Mẫu Hợp Đồng Vay Tiền, Giấy Vay Tiền Cá Nhân

29/05/2024

Luật sư Nguyễn Mạnh Tuấn

1. Luật sư tư vấn luật dân sự

Trong các giao dịch dân sự, hiện nay giao dịch vay tiền khá phổ biến. Tuy nhiên, các bên thường chỉ giao kết hợp đồng bằng hành vi hoặc có hợp đồng vay tiền nhưng không thể hiện rõ nội dung. Điều này dẫn đến quyền và lợi ích hợp pháp của các bên không được bảo đảm.

Mẫu hợp đồng vay chỉ mang tính chất tham khảo, các bên trong giao dịch cần phải linh động áp dụng cho phù hợp với trường hợp thực tế của mình. Nếu có vướng mắc trong quá trình soạn thảo hợp đồng, các bên có thể liên hệ đến Công ty Luật Minh Gia để luật sư của chúng tôi đưa ra hướng dẫn cụ thể hoặc giúp các bên xem xét, thẩm định về tính hợp pháp của hợp đồng.

Để được hỗ trợ, tư vấn các bên trong giao dịch vay hãy gửi câu hỏi cho chúng tôi hoặc Gọi: 1900.6169 để được tư vấn.

HỢP ĐỒNG CHO VAY TIỀN

Hôm nay ngày …. tháng …. năm ………………………………………………….

Tại địa điểm: ………………………………………………………………………

(Nếu vay Ngân hàng và hợp tác xã tín dụng, thì có thêm yếu tố xét đơn xin của đương sự).

Chúng tôi gồm có:

Bên A: (bên cho vay)

+ Địa chỉ: …………………………………………………………………………

+ Điện thoại: ………………………………………………………………………

+ Đại diện là: ………………………………………………………………………

+ CMND số……………………….do Công an……….cấp ngày…………………

Bên B: (bên vay)

+ Ông (bà): …………………………………………………………………………

+ CMND số……………………….do Công an……….cấp ngày…………………

+ Địa chỉ: ……………………………………………………………………………

+ Điện thoại: ………………………………………………………………………..

Sau khi thỏa thuận cùng nhau ký hợp đồng vay tiền với các điều khoản sau:

Điều 1: Về số lượng tiền vay

Bên A đồng ý cho bên B vay số tiền:

+ Bằng số: …………………………………………………………………………

+ Bằng chữ: ……………………………………………………………………….

Điều 2: Thời hạn và phương thức vay

2.1. Thời hạn vay là ………………… tháng

+ Kể từ ngày ……………………… tháng … ………….năm …………………….

+ Đến ngày ………………………… tháng …………… năm …………………….

2.2. Phương thức vay (có thể chọn các phương thức sau):

+ Chuyển khoản qua tài khoản: …………………………………………………….

+ Mở tại ngân hàng: …………………………………………………………………

+ Cho vay bằng tiền mặt

Chuyển giao thành ……… đợt

– Đợt 1: ……………………………………………………………………………

– Đợt 2: ……………………………………………………………………………

Điều 3: Lãi suất

3.1 Bên B đồng ý vay số tiền trên với lãi suất ……….. % một tháng tính từ ngày nhận tiền vay.

3.2 Tiền lãi được trả hàng tháng đúng vào ngày thứ 30 tính từ ngày vay, lãi trả chậm bị phạt …….. % tháng.

3.3 Trước khi hợp đồng này đáo hạn ….. ngày; nếu bên B muốn tiếp tục gia hạn phải được sự thỏa thuận trước tại địa điểm ………………………………………..

………………………………………………………………………………………

3.4 Trong thời hạn hợp đồng có hiệu lực không thay đổi mức lãi suất cho vay đã thỏa thuận trong hợp đồng này.

3.5 Khi nợ đáo hạn, bên B không trả đủ vốn và lãi cho bên A, tổng số vốn và lãi còn thiếu sẽ chuyển sang nợ quá hạn, và chịu lãi suất tính theo nợ quá hạn là …… % một tháng.

3.6 Thời hạn thanh toán nợ quá không quá …. Ngày nếu không có sự thỏa thuận nào khác của hai bên.

Điều 4: Biện pháp bảo đảm hợp đồng

4.1 Bên B bằng lòng thế chấp (hoặc cầm cố) tài sản thuộc sở hữu của mình là ………và giao toàn bộ bản chính giấy chủ quyền tài sản cho bên A giữ (có thể nhờ người khác có tài sản đưa giấy tờ sở hữu đến bảo lãnh cho bên B vay). Việc đưa tài sản ra bảo đảm đã được hai bên lập biên bản đính kèm sau khi có xác nhận của phòng Công chứng Nhà nước tỉnh (thành)…

4.2 Khi đáo hạn, bên B đã thanh toán tất cả vốn và lãi cho bên A, thì bên này sẽ làm các thủ tục giải tỏa thế chấp (hoặc cầm cố, bảo lãnh) và trao lại bản chính giấy chủ quyền tài sản đã đưa ra bảo đảm cho bên B.

4.3 Bên B thỏa thuận rằng, nếu không trả đúng thời hạn đã cam kết trong hợp đồng này sau …. Ngày thì bên A có quyền đề nghị cơ quan có thẩm quyền phát mại tài sản đưa ra bảo đảm để thu hồi khoản nợ quá hạn từ bên B.

Điều 6: Những cam kết chung

6.1 Hai bên cam kết thực hiện đầy đủ các điều khoản trong hợp đồng này, nếu những nội dung khác đã quy định trong pháp luật Nhà nước không ghi trong hợp đồng này, hai bên cần tôn trọng chấp hành.

6.2 Nếu có tranh chấp xảy ra, hai bên sẽ giải quyết bằng thương lượng.

6.3 Nếu tự giải quyết không thỏa mãn, hai bên sẽ chuyển vụ việc tới Tòa án nhân dân… nơi hai bên vay cư trú.

Điều 7: Hiệu lực của hợp đồng

Hợp đồng này có hiệu lực từ ngày ……… tháng …….. năm …….. đến ngày … tháng … năm ……………………………..

Hợp đồng này được lập thành …………. bản. Mỗi bên giữ ………… bản.

ĐẠI DIỆN BÊN A ĐẠI DIỆN BÊN Chức vụ Chức vụ (Ký tên, đóng dấu) (Ký tên, đóng dấu)

Câu hỏi – Tư vấn về nghĩa vụ trả nợ của bên vay

Xin Chào Luật Minh Gia, Em xin được phép vào thẳng vấn đề ạ. Tình hình là Chị ruột em có vay tài chính X số tiền là 25.000.000đ vào năm 2014. và thoả thuận trả trong 18 tháng. Chị em vẫn thanh toán đầy đủ nhưng đến tháng thứ 14 thì bên phía Ngân hàng cho vay thêm 10.000.000đ nhưng bắt buộc trả trong 36 tháng. Chị em do không biết và cũng không hiểu nên chấp nhận vay.Đến thời điểm này thì đã đóng được thêm 19 tháng (mỏi tháng 2.190.000) + 14 tháng nợ cũ. Nhưng bên phía ngân hàng báo là Chị em vay tới 42tr và phải trả thêm 39tr nữa mới hết.Tổng công 2 lần chị em vay chỉ có 35tr và thanh toán tổng công là 33 tháng rồi.Xin hỏi Luật Gia Minh có thể tư vấn giúp em về vấn đề này không ạ. Trân trọng.

Điều 466 Bộ luật dân sự 2024 quy định về Nghĩa vụ trả nợ của bên vay như sau:

“1. Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.2. Trường hợp bên vay không thể trả vật thì có thể trả bằng tiền theo trị giá của vật đã vay tại địa điểm và thời điểm trả nợ, nếu được bên cho vay đồng ý.3. Địa điểm trả nợ là nơi cư trú hoặc nơi đặt trụ sở của bên cho vay, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.4. Trường hợp vay không có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì bên cho vay có quyền yêu cầu trả tiền lãi với mức lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này trên số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.5. Trường hợp vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi như sau:a) Lãi trên nợ gốc theo lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tương ứng với thời hạn vay mà đến hạn chưa trả; trường hợp chậm trả thì còn phải trả lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này;b) Lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả bằng 150% lãi suất vay theo hợp đồng tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

Theo quy định trên thì chị của bạn là người vay, do đó chị bạn sẽ có nghĩa vụ phải trả nợ đúng hạn theo thỏa thuận của các bên. Để xác định việc bên cho vay yêu cầu trả nợ như vậy đúng hay không thì phải xác định được hợp đồng vay mà các bên đã ký kết thể hiện như thế nào về khoản tiền vay, thời hạn trả nợ, lãi suất,…

Bạn tham khảo để giải đáp thắc mắc của mình!

Tư Vấn Pháp Luật Về Vay Tiền

Trong xã hội hiện đại, nhu cầu vay và cho vay tiền của người tiêu dùng ngày càng trở nên phổ biến hơn. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, có rất nhiều rủi ro pháp lý hiện hữu khi chúng ta vay hoặc cho vay mà chưa tìm hiểu các quy định của Pháp luật. Nắm bắt được tâm lý đó, Luật Thiên Minh cho ra đời Tổng Đài Tư Vấn Hợp Đồng Vay TIền, Vay Tài Sản 0939 400 004 hoặc 0836 400 004 để nhanh chóng, kịp thời tư vấn, giải đáp những câu hỏi của người tiêu dùng về các vấn đề xoay quanh việc vay và cho vay tiền.

I. Quy định pháp luật về vay tín chấp. 1,Quy định về lãi suất cho vay

Căn cứ theo Điều 476 Bộ luật dân sự 2005 quy định về lãi suất như sau:

Điều 476. Lãi suất

1. Lãi suất vay do các bên thỏa thuận nhưng không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại cho vay tương ứng.

2. Trong trường hợp các bên có thoả thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất hoặc có tranh chấp về lãi suất thì áp dụng lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn vay tại thời điểm trả nợ.

Theo đó, mức lãi suất cơ bản của ngân hàng nhà nước được xác định theo Quyết định 2868/QĐ-NHNN của Ngân hàng Nhà nước, kể từ ngày 01 tháng 12 năm 2010, lãi suất cơ bản là 9%/năm.

Như vậy lãi suất cho vay các tổ chức tín dụng không được quá: 9% x 1,5 = 13,5%/năm.

Quy định về hình thức vay tín chấp Hình thức vay tín chấp được quy định trong Điều 372, Điều 373 – Bộ Luật dân sự 2005. Cụ thể như sau:

Điều 372. Bảo đảm bằng tín chấp của tổ chức chính trị – xã hội

Tổ chức chính trị – xã hội tại cơ sở có thể bảo đảm bằng tín chấp cho cá nhân, hộ gia đình nghèo vay một khoản tiền tại ngân hàng hoặc tổ chức tín dụng khác để sản xuất, kinh doanh, làm dịch vụ theo quy định của Chính phủ.

Điều 373. Hình thức bảo đảm bằng tín chấp

Việc cho vay có bảo đảm bằng tín chấp phải được lập thành văn bản có ghi rõ số tiền vay, mục đích vay, thời hạn vay, lãi suất, quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của người vay, ngân hàng, tổ chức tín dụng cho vay và tổ chức bảo đảm.

Quy định xử phạt hành chính Xử phạt vi phạm hành chính khi vi phạm các quy định pháp luật khi vay tín chấp

Theo quy định tại Điều 15 Nghị định số 96/2014/NĐ-CP thì có các mức xử phạt tương ứng với các hành vi sau:

1. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Lưu giữ hồ sơ cấp tín dụng không đúng quy định của pháp luật;

b) Phát hành cam kết bảo lãnh không theo mẫu do tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài thiết kế.

2. Phạt tiền từ 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với hành vi không kiểm tra, giám sát sử dụng vốn vay và trả nợ của khách hàng theo quy định của pháp luật.

3. Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Lập hợp đồng cấp tín dụng không đủ các nội dung theo quy định của pháp luật;

b) Miễn, giảm lãi suất cấp tín dụng không đúng quy định của pháp luật;

c) Cơ cấu lại thời hạn trả nợ không đúng quy định của pháp luật;

d) Áp dụng lãi suất cấp tín dụng không đúng quy định của pháp luật.

4. Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 60.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Cấp tín dụng không có hợp đồng hoặc thỏa thuận bằng văn bản;

c) Ép khách hàng sử dụng tiền vay gửi lại chính tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài.

5. Phạt tiền từ 80.000.000 đồng đến 150.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Cấp tín dụng đối với tổ chức, cá nhân không đủ điều kiện theo quy định của pháp luật;

b) Cấp tín dụng không có bảo đảm, cấp tín dụng với điều kiện ưu đãi cho các đối tượng quy định tại Khoản 1 Điều 127 Luật Các tổ chức tín dụng;

c) Vi phạm quy định về cấp tín dụng tại Khoản 3 Điều 127 Luật Các tổ chức tín dụng;

d) Vay vốn thông qua khách hàng vay;

đ) Ký hợp đồng cấp bảo lãnh, cam kết bảo lãnh không đúng thẩm quyền theo quy định của pháp luật.

Theo đó, các tổ chức, cá nhân có các hành vi trên thì sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính với mức tương ứng.

2.Truy cứu trách nhiệm hình sự

Truy cứu trách nhiệm hình sự khi vi phạm các quy định pháp luật khi vay tín chấp

Theo Điều 179, Bộ luật hình sự số 15/1999/QH10 có quy định về tội vi phạm quy định về cho vay trong hoạt động của các tổ chức tín dụng như sau:

1. Người nào trong hoạt động tín dụng mà có một trong các hành vi sau đây gây hậu quả nghiêm trọng, thì bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến năm mươi triệu đồng hoặc phạt tù từ một năm đến bảy năm:

a) Cho vay không có bảo đảm trái quy định của pháp luật;

b) Cho vay quá giới hạn quy định;

c) Hành vi khác vi phạm quy định của pháp luật về cho vay trong hoạt động tín dụng.

2. Phạm tội gây hậu quả rất nghiêm trọng thì bị phạt tù từ năm năm đến mười hai năm.

3. Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm.

II, Những điều khách hàng cần lưu ý về vay tín chấp 2.1. Về chủ thể và thủ tục giải ngân 2.2. Về lãi suất vay 2.3. Về điều kiện hủy giải ngân, chính sách gia hạn khoản vay

Người tiêu dùng nên tìm hiểu và yêu cầu bên cho vay cung cấp tài liệu xác nhận về thời hạn được hủy giải ngân, quy định về chi phí và cách thức gia hạn khoản vay để có thể chủ động, kịp thời xử lý khi có nhu cầu.

Để đọc và đảm bảo tính chính xác của các nội dung trên, người tiêu dùng nên chủ động tìm trên website hoặc đề nghị công ty tư vấn cung cấp mẫu hợp đồng và toàn bộ các điều kiện giao dịch kèm theo để nghiên cứu trước khi xác nhận giao dịch.

3. Ký và lưu giữ hợp đồng

Người tiêu dùng nên hỏi rõ về hình thức hợp đồng giao kết và cách thức công ty gửi cho người tiêu dùng hợp đồng để lưu giữ. Chỉ xác nhận đồng ý ký hợp đồng sau khi đã được tìm hiểu và nhìn rõ các nội dung thể hiện trên hợp đồng, tránh trường hợp thông tin bị thay đổi giữa nội dung tư vấn và trên hợp đồng đã ký.

Công ty Luật Thiên Minh sẽ hỗ trợ khách hàng các vấn đề pháp lý mà khách hàng cần theo đúng phương châm nhanh, chính xác, đảm bảo vấn đề hiệu lực của các quy định pháp luật. Chúng tôi sẽ hỗ trợ khách hàng hết sức có thể bằng kiến thức và tâm huyết với nghề.

Để được tư vấn trực tiếp, Quý khách hàng vui lòng liên hệ:

CÔNG TY TNHH TƯ VẤN PHÁP LUẬT THIÊN MINH

Add: Tòa AQUA 1 109OT12B Vinhomes Golden River, số 2 Tôn Đức Thắng, Phường Bến Nghé, Quận 1

Tel: 0839 400 004 – 0836 400 004

www.luatthienminh.vn

Trân trọng !

Bạn có thể tham khảo các bài viết khác mà khách hàng thường quan tâm của Luật Thiên Minh:

Mẫu Giấy Vay Tiền Mới Nhất Năm 2024 Và Hướng Dẫn Cách Viết Giấy Vay Tiền, Mượn Tiền ?

Hợp đồng cho vay tiền, giấy cho vay tiền là bằng chứng pháp lý quan trọng nhất. Nếu không có các bằng chứng này thì việc cho vay, cho mượn không được pháp luật bảo vệ (Trừ trường hợp việc cho vay tiền được thực hiện thông qua chuyển khoản, ghi rõ nội dung chuyển khoản là cho vay, cho mượn). Luật Minh Khuê giới thiệu mẫu giấy cho vay tiền để khách hàng tham khảo và vận dụng khi cần thiết.

1. Mẫu giấy vay tiền mới nhất

Ông :…………………… Sinh ngày :…………….

CMND số :…………. cấp ngày … tháng … năm … tại ………

Hộ khẩu thường trú :……………………………………………………..

Chỗ ở hiện tại:………………………………………………………………

Bà:…………………… Sinh ngày:…………….

CMND số :………………… cấp ngày … tháng … năm … tại …..

Hộ khẩu thường trú :……………………………………………………..

Chỗ ở hiện tại: ………………………………………………………………

Ông ….. và bà …… là vợ chồng theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số …………….. do …………………………. cấp ngày … tháng … năm …

Ông :…………………… Sinh ngày:…………….

CMND số :………………… cấp ngày … tháng … năm … tại …..

Hộ khẩu thường trú :……………………………………………………..

Chỗ ở hiện tại:………………………………………………………………

Bà:…………………… Sinh ngày:…………….

CMND số :………………… cấp ngày … tháng … năm … tại ……

Hộ khẩu thường trú :……………………………………………………..

Chỗ ở hiện tại: ………………………………………………………………

Ông ….. và bà …… là vợ chồng theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số …… do …… cấp ngày … tháng … năm …

Sau khi thỏa thuận, hai bên đồng ý ký Giấy vay tiền với các điều khoản sau đây:

Điều 1: Số tiền cho vay:

Bên A đồng ý cho bên B vay và Bên B đồng ý vay của Bên A số tiền: …… VNĐ (Bằng chữ: ………)

Điều 2: Thời hạn cho vay:

– Thời hạn cho vay là …………. (tháng)……… kể từ ngày ký hợp đồng này.

– Ngay sau khi ký Giấy vay tiền này, Bên A sẽ giao toàn bộ số tiền ………. cho Bên B

– Bên A thông báo cho Bên B trước … tháng khi cần Bên B thanh toán số tiền đã vay nêu trên.

Điều 3: Lãi suất cho vay và phương thức trả nợ:

– Lãi suất được hai bên thỏa thuận là ….%/tháng tính từ ngày nhận tiền vay.

– Khi đến hạn trả nợ, nếu Bên B không trả cho Bên A số tiền vay nêu trên thì khoản vay sẽ được tính lãi suất là …%/tháng

– Thời hạn thanh toán nợ không quá ….. ngày trừ khi hai bên có sự thỏa thuận khác.

– Bên B sẽ hoàn trả số tiền đã vay cho Bên A khi thời hạn vay đã hết. Tiền vay sẽ được Bên B thanh toán trực tiếp cho bên A hoặc thông qua hình thức chuyển khoản vào tài khoản ngân hàng do Bên A chỉ định.

– Thỏa thuận khác: (thỏa thuận gì thì ghi vào, ví dụ trả lãi theo tháng, quí hay tới hạn, vốn cho trả dần hay trả 01 lần khi tới hạn……….; Tài sản bảo đảm cho khoản vay: ………………………..; Có thể viết sẵn giấy ủy quyền để sử dụng, chuyển nhượng một ngôi nhà hay tài sản nào đó (có chữ ký và công chứng theo quy định pháp luật) cho bên cho vay – nếu cần).

Điều 4: Mục đích vay

Mục đích vay số tiền nêu trên là để Bên B để sử dụng vào mục đích ……….

Điều 5: Phương thức giải quyết tranh chấp

Nếu phát sinh tranh chấp trong quá trình thực hiện Giấy vay tiền này, các bên cùng nhau thương lượng giải quyết trên nguyên tắc tôn trọng quyền lợi của nhau và đảm bảo đúng quy định pháp luật; Trong trường hợp không giải quyết được, thì một trong hai bên có quyền khởi kiện để yêu cầu Toà án có thẩm quyền giải quyết theo quy định của pháp luật.

Điều 6. Cam kết của các bên

Bên A cam kết:

– Bên A tự chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc giao và nhận lại tài sản vay;

– Bên A cam đoan số tiền cho vay trên là tài sản hợp pháp và thuộc quyền sở hữu của bên A;

– Việc vay và cho Bên B vay số tiền nêu trên là hoàn toàn tự nguyện, không bị lừa dối, không bị ép buộc, không nhằm trốn tránh bất kỳ nghĩa vụ nào của bên A;

– Bên A cam kết sẽ thực hiện đúng theo Giấy vay tiền này, nếu vi phạm thì sẽ chịu trách nhiệm hoàn toàn trước pháp luật.

Bên B cam kết:

– Bên B cam kết sử dụng tiền vay vào đúng mục đích đã nêu ở trên;

– Bên B cam kết trả tiền (tiền gốc và tiền lãi) đúng hạn, chỉ được ra hạn khi có sự chấp thuận của bên A bằng văn bản (nếu có sau này); Trường hợp chậm trả thì bên B chấp nhận chịu mọi khoản lãi phạt, lãi quá hạn theo quy định pháp luật (nếu có);

– Bên Bcam kết thực hiện đúng theo Giấy vay tiền này, nếu vi phạm thì sẽ chịu hoàn toàn trách nhiệm trước pháp luật;

– Trường hợp Bên B chết/mất tích thì người còn lại hoặc những người thừa kế theo pháp luật của Bên B sẽ chịu trách nhiệm tiếp tục thực hiện Giấy vay tiền này.

Điều 7: Điều khoản cuối cùng

– Hai bên công nhận đã hiểu rõ quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của mình, ý nghĩa và hậu quả pháp lý của việc ký Giấy vay tiền này.

– Mọi sửa đổi, bổ sung Giấy vay tiền chỉ có giá trị pháp lý khi được các bên thoả thuận và xác lập bằng văn bản. Những điều khoản không được sửa đổi bổ sung sẽ được thực hiện theo giấy vay tiền này.

– Hai bên đã tự đọc lại Giấy vay tiền, đã hiểu và đồng ý tất cả các điều khoản ghi trong Giấy vay tiền và ký tên, điểm chỉ vào Giấy vay tiền này.

– Giấy vay tiền này có hiệu lực kể từ ngày các bên cùng ký, được lập thành … (…) bản có giá trị pháp lý như nhau, giao cho mỗi bên …(…) bản để thực hiện.

2. Hợp đồng vay tài sản là gì ?

Bộ Luật Dân sự 2024 quy định:

Điều 463: Hợp đồng vay tài sản

Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định.

Pháp luật chỉ quy định là sự thỏa thuận giữa các bên tuy nhiên ở Việt Nam thì sự thỏa thuận bằng văn bản là tốt nhất, tối ưu nhất về mặt pháp lý.

3. Nghĩa vụ của các bên trong quan hệ vay tài sản?

Điều 464, Luật dân sự năm 2024 quy định về quyền sở hữu đối với tài sản vay: “Bên vay trở thành chủ sở hữu tài sản vay kể từ thời điểm nhận tài sản đó”.

Như vậy, nếu các bên cho nhau vay tiền thì bên vay tiền là chủ sở hữu của tài sản là tiền đó kể từ thời điểm nhận tiền. Tức là họ được quyền chi tiêu theo thỏa thuận mà không phụ thuộc vào bên cho vay (trừ khi hai bên có thỏa thuận về mục đích việc vay tiền.

Bên cho vay tiền có các nghĩa vụ sau đây theo quy định tại điều 464, Bộ luật dân sự năm 2024:

+ Giao tài sản cho bên vay đầy đủ, đúng chất lượng, số lượng vào thời điểm và địa điểm đã thỏa thuận.

+ Bồi thường thiệt hại cho bên vay, nếu bên cho vay biết tài sản không bảo đảm chất lượng mà không báo cho bên vay biết, trừ trường hợp bên vay biết mà vẫn nhận tài sản đó.

Bên vay có các nghĩa vụ pháp lý sau theo quy định tại điều 466, Bộ luật dân sự năm 2024:

Điều 466. Nghĩa vụ trả nợ của bên vay1. Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.2. Trường hợp bên vay không thể trả vật thì có thể trả bằng tiền theo trị giá của vật đã vay tại địa điểm và thời điểm trả nợ, nếu được bên cho vay đồng ý.3. Địa điểm trả nợ là nơi cư trú hoặc nơi đặt trụ sở của bên cho vay, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.4. Trường hợp vay không có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì bên cho vay có quyền yêu cầu trả tiền lãi với mức lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này trên số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.5. Trường hợp vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi như sau:a) Lãi trên nợ gốc theo lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tương ứng với thời hạn vay mà đến hạn chưa trả; trường hợp chậm trả thì còn phải trả lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này;b) Lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả bằng 150% lãi suất vay theo hợp đồng tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

4. Quy định của pháp luật về việc đơn phương chấm dứt hợp đồng vay ?

Bộ luật dân sự năm 2024 quy định về các trường hợp được đơn phương chấm dứt hợp đồng vay như sau:

1. Một bên có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng và không phải bồi thường thiệt hại khi bên kia vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ trong hợp đồng hoặc các bên có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định.

2. Bên đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng phải thông báo ngay cho bên kia biết về việc chấm dứt hợp đồng, nếu không thông báo mà gây thiệt hại thì phải bồi thường.

3. Khi hợp đồng bị đơn phương chấm dứt thực hiện thì hợp đồng chấm dứt kể từ thời điểm bên kia nhận được thông báo chấm dứt. Các bên không phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ, trừ thỏa thuận về phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại và thỏa thuận về giải quyết tranh chấp. Bên đã thực hiện nghĩa vụ có quyền yêu cầu bên kia thanh toán phần nghĩa vụ đã thực hiện.

4. Bên bị thiệt hại do hành vi không thực hiện đúng nghĩa vụ trong hợp đồng của bên kia được bồi thường.

5. Hợp đồng vay tài sản vô hiệu khi nào ? Các câu hỏi thường gặp Câu hỏi: Mẫu giấy vay nợ mới nhất ?

Trả lời:

Câu hỏi: Pháp luật quy định như thế nào về vay tài sản ?

Trả lời:

Câu hỏi: Quy định của pháp luật về việc đơn phương chấm dứt hợp đồng vay ?

Trả lời:

Câu hỏi: Hợp đồng vay tài sản vô hiệu khi nào ?

Trả lời:

Quy Định Pháp Luật Về Hợp Đồng Vay Tiền ?

Luật Minh Khuê tư vấn pháp luật Dân sự về hợp đồng vay tiền theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện nay:

Thứ hai, về ý chí của chủ thể khi tham gia giao dịch dân sự là hoàn toàn tự nguyện, không có sự ép buộc, đe dọa phải thực hiện giao kết hợp đồng vay tiền.

Đối với hợp đồng vay tiền nói riêng, hợp đồng vay tài sản nói chung, về hình thức, các bên không buộc phải công chứng hay chứng thực. Hợp đồng vay tiền chỉ cần đáp ứng đủ ba điều kiện nêu trên là hợp pháp và có hiệu lực pháp luật. Nếu các bên có nhu cầu muốn công chứng hay chứng thực hoặc có người làm chứng cho hợp đồng thì có thể yêu cầu thực hiện. Tuy nhiên, về hiệu lực pháp luật giữa hợp đồng vay tiền có công chứng, chứng thực, có người làm chứng với hợp đồng vay tiền không có công chứng, không có chứng thực hay không có người làm chứng là như nhau, không hơn kém nhau về hiệu lực pháp lý. Việc công chứng, chứng thực hay có người làm chứng ghi lời chứng, ký chứng nhận vào hợp đồng chỉ giúp các bên trong hoạt động chứng minh trước tòa được đơn giản hơn.

Nếu các bên có nhu cầu công chứng hay chứng thực hợp đồng vay tiền, các bên có thể công chứng tại văn phòng công chứng hoặc phòng công chứng nơi gần nhất để thuận tiện. Cơ quan có thẩm quyền chứng thực hiện nay là Ủy ban nhân dân cấp xã (xã, phường, thị trấn) hoặc ủy ban nhân dân cấp huyện (quận, huyện, thị xã).

Giao dịch dân sự không có một trong các điều kiện được quy định tại Điều 117 của Bộ luật này thì vô hiệu, trừ trường hợp Bộ luật này có quy định khác.”

Tại thời điểm giao kết hợp đồng, quý khách đã bị ép buộc giao kết, ý chí của quý khách không hoàn toàn tự nguyện nên quý khách có thể yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng bảo hiểm nêu trên vô hiệu và phải đảm bảo về thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu tại Điều 132 Bộ luật dân sự năm 2024.

Vay Tiền Không Trả Phải Làm Sao? Vay Nợ Tiền Không Trả Phạm Tội Gì?

Vay tiền không trả phải làm sao? Vay nợ tiền không trả phạm tội gì? Trách nhiệm hình sự khi vay tiền nhưng không trả.

Theo ghi nhận hiện nay những vụ tranh chấp do vay mượn tài sản đang là những tranh chấp phổ biến nhất tại tòa án. Khi vay nợ luôn có nhiều trường hợp, có người tự giác thanh toán khoản nợ đúng hạn sòng phẳng, nhưng có những trường hợp ngược lại. Có nhiều lý do khiến người vay nợ không trả nợ cho bên cho vay, chẳng hạn như đến hạn mà không có khả năng chi trả, hoặc cố tình trốn nợ không trả, dù là như thế nào thì pháp luật cũng đã quy định rõ ràng quyền và nghĩa vụ của mỗi bên đó là bên vay phải có nghĩa vụ trả nợ cho bên cho vay, do đó dù về bất cứ lý do gì bên vay đều có quyền được đòi lại số tiền đã cho vay của mình. Vậy hiện tại đặt ra vấn đề vay tiền không trả thì có thể bị xử lý như thế nào? Vay tiền không trả thì có phạm tội không? Để giải đáp những vướng mắc này của bạn Luật Dương Gia xin gửi đến bạn bài viết về vay nợ không trả theo quy định của pháp luật như sau:

Về cơ bản, vấn đề vay nợ thuộc về các vấn đề dân sự, các bên thỏa thuận về số tiền vay, lãi xuất (nếu có), thời gian trả nợ, quyền và nghĩa vụ của các bên, chỉ cần thỏa thuận này không trái với quy định của pháp luật và không trái với đạo đức thì đều sẽ được pháp luật công nhận. Bộ luật Dân sự 2024 quy định cả bên vay và bên cho vay đều phải thực hiện theo đúng theo những gì mình đã thỏa thuận. Trường hợp đến hẹn trả nợ mà bên vay không trả, hoặc trả không đủ thì các bên có thể tiếp tục thương lượng thỏa thuận về việc gia hạn khoản vay cũng như là lãi suất quá hạn.

Trường hợp các bên không thỏa thuận được, mà bên vay không có dấu hiệu bỏ trốn hay dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản thì đây sẽ là tranh chấp dân dự, và các bên có thể yêu cầu tòa án dân sự giải quyết.

Về thủ tục kiện đòi lại tiền, bên cho vay sẽ phải nộp đơn khởi kiện kèm theo các bằng chứng, chứng cứ gửi tới Tòa án nhân dân cấp quận, huyện nơi bị đơn (bên vay tiền) đang cư trú. Tòa án sẽ xem xét và yêu cầu bên vay tiền thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho bên cho vay. Trong trường hợp sau khi đã có bản án quyết định của tòa mà bên vay không tự nguyện thực hiện bản án thì bên cho vay có thể yêu cầu bên thi hành án sử dụng các biện pháp cưỡng chế thực hiện bản án của Tòa. Lúc này sẽ đặt ra hai trường hợp:

– Bên cho vay có tài sản để trả nợ: khi đó bên thi hành án sẽ tiến hành kê biên tài sản để lấy tiền trả nợ cho bên cho vay. Chẳng hạn như là kê biên đất đai, nhà cửa, xe cộ, phong tỏa tiền gửi tiết kiệm trong ngân hàng, trường hợp không có tài sản thì sẽ cưỡng chế trừ dần vào thu nhập hàng tháng để lấy tiền trả nợ cho bên cho vay, khi đó việc trả nợ được đảm bảo nhưng thời gian thu hồi nợ sẽ lâu và số tiền bị chia nhỏ, số tiền nợ càng lớn càng khó thu hồi.

– Bên vay không có bất cứ tài sản gì để chi trả: trong trường hợp bên vay tiền đã rơi vào hoàn cảnh không có bất cứ khả năng nào để chi trả khoản nợ này thì đây sẽ được xác định là rủi ro của bên cho vay. Và bên cho vay buộc phải đợi đến khi nào bên vay có tiền thì mới có thể trả nợ cho mình được.

Nếu như trong trường hợp bên vay không trả nợ do không có khả năng chi trả chỉ là giải quyết dân sự thì trường hợp bên vay cố tình dùng các thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để trốn nợ thì đây đã có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Tùy theo mục đích và thủ đoạn mà bên vay tiền sử dụng để chiếm đoạt số tiền vay mà chia thành hai trường hợp: Vay tiền không trả phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, và vay tiền không trả phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản lần lượt quy định tại Điều 174 và Điều 175 Luật sửa đổi Bộ luật hình sự năm 2024.

Đây là trường hợp đặt ra khi bên vay và bên cho vay giao kết giao dịch vay bằng hình thức hợp đồng. Sau khi có được số tiền này thì dùng thủ đoạn để chiếm đoạt tài sản như là bỏ trốn để không phải trả nợ, hoặc có điều kiện, khả năng chi trả nhưng cố tình không trả, hoặc đã sử dụng số tiền vay vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả nợ.

Ví dụ: K vay của H một số tiền là 100 triệu đồng, có viết giấy tờ vay và có chữ ký rõ ràng của hai bên, ngày ký giấy tờ vay là ngày 01/02/2024, thời hạn trả nợ là 03 tháng kể từ ngày vay tiền, K có nghĩa vụ thanh toán đầy đủ số tiền nợ cho H. Tuy nhiên khi hết thời hạn 03 tháng, H gọi điện yêu cầu K trả lại số tiền 100 triệu của mình, tuy nhiên K từ chối và nói hiện không có tiền trả và xin gia hạn khoản vay thêm 01 tháng và H đồng ý. Tuy nhiên sau 01 tháng đó K vẫn không trả lại tiền, H liên hệ qua điện thoại không được, đến nơi cư trú thì biết H đã bỏ đi khỏi nơi cư trú do đồng thời cũng vay nợ nhiều người mà không trả được, hiện tại không ai liên hệ được với K. Hành vi của K như vậy có thể là đã cấu thành tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, do có hành vi vay tiền bằng hình thức hợp đồng nhưng lại bỏ trốn để trốn tránh nghĩa vụ trả nợ.

– Xử lý về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản:

Lừa đảo chiếm đoạt tài sản là trường hợp đặt ra khi ngay từ đầu bên vay tiền đã có ý định chiếm đoạt số tiền vay. Bên vay dùng thủ đoạn gian dối như là nói dối, hoặc tạo dựng một hoàn cảnh giả… để lừa người vay cho vay tiền rồi không trả để chiếm đoạt luôn số tiền đó.

Chẳng hạn như A và B là bạn cùng xóm trọ, ngày 01/04/2024 A vay B năm triệu đồng nói dối là mẹ A ở quê bị đột quỵ và cần phải có tiền chữa trị gấp. B tin tưởng cho A vay tiền và đêm hôm đó A thu dọn đồ đạc nói là về quê chăm sóc mẹ, trước khi đi A hứa là khi nào mẹ đỡ bệnh sẽ lên trả tiền cho B. Nhưng nhiều ngày sau B liên hệ với A không được, A tắt điện thoại và không trả lời cuộc gọi cũng như là tin nhắn của B, B liên hệ với bạn cùng quê của A thì được biết mẹ A hoàn toàn không bị bệnh và A cũng không về quê. Như vậy hành vi của A là hành vi có dấu hiệu về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Do ngay từ đầu mục đích của A đã là lừa dối B là mẹ bị ốm để có được số tiền vay rồi sau đó bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó.

Chị A vay của chị B 200 triệu có lập tờ cam kết hẹn trả nhưng tới ngày trả thì chị A không liên lac được với chị B và chị B có hành vi bỏ trốn. Vậy trong trường hợp này nên giải quyết như thế nào và chị A đã vi phạm luật nào?

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành n ghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm”

Em có vay tiền bên Công ty tài chính PPF số tiền là 23 triệu. Em góp trong vòng 18 tháng , mỗi tháng em góp 2,3 triệu . Đến nay em đã góp được 13 tháng. Còn lại 5 tháng nữa. Hiện tại bay giờ em không có tiền để góp nữa. Bên phía Công ty có gói điện thoại cho em, yêu cầu em góp đúng hẹn, em có hứa với Công ty họ qua tết em sẽ góp đầy đủ và đúng hẹn. Công ty tài chính PPF không đồng ý và đồng thời Công ty họ đòi gửi đơn khởi kiện triệu tập em ra tòa khẩn cấp với tội danh lừa đảo và chiếm đoạt tài sản của họ. Luật sư cho em hỏi như vậy là em có bị kiện ra tòa hay không. Thời gian khởi kiện là bao lâu. Và có bị gắn với tội danh đó hay không. Em cầm ơn Luật sư.

Thứ nhất, có phải chịu trách nhiệm về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản hay không ? . Điều 139 “Bộ luật hình sự năm 2024” (sửa đổi, bổ sung năm 2009) quy định như sau:

Đối với Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, thì người phạm tội phải có hành vi gian dối đến người bị hại tin mà giao tài sản của họ cho người phạm tội. Trên cơ sở những thông tin bạn đưa ra thì trong trường hợp này bạn không có hành vi gian dối trước khi giao kết hợp đồng vay nên trường hợp bạn không phạm vào Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản nói trên. Đồng thời với thông tin bạn đưa ra thì có thể thấy trường hợp này công ty kiện bạn ra Tòa về tranh chấp dân sự chứ không phải việc tố giác tội phạm. Việc giải quyết tranh chấp sẽ theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.

“Điều 14. Thời hạn chuẩn bị xét xử quy định tại Điều 179 của Bộ luật tố tụng dân sự

– Hai tháng đối với các vụ án quy định tại Điều 29 và Điều 31 của Bộ luật tố tụng dân sự.

– Sáu tháng đối với các vụ án quy định tại Điều 25 và Điều 27 của Bộ luật tố tụng dân sự

– Ba tháng đối với các vụ án quy định tại Điều 29 và Điều 31của Bộ luật tố tụng dân sự.

c) Trong các trường hợp được hướng dẫn tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều này mà phiên toà không được mở trong thời hạn một tháng, kể từ ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử vì có lý do chính đáng, thì thời hạn chuẩn bị xét xử đối với từng trường hợp được cộng thêm tối đa là một tháng nữa.”

Như vậy, tùy vào vụ việc cụ thể mà vụ án có thể đưa ra xét xử trong vòng là 4 tháng (5 tháng theo điểm c khoản 1 Điều 14) hoặc 6 tháng (7 tháng theo điểm c khoản 1 Điều 14).

Chào luật sư! Tôi xin hỏi luật sư vụ việc cụ thể như sau: Tôi có cho một người bạn vay tiền với số tiền là 15.000.000 đồng. Khi vay tiền người bạn này có viết cho tôi một giấy xác nhận vay mượn tôi 15.000.000 đồng, thời hạn trả nợ trong vòng 10 ngày (hạn trả nợ là 17/2/2024) sẽ hoàn trả đầy đủ số tiền nợ 15.000.000 đồng + lãi. Lúc viết giấy xác nhận nợ không có người làm chứng, không có thế chấp tài sản, chỉ có bên vay đưa cho tôi 1 chứng minh nhân dân của bên vay. Đến ngày 17/2/2024, người bạn này đã đã bỏ trốn khỏi nơi cư trú, tắt điện thoại, không thể liên lạc được.Tôi tìm đến nhà thì được tin là người đó cũng ôm tiền của nhiều người xung quanh bỏ trốn. Vậy luật sư cho tôi hỏi tôi có thể kiện được anh ta không?

Trong trường hợp của bạn, sẽ chia hai trường hợp như sau:

+ Ngay từ đầu người này đã có ý định chiếm đoạt tài sản thông qua việc vay tiền từ bạn thì sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản quy định tại Điều 139 “Bộ luật hình sự 2024” sửa đổi, bổ sung 2009:

+ Nếu sau khi mượn tiền của bạn xong, người này có ý định chiếm đoạt thì sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản quy định tại Điều 140 “Bộ luật hình sự 2024”, sửa đổi bổ sung 2009:

Theo quy định trên, người vay tiền của bạn 15.000.000 đồng có giấy xác nhận việc vay nợ, sau khi nhận được số tiền vay của bạn, người này đã có hành vi bỏ trốn để chiếm đoạt số tài sản đó, người này sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định “Bộ luật hình sự 2024”; “Bộ luật hình sự 2024” sửa đổi, bổ sung 2009.

Trong trường hợp này, bạn có thể làm đơn tố cáo gửi đến cơ quan công an cấp huyện nơi người vay tiền đó cư trú để tố cáo hành vi phạm tội của người đó.

Thưa luật sư trước tôi có làm việc tại một Công ty TNHH và có vay ngân hàng số tiền là 38.000.000 đồng nhưng vừa rồi tôi đã bị nghỉ việc, hiện chưa có việc làm nên tôi chưa có khả năng chi trả số tiền hàng tháng theo hợp đồng. Như vậy tôi xin hỏi tôi có bị khép vào tội tín nhiệm chiếm đoạt tài sản không ạ?

Khoản 1, Điều 140 “Bộ luật hình sự năm 2024” sửa đổi bổ sung năm 2009 quy định về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản như sau:

Theo quy định trên thì hành vi phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là hành vi vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó, hoặc sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản. Giá trị tài sản bị chiếm đoạt phải có giá trị từ bốn triệu đồng trở lên thì mới phạm vào tội này, nếu dưới bốn triệu đồng thì phải hội đủ các điều kiện khác của điều luật như gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm thì mới phạm vào tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.

Dựa vào thông tin mà bạn cung cấp trước đây bạn có làm việc tại một Công ty TNHH và có vay ngân hàng số tiền là 38.000.000 đồng nhưng vừa rồi bạn đã bị nghỉ việc, hiện chưa có việc làm nên tôi chưa có khả năng chi trả số tiền hàng tháng theo hợp đồng. Do đó, dựa theo thông tin này cho thấy trong trường hợp này bạn đã vay số tiền là 38.000.000 đồng của ngân hàng bằng hình thức hợp đồng. Nhưng hiện tại bạn mất khả năng chi trả số tiền hàng tháng theo hợp đồng vì lý do đã nghỉ việc tại công ty và hiện tại vẫn chưa có việc làm.

Như vậy, ở đây bạn không hề dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt số tiền đã vay, hoặc sử dụng số tiền này vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả tiền. Vì vậy, có thể khẳng định, đối với trường hợp này của bạn, không có đủ căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.

Luật sư cho em hỏi, em vay 14 triệu của công ty PPF tháng 9 năm 2014 và trả 1 tháng 1 triệu 583 nghìn, trả trong 15 tháng. Em đóng được 10 kỳ thì mang thai và không có khả năng đóng tiếp, từ đó đến nay PPF có gọi cho em mấy lần. Gia đình em vì bực mình nên em đã không nghe điện thọai nữa. Đến nay thì em nhận được tin nhắn PPF sẽ kiện em ra tòa vì tội lừa đảo chiếm đọat tài sản. Như vậy nếu em bị kiện em có ở tù không?

“Bộ luật hình sự 2024”, sửa đổi, bổ sung năm 2009 có quy định về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản như sau:

– Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo khoản 1 Điều 139 Bộ luật hình sự:

Theo như quy định trên, một người bị coi là phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản nếu người đó có thủ đoạn gian dối và nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản của người khác. Như bạn trình bày, bạn vay tiền của công ty PPF, đã trả được một thời gian nhưng sau đó không có khả năng đóng tiếp. Trước khi vay công ty PPF bạn không hề có ý định sẽ chiếm đoạt số tiền vay (biểu hiện là bạn đã cố gắng trả 10 kỳ và vì khó khăn nên mới không tiếp tục trả được) và cũng không có thủ đoạn gian dối gì để lừa công ty PPF cho bạn vay tiền cả. Do đó, bạn không phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

– Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo khoản 1 Điều 140 Bộ luật hình sự:

Theo quy định trên, bạn sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản nếu sau khi nhận tiền thông qua một hợp đồng vay với công ty PPF sau đó bạn sử dụng số tiền vay này vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản (đánh bạc, mua bán trái phép chất ma túy,…) hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó. Như bạn trình bày, bạn không tiếp tục trả tiền theo đúng kỳ hạn với công ty PPF là do sinh con nên khó khăn không có tiền trả, bạn không nghe điện thoại của công ty PPF là vì phiền chứ không có mục đích chiếm đoạt số tiền còn lại và không trả, do đó bạn không phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.

Như vậy, bạn không phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản hay tội lạm dụng chiếm đoạt tài sản theo quy định của Bộ luật hình sự nên bạn không phải chịu trách nhiệm hình sự (không phải đi tù). Tuy nhiên bạn cần liên hệ với công ty PPF để thỏa thuận lại về thời hạn trả nợ và cho công ty biết bạn đang trong thời gian khó khăn chứ không hề có mục đích chiếm đoạt số tiền còn lại. Trường hợp hai bên không thỏa thuận được với nhau, công ty PPF vẫn có quyền khởi kiện ra tòa án để yêu cầu bạn trả nợ cho công ty.

Xin chào Luật sư. Em xin trình bày một việc như sau:

Vào khoảng tháng 2 năm 2024, vợ chồng em có nhờ người làm giả giấy tờ nhà để em mang đi thế chấp vay mựợn 100 triệu đồng tiền mặt. Hàng tháng em phải đóng lãi là 4,5 triệu đồng. Nhà em đã bán rồi nhưng em vẫn làm giả giấy tờ để vay tiền. Do làm ăn thua lỗ nên em không còn khả năng đóng lời, cuối cùng bên cho vay tiền cũng biết là giấy tờ giả nhưng họ không kiện vợ chồng em mà còn giảm tiền lời xuống cho em để làm ăn trả dần. Nhưng khoảng tháng nay thì họ không cho em trả dần nữa, họ đòi hết số tiền 100 triệu đồng một lúc. Vì em không có tiền trả nên họ đưa đơn lên huyện kiện em. Luật sư cho em hỏi: Vợ chồng em phạm vào tội gì? Giờ trên Huyện gửi giấy mời 2 lần rồi em không lên thì có sao không (do chồng em đi làm ăn xa, còn em thì con nhỏ 10 tháng tuổi)? Công an huyện có quyền ra lệnh bắt giữ vợ chồng em không? Trong trừơng hơp xấu nhất thì vợ chồng em sẽ bị xử như thế nào? Giờ em muốn thương lựơng với bên chủ nợ để trả dần thì không biết có cách nào để thuyết phục được họ? Em xin cám ơn!

Điều 267 ” quy định về Bộ luật hình sự 2024″Tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức, như sau:

Trong trường hợp này mặc dù nhà đã được bán nhưng vợ chồng bạn vẫn cố tình nhờ người làm giả giấy tờ nhà và sử dụng giấy tờ giả này để giao dịch vay số tiền là 100 triệu đồng. Vì vậy, vợ chồng bạn sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức theo Điều 267 “Bộ luật hình sự 2024” nêu trên. Bạn có thể thương lượng với chủ nợ để trả dần họ, tuy nhiên, điều này không làm miễn trừ trách nhiệm hình sự đối với vợ chồng bạn. Nếu người chủ nợ rút đơn tố cáo vì bạn khắc phục hậu quả thì cơ quan tiến hành tố tụng vẫn khởi tố bình thường và đây chỉ được coi là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho vợ chồng bạn.

Bên cạnh đó, nếu chủ nợ chứng minh được vợ chồng bạn làm giả giấy tờ nhà đất để vay tiền, cố tình chiếm đoạt số tiền đã vay thì vợ chồng bạn còn bị truy cứu trách nhiệm hình sự Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo Điều 139 “Bộ luật hình sự 2024” sửa đổi bổ sung năm 2009:

Công an có thể bắt giữ khẩn cấp đối với vợ chồng bạn nếu nhận thấy có các vấn đề theo quy định tại Điều 81 Bộ luật tố tụng hình sự 2003:

“- Trong những trường hợp sau đây thì được bắt khẩn cấp:

+ Khi có căn cứ để cho rằng người đó đang chuẩn bị thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng;

+ Khi người bị hại hoặc người có mặt tại nơi xảy ra tội phạm chính mắt trông thấy và xác nhận đúng là người đã thực hiện tội phạm mà xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn;

+ Khi thấy có dấu vết của tội phạm ở người hoặc tại chỗ ở của người bị nghi thực hiện tội phạm và xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn hoặc tiêu huỷ chứng cứ.

– Những người sau đây có quyền ra lệnh bắt người trong trường hợp khẩn cấp:

+ Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra các cấp;

+ Người chỉ huy đơn vị quân đội độc lập cấp trung đoàn và tương đương; người chỉ huy đồn biên phòng ở hải đảo và biên giới;

+ Người chỉ huy tàu bay, tàu biển, khi tàu bay, tàu biển đã rời khỏi sân bay, bến cảng.

– Nội dung lệnh bắt và việc thi hành lệnh bắt người trong trường hợp khẩn cấp phải theo đúng quy định tại khoản 2 Điều 80 của Bộ luật này.

Viện kiểm sát phải kiểm sát chặt chẽ căn cứ bắt khẩn cấp quy định tại Điều này. Trong trường hợp cần thiết, Viện kiểm sát phải trực tiếp gặp, hỏi người bị bắt trước khi xem xét, quyết định phê chuẩn hoặc quyết định không phê chuẩn.