Luật Trẻ Em Việt Nam 2019 / TOP #10 Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 8/2022 # Top View | Bac.edu.vn

Quyền Trẻ Em Là Gì? Quyền Trẻ Em Theo Pháp Luật Việt Nam

--- Bài mới hơn ---

  • Luật Trẻ Em: 9 Điểm Đáng Chú Ý Nhất
  • Luật Bảo Vệ, Chăm Sóc Và Giáo Dục Trẻ Em
  • Những Điểm Mới Của Luật Trẻ Em 2022
  • Những Điểm Mới Trong Luật Trẻ Em 2022
  • 8 Bài Học Về Tính Kỷ Luật Của Người Nhật Bản
  • Quyền trẻ em là gì? Pháp luật Việt Nam hiện nay quy định về quyền trẻ em như thế nào? Liên hệ thực tế về quyền trẻ em ở Việt Nam và các nước trên thế giới.

    Quyền trẻ em là những quyền con người được áp dụng dành riêng cho trẻ em, ở mỗi độ tuổi khác nhau thì trẻ em được hưởng quyền và gánh vác những nghĩa vụ khác nhau. Việc xem xét quy định và thực hiện quyền trẻ em phải xuất phát từ quan điểm của trẻ em, vì vậy quyền trẻ em là những đặc lợi mà trẻ em được hưởng theo quy định của pháp luật.

    Các quyền cơ bản của trẻ em được quy định cả trong pháp luật quốc tế nói chung và pháp luật Việt Nam nói riêng. Các quyền cơ bản của trẻ em được quy định trong Công ước của Liên hợp quốc về quyền trẻ em 1989 gồm bốn nhóm quyền: quyền được sống còn, quyền được phát triển, quyền được bảo vệ, quyền được tham gia.

    Ở Việt Nam, các quyền cơ bản của trẻ em được quy định trong luật trẻ em mới nhất năm 2022 hiện hành còn hiệu lực. Luật đã quy định các quyền của trẻ em Việt Nam như sau:

    Bất cứ trẻ em nào cũng đều có các quyền bất khả xâm phạm và được bảo vệ tính mạng, được bảo đảm tốt nhất các Điều kiện sống và phát triển.

    Tất cả mọi trẻ em nào cũng đều có quyền khai sinh khi sinh ra và khai tử khi chết đi, có họ tên riêng, có dân tộc, quốc tịch, được xác định giới tính của mình theo quy định của pháp luật.

    Trẻ em được nhà nước quan tâm chăm sóc tốt nhất về sức khỏe, được ưu tiên tiếp cận, sử dụng dịch vụ phòng bệnh và khám bệnh, chữa bệnh như trẻ em dưới 6 tuổi được khám chữa bệnh miễn phí khi đi khám chữa bệnh trong điều kiện tốt nhất.

    Hiện nay, các cá nhân, các tổ chức, các sở ban ngành từ địa phương đến trung ương đã quan tâm đầu tư xây dựng tạo điều kiện thuận lợi cho các em được tham gia vui chơi, giải trí, tham gia các hoạt dộng văn hóa, thể thao, tạo ra các sân chơi bổ ích, hấp dẫn, phù hợp với từng lứa tuổi trong việc đảm bảo cho trẻ em được thực hiện các quyền vui chơi, giải trí của trẻ em theo quy định pháp luật. đều có quyền vui chơi, giải trí;được bình đẳng về cơ hội tham gia các hoạt động văn hóa, nghệ thuật, thể dục, thể thao, du lịch phù hợp với độ tuổi mà không bị hạn chế

    Trong hiến pháp của nhà nước cũng đã quy định về quyền tự do, tín ngưỡng tôn giáo thì trẻ em cũng có các quyền này, có thể theo hoặc không theo một tôn giáo nào và phải được bảo đảm an toàn, vì lợi ích tốt nhất của trẻ em theo quy định của pháp luật

    Không phân biệt về độ tuổi thì pháp luật hiện nay cho phép các trẻ có quyền sở hữu, thừa kế và các quyền khác đối với tài sản và định đoạt tài sản của mình theo quy định của pháp luật.

    Tất cả mọi trẻ em đều có các quyền giữ gìn bí mật và bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư của mình, bí mật cá nhân của trẻ em và bí mật gia đình vì lợi ích tốt nhất của trẻ em. Trẻ em có quyền bất khả xâm phạm và được pháp luật bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín, bí mật thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác; được bảo vệ và chống lại sự can thiệp trái pháp luật đối với thông tin riêng tư. Không có ai có quyền hạn chế các quyền này trừ trường hợp pháp luật có những quy định khác.

    Đây cũng là một trong những quyền rất quan trọng để trẻ em có thể thực hiện thêm các quyền khác nếu quyền này được bảo đảm thực hiện thì trẻ cũng có các quyền được chung sống với cha mẹ của mình và được những người thân cha mẹ bảo vệ, chăm sóc và giáo dục. không ai có quyền cách ly cha mẹ con trừ trường hợp cách ly cha, mẹ theo quy định của pháp luật hoặc vì lợi ích tốt nhất của trẻ em. Khi phải cách ly cha, mẹ, trẻ em được trợ giúp để duy trì mối liên hệ và tiếp xúc với cha, mẹ, gia đình, trừ trường hợp không vì lợi ích tốt nhất của trẻ em để đảm bảo trẻ em được phát triển toàn diện tốt nhất.

    Đối với những trẻ em cơ nhỡ, không nơi nương tựa thì nhà nước cho phép trẻ em được chăm sóc thay thế và nhận làm con nuôi theo quy định của pháp luật về con nuôi khi không còn cha mẹ; không được hoặc không thể sống cùng cha đẻ, mẹ đẻ; bị ảnh hưởng bởi thiên tai, thảm họa, xung đột vũ trang vì sự an toàn và lợi ích tốt nhất của trẻ em và không bị ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường của trẻ em.

    Tất cả mọi trẻ em có quyền được bảo vệ dưới mọi hình thức để không bị xâm hại tình dục. Mọi hành vi xâm hại đến trẻ em đều bị xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật.

    Tất cả mọi trẻ em đều có quyền bất khả xâm phạm về tính mạng, sức khỏe được bảo vệ dưới mọi hình thức để không bị bạo lực, bỏ rơi, bỏ mặc làm tổn hại đến sự phát triển toàn diện của trẻ em . Mọi hành vi gây tổn hại cho trẻ em tùy theo tính chất mức độ sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật.

    Các cá nhân, tổ chức đều có trách nhiệm bảo vệ trẻ em dưới mọi hình thức để không bị mua bán, bắt cóc, đánh tráo, chiếm đoạt. Khi phát hiện các hành vi vi phạm cần trình báo ngay đến các cơ quan có thẩm quyền để giải quyết xử lý theo quy định của pháp luật.

    Vấn nạn ma túy đang ngày càng phức tạp và gây ảnh hưởng đến sự phát triển của xã hội nên tất cả mọi cá nhân, tổ chức cần bảo vệ trẻ em khỏi mọi hình thức sử dụng, sản xuất, vận chuyển, mua, bán, tàng trữ trái phép chất ma túy. Để không bị ảnh hưởng đến thế hệ tương lai cho đất nước.

    Tất cả mọi trẻ em có quyền được nhà nước bảo vệ trong quá trình tố tụng và xử lý vi phạm hành chính. khi trẻ em có các hành vi vi phạm thì sẽ được bảo đảm quyền được bào chữa và tự bào chữa, được bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp; được trợ giúp pháp lý, được trình bày ý kiến, không bị tước quyền tự do trái pháp luật; không bị tra tấn, truy bức, nhục hình, xúc phạm danh dự, nhân phẩm, xâm phạm thân thể, gây áp lực về tâm lý và các hình thức xâm hại khác nhằm cho trẻ em cũng được bảo vệ khi hành vi vi phạm theo quy định của pháp luật.

    Do trẻ em chưa phát triển hoàn thiện về mặt sinh học nên trẻ em có quyền được ưu tiên bảo vệ, trợ giúp dưới mọi hình thức để thoát khỏi tác động của thiên tai, thảm họa, ô nhiễm môi trường, xung đột vũ trang để tạo điều kiện cho trẻ em phát triển tốt nhất.

    Tất cả các trẻ em khi là công dân Việt Nam được bảo đảm an sinh xã hội để giảm thiểu rủi ro về thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh, ốm đau, tai nạn theo quy định của pháp luật phù hợp với Điều kiện kinh tế – xã hội nơi trẻ em sinh sống và Điều kiện của cha, mẹ hoặc người chăm sóc trẻ em theo quy định của pháp luật

    Hiện nay, cả thế giới đang trong công cuộc cách mạng công nghệ 4.0 nhất là trẻ em đang trong độ tuổi khám phá nên trẻ em cũng có quyền được tiếp cận thông tin đầy đủ, kịp thời, phù hợp; có quyền tìm kiếm, thu nhận các thông tin dưới mọi hình thức theo quy định của pháp luật và được tham gia hoạt động xã hội phù hợp với độ tuổi, mức độ trưởng thành, nhu cầu, năng lực của trẻ em để phù hợp với mọi lứa tuổi.

    Để tạo điều kiện cho các trẻ em khuyết tật hòa nhập với cộng đồng, bỏ qua tâm lý tự ti bỏ qua mặc cảm để đóng góp vào sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước thì trẻ em khuyết tật được hưởng đầy đủ các quyền của trẻ em và quyền của người khuyết tật theo quy định của pháp luật; được hỗ trợ, chăm sóc, giáo dục đặc biệt để phục hồi chức năng, phát triển khả năng tự lực và hòa nhập xã hội hội nhập với quốc tế.

    Đất nước ta luôn có những chính sách pháp luật hỗ trợ cho những trẻ em không quốc tịch cư trú tại Việt Nam, trẻ em lánh nạn, tị nạn được bảo vệ và hỗ trợ nhân đạo, được tìm kiếm cha, mẹ, gia đình theo quy định của pháp luật Việt Nam và Điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên nhằm chung tay với thế giới để bảo vệ trẻ em phát triển toàn diện.

    Như vậy pháp luật đã quy định những quyền cơ bản của trẻ em và đảm bảo thực hiện theo đúng quy định của pháp luật.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Luật Trẻ Em 2022, Luật Số 102/2016/qh13 2022
  • Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật Dưới Luật: Những Khiếm Khuyết Thường Gặp :: Đoàn Luật Sư Tp. Hồ Chí Minh
  • “văn Bản Dưới Luật” Là Gì? Nghĩa Của Từ Văn Bản Dưới Luật Trong Tiếng Việt. Từ Điển Việt
  • Nghị Quyết Của Quốc Hội Là Văn Bản Luật Hay Văn Bản Dưới Luật?
  • Thông Luật Và Dân Luật Khác Nhau Như Thế Nào?
  • Quốc Tịch Việt Nam Của Trẻ Em

    --- Bài mới hơn ---

  • Lê Công Định Xin Được Tước Quốc Tịch Việt Nam: Tinh Tướng Vừa Thôi
  • Luật Quốc Tịch Việt Nam Năm 1998
  • Luật Quốc Tịch Việt Nam 1998
  • Luật Quốc Tịch Việt Nam 1998 07/1998/qh10
  • Điều Kiện Nhập Quốc Tịch Việt Nam
  • Quốc tịch là phạm trù chính trị – pháp lý, thể hiện mối quan hệ gắn bó, bền vững giữa Nhà nước và công dân, là dấu hiệu để xác định và phân biệt công dân của nước này với nước khác, trên cơ sở đó làm phát sinh quyền, nghĩa vụ qua lại giữa Nhà nước và công dân. Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền năm 1948 đã khẳng định: “Ai cũng có quyền có quốc tịch. Không ai có thể bị tước quốc tịch hay tước quyền thay đổi quốc tịch một cách độc đoán”. Ở Việt Nam, quyền này đã được Hiến định: “Công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là người có quốc tịch Việt Nam” (Hiến pháp năm 1980, Hiến pháp năm 1992, Hiến pháp năm 2013). Luật đầu tiên của nhà nước ta về quốc tịch là Luật quốc tịch Việt Nam năm 1988, tiếp đó là Luật quốc tịch Việt Nam năm 1998 (thay thế Luật quốc tịch năm 1988) và hiện tại là Luật quốc tịch Việt Nam năm 2008 (thay thế Luật quốc tịch năm 1998) . Tại các Luật này đều ghi nhận: Ở nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mỗi cá nhân đều có quyền có quốc tịch.

    Đối với trẻ em, quyền được khai sinh và có quốc tịch là một quyền cơ bản đã được Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 1991, Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004, Luật trẻ em năm 2022 ghi nhận: Trẻ em có quyền được khai sinh và có quốc tịch. Với những trẻ em khi sinh ra, vì một lý do nào đó mà quyền có quốc tịch này có thể bị ảnh hưởng (do cha, mẹ hoặc cả cha và mẹ đều là người không có quốc tịch; trẻ bị bỏ rơi…) thì pháp luật về quốc tịch cũng đã dự liệu các trường hợp này để đảm bảo mọi trẻ em khi sinh ra trên lãnh thổ Việt Nam đều có quốc tịch.

    Ngay từ Luật đầu tiên về quốc tịch (Luật quốc tịch năm 1988) đã dành 01 điều quy định về quốc tịch trẻ em (Điều 6): (1) Trẻ em có cha mẹ là công dân Việt Nam thì có quốc tịch Việt Nam, không kể trẻ em đó sinh trong hay ngoài lãnh thổ Việt Nam; (2) Trẻ em có cha hoặc mẹ là công dân Việt Nam, còn người kia là người không quốc tịch hoặc không rõ là ai thì có quốc tịch Việt Nam, không kể trẻ em đó sinh trong hay ngoài lãnh thổ Việt Nam; (3) Trẻ em có cha hoặc mẹ là công dân Việt Nam, còn người kia là công dân nước ngoài, nếu sinh trên lãnh thổ Việt Nam hoặc khi sinh ra cha mẹ đều có nơi thường trú ở Việt Nam, thì có quốc tịch Việt Nam, trừ trường hợp cha mẹ nhất trí lựa chọn quốc tịch khác. Trong trường hợp trẻ em đó sinh ngoài lãnh thổ Việt Nam và khi sinh cha mẹ đều không có nơi thường trú ở Việt Nam, thì quốc tịch theo sự lựa chọn của cha mẹ; (4) Trẻ em sinh trên lãnh thổ Việt Nam mà cha mẹ đều là người không quốc tịch và có nơi thường trú ở Việt Nam thì có quốc tịch Việt Nam; (5) Trẻ em tìm thấy trên lãnh thổ Việt Nam mà không rõ cha mẹ là ai thì có quốc tịch Việt Nam.

    Rõ hơn quy định này, Luật quốc tịch năm 1998 có 03 điều quy định về quốc tịch trẻ em: Điều 17 quy định về quốc tịch của trẻ em khi sinh ra có cha hoặc mẹ là công dân Việt Nam, Điều 18 quy định về quốc tịch của trẻ em khi sinh ra có cha mẹ là người không quốc tịch, Điều 19 quy định về quốc tịch của trẻ sơ sinh bị bỏ rơi, trẻ em được tìm thấy trên lãnh thổ Việt Nam. Kế thừa quy định này của Luật quốc tịch Việt Nam năm 2008 có 04 điều quy định về quốc tịch của trẻ em: Điều 15 quy định về quốc tịch của trẻ em khi sinh ra có cha mẹ là công dân Việt Nam, Điều 16 quy định về quốc tịch của trẻ em khi sinh ra có cha hoặc mẹ là công dân Việt Nam, Điều 17 quy định về quốc tịch của trẻ em khi sinh ra có cha mẹ là người không quốc tịch, Điều 18 quy định về quốc tịch của trẻ sơ sinh bị bỏ rơi, trẻ em được tìm thấy trên lãnh thổ Việt Nam; bên cạnh đó, Luật quốc tịch Việt Nam năm 2008 còn có 01 chương quy định về thay đổi quốc tịch của người chưa thành niên và của con nuôi với 03 điều (Điều 35 quy định về quốc tịch của con chưa thành niên khi cha mẹ được nhập, trở lại hoặc thôi quốc tịch Việt Nam – Điều 36 quy định về quốc tịch của con chưa thành niên khi cha mẹ bị tước quốc tịch Việt Nam hoặc bị hủy bỏ Quyết định cho nhập quốc tịch Việt Nam – Điều 37 quy định về quốc tịch của con nuôi chưa thành niên).

    Như vậy, quy định của Luật quốc tịch (từ Luật quốc tịch năm 1988, Luật quốc tịch năm 1998 đến Luật quốc tịch năm 2008) đã quy định rõ nguyên tắc, căn cứ xác định quốc tịch Việt Nam của trẻ em trong những trường hợp cụ thể. Tuy nhiên, thực tế triển khai thi hành Luật đã phát sinh một số vướng mắc do còn có những cách hiểu khác nhau (kể cả từ phía các cơ quan được giao thụ lý giải quyết các việc về quốc tịch, cho đến người dân), cụ thể như sau:

    Thứ nhất, v iệc xác định quốc tịch Việt Nam của trẻ em có cả hai bên cha và mẹ là công dân Việt Nam

    Điều 15 Luật Quốc tịch năm 2008 quy định: Trẻ em sinh ra trong hoặc ngoài lãnh thổ Việt Nam mà khi sinh ra có cha mẹ đều là công dân Việt Nam thì có quốc tịch Việt Nam. Quy định này được hiểu, những trẻ em này sẽ đương nhiên có quốc tịch Việt Nam ngay từ khi sinh ra – và như vậy, quốc tịch Việt Nam của trẻ sẽ được ghi nhận bất cứ lúc nào. Quy định này đã được áp dụng đến trở thành thông lệ và không gặp bất cứ khó khăn, vướng mắc nào với những trường hợp trẻ em sinh ra có cả cha và mẹ là công dân Việt Nam cư trú ở trong nước, sinh con ở trong nước và đăng ký khai sinh cho con tại cơ quan đăng ký hộ tịch ở trong nước. Vướng mắc trong quy định này là chưa đề cập đến những trường hợp trẻ được sinh ra ở nước ngoài (quốc gia được xác định quốc tịch cho trẻ em theo nguyên tắc quyền nơi sinh), đã được đăng ký khai sinh tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài và có quốc tịch nước ngoài (theo nơi sinh ra), thì có còn quyền đương nhiên có quốc tịch Việt Nam nguyên tắc huyết thống như đã nêu ở trên hay không? Lẽ ra, trong trường hợp này cần hiểu, đứa trẻ ngay từ khi sinh ra đã có quốc tịch Việt Nam, nên cách giải quyết đơn giản nhất là cơ quan hộ tịch của Việt Nam chỉ cần ghi chú nội dung Giấy khai sinh do nước ngoài cấp cho đứa trẻ theo quy định của pháp luật hộ tịch và phần ghi về quốc tịch của trẻ trong Giấy khai sinh và Sổ đăng ký khai sinh sẽ ghi quốc tịch Việt Nam. Tuy nhiên, một số cơ quan hộ tịch đã hiểu sai về vấn đề này bởi suy nghĩ: một khi cha mẹ đã từng đăng ký khai sinh cho con (lần 1) tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài, trẻ đã có quốc tịch nước ngoài thì không được tiếp tục đăng ký khai sinh cho con (lần 2) tại cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam “thêm một lần lựa chọn quốc tịch” để trẻ có quốc tịch Việt Nam và trở thành người có 02 quốc tịch; với cách hiểu này, người thụ lý hồ sơ đã hướng dẫn cha mẹ của trẻ làm thủ tục nhập quốc tịch Việt Nam cho con (thủ tục này mặc dù được đơn giản hóa một số điều kiện vì có cha, mẹ đẻ là công dân Việt Nam nhưng phức tạp hơn, thời gian giải quyết lâu hơn, lệ phí cao hơn, và điều quan trọng hơn là trẻ phải thôi quốc tịch nước ngoài).

    Thứ hai, việc xác định quốc tịch Việt Nam của trẻ em có một bên cha hoặc mẹ là công dân Việt Nam còn người kia là công dân nước ngoài

    Khoản 2 Điều 16 Luật Quốc tịch năm 2008 quy định: Trẻ em khi sinh ra có cha hoặc mẹ là công dân Việt Nam còn người kia là công dân nước ngoài thì có quốc tịch Việt Nam, nếu có sự thỏa thuận bằng văn bản của cha mẹ vào thời điểm đăng ký khai sinh cho con… Quy định này được hiểu trẻ em sinh ra sẽ có quốc tịch Việt Nam khi đáp ứng 02 điều kiện: (1) có cha hoặc mẹ là công dân Việt Nam còn người kia là công dân nước ngoài, (2) có sự thỏa thuận bằng văn bản của cha mẹ vào thời điểm đăng ký khai sinh cho con. Ở đây “thời điểm đăng ký khai sinh” cần được hiểu như thế nào thì Luật Quốc tịch năm 2008 chưa quy định rõ. Chính vì vậy trên thực tế đã có hai cách hiểu khác nhau:

    Theo cách hiểu thứ nhất thì “thời điểm đăng ký khai sinh” phải được xác định là lần “lần đầu và duy nhất” đối với một đứa trẻ sau khi sinh ra. Theo đó, với những trẻ em đã được đăng ký khai sinh lần đầu tại cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam, cha mẹ lựa chọn quốc tịch Việt Nam cho con thì trẻ có quốc tịch Việt Nam, trẻ có thể có thêm quốc tịch nước ngoài (hai quốc tịch) khi khai nhận quốc tịch tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài theo quy định pháp luật quốc tịch của nước mà người cha/người mẹ là công dân, nếu pháp luật nước đó không quy định nguyên tắc một quốc tịch; với những trẻ em đã đăng ký khai sinh lần đầu tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài, trẻ đã có quốc tịch nước ngoài thì để bảo đảm nguyên tắc “một quốc tịch” theo quy định của Luật Quốc tịch, trẻ sẽ không được đăng ký khai sinh “lần 2” tại cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam để trẻ có thêm quốc tịch Việt Nam, mặc dù cha mẹ cũng thể hiện nguyện vọng muốn lựa chọn “thêm” quốc tịch Việt Nam cho con (trường hợp này trẻ em chỉ có thể có quốc tịch Việt Nam thông qua việc xin nhập quốc tịch Việt Nam và phải thôi quốc tịch nước ngoài – đó là điều mà nhiều cha mẹ của trẻ không mong muốn).

    Theo cách hiểu thứ hai thì Luật Quốc tịch chỉ quy định về nguyên tắc quốc tịch, còn vấn đề đăng ký khai sinh thì phải tuân theo quy định của pháp luật về hộ tịch. Trong khi đó, Luật Hộ tịch cũng chỉ quy định: Mỗi sự kiện hộ tịch chỉ được đăng ký tại môt cơ quan đăng ký hộ tịch có thẩm quyền theo quy định của Luật này. Như vậy, với những trẻ em đã đăng ký khai sinh tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài và có quốc tịch nước ngoài là theo pháp luật quốc tịch của nước ngoài; việc cha, mẹ của trẻ tiếp tục làm thủ tục đăng ký khai sinh cho con tại cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam và chọn quốc tịch Việt Nam cho trẻ theo pháp luật quốc tịch của Việt Nam là không có gì trái cả với Luật Quốc tịch và Luật Hộ tịch (đáp ứng cả nguyên tắc xác định quốc tịch Việt Nam cho con khi có một bên cha hoặc mẹ là công dân Việt Nam còn người kia là công dân nước ngoài theo quy định của Luật quốc tịch và nguyên tắc đăng ký khai sinh tại một cơ quan đăng ký hộ tịch theo quy định của Luật quốc tịch). Với cách hiểu này thì mặc dù trẻ đã đăng ký khai sinh tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài và có quốc tịch nước ngoài, vẫn có quyền đăng ký khai sinh (hoặc ghi chú Giấy khai sinh) tại cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam và trẻ có quốc tịch Việt Nam.

    – Thứ ba, việc xác định quốc tịch Việt Nam của trẻ em sinh ra tại Việt Nam có cha và mẹ là người không quốc tịch

    Điều 8 Luật quốc tịch năm 2008 quy định Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam tạo điều kiện cho trẻ em sinh ra trên lãnh thổ Việt Nam đều có quốc tịch và những người không quốc tịch thường trú ở Việt Nam được nhập quốc tịch Việt Nam theo quy định của Luật này. Tuy nhiên, việc thực hiện quy định này còn gặp nhiều khó khăn do bị ràng buộc bởi những quy định cụ thể tại các điều khác của Luật, đó là yêu cầu người không quốc tịch phải có nơi thường trú tại Việt Nam. Cụ thể là:

    + Đối với trường hợp trẻ em sinh ra tại Việt Nam có cha, mẹ là người không quốc tịch, nhưng không có nơi thường trú tại Việt Nam

    Theo quy định tại khoản 1 Điều 17 của Luật Quốc tịch Việt Nam thì Trẻ em sinh ra trên lãnh thổ Việt Nam mà khi sinh ra có cha mẹ đều là người không quốc tịch, nhưng có nơi thường trú tại Việt Nam thì có quốc tịch Việt Nam.

    + Đối với trường hợp trẻ em sinh ra tại Việt Nam có mẹ là người không quốc tịch, cha không rõ là ai, nhưng người mẹ không có nơi đăng ký thường trú tại Việt Nam.

    Tại khoản 2 Điều 17 Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008 quy định ” Trẻ em sinh ra trên lãnh thổ Việt Nam mà khi sinh ra có mẹ là người không quốc tịch, nhưng có nơi thường trú tại Việt Nam, còn cha không rõ là ai thì có quốc tịch Việt Nam”.

    Với những quy định này thì cơ quan hộ tịch khó áp dụng để cho những trẻ có không có nơi thường trú tại Việt Nam (chưa được cấp thẻ thường trú).

    – Thứ tư, việc xác định quốc tịch Việt Nam của trẻ em nước ngoài sau khi được công dân Việt Nam nhận làm con nuôi

    Khoản 2 Điều 27 Luật Quốc tịch năm 2008 quy định: Trẻ em là người nước ngoài được công dân Việt Nam nhận làm con nuôi thì có quốc tịch Việt Nam, kể từ ngày được cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam công nhận việc nuôi con nuôi. Tuy nhiên, Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008 không có quy định về việc công nhận quốc tịch Việt Nam của trẻ qua trình tự, thủ tục nào? Nghị định số 78/2009/NĐ-CP tại chương Ghi vào sổ các việc về quốc tịch (chương III) cũng không có quy định về việc này.

    Thứ năm, chưa có hướng dẫn thống nhất nên còn khó khăn trong việc áp dụng quy định của Luật và Nghị định về quyền đương nhiên/mặc nhiên được nhập, trở lại hoặc thôi quốc tịch Việt Nam của con chưa thành niên khi cha/mẹ được nhập, trở lại, thôi quốc tịch Việt Nam.

    Khoản 2 Điều 35 Luật Quốc tịch quy định: Khi chỉ cha hoặc mẹ được nhập, trở lại hoặc thôi quốc tịch Việt Nam thì con chưa thành niên sinh sống cùng với người đó cũng có quốc tịch Việt Nam hoặc mất quốc tịch Việt Nam, nếu có sự thỏa thuận bằng văn bản của cha mẹ. Trường hợp cha hoặc mẹ được nhập, trở lại quốc tịch Việt Nam thì con chưa thành niên sinh sống cùng với người đó cũng có quốc tịch Việt Nam, nếu cha mẹ không thỏa thuận bằng văn bản về việc giữ quốc tịch nước ngoài của người con.

    Quy định này được hiểu việc con chưa thành niên sống cùng cha, mẹ là người đã được nhập, trở lại hoặc thôi quốc tịch Việt Nam sẽ đương nhiên có quốc tịch Việt Nam hoặc mất quốc tịch Việt Nam theo tình trạng quốc tịch của cha, mẹ, trừ trường hợp cha, mẹ có thỏa thuận khác.

    Tuy nhiên, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 7 Nghị định số 78/2009/NĐ-CP thì hồ sơ xin nhập quốc tịch Việt Nam của cha, mẹ nếu có con chưa thành niên cùng xin nhập thì phải có bản sao Giấy khai sinh của người con chưa thành niên hoặc giấy tờ khác chứng minh quan hệ cha con, mẹ con… – và khoản 2 Điều 10 Nghị định số 78/2009/NĐ-CP cũng quy định: con chưa thành niên cùng trở lại quốc tịch Việt Nam theo cha mẹ thì phải nộp bản sao Giấy khai sinh của người con hoặc giấy tờ khác chứng minh quan hệ cha con, mẹ con … Theo quy định này thì khi cha mẹ xin nhập, thôi, trở lại quốc tịch Việt Nam mà có cả con chưa thành niên – thì phải có thêm hồ sơ của người con (như: bản sao Giấy khai sinh hoặc giấy tờ khác chứng minh quan hệ cha mẹ con…). Như vậy, nếu người con chưa thành niên muốn thay đổi quốc tịch theo cha mẹ thì cũng phải làm thủ tục cùng cha mẹ. Vì thế, khái niệm “đương nhiên”, “mặc nhiên” ở Luật là không rõ.

    Thứ sáu, chưa quy định cụ thể về “trường hợp đặc biệt” cho trẻ em được giữ quốc tịch nước ngoài khi nhập/trở lại quốc tịch Việt Nam

    Theo quy định tại khoản 3 Điều 19 và khoản 5 Điều 23 của Luật quốc tịch năm 2008 thì trẻ em khi xin nhập/trở lại quốc tịch Việt Nam thì phải thôi quốc tịch nước ngoài, trừ trường hợp là con đẻ của công dân Việt Nam, trong trường hợp đặc biệt, nếu được Chủ tịch nước cho phép.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Luật Quốc Tịch Việt Nam Sửa Đổi 2014
  • Luật Quốc Tịch Việt Nam Sửa Đổi, Bổ Sung Năm 2014 Số 56/2014/qh13
  • Luật Quốc Tịch Số 24/2008/qh12 Ngày 13 Tháng 11 Năm 2008
  • Luật Quốc Tịch Việt Nam 2008
  • Luật Ppp 2022: 12 Hành Vi Bị Cấm Trong Đầu Tư Theo Phương Thức Ppp
  • Quyền Trẻ Em Trong Pháp Luật Việt Nam Hiện Nay

    --- Bài mới hơn ---

  • Các Quy Định, Chính Sách Pháp Luật Bảo Vệ Trẻ Em Bị Bỏ Rơi
  • Đáp Án Tìm Hiểu Pháp Luật Trẻ Em Và Kỹ Năng Phòng Tránh Xâm Hại Trẻ Em An Giang
  • Quy Định Về Trách Nhiệm Bảo Đảm Quyền Được Học Tập Cho Trẻ Em
  • Vai Trò Thực Hiện Pháp Luật Về Bảo Vệ Trẻ Em
  • Phát Động Cuộc Thi Trực Tuyến Toàn Quốc “pháp Luật Học Đường”
  • Hiến pháp 2013 là tiền đề, là nền tảng pháp lý để có những cải tiến mạnh mẽ, đột phá trong lĩnh vực chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em.

    Trên tinh thần và các quy định về quyền trẻ em của Hiến pháp 2013 và CRC, Luật Trẻ em 2022 gồm 7 Chương và 106 Điều, trong đó quy định 25 quyền dành cho trẻ em.

    Trong hệ thống pháp luật Việt Nam, bên cạnh Hiến pháp 2013 và Luật Trẻ em 2022, còn có nhiều văn bản pháp luật khác cũng chứa đựng những quy định trực tiếp hoặc gián tiếp về quyền trẻ em ở nhiều lĩnh vực (hình sự, giáo dục, y tế, lao động, bảo hiểm, hôn nhân và gia đình…). Tựu trung lại, quyền trẻ em được pháp luật Việt Nam ghi nhận trên các khía cạnh cơ bản sau:

    Quyền sống: Theo CRC thì quyền sống là quyền đầu tiên trẻ em được hưởng và phải bảo vệ. Với ý nghĩa đó, Việt Nam đã kế thừa và quy định chặt chẽ việc bảo vệ quyền sống của con người nói chung và quyền sống của trẻ em nói riêng. Nội dung này được quy định trong Điều 19 Hiến pháp 2013 ” Mọi người có quyền sống. Tính mạng con người được pháp luật bảo hộ. Không ai bị tước đoạt tính mạng trái luật” và Điều 12 Luật Trẻ em 2022 “Trẻ em có quyền được bảo vệ tính mạng, được bảo đảm tốt nhất các điều kiện sống và phát triển”. Ngoài ra, nội dung của quyền này còn được ghi nhận tại Khoản 1 Điều 33 Bộ luật Dân sự 2022 “Cá nhân có quyền sống, quyền bất khả xâm phạm về tính mạng, thân thể, quyền được pháp luật bảo hộ về sức khỏe. Không ai bị tước đoạt tính mạng trái luật”.

    Quyền được khai sinh: Đây là một trong những quyền dân sự cơ bản, quan trọng của con người có từ khi sinh ra, để được công nhận là một thành viên của xã hội và là công dân của một Nhà nước. Nội dung của quyền này được quy định tại Khoản 1 Điều 7 CRC, Điều 13 Luật trẻ em 2022 và Khoản 1 Điều 26 Bộ luật dân sự 2022. Theo đó, mọi trẻ em khi sinh ra đều có quyền được khai sinh. Giấy khai sinh là giấy tờ hộ tịch gốc của mỗi cá nhân và là căn cứ khẳng định trẻ em sinh ra là một công dân của quốc gia đó. Về mặt pháp lý, đây là cơ sở, tiền đề bắt buộc để từ đó, cá nhân được hưởng và đòi hỏi được hưởng các quyền con người, quyền công dân của mình.

    Quyền có quốc tịch: Luật Quốc tịch năm 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014 quy định “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mỗi cá nhân đều có quyền có quốc tịch”, điều này có nghĩa là mọi trẻ em sinh ra trên lãnh thổ Việt Nam đều có quyền có quốc tịch. Theo quy định, quốc tịch của trẻ em chủ yếu phụ thuộc vào quốc tịch của cha mẹ. Cụ thể, Điều 15, Điều 16, Điều 17 Luật Quốc tịch năm 2008 nêu rõ những trường hợp trẻ em được xác định là có quốc tịch Việt Nam

    Quyền được chăm sóc sức khoẻ: Điều 14 Luật Trẻ em 2022 quy định “Trẻ em có quyền được chăm sóc tốt nhất về sức khỏe, được ưu tiên tiếp cận, sử dụng dịch vụ phòng bệnh và khám bệnh, chữa bệnh” và Điều 84 Luật Trẻ em 2022 cũng quy định rất rõ vai trò, trách nhiệm của Bộ Y tế trong việc bảo đảm trẻ em được tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe có chất lượng và công bằng tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh. Điều 43 Luật Trẻ em 2022 quy định về trách nhiệm của Nhà nước trong việc ban hành, thực hiện các chính sách về bảo đảm chăm sóc sức khỏe trẻ em, bao gồm việc tư vấn, bảo vệ, chăm sóc sức khỏe cho phụ nữ mang thai, các chính sách giảm tỷ lệ tử vong ở trẻ em, chính sách về tiêm chủng, bảo đảm an toàn thực phẩm, chính sách bảo hiểm y tế…

    Trẻ em là một đối tượng đặc biệt trong vấn đề bảo đảm chăm sóc sức khỏe. Luật Khám bệnh, chữa bệnh năm 2009 xác định trẻ em dưới 6 tuổi được ưu tiên khám bệnh, chữa bệnh là một nguyên tắc trong hành nghề khám bệnh, chữa bệnh (Điều 3); và chính sách của nhà nước cần quan tâm dành ngân sách cho việc chăm sóc sức khỏe đối với trẻ em (Điều 4). Điều này thể hiện sự quan tâm của Nhà nước ta đối với vấn để bảo đảm chăm sóc sức khỏe của trẻ em.

    Quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng: Điều 15 Luật Trẻ em 2022 khẳng định “Trẻ em có quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng để phát triển toàn diện”. Bên cạnh đó, Điều 42 Luật Trẻ em 2022 còn xác định Nhà nước phải có những chính sách, biện pháp nhằm đảm bảo thực hiện việc chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em, đặc biệt là trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt.

    Bên cạnh gia đình, cơ sở giáo dục cũng có vai trò quan trọng trong việc thực hiện chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em. Trách nhiệm này được khẳng định tại Điều 21 Luật Giáo dục năm 2005: “Cơ sở giáo dục mầm non thực hiện việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ em từ ba tháng tuổi đến sáu tuổi”. Thực tế cho thấy, nhà trường có vai trò rất lớn đối với sự phát triển của trẻ em cũng như chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em. Bởi vì, phần lớn thời gian của trẻ trong độ tuổi này được chăm sóc ở các cơ sở giáo dục.

    Quyền được giáo dục, học tập và phát triển năng khiếu: Điều 16 Luật Trẻ em 2022 quy định: “Trẻ em có quyền và bình đẳng về cơ hội được giáo dục, học tập để phát triển toàn diện và phát huy tốt nhất tiềm năng của bản thân”, quy định này thể hiện việc Nhà nước trao quyền học tập cho trẻ em và bảo đảm mọi trẻ em được bình đẳng trước các cơ hội hưởng quyền học tập dù hoàn cảnh và điều kiện sống khác nhau.

    Điều 11 Luật Giáo dục năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) quy định Nhà nước đảm bảo các điều kiện để thực hiện phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em năm tuổi, phổ cập giáo dục tiểu học và phổ cập giáo dục trung học cơ sở trong cả nước và gia đình có trách nhiệm tạo điều kiện cho các thành viên học tập để đạt trình độ giáo dục phổ cập. Như vậy, mọi trẻ em trong độ tuổi quy định đều có quyền và có nghĩa vụ học tập để đạt trình độ giáo dục phổ cập. Đồng thời, Nhà nước, gia đình phải có trách nhiệm bảo đảm các điều kiện để mọi trẻ em trong độ tuổi được giáo dục phổ cập.

    Quyền vui chơi, giải trí: Nội dung này được quy định tại Điều 17 Luật Trẻ em 2022 “Trẻ em có quyền vui chơi, giải trí; được bình đẳng về cơ hội tham gia các hoạt động văn hóa, nghệ thuật, thể dục, thể thao, du lịch phù hợp với độ tuổi”.

    Quyền có tài sản: Điều 20 Luật Trẻ em 2022 khẳng định: “Trẻ em có quyền sở hữu, thừa kế và các quyền khác đối với tài sản theo quy định của pháp luật”. Nhằm cụ thể nội dung Điều 20, khoản 2 Điều 101 Luật này nêu rõ: Cha, mẹ, người giám hộ của trẻ em và các thành viên trong gia đình có trách nhiệm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của trẻ em; đại diện cho trẻ em trong các giao dịch dân sự theo quy định của pháp luật; chịu trách nhiệm trong trường hợp để trẻ em thực hiện giao dịch dân sự trái pháp luật. Cha, mẹ, người giám hộ của trẻ em phải giữ gìn, quản lý tài sản của trẻ em và giao lại cho trẻ em theo quy định của pháp luật.. Trường hợp trẻ em gây thiệt hại cho người khác thì cha, mẹ, người giám hộ của trẻ em phải bồi thường thiệt hại do hành vi của trẻ em đó gây ra theo quy định của pháp luật.

    Ngoài ra, Điều 76 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 còn quy định “Tài sản riêng của con dưới 15 tuổi, con mất năng lực hành vi dân sự do cha mẹ quản lý. Cha mẹ có thể ủy quyền cho người khác quản lý tài sản riêng của con”. Trẻ em chưa có đủ năng lực quản lý, định đoạt tài sản riêng nên pháp luật quy định trách nhiệm thuộc về cha,mẹ, người giám hộ trong việc quản lý và định đoạt tài sản riêng của trẻ em.

    Quyền được sống chung với cha mẹ: Trẻ em là người chưa đạt tới sự trưởng thành về mặt sinh học, tâm lý xã hội để được coi là người lớn và do đó chưa trưởng thành để có thể sống hoàn toàn tự lập. Điều 22 Luật Trẻ em quy định: “Trẻ em có quyền được sống chung với cha, mẹ; được cả cha và mẹ bảo vệ, chăm sóc và giáo dục, trừ trường hợp cách ly cha, mẹ theo quy định của pháp luật hoặc vì lợi ích tốt nhất của trẻ em. Khi phải cách ly cha, mẹ, trẻ em được trợ giúp để duy trì mối liên hệ và tiếp xúc với cha, mẹ, gia đình, trừ trường hợp không vì lợi ích tốt nhất của trẻ em”.

    Quyền được bảo vệ: Trẻ em là những người còn rất non nớt về thể xác và tinh thần. Các em cần sự giúp đỡ của người lớn để được an toàn. Các em dễ bị rủ rê vào những việc làm trái pháp luật, dễ bị lợi dụng sức lao động và lạm dụng tình dục, dễ bị bỏ rơi… Có những trẻ em đôi khi bất ngờ bị rơi vào những tình trạng cực kỳ khó khăn mà các em không thể nào chịu đựng nổi. Đây là những nguy cơ đe dọa trực tiếp tới sự sống còn của trẻ em. Do vậy các em cần đến sự giúp đỡ của người thân và cộng đồng để giảm bớt các hậu quả gây tổn thương và giúp trẻ em phục hồi tâm, sinh lý, tái hoà nhập vào cộng động và phát triển bình thường.

    Luật Trẻ em 2022 quy định về nhóm quyền được bảo vệ của trẻ em. Theo đó, trẻ em được bảo vệ khỏi sự phân biệt đối xử, thoát khỏi sự bóc lột về kinh tế, sự lạm dụng, xâm hại về thể xác và tinh thần, bị lơ là và bỏ rơi, bị đối xử tàn tệ, các em phải được bảo vệ trong tình trạng khẩn cấp, khủng hoảng. Nghiêm cấm lạm dụng, bóc lột sức lao động của trẻ em, bất kỳ một hành vi, hoặc yếu tố tình huống có chủ ý của cá nhân, tổ chức hay của cộng đồng như xâm phạm đến thể chất, tình cảm, nhân cách, lạm dụng tình dục, ngược đãi, xao nhãng, bỏ rơi, sử dụng quá mức sức lao động, hoặc khai thác thương mại, tước đoạt quyền và sự tự do của trẻ, gây nguy hại đến sự phát triển thể chất, tinh thần, xã hội của trẻ. Khi trẻ bị lâm vào tình trạng khủng hoảng khẩn cấp như trình trạng rối loạn, thiếu hụt, mất thăng bằng nghiêm trọng do những yếu tố bên ngoài tác động có ảnh hưởng xấu đến sự phát triển thể chất, tinh thần, xã hội của trẻ em.

    Xác định đây là vấn đề cấp bách và quan trọng, Luật Trẻ em đã dành hẳn chương IV quy định về bảo vệ trẻ em. Trong đó, có quy định về 03 cấp độ bảo vệ trẻ em và trách nhiệm thực hiện; quy định về cơ sở cung cấp dịch vụ bảo vệ trẻ em; quy định về chăm sóc thay thế; các biện pháp bảo vệ trẻ em trong quá trình tố tụng, xử lý vi phạm hành chính, phục hồi và tái hòa nhập cộng đồng.

    Trong thế giới ngày nay, với sự phát triển ngày càng cao của xã hội, thì việc bảo vệ quyền trẻ em ngày càng trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Quyền trẻ em được ghi nhận trong hệ thống pháp luật Việt Nam như là sự đảm bảo về mặt pháp lý của Nhà nước đối với việc bảo vệ quyền trẻ em. Việc ngày càng hoàn thiện các quy định về quyền trẻ em cũng như xây dựng hệ thống các thiết chế bảo vệ quyền trẻ em ở Việt Nam hiện nay góp phần quan trọng đưa quyền trẻ em vào thực tiễn. Đây là sự cam kết mạnh mẽ của Việt Nam với cộng đồng quốc tế về bảo vệ quyền trẻ em. Trẻ em là chủ nhân tương lai của đất nước, đầu tư cho trẻ em là con đường chắc chắn đưa đất nước phát triển. Quyền trẻ em được ghi nhận một cách tối đa và được thực hiện đầy đủ ở Việt Nam chính là cách thức để nước ta chung tay với thế giới xây dựng một thế giới tốt đẹp dành cho trẻ em.

    ThS. Nguyễn Thị Yến

    (Viện Nhà nước & Pháp luật – Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Số Tình Huống Tuyên Truyền Pháp Luật Cho Trẻ Em
  • Dịch Vụ Gửi Hàng Chuyển Hàng Ship Hàng Đi Pháp
  • Đề Tài: Hoàn Thiện Pháp Luật Trong Lĩnh Vực Du Lịch Việt Nam, Hot
  • “phi Công” 17 Tuổi Rơi Vào Bẫy Tình Của U40 Và Những Tai Tiếng Để Đời
  • Cơ Quan Quản Lý Nhật Bản: Stablecoin Không Phải Là Tiền Mã Hóa Theo Luật Pháp Hiện Hành
  • Giáo Dục Pháp Luật Cho Trẻ Em Ở Việt Nam Hiện Nay

    --- Bài mới hơn ---

  • Luật Bảo Vệ, Chăm Sóc Và Giáo Dục Trẻ Em Số 57
  • Luật Sư Việt Nam Florida
  • Ông Trump Đã Thắng Tại Florida Như Thế Nào?
  • Luật Biên Giới Quốc Gia 2003 06/2003/qh11
  • Luật Biên Giới Quốc Gia Năm 2003

    Giáo Dục Pháp Luật Cho Trẻ Em Ở Việt Nam Hiện Nay Cuốn sách Giáo dục pháp luật cho trẻ em ở Việt Nam hiện nay thể hiện cách tiếp cận có nhiều cách tiếp cận có nhiều tính mới về giáo dục pháp luật cho…

    • Giao hàng toàn quốc
    • Được kiểm tra hàng
    • Thanh toán khi nhận hàng
    • Chất lượng, Uy tín
    • 7 ngày đổi trả dễ dàng
    • Hỗ trợ xuất hóa đơn đỏ

    Giới thiệu Giáo Dục Pháp Luật Cho Trẻ Em Ở Việt Nam Hiện Nay

    Giáo Dục Pháp Luật Cho Trẻ Em Ở Việt Nam Hiện Nay

    Cuốn sách Giáo dục pháp luật cho trẻ em ở Việt Nam hiện nay thể hiện cách tiếp cận có nhiều cách tiếp cận có nhiều tính mới về giáo dục pháp luật cho trẻ em, phù hợp với bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân, bảo vệ quyền con người và hội nhập quốc tế ở nước ta hiện nay. Nội dung cuốn sách gồm ba phần cơ bản là: Những vấn đề lý luận cơ bản về giáo dục pháp luật cho trẻ em; và các quan điểm, giải pháp bảo đảm chất lượng, hiệu quả giáo dục pháp luật cho trẻ em. Một trong những điểm mới chủ yếu và cũng đồng thời là điều kiện quan trọng bảo đảm chất lượng, hiệu quả của giáo dục pháp luật cho trẻ em đó là việc lồng ghép các loại hình giáo dục như giáo dục pháp luật, giáo dục đạo đức, giáo dục quyền con người và kỹ năng sống cho trẻ em. Các nhóm giải pháp cơ bản về bảo đảm chất lượng, hiệu quả giáo dục pháp luật cho trẻ em được đề cập cũng sẽ góp phần quan trọng vào sự nghiệp đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục và đào tạo nước nhà trong giai đoạn hiện nay.

    Giá sản phẩm trên Tiki đã bao gồm thuế theo luật hiện hành. Tuy nhiên tuỳ vào từng loại sản phẩm hoặc phương thức, địa chỉ giao hàng mà có thể phát sinh thêm chi phí khác như phí vận chuyển, phụ phí hàng cồng kềnh, …

    Thông tin chi tiết

    Công ty phát hành

    NXB Chính Trị Quốc Gia Sự Thật

    Ngày xuất bản

    12-2018

    Kích thước

    14.5 x 20.5 cm

    Loại bìa

    Bìa mềm

    Số trang

    243

    Nhà xuất bản

    Nhà Xuất Bản Chính Trị Quốc Gia

    SKU

    3227192566375

    --- Bài cũ hơn ---

  • Luật Trẻ Em 2022
  • An Bình Express Nhập Hàng Pháp Về Việt Nam
  • Tạp Chí Luật Sư Việt Nam Tuyển Dụng Biên Tập Viên Và Nhân Viên Truyền Thông
  • Báo Pháp Luật Việt Nam Thông Báo Tuyển Dụng
  • 234 Luật, Bộ Luật Của Việt Nam Còn Hiệu Lực Và Sắp Có Hiệu Lực
  • Từ 15/02/2019: Lấy Ý Kiến Của Trẻ Em Khi Xây Dựng Văn Bản Về Trẻ Em

    --- Bài mới hơn ---

  • Quốc Hội Thông Qua Dự Án Luật Hải Quan (Sửa Đổi)
  • Chính Sách Mới Có Hiệu Lực Từ Tháng 5/2014
  • Văn Bản Pháp Luật Về Luật Sư
  • Sở Nội Vụ Tỉnh Vĩnh Phúc Tổng Kết Thi Hành Luật Ban Hành Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật Của Hđnd Và Ubnd Tỉnh
  • Lập Dàn Ý Chi Tiết Cho Đề Bài Sau: Vẻ Đẹp Nhân Vật Bé Hồng Qua Đoạn Trích Trong Lòng Mẹ Của Nguyên Hồng
  • Theo Thông tư, trẻ em tham gia lấy ý kiến phải bảo đảm đại diện vùng miền, dân tộc, độ tuổi, giới tính, tôn giáo; trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt. Đồng thời, đây cũng phải là những trẻ em chịu sự tác động trực tiếp của văn bản phù hợp với mức độ trưởng thành và sự phát triển của trẻ.

    Về nguyên tắc, Thông tư quy định, việc lấy ý kiến của trẻ em phải bảo đảm để trẻ em tham gia tự nguyện, chủ động, phù hợp với độ tuổi, giới tính và sự phát triển của trẻ; cung cấp đầy đủ thông tin cho trẻ em; không phân biệt đối xử, không trù dập, kỳ thị khi trẻ em bày tỏ hoặc không bày tỏ ý kiến. Đặc biệt, phải bảo đảm bí mật đời sống riêng tư, bí mật cá nhân của trẻ em tham gia lấy ý kiến.

    Ý kiến, nguyện vọng của trẻ em, ý kiến của Tổ chức đại diện tiếng nói, nguyện vọng của trẻ em và Hội Bảo vệ quyền trẻ em Việt Nam phải được cơ quan chủ trì soạn thảo văn bản tôn trọng, lắng nghe, tiếp thu, phản hồi đầy đủ, kịp thời, khách quan, trung thực và sử dụng đúng mục đích.

    Trong quá trình tổ chức lấy ý kiến của trẻ em phải bảo đảm việc kịp thời cung cấp, giải thích thông tin, hỗ trợ cho trẻ em.

    Về hình thức lấy ý kiến, theo Điều 7 của Thông tư, Cơ quan chủ trì soạn thảo văn bản thông tin, phản hồi việc tiếp thu ý kiến của trẻ em thông qua: Diễn đàn, hội nghị, hội thảo, tọa đàm, họp báo; hoặc có thể thông qua điện thoại; môi trường mạng; các phương tiện thông tin đại chúng hay gửi văn bản đến trường học, cộng đồng, địa phương nơi tổ chức lấy ý kiến của trẻ em để niêm yết công khai…

    Trường hợp cơ quan chủ trì soạn thảo văn bản lấy ý kiến của trẻ em thông qua Tổ chức đại diện tiếng nói, nguyện vọng của trẻ em hoặc Hội Bảo vệ quyền trẻ em Việt Nam thì gửi văn bản thông tin, phản hồi về việc tiếp thu ý kiến của trẻ em cho Tổ chức đại diện tiếng nói, nguyện vọng của trẻ em, Hội Bảo vệ quyền trẻ em Việt Nam để thông tin, phản hồi cho trẻ em thông qua một hoặc các hình thức quy định như trên.

    Thông tư 36/2018/TT-BLĐTBXH sẽ có hiệu lực từ ngày 15/02/2019./.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nhiều Vướng Mắc Trong Ban Hành Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật
  • Khai Niem Dac Diem Va Cac Loai Van Ban Quy Pham Phap Luat
  • Bãi Bỏ Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật Do Chính Phủ, Thủ Tướng Chính Phủ Ban Hành
  • Winword Là Gì? Những Kiến Thức Cơ Bản Về Winword Mà Bạn Cần Biết
  • Ân Hạn Nợ Gốc Là Gì? Những Điều Cần Biết Về Ân Hạn Nợ Gốc
  • Việt Nam Tăng Cường Pháp Luật Về Bảo Vệ Trẻ Em Trên Môi Trường Mạng

    --- Bài mới hơn ---

  • Tôn Trọng, Bảo Vệ Quyền Công Dân
  • Luật An Ninh Mạng Quy Định Về Việc Bảo Vệ Quyền Con Người Như Thế Nào?
  • Hoàn Thiện Các Quy Định Về Bảo Vệ Quyền Trẻ Em Trong Dự Thảo Luật An Ninh Mạng
  • Từ Hôm Nay, Google, Facebook Phải Lưu Dữ Liệu Người Dùng Tại Việt Nam
  • Luật An Ninh Mạng Góp Phần Bảo Đảm Tốt Hơn Quyền Con Người
  • Ngoài những đóng góp mang lại cho nền kinh tế xã hội của Việt Nam, sự phát triển của Internet trong thời gian qua đã và đang đặt ra nhiều vấn đề xã hội cấp thiết, trong đó có bảo vệ trẻ em trên môi trường mạng.

    Ông Nguyễn Thành Phúc, Cục trưởng Cục An toàn thông tin, chia sẻ: “Trong bối cảnh thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng đang bước vào thời đại chuyển đổi số rộng khắp, trẻ em đã trở thành công dân số từ rất sớm, sống trên môi trường mạng nhiều giờ/1 ngày, thay đổi hoàn toàn cách các em học tập, kết bạn, giao tiếp so với thế hệ cha anh”.

    Do đó, theo ông Phúc, trong bối cảnh đó đòi hỏi chúng ta phải chung tay xây dựng môi trường mạng lành mạnh, an toàn cho người dân nói chung và trẻ em nói riêng; Bảo vệ, hỗ trợ trẻ em trên môi trường mạng mạng; Trang bị cho trẻ em kiến thức, kỹ năng sống an toàn trên môi trường mạng.

    Ông Phúc cho hay, một trong những nội dung quan trọng của hợp tác này là nghiên cứu, rà soát các quy định của pháp luật về bảo vệ trẻ em trên môi trường mạng; sửa đổi, bổ sung, đề xuất các cơ quan có thẩm quyền ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, chính sách để bảo vệ trẻ em trên môi trường mạng hiệu quả và chế tài xử lý nghiêm minh hơn các loại tội phạm xâm hại trẻ em trên môi trường mạng.

    Liên Hợp quốc và các tổ chức quốc tế, các tổ chức khu vực và chính phủ các quốc gia đã và đang đưa ra những quy định, khuyến nghị, hướng dẫn, các biện pháp để toàn xã hội cùng chung tay trong bảo vệ và hỗ trợ trẻ em trên không gian mạng.

    Chính phủ Việt Nam đã quan tâm đến vấn đề bảo vệ trẻ em trên môi trường mạng. Luật Trẻ em, Luật An ninh an toàn, an ninh mạng, Luật an ninh mạng và các văn bản hướng dẫn đã đưa ra một số quy phạm pháp luật về bảo vệ trẻ em trên môi trường mạng); Chỉ thị số 14/CT-TTg ngày 07/6/2019 của Thủ tướng Chính phủ trong đó có giao Bộ Thông tin và Truyền thông có trách nhiệm “Chủ trì xây dựng, trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án về bảo vệ thông tin cá nhân, hỗ trợ trẻ em tương tác lành mạnh, sáng tạo trên không gian mạng.”

    Mục tiêu chính của kế hoạch phối hợp nhằm ghi nhận và thực hiện những cam kết được thống nhất giữa hai bên trên cơ sở khai thác thế mạnh của mỗi bên; Tăng cường phối hợp chỉ đạo, triển khai thực hiện có hiệu quả các giải pháp bảo vệ trẻ em trên môi trường mạng.

    Theo kế hoạch, Cục An toàn thông tin và Cục trẻ em tập trung khảo sát, đánh giá tác động của môi trường mạng; Triển khai xây dựng, hướng dẫn về bộ tiêu chí bảo vệ trẻ em trên môi trường mạng.

    Xây dựng mạng lưới bảo vệ trẻ em trên môi trường mạng, để kết nối các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp cùng hoạt động vì trẻ em. Tạo thành quy trình hài hòa để phòng ngừa, phát hiện, can thiệp, xử lý các hành vi xâm hại trẻ em trên môi trường mạng. Thông qua mạng lưới này, trẻ em sẽ dễ dàng lên tiếng, tiếp cận các dịch vụ hỗ trợ, được bảo vệ an toàn khi bị xâm hại hoặc có nguy cơ bị xâm hại trên môi trường mạng, tương tự quy trình hỗ trợ, can thiệp trẻ em có nguy cơ hoặc bị xâm hại trong đời thực. Đồng thời, các công cụ, phương tiện để bảo vệ và hỗ trợ trẻ em, các công cụ giáo dục trẻ em tương tác tích cực, sáng tạo trên môi trường mạng cũng sẽ được xây dựng với nhiều hình thức truyền tải như: các video, clip, app….

    Nâng cao hiểu biết về kiến thức, kỹ năng sử dụng mạng internet an toàn để trẻ em tự bảo vệ mình, kịp thời tố giác hành vi xâm hại trên môi trường mạng.

    Hiện nay Việt Nam đã có Tổng đài điện thoại quốc gia bảo vệ trẻ em số

    111 và App Tổng đài điện thoại quốc gia bảo vệ trẻ em, các tài liệu trực tuyến giáo dục nhằm nâng cao kỹ năng cho trẻ em, xây dựng các tiêu chí bảo vệ trẻ em trên môi trường mạng cũng sẽ được phát triển và đăng tải trên nền tảng trực tuyến.

    Các báo cáo nghiên cứu, triển khai đánh giá tác động của môi trường mạng sẽ được xây dựng và hình thành cơ sở dữ liệu phân loại theo độ tuổi.

    Đây là lần đầu tiên có sự hợp tác chặt chẽ giữa cơ quan quản lý nhà nước về an toàn thông tin trên không gian mạng với cơ quan quản lý nhà nước về bảo đảm quyền trẻ em. Sự kết hợp hài hòa giữa sức mạnh của áp dụng công nghệ tiên tiến với kiến thức, kinh nghiệm về bảo vệ trẻ em hi vọng sẽ tạo nên một bước tiến mới để trẻ em Việt Nam được bảo vệ an toàn và phát triển lành mạnh trên môi trường mạng, hạn chế tối đa tác động tiêu cực từ môi trường mạng. Bản kế hoạch phối hợp thể hiện tinh thần trách nhiệm cao của cơ quan quản lý, kêu gọi các doanh nghiệp, tổ chức trong và ngoài nước sẵn sàng cùng đồng hành để bảo vệ trẻ em trên môi trường mạng theo quy định của pháp luật về quyền trẻ em và về an ninh mạng, trong bối cảnh xu hướng xâm hại trẻ em trên không gian mạng ngày càng diễn biến tinh vi và phức tạp.

    Cục Trẻ em thuộc Bộ LDTBXH và Cục An toàn thông tin thuộc Bộ TTTT thống nhất ký kết Bản ghi nhớ hợp tác ngày hôm nay, tập trung vào 07 nội dung cơ bản:

    1. Nghiên cứu, rà soát các quy định của pháp luật về bảo vệ trẻ em trên môi trường mạng; sửa đổi, bổ sung, đề xuất các cơ quan có thẩm quyền ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, chính sách để bảo vệ trẻ em trên môi trường mạng hiệu quả và chế tài xử lý nghiêm minh hơn các loại tội phạm xâm hại trẻ em trên môi trường mạng.

    2. Xây dựng mạng lưới bảo vệ trẻ em trên môi trường mạng.

    3. Xây dựng công cụ, phương tiện để bảo vệ và hỗ trợ trẻ em, giáo dục tích cực trên môi trường mạng.

    4. Nâng cao hiểu biết cho trẻ em về kiến thức, kỹ năng sử dụng mạng bổ ích, an toàn, kỹ năng tự bảo vệ mình trên môi trường mạng và lên tiếng thông tin, thông báo, tố giác hành vi, vụ việc xâm hại trẻ em trên môi trường mạng.

    6. Triển khai xây dựng, hướng dẫn về bộ tiêu chí bảo vệ trẻ em trên môi trường mạng.

    7. Thí điểm hệ sinh thái thúc đẩy các tổ chức, doanh nghiệp tham gia vào xây dựng nội dung lành mạnh cho trẻ em trên môi trường mạng.

    Minh Anh

    --- Bài cũ hơn ---

  • Luật An Ninh Mạng Quy Định Thế Nào Về Bảo Vệ Trẻ Em, Bí Mật Cá Nhân?
  • Có Hiệu Lực Từ Hôm Nay 1.1, Luật An Ninh Mạng Bảo Vệ Trẻ Em Thế Nào?
  • Ban Hành Luật An Ninh Mạng Là Rất Cần Thiết
  • Sự Cần Thiết Ban Hành Luật An Ninh Mạng Trong Tình Hình Hiện Nay
  • Chuyên Gia Phân Tích Những Bất Cập Trong Dự Luật An Ninh Mạng
  • Quyền Được Học Tập Của Trẻ Em Trong Luật Hôn Nhân Và Gia Đình Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Nguyên Tắc Bảo Vệ Bà Mẹ Và Trẻ Em Trong Luật Hôn Nhân Và Gia Đình 2014
  • Luật Bảo Vệ Phụ Nữ Và Trẻ Em
  • Nsưt Kiều Thanh Có Vi Phạm Luật Hôn Nhân Gia Đình Khi Nhận Mình Là “người Thứ 3”?
  • Xử Lý Người Thứ 3 Cố Tình Phá Hoại Hạnh Phúc Gia Đình Người Khác?
  • Xử Lý Người Thứ 3 Trong Hôn Nhân Như Thế Nào?
  • MỞ ĐẦU

    Giáo dục và nuôi dưỡng là hai yếu tố then chốt quyết định hình thành nên tính

    cách của mỗi con người.Việc nuôi dạy con trẻ gần nhất là gia đình, sau đó là xã hội.

    Giáo dục cho mọi người và tiến tới xây dựng xã hội học tập còn là mục tiêu căn bản,

    chiến lược của nhiều quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam. Tuy nhiên, tình

    trạng trẻ em bỏ học và nghỉ học sớm ở Việt Nam hiện nay vẫn còn là vấn đề đáng

    quan tâm mà trách nhiệm trên hết là của cha mẹ và những người thân trong gia đình.

    NỘI DUNG

    I. Cơ sở lý luận

    1. Vai trò và trách nhiệm của cha mẹ và những người thân thích đối với sự

    hình thành và phát triển của trẻ em.

    Trong mỗi gia đình vai trò của bố mẹ có vị trí quan trọng. Theo truyền thống

    Việt Nam, đàn ông thường là chủ của gia đình. Người cha là trụ cột, là biểu hiện của

    nhân cách văn hóa cao đẹp nhất để con cái học tập và noi theo. Còn người mẹ là chỗ

    dựa, là nguồn lửa sưởi ấm tình yêu thương trong gia đình, nguồn tình cảm vô tận

    cho các con. Cho nên gia đình là cái nôi văn hóa đầu tiên hình thành nhân cách cho

    trẻ em.

    Văn hóa trong gia đình nói chung, quan hệ vợ chồng nói riêng đều có sự ảnh

    hưởng trực tiếp đến sự hình thành và phát triển nhân cách của các thành viên trong

    gia đình. Bầu không khí tâm lý – đạo đức của gia đình tác động trực tiếp đến nếp

    nghĩ, lối sống của trẻ. Mọi xung khắc của các cá nhân trong gia đình, nhất là giữa bố

    và mẹ, đều ảnh hưởng đến con cái.

    Trong gia đình, ngoài các mối quan hệ nói trên còn có mối quan hệ giữa ông

    bà và các cháu, anh chị và các em. Mối quan hệ này càng bền chặt thì càng làm

    phong phú thêm đời sống tinh thần của các cá nhân trong gia đình. Những người lớn

    tuổi phải làm gương cho con cháu, tự điều chỉnh hành vi của mình thì mới đáp ứng

    được vấn đề đạo đức, văn hóa và các mối quan hệ đặt ra trong phạm vi gia đình.

    Giáo dục con cái không thể chỉ bằng lời nói mà phải bằng những công việc,

    hành động cụ thể, mọi hành vi, thái độ, lối sống của người lớn có có tác động trực

    tiếp tới việc hình thành, phát triển nhân cách của trẻ. Trẻ em sẽ không tôn trọng

    người lớn nếu nó như chúng thấy cha mẹ mình thể hiện sự thiếu tôn trọng lẫn nhau.

    Những bậc cha mẹ luôn quan tâm đến con cái sẽ chú trọng đến việc giáo dục

    hình thành nhân cách cho trẻ. Nhưng cũng có nhiều gia đình thiếu quan tâm đến

    việc giáo dục con cái, người lớn đối xử với nhau bằng lời nói, cử chỉ, hành động

    thiếu văn hóa…, những hành động xấu đó đã phản chiếu vào tâm hồn non nớt của

    trẻ em, làm cho các em trở lên cộc cằn, thô lỗ. Những mâu thuẫn, lục đục trong gia

    đình hay gia đình tan vỡ đã đẩy nhiều trẻ em rơi vào tình trạng hụt hẫng về mọi

    phương diện, nhiều em không đủ ý chí để vượt qua khó khăn này đã rơi vào những

    bệnh như trầm cảm, rối loạn tâm lý hoặc bỏ nhà đi lang thang, thậm chí phạm tội.

    Sống trong các gia đình có bố mẹ hoặc người lớn khác có hành vi thiếu văn

    hóa, đạo đức thậm chí có cả những hành vi phạm tội, như bố mẹ bất hòa hay đánh

    chửi nhau, nghiện rượu, nghiện ma túy, trộm cắp, tham ô…thì những gương xấu này

    làm cho trẻ em dần dần coi thường pháp luật, nhiễm các thói hư tật xấu và dễ bị lôi

    kéo rồi dần dần vi phạm pháp luật. Cũng có nhiều trường hợp bố mẹ là người tốt, có

    đủ kiến thức nhưng không chú ý đúng mức đến việc giáo dục con cái hoặc không có

    điều kiện gần gũi trẻ, có người ỷ lại cho nhà trường, một số mải làm ăn, kiếm sống

    hoặc phải đi công tác trong thời gian dài.

    Có gia đình bố mẹ ly hôn, có con ngoài giá thú, một trong hai người chết…

    dẫn đến việc con cái bị bỏ rơi, thiếu sự dạy dỗ và tình thương của cha mẹ, không

    được dạy dỗ và chăm sóc chu đáo trẻ sẽ có tâm lý lệch lạc, tự do ngang bướng, bất

    cần. Chúng dễ dàng phạm tội khi bị rủ rê, lôi kéo… Có những gia đình bố mẹ thiếu

    hiểu biết hoặc không kiềm chế được nên đã coi việc đánh đập hoặc dùng nhục hình

    với trẻ như là quyền của họ.

    Nhiều đứa trẻ bị bạo hành đã nghĩ gia đình không còn yêu thương, che chắn

    và bảo vệ mình nữa. Chính cách xử sự này của bố mẹ đã khiến trẻ bị khủng hoảng

    về tâm lý, tự ti, khó hòa nhập, trẻ trở lên hung hãn, lì lợm, xa lánh mọi người và căm

    ghét gia đình. Trong hoàn cảnh đó trẻ dễ bị kẻ xấu lôi kéo, lợi dụng, khống chế thực

    hiện những hành vi trái pháp luật. Con hư còn bởi cách dạy. Sự quá nuông chiều,

    thỏa mãn mọi nhu cầu của con cái, thói quen đòi gì được nấy.

    Ngày nay, với những biến đổi của nền kinh tế hàng hóa và cơ chế thị trường

    văn hóa gia đình đang có biểu hiện xuống cấp vì những tác động xấu của đời sống

    xã hội. Với ảnh hưởng của mặt trái nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế đã

    kích thích nhu cầu ham muốn vật chất, ít chú trọng đời sống tình cảm tinh thần, tình

    trạng xung đột gia đình dẫn đến đổ vỡ và ly hôn ngày càng gia tăng, làm cho gia

    đình không được bền vững. Do đó chúng ta cần đặc biệt chú trọng giải quyết vấn đề

    gốc rễ là giáo dục con trẻ trong gia đình.

    2. Quyền được học tập của trẻ em trong Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam

    Một trong những quyền cơ bản nhất của trẻ em là quyền được học tập. Trong

    Công ước về quyền trẻ em cũng như trong pháp luật Việt Nam, học tập không

    những được quy định là quyền của trẻ em mà còn là bổn phận của cha mẹ, gia đình

    và toàn xã hội. Chính vì vậy, cha mẹ và những người thân trong gia đình có nghĩa

    vụ và quyền giáo dục con, chăm lo và tạo điều kiện cho con được học tập. Mục tiêu

    giáo dục được thể hiện trong Công ước về quyền trẻ em: “Gíao dục phảiphải nhằm

    phát triển nhân cách, tài năng, các khả năng tinh thần và thể chất của trẻ em đến

    mức cao nhất. Giáo dục phải chuẩn bị cho trẻ em một cuộc sống tích cực ở tuổi

    người lớn trong một xã hội tự do và khuyến khích trẻ em lòng kính trọng cha mẹ,

    bản sắc, văn hóa, ngôn ngữ và các giá trị của mình cũng như nguồn gốc văn hóa và

    các giá trị của người khác”.

    Cũng nhằm khẳng định quyền và nghĩa vụ của cha mẹ trong việc giáo dục và

    giúp đỡ con hoàn thiện về nhân cách, trưởng thành lành mạnh và trở thành người có

    ích cho xã hội, Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam quy định trong một số điều

    như:

    Khoản 1 Điều 34 về quyền và nghĩa vụ của cha mẹ:

    “1. Cha mẹ có nghĩa vụ và quyền thương yêu, trông nom, nuôi dưỡng,

    chăm sóc, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của con; tôn trọng ý kiến của

    con; chăm lo việc học tập và giáo dục để con phát triển lành mạnh về thể

    chất, trí tuệ và đạo đức, trở thành người con hiếu thảo của gia đình, công

    dân có ích cho xã hội.”

    Khoản 1 Điều 37 về quyền và nghĩa vụ giáo dục con:

    “1. Cha mẹ có nghĩa vụ và quyền giáo dục con, chăm lo và tạo điều kiện cho

    con học tập.

    Cha mẹ tạo điều kiện cho con được sống trong môi trường gia đình đầm ấm,

    hòa thuận; làm gương tốt cho con về mọi mặt; phối hợp chặt chẽ với nhà trường và

    các tổ chức xã hội trong việc giáo dục con….”

    Như vậy, các quy định của Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam thể hiện sự

    dân chủ, tiến bộ, vừa đề cao được trách nhiệm của cha mẹ trong việc bảo đảm được

    quyền lợi tương lai của con cái, vừa thể hiện sự quan tâm, là trách nhiệm của gia

    đình và xã hội trong việc giáo dục trẻ em phát triển toàn diện.

    II. Tình hình trẻ em nghỉ học và bỏ học sớm hiện nay

    1. Thực trạng về tình hình trẻ em nghỉ học và bỏ học sớm hiện nay

    “Báo cáo giám sát toàn cầu giáo dục cho mọi người năm 2008” cho thấy, Việt

    Nam có khoảng 1 triệu học sinh bỏ học. Ngoài vấn đề trẻ em bỏ học, Báo cáo giám

    sát đã đưa ra 2 khuyến cáo khác cho giáo dục Việt Nam. Đó là:

    1. Năm 2008, với chỉ số phát triển giáo dục cho mọi người (EDI) là 0,899,

    Việt Nam chỉ đứng thứ 79 trên tổng số 129 quốc gia được khảo sát.

    2. Việt Nam đang đứng trước nguy cơ không đạt được sáu mục tiêu giáo dục

    cho mọi người đến năm 2022 gồm: chăm sóc và giáo dục mầm non, phổ cập giáo

    dục tiểu học, đáp ứng nhu cầu học tập của thanh thiếu niên và người lớn, xóa mù

    chữ và môi trường tri thức, cân bằng giới và bình đẳng giới, chất lượng giáo dục.

    Trước hết phải khẳng định rằng không có hiện tượng học sinh bỏ học tràn lan,

    mà trái lại, trên phạm vi cả nước tỉ lệ học sinh bỏ học đã giảm nhiều trong hai những

    năm gần đây – khi mà toàn ngành giáo dục thực hiện quyết liệt cuộc vận động “Hai

    không” và Chỉ thị 33/2006/CT-TTg ngày 08/9/2006 của Thủ tướng Chính phủ về

    chống tiêu cực và khắc phục bệnh thành tích trong giáo dục. Tuy nhiên, tình trạng

    trẻ em bỏ học và nghỉ học sớm hiện nay vẫn còn báo động ở mức cao.

    Theo số liệu thống kê được công bố hàng năm của Bộ Giáo dục và Đào tạo, tỉ

    lệ học sinh bỏ học ở tiểu học bắt đầu giảm từ năm học 2006-2007, ở trung học (gồm

    trung học cơ sở và trung học phổ thông) đã giảm từ năm học 2005-2006, học kỳ I

    năm học 2007-2008, tỉ lệ học sinh bỏ học đã giảm mạnh ở tất cả các cấp học. Cụ

    thể:

    – Ở cấp Tiểu học: từ năm học 2003-2004 đến năm học 2006-2007, tỉ lệ học

    sinh bỏ học dao động từ 2,25% đến 3,33%; nhưng đến học kỳ I năm học

    2007-2008, chỉ còn 0,19% . Theo đó, ở học kỳ I năm học 2007 – 2008, số

    lượng học sinh tiểu học bỏ học là 12.966 HS.

    – Ở cấp THCS và THPT: từ năm học 2003-2004 đến năm học 2005-2006, tỷ

    lệ học sinh bỏ học dao động từ 6,29% đến 7,59%; Năm học 2006-2007 tỷ

    lệ này chỉ còn 2,07%. Học kỳ 1 năm học 2007 – 2008, tỷ lệ học sinh bỏ

    học giảm xuống 5 lần so với năm 2005 – 2006, còn 1,2%. Ở học kỳ I năm

    học 2007 – 2008, số lượng học sinh THCS và THPT bỏ học là 106.228

    HS.

    Cũng theo thống kê của Bộ GD&ĐT:

    – Đối với cấp Tiểu học, 58/64 tỉnh, thành có tỷ lệ học sinh bỏ học từ 0% 0,65%; 5 tỉnh có tỷ lệ bỏ học từ 0,95 – 2% và Kiên Giang là tỉnh có tỷ lệ

    bỏ học nhiều nhất với 5,16%.

    – Đối với cấp THCS và THPT, 45/64 tỉnh, thành có tỷ lệ bỏ học từ 0,06% 1,58%; 10 tỉnh có tỷ lệ bỏ học từ 1,71% – 1,99%; 8 tỉnh có tỷ lệ bỏ học từ

    2,0% – 5,51% và Trà Vinh có tỷ lệ bỏ học cao nhất với 9,81%.

    Như vậy, trên phạm vi cả nước, kết quả duy trì sĩ số học sinh tuy đã có tiến bộ

    vượt bậc nhưng số lượng học sinh bỏ học vẫn còn là vấn đề đáng quan tâm và phải

    tích cực khắc phục. Học kỳ I năm học 2007-2008 vẫn còn 12.966 học sinh tiểu học,

    106.228 học sinh trung học cơ sở và trung học phổ thông bỏ học. Cũng cần phải

    quan tâm đến một số địa phương có nhiều học sinh bỏ học. Ví dụ, cấp Tiểu học bên

    cạnh 29 tỉnh, thành phố tỉ lệ học sinh bỏ học xấp xỉ 0% vẫn còn 5 tỉnh tỉ lệ học sinh

    bỏ học ở mức cao (0,95% – 2%). Đối với trung học, trong khi có 30 tỉnh tỉ lệ học

    sinh bỏ học thấp hơn 1%, vẫn còn 9 tỉnh tỉ lệ từ 2% đến 9,81%.

    Đa số những trẻ bỏ học, nghỉ học sớm này sau đó đều đi lang thang, kiếm việc

    làm….Cũng vì bỏ học và nghỉ học sớm nên những trẻ em này đều có trình độ học

    vấn thấp, nhiều em còn tái mù chữ. Theo điều tra của Bộ Lao động – Thương binh

    và Xã hội, trẻ em lang thang từ 6 – 16 tuổi chưa từng đi học chiếm 4,7%; 34% bỏ

    học ở bậc Tiểu học; 58,7% bỏ học ở cấp Trung học cơ sở và 2,6% bỏ học ở cấp

    Trung học phổ thông.

    Qua khảo sát trẻ em lang thang tại Thành phố Hồ Chí Minh cho thấy tỷ lệ biết

    chữ là 73,9%; không biết chữ là 26,1%; có 12,9% học lớp 1; 39,6% học lớp 5 trở lên

    và rất ít trẻ em lang thang có được trình độ Trung học phổ thông.

    Như vậy, Luật phổ cập giáo dục Tiểu học đã có từ lâu, nhưng vẫn còn khoảng

    gần 40% trẻ em lang thang chưa được học xong chương trình tiểu học. Và theo kết

    quả điều tra của Viện Nghiên cứu Thanh niên kết hợp cùng ủy ban Dân số, Gia đình

    và Trẻ em Việt Nam thì tỷ lệ trẻ em lang thang muốn có cơ hội được tiếp tục học tập

    không phải là ít (dưới 15 tuổi là 50%; trên 15 tuổi là 25%); tuy nhiên nhu cầu học

    tập của các em đa dạng hơn, không chỉ đơn thuần là học văn hóa mà còn mong

    muốn học nghề.

    Khảo sát về trẻ em lang thang tại thành phố Hà Nội cũng cho thấy 46.6% trẻ

    em lang thang chỉ có trình độ học vấn từ mù chữ đến bậc tiểu học. Các em có trình

    độ trung học cơ sở là 51,7%. Kết quả đánh giá việc trẻ em lang thang ở Hà Nội tự

    nguyện học văn hóa đã cho thấy: 94,1% số em được điều tra thích thú với việc học;

    71,1% trẻ này rất thích thú với việc học nghề, có 47,3% trẻ cho rằng nếu được học

    nghề chắc chắn các em sẽ kiếm sống tốt hơn và nếu có việc làm ổn định các em sẽ

    không đi lang thang nữa.

    2. Nguyên nhân của tình trạng trẻ em bỏ học và nghỉ học sớm

     Nguyên nhân khách quan:

    Các tỉnh có tỉ lệ học sinh bỏ học cao đều là những địa phương có điều kiện

    kinh tế – xã hội khó khăn ở miền núi phía Bắc, Tây Nguyên và miền Tây Nam bộ.

    Điều đó cho thấy rằng nguyên nhân học sinh bỏ học trước hết là do hoàn cảnh khó

    khăn: dân cư sống rải rác, đường xá đi lại khó khăn, nhà xa trường, tỉ lệ hộ nghèo

    cao, nhiều học sinh thiếu ăn, suy dinh dưỡng, mặc không đủ ấm; một số học sinh lớp

    4, lớp 5 bỏ học do phải phụ giúp gia đình lao động kiếm sống; một số em phải bỏ

    học vì theo gia đình di dân tự do. Các trường học ở đây thường thiếu thiết bị, sân

    chơi, bãi tập; giáo viên ít có cơ hội giao lưu sinh hoạt, trao đổi chuyên môn, nghiệp

    vụ hơn ở các nơi khác. Những yếu tố này là nguyên nhân hạn chế chất lượng giáo

    dục và đời sống văn hoá của các nhà trường và do đó làm giảm niềm vui đến trường

    của học sinh. Còn một nguyên nhân khác là do nhận thức của các cấp lãnh đạo, của

    những người làm cha mẹ và của chính trẻ em về tầm quan trọng của tri thức và việc

    học tập còn hạn chế.

    Tuy vậy, ở các tỉnh, thành phố có kinh tế – xã hội phát triển cũng vẫn còn học

    sinh bỏ học do ở đó vẫn có một số địa bàn khó khăn như làng chài, vùng kinh tế

    mới. Tại buổi họp phối hợp hành động cùng Bộ Giáo dục và Đào tạo, đại diện các

    đoàn thể, tổ chức xã hội đã chỉ ra nhiều nguyên nhân khác nữa. Ví dụ, ở nhiều vùng

    nông thôn hiện nay có các gia đình bố mẹ đi làm ăn xa, con ở nhà với ông bà nên

    thiếu điều kiện chăm sóc, động viên theo dõi việc học hành. Ở các đô thị các quán

    chơi điện tử, các tụ điểm tệ nạn xã hội luôn là nơi rình rập, lôi kéo học sinh, nhất là

    đối với những em thiếu sự theo dõi, quản lý của gia đình. Đã sa đà vào những nơi đó

    thì học lực của các em càng giảm sút nên nguy cơ bỏ học càng tăng. Có đại biểu cho

    rằng trong khi mở ra nhiều khu công nghiệp, một bộ phận học sinh trung học phổ

    thông đã sớm rời ghế nhà trường để đi làm thì đó là một dấu hiệu tích cực của sự

    phân luồng tự nhiên sau cấp trung học cơ sở.

     Nguyên nhân chủ quan:

    Đó là bệnh thành tích của nhiều năm qua, chúng ta đã đánh giá học sinh không

    đúng thực chất, nay thực hiện đánh giá đúng năng lực học sinh, nhiều em học yếu

    nản nên bỏ học. Tiếp đó là những yếu kém, bất cập trong những năm đầu thực hiện

    thay sách, đổi mới phương pháp dạy học. Trước hết phải kể đến chương trình, nội

    dung dạy học, một bộ sách giáo khoa thống nhất sử dụng trong cả nước rất khó phù

    hợp với tất cả các vùng miền. Tuy chưa có sự đánh giá đầy đủ, khoa học nhưng hiện

    nay đã và đang có nhiều ý kiến cho rằng chương trình, nội dung sách giáo khoa còn

    bất cập, một số chỗ chưa phù hợp với với điều kiện dạy học và khả năng nhận thức

    của học sinh….

    Về đội ngũ giáo viên, có một bộ phận tuy đã chuẩn hóa về bằng cấp nhưng do

    quá trình đào tạo không liên tục nên năng lực thực sự còn hạn chế. Việc đổi mới

    phương pháp dạy học cũng là khó khăn không nhỏ của lớp giáo viên cao tuổi đã quá

    quen với lối dạy học “đọc chép”. Một số ít giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục còn

    vi phạm đạo đức nhà giáo, do ảnh hưởng mặt trái của cơ chế thị trường, làm giảm uy

    tín chung của ngành.

    3. Một số giải pháp hạn chế tình trạng trẻ em bỏ học và nghỉ học sớm

    Để từng bước hạn chế tình trạng trẻ em bỏ học và nghỉ học sớm hiện nay, cần

    tập trung vào một số giải pháp sau:

    – Nâng cao nhận thức của xã hội, tăng cường trách nhiệm và năng lực của

    gia đình, nhà trường, cộng đồng trong việc đảm bảo cho trẻ em được học tập, cũng

    như có môi trường sống lành mạnh, được phát triển cả về trí tuệ và thể chất. Nhất là

    những người làm cha làm mẹ, những người thân thích của trẻ em . Thực hiện các

    hoạt động truyền thông, giáo dục, phổ biến kiến thức, pháp luật, kỹ năng bảo vệ,

    chăm sóc và giáo dục trẻ em cho cha mẹ, người chăm sóc trẻ, giáo viên, cộng đồng

    và bản thân trẻ em.

    – Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật vệ bảo vệ trẻ em: Sửa đổi, bổ sung

    Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em 2004 ngày càng hoàn thiện; bổ sung

    những quy định cụ thể về quyền được học tập của trẻ em, đặc biệt là quy định nghĩa

    vụ, trách nhiệm của cha mẹ và những người thân thích đối với việc đảm bảo cho trẻ

    em được học tập.

    – Tăng cường sự kết hợp chặt chẽ giữa nhà trường – gia đình – xã hội. Nhà

    trường trong việc quản lý giáo dục trẻ em, cần phải thực hiện tốt công tác tư vấn,

    tham vấn học đường và phát huy vai trò của công tác Đoàn, Đội. Môi trường gia

    đình có tác động tích cực đến việc hình thành nhân cách, do đó cha mẹ phải là tấm

    gương tốt để con cái noi theo. Chính quyền địa phương phải quan tâm, chăm lo cho

    học tập và sự phát triển của trẻ em. Không chỉ riêng Bộ GD-ĐT, nhiều tổ chức, đoàn

    thể cùng tham gia như quyên góp sách giáo khoa, quần áo, tài chính… đảm bảo học

    sinh đến trường đều có sách vở. Các tổ chức chính trị xã hội cũng kết hợp với nhà

    trường phân công người giúp đỡ học sinh yếu kém…

    – Ưu tiên tăng ngân sách đầu tư cho phát triển giáo dục, nâng cao chất lượng

    giáo dục ở những vùng, miền khó khăn của đất nước, vùng có đông người dân tộc

    thiểu số, biên giới, hải đảo. Đồng thời, mở rộng các trung tâm giáo dục thường

    xuyên, giáo dục cộng đồng để tất cả người dân Việt Nam đều có quyền bình đẳng và

    được học tập

    KẾT LUẬN

    Để đầu tư phát triển nguồn nhân lực của đất nước, trước hết phải quan tâm

    đến việc học tập của trẻ em vì trẻ em là tương lai của đất nước. Mục tiêu đầu tiên là

    giảm tỉ lệ trẻ em bỏ học và nghỉ học. Giải quyết vấn đề này cần có sự tham gia đồng

    bộ của nhiều ngành, nhiều tổ chức chính trị – xã hội, cộng đồng, gia đình và chính

    bản thân các em. Việc đảm bảo cơ hội học tập của các em phải được quan tâm

    thường xuyên và coi đó là trách nhiệm chung của toàn xã hội trong đó trách nhiệm

    chính và trực tiếp là gia đình.

    MỤC LỤC

    Tra

    ng

    MỞ ĐẦU…………………………………………………………………………….1

    NỘI DUNG …………………………………………………………… ……………1

    I.

    Cơ sở lý luận…………………………………………………………………1

    1. Vai trò và trách nhiệm của cha mẹ và những người thân thích đối với sự hình

    thành và phát triển của trẻ em………………………………………………………..1

    2. Quyền được học tập của trẻ em trong Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam……3

    II.

    Tình hình trẻ em bỏ học và nghỉ học sớm hiện nay………………………..4

    1. Thực trạng về tình hình trẻ em nghỉ học và bỏ học sớm hiện nay…………5

    2. Nguyên nhân của tình trạng trẻ em bỏ học và nghỉ học sớm…………………7

    3. Một số giải pháp hạn chế tinhg trạng trẻ em bỏ học và nghỉ học sớm……9

    KẾT LUẬN………………………………………………………………………..10

    --- Bài cũ hơn ---

  • Kết Hôn Trong Phạm Vi 3 Đời Có Vi Phạm Pháp Luật Không?
  • Điều Kiện Kết Hôn Trong Luật Hôn Nhân Và Gia Đình 2014
  • Chia Quyền Sử Dụng Đất Theo Luật Hôn Nhân Và Gia Đình Khi Ly Hôn Như Thế Nào?
  • Tìm Hiểu Về Luật Hôn Nhân Và Gia Đình Khi Ly Hôn
  • Tìm Hiểu Luật Hôn Nhân Gia Đình Khi Ly Hôn
  • Tình Tiết “phạm Tội Đối Với Trẻ Em” Trong Pháp Luật Hình Sự Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Bộ Luật Hình Sự Giá Bao Nhiêu
  • Phải Chăng Quy Định Của Blhs 2022 Về Tội Bắt Cóc Trẻ Em Còn Chưa Đủ Sức Răn Đe?
  • Hình Phạt Nào Cho Những Kẻ Phạm Tội Bắt Cóc Trẻ Em?
  • Hành Hung Người Nghi Bắt Cóc Trẻ Em Có Thể Bị Xử Lý Hình Sự
  • Những Điểm Mới Của Bộ Luật Hình Sự Năm 2022 Về Tội Phạm Xâm Hại Trẻ Em
  • ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

    KHOA LUẬT

    NGUYỄN HỒNG OANH

    T×NH TIÕT “PH¹M TéI §èI VíI TRÎ EM”

    TRONG PH¸P LUËT H×NH Sù VIÖT NAM

    LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

    HÀ NỘI – 2022

    ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

    KHOA LUẬT

    NGUYỄN HỒNG OANH

    T×NH TIÕT “PH¹M TéI §èI VíI TRÎ EM”

    TRONG PH¸P LUËT H×NH Sù VIÖT NAM

    Chuyên ngành: Luật Hình sự và Tố tụng hình sự

    Mã số: 60 38 01 04

    LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

    Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. NGUYỄN NGỌC CHÍ

    HÀ NỘI – 2022

    ĐỐI VỚI TRẺ EM” TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAMError! Bookmark no

    1.1.

    KHÁI NIỆM TÌNH TIẾT “PHẠM TỘI ĐỐI VỚI TRẺ EM”Error! Bookmark n

    1.1.1. Khái quát về đối tượng tác động của tội phạmError! Bookmark not defined.

    1.1.2. Tình tiết “phạm tội đối với trẻ em” trong luật hình sựError! Bookmark not defi

    1.2.

    ĐẶC ĐIỂM CỦA TÌNH TIẾT “PHẠM TỘI ĐỐI VỚI TRẺ EM”Error! Bookm

    1.2.1. Hành vi phạm tội có đối tượng tác động là trẻ emError! Bookmark not defined

    1.2.2. Phạm tội đối với trẻ em làm tăng mức độ nguy hiểm cho xã hội

    của hành vi phạm tội, từ đó làm tăng nặng TNHS đối với người

    phạm tội ………………………………………. Error! Bookmark not defined.

    1.2.3. “Phạm tội đối với trẻ em” là tình tiết định tội, tình tiết định khung

    hình phạt và tình tiết tăng nặng TNHSError! Bookmark not defined.

    1.3.

    TÌNH TIẾT “PHẠM TỘI ĐỐI VỚI TRẺ EM” TRONG PHÁP

    LUẬT HÌNH SỰ MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚIError! Bookmark not def

    1.3.1. Pháp luật hình sự Liên Bang Nga …… Error! Bookmark not defined.

    1.3.2. Pháp luật hình sự Trung Quốc ……….. Error! Bookmark not defined.

    1.3.3. Pháp luật hình sự Thụy Điển ………….. Error! Bookmark not defined.

    3

    Chương 2: QUY ĐỊNH VỀ TÌNH TIẾT “PHẠM TỘI ĐỐI VỚI TRẺ

    EM” TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VÀ THỰC

    TIỄN ÁP DỤNG …………………………. Error! Bookmark not defined.

    2.1.

    TÌNH TIẾT “PHẠM TỘI ĐỐI VỚI TRẺ EM” TRONG LUẬT

    HÌNH SỰ VIỆT NAM ………………….. Error! Bookmark not defined.

    2.1.1. Tình tiết “Phạm tội đối với trẻ em” trong PLHS Việt Nam trước

    khi BLHS năm 1999 có hiệu lực …….. Error! Bookmark not defined.

    2.1.2. Tình tiết “Phạm tội đối với trẻ em” trong PLHS Việt Nam theo

    quy định của BLHS năm 1999 ……….. Error! Bookmark not defined.

    2.2.

    THỰC TIỄN ÁP DỤNG TÌNH TIẾT “PHẠM TỘI ĐỐI VỚI

    TRẺ EM” …………………………………….. Error! Bookmark not defined.

    2.2.1. Số liệu về các vụ án có tình tiết “phạm tội đối với trẻ em”Error! Bookmark not

    2.2.2. Một số vụ án điển hình ………………….. Error! Bookmark not defined.

    2.2.3.

    Đánh giá thực tiễn áp dụng tình tiết “phạm tội đối với trẻ em”Error! Bookmark n

    Chương 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN CÁC QUY

    ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VÀ NHỮNG GIẢI

    PHÁP BẢO ĐẢM ÁP DỤNG TÌNH TIẾT “PHẠM TỘI ĐỐI

    VỚI TRẺ EM” TRONG THỰC TIỄN HIỆN NAYError! Bookmark not def

    3.1.

    SỰ CẦN THIẾT CỦA VIỆC HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ

    CÁC GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM ÁP DỤNG TÌNH TIẾT “PHẠM

    TỘI ĐỐI VỚI TRẺ EM”……………….. Error! Bookmark not defined.

    3.2.

    HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VỀ TÌNH TIẾT

    “PHẠM TỘI ĐỐI VỚI TRẺ EM” ….. Error! Bookmark not defined.

    3.2.1. Tội phạm hóa một số hành vi xâm hại trẻ emError! Bookmark not defined.

    3.2.2. Quy định rõ cấu thành các tội xâm hại trẻ emError! Bookmark not defined.

    3.2.3. Quy định thêm về tình tiết định khung tăng nặngError! Bookmark not defined.

    3.2.4. Quy định về tình tiết tăng nặng TNHSError! Bookmark not defined.

    4

    3.2.5. Về cách xác định tuổi của trẻ em ……. Error! Bookmark not defined.

    3.3.

    MỘT SỐ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM ÁP DỤNG TÌNH TIẾT

    “PHẠM TỘI ĐỐI VỚI TRẺ EM” ….. Error! Bookmark not defined.

    3.3.1. Một số giải pháp khác về hoàn thiện chính sách, pháp luậtError! Bookmark not

    3.3.2. Một số giải pháp về tổ chức thực hiện Error! Bookmark not defined.

    KẾT LUẬN ……………………………………………. Error! Bookmark not defined.

    DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO …………………………………………….. 12

    5

    MỞ ĐẦU

    1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

    Chủ tịch Hồ Chí Minh lúc sinh thời luôn dành tình cảm và sự quan tâm

    đặc biệt đối với trẻ em, sự quan tâm của Người bắt nguồn từ tình yêu thương

    trẻ em vô hạn, và hơn thế nữa, bắt nguồn từ tầm nhìn xa trông rộng của chiến

    lược “vì lợi ích mười năm trồng cây, vì lợi ích trăm năm trồng người”, “ngày

    nay các cháu là nhi đồng, ngày mai các cháu là người chủ của nước nhà, của

    thế giới”… Do chưa phát triển đầy đủ về thể chất và trí tuệ nên trẻ em có

    những đặc điểm tâm sinh lý khá đặc thù, dễ bị tổn thương, cần được đặc biệt

    quan tâm chăm sóc và bảo vệ.

    Tuy nhiên, hiện nay tình trạng phạm tội đối với trẻ em diễn ra ngày

    càng gia tăng về số vụ và mức độ nghiêm trọng, trong đó có các tội liên

    quan đến tệ nạn xã hội (ma túy, mại dâm…), các tội xâm phạm về tình dục,

    các tội xâm phạm về sức khỏe của trẻ em. Điều này đã gây bức xúc, nhức

    nhối trong dư luận và để lại nhiều hậu quả đặc biệt nghiêm trọng, vì phạm

    tội đối với trẻ em có tính chất đặc biệt hơn so với các trường hợp phạm tội

    thông thường khác ở chỗ đối tượng bị xâm hại là trẻ em – những người bị

    hạn chế hoặc hoàn toàn không có khả năng, điều kiện tự vệ hoặc bảo vệ

    mình. Hành vi xâm hại để lại hậu quả rất nặng nề, nó không chỉ gây tổn hại

    đến danh dự, nhân phẩm, tính mạng, sức khỏe của trẻ mà còn tác động tiêu

    cực đến tâm lý và sự phát triển bình thường của các em sau này, nhất là các

    em đang ở độ tuổi còn quá nhỏ.

    Để ngăn chặn tình trạng phạm tội đối với trẻ em, Đảng và Nhà nước ta

    đã đề ra nhiều chính sách, biện pháp để thực thi trong thực tế, trong đó biện

    pháp hình sự là biện pháp nghiêm khắc nhất. BLHS năm 1999 (sửa đổi, bổ

    sung năm 2009) có quy định về tình tiết “Phạm tội đối với trẻ em”. Tình tiết

    6

    này vừa là tình tiết tăng nặng TNHS được quy định tại điểm h khoản 1 Điều

    48 thuộc Phần chung của BLHS, vừa là tình tiết định tội hoặc định khung

    hình phạt quy định trong một số CTTP ở Phần các tội phạm của Bộ luật này.

    Tuy nhiên, trong khoa học luật hình sự Việt Nam, vấn đề phạm tội đối với trẻ

    em vẫn chưa được nghiên cứu một cách sâu sắc, toàn diện, đầy đủ và có hệ

    thống. Một loạt các vấn đề cần được làm sáng tỏ dưới góc độ khoa học để từ

    đó có thể có một quan điểm thống nhất và đầy đủ, chẳng hạn: khái niệm, đặc

    điểm của tình tiết “Phạm tội đối với trẻ em”, lịch sử phát triển của các quy

    phạm pháp luật về chế định này, nghiên cứu so sánh PLHS của các nước có

    quy định vấn đề “phạm tội đối với trẻ em”…

    Thêm vào đó, việc áp dụng vấn đề “phạm tội đối với trẻ em” trong thực

    tiễn cũng đặt ra nhiều vướng mắc đòi hỏi khoa học luật hình sự phải nghiên

    cứu, giải quyết, chẳng hạn: điều kiện áp dụng tình tiết “phạm tội đối với trẻ

    em”, tiêu chí đánh giá, tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi

    phạm tội đối với trẻ em, các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng tình tiết này

    trong thực tiễn…

    Do đó, việc tiếp tục nghiên cứu sâu sắc hơn nữa những vấn đề lý luận

    về tình tiết “phạm tội đối với trẻ em” và sự thể hiện của tình tiết này trong các

    quy định của BLHS hiện hành, đồng thời đánh giá việc áp dụng tình tiết này

    trong thực tiễn nhằm đề ra những kiến nghị lập pháp và các giải pháp nâng

    cao hiệu quả áp dụng các quy phạm pháp luật về tình tiết này trong giai đoạn

    hiện nay là vấn đề mang tính cấp thiết. Đây là lý do chúng tôi quyết định chọn

    đề tài “Tình tiết “Phạm tội đối với trẻ em” trong pháp luật hình sự Việt

    Nam” làm luận văn thạc sĩ luật học của mình.

    2. Tình hình nghiên cứu đề tài

    Vấn đề phạm tội đối với trẻ em đã được một số nhà luật học quan

    tâm nghiên cứu ở những mức độ khác nhau, từ những khía cạnh và phương

    diện khác nhau.

    7

    8

    9

    nghĩa duy vật biện chứng của triết học Mác – Lênin; tư tưởng Hồ Chí Minh về

    Nhà nước và pháp luật, các quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về xây dựng

    nhà nước pháp quyền, về chính sách hình sự, về vấn đề cải cách tư pháp được

    thể hiện trong các Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính

    trị về “Một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới”, Nghị

    quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách

    tư pháp đến năm 2022.

    Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả đã sử dụng các phương pháp

    nghiên cứu cụ thể và đặc thù của khoa học luật hình sự như: Phương pháp

    phân tích, tổng hợp; Phương pháp so sánh đối chiếu; Phương pháp thống kê,

    điều tra, khảo sát thực tế; Phương pháp diễn dịch, phương pháp quy nạp để

    tổng hợp các tri thức khoa học và luận chứng các vấn đề tương ứng được

    nghiên cứu trong luận văn.

    5. Mục đích và nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài

    5.1. Mục đích nghiên cứu

    Mục đích nghiên cứu của luận văn là nghiên cứu các quy định của pháp

    luật về tình tiết “Phạm tội đối với trẻ em” dưới khía cạnh lập pháp hình sự và

    áp dụng tình tiết này trong thực tiễn, từ đó luận văn đưa ra những giải pháp

    nhằm hoàn thiện các quy định về tình tiết này trong luật hình sự Việt Nam,

    đồng thời đề xuất những giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng tình tiết này

    trong thực tiễn.

    5.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

    Từ mục đích nghiên cứu nêu trên, luận văn có những nhiệm vụ chủ yếu sau:

    (1) Từ cơ sở kết quả tổng hợp các quan điểm của các tác giả về tình tiết

    “phạm tội đối với trẻ em”, luận văn nghiên cứu làm sáng tỏ một số vấn đề

    chung về tình tiết này như: khái niệm, đặc điểm của trẻ em; Khái niệm, đặc

    điểm của tình tiết tăng nặng TNHS “Phạm tội đối với trẻ em”; Khái niệm, đặc

    10

    11

    DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

    I.

    Tài liệu tiếng Việt

    1.

    Ban soạn thảo Bộ luật hình sự sửa đổi (2014), Dự thảo phần chung Bộ

    luật hình sự (sửa đổi), Hà Nội.

    2.

    Bộ văn hóa thể thao và du lịch (2010), Thông tư số 09/2010/TTBVHTTDL ngày 24/8/2010 của Bộ văn hóa thể thao và du lịch quy định

    chi tiết thi hành một số quy định tại Nghị định số 75/2010/NĐ-CP

    12/7/2010 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong

    hoạt động văn hóa, Hà Nội.

    3.

    Phạm Văn Báu (2002), “Phạm tội đối với trẻ em – những vấn đề lý luận

    và thực tiễn”, Tạp chí luật học, (3).

    4.

    Phạm Văn Báu (2010), “Những bất cập và phương hướng hoàn thiện

    quy định về một số tội xâm phạm nhân phẩm của con người trong Bộ

    luật hình sự Việt Nam năm 1999″, Tạp chí luật học, (1).

    5.

    Lê Cảm (chủ biên) (2001), Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Phần

    chung), NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.

    6.

    Lê Cảm (chủ biên) (2007), Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Phần

    chung), NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.

    7.

    Lê Cảm (chủ biên) (2003), Giáo trình luật hình sự Việt Nam (Phần các

    tội phạm), NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.

    8.

    Lê Cảm (chủ biên) (2005), Sách chuyên khảo sau đại học: Những vấn

    đề cơ bản trong khoa học luật hình sự (Phần chung), NXB Đại học

    Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.

    9.

    Lê Cảm và Trịnh Quốc Toản (2004), Định tội danh, lý luận, hướng dẫn

    mẫu, và 350 bài thực hành, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.

    10.

    Lê Cảm và Trịnh Tiến Việt (2002), “Nhân thân người phạm tội: Một số

    vấn đề lý luận cơ bản”, Tạp chí tòa án, (1).

    12

    Lê Cảm, Đỗ Thị Phượng (2004), “Tư pháp hình sự đối với người chưa

    thành niên những khía cạnh pháp lý hình sự, tố tụng hình sự, tội phạm

    học và so sánh pháp luật”, Tạp chí tòa án, (20, 21).

    12.

    Lê Cảm (2010), “Những vấn đề chung về bảo vệ các quyền con người

    bằng pháp luật trong lĩnh vực tư pháp hình sự”, Bảo đảm quyền con

    người trong tư pháp hình sự Việt Nam (sách chuyên khảo), NXB Đại

    học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, Hồ Chí Minh.

    13.

    Nguyễn Ngọc Chí (chủ biên) (2011), Những vấn đề lý luận và thực tiễn

    về Luật hình sự quốc tế, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.

    14.

    Nguyễn Ngọc Chí (chủ biên) (2012), Giáo trình Luật hình sự quốc tế,

    NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.

    15.

    Nguyễn Ngọc Chí (chủ biên) (2013), Giáo trình Luật Tố tụng hình sự

    Việt Nam, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.

    16.

    Chính phủ lâm thời Việt Nam dân chủ cộng hòa (1945), Sắc lệnh số 47

    của Chủ tịch Chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ cộng hòa ngày

    10/10/1945, Hà Nội.

    17.

    Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày

    02/01/2002 của Bộ Chính trị về “Một số nhiệm vụ trọng tâm công tác

    tư pháp trong thời gian tới”, Hà Nội.

    18.

    Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày

    02/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm

    2020, Hà Nội.

    19.

    Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 24/5

    của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp

    luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2022, Hà Nội.

    20.

    Đinh Bích Hà (dịch và giới thiệu) (2007), Bộ luật hình sự của nước

    Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, NXB Tư pháp, Hà Nội.

    13

    Nguyễn Minh Hương (2014), Các tội phạm xâm hại tình dục trẻ em

    trong luật hình sự Việt Nam, Luận văn thạc sĩ luật học, Khoa Luật Đại

    học quốc gia Hà Nội, Hà Nội.

    22.

    Nguyễn Văn Hương (2003), “Vấn đề “tình tiết hình sự” trong bộ luật

    hình sự”, Tạp chí luật học, (2).

    23.

    Nguyễn Văn Hương (2012), “Phòng ngừa tội mua bán người, tội mua

    bán trẻ em ở Việt Nam hiện nay”, Tạp chí luật học, (1).

    24.

    Nguyễn Phương Lan (2013), “Hành vi xâm hại tình dục trẻ em và vấn

    đề bảo vệ quyền trẻ em”, Tạp chí luật học, (9).

    25.

    Liên hợp quốc (1989), Công ước về quyền trẻ em.

    26.

    Liên hợp quốc (1959), Tuyên bố về quyền trẻ em.

    27.

    Lê Văn Luật (2006), “Bàn về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự

    “Phạm tội đối với trẻ em””, Tạp chí khoa học pháp lý, (2), 33.

    28.

    Dương Tuyết Miên (2004), “Các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách

    nhiệm hình sự theo Bộ luật hình sự năm 1999″, Tạp chí tòa án, (1).

    29.

    Quốc hội (2005), Bộ luật Dân sự, Hà Nội.

    30.

    Quốc hội (2003), Bộ luật Tố tụng hình sự, Hà Nội.

    31.

    Quốc hội (1999), Bộ luật Hình sự, Hà Nội.

    32.

    Quốc hội (1985), Bộ luật Hình sự, Hà Nội.

    33.

    Quốc hội (2013), Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt

    Nam, Hà Nội.

    34.

    Quốc hội (2004), Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, Hà Nội.

    35.

    Quốc hội (2009), Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật hình sự,

    Hà Nội.

    36.

    Lê Nguyên Thanh (2010), “Quyền của người bị hại và vấn đề bảo vệ

    người bị hại trong tố tụng hình sự Việt Nam”, Bảo đảm quyền con

    người trong tư pháp hình sự Việt Nam (sách chuyên khảo), NXB Đại

    học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, Hồ Chí Minh.

    14

    Tòa án nhân dân tối cao (2006), Nghị quyết số 01/2006/NQ-HĐTP

    ngày 12/5/2006 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao

    hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật hình sự, Hà Nội.

    38.

    Tòa án nhân dân tối cao (1999), Công văn số 16/1999/KHXX ngày

    01/02/1999 của Tòa án nhân dân tối cao giải đáp một số vấn đề về hình

    sự, dân sự, kinh tế, lao động, hành chính và tố tụng, Hà Nội.

    39.

    Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ công an,

    Bộ quốc phòng, Bộ tư pháp (2013), Thông tư liên tịch số

    01/2013/TTLT/ TANDTC-VKSNDTC-BCA-BQP-BTP ngày 23/7/2013

    của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ công

    an, Bộ quốc phòng, Bộ tư pháp hướng dẫn việc truy cứu TNHS đối với

    người có hành vi mua bán người; mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt

    trẻ em, Hà Nội.

    40.

    Trường Đại học Luật Hà Nội (2010), Bộ luật hình sự Thụy Điển, NXB

    Công an nhân dân, Hà Nội

    41.

    Trường Đại học Luật Hà Nội (2011), Bộ luật hình sự Liên Bang Nga,

    NXB Công an nhân dân, Hà Nội.

    42.

    Trường Đại học Luật Hà Nội (2009), Giáo trình Luật hình sự Việt Nam

    tập 1, NXB Công an nhân dân, Hà Nội.

    43.

    Trường Đại học Luật Hà Nội (2009), Giáo trình Luật hình sự Việt Nam

    tập 2, NXB Công an nhân dân, Hà Nội.

    44.

    Đào Trí Úc (2001), “Những đảm bảo cần thiết cho việc thi hành Bộ luật

    hình sự năm 1999″, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, (1).

    45.

    Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ công an,

    Bộ tư pháp, Bộ lao động – thương binh và xã hội (2011), Thông tư liên

    tịch số 01/2011/ TTLT – VKSTC – TANDTC – BCA – BTP – BLĐTBXH

    ngày 12/7/2011 của Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân

    tối cao, Bộ công an, Bộ tư pháp, Bộ lao động – thương binh và xã hội

    hướng dẫn thi hành một số quy định của Bộ Luật Tố tụng Hình sự đối

    với người tham gia tố tụng là người chưa thành niên, Hà Nội.

    15

    Trịnh Tiến Việt (2006), “Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

    Một số vấn đề lý luận và thực tiễn”, Tạp chí nghề luật, (4).

    47.

    Trịnh Tiến Việt (2013), Tội phạm và trách nhiệm hình sự (sách chuyên

    khảo), NXB Chinh trị quốc gia, Hà Nội.

    48.

    Trịnh Tiến Việt (2013), Pháp luật hình sự Việt Nam về miễn trách nhiệm

    hình sự và thực tiễn áp dụng, NXB Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội.

    49.

    Trần Thị Quang Vinh (2010), “Bảo vệ quyền trẻ em bằng pháp luật

    hình sự trong Phần các tội phạm Bộ luật hình sự 1999″, Bảo đảm quyền

    con người trong tư pháp hình sự Việt Nam (sách chuyên khảo), NXB

    Đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, Hồ Chí Minh.

    50.

    Trương Quang Vinh (2004), “Đấu tranh phòng chống tội mua bán phụ

    nữ và trẻ em ở nước ta trong giai đoạn hiện nay”, Tạp chí luật học (3).

    II. Tài liệu tham khảo từ mạng internet

    51.

    http://baophapluat.vn/Utilities/PrintView.aspx?distributionid=137527,

    Liệu pháp nào giảm thiểu tội phạm xâm hại trẻ em?.

    52.

    http://duantuoitho.tourism.vn/home.php?options=items&code=36, Hội

    thảo chia sẻ kinh nghiệm, bàn giải pháp phòng, chống tội phạm mua

    bán, đánh tráo, chiếm đoạt trẻ em.

    53.

    http://luatminhkhue.vn/toi-pham/toi-giet-con-moi-de.aspx, Tội giết con mới đẻ.

    54.

    http://sotaythuky.toaan.gov.vn/portal/page/portal/tandtc/Baiviet?p_page

    _id=1754190&p_cateid=1751909&article_details=1&item_id=573587

    1, Thực trạng về tình hình xét xử các vụ xâm hại trẻ em trong năm

    2009-2010 của ngành Tòa án nhân dân.

    55.

    http://tks.edu.vn/thong-tin-khoa-hoc/chi-tiet/79/266, Một số vấn đề về

    bảo vệ trẻ em trong các vụ án xâm hại trẻ em.

    56.

    http://tcldxh.vn/ArticlesDetail/tabid/193/cateid/12/id/6431/language/viVN/Default.aspx, Độ tuổi trẻ em Việt Nam với công ước của Liên Hợp

    quốc về quyền trẻ em.

    16

    http://toaan.gov.vn/portal/page/portal/tandtc/Baiviet?p_page_id=17541

    90&p_cateid=1751909&article_details=1&item_id=11414401, Một số

    vấn đề khi áp dụng tình tiết: “Phạm tội đối với trẻ em”.

    58.

    http://toaan.gov.vn/portal/page/portal/tandtc/Baiviet?p_page_id=17541

    90&p_cateid=1751909&item_id=49285783&article_details=1,

    Các

    giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả phòng, chống tội phạm về

    xâm hại tình dục đối với phụ nữ và trẻ em gái.

    59.

    http://vi.wikipedia.org/wiki/Quan_h%E1%BB%87_x%C3%A3_h%E1

    %BB%99i, Quan hệ xã hội.

    60.

    http://vksbacgiang.gov.vn/chuyendephapluat/59/3086, Một số vướng

    mắc khi áp dụng tình tiết “Phạm tội đối với trẻ em”.

    61.

    http://vksquangtri.gov.vn/index.php?language=vi&nv=news&op=Traodoi-nghiep-vu/CAN-NHAN-THUC-DUNG-DE-AP-DUNG-CHINHXAC-TINH-TIET-TANG-NANG-TRACH-NHIEM-HINH-PHAMTOI-DOI-VOI-TRE-EM-PHU-NU-CO-THAI-NGUOI-GIA-QUYDINH-TAI-DIEM-H-KHOAN-1-DIEU-48-BLHS-381.

    62.

    http://vksbacgiang.gov.vn/chuyendephapluat/59/3655.

    63.

    http://www.chinhphu.vn/portal/page/portal/chinhphu/trangchu/layykien

    nhandanboluathinhsusuadoi, Dự thảo Bộ luật Hình sự sửa đổi.

    17

    --- Bài cũ hơn ---

  • Trách Nhiệm Truy Cứu Pháp Luật Hình Sự Đối Với Trẻ Em 14 Tuổi?
  • Luận Văn: Phạm Tội Đối Với Trẻ Em Trong Pháp Luật Hình Sự, Hot
  • Đình Chỉ Miễn Trách Nhiệm Hình Sự Theo Khoản 3 Điều 29 Bộ Luật Hình Sự
  • Khoản 3 Điều 324 Bộ Luật Hình Sự
  • Phân Biệt Khoản 2 Và Khoản 3 Điều 104 Bộ Luật Hình Sự 1999
  • Luận Án: Quyền Trẻ Em Trong Xây Dựng Nhà Nước Pháp Quyền Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Tổ Chức Lập Quy Và Các Văn Bản Pháp Lý Hiện Hành Kế Toán
  • Thế Nào Là Gia Đình Có Công Với Cách Mạng?
  • Như Thế Nào Là Người Có Công Với Cách Mạng?
  • Liệt Sỹ Có Được Hưởng Chế Độ Người Có Công Với Cách Mạng Khi Không Còn Giấy Tờ
  • “người Có Công Với Cách Mạng” Theo Quy Định Của Bộ Luật Hình Sự 2022
  • 1. Tính cấp thiết của đề tài Trẻ em là những ngƣời chƣa trƣởng thành, còn non nớt về thể chất và tinh thần, thƣờng dễ bị tổn thƣơng và xâm hại về các quyền tự do và lợi ích hợp pháp của mình; trẻ em cũng là lớp công dân đặc biệt, nguồn nhân lực cho tƣơng lai, nhân tố quyết định đến sự phát triển về kinh tế, văn hóa, xã hội của đất nƣớc; vì vậy trẻ em là đối tƣợng cần đƣợc đặc biệt ƣu tiên trong xã hội. Luật quốc tế về nhân quyền đã dành sự quan tâm đặc biệt đến quyền trẻ em và qui định các thiết chế pháp lý để đảm quyền trẻ em đƣợc thực thi trong đời sống; các văn bản pháp lý quốc tế quan trọng về quyền trẻ em đã đƣợc ban hành, bao gồm: Tuyên bố về quyền trẻ em của Hội quốc liên năm 1923; Tuyên bố về quyền trẻ em của Liên hợp quốc năm 1959; Công ƣớc về quyền trẻ em của Liên hợp quốc năm 1989; Công ƣớc 182 về các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất do Tổ chức lao động quốc tế thông qua năm 2000; Các nghị định thƣ về sự tham gia của trẻ em trong xung đột quân sự năm 2000 và nạn buôn bán trẻ em, mãi dâm trẻ em năm 2002. Việt Nam là một quốc gia còn nhiều khó khăn nhƣng là một trong những nƣớc đầu tiên tham gia phê chuẩn Công ƣớc quốc tế về QTE, đồng thời đã nội luật hóa Công ƣớc quốc tế về QTE trong Hiến pháp của nhà nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và các văn bản pháp luật chuyên ngành nhƣ: Luật bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004, luật hình sự, Luật Hôn nhân và gia đình… Từ những nỗ lực nêu trên quyền trẻ em ở Việt Nam đã đƣợc tôn trọng, bảo đảm phát triển trẻ em về thể chất và tinh thần, quyền tham gia, quyền phát triển, quyền bảo vệ và quyền sống còn. Tuy nhiên trên thực tế quyền trẻ em còn bị xâm phạm, chƣa đƣợc đảm bảo: vẫn còn tình trạng trẻ em bị mù chữ, trẻ em bị xâm hại tình dục, bị bạo lực về thể chất và tinh thần, tình trạng lao động trẻ em còn diễn ra… Có nhiều nguyên nhân dẫn tới những hạn chế nói trên nhƣ: các nguyên nhân về gia đình, nhà trƣờng, xã hội; trong đó bảo đảm pháp lý về quyền trẻ em là một trong những nguyên nhân quan trọng nhất; cụ thể: Hiện nay các tiêu chí quốc tế về quyền trẻ em vẫn chƣa đƣợc nội luật hóa một cách đầy đủ, một số quy định chƣa chi tiết, chƣa thực sự tƣơng thích với quy định của Công ƣớc quốc tế về quyền trẻ em, chƣa cụ thể hóa để thực hiện các quyền trẻ em trong đời sống;

    10. 2 Bên cạnh đó các biện pháp thực thi các quyền trẻ em còn ít, chƣa thực sự phù hợp với thực tiễn, một số biện pháp còn cứng nhắc thiếu tính linh hoạt; Hoạt động kiểm soát đối với việc thực thi các QTE còn thiếu đồng bộ; Hoạt động giáo dục, nâng cao nhận thức các quyền trẻ em còn hạn chế vì vậy việc tiếp cận quyền trẻ em còn hạn chế với các cán bộ công chức, gia đình, nhà trƣờng và với chính bản thân trẻ em. Do nhu cầu phát triển đất nƣớc và việc từng bƣớc hội nhập quốc tế và khu vực, quyền con ngƣời, quyền trẻ em ngày càng đƣợc nâng cao; theo quy định của Hiến pháp năm 2013, tại điều 37 khoản 1 “Trẻ em được Nhà nước, gia đình và xã hội bảo vệ, chăm sóc, giáo dục; được tham gia vào các vấn đề về trẻ em. Nghiêm cấm xâm hại, hành hạ, ngược đãi, bỏ mặc, lạm dụng, bóc lột sức lao động và những hành vi khác vi phạm quyền trẻ em”; vì vậy bảo đảm pháp lý về quyền trẻ em cần phải đƣợc tăng cƣờng góp phần tôn trọng bảo đảm quyền trẻ em. Xuất phát từ những lý do trên tôi đã chọn vấn đề ” Quyền trẻ em trong giai đoạn xây dựng Nhà nƣớc pháp quyền Việt Nam – những đảm bảo pháp lý” làm đề tài luận án Tiến sĩ Luật học của mình. 2. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 2.1. Mục tiêu nghiên cứu Mục tiêu nghiên cứu của luận án là dựa trên sự nghiên cứu lý luận, pháp lý của quốc tế và thực tiễn Việt Nam về những bảo đảm pháp lý bảo vệ quyền trẻ em; tìm ra những điểm hạn chế của vấn đề này; hình thành các quan điểm và giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi quyền trẻ em. Thông qua bảo đảm pháp lý; hình thành hệ thống lý luận về quyền trẻ em và bảo đảm pháp lý

    MÃ TÀI LIỆU: 16335

    • PHÍ TÀI LIỆU: 50.000
    • ĐỊNH DẠNG: WORD+PDF
    • THANH TOÁN QUA MOMO, CHUYỂN KHOẢN, THẺ CÀO ĐIỆN THOẠI (X2)
    • NỘI DUNG: MÃ TÀI LIỆU – EMAIL NHẬN ( VÍ DỤ: 0324 – trinhnam34gmailcom) có thể bỏ chữ @ mới gửi được)
    • CHECK EMAIL (1-15 PHÚT)

    NẾU CHỜ QUÁ 15 PHÚT CHƯA THẤY MAIL VUI LÒNG NHẮN ZALO: 0932091562

    NHẬP TÀI LIỆU BẠN CẦN TÌM VÀO ĐÂY

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tổng Hợp Các Văn Bản Pháp Luật Về Thuế Hiện Nay
  • Phổ Biến Các Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật Mới Trong Lĩnh Vực Thư Viện
  • Đồng Tháp: Triển Khai Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật Mới
  • Hội Nghị Triển Khai Các Văn Bản Pháp Luật Mới
  • 13 Điểm Mới Quan Trọng Tại Thông Tư 04/2020/tt
  • Quy Định Của Pháp Luật Việt Nam Liên Quan Đến Xâm Hại Tình Dục Trẻ Em

    --- Bài mới hơn ---

  • Bộ Luật Tố Tụng Hình Sự
  • Tội Cố Ý Gây Thương Tích Hình Phạt Thế Nào ?
  • Tội Cố Ý Gây Thương Tích Điều 134 Bộ Luật Hình Sự 2022
  • Điều 104 Bộ Luật Hình Sự Tội Cố Ý Gây Thương Tích
  • Tội Cố Ý Gây Thương Tích Hoặc Gây Tổn Hại Sức Khoẻ Người Khác Theo Luật Hình Sự Mới
  • Xâm hại tình dục trẻ em là một trong các hành vi bị nghiêm cấm quy định tại mục 3 Điều 6. Các hành vi bị nghiêm cấm:

    “3. Xâm hại tình dục, bạo lực, lạm dụng, bóc lột trẻ em”.

    Điều 25. Quyền được bảo vệ để không bị xâm hại tình dục quy định rõ:

    “Trẻ em có quyền được bảo vệ dưới mọi hình thức để không bị xâm hại tình dục”.

    Nghị định số 56/2017/NĐ-CP ngày 09/5/2017 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật trẻ em, trong đó nêu rõ tại:

    “Điều 13. Trẻ em bị xâm hại tình dục

    1. Trẻ em bị hiếp dâm.

    2. Trẻ em bị cưỡng dâm.

    3. Trẻ em bị giao cấu.

    4. Trẻ em bị dâm ô.

    5. Trẻ em bị sử dụng vào mục đích mại dâm, khiêu dâm dưới mọi hình thức”.

    Các trường hợp trẻ em nêu trên “được tham gia vào các vấn đề về trẻ em và được bảo vệ”.

    Chỉ thị số 18/CT-TTg, ngày 16/5/2017, của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường giải pháp phòng, chống bạo lực, xâm hại trẻ em đã chỉ đạo tại điểm 8:

    “8. Đề nghị Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao

    a) Chỉ đạo Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân các cấp tiếp nhận, giải quyết kịp thời, xử lý nghiêm các vụ việc bạo lực, xâm hại trẻ em; rà soát hồ sơ, vụ việc bạo lực, xâm hại trẻ em để xử lý dứt điểm, không để tồn đọng, kéo dài;

    Ngày 21/92018 Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Thông tư liên tịch số 02 quy định chi tiết việc xét xử vụ án hình sự có người tham gia tố tụng là người dưới 18 tuổi thuộc thẩm quyền của Tòa gia đình và người chưa thành niên, tại khoản 2 Điều 4 quy định “Vụ án hình sự có bị cáo từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi phạm một trong các tội đặc biệt nghiêm trong quy định tại các điều … 142, 144…BLHS. Các vụ án này được thực hiện theo thủ tục xử kín, thân thiện với trẻ em.

    Các quy định trên thể hiện sự quan tâm, chỉ đạo sát sao của các cấp lãnh đạo, yêu cầu xử lý nghiêm minh đối với các hành vi xâm hại tình dục trẻ em.

    2. Bộ luật hình sự 2022 quy định về tội phạm xâm hại tình dục trẻ em

    Các tội phạm xâm phạm tình dục trẻ em được quy định trong Bộ luật Hình sự năm 2022 tại Chương XIV: Các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người) gồm 5 điều luật cụ thể sau:

    – Điều 142 – Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi;

    – Điều 144 – Tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi;

    – Điều 145 – Tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 đến dưới 16 tuổi;

    – Điều 146 – Tội dâm ô với người dưới 16 tuổi;

    – Điều 147 – Tội sử dụng người dưới 16 tuổi vào mục đích khiêu dâm.

    Trong đó, người phạm tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi và tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi có thể phải chịu mức án cao nhất là chung thân hoặc tử hình.

    BLHS năm 2022 so với BLHS năm 2003 đã cụ thể hoá một số khái niệm: “Người đã thành niên” được thay bằng “người đủ 18 tuổi trở lên”; “nhiều người” được thay bằng “từ 02 người trở lên”; “nhiều lần” được thay bằng “từ 02 lần trở lên”; “gây tổn hại cho sức khoẻ của nạn nhân mà tỷ lệ thương tật..” được thay bằng “gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khoẻ của nạn nhân mà tỷ lệ thương tật…”.

    Trong BLHS năm 2022, khái niệm “hiếp dâm trẻ em” được thay bằng “dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi trái với ý muốn của họ” hoặc “giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người dưới 13 tuổi”. Theo đó, khái niệm “cưỡng dâm trẻ em”, “giao cấu với trẻ em”, “dâm ô với trẻ em” cũng được đưa ra khái niệm cụ thể để đảm bảo tính thống nhất trong cách hiểu và quá trình áp dụng của các cơ quan có thẩm quyền.

    – Nguyên tắc phân hoá trách nhiệm hình sự được thể hiện qua việc cụ thể hoá ở mức tối đa các tình tiết định khung của từng tội phạm trong nhóm tội. Cụ thể:

    + Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân từ 11% đến 45% (Điều 142, 144,145,146);

    + Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân từ 46% trở lên (Điều 142, 144,145,146);

    + Phạm tội đối với người dưới 10 tuổi (Điều 142);

    + Đối với người mà người phạm tội có trách nhiệm chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh (Điều 145);

    + Làm nạn nhân tự sát (Điều 146).

    – Về khung hình phạt và hình phạt bổ sung. Cụ thể như sau:

    + Khoản 3, Điều 143, BLHS 2022 tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi quy định mức hình phạt tù là 10 năm đến 18 năm thay cho mức phạt từ 7 năm đến 18 năm tại khoản 3, Điều 113, BLHS 1999.

    + So với Điều 155, BLHS 1999, Điều 145, BLHS 2022 bổ sung thêm khoản 4 quy định về hình phạt bổ sung là người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 đến 05 năm. Sự thay đổi này thể hiện mức độ nguy hiểm của hành vi đã tăng lên dẫn đến quy định mức răn đe đối với hành vi phạm tội cũng phải có sự tăng tiến tương xứng.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tổng Hợp Quy Định Của Pháp Luật Về Xâm Hại Trẻ Em
  • Tội Phạm Xâm Hại Tình Dục Trẻ Em Theo Bộ Luật Hình Sự Mới
  • Quy Định Của Pháp Luật Về Hành Vi Xâm Hại Trẻ Em
  • Những Điểm Mới Của Bộ Luật Hình Sự Năm 2022 Về Tội Phạm Xâm Hại Trẻ Em
  • Hành Hung Người Nghi Bắt Cóc Trẻ Em Có Thể Bị Xử Lý Hình Sự
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100