Luật Thơ Đường Tứ Tuyệt / TOP #10 Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 8/2022 # Top View | Bac.edu.vn

Cách Làm Thơ Thất Ngôn Tứ Tuyệt Đường Luật

--- Bài mới hơn ---

  • [Kỹ Năng Làm Thơ
  • Trường Cđsp Quảng Trị Mobile
  • Hướng Dẫn Cá Cược Bóng Chày Tại Các Nhà Cái
  • Luật Chơi Cá Cược Bóng Chày Chi Tiết
  • Công Ước Luật Biển Của Liên Hợp Quốc Năm 1982
  • 5

    /

    5

    (

    1

    bình chọn

    )

    Thơ Tứ Tuyệt là thể thơ gì?

    Thơ tứ tuyệt đã có từ lâu, trước khi có thơ thất ngôn và ngũ ngôn bát cú. Đầu tiên, thơ tứ tuyệt có nghĩa khác với nghĩa hiện tại: “tứ” là bốn và “tuyệt” có nghĩa là tuyệt diệu. Bài thơ chỉ có 4 câu mà diễn tả đầy đủ ý nghĩa của tác giả muốn trình bày nên người ta mới gọi 4 câu thơ đó là tứ tuyệt.

    Tuy nhiên, sau khi có thơ thất ngôn và ngũ ngôn bát cú (luật thi) vào đời nhà Đường, thì thơ tứ tuyệt lại phải được làm theo quy tắc về niêm, vần, luật, đối của lối thơ thất ngôn hay ngũ ngôn bát cú. 

    Vì vậy, sau này người ta giải thích chữ “tuyệt” là ngắt hay dứt. Nghĩa là thơ tứ tuyệt là do người ta làm theo cách ngắt lấy 4 câu trong bài bát cú để làm ra bài tứ tuyệt. Do đó niêm, vần, luật, đối của bài tứ tuyệt phải tùy theo cách ngắt từ bài bát cú mà thành.

    Thơ tứ tuyệt có 2 thể là luật trắc vần bằng và luật bằng vần bằng. Mỗi thể đều có một Bảng Luật coi như ”công thức” căn bản mà người làm thơ phải tuân theo.

    * Bằng ( huyền, không )

    * Trắc ( sắc, nặng, hỏi, ngã)

    Phân biệt thơ Đường luật và thơ Đường

    Thơ Đường Luật và thơ Đường

    – Thơ Đường luật (ĐL): là thơ làm theo Thi luật đặt ra từ đời nhà Đường bên Tàu.

    – Thơ Đường hay Đường thi: là những bài thơ của các thi sĩ Trung Hoa làm dưới thời nhà Đường, nổi tiếng nhất là 300 bài được gọi là Đường thi tam bách thủ. Trong số đó có một số được làm theo thể thơ ĐL, số còn lại làm theo thể thơ khác, phần lớn là thơ Cổ phong.

    Thơ ĐL chia làm 2 loại: thất ngôn mỗi câu có 7 chữ, ngũ ngôn mỗi câu có 5 chữ. Bài thơ nào có 8 câu thì gọi là bát cú, có 4 câu thì là tứ tuyệt.

    Âm, thanh và vần trong tiếng Việt

    Âm

    Tiếng Việt có 29 mẫu tự, tạo thành 10 nguyên âm (a, e, ê, i, o, ô, ơ, u, ư, y), 2 bán nguyên âm (ă, â) và 16 phụ âm đơn (b, c, d, đ, g, h, k, l, m, n, p, r, s, t, v, x), 9 phụ âm kép (ch, gi, kh, ng, nh, ph, qu, th, tr) không kể các phụ âm gh, ngh vì chữ h thêm vào chỉ có hình thức mà không đọc.

    Âm là cách đọc của một chữ, được cấu tạo bằng một mẫu tự , hoặc cụm mẫu tự, mà không kể đến phụ âm đứng phía trước. 

    Thí dụ: Inh, Hình, Tình, Tính, Tịnh, Vĩnh, Khinh … các chữ này đều mang âm INH, nhưng khác các phụ âm đầu và dấu giọng.

    Thanh

    Tiếng Việt có 5 dấu giọng (sắc, huyền, hỏi, ngã, nặng) cùng với tiếng không có dấu tạo thành 8 thanh, chia làm 2 nhóm:

    – Thanh Bằng gồm có:

    Phù bình thanh: gồm những chữ không mang dấu (thí dụ: đêm, vương)

    Trầm bình thanh: gồm những chữ mang dấu huyền (thí dụ: sầu, tiền)

    – Thanh Trắc gồm có:

    Phù khứ thanh: gồm những chữ mang dấu ngã (thí dụ: nỗi, mỹ)

    Trầm khứ thanh: gồm những chữ mang dấu hỏi (thí dụ: cỏ, chuyển)

    Phù nhập thanh: gồm những chữ mang dấu sắc mà tận cùng bằng phụ âm c, t, ch hay p (thí dụ: bích, sắc)

    Phù thượng thanh: gồm những chữ mang dấu sắc còn lại (thí dụ: ám, chướng)

    Trầm nhập thanh: gồm những chữ mang dấu nặng mà tận cùng bằng phụ âm c, t, ch hay p (thí dụ: thiệt, mập)

    Trầm thượng thanh: gồm những chữ mang dấu nặng còn lại (thí dụ: lạ, mệnh)

    Vần

    Những từ mang cùng âm và cùng loại thanh (trắc hay bằng) được gọi là vần với nhau. Thí dụ chữ lồng vần với chữ ông, chữ đồng và chữ sông; chữ hỗ vần với chữ cố, chữ lộ và chữ sổ; chữ mắt vần với chữ cắt, chữ chặt và chữ bặt, v.v…

    Bảng luật thơ

    Mỗi thể đều có một Bảng Luật coi như “công thức” căn bản mà người làm thơ phải tuân theo.

    TỨ TUYỆT LUẬT TRẮC VẦN BẰNG (không đối)

     

    BẢNG LUẬT: 

    T – T – B – B – T – T – B (vần) 

    B – B – T – T – T – B – B (vần) 

    B – B – T – T – B – B – T 

    T – T – B – B – T – T – B (vần) 

    Ghi chú: Đây là bản chính luật (sẽ có bảng luật bất luận sau). Mới đầu chúng ta nên cố gắng giữ theo chính luật để âm điệu bài thơ được hay. Tuy có bị gò bó nhưng sau nầy sẽ dễ cho chúng ta hơn (trước khó sau dễ). 

    Các chữ cuối của các câu 1-2-4 bắt buộc phải cùng vần với nhau. 

    Bài thơ thí dụ để minh họa: 

    Ví dụ 1:

    Thuở ấy tuy còn tuổi ấu thơ 

    Mà sao vẫn nhớ đến bây giờ 

    Xuân về nũng nịu đòi mua pháo 

    Để đón giao thừa thỏa ước mơ 

    Hoàng Thứ Lang 

    Ví dụ 2:

    Dõi mắt tìm ai tận cuối trời 

    Thu về chiếc lá ngậm ngùi rơi 

    Cay cay giọt lệ sầu chan chứa 

    Mộng ước tình ta đã rã rời 

    Hoàng Thứ Lang 

    Ví dụ 3:

    Một nửa vầng trăng rụng xuống cầu 

    Đôi mình cách trở bởi vì đâu 

    Canh tàn khắc lụn hồn tê tái 

    Đối bóng đèn khuya nuốt lệ sầu 

    Hoàng Thứ Lang

    TỨ TUYỆT LUẬT BẰNG VẦN BẰNG (không đối)

    BẢNG LUẬT: 

    B – B – T – T – T – B – B (vần) 

    T – T – B – B – T – T – B (vần) 

    T – T – B – B – B – T – T 

    B – B – T – T – T – B – B (vần) 

    Ghi chú: Đây là bản chính luật (sẽ có bảng luật bất luận sau). Mới đầu chúng ta nên cố gắng giữ theo chính luật để âm điệu bài thơ được hay. Tuy có bị gò bó nhưng sau nầy sẽ dễ cho chúng ta hơn (trước khó sau dễ). 

    Các chữ cuối của các câu 1-2-4 bắt buộc phải cùng vần với nhau. 

    Bài thơ thí dụ để minh họa: 

    Ví dụ 1:

    Đôi mình cách biển lại ngăn sông 

    Dõi mắt tìm nhau nhỏ lệ hồng 

    Ngắm ánh trăng thề thương kỷ niệm 

    Đêm trường thổn thức nhớ mênh mông 

    Hoàng Thứ Lang 

    Ví dụ 2:

    Đêm nghe tiếng gió nhớ miên man 

    Mộng ước tình ta đã lụn tàn 

    Thánh thót hiên ngoài mưa rả rích 

    Mi buồn lệ ứa mãi không tan 

    Hoàng Thứ Lang 

    Ví dụ 3:

    Rừng phong nhuộm tím cả khung trời 

    Lá úa lìa cành gió cuốn rơi 

    Lối cũ đường xưa em đếm bước 

    Miên man kỷ niệm đã xa vời 

    Hoàng Thứ Lang 

    Luật về Điệu thơ: 

    Điệu thơ là cách xếp đặt các tiếng trong câu thơ sao cho êm tai dễ đọc để bài thơ có âm hưởng du dương trầm bổng như nhạc điệu.

    Điệu thơ gồm có 3 phần chính như sau: 

    1. Nhịp điệu: thơ ĐL nhịp chẵn, ngắt nhịp 2 hoặc 4 tiếng trọn nghĩa. 

    2. Âm điệu: nên làm theo chính luật để bài thơ có âm điệu êm tai trầm bổng. 

    3. Vần điệu: nên gieo vần ở cuối các câu 1-2-4-6-8 xen kẻ tiếng không có dấu và tiếng có dấu huyền để bài thơ khi đọc lên nghe du dương trầm bổng như điệu nhạc. 

    Ngoài ra chúng ta nên cố gắng gieo vần chính vận. Sau này khi “nhuyễn” rồi chúng ta có thể theo thông vận và theo luật bất luận. Muốn cho bài thơ có âm điệu hay thì tiếng thứ 4 và tiếng thứ 7 của những câu luật trắc vần bằng không nên dùng trùng một thanh bằng. Nghĩa là nếu tiếng thứ 4 không dấu thì tiếng thứ 7 phải dấu huyền và ngược lại. Tuy nhiên nếu không tìm được từ nào khác có ý nghĩa hay hơn thì chúng ta dùng trùng cũng được mà vẫn không bị sai luật thơ.

    Âm điệu tiết tấu bài thơ ĐL

    Một bài thơ theo đúng hết quy định bằng trắc của luật thơ đôi khi đọc lên nghe vẫn không xuôi tai, đó là vì sử dụng không khéo các tiếng trầm bổng. Mặc dù chữ có dấu huyền (trầm bình thanh) và chữ không dấu (phù bình thanh) đều là thanh bằng, chúng lại không tương đương nhau về mặt cao thấp khi đặt trong câu. 

    Để câu thơ đọc nghe du dương réo rắt tránh dùng chỉ toàn một loại thanh mà cần phải thay đổi, xen kẽ các thanh này với nhau trong các vần liên tiếp, hoặc trong các chữ trong câu.

    Kết

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thơ 8 Chữ Là Gì, Luật Thơ 8 Chữ, Cách Gieo Vần
  • Thể Thơ Đường Luật Thất Ngôn Bát Cú
  • Cách Làm Thơ Thất Ngôn Bát Cú. Các Lỗi Thông Thường Trong Thơ Đường Luật
  • Đặc Điểm Thơ Năm Chữ
  • Luật An Ninh Quốc Gia Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam
  • Thơ Thất Ngôn Tứ Tuyệt Đường Luật Là Gì? Khái Niệm Đặc Điểm

    --- Bài mới hơn ---

  • Áp Thuế Phòng Vệ Thương Mại Ngành Mía Đường: Cần Hợp Lý, Đúng Pháp Luật Và Cam Kết Quốc Tế!
  • Có Thể Xin Mở Đường Dân Sinh Không Nằm Trong Quy Hoạch Được Không?
  • Công Ty Luật Tnhh Nam Dương
  • 35. Đường Luật Sớ Nghị – Nền Tảng Của Pháp Luật
  • “Quốc Triều Hình Luật” Đỉnh Cao Của Thành Tựu Luật Pháp Việt Nam Thời Phong Kiến
  • I)Khái niệm:

    Về thể thơ thất ngôn tứ tuyệt đường luật thì chúng ta sẽ có 4 câu thơ trong mỗi bài,mỗi câu gồm có 7 chữ trong đó các câu 1,2,4 hoặc chỉ là câu 2,4 sẽ hiệp vần với nhau ở chữ cuối,như vậy cả bài thơ chúng ta sẽ có tất cả là 28 chữ.Thất ngôn tứ tuyệt theo đường luật có nghĩa sẽ có quy luật nghiêm khắc về Luật,Niêm và Vần,Vì thế bài thơ sẽ có bố cục rất rõ ràng.Về luật thơ thì những câu 1,3,5 chúng ta có thể tự do viết theo mạch cảm xúc không cần chú ý nhiều nhưng những câu 2,4,6 sẽ cần phải theo quy luật bằng trắc của thể thơ.Bốn câu trong bài theo thứ tự là các câu: khai, thừa, chuyển, hợp.Thơ tứ tuyệt cũng có nghĩa tác giả phải làm sao chỉ trong 4 câu thơ phải truyền tải cảm xúc và tinh thần bài thơ theo cách tuyệt vời nhất đến cho những người thưởng thức và đọc nó.Cũng có thể hiểu rằng chứ ‘’Tuyệt’’ là lấy ra ‘’tứ’’ là 4 câu có nghĩa là thơ tứ tuyệt là bản sao thu nhỏ của thơ bát cú là một nữa của thơ bát cú vì lấy ra 4 câu thơ trong bài bát cú để làm ra bài thơ tứ tuyệt nên về cơ bản 2 loại thể thơ này là hoàn toàn giống nhau.

    II) Đặc điểm :

    •Về đặc điểm của thơ thì thơ thất ngôn tứ tuyệt sẽ có nhịp điệu du dương như một bản giao hưởng khiến cho bài thơ sẽ rất dễ đọc nghe sẽ rất êm tai

    •Thơ đường luật sẽ mang nhịp chẵn,ngắt nhịp 2 hoặc 4 tiếng trọn nghĩa

    •Âm điệu nên làm theo chính luật

    •Vần điệu: nên gieo vần ở cuối các câu 1-2-4-6-8 xen kẻ tiếng không có dấu và tiếng có dấu huyền để bài thơ khi đọc lên nghe du dương trầm bổng như điệu nhạc. Ngoài ra chúng ta nên cố gắng gieo vần chính vận. Khi đã thành thạo cách làm thơ rồi chúng ta có thể theo thông vận và theo luật bất luận. Để cho bài thơ có âm điệu hay thì mẹo nhỏ cho các bạn là hãy để tiếng thứ 4 và tiếng thứ 7 của những câu luật trắc vần bằng không nên dùng trùng một thanh bằng. Có nghĩa tiếng thứ 4 không dấu thì tiếng thứ 7 phải là dấu huyền và ngược lại. Đây chỉ là một cách để làm màu mè hơn cho âm điệu hay hơn còn không chúng ta vẫn để bình thường luật thơ vẫn chuẩn và chính xác

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ban Bí Thư Kỷ Luật Trung Tướng Dương Đức Hòa, Nguyên Tư Lệnh Quân Khu 2
  • Đề Nghị Kỷ Luật Trung Tướng Dương Đức Hòa, Nguyên Tư Lệnh Quân Khu 2
  • Công Ty Luật Tnhh Khánh Dương & Cộng Sự
  • Công Ty Luật Tnhh Dương Khôi Minh
  • Bạo Lực Học Đường: Nguyên Nhân Và Những Giải Pháp Phòng Tránh
  • Vài Ý Kiến Trao Đổi Về Niêm Luật Của Thơ Tứ Tuyệt Đường Luật

    --- Bài mới hơn ---

  • Đặc Điểm Nghệ Thuật Cuat Thơ Đường Luật
  • Tôi Học Làm Thơ: Luật Bằng Trắc Trong Thơ 7 Chữ
  • Tập Làm Thơ 7 Chữ
  • Tôi Học Làm Thơ: Luật Bằng Trắc Trong Thơ 8 Chữ
  • Cách Gieo Vần Và Cac Loại Thể Thơ
  • Kiến thức ngày nay số 668 (ra ngày 10/03/2009) có đăng bài “Thơ tứ tuyệt: những đặc trưng thi pháp thể loại” của chúng tôi Nguyễn Công Lý. Tác giả đã cung cấp cho bạn đọc những kiến thức cơ bản nhất của thể thơ tứ tuyệt, đặc biệt là tứ tuyệt Đường luật, loại “hàn lâm” nhất. Để tham gia dự thi và thưởng thức các tác phẩm trong cuộc thi Tứ tuyệt mở rộng của KTNN, việc tham khảo những kiến thức này thiết nghĩ cũng là điều cần thiết. Trong bài viết, tác giả cho biết (dẫn theo nguồn tư liệu từ nhiều nhà nghiên cứu tên tuổi) thể thơ tứ tuyệt Đường luật “được cắt (ngắt) ra từ thơ bát cú Đường luật nên có 5 cách ngắt khác nhau”. Đó là: ngắt 4 câu trên, ngắt 4 câu giữa, ngắt 4 câu dưới, ngắt 2 câu đầu và hai câu cuối, ngắt câu 1 và 2 cùng câu 5 và 6. Phần bàn về kết cấuvần của thể thơ này hoàn toàn đáng tin cậy nhưng phần chỉ dẫn của tác giả dành cho bạn đọc về niêmluật thì chúng tôi vẫn thấy rất băn khoăn. Xin được trao đổi cùng tác giả và rất mong các bậc cao minh chỉ giáo thêm.

    Tác giả viết:

    “Về niêm, bài tứ tuyệt Đường luật yêu cầu câu 1 niêm với câu 4; câu 2 niêm vói câu 3, tức các chữ (tiếng) ở vị trí 2 và 4 (thơ ngũ ngôn) hay 2,4 và 6 (thơ thất ngôn) có thanh bằng hoặc trắc giống nhau, theo lệ “nhất tam ngũ bất luận, nhị tứ (lục) phân minh” mà thi pháp thơ Đường luật đòi hỏi.

    “Về luật, bài tứ tuyệt Đường luật cũng yêu cầu luật bằng trắc như bài bát cú Đường luật. Muốn biết bài thơ viết theo luật trắc hay bằng thì xem chữ (tiếng) thứ 2 của câu một thuộc thanh nào, nếu là thanh trắc thì luật trắc và nếu là thanh bằng thì luật bằng.

    Để tiện bàn luận, chúng tôi xin giới thiệu các vị trí cần phải phân minh của thơ ngũ ngôn bát cú và thất ngôn bát cú Đường luật ( theo “Việt Nam văn học sử yếu” – Dương Quảng Hàm) để bạn đọc tham khảo.

    Về hai điểm kể trên chúng tôi xin có ý kiến như sau:

    Vì “được cắt (ngắt) ra từ thơ bát cú Đường luật ” nên sự phối thanh của thơ Tứ tuyệt (Đường luật) hoàn toàn do luật phối thanh của thơ bát cú quy định, nó là một dạng “mệnh đề kéo theo”. Do vậy, quan niệm “bài tứ tuyệt Đường luật yêu cầu câu 1 niêm với câu 4; câu 2 niêm vói câu 3″ là chưa thỏa đáng vì không hợp logic và cũng không đúng với thực tế. Ta thấy rằng, theo 5 cách ngắt kể trên thì có 4 cách sẽ tạo ra bài tứ tuyệt có câu 1 cùng thanh với câu 4, câu 2 cùng thanh với câu 3 ở các vị trí cần phải phân minh (được “mặc định” khi ta lựa chọn cách ngắt) còn cách “ngắt câu 1 và 2 cùng câu 5 và 6” thì bài tứ tuyệt sẽ có câu 1 giống câu 3 và câu 2 giống câu 4, không thỏa mãn yêu cầu như tác giả viết

    Về luật, chúng ta cũng không thể xác định bài tứ tuyệt là luật bằng hay luật trắc thông qua việc “xem chữ (tiếng) thứ 2 của câu một thuộc thanh nào” cũng vì những lý do trên. Xem hai bảng trên ta dễ dàng nhận thấy nếu bài tứ tuyệt ngắt 4 câu giữa của bài bát cú luật bằng thì tiếng thứ hai của câu 1 sẽ mang thanh trắc và nếu ngắt từ bài bát cú luật trắc thì nó sẽ mang thanh bằng. Chưa kể, nếu chấp nhận cách hiểu này thì chúng ta sẽ phải đề ra 10 loại luật thơ tứ tuyệt (ứng với 5 cách ngắt ) rất phức tạp. Theo chúng tôi, chỉ cần xem xét luật thơ tứ tuyệt căn cứ vào luật thơ bát cú sau khi đã chọn cách ngắt là đơn giản và chính xác nhất. Tất cả những ai đã nắm vững luật thơ thất ngôn bát cú đều dễ dàng suy luận.(*) (Khi giới thiệu các bài thơ minh họa cho mỗi loại tứ tuyệt Đường luật, giáo sư Dương Quảng Hàm luôn lưu ý người đọc “so – sánh với biểu thất ngôn bát cú” tương ứng ).

    Cuối cùng, xin gửi đến mọi người một thắc mắc phát sinh mà bản thân chưa thể tìm ra lời giải đáp. Trong số 5 bài thơ tác giả Nguyễn Công Lý dùng để minh họa cho 5 cách ngắt để tạo nên bài tứ tuyệt Đường luật thì 4 bài có sự phối thanh ở những vị trí phân minh hoàn toàn chính xác với “biểu thất ngôn bát cú” (đấy cũng là những bài thơ mà giáo sư Dương Quảng Hàm đã dùng trong “Việt Nam văn học sử yếu” ) . Riêng bài “Hạnh An bang phủ” mà tác giả Nguyễn Công Lý dùng làm ví dụ cho loại tứ tuyệt ngắt 4 câu dưới thì chúng tôi thấy hoàn toàn không phù hợp với luật phối thanh của bài ngũ ngôn tứ tuyệt nào.

    Hạnh An Bang phủ – Trần Thánh Tông

    Bài thơ này chẳng những không niêm 1- 4, 2-3 như 4 câu cuối của bài ngũ ngôn bát cú mà ngay cả tương quan B – T, T – B ở các vị trí 2 và 4 trong thơ ngũ ngôn cũng bị bỏ qua.

    Phải chăng cha ông chúng ta khi sáng tác theo thể thơ tứ tuyệt Đường luật đã có thể phá cách đến mức chấp nhận “bất luận” hoàn toàn? Vì không đủ khả năng tra cứu trên diện rộng, chúng tôi không thể đưa ra một kết luận nào. Rất mong các nhà nghiên cứu cho ý kiến.

    NGUYỄN ĐỨC THẠCH

    Gv Trường THPT Chu Văn An – Ninh Thuận

    MẸO NHỎ ĐỂ NHỚ LUẬT PHỐI THANH CỦA THƠ THẤT NGÔN BÁT CÚ

    Thể thơ thất ngôn bát cú về phối thanh có luật bằng và luật trắc , tổng cộng là 56*2 vị trí. Ghi nhớ chính xác các thanh bằng – trắc của 128 vị trí không phải là điều dễ dàng. Trong hầu hết các trường hợp, để tìm hiểu luật phối thanh, người ta phải sao chép lại tất cả các vị trí. Tuy nhiên, nếu biết kết hợp tất cả những hiểu biết về niêm luật của thể thơ này và phân tích một cách hợp lý chúng ta vẫn có thể dễ dàng “phục hồi” được luật phối thanh để sử dụng mà không cần sự trợ giúp của bất cứ tài liệu nào. Tôi xin giới thiệu một cách ghi nhớ khá đơn giản để mọi người cùng tham khảo.

    LUẬT PHỐI THANH CỦA THƠ THẤT NGÔN BÁT

    Chúng ta có thể phân tích luật phối thanh theo các bước sau :

    Theo nguyên tắc “nhất tam ngũ bất luận, nhị tứ lục phân minh” ( thực ra thì NGŨ & THẤT cũng phải phân minh) khi làm thơ thất ngôn bát cú người ta cần theo đúng luật ở các vị trí 2,4,6. Đây cũng là các vị trí mà chúng ta buộc phải nhớ khi muốn xem xét bài thơ có đúng luật hay không

    BẢNG 1

    Luật bằng Luật trắc

    BẢNG 2 Luật bằng Luật trắc

    I – Xem BẢNG 2 ta dễ dàng nhận thấy vị trí số 2 luôn khác thanh với vị trí số 4 & số 6 (*). Do đó, luật phối thanh ở các vị trí nói trên trong mỗi câu chỉ có thể là B-T-B hoặc T-B-T mà thôi. Theo luật thơ, ta biết rằng mỗi bài TNBC có 4 cặp niêm (tiếng thứ 2 của chúng cùng thanh ) là 1=8, 2=3, 4=5, 6=7 (**). Như vậy, những câu niêm với nhau chắc chắn sẽ giống nhau ở cả 3 vị trí 2,4,6.

    Từ (*) (**) chúng ta có thể suy ra cách ghi nhớ các vị trí 2,4,6 rất đơn giản.Thay vì phải nhớ 24 vị trí cho mỗi bảng ta chỉ cần ghi nhớ vị trí số 4 của 8 câu là đủ.Với luật bằng thì tiếng thứ tư sẽ là trắc (và ngược lại), sau đó cứ 2 câu sẽ đổi luật 1 lần theo trình tự 1, 2-3, 4-5, 6-7, 8 .

    II – Sau khi đã xác định được các vị trí 2,4,6 chúng ta sẽ ghi tiếp vị trí thứ 7 cho mỗi dòng thơ. Phối thanh của câu thứ 7 ở cả hai luật đều giống nhau Những câu có gieo vần (1,2,4,6,8) tiếng thứ 7 sẽ mang thanh bằng, các câu không gieo vần sẽ mang thanh trắc, chúng ta dễ dàng nhớ được điều này. (Nhớ 1 cách thô sơ nhất, thứ tự từ trên xuống sẽ là B-B-T-B-T-B-T-B).

    (Trong thực tế, để sang tác hay tìm hiểu luật thơ TNBC người ta chỉ cần biết đến BẢNG 3 là đủ. Việc xác định các vị trí còn lại thực chất chỉ là để cho đủ luật mà thôi)

    III- Sau khi đã xác định xong các vị trí 2,4,6,7 chúng ta có thể dễ dàng tìm ra các vị trí còn lại nếu chịu khó so sánh BẢNG 3 với luật phối thanh đầy đủ của thể thơ này

    LUẬT BẰNG LUẬT TRẮC

    Từ CÁI ĐÃ BIẾT ( 2 ,4 , 6, 7 ) sẽ suy ra được CÁI CHƯA BIẾT (1 ,3,5)

    ***************************

    TÓM TẮT CÁCH LÀM.

    2. Ghi vị trí thứ 2 và thứ 6 vào (trái ngựoc với vị trí thứ 4) (Khi đã thành thạo, ta sẽ có thể ghi nhớ theo hàng ngang vì các vị trí 2 4 6 trong mỗi câu chỉ có 2 trường hợp B – T – B và T – B -T)

    3. Bổ sung vị trí thứ 7 ( các câu có gieo vần, 1- 2- 4- 6- 8, sẽ mang thanh bằng)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Luật Bằng Trắc Trong Thơ Lục Bát
  • Quyền Và Nghĩa Vụ Của Tổ Chức, Cá Nhân Kinh Doanh Thực Phẩm
  • Quyền Và Nghĩa Vụ Của Tổ Chức, Cá Nhân Sản Xuất Thực Phẩm
  • Chi Phí Làm Giấy Chứng Nhận An Toàn Thực Phẩm Là Bao Nhiêu?
  • Không Có Giấy Vệ Sinh An Toàn Thực Phẩm Thì Bị Phạt Bao Nhiêu Tiền?
  • Khái Niệm Về Thể Thơ Tứ Tuyệt

    --- Bài mới hơn ---

  • Tuần 34. Tổng Kết Phần Văn Học
  • ‘đường Lên Đỉnh Olympia’ Thay Đổi Luật Chơi Phần Thi Về Đích
  • Đường Lên Đỉnh Olympia Năm 20 Thay Đổi Luật Thi Hứa Hẹn Kỳ Tích
  • Đường Lên Đỉnh Olympia 21 Đổi Mới Luật Chơi Mở Màn Trận Thi Tuần Gay Cấn
  • 3 Bài Văn Thuyết Minh Về Thể Thơ Thất Ngôn Bát Cú Đường Luật
  • Thơ tứ tuyệt đã có từ lâu, trước khi có thơ thất ngôn và ngũ ngôn bát cú. Đầu tiên, thơ tứ tuyệt có nghĩa khác với nghĩa hiện tại: “tứ” là bốn và “tuyệt” có nghĩa là tuyệt diệu. Bài thơ chỉ có 4 câu mà diễn tả đầy đủ ý nghĩa của tác giả muốn trình bày nên người ta mới gọi 4 câu thơ đó là tứ tuyệt.

    Tuy nhiên, sau khi có thơ thất ngôn và ngũ ngôn bát cú (luật thi) vào đời nhà Đường, thì thơ tứ tuyệt lại phải được làm theo quy tắc về niêm, vần, luật, đối của lối thơ thất ngôn hay ngũ ngôn bát cú. Vì vậy, sau nầy người ta giải thích chữ “tuyệt” là ngắt hay dứt. Nghĩa là thơ tứ tuyệt là do người ta làm theo cách ngắt lấy 4 câu trong bài bát cú để làm ra bài tứ tuyệt. Do đó niêm, vần, luật, đối của bài tứ tuyệt phải tùy theo cách ngắt từ bài bát cú mà thành.

    Thơ tứ tuyệt có 2 thể là luật trắc vần bằng và luật bằng vần bằng.

    Mỗi thể đều có một Bảng Luật coi như “công thức” căn bản mà người làm thơ phải tuân theo.

    Ghi chú: Đây là bản chính luật (sẽ có bảng luật bất luận sau). Mới đầu chúng ta nên cố gắng giữ theo chính luật để âm điệu bài thơ được hay. Tuy có bị gò bó nhưng sau nầy sẽ dễ cho chúng ta hơn (trước khó sau dễ).

    Các chữ cuối của các câu 1-2-4 bắt buộc phải cùng vần với nhau.

    Ghi chú: Đây là bản chính luật (sẽ có bảng luật bất luận sau). Mới đầu chúng ta nên cố gắng giữ theo chính luật để âm điệu bài thơ được hay. Tuy có bị gò bó nhưng sau nầy sẽ dễ cho chúng ta hơn (trước khó sau dễ).

    Các chữ cuối của các câu 1-2-4 bắt buộc phải cùng vần với nhau.

    Tìm hiểu thêm:

    Những tin mới hơn

    Những tin cũ hơn

    --- Bài cũ hơn ---

  • Luật Giao Thông Đường Thủy Nội Địa Sửa Đổi Cụ Thể 2022
  • Văn Phòng Luật Sư Dương Phi Anh
  • Thể Lệ Chương Trình ‘đường Đến Vinh Quang’ Lần Thứ Xi Năm Học 2022
  • Chủ Tịch Xã Lái Ôtô Tông Chết Hai Người: Luật Sư Phân Tích Dưới Góc Độ Pháp Lý
  • Tung ‘bụi Đời Chợ Lớn’: 2 Hãng Phim Chỉ Chịu Trách Nhiệm Liên Đới
  • Thơ Đường Luật: Niêm Luật

    --- Bài mới hơn ---

  • Chùm Thơ Đường Luật Của Hà Đỗ Tú
  • Sydney: Kẻ Chủ Mưu Giế T Luật Sư Gốc Việt Lê Đình Hồ Đã Định Bỏ Trốn Vĩnh Viễn Khỏi Úc
  • Nuôi Con Ở Úc (20) “con Có Hai Con Đường: Trở Thành Luật Sư Hoặc Bác Sĩ!”
  • Sự Cần Thiết Xây Dựng Luật Bảo Đảm Trật Tự An Toàn Giao Thông Đường Bộ.
  • Tìm Hiểu, Hỏi Đáp Về Luật Giáo Dục 2022
  • --- Bài cũ hơn ---

  • Thể Lệ Chương Trình ‘Đường Đến Vinh Quang’ Lần Thứ Xi Năm Học 2022
  • Trung Tâm Thể Thao Tuổi Trẻ
  • Luật Bóng Rổ Đường Phố – Hình Thức & Cách Chơi
  • Mức Phí Bảo Trì Đường Bộ Cho Xe Ô Tô, Xe Bán Tải, Xe Tải 2022
  • Những Kỹ Thuật Bóng Đá Đường Phố Hay Và Dễ Thực Hiện
  • Nét Đẹp Đường Thi, Tập Thơ Hay Của Chi Hội Thơ Đường Luật Gia Lương

    --- Bài mới hơn ---

  • Đọc Và Cảm Nhận Bài Thơ Trọn Bộ Những Bài Thơ Đường Luật Đặc Sắc Nhất
  • Điều Luật Kì Lạ Cấm Phụ Nữ Mặc Váy Ra Đường Xuất Hiện Trong Thời Kỳ Nào?
  • Luật Cấm Người Xấu Xí Ra Đường Từng Tồn Tại Ở Mỹ
  • Tranh Cãi Quanh Luật Cấm Dắt Chó Ra Đường Ở Trung Quốc
  • Dắt Cá, Gà Mái, Chó Đồ Chơi Đi Dạo Để Lách Luật Cấm Ra Đường
  • Bắc Ninh vốn là một vùng đất giàu truyền thống văn hóa của dân tộc, là cái nôi của những làn điệu Quan họ, làm say lòng kẻ ở người đi, nơi đây cũng sản sinh ra những con người hào hoa phong nhã, phong lưu. Cũng chính vì vậy nên bao trùm cả tập thơ Nét đẹp Đường thi vẫn là tình yêu quê hương đất nước, con người vạn vật…

    Sáng ngày 10 -12 năm 2022 tại Trung tâm huyện đội, huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh, Chi hội thơ Đường luật Gia Lương giới thiệu ra mắt tập thơ Nét đẹp Đường thi, đây là một tập thơ gồm nhiều tác giả, với nhiều sáng tác ở nhiều đề tài, với nội dung đa dạng phong phú, thể hiện tâm tư, tình cảm, ý đồ nghệ thuật của nhiều tác giả. Hội nghị ra mắt tập thơ có sự tham dự của nhiều Chi hội thơ Đường luật khách mời trong cả nước như Chi hội thơ Đường luật tỉnh Hải Dương; Chi hội thơ Đường luật huyện Bắc Từ Liêm, (Hà Nội); Chi hội thơ Đường luật tỉnh Phú Yên…

    Chi hội thơ Đường luật Gia Lương, bao gồm hai huyện là huyện Gia Bình, và huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh. Tập thơ Nét đẹp Đường thi được giới thiệu ra mắt là tập thơ có nhiều giá trị, với nội dung phong phú, đa dạng nhiều cách tân đem đến cho độc giả những cảm xúc mới lạ.

    Nét đẹp Đường thi là tập thơ của 15 tác giả, bao gồm tổng công 223 bài thơ, tập thơ do NXB Hội nhà văn phát hành tháng 10 – 2022. Nét đẹp Đường thi là bài thơ hay của nhà thơ Phạm Thế Hoàn, được lấy làm tựa đề cho cả tập thơ:

    Đường thi ngấm máu tự khi nao

    Đất mẹ Gia Lương thật tự hào

    Lớp trẻ duyên thơ tình thấm đẫm

    Cánh già nét bút nghĩa thanh tao

    Giao lưu khắp ngả tâm hồn sáng

    Kết bạn muôn Phương lhis tựu trào

    Nét đẹp Đường thi luôn quyến rũ

    Gia Lương thi phẩm mãi bay cao.

    Bài thơ nói nói lên tiếng lòng chung về nét đẹp của thơ Đường, và tình yêu thơ Đường của các nhà thơ thuộc Chi hội thơ Đường luật Gia Lương nói riêng và bạn hữu muôn phương nói chung. Dường như thơ Đường đã trở thành một phần không thể thiếu trong cuộc sống của các nhà thơ, nó ngấm vào xương vào máu. Thôi thúc các thi sỹ sáng tác, đó là nơi các thi sỹ gửi gắm tâm tình, gửi gắm những suy tư, triết lý về nhân sinh quan trong cuộc sống.

    Các nhà thơ khi cầm bút họ đều có ít nhiều những bài viết về quê hương, về đất nước, mỗi người có thể viết ở một góc độ với cảm cảm xúc khác nhau, nhưng nhìn chung lại đều thể hiện tình yêu tha thiết và lòng tự hào, tự tôn dân tộc trước những cảnh sắc và con người quê hương. Với ngệ thuật và ngôn ngữ chính xác và hàm súc đã tạo nên bài thơ hay, thể hiện được cái đẹp, cái tinh tế, kỳ diệu của thơ Đường, nó đã truyền tải tới người đọc một cách tốt nhất những tâm tư tình cảm của các nhà thơ.

    Bắc Ninh vốn là một vùng đất giàu truyền thống văn hóa của dân tộc, là cái nôi của những làn điệu Quan họ, làm say lòng kẻ ở người đi, nơi đây cũng sản sinh ra những con người hào hoa phong nhã, phong lưu. Cũng chính vì vậy nên bao trùm cả tập thơ Nét đẹp Đường thi vẫn là tình yêu quê hương đất nước, con người vạn vật…

    Trong số 223 bài thơ của 15 tác giả, có rất nhiều bài hay, xin giới thiệu mỗi tác giả có một bài thơ hay trong tập thơ Nét đẹp Đường thi.

    Tác giả Nam Nhi có bài tiêu biểu là Đá Cầu:

    Quân tử cùng em đấu trận cầu

    Dù cho có mệt ngại chi đâu

    Chàng vung chân đá… co co gối

    Thiếp ưỡn ngực tang… ngửa ngửa đầu

    Hả dạ đua tài qua mấy hiệp

    Thỏa lòng thử sức đã từ lâu

    “Quần nhau” vài hiệp cho khuây khỏa

    Xả tress vơi đi bớt nổi sầu.

    Tác giả Lê Danh Dương với bài thơ: Giữ biển đảo quê hương:

    Năm tư dân tộc tụ về đây

    Chung sức, chung lòng quyết dựng xây

    Biển đảo quê hương thề giữ vững

    Máu xương tiên tổ đã bồi đầy.

    Tác giả Nguyễn Văn Thụ cới bài thơ hay Quê Hương:

    Mẹ chợ về bánh đa bánh đúc

    Võng đưa ru con vạc, con nông

    Cây cau mèo hỏi nhà anh chuột

    Mỏ đất tôm rê gậy lão còng

    Dậu trúc tần con chuồn giỡn lá

    Cành đa khô cái kiến leo vòng

    Trăng chèo thuyền tới khuya chờ sáng

    Súng nở ao quê… dịu mát lòng.

    Tác giả Lê Văn Dậu tiêu biểu với bài Biển đảo Việt Nam:

    Biển đảo bao đời vẫn của ta

    Dấu son mốc giới rõ không nhòa

    Bá quyền bỗng chốc sang xâm đất

    Bành trướng tự nhiên đến cướp nhà

    Đảo nổi vùng trời nơi đất mẹ

    Bãi Chìm hải phận chốn quê cha

    Vô loài phải đuổi xua bờ cõi

    Để nước non mình đẹp gấm hoa.

    Tác giả Kim Tuyên với bài Quê Cha:

    Quê cha Thanh Hóa đất hào hoa

    Văn võ song toàn rạng nước nhà

    Núi Ngọc ngọc phun Tây cuốn gói

    Hàm Rồng rộng cuộn Mỹ ra ma

    Dừa xanh nghĩa mẹ từ châu thắm

    Cát trắng tình cha tứ mượt mà

    Xướng họa Đường thi mừng đất nước

    Cháu con viết tiếp bản hùng ca.

    Tác giả Diễm Phúc với bài Ta:

    Ta đợi nhau hoài có biết không

    Tình riêng canh cánh mãi bên lòng

    Đem đông giá rét chăn đơn lẻ

    Sáng hạ nồng say mắt ngó trông

    Mượn bút đề thơ vơi nổi nhớ

    Lên trường dạy học thỏa niềm mong

    Ai người thấu hiểu bèo trôi nổi?

    Mừng nắng xuân sang rực nắng hông.

    Tác giả Thanh Nhị với bài thơ Nổi Nhớ:

    Nổi nhớ về nhau dạ vấn vương

    Bao đêm trằn trọc suốt canh trường

    Dạt dào sóng vỗ xô bờ nhớ

    Lất phất mưa sa gội bến thương

    Nhặt chút hoàng hôn vùi cõi mộng

    Lượm vài ngọn gió ủ văn chương

    Ngoài hiên “trăng thức” vời trông ngóng

    Thấp thoáng thu gầy dưới đáy gương.

    Tác giả Lê Hữu Ích với bài Bình Minh Bản Mường:

    Tinh mơ tỉnh giấc vọng đầu non

    Réo rắt bản xa tiếng gáy dồn

    Dục bước chân người đi chợ sớm

    Mở trang sách trẻ đọc bài ôn

    Mấy anh xóm dưới cùng đi bộ

    Các chị chòm trên lại ném còn

    Yêu bản mường xinh giờ đổi mới

    Bình minh lên đẹp tận lưng non.

    Tác giả Phạm Văn Tá với bài Chợ Chờ:

    Dạo gót ngày xuân phố Chợ Chờ

    Nhìn em bán lụa ngỡ rằng mơ

    Tài hoa má phấn tươi đường vẽ

    Khéo sửa mày ngài lộng nét tô

    Dáng vóc hiền từ hình chị Nguyệt

    Làn môi đỏ thắm vẻ tiên cô

    Nàng từng dãi gấm đem hong gió

    Ối kẻ đa tình phải ngẩn ngơ.

    Tác giả Lưu Huyền Hảo với bài Thơ Đường:

    Đến dự ngày thơ thể luật Đường

    Mười xuân rạng rỡ nét quê hương

    Bao năm luyện bút từ bừng sáng

    Những tháng mài nghiên ý thắm hường

    Sông núi reo ca dân tộc Việt

    Mịn Sồi đón tiếp khác văn chương

    Cờ hoa rợp bóng miền quan họ

    Sáng mãi ngày thơ thể luật Đường.

    Tác giả Nguyễn Kim Thiện với bài Lễ Cưới Vàng:

    Ngoại bát thập tuần còn thích trẻ

    Dù cho bách tuế vẫn chưa già

    Muốn làm chú rể non trăm tuổi

    Mong trọn trăm năm lễ cưới vàng.

    Tác giả Trần Hảo với bài Tình thơ:

    Xướng họa thi nhân bút tỏa ngời

    Vịnh bình trao đổi thú vui chơi

    Thi đàn rộng mở đời thanh thản

    Đàm đạo giúp nhau ý tứ, tứ, lời.

    Tác giả Nguyễn Đức Bàng với bài Bức Tranh Quê:

    Chiều muộn đi qua thảm lúa vàng

    Trời xanh còn trải nắng trang trang

    Vài làn mây mỏng trôi nhè nhẹ

    Mấy cái cò con lượn nhịp nhàng

    Lũ trẻ chơi diều cười ngộ nghĩnh

    Mấy nàng bứt cỏ nói râm ran

    Gió đưa hương ngát lòng thanh thản

    Ôi! Bức tranh màu tạo hóa ban.

    Tác giả Ngô Ngọc Lạp với bài Hương Vị Tình Yêu:

    Trời đã cho ta một cuộc tình

    Ngọt ngào đằm thắm đẹp lung linh

    Đêm về thao thức mơ tình bạn

    Ngày đến mơ màng mộng dáng xinh

    Anh cứ tỉnh say trong ảo giác

    Em như hoang tưởng lúc bình minh

    Giá đừng cách trở đường xa nhỉ

    Thì chẳng ai ngăn được chúng mình.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hướng Dẫn Chơi Cờ Vua Căn Bản
  • Mức Phí Sử Dụng Đường Bộ Đang Áp Dụng Hiện Nay
  • Phân Biệt Các Loại Vạch Kẻ Đường Và Ý Nghĩa Của Chúng Để Tránh Bị Phạt Oan
  • Lưu Ý Các Vạch Kẻ Đường Thông Dụng Để Tránh Bị Phạt
  • Các Vạch Kẻ Đường Trong Luật Giao Thông Đường Bộ
  • Đặc Điểm Nghệ Thuật Cuat Thơ Đường Luật

    --- Bài mới hơn ---

  • Tôi Học Làm Thơ: Luật Bằng Trắc Trong Thơ 7 Chữ
  • Tập Làm Thơ 7 Chữ
  • Tôi Học Làm Thơ: Luật Bằng Trắc Trong Thơ 8 Chữ
  • Cách Gieo Vần Và Cac Loại Thể Thơ
  • Thuyết Minh Về Một Thể Loại Văn Học
  • Đối âm (Luật bằng trắc)[sửa]

    Luật thơ Đường căn cứ trên thanh bằng và thanh trắc, và dùng các chữ thứ 2-4-6 và 7 trong một câu thơ để xây dựng luật. Thanh bằng gồm các chữ có dấu huyền hay không dấu; thanh trắc gồm các dấu: sắc, hỏi, ngã, nặng.

    Nếu chữ thứ 2 của câu đầu tiên dùng thanh bằng thì gọi là bài có “luật bằng”; nếu chữ thứ 2 câu đầu dùng thanh trắc thì gọi là bài có “luật trắc”. Trong một câu, chữ thứ 2 và chữ thứ 6 phải giống nhau về thanh điệu, và chữ thứ 4 phải khác hai chữ kia. Ví dụ, nếu chữ thứ 2 và 6 là thanh bằng thì chữ thứ 4 phải dùng thanh trắc, hay ngược lại. Nếu một câu thơ Đường mà không theo quy định này thì được gọi “thất luật”.

    Ví dụ: xét câu “Bước tới đèo Ngang bóng xế tà” trong bài Qua Đèo Ngang của Bà huyện Thanh Quan, có các chữ “tới” (thứ 2) và “xế” (thứ 6) giống nhau vì đều là thanh trắc còn chữ “Ngang” là thanh bằng thì đó là bài thất ngôn bát cú luật trắc.

    Luật bằng trắc trong thể Thất ngôn tứ tuyệt và Thất ngôn bát cú có thể nôm na liệt kê như sau, nếu chỉ vần bằng bằng chữ “B”, vần trắc bằng chứ “T”, những vần không có luật để trống, thì luật trong các chữ thứ 2-4-6-7 có thể viết là:

    1. Luật vần bằng

    Thất ngôn tứ tuyệt

    Câu số

    Vần

    Ví dụ: Mời trầu1 của Hồ Xuân Hương

    1

    B

    T

    B

    B

    Quả cau nho nhỏ miếng trầu hôi

    2

    T

    B

    T

    B

    Này của Xuân Hương mới quệt rồi

    3

    T

    B

    T

    T

    Có phải duyên nhau thì thắm lại

    4

    B

    T

    B

    B

    Đừng xanh như lá, bạc như vôi

    Thất ngôn bát cú

    Câu số

    Vần

    Ví dụ: Thương vợ1 của Trần Tế Xương

    1

    B

    T

    B

    B

    Quanh năm buôn bán ở mom sông

    2

    T

    B

    T

    B

    Nuôi đủ năm con với một chồng

    3

    T

    B

    T

    T

    Lặn lội thân cò khi quãng vắng

    4

    B

    T

    B

    B

    Eo sèo mặt nước buổi đò đông.

    5

    B

    T

    B

    T

    Một duyên hai nợ âu đành phận

    6

    T

    B

    T

    B

    Năm nắng mười mưa dám quản công.

    7

    T

    B

    T

    T

    Cha mẹ thói đời ăn ở bạc!

    8

    B

    T

    B

    B

    Có chồng hờ hững cũng như không!

    2. Luật vần trắc

    Thất ngôn tứ tuyệt

    Câu số

    Vần

    Ví dụ: Phong Kiều dạ bạc (楓橋夜泊) của Trương Kế (张继 Zhang Jì)

    Phiên âm Hán-Việt

    1

    T

    B

    T

    B

    月落烏啼霜滿天

    Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên

    2

    B

    T

    B

    B

    江楓魚火對愁眠

    Giang phong ngư hỏa đối sầu miên

    3

    B

    T

    B

    T

    姑蘇城外寒山寺

    Cô Tô thành ngoại Hàn San tự

    4

    T

    B

    T

    B

    夜半鐘聲到客船

    Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền

    Bản dịch tiếng Việt của Tản Đà (chuyển thể thành lục bát):

    Đỗ thuyền đêm ở bến Phong Kiều

    Trăng tà chiếc quạ kêu sương

    Lửa chài cây bãi sầu vương giấc hồ

    Thuyền ai đậu bến Cô Tô

    Nửa đêm nghe tiếng chuông chùa Hàn San

    Thất ngôn bát cú

    Câu số

    Vần

    Ví dụ: Nhớ bạn phương trời1 của Trần Tế Xương

    1

    T

    B

    T

    B

    Ta nhớ người xa cách núi sông

    2

    B

    T

    B

    B

    Người xa, xa lắm nhớ ta không

    3

    B

    T

    B

    T

    Sao đương vui vẻ ra buồn bã!

    4

    T

    B

    T

    B

    Vừa mới quen nhau đã lạ lùng

    --- Bài cũ hơn ---

  • Vài Ý Kiến Trao Đổi Về Niêm Luật Của Thơ Tứ Tuyệt Đường Luật
  • Luật Bằng Trắc Trong Thơ Lục Bát
  • Quyền Và Nghĩa Vụ Của Tổ Chức, Cá Nhân Kinh Doanh Thực Phẩm
  • Quyền Và Nghĩa Vụ Của Tổ Chức, Cá Nhân Sản Xuất Thực Phẩm
  • Chi Phí Làm Giấy Chứng Nhận An Toàn Thực Phẩm Là Bao Nhiêu?
  • Thể Thơ Đường Luật Thất Ngôn Bát Cú

    --- Bài mới hơn ---

  • Thơ 8 Chữ Là Gì, Luật Thơ 8 Chữ, Cách Gieo Vần
  • Cách Làm Thơ Thất Ngôn Tứ Tuyệt Đường Luật
  • [Kỹ Năng Làm Thơ
  • Trường Cđsp Quảng Trị Mobile
  • Hướng Dẫn Cá Cược Bóng Chày Tại Các Nhà Cái
  •  

     

           

    T

    hơ Ðường Luật phổ biến

    trên thi đàn Việt Nam xưa, xuất xứ từ đời Ðường (618-907) bên Tàu, có

    luật lệ nhất định, thường gọi là Thơ Luật để phân biệt với Thơ Cổ

    Phong xuất hiện trước đời Ðường không có luật lệ nhất định.

     

           

    T

    hơ Luật có 4 thể: Ngũ

    Ngôn Tứ Tuyệt, Ngũ Ngôn Bát Cú, Thất Ngôn Tứ Tuyệt, Thất Ngôn Bát Cú.

    Thất Ngôn Bát Cú có luật lệ gò bó khó làm nhất nhưng lại được các Cụ

    ưa thích nhất, thường dùng để bày tỏ tình cảm ý chí, ngâm vịnh, trào

    phúng, xướng họa, thù tạc, chúc mừng quan hôn, khai bút đầu Xuân…

    Lúc đầu làm bằng chữ Hán, đến đời Trần, Hàn Thuyên là người đầu tiên

    làm bằng chữ Nôm, nên Ðường luật còn gọi là Hàn Luật. Từ đó thể Thất

    Ngôn Bát Cú trở thành độc tôn trên thi đàn, ngay trong các kỳ thi cũng

    luật lệ căn bản của thể thơ này:

     

    I. BỐ CỤC: Một bài thơ Thất

    Ngôn Bát Cú có 4 phần:

     

    1- Mạo: là mào đầu (vào bài) còn gọi là Ðề, gồm:

    – Phá đề (câu 1) nghĩa là mở ra, giới thiệu tựa đề.

    – Thừa đề (câu 2) nghĩa là chuyển xuống.

    2- Thực hay Trạng: gồm câu 3 + 4: giải thích, khai triển

    tựa đề.

    3- Luận: gồm câu 5+6: bàn luận ý nghĩa của bài.

    4- Kết: gồm câu 7+8: tóm tắt ý nghĩa, bày tỏ tình cảm,

    thái độ.

     

    II. LUẬT LỆ CĂN BẢN:

     

    1- Vần: là bộ phận chủ yếu của âm tiết trong tiếng Việt

    là âm tiết trừ đi phụ âm đầu nếu có.

     Ví dụ: “tà, hoa, nhà,

    gia, ta” trong bài Qua Ðèo Ngang có cùng một vần “a”.

     Vần có vần bằng, vần

    trắc, độc vận, ép vận. Trong thất ngôn bát cú chỉ gieo 1 vần, gọi là

    độc vận rơi vào 5 chữ cuối của 5 câu: 1, 2, 4, 6, 8 thường là vần bằng,

    ít khi dùng vần trắc, 5 chữ này tránh trùng nhau, phải hiệp vận cho

    đúng nếu gieo sai gọi là lạc vận, gieo vần không sát gọi là gượng ép.

     

     Ghi chú:

      Vần có cước vận (vần ở

    cuối câu), và yêu vận (vần ở lưng câu).

      Vần điệu: Ðiệu là đều

    đặn, là số chữ đều đặn trong mỗi câu thơ, như điệu thất ngôn mỗi câu 7

    chữ, điệu lục bát gồm 1 câu 6, 1 câu 8. Riêng điệu ca trù mỗi câu bao

    nhiêu chữ cũng được, trừ câu chót bắt buộc 6 chữ.

      Nhịp điệu: Nhịp là cách

    ngắt đoạn đều đặn trong câu thơ. Nhịp điệu là cái dáng đi khi mau khi

    chậm trong thơ.

      Tiết tấu: tiết là đốt,

    là đoạn ngắn, tấu là đánh nhạc, là đọc cao lên.

      Thi nhạc (gồm vần, điệu,

    nhịp, tiết tấu): Nhà thơ dùng âm thanh (tượng thanh), dùng sự thay đổi

    của của âm, độ cao thấp của thanh, sự đều đặn của vần điệu nhịp điệu,

    sự nhịp nhàng của tiết tấu… làm cho bài thơ đọc lên như một bản nhạc

    gọi là thi nhạc.

     

     2. Ðối: là phép đặt 2 câu thơ đối nhau gồm có:

      Ðối chữ: bằng đối trắc,

    trắc đối bằng, danh từ đối danh từ, động từ đối động từỳ…

      Ðối ý: ví dụ cảnh dưới

    núi đối cảnh bên sông, cảnh động đối cảnh tĩnh như trong 2 câu thực

    của bài Qua Ðèo Ngang.

      Trong thể thơ này, 2

    câu thực phải đối nhau, 2 câu luận phải đối nhau.

     

    S

    au đây xin mời quý vị

    thưởng thức những cặp đối thần sầu của các thi sĩ tiền bối:

     

     * Thi hào Nguyễn Trãi:

     - Hương cách gác vân thu lạnh lạnh

     Thuyền kề bãi tuyết nguyệt chênh chênh

     - Khách đến chim mừng hoa xẩy rụng

     Chè tiên nước kín nguyệt đeo về

     - Miệng thế nhọn hơn chông mác nhọn

     Lòng người quanh nữa nước non quanh

     

     * Bà Chúa thơ Nôm Hồ

    Xuân Hương:

     - Năm thì mười họa chăng hay chớ

     Một tháng đôi lần có cũng không

     - Cố đấm ăn xôi, xôi lại hẩm

     Cầm bằng làm mướn, mướn không công

     (Làm Lẽ)

     (“Cố đấm ăn xôi” và “Làm

    mướn không công” là 2 câu tục ngữ)

     - Duyên thiên chưa thấy nhô đầu trọc

     Phận liễu sao đà nảy nét ngang

     (Không Chồng Mà Chửa)

     (Trong Hán tự, chữ

    THIÊN nếu kéo nét phẩy nhô lên thì thành ra chữ PHU là chồng. Chữ LIỄU

    nếu thêm nét ngang thì thành ra chữ TỬ là con)

     - Ðôi gò bồng đảo sương còn ngậm

     Một lạch đào nguyên suối chửa thông

     (Thiếu Nữ)

     - Chày kình tiểu để suông không đấm

     Tràng hạt vãi lần đếm lại đeo

     (Chùa Quán Sứ)

     (“suông không đấm” và “đếm

    lại đeo” đều có nghĩa nói lái rất tục)

     - Khi cảnh, khi tiu, khi chũm chọe

     Giọng hi, giọng hỉ, giọng hi ha

     (Sư Hổ Mang)

     - Gió giật sườn non kêu lắc cắc

     Sóng dồn mặt nước vỗ long bong

     (Kẽm Trống)

     

     * Thi sĩ Nguyễn Khuyến:

     - Lưng giậu phất phơ màu khói nhạt

     Làn ao lóng lánh ánh trăng loe

     - Sóng biếc theo làn hơi gợn tí

     Lá vàng trước gió sẻ đưa vèo

     - Tầng mây lơ lững trời xanh ngắt

     Ngõ trúc quanh co khách vắng teo

     

    * Thi sĩ Trần Tế Xương:

     - Học đã sôi cơm nhưng chửa chín

     Thi không ngậm ớt thế mà cay

     - Ðì đẹt ngoài sân tràng pháo chuột

     Om sòm trên vách bức tranh gà

     - Chí cha chí chát khua giày dép

     Ðen thỉ đen thui cũng lụa là

     - Van nợ lắm khi tràn nước mắt

     Chạy ăn từng bữa mướt mồ hôi

     - Sỉ khí rụt rè gà phải cáo

     Văn chương liều lĩnh đấm ăn xôi

     - Một tuồng rách rưới con như bố

     Ba chữ nghêu ngao vợ chán chồng

     - Ví cho thi đỗ làm quan lớn

     Thì cũng nhỏ to cưới chị hầu

     - Tiễn chân cô mất hai đồng lẻ

     Sờ bụng thầy không một chữ gì

     (“Gà phải cáo” và “Cố

    đấm ăn xôi” là 2 câu tucỳ ngữ)

     

    3. Luật: tức thanh luật là quy tắc xếp đặt thanh bằng

    (B) thanh trắc (T) cho mỗi chữ trong một câu thơ theo lệ:

      “Nhất tam ngũ bất luận”:

    bất luận là không ràng buộc,

      “Nhị tứ lục phân minh”:

    phân minh là rõ ràng bắt buộc đồng thời phải tuân theo thanh: “nhị

    bằng tứ trắc lục bằng”, hay ngược lại: “nhị trắc tứ bằng lục trắc”

     

    ngôn bát cú luật bằng vần bằng:

     

     Câu 1: BBTTTBB

     Câu 2: TTBBTTB

     Câu 3: TTBBBTT

     Câu 4: BBTTTBB

     Câu 5: BBTTBBT

     Câu 6: TTBBTTB

     Câu 7: TTBBBTT

     Câu 8: BBTTTBB

     

    ngôn bát cú luật trắc vần bằng:

     

     Câu 1: TTBBTTB

     Câu 2: BBTTTBB

     Câu 3: BBTTBBT

     Câu 4: TTBBTTB

     Câu 5: TTBBBTT

     Câu 6: BBTTTBB

     Câu 7: BBTTBBT

     Câu 8: TTBBTTB

     

           

    Â

    m là tiếng động phát ra

    khi đọc một nguyên âm. Thanh là độ cao thấp của âm. Mỗi âm trong tiếng

    Việt có 6 bực độ quy định bởi 6 dấu: 2 thanh BẰNG gồm trầm (dấu huyền)

    và phù (không dấu), bốn thanh TRẮC gồm thượng (dấu sắc, dấu ngã), và

    khứ hay nhập (dấu hỏi, dấu nặng).

          

     T

    rong một câu thơ, tất cả

    những chữ cùng một thanh nên thay đổi bực độ.

           

    T

    rong bài thất ngôn, chữ

    thứ 3 các câu chẵn và chữ thứ 5 các câu lẻ, đáng là bằng mà đổi ra

    trắc gọi là khổ độc (nghĩa là khó đọc). Trong 1 câu thơ, chữ nào đáng

    đặt tiếng bằng mà lại đặt tiếng trắc, hay đáng đặt tiếng trắc mà lại

    đặt tiếng bằng thì gọi là thất luật.

     

    4. Niêm: nghĩa là dán cho dính lại. Phép niêm trong thơ

    là quy tắc sắp xếp các câu thơ trong bài dính lại với nhau về âm điệu,

    hay nói một cách khác NIÊM là sự liên lạc về âm luật của 2 câu thơ với

    nhau. Trong bài Ðường Luật, hai câu 1 và 8, 2 và 3, 4 và 5, 6 và 7

    niêm với nhau.

     

           

    H

    ai chữ thứ hai cùng một

    thanh đượỳc sắp xếp như sau đây hay ngược lại:

     

     Chữ thứ 2 câu 1: trắc

     Chữ thứ 2 câu 2: bằng

     Chữ thứ 2 câu 3: bằng

     Chữ thứ 2 câu 4: trắc

     Chữ thứ 2 câu 5: trắc

     Chữ thứ 2 câu 6: bằng

     Chữ thứ 2 câu 7: bằng

     Chữ thứ 2 câu 8: trắc

     

     Nếu không theo đúng như

    thế gọi là thất niêm.

     

     III. VÍ DỤ: một

    bài thơ mẫu:

     

    Qua Ðèo Ngang

     

     Bước tới Ðèo Ngang bóng xế tà

     Cỏ cây chen đá, lá chen hoa

     Lom khom dưới núi, tiều vài chú

     Lác đác bên sông, rợ mấy nhà

     Nhớ nước đau lòng con quốc quốc

     Thương nhà mỏi miệng cái gia gia

     Dừng chân đứng lại trời non nước

     Một cảnh tình riêng ta với ta.

     

     Bà Huyện Thanh Quan

     

           

    Ð

    ây là bài thơ Ðường luật

    thất ngôn bát cú luật trắc (chữ TỚI) vần bằng (chữ TÀ). Niêm luật vần

    đối đúng phép. Bố cục chia làm 4 phần rõ rệt:

             

    Mạo: giới thiệu tổng

    quát cảnh Ðèo Ngang.

    Thực: tả cảnh Ðèo Ngang.

             

    Luận: nhớ nước thương

    nhà.

             

    Kết: tình riêng tác giả.

     

    Về vần: Năm chữ: tà, hoa,

    nhà gia, ta: vần với nhau rất chỉnh.

     Về đối: Hai cặp thực và

    hai cặp luận đối nhau chan chát: chữ đối chữờ, ý đối ý.

     Về luật: Luật trắc (ở

    chữ TỚI). Cả 8 câu thơ đều đúng luật.

     Về niêm: Rất chặt chẽ:

    chữ TỚI niêm với chữ CẢNH cùng là trắc, chữ CÂY niêm với chữ KHOM cùng

    là bằng, chữ ÐÁC niêm với chữ NƯỚC cùng là trắc, chữ NHÀ niêm với chữ

    CHÂN cùng là bằng.

     

    IV. KẾT LUẬN:

     

           

    tắc căn bản, khi làm thơ có nhiều thi gia đôi lúc không răm rắp tuân

    theo trăm phần trăm mà bài thơ vẫn hay, vì tác giả đặt cái thần/ hồn

    của bài thơ cao hơn luật tắc. Ví dụ như bài “Thu Vịnh” của Nguyễn

    Khuyến gieo vần “ao” nhưng câu 2 lại gieo vần “iu”:

     Trời thu xanh ngắt mấy từng cao

     Cần trúc lơ phơ gió hắt hiu

     

            

    V

    à bài “Tổng Vịnh Truyện

    Kiều” của Chu Mạnh Trinh gieo vần “ương” nhưng câu 4, câu 8 lại gieo

    vần “ang” là “chàng” và “vàng”:

     Cuốn ngỏ rèm xuân trải mấy sương

     Sắc tài chi lắm để làm gương

     Công cha bao quản liều thân thiếp

     Sự nước xui nên phụ với chàng

     … Ðem bắt đồng cân đáng mấy vàng.

     Chữ “chàng” tuy gieo

    không chính vận, nhưng khi đọc lên… nó phát ra một âm thanh nghe não

    nề, trầm buồn, vang dội trong tâm hồn ta.

     

           

    B

    ài “Thu Ðiếu” của Nguyễn

    Khuyến về bố cục, tác giả say mê “tả cảnh” suốt cả 8 câu; còn về vần

    thì trong 5 chữ : “veo, teo, vèo, teo, bèo”, đã có đến 2 chữ “teo”

    trùng nhau vốn là điều cấm kỵ trong 1 bài thơ luật, nhưng ở đây cụ Tam

    Nguyên Yên Ðỗ vẫn mạnh dạn sử dụng, vì Cụ thấy 2 từ ngữ ấy (tẻo teo,

    vắng teo) diễn đạt được tình cảm của Cụ. Ðiều này cho thấy Cụ là một

    nhà Nho phóng khoáng có bản lĩnh trong sáng tạo. Và bài Thu Ðiếu xưa

    nay vẫn được nhiều người công nhận là một trong những bài thơ tả cảnh

    mùa Thu hay nhất trong thơ ca Việt Nam.

     

           

    C

    ũng chính vì luật tắc

    quá gò bó khó khăn của nó mà giới Nho sĩ Việt Nam đã bị kiềm hãm trong

    suốt một nghìn năm, chẳng để lại cho hậu thế được bao nhiêu bài thơ

    hay so với thể thơ mới. Thời tiền chiến xảy ra một trận bút chiến vang

    dội cả ba miền giữa thơ mới và thơ cũ, cuối cùng thơ cũ đại bại nhường

    thi đàn lại cho thơ mới thống trị đến ngày nay. Ngay nhà thơ Quách Tấn

    chuyên làm Thất ngôn bát cú với tác phẩm “Mùa Cổ Ðiển”, về sau cũng từ

    giã nhảy qua thể Thất ngôn tứ tuyệt với thi tập “Ðọng Bóng Chiều”.

     

           

    N

    gày nay, thể Thất Ngôn

    Bát Cú được nhiều người làm sống lại bằng những hình thức cách tân noi

    theo bước chân tiền phong của các nhà thơ tiền bối có bản lĩnh sáng

    tạo như Nguyễn Trãi, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương…

    mạnh dạn từ bỏ phong cách quý phái, đài các, cung đình: ưa xài điển

    tích, thích dùng Hán tự, vọng ngoại, vong bản, bắt chước, sáo mòn…

    để trở về với tình tự cội nguồn dân tộc Việt Nam đầy sinh động và sáng

    tạo của mình.

     

     

    VINH HỒ

    Sưu tầm

    18/11/2008

     

     

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cách Làm Thơ Thất Ngôn Bát Cú. Các Lỗi Thông Thường Trong Thơ Đường Luật
  • Đặc Điểm Thơ Năm Chữ
  • Luật An Ninh Quốc Gia Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam
  • Tăng Cường Phối Hợp Trong Bảo Đảm An Ninh Quốc Gia, Giữ Gìn Trật Tự, An Toàn Xã Hội
  • Báo Cáo Tình Hình Kinh Tế Xã Hội, Quốc Phòng An Ninh Giai Đoạn 2022
  • Phép Làm Thơ Đường Luật Tác Giả: Ái Hoa

    --- Bài mới hơn ---

  • Tiêu Chuẩn Việt Nam Tcvn 6196
  • Tuần 10. Luật Thơ (Tiếp Theo)
  • Luật Chơi Bóng Bầu Dục Và Đặt Cược Bóng Bầu Dục Tại V9Bet
  • Tìm Hiều Luật Chơi Và Luật Cá Cược Bóng Bầu Dục Mỹ
  • Giới Thiệu Cách Chơi Và Luật Chơi Môn Bóng Bầu Dục Mỹ
  • Về mặt hình thức, một bài thơ ĐL gồm có 6 yếu tố, thiếu một yếu tố thì không phải bài thơ ĐL :

    a. Số chữ, số câu hạn định

    b. Đúng luật bằng trắc

    Các câu trong bài thơ ĐLTNBC phải theo đúng quy luật bằng trắc rất chặt chẽ, như đã trình bày ở trên. Bài thơ không theo đúng luật bằng trắc là bài thơ thất luật.

    Một bài thơ ĐLTNBC tổng cộng có 56 chữ , gồm 8 câu mỗi câu 7 chữ

    Giữ đúng luật bằng trắc của bài thơ ĐL rất khó, nó làm hạn chế việc sử dụng từ ngữ và diễn đạt ý tưởng của người làm thơ nên trong thơ ĐL có thêm luật “nhất tam ngũ bất luận, nhị tứ lục phân minh”, tức là trong 1 câu thơ ĐL không cần giữ đúng luật bằng trắc ở các chữ thứ 1, 3 hay 5, nhưng chữ thứ 2, 4 và 6 thì tuyệt đối không thể du di được .

    Tuy vậy khi sử dụng luật bất luận, chữ theo luật là trắc mà đổi sang bằng thường thì không sao, nhưng nếu bằng mà đổi sang trắc đôi khi đọc nghe không êm tai, phải nên tránh .

    Những chữ thứ 5 của câu lẻ và chữ thứ 3 của câu có vần nếu theo luật đáng là bằng mà lại đổi thành trắc theo luật bất luận thì gọi là khổ độc .

    Một bài thơ bị nhiều lỗi khổ độc sẽ kém giá trị !

    Niêm cũng là yếu tố quan trọng trong bài thơ ĐL TNBC. Để xác định bài thơ đúng niêm hay không thì phải xem chữ thứ 2 của mỗi câu. – Chữ thứ 2 của câu 2 phải cùng nhóm thanh (trắc hay bằng) với chữ thứ 2 của câu 3 và khác nhóm thanh với chữ thứ 2 câu 4.

    – Chữ thứ 2 của câu 4 phải cùng nhóm thanh (trắc hay bằng) với chữ thứ 2 của câu 5 và khác nhóm thanh với chữ thứ 2 câu 6.

    – Chữ thứ 2 của câu 6 phải cùng nhóm thanh (trắc hay bằng) với chữ thứ 2 của câu 7 và khác nhóm thanh với chữ thứ 2 câu 8.

    – Chữ thứ 2 của câu 8 phải cùng nhóm thanh (trắc hay bằng) với chữ thứ 2 của câu 1 và khác nhóm thanh với chữ thứ 2 câu 2.

    Bài thơ ĐL chỉ dùng độc vận và vần được gieo ở cuối các câu chẵn. Trong 1 bài thơ ĐL có thể dùng cả chính vận lẫn thông vận, cưỡng vận chỉ dùng trong trường hợp bất đắc dĩ và nên dùng ít thôi. Nếu có lạc vận là bài thơ hỏng.

    Trong bài thơ ĐLTNBC, các câu 3-4 và 5-6 đối với nhau từng cặp một . Đối phải bao gồm cả đối ý, đối từ và đối thanh. Bài thơ có phần đối không chỉnh thì chưa phải là bài thơ ĐLTNBC hoàn hảo, còn nếu không đối thì không gọi là thơ ĐL (có người gọi nó là thơ Thất ngôn bát cú).

    f. Đúng nhịp điệu

    Thơ ĐL được ngắt nhịp ở chữ thứ 2 hoặc thứ 4 của câu, hoàn toàn khác với 2 câu bảy chữ trong thơ song thất lục bát của Việt Nam. So sánh:

    Bước tới đèo Ngang _ bóng xế tà

    Cỏ cây chen đá _ lá chen hoa

    hay:

    Nhớ nước _ đau lòng con quốc quốc

    Thương nhà _ mỏi miệng cái gia gia

    (Bà huyện Thanh Quan)

    với:

    Chìm đáy nước _ cá lờ đờ lặn

    Lửng da trời _ nhạn ngẩn ngơ sa

    (Ôn Như Hầu)

    Nước thanh bình _ ba trăm năm cũ

    Áo nhung trao quan vũ _ từ đây

    (Đoàn Thị Điểm)

    Bài thơ ngắt nhịp không đúng cũng không gọi là thơ ĐL.

    Nếu bài thơ không thoả tất cả các điều kiện trên thì gọi là thất niêm.

    – Thực hay trạng: 2 câu 3-4 dùng giải thích đầu bài, nếu là tả cảnh thì mô tả cảnh sắc, nếu vịnh sử thì nêu công trạng đức hạnh của nhân vật, v.v…

    Bài thơ ĐLTNBC có 4 cặp câu tạo thành 4 phần: đề, thực, luận, kết

    – Đề: gồm 2 câu đầu. Câu 1 là phá đề dùng để mở bài, câu 2 là thừa đề tiếp nối với câu 1 nói lên đầu đề của bài.

    – Luận: 2 câu 5-6 nói lên cảm xúc, ý kiến khen chê hay so sánh, tán rộng ra thêm, v.v…

    – Kết: 2 câu cuối tóm ý nghĩa cả bài.

    Nọ bức dư đồ thử đứng coi (Vịnh bức dư dồ rách, Tản Đà)

    Xỏ lá ai bằng cậu Sở Khanh (Vịnh Sở Khanh, Tản Đà)

    Từ thuở duyên xe mối chỉ hồng (Ký nội, Phan Thanh Giản)

    Chày kình gióng tỉnh giấc Vu san (Đĩ già đi tu, Tôn Thọ Tường)

    – Hư phá: mở ra khơi khơi, không mấy sát với đầu bài

    Đi không chẳng lẽ trở về không (Đi thi tự vịnh, Nguyễn Công Trứ)

    Uổng sanh trong thế mấy thu đông (Vịnh cây vông, Nguyễn Công Trứ)

    Ví chẳng đi chơi hội Đạp Thanh (Kiều chơi Thanh Minh, Nguyễn Khuyến)

    Trời không chớp bể chẳng mưa nguồn (Đêm buồn, Trần Tế Xương)

    Nối ý với câu phá để đưa vào bài. Nếu câu Phá nhập đề ngay thì câu thừa chỉ bồi thêm ý, diễn giải rộng them cho câu phá trọn nghĩa và chuyển ý xuống hai câu thực.

    Nọ bức dư đồ thư đứng coi

    Sông sông núi núi khéo bia cười (Vịnh bức dư dồ rách, Tản Đà)

    Xỏ lá ai bằng cậu Sở Khanh

    Kiếm ăn lại quẩn chốn lầu xanh (Vịnh Sở Khanh, Tản Đà)

    Từ thuở duyên xe mối chỉ hồng

    Lòng này ghi tạc có non sông (Ký nội, Phan Thanh Giản)

    Chày kình gióng tỉnh giấc Vu san

    Mái tóc kim sinh nửa trắng vàng (Đĩ già đi tu, Tôn Thọ Tường)

    Nếu câu Phá nói khống tức là hư phá thì câu thừa phải nói rõ đề ra. Thí dụ:

    Đi không chẳng lẽ trở về không

    Gánh nợ cầm thư phải trả xong (Đi thi tự vịnh, Nguyễn Công Trứ)

    Uổng sanh trong thế mấy thu đông

    Cao lớn làm chi vông hỡi vông (Vịnh cây vông, Nguyễn Công Trứ)

    Nếu câu phá là phản phá, tức là nói trái ý đầu đề thì câu thừa phải bẻ lại cho hợp đề bài. Thí dụ:

    Ví chẳng đi chơi hội Đạp Thanh

    Làm chi mang lấy nợ ba sinh (Kiều chơi Thanh Minh, Nguyễn Khuyến)

    Trời không chớp bể chẳng mưa nguồn

    Đêm nảo đêm nao tớ cũng buồn (Đêm buồn, Trần Tế Xương)

    Theo đề bài mà diễn đạt, trình bày rõ ràng trực tiếp (bình tự) hoặc gián tiếp (gián tự). Thí dụ:

    Biết bao lúc mới công vờn vẻ

    Sao đến bây giờ dáng tả tơi (Vịnh bức dư dồ rách, Tản Đà)

    Mảnh tiên tích việt vừa khô mực

    Con ngựa truy phong đã phụ tình (Vịnh Sở Khanh, Tản Đà)

    Tài cán không già già khúc mắc

    Ruột gan chẳng có có gai chông (Vịnh cây vông, Nguyễn Công Trứ)

    Đài kính biếng soi màu phấn nhạt

    Cửa không đành gởi cái xuân tàn (Đĩ già đi tu, Tôn Thọ Tường)

    Kẻ còn người mất đôi hàng lệ

    Trước lạ sau quen một chữ tình (Kiều chơi Thanh Minh, Nguyễn Khuyến)

    Bối rối tình duyên cơn gió thoảng

    Nhạt nhèo quang cảnh bóng trăng suông (Đêm buồn, Trần Tế Xương)

    Rắp mượn điền viên vui tuế nguyệt

    Trót đem than thế hẹn tang bồng (Đi thi tự vịnh, Nguyễn Công Trứ)

    (Thức khuya, Phan Bội Châu)

    Có nhiệm vụ bàn rộng ý tứ trong câu thực hoặc tiếp ứng bồi thêm ý mới. Có 2 cách phổ biến:

    – Khai triển: mở rộng, phóng ra cho to, sâu thêm.

    Tương tự với các bài khác:

    Ơn nước nợ trai đành nỗi bận

    Cha già nhà khó cậy nhau cùng (Ký nội, Phan Thanh Giản)

    Hú hồn hoa liễu vài câu kệ

    An cảnh tang du một chữ nhàn (Đĩ già đi tu, Tôn Thọ Tường)

    Đã mang tiếng ở trong trời đất

    Phải có danh gì với núi sông (Đi thi tự vịnh, Nguyễn Công Trứ)

    Rường xoi cột xỉa không nên mặt

    Giậu lỏng rào thưa phải cậy lòng (Vịnh cây vông, Nguyễn Công Trứ)

    Nghĩ đến suối vàng thương phận bạc

    Nỡ đem lá thắm phụ xuân xanh (Kiều chơi Thanh Minh, Nguyễn Khuyến)

    Cửa sấm gớm ghê người đánh trống

    Tai trâu mỏi mệt khách đưa đàn (Thức khuya, Phan Bội Châu)

    Khăn khăn áo áo thêm rầy chuyện

    Bút bút nghiên nghiên khéo dở tuồng (Đêm buồn, Trần Tế Xương)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Mẫu Câu Đối Hay Và Ý Nghĩa Cho Cổng Nhà Thờ Họ, Từ Đường.
  • Thịt Mỡ Dưa Hành Câu Đối Đỏ, Nêu Cao Tràng Pháo Bánh Chưng Xanh
  • Treo Câu Đối Trong Nhà Ngày Xuân: Truyền Thống Thâm Thúy Của Người Xưa
  • Hướng Dẫn Soạn Tìm Hiểu Về Thơ Lục Bát
  • Thơ Lục Bát Từ Truyền Thống Đến Hiện Đại
  • Cách Làm Thơ Thất Ngôn Bát Cú. Các Lỗi Thông Thường Trong Thơ Đường Luật

    --- Bài mới hơn ---

  • Thể Thơ Đường Luật Thất Ngôn Bát Cú
  • Thơ 8 Chữ Là Gì, Luật Thơ 8 Chữ, Cách Gieo Vần
  • Cách Làm Thơ Thất Ngôn Tứ Tuyệt Đường Luật
  • [Kỹ Năng Làm Thơ
  • Trường Cđsp Quảng Trị Mobile
  • 5

    /

    5

    (

    1

    bình chọn

    )

    Thơ Đường luật là một thể thơ có nguồn gốc từ Trung Quốc, thể thơ này đã phát triển mạnh mẽ ở ngay chính quê hương của nó và có sức lan tỏa mạnh mẽ sang các khu vực lân cận, trong đó có Việt Nam. Về hình thức thơ Đường luật có nhiều loại, tuy nhiên thất ngôn bát cú được coi là một dạng chuẩn, là thể thơ tiêu biểu trong thơ ca trung đại. Hôm nay ATP Academy đã tổng hợp những thông tin giúp bạn làm thơ Đường Luật một cách dễ dàng và đúng luật.

     

    Định nghĩa thể thơ Thất ngôn bát cú

    Thất ngôn bát cú là thể thơ thông dụng trong các thể thơ Đường Luật được các nhà thơ Việt Nam rất ưa chuộng. Đây là hình thức lấy câu thơ bảy chữ làm đơn vị nhịp điệu.

    Ra đời từ rất sớm ở Trung Quốc, bắt nguồn từ thơ bảy chữ cổ phong (thất ngôn cổ thể), đến đời Đường, thơ thất ngôn bát cú phát triển rầm rộ.

    Thể thơ thất ngôn bát cú có bố cục bốn phần, mỗi phần ứng với hai câu đảm nhận nhưng nhiệm vụ cụ thể. Hai câu đề giới thiệu về thời gian, ko gian, sự vật, sự việc. Hai câu thực trình bày, mô tả sự vật, sự việc. Hai câu luận diễn tả suy nghĩ, thái độ, cảm xúc về sự vật, hiện tượng. Hai câu kết khải quát toàn bộ nội dung bài theo hướng mở rộng và nâng cao. Ở một số trường hợp, phần thực và luận có chung nhiệm vụ vừa tả thực vừa luận, ví dụ như hai câu thực và luận trong bài “Muốn làm thằng cuội của ” của Tản Đà:

    Đêm thu buồn lắm chị Hằng ơi,

    Trần thế em nay chán nửa rồi!

    Luật thơ Đường Luật thất ngôn bát cú (TNBC)

    Hình thức 1 bài thơ ĐL TNBC gồm có 6 yếu tố:

    1. Số chữ, số câu hạn định: Một bài thơ ĐLTNBC tổng cộng có 56 chữ , gồm 8 câu mỗi câu 7 chữ.

    2. Luật bằng trắc:

      Các câu trong bài thơ ĐLTNBC phải theo quy luật bằng trắc rất chặt chẽ. Chữ thứ 2 của câu đầu bài thơ nếu là thanh trắc thì bài thơ theo luật trắc, còn nếu là thanh bằng thì bài thơ theo luật bằng. Bài thơ không theo đúng luật bằng trắc là bài thơ thất luật.

    3. Niêm

    – Chữ thứ 2 của câu 2 phải cùng nhóm thanh (trắc hay bằng) với chữ thứ 2 của câu 3 và khác nhóm thanh với chữ thứ 2 câu 4.– Chữ thứ 2 của câu 4 phải cùng nhóm thanh (trắc hay bằng) với chữ thứ 2 của câu 5 và khác nhóm thanh với chữ thứ 2 câu 6.– Chữ thứ 2 của câu 6 phải cùng nhóm thanh (trắc hay bằng) với chữ thứ 2 của câu 7 và khác nhóm thanh với chữ thứ 2 câu 8.

    – Chữ thứ 2 của câu 8 phải cùng nhóm thanh (trắc hay bằng) với chữ thứ 2 của câu 1 và khác nhóm thanh với chữ thứ 2 câu 2.

    Nếu bài thơ không thoả bất kỳ điều kiện nào trong tất cả điều kiện trên thì gọi là thất niêm.

            4. Đối:

    Trong bài thơ ĐLTNBC, các câu 3-4 và 5-6 đối với nhau từng cặp một. Đối phải bao gồm cả đối ý, đối từ và đối thanh. Bài thơ có phần đối không chỉnh thì không phải là bài thơ ĐLTNBC hoàn hảo, còn nếu không đối thì không gọi là thơ ĐL (có người gọi nó là thơ Thất ngôn bát cú).

              5. Vần

    Vần được gieo ở cuối các câu chẵn của bài thơ ĐL. Chữ cuối câu 1 có thể cùng vần hoặc không vần. Trong toàn bài thơ chỉ dùng 1 vần duy nhất (gọi là độc vận).Vần có 2 loại: chính vận và thông vận– Chính vận là vần gồm những chữ có âm y hệt nhau, chỉ khác phụ âm đầu và dấu giọng. Thí dụ: trường, sương, dương, thương…

    – Thông vận là vần gồm những chữ có âm tương tự. Thí dụ: lùng, chung, không, công, tòng, đông, hồng …Nếu dùng chữ mà âm nghe không giống lắm, miễn cưỡng mà dùng tạm thì gọi là cưỡng vận.

    Nếu dùng chữ có âm hoàn toàn khác nhau thì gọi là lạc vận.

    Trong 1 bài thơ ĐL có thể dùng cả chính vận lẫn thông vận, cưỡng vận chỉ dùng trong trường hợp bất đắc dĩ và nên dùng ít thôi. Nếu có lạc vận là bài thơ hỏng.

              6. Nhịp điệu

    Thơ ĐL được ngắt nhịp ở chữ thứ 2 hoặc thứ 4 của câu, hoàn toàn khác với 2 câu bảy chữ trong thể thơ song thất lục bát của Việt Nam ngắt nhịp ở chữ thứ 3 và thứ 5. So sánh:

    Bước tới đèo Ngang _ bóng xế tà

    Cỏ cây chen đá _ lá chen hoa

    hay:

    Nhớ nước _ đau lòng con quốc quốc

    Thương nhà _ mỏi miệng cái gia gia(Bà huyện Thanh Quan)

    với:

    Chìm đáy nước _ cá lờ đờ lặn

    Lửng da trời _ nhạn ngẩn ngơ sa(Ôn Như Hầu)

    Nước thanh bình _ ba trăm năm cũ

    Áo nhung trao quan vũ _ từ đây(Đoàn Thị Điểm)

    Bài thơ ngắt nhịp không đúng cũng không gọi là thơ ĐL.

     

    KỸ THUẬT LÀM THƠ ĐL TNBC

    Bố cục bài thơ ĐLTNBC

    Bài thơ ĐLTNBC có 4 cặp câu tạo thành 4 phần: đề, thực, luận, kết

    – Đề: gồm 2 câu đầu. Câu 1 là phá đề dùng để mở bài, câu 2 là thừa đề tiếp nối với câu 1 nói lên đầu đề của bài .

    – Thực hay Trạng: 2 câu 3-4 dùng giải thích đầu bài, nếu là tả cảnh thì mô tả cảnh sắc, nếu vịnh sử thì nêu công trạng đức hạnh của nhân vật, v.v…

    – Luận: 2 câu 5-6 nói lên cảm xúc, ý kiến khen chê hay so sánh, v.v…

    – Kết: 2 câu cuối tóm ý nghĩa cả bài.

    Luật bằng trắc trong bài thơ ĐLTNBC – Luật trắc vần bằng

    T T B B T T B (vần)

    B B T T T B B (vần)

    B B T T B B T

    T T B B T T B (vần)

    T T B B B T TB

    B T T T B B (vần)

    B B T T B B T

    T T B B T T B (vần)

    – Luật bằng vần bằng

    B B T T T B B (vần)

    T T B B T T B (vần)

    T T B B B T T

    B B T T T B B (vần)

    B B T T B B T

    T T B B T T B (vần)

    T T B B B T T

    B B T T T B B (vần)

    – Luật trắc vần trắc

    T T B B B T T (vần)

    B B T T B B T (vần)

    B B T T T B B

    T T B B B T T (vần)

    T T B B T T B

    B B T T B B T (vần)

    B B T T T B B

    T T B B B T T (vần)

    – Luật bằng vần trắc

    B B T T B B T (vần)

    T B B B T T (vần)

    T T B B T T B

    B B T T B B T (vần)

    B B T T T B B

    T T B B B T T (vần)

    T T B B T T B

    B B T T B B T (vần)

    Bất luận và khổ độc

    Giữ đúng luật bằng trắc của bài thơ ĐL rất khó, làm hạn chế việc sử dụng từ ngữ và diễn đạt ý tưởng nên trong thơ ĐL có thêm luật “nhất tam ngũ bất luận, nhị tứ lục phân minh”, tức là trong 1 câu thơ ĐL không cần giữ đúng luật bằng trắc ở các chữ thứ 1, 3 hay 5, nhưng chữ thứ 2, 4 và 6 thì tuyệt đối không thể du di được .

    Tuy vậy khi sử dụng luật bất luận, chữ theo luật là trắc mà đổi sang bằng thường thì không sao, nhưng nếu bằng mà đổi sang trắc đôi khi đọc nghe không êm tai, phải nên tránh .

    Những chữ thứ 5 của câu lẻ và chữ thứ 3 của câu chẵn nếu theo luật đáng là bằng mà lại đổi thành trắc theo luật bất luận thì gọi là khổ độc.

    Một bài thơ bị nhiều lỗi khổ độc sẽ kém giá trị!

    Âm điệu tiết tấu bài thơ ĐL

    Một bài thơ theo đúng hết quy định bằng trắc của luật thơ đôi khi đọc lên nghe vẫn không xuôi tai, đó là vì sử dụng không khéo các tiếng trầm bổng. Mặc dù chữ có dấu huyền (trầm bình thanh) và chữ không dấu (phù bình thanh) đều là thanh bằng, chúng lại không tương đương nhau về mặt cao thấp khi đặt trong câu. 

    Để câu thơ đọc nghe du dương réo rắt tránh dùng chỉ toàn một loại thanh mà cần phải thay đổi, xen kẽ các thanh này với nhau trong các vần liên tiếp, hoặc trong các chữ trong câu.

    Các lỗi thông thường trong bài thơ ĐL TNBC

    – Trùng vận:

    Thơ ĐL chỉ dùng độc vận, nếu 1 chữ vần được dùng lặp lại ở 2 câu khác nhau thì gọi là trùng vận, bài thơ sẽ hỏng. Tuy nhiên nếu chỉ là tiếng đồng âm mà khác nghĩa thì được coi là 2 chữ vần khác nhau, không phạm lỗi.

    – Trùng từ: 

    Cùng 1 chữ được dùng nhiều lần ở trong bài thơ, ngoại trừ trường hợp cố ý, thì gọi là lỗi trùng từ hay điệp từ.

    Dùng lại chữ 1 lần thì tạm chấp nhận, dùng lại 2, 3 lần thì bài thơ kém. Trong trường hợp sử dụng mỹ từ pháp điệp ngữ thì không tính là lỗi.

    – Phong yêu hạc tất

    Bài thơ ĐL chỉ gieo vần ở các chữ cuối câu. Nếu chữ thứ 4 trong 1 câu cũng vần với chữ cuối câu thì phạm lỗi phong yêu hạc tất 

    – Bình đầu

    Bài thơ mà có nhiều câu liên tiếp bắt đầu bằng những tiếng cùng một từ loại, cùng một cấu trúc câu thì phạm lỗi bình đầu, ngoại trừ trường hợp cố tình làm có mục đích rõ rệt.

    Nguyễn Trung Phong

    Một thoáng mơ hồ

    Thời gian lặng lẽ lại thầm trôi

    Gánh nặng tâm tư tưởng hết rồi

    Một thoáng vô tình ta chợt thấy

    Trong lòng ẩn hiện chẳng là tôi

    Đúc kết

     

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đặc Điểm Thơ Năm Chữ
  • Luật An Ninh Quốc Gia Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam
  • Tăng Cường Phối Hợp Trong Bảo Đảm An Ninh Quốc Gia, Giữ Gìn Trật Tự, An Toàn Xã Hội
  • Báo Cáo Tình Hình Kinh Tế Xã Hội, Quốc Phòng An Ninh Giai Đoạn 2022
  • Điểm Mới Trong Bộ Luật Hình Sự Năm 2022 Về Các Tội Xâm Phạm An Ninh Quốc Gia
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100