cho tôi nghe những điều gì mà tôi có thể dựa vào đấy để bênh vực cho ông. Ông sẽ cùng tôi bàn bạc những công việc sắp đến. Tôi tin rằng ông sẽ giúp đỡ tôi nhiều…”.

III. Kỹ năng tranh tụng: Bảo vệ thân chủ bằng pháp luật

1. Từ hơn 3 thế kỷ trước, Đạo luật Hapeas Corpus được Viện dân biểu Anh thông qua vào năm 1679, quy định mọi người đều phải được đưa ra xem xét có tội hay không để sau đó nhà nước mới có quyền thực hiện việc giam giữ người đó. Đây là văn kiện mang hiến tính, đặc biệt quan trọng bổ sung cho Đại Hiến chương Magna Carta năm 1215 vào “hiến pháp tục lệ” của Vương quốc Anh nhằm bảo đảm tự do cá nhân, tránh tình trạng bắt bớ trái phép.

2. Việc bắt Nguyễn Ái Quốc đã được tiến hành bí mật. Nhưng sau đó báo chí đã đưa tin, phanh phui dồn dập nên việc đưa Nguyễn Ái Quốc ra tòa xét xử công khai là việc “chẳng đặng dừng”. Có thể nói đây là lần đầu tiên trong lịch sử thuộc địa, Tòa án tối cao phải xét xử một án chính trị, cũng là dịp cho ông Nguyễn được tạm rời xà lim trong mấy tiếng đồng hồ.

3. Từ tháng 7 đến tháng 9 -1931, Nguyễn Ái Quốc ra tòa 9 lần. Phiên tòa dưới sự chủ trì của thẩm phán Joseph Kemp (Chánh án) và thẩm phán Justice Lindsell (Phó Chánh án) với hai công tố viên C.G. Alabaster và Somerset Fitzroy (Đại diện Hoàng gia). Hai luật sư bào chữa là luật sư F.H. Loseby, Trưởng Văn phòng luật sư Russ và Cộng sự (Russ & Co) và Luật sư F.C.Jenkin (trực tiếp bào chữa trước tòa theo ủy nhiệm của Luật sư Loseby). Bị cáo Tống Văn Sơ có mặt tại phiên tòa suốt từ đầu tới cuối, còn bị cáo Lý Tam đến ngày thứ ba (15-8) đã được phóng thích vì tòa xét thấy không có chứng cứ buộc tội.

4. Qua các buổi đăng đường xét xử, công tố viên luôn tìm cách buộc tội Tống Văn Sơ là cộng sản, là gián điệp của Mátxcơva đến Hồng Kông với mục tiêu phá hoại, nguy hiểm cho an ninh, trật tự của Hồng Kông. Công tố viên yêu cầu Hội đồng xét xử tuyên phạt bị cáo nhiều năm tù hoặc ít ra cũng phải trục xuất về Đông Dương. Trong khi đó, qua tranh tụng luật sư khi bào chữa cho Tống Văn Sơ cố tập trung vào ba điểm pháp lý cơ bản: Một là, việc bắt Tống Văn Sơ là bất hợp pháp, vì bị cáo thực tế bị bắt ngày 6-6 nhưng mãi đến ngày 12-6, Thống đốc Hồng Kông mới ký lệnh bắt (bắt người đang bị tạm giam). Hai là, nhân viên thẩm vấn lấy cung bất hợp pháp, đặt ra cho bị cáo những câu hỏi vượt ra ngoài phạm vi thẩm vấn luật định, đã hỏi quá 7 câu hỏi luật định và sau khi hỏi cung đã lập ra một tờ khai cung giả mạo đang có trong bút lục hồ sơ. Ba là, yêu cầu của phía công tố đòi trục xuất bị cáo về Đông Dương nơi bị cáo đã bị án tử hình, cũng là trái luật. Vì theo pháp luật hiện hành, việc trục xuất chỉ áp dụng đối với thần dân của Vương Quốc Anh, còn Tống Văn Sơ là dân của nước khác không thể áp dụng…

5. Sau 9 ngày xét xử, ngày 11 -9-1931 Tòa tuyên hủy bỏ mọi điều buộc tội Tống Văn Sơ. Tuy nhiên, Tống Văn Sơ vẫn bị trục xuất khỏi Hồng Kông và phải trở về Đông Dương. Ngày hôm sau, 12-9, Luật sư Jenkin giúp bị cáo nộp bản kháng án lên Hội đồng Cơ mật với các luận cứ là: cơ quan hành pháp đã có hành vi lạm quyền, ban hành lệnh trục xuất giả dối trên cơ sở chứng cứ giả, do đó lệnh trục xuất không có giá trị; theo luật Hapeas Corpus, bị cáo phải được thả…Hội đồng xét xử chấp thuận cho bị cáo kháng án lên Hội đồng Cơ mật ở Luân Đôn và chỉ thị hồ sơ vụ án phải được chuẩn bị hoàn tất gửi đi trong vòng ba tháng.

IV. Kết thúc vụ án: Nguyễn Ái Quốc về lại Liên Xô

1. Trong quá trình tiếp tục tham gia vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông, sau khi Nguyễn Ái Quốc đã nộp kháng cáo đến Hội đồng Cơ mật, có luật sư Denis Noel Pritt (đại diện cho Tống Văn Sơ) và luật sư Richard Stafford Cripps (đại diện cho Bộ thuộc địa Anh). Hai bên luật sư đã hòa giải và cùng đi đến thỏa thuận như sau: Người kháng án (Tống Văn Sơ) rút đơn kháng án với cam kết của chính quyền Hồng Kông: 1. Bỏ việc chỉ định “tàu biển” trong lệnh trục xuất; 2. Trong bất cứ trường hợp nào cũng không giao người kháng án cho Pháp hoặc đến một lãnh thổ do Pháp bảo hộ hoặc xuống một tàu biển của Pháp; 3. Chính quyền Hồng Kông sẽ hết sức cố gắng để bảo đảm rằng người kháng án sẽ đến được nơi họ muốn đến; 4. Chi 250 bảng Anh cho phí tổn của người kháng án.

3. Như vậy là theo quyết định của Hội đồng Cơ mật, Tống Văn Sơ (Nguyễn Ái Quốc) phải rời khỏi Hồng Kông nhưng được lựa chọn đến nơi nào Nguyễn Ái Quốc muốn. Ý nghĩa nội dung của quyết định này là: Thứ nhất, tuyệt đối không có gì chứng tỏ rằng ông Nguyễn là tay sai của Liên Xô. Thứ hai, không có chứng cứ ông Nguyễn muốn phá hoại Hồng Kông. Thứ ba, cộng sản hay quốc gia điều đó không phải là một tội phạm trước pháp luật Anh.

4. Nhờ sự tận tình giúp đỡ của luật sư, Tòa án đã không đủ chứng cứ kết tội và đã phải trả tự do cho bị cáo – dù việc đó họ không bao giờ muốn mà vẫn phải tuân theo pháp luật. Trong cuộc hành trình Nguyễn Ái Quốc rời khỏi Hồng Kông, vợ chồng luật sư Loseby tiếp tục giúp đỡ Nguyễn Ái Quốc vượt qua được nhiều khó khăn “hậu vụ án” mà cảnh sát, mật thám Anh, Pháp vẫn còn cố đeo bám gây trở ngại cho ông.

5. Trong khi đó, báo chí và dư luận đồn Nguyễn Ái Quốc đã chết trong tù vào năm 1932: Báo Đông Pháp ngày 3-7-1932, Ngọ Báo ngày 3-7-1932, Đuốc Nhà Nam ngày 23-7-1932… Riêng Báo Nhân đạo (L’Humanité) – Cơ quan của Đảng Cộng sản Pháp ngày 9-3-1932 cũng đăng bài “Nguyễn Ái Quốc, người sáng lập Đảng Cộng sản Đông Dương, đã chết trong tù” đưa tin Nguyễn Ái Quốc đã chết vì bệnh lao phổi trong trạm xá thuộc nhà tù Hồng Kông.

6. Nguyễn Ái Quốc đã rời Hồng Kông đi Hạ Môn (Amoy), rồi Thượng Hải và đáp tàu từ Thượng Hải đi Vladivostok, rồi về Matxcơva (1934). Sau hơn hai năm bị giam giữ, Nguyễn Ái Quốc lại trở về với những đồng chí cộng sản của mình trong đại gia đình vô sản thế giới.

“Ba năm lưu lạc linh đinh

Nay đã trở lại trong đại gia đình công nông!”

Có được kết thúc như vậy, sự đóng góp của luật sư không phải nhỏ. Luật sư phục vụ với cả tấm lòng, kỹ năng hành nghề sắc bén và dựa vào quy chế hành nghề luật sư lúc đó.

(Bài viết này lấy từ nguồn sách “Truyền thống Luật sư Việt Nam” của các tác giả Phan Đăng Thanh – Trương Thị Hòa, Nhà xuất bản tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh.)

Thêm Tư Liệu Về Vụ Án Nguyễn Ái Quốc Ở Hồng Kông / 2023

Khi nghiên cứu vụ nhà cầm quyền Hồng Kông bắt giam nhà cách mạng Tống Văn Sơ (tên khác của Nguyễn Ái Quốc) tại Hồng Kông năm 1931, rồi sau đó vụ luật sư Loseby cãi trắng án và tạo điều kiện cho Người trốn thoát sự theo dõi của mật thám Pháp, trở lại Liên Xô năm 1933.

Câu chuyện có chi tiết: Nhà cầm quyền Hồng Kông báo cáo về Anh Quốc chứ tại Hồng Kông không có thẩm quyền tha bổng bị cáo. Sau khi có quyết định từ “Mẫu quốc”, nhà cầm quyền ở Hồng Kông mới thực hiện trả tự do cho Nguyễn Ái Quốc. Trước nay chưa biết, tại Anh Quốc ai là người quyết định trả tự do cho Tống Văn Sơ? Vừa qua trên BBC Tiếng Việt có bài “Bộ trưởng Anh từng thả Hồ Chí Minh” của Nguyễn Giang. Nhận thấy đây là một nguồn giúp các nhà nghiên cứu về Chủ tịch Hồ Chí Minh tham khảo; mặt khác cho người đọc thấy rõ dù tác giả là người không thích Cộng sản nhưng đã phải nhìn nhận:

“Bản thân bị cáo cũng gây ấn tượng tốt trước các quan tòa Anh vì nói tiếng Anh lưu loát và nhấn mạnh ông là một nhà hoạt động dân tộc và vì thế mà đã bị chính quyền Pháp kết án ở An Nam”. Bài này cũng góp phần phản bác lập luận của những kẻ rêu rao, xuyên tạc rằng: Nguyễn Ái Quốc đã chết trong nhà tù ở Hồng Kông, Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh là người Tàu do Trung Cộng đưa thay thế…

“Nhưng ở Việt Nam có lẽ không có nhiều người biết đây là vị luật sư cao cấp nhất của Anh, thành viên Viện Cơ Mật, hàm bộ trưởng, cũng chính là người đã quyết định thả Nguyễn Ái Quốc khỏi nhà tù ở Hong Kong.

Các tài liệu ở Việt Nam chủ yếu nhắc đến luật sư Anh Francis Loseby (1883-1967), người giúp Nguyễn Ái Quốc thoát khỏi thuộc địa Anh khi đó mà không rơi vào tay Pháp.

Vợ và con gái ông Loseby năm 1960 có sang Hà Nội thăm Hồ Chí Minh (Chuyến thăm này có cả ông luật sư Loseby nữa – NXB chú thích).

Trong các tài liệu đã đăng ở Việt Nam, gồm bài của Lady Borton, người ta còn nhắc đến một luật sư nữa, Francis Jenkin (1883-1936), đại diện cho bị cáo trong vụ Tống Văn Sơ – một tên gọi của Hồ Chí Minh. Vụ án này tên là Sung Man Cho Vs. The Superuntendent of Prisons, được xử trước tòa Hong Kong.

Theo luật sư Anh, ông Loseby là “solici tor” tức luật sư đại diện cho thân chủ, còn ông Jenkins là “barrister”, trạng sư đại diện cho vụ việc trước tòa.

Nhưng người quan trọng nhất chính là Sir Stafford Cripps, quan chức Anh đã quyết định thả người bắt ở Hong Kong năm 1931 khi mang tấm hộ chiếu cấp tại Singapore ghi tên Tống Văn Sơ, quốc tịch Trung Hoa.

Hai ông luật sư Anh lập luận rằng các hoạt động của Tống Văn Sơ tại Hong Kong không có gì phương hại cho chính quyền Anh Quốc, và đề nghị tòa bác bỏ đề nghị của Pháp muốn Anh trao nộp đối tượng “hoạt động lật đổ” cho họ.

Tư tưởng thiên tả

Bản thân bị cáo cũng gây ấn tượng tốt trước các quan tòa Anh vì nói tiếng Anh lưu loát và nhấn mạnh ông là một nhà hoạt động dân tộc và vì thế mà đã bị chính quyền Pháp kết án ở An Nam.

Điều cần hỏi ngày nay là vì sao, khi vụ việc được chuyển lên đến Viện Cơ mật tại Anh, Sir Richard Cripps (1889-1952) ở cương vị quan chức pháp lý cao nhất của Đế quốc Anh khi đó đã có quyết định thuận lợi cho Tống Văn Sơ?

Ở đây, tôi phải nói thêm sự đa dạng và phức tạp của sinh hoạt chính trị, xã hội và tôn giáo của giới trí thức quý phái Anh Quốc để các bạn thấy động cơ của Sir Stafford Cripps trong quyết định cho thả Nguyễn Ái Quốc.

Sinh ra trong gia đình giàu có, ông Stafford Cripps học trường UCL (nay có khá nhiều sinh viên Việt Nam), ra làm trạng sư năm 1912 và tham gia bảo vệ nhiều vụ kiện cho Hội Hồng thập tự hồi thế chiến I, chủ yếu đại diện cho các bệnh nhân.

Nhưng ông cũng là luật sư được trả tiền cao nhất London và là một nhân vật sùng đạo.

Vừa tin theo các ý tưởng cải tạo xã hội kiểu Marxist, vừa vận động cho liên minh quốc tế các giáo hội Phúc Âm và Tin Lành nhằm cải tạo thế giới, ông cũng vào đảng Lao động và là thành viên Hội Fabian, một nhóm cánh tả có ảnh hưởng trong giới trí thức Anh.

Khi được chính phủ phong vào chức “Solicitor-General” tương đương với Trưởng Công tố Quốc gia ở các nước có thể chế cộng hòa như Hoa Kỳ, Pháp, ông cũng nhận tước Hiệp sỹ và trở thành thành viên Viện Cơ mật (Privy Council).

Nhưng vào thời còn Đế chế Anh, Viện Cơ mật còn là cấp tư pháp cao nhất xử các vụ phúc thẩm từ thuộc địa.

Ở cương vị đó, Sir Stafford Cripps đã nhận hồ sơ vụ án Tống Văn Sơ từ Hong Kong và ra quyết định thả người này, hẳn vì các cảm tình với hoạt động của phe chống thuộc địa bên châu Á.

Hiện ta chưa rõ việc tiền bạc trả cho luật sư trong vụ Tống Văn Sơ ra sao nhưng theo tác giả Sophie Quinn-Judge, Cứu tế Đỏ (International Red Aid) một tổ chức thiên tả đã bố trí để luật sư Anh, Frank Loseby đại diện cho thân chủ này.

Sau khi Viện Cơ mật đồng ý thả tự do cho Tống Văn Sơ, vấn đề của phe thiên tả quốc tế và luật sư Anh ở Hong Kong là làm sao cho thân chủ thoát hiểm khỏi Hong Kong.

Họ không muốn ông chịu số phận của Hồ Tùng Mậu và một số nhân vật cách mạng Việt Nam trước đó, bị trục xuất khỏi Hong Kong đến Thượng Hải và bị người Pháp cũng có tô giới nên bắt lại và tống về nhà tù Đông Dương.

Chiến lược bào chữa của họ là dùng một luật sư Anh, Deportation Ordinance, để lập luận tìm giải pháp cho Tống Văn Sơ được tùy chọn điểm đến khi rời Hong Kong.

Một mặt, chính quyền Hong Kong muốn trao nộp nhanh chóng người họ cho là “kẻ xách động nguy hiểm” cho chính quyền Pháp.

Trong vụ việc kéo dài tới tận năm 1933, cuối cùng Nguyễn Ái Quốc được luật sư Loseby giúp cải trang thành một thương nhân Trung Hoa và rời Hong Kong an toàn…

Nguyễn Ái Quốc đã “thoát hiểm” trong bối cảnh đó nhưng ảnh hưởng của cánh tả châu Âu vào chính trị toàn cầu còn kéo dài về sau…

Ở Anh Quốc ngày nay, vụ án về Nguyễn Ái Quốc ở Hong Kong không phải là điều được nói đến nhiều trong cuộc đời của Sir Stafford Cripps.

Nguyễn Xuân Ba (sưu tầm)Tuần Báo Văn Nghệ chúng tôi số 445

Phương Pháp Nghiên Cứu Luật Viết (Ts Nguyễn Ngọc Điện) / 2023

GIỚI THIỆU 

Quy ước về khái niệm luật viết

Luật viết, hiểu theo nghĩa hẹp, là văn bản chứa đựng các quy phạm pháp luật do cơ quan lập pháp ban hành. Trong khung cảnh của luật thực định Việt Nam, các văn bản này bao gồm: Hiến pháp, Bộ luật, Luật, Pháp lệnh của Uỷ ban thường vụ Quốc hội[1], một số Nghị quyết của Quốc hội hoặc của UBTVQH[2].

Trong báo cáo này, luật viết được quy ước như một thuật ngữ mà việc định nghĩa được thực hiện theo hai bước:

1 –  Đó là các văn bản quy phạm pháp luật, nghĩa là văn bản được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành theo thủ tục, trình tự luật định, trong đó có các quy tắc xử sự chung, được Nhà nước bảo đảm thực hiện nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Theo nghĩa đó, thì luật viết là tất cả các văn bản thuộc đối tượng điều chỉnh của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 12/11/1996[3].

2 – Đó là các văn bản quy phạm pháp luật đang có hiệu lực thi hành, tức là những văn bản tạo thành một bộ phận của luật thực định.

Xác định đối tượng nghiên cứu và phân tích. Đối tượng nghiên cứu và phân tích là nội dung của văn bản được gọi là luật viết chứ không phải là trình tự, thẩm quyền ban hành, cũng không phải là kết cấu hình thức của văn bản đó. Về phương diện phương pháp luận, có thể gọi “nội dung của văn bản luật” là kết cấu pháp lý của nó, được hình dung như một tổng thể các quy tắc hiển hiện hoặc tiềm ẩn trong văn bản luật và được sắp xếp theo một trật tự nhất định.

Tùy theo quy mô của từng dự án, từng hoạt động nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu và phân tích có thể là nội dung của toàn bộ văn bản hoặc một phần, một chương, thậm chí chỉ một điều luật trong văn bản. Việc nghiên cứu và phân tích toàn bộ, một phần hoặc một chương của văn bản có thể dẫn đến việc cho ra đời cả một quyển sách (thậm chí một bộ sách); trong khi việc nghiên cứu và phân tích một điều luật thường được thực hiện trong khuôn khổ một bài báo hoặc một bài luận văn về luật. Riêng việc nghiên cứu và phân tích luật viết trong quá trình áp dụng pháp luật sẽ cho ra sản phẩm dưới dạng một hoặc nhiều quy tắc có tác dụng đặt cơ sở cho việc giải quyết các vấn đề được đặt ra trong khuôn khổ vụ việc được người thực hành luật xem xét.

    Sự cần thiết của việc nghiên cứu và phân tích luật viết

    Vai trò quan trọng của luật viết. Trong quan niệm được chấp nhận rộng rãi ở Việt Nam hiện nay, luật viết (được biết dưới một cách diễn đạt khác thông dụng hơn là “văn bản quy phạm pháp luật”) là hình thức đáng tin cậy nhất của pháp luật. Thực ra, đây cũng là quan niệm thống trị trong hầu hết các nước chịu ảnh hưởng của văn hoá pháp lý la tinh. Thậm chí, các nước theo Common law, sau một thời kỳ dài xem án lệ là nguồn cơ bản của hệ thống các quy tắc pháp lý, cũng đã bắt đầu dành cho luật viết sự quan tâm sâu sắc hơn: ở Mỹ, luật viết thực sự là một nguồn quan trọng của luật và quy tắc viết phải là quy tắc được lựa chọn trong trường hợp có sự đối lậûp giữa luật viết và án lệ về cách giải quyết một vấn đề pháp lý cụ thể.

    Trong khung cảnh của luật thực định Việt Nam, luật viết và tục lệ là những nguồn trực tiếp của luật; nhưng luật viết hơn hẳn tục lệ trong thứ tự lựa chọn quy phạm áp dụng cho một trường hợp thực tiễn đặc thù. Người làm luật đã chính thức thừa nhận điều này trong lĩnh vực dân sự (BLDS Điều 14): 1 – Nếu đối với cùng một vấn đề mà cả luật viết và tục lệ đều có quy tắc giải quyết, thì phải lựa chọn quy tắc của luật viết; 2 – Trong trường hợp không có quy tắc của luật viết và phải dùng tục lệ để giải quyết vấn đề, thì phải lựa chọn những quy tắc tục lệ nào phù hợp với những nguyên tắc của luật viết. Hẳn sự thừa nhận đó còn được quán triệt trong tất cả các ngành luật nào công nhận tục lệ như là một nguồn luật, chứ không chỉ riêng luật dân sự, dù không có quy định rành mạch (tương tự như Điều 14 BLDS) trong luật viết ở các lĩnh vực khác.

    Những hạn chế của luật viết. Thế nhưng, cũng như bất kỳ tồn tại khách quan nào, luật viết luôn ở trong tình trạng vận động hướng tới sự hoàn thiện mà không bao giờ đạt đến sự hoàn thiện tuyệt đối. Về phần mình, người làm luật, cũng như tất cả mọi người – nghĩa là có những thiếu sót, những định kiến và những hạn chế về tầm nhìn, tầm suy nghĩ – không thể dự kiến tất cả mọi tình huống pháp lý có thể xảy ra trong cuộc sống, những khó khăn có thể xuất hiện trong quá trình áp dụng văn bản pháp luật do mình soạn thảo và ban hành, cũng như có thể nhầm lẫn. Có lúc, người làm luật ở Đức đã có ý định dùng luật viết như là công cụ duy nhất để điều chỉnh các quan hệ xã hội cần điều chỉnh; bởi vậy, Bộ luật dân sự Đức đã được soạn thảo với sự tỉ mỉ đến mức có thể được, nhằm đặt cơ sở cho việc giải quyết mọi vấn đề trong cuộc sống dân sự … và người Đức đã không thành công[4]. Sự không rõ nghĩa của câu chữ, sự không đầy đủ của nội dung của một văn bản luôn là căn bệnh cố hữu của văn bản luật, không bao giờ có thể được chữa khỏi, trước hết do:

         – Bản thân ngôn ngữ luôn có những vấn đề tự nhiên về nội hàm. Với tư cách là một công cụ quy ước để tồn trữ và chuyển tải thông tin, ngôn ngữ được coi như một loại tục lệ trong giao tiếp xã hội, giao tiếp sư phạm, giao tiếp giữa quá khứ, hiên tại và tương lai. Nội hàm của từ ngữ phong phú như tư duy và trở thành con dao hai lưỡi khi được sử dụng như là công cụ diễn đạt nội dung của quy phạm pháp luật[5]. Đặc biệt, trong trường hợp diễn đạt không khéo, người soạn thảo văn bản có thể đặt trước người đọc văn bản những câu chữ không rõ nghĩa hoặc được hiểu theo nhiều nghĩa cùng một lúc, và hệ quả là việc áp dụng pháp luật sẽ không được thống nhất, một khi các nỗ lực, tiến hành trong những hoàn cảnh, điều kiện khác nhau nhằm nắm bắt ý chí của người làm luật, cho ra những kết quả không giống nhau. 

    – Số lượng câu chữ của văn bản luôn có giới hạn. Không thể có văn bản vô hạn về số lượng câu chữ; và một hình thức có giới hạn thể hiện một nội dung có giới hạn. Bởi vậy, văn bản luôn chỉ có một số lượng giới hạn các quy tắc, trong khi các quan hệ xã hội cần điều chỉnh phát sinh và phát triển đa dạng. Vả lại, theo một định mệnh nghiệt ngã, văn bản pháp luật luôn ở vị trí người đi sau  trong việc dự liệu các tình huống pháp lý so với thực tiễn áp dụng pháp luật. Lấy một ví dụ: thực tiễn giao dịch hiện đại đã thừa nhận việc mua bán tài sản trên mạng internet vài năm trước khi có các quy tắc pháp lý được ghi nhận trong các hệ thống luật tiên tiến chi phối các giao dịch loại này[7].

    Vai trò của hoạt động nghiên cứu và phân tích luật viết. Đối tượng của hoạt động nghiên cứu và phân tích luật không chỉ có luật viết mà bao gồm tất cả các nguồn của luật. Tuy nhiên, với tư cách là nguồn chủ yếu của luật trong quan niệm Việt Nam, luật viết đồng thời cũng là đối tượng chủ yếu của hoạt động nghiên cứu và phân tích luật ở Việt Nam. Việc nghiên cứu và phân tích luật viết nhằm mục đích làm sáng tỏ luật, làm rõ các quy tắc mà người làm luật muốn thiết lập và bảo đảm tính chính xác của việc áp dụng luật trong thực tiễn. Giá trị ứng dụng của các kết quả nghiên cứu và phân tích luật viết không giống nhau, tuỳ theo tính chất, đặc điểm của mối quan hệ giữa người nghiên cứu và phân tích luật với quyền lực công cộng.

    – Với người được Nhà nước công nhận có thẩm quyền giải thích chính thức luật viết, các kết quả nghiên cứu và phân tích luật viết trở thành nội dung của văn bản giải thích chính thức và văn bản này có tính pháp quy, nghĩa là được Nhà nước bảo đảm thực hiện.

    – Với người không có thẩm quyền giải thích chính thức luật viết, các kết quả nghiên cứu phân tích và giải thích luật viết có giá trị không giống nhau tuỳ theo hoạt động nghiên cứu và phân tích được thực hiện trong hay ngoài khuôn khổ công tác xét xử.

    + Được thực hiện ngoài khuôn khổ công tác xét xử, hoạt động nghiên cứu và phân tích luật viết cho ra kết quả nội dung của các công trình nghiên cứu khoa học luật và là nguồn tài liệu tham khảo đối với người làm luật cũng như người thực hành luật;

    + Được thực hiện trong khuôn khổ công tác xét xử, hoạt động nghiên cứu và phân tích luật viết cho ra kết quả có tác dụng đặt cơ sở cho bản án hoặc quyết định của Toà án.

    Thuộc nhóm những người nghiên cứu và phân tích ngoài khuôn khổ hoạt động xét xử  ta có người nghiên cứu, giảng dạy luật, những người thực hành luật có làm công việc tổng kết thành lý luận những thành tựu áp dụng pháp luật trong thực tiễn; ta tạm gọi loại người này là nhà chuyên môn hoặc người nghiên cứu và phân tích chuyên nghiệp. Thuộc nhóm những người nghiên cứu và phân tích trong khuôn khổ hoạt động xét xử, ta có các thẩm phán, hội thẩm, gọi chung là người thực hành luật trong hoạt động xét xử.

    Ở đây ta tập trung xem xét hoạt động của người nghiên cứu và phân tích thuộc nhóm thứ hai.

    Mục tiêu của đề tài. Mục tiêu chuyên môn của dự án nghiên cứu trong khuôn khổ đề tài này là xác định các công cụ khoa học mà người nghiên cứu luật cũng như người thực hành luật ở Việt nam có thể sử dụng để thâm nhập vào nội dung của các quy định trong một văn bản luật nhằm phát hiện ý chí của người làm luật ẩn chứa trong câu chữ của các điều luật.

    Mục tiêu thực tiễn của dự án nghiên cứu trong khuôn khổ đề tài này là góp phần cải thiện chất lượng hoạt động nghiên cứu ứng dụng đối với luật viết, đặc biệt là qua việc làm cho các quy tắc được chứa đựng trong các văn bản được phát hiện và nhìn nhận, góp phần làm sáng tỏ nội dung của các văn bản quy phạm pháp luật. Sự sáng tỏ của luật là một trong những điều kiện cần đối với việc nâng cao tính hiệu quả của luật, đặc biệt là tính chính xác của hoạt động áp dụng pháp luật trong thực tiễn. Việc áp dụng pháp luật chính xác đến lượt mình sẽ tạo điều kiện nâng cao tính thuyết phục của luật đối với dân cư và tính thuyết phục của luật đối với dân cư là điều kiện cần cho việc củng cố, hoàn thiện ý thức pháp luật, ý thức xã hội nói chung.

    Về lâu dài, nhóm nghiên cứu mong muốn giới thiệu các phương pháp nghiên cứu và phân tích luật viết hiện đại có thể được vận dụng trong hoàn cảnh, điều kiện của hoạt động nghiên cứu và hoạt động áp dụng pháp luật tại Việt Nam, qua đó, góp phần nâng cao chất lượng của khoa học luật cũng như chất lượng của các quyết định áp dụng pháp luật, đặc biệt là các quyết định áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử. Việc nâng cao chất lượng của khoa học luật và của các quyết định áp dụng pháp luật là một trong những điều kiện cần thiết cho việc bảo đảm tính hiệu quả của luật trong thực tiễn.

    Trước mắt, nhóm nghiên cứu hy vọng rằng những kết quả đạt được trong khuôn khổ đề tài nghiên cứu này có thể được sử dụng như các công cụ mang tính phương pháp luận trong việc xây dựng, hoàn thiện các công trình nghiên cứu, giáo trình, tài liệu phục vụ giảng dạy về luật tại các cơ sở đào tạo về luật ở Việt Nam.

    Hạn chế của báo cáo. Do đặc điểm riêng về chuyên môn của các thành viên thuộc nhóm nghiên cứu, việc áp dụng các phương pháp được xây dựng trong khuôn khổ đề tài này chỉ được thực hiện chủ yếu trong các lĩnh vực dân sự (kể cả thương mại), hôn nhân và gia đình và, một cách dè dặt, trong lĩnh vực hình sự. Nhóm nghiên cứu hy vọng rằng với sự quan tâm của các nhà chuyên môn trong các lĩnh vực khác, các phương pháp được giới thiệu sau đây sẽ sớm được xem xét sử dụng một cách phổ biến trong hoạt động nghiên cứu và phân tích luật viết trong nhiều lĩnh vực.

    Bố cục. Báo cáo được xây dựng thành ba phần

    Phần thứ nhất.            Các kết quả đạt được theo nội dung thuyết minh đã đăng ký

    Phần thứ hai. Các kết quả mới nổi bật

    Phần thứ ba.               Kiến nghị sử dụng các kết quả đạt được   

    [1] Theo Hiến pháp, UBTVQH được phép thực hiện chức năng lập pháp của Quốc hội bằng cách ban hành những Pháp lệnh về những vấn đề được Quốc hội giao ( Hiến pháp năm 1992 Điều 91 khoản 4).

    [2] Ngoài Hiến pháp, Bộ luật và Luật, các văn bản được liệt kê trong định nghĩa luật theo nghĩa hẹp đưọc gọi là các văn bản có giá trị như luật.

    Dẫu sao, nghiên cứu và phân tích luật viết, được hiểu như là một hoạt động nhằm xây dựng học thuyết pháp lý, chỉ quan tâm đến các văn bản có hiệu lực áp dụng trong phạm vi cả nước, nghĩa là các văn bản do các cơ quan có thẩm quyền cấp trung ương ban hành.

    [4] Mazeaud và Chabas, LeVons de droit civil, Montchrestien, 1986, T. 1, q.1, số 93.

    [5] Trong khoảng hơn 10 năm trở lại đây, các văn bản pháp luật quan trọng ở Việt Nam đều dành riêng một điều luật thuộc phần đầu để giải thích một số thuật ngữ quan trọng được sử dụng trong chính văn bản đó. Đây là một trong những nỗ lực của người làm luật nhăm lọai trừ khả năng hiểu một thuật ngữ pháp lý theo nhiều nghĩa, dẫn đến việc giải thích các điều luật không giống nhau và việc áp dụng cùng một quy tắc pháp lý theo nhiều cách khác nhau.

     Tuy nhiên, số lượng các thuật ngữ được giải thích chỉ có giới hạn. Điều luật về giải thích thuật ngữ, nói chung, không giúp giải quyết được một cách cơ bản vấn đề giải thích luật.

    [6] Về một phân tích chi tiết ví dụ này: Nguyễn Ngọc Điện, Thừa kế, nxb Trẻ, 1999, tr. 568 và kế tiếp.

    [7] Ở Việt Nam, việc mua bán trên internet chưa được phổ biến lắm.

    TOÀN BỘ BÁO CÁO: [PDF] Phương pháp nghiên cứu luật viết