Luật Về Đại Lý Hải Quan / 2023 / Top 17 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 12/2022 # Top View | Bac.edu.vn

Đề Tài Hoàn Thiện Pháp Luật Về Đại Lý Hải Quan Điểm Cao / 2023

, DOWNLOAD ZALO 0932091562 at BẢNG BÁO GIÁ DỊCH VỤ VIẾT BÀI TẠI: chúng tôi

Published on

Các bạn sinh viên vào tải mẫu chuyên đề tốt nghiệp chuyên ngành quản trị kinh doanh Chuyên đề hoàn thiện pháp luật về đại lý hải quan điểm cao

1. CHƯƠNG I KHÁI QUÁT VỀ ĐẠI LÝ LÀM THỦ TỤC HẢI QUAN 1. Khái niệm về Đại lý làm thủ tục Hải Quan 1.1. Khái niệm Trong điều kiện kinh tế thị trường, các hoạt động thương mại phát triển phong phú, đa dạng và đan xen lẫn nhau. Việc một thương nhân, chỉ bằng năng lực của mình, thực hiện tất cả các công đoạn của quá trình giao lưu thương mại ngày càng trở nên hãn hữu. Các thương nhân có thể tự mình thực hiện tất cả các công việc trên nhưng do không có năng lực chuyên môn mà việc tự tiến hành các hoạt động phụ trợ làm phát sinh nhiều chi phí cho họ. Để giảm chi phí sản xuất, các thương nhân này có nhu cầu sử dụng những dịch vụ khác nhau, vì vậy dịch vụ Logistics ra đời và càng ngày càng khẳng định được vai trò quan trọng của mình trong lưu thông hàng hóa. Dịch vụ này là một hoạt động thương mại có nội dung rất đa dạng bao gồm các công việc như nhận hàng từ người gửi để tổ chức việc vận chuyển, đóng gói bao bì, ghi kí mã hiệu, làm thủ tục hải quan, làm thủ tục gửi giữ hàng hóa …[1] Là một nội dung trong chuỗi dịch vụ Logistics, Đại lý làm thủ tục Hải quan là một loại hình dịch vụ tuy rất mới mẻ nhưng cũng đóng vai trò rất quan trọng đối với các doanh nghiệp, ngành Hải Quan nói riêng và với nền kinh tế nói chung Đối với nhiều quốc gia cũng như với Việt Nam thì Đại lý làm thủ tục hải quan là một bộ phận quan trọng không thể thiếu trong quá trình làm thủ tục Hải Quan, nó chính là cầu nối giữa cơ quan Hải Quan và Doanh nghiệp. Khi Đại lý làm thủ tục hải quan hoạt động một cách chuyên nghiệp sẽ giúp cho cơ quan Hải Quan nâng cao được hiệu quả quản lý đồng thời giúp cho các doanh nghiệp thông quan nhanh hành hóa.Vậy Đại lý làm thủ tục hải quan là gì, vì sao nó có tác dụng to lớn như vậy đối với ngành Hải Quan nói riêng và đối với nền Kinh tế nói chung. Pháp luật đã quy định khá cụ thể về hoạt động của loại đại lý này: – 1 –

5. nhân viên đại lý, tổ chức thi chứng chỉ nghiệp vụ khai hải quan nghiệp vụ khai hải quan. Đồng thời đại lý hải quan cũng là đối tác của cơ quan hải quan nhằm giúp hải quan quản hoạt động XNK tốt hơn, tránh gian lận thương mại… 2. Sự hình thành, phát triển của Đại lý Hải Quan và vai trò của nó trong nền kinh tế 2.1. Đại lý Hải Quan trên thế giới Ở rất nhiều nước trên thế giới, loại hình đại lý hải quan chuyên nghiệp trong hoạt động XNK đã rất phổ biến, đây là một khâu trong cả chuỗi dịch vụ giao nhận hàng hóa mà nhiều nước đã áp dụng rất hiệu quả. Hiện nay, hầu như tại các nước phát triển trên thế giới thì 100% hàng hoá XNK đều được thông quan điện tử, dựa trên các tiêu chí quản lý rủi ro có trên mạng. Nhân viên Hải quan kiểm tra các thông tin trên tờ khai, nếu chưa đủ hoặc phải thay đổi thì thông báo cho đại lý hoặc doanh nghiệp bổ sung, sửa đổi, sau khi kiểm tra hồ sơ giấy thì kiểm tra thực tế hàng hoá XNK. Thủ tục hải quan đối với hàng hoá xuất nhập khẩu (khai báo hải quan, phân tích xử lý thông tin, thông quan hàng hoá, tính thuế, nộp thuế, hoàn thuế…) đều được thực hiện qua hệ thống tự động hoá hải quan, hàng hoá xuất khẩu thông thường được kiểm tra tại kho hàng của doanh nghiệp. Chính vì thế hệ thống đại lý khai thuê hải quan của các nước trên thế giới cũng mang tính đặc thù, phát triển đa dạng và chuyên nghiệp. Nhìn chung, đại lý làm thủ tục hải quan ở các nước có một số đặc điểm giống nhau là: Thứ nhất, được luật quy định tương đối chặt chẽ. Luật của Philipin quy định quyền được cấp phép của đại lý hải quan (customs brokers) cụ thể là tại Tiết 1301 qui định người có quyền thực hiện khai báo hải quan là: Môi giới hải quan được cấp phép đúng thể thức, thực hiện theo sự ủy quyền của người giữ vận đơn , hoặc..; hay qui định trách nhiệm ký tờ khai hải quan của người đại lý tại Tiết 1305 [2] Luật Indonexia quy định người đại lý làm thủ tục hải quan đảm nhận việc khai hải quan thay mặt người nhập khẩu hay xuất khẩu nếu sai phạm thì áp dụng hình phạt như đối với người nhập khẩu hay xuất khẩu (Điều 107). Luật Trung Quốc quy định doanh nghiệp khai thuê hải quan đã có đăng ký hoạt động với hải quan và được chủ hàng ủy quyền làm các thủ tục khai báo và nộp – 5 –

7. 2.2. Sự hình thành và phát triển của Đại lý Hải Quan ở Việt Nam Ở Việt Nam, hoạt động dịch vụ đại lý hải quan đã được hình thành và tồn tại từ năm 1999 dưới hình thức là chủ hàng tự khai và ủy quyền cho người khác khai hải quan và giao nhận hàng hóa XNK. Nhưng trên thực tế hình thức đại lý khai hải quan còn rất manh mún, việc nộp hồ sơ cho hải quan chỉ tập trung vào các cá nhân chuyên khai thuê mà dư luận gọi là “cò mồi”. Sau một thời gian xây dựng soạn thảo, Nghị định số 79/2005/NĐ-CP ngày 16-6-2005 của Chính phủ được ban hành nhằm thiết lập một cơ sở pháp lý cụ thể để triển khai và quản lý hoạt động của các đại lý làm thủ tục hải quan chuyên nghiệp. Được ví như cầu nối giữa doanh nghiệp XNK và cơ quan Hải quan, đại lý làm thủ tục hải quan có một vai trò quan trọng với các DNXNK và CQHQ, đặc biệt trong quá trình ngành Hải quan đang đẩy nhanh hiện đại hóa tiến tới thông quan điện tử. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế kéo theo gia tăng mạnh mẽ hàng năm khối lượng và giá trị hàng XNK, nhu cầu làm thủ tục hải quan cho hàng hoá ngày càng tăng lên. Sự thay đổi cơ bản thủ tục, phương thức quản lý XNK theo Luật Hải quan mới đang kéo theo những cơ chế mới lạ và khá phức tạp trong khai báo, nộp thuế hay kiểm hoá. Chính vì vậy, hoạt động đại lý khai thuế hải quan diễn ra mạnh mẽ và ngày càng phát triển rộng rãi trên các tỉnh thành trong cả nước để nhằm đáp ứng nhu cầu cấp thiết của doanh nghiệp cần khai hải quan. Từ thời điểm cuối năm 2005, đầu 2006, hàng loạt các văn phòng giao nhận kho vận có kinh doanh đại lý hải quan của nước ngoài đồng loạt nâng cấp lên công ty. Theo thống kê, tỷ lệ doanh nghiệp trong nước đăng ký kinh doanh ngành nghề này cũng gia tăng mạnh mẽ. Bên cạnh đó, sau khi cải cách điều kiện thành lập Đai lý Hải Quan để không còn mang nặng tính “xin – cho” như trước thì môi trường kinh doanh của Đại lý Hải Quan ngày càng thông thoáng hơn, tạo điều kiện cho doanh nghiệp hoạt động một cách trơn tru và hiệu quả hơn. [6]Cụ thể, kinh doanh Đại lý Hải quan được mở rộng tới đối tượng thương nhân và có đăng ký ngành nghề kinh doanh. Các quy định về đăng ký, chứng chỉ nghiệp vụ như hiện nay là đã “mở – 7 –

8. tối đa”, tạo điều kiện rất thoáng cho họat động doanh nghiệp vì trước đó, nhiều khi DN đã gặp vướng mắc do sự rải rác trong việc hội tụ các điều kiện mà cơ chế quy định thiếu thực tế. Chủ trương của ngành hải quan cũng muốn thúc đẩy hình thức kinh doanh này, do thực tế là điều này cũng có lợi cho chính họ. Trong lĩnh vực hải quan thì vấn đề chống gian lận thương mại ngày càng khó khăn và phức tạp. Vấn đề nắm bắt thông tin, quản lý, phát hiện ngăn chặn, xử lý các hành vi gian lận của các doanh nghiệp XNK đối với các cơ quan hải quan là hết sức khó khăn bởi số lượng các doanh nghiệp tiến hành hoạt động XNK ngày càng lớn và cơ chế ngày càng thoáng. Do đó, nếu quản lý thông qua các đầu mối là các tổ chức Đại lý Hải quan thì sẽ giảm bớt rất nhiều khó khăn cho các cơ quan hải quan trong việc xác định thông tin khai báo, điều tra, xử lý trách nhiệm của các bên nếu có gian lận xảy ra. Tuy vậy, cho đến nay, các cơ quan hữu trách vẫn giữ quan điểm cho rằng hoạt động đại lý làm thủ tục hải quan vẫn là lĩnh vực kinh doanh đặc thù, và “nhạy cảm”. Vì thế, hiện nay là thời điểm thích hợp để “chuẩn hoá” hoạt động kinh doanh đại lý hải quan bằng những cơ chế quản lý trực tiếp và chặt chẽ từ ngành hải quan. 2.3. Vai trò của Đại lý Hải Quan trong nền kinh tế Chính vì sự cần thiết phải có một hệ thống dịch vụ đại lý hải quan chuyên nghiệp đóng góp cho sự phát triển của hoạt động thương mại, đại lý hải quan từ khi ra đời đã khẳng định được vai trò khá lớn của mình. Sự tồn tại của đại lý hải quan có vai trò quan trọng với các doanh nghiệp XNK và với cơ quan hải quan, cụ thể như sau: – Đối với các doanh nghiệp XNK Thứ nhất, đại lý hải quan giúp cho các DNXNK thông quan nhanh hàng hóa, tránh được những sai sót, vi phạm trong quy trình làm thủ tục hải quan. Đại lý hải quan với những nhân viên chuyên nghiệp có hiểu biết sâu rộng về hệ thống pháp luật, thành thạo trong công việc, sử dụng những thiết bị hiện – 8 –

9. đại, có quan hệ tốt với cơ quan hải quan và được cơ quan hải quan tin tưởng do họ thường xuyên làm việc với cơ quan hải quan sẽ giúp cho việc thông quan không những nhanh chóng, chính xác mà còn tiết kiệm thời gian làm thủ tục, nhờ vậy hàng hóa được thông quan nhanh hơn đảm bảo tiến độ của quá trình sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp. Thứ hai, đại lý hải quan phát triển tạo điều kiện cho các doanh nghiệp giảm chi phí đầu tư vào lưu thông qua việc tinh giản được bộ máy, tiết kiệm chi phí quản lý. Khi các doanh nghiệp thuê đại lý hải quan làm thủ tục thì sẽ không phải mất chi phí hình thành, vận hành bộ máy chuyên làm thủ tục hải quan. Chi phí này tuơng đối lớn nhưng thường không hiệu quả vì hoạt động XNK của các doanh nghiệp là không thường xuyên và với kim ngạch thấp trong khi các doanh nghiệp này vẫn phải trả lương thường xuyên cho các nhân viên và các chi phí khác để vận hành bộ máy này. Mặt khác, doanh nghiệp không phải bỏ chi phí vào đầu tư trang thiết bị , phương tiện hiện đại phục vụ cho việc làm thủ tục hải quan. Nhất là khi tiến hành áp dụng khai báo hải quan điện tử đối với hàng hóa XNK thì chi phí này lại càng tăng. Qua đó, các doanh nghiệp có thể tiết kiệm đuợc chi phí đầu tư nhằm tăng cường năng lực cạnh tranh trên thị trường. Thứ ba, giảm được mối quan hệ trực tiếp giữa doanh nghiệp XNK và công chức hải quan nên giảm được các chi phí mang tính tiêu cực. Qua việc thuê các Đại lý Hải quan, doanh nghiệp không phải tiếp xúc trực tiếp với các công chức hải quan do đó không có cơ hội xảy ra tình trạng công chức hải quan sách nhiễu, vòi tiền doanh nghiệp (một hiện tượng vẫn đang tồn tại mà Tổng cục hải quan đang tìm cách xóa bỏ) – Đối với cơ quan hải quan – Thứ nhất, tránh tình trạng ùn tắc, tạo ra sự thông thoáng tại các địa điểm làm thủ tục hải quan. Ở Việt Nam hiện nay có khoảng hơn 30.000 doanh nghiệp tham gia XNK, trong đó có khoảng 82% là doanh nghiệp vừa và nhỏ, hoạt động không – 9 –

10. thường xuyên và tự làm thủ tục hải quan[6]. Do đó tình trạng ùn tắc tại các địa điểm làm thủ tục hải quan rất hay xảy ra. Từ khi Đại lý Hả quan ra đời và đi vào hoạt động, số lượng người làm thủ tục giảm đi, mặt khác do tính chuyên nghiệp cao nên thủ tục hải quan đối với hàng hóa XNK sẽ được thực hiện chính xác hơn, nhanh hơn giảm tình trạng ùn tắc và tạo sự thông thoáng tại các địa điểm làm thủ tục. – Thứ hai, tạo điều kiện thuận lợi cho hiện đại hóa công tác quản lý hải quan. Đồng thời với việc phát triển các Đại lý Hải quan thì số đầu mối mà cơ quan hải quan phải quản lý giảm xuống, mặt khác các đầu mối này lại được đào tạo bài bản về làm thủ tục hải quan, được trang bị phương tiện hiện đại nên đã tạo điều kiện thuận lợi cho cơ quan hải quan tiến hành thực hiện nối mạng để triển khai chương trình khai báo điện tử, thu thập thông tin, phân loại doanh nghiệp XNK và thực hiện kỹ thuật quản lý rủi ro trong kiêm tra, kiểm soát hải quan. – Thứ ba, giúp cho cơ quan hải quan tinh giản được bộ máy nhưng lại đạt được hiệu quả quản lý cao, triển khai các chủ trương, chính sách một cách nhanh chóng. Do hàng hóa được thông quan nhanh từ khi phát triển được các Đại lý làm hải quan nên năng suất làm việc của công chức hải quan cũng tăng lên. Đặc biệt khi áp dụng hệ thống khai hải quan điện tử thì Đại lý Hải quan là đầu mối quan trọng nhập dữ liệu với tính đầy đủ, chính xác cao nhất, từ đó giảm thiểu được công việc nhập dữ liệu của các công chức hải quan như hiện nay đang thực hiện, vì thế chủ trương tinh giảm bộ máy nhà nước của cơ quan hải quan được thực hiện. Mặt khác, việc triển khai văn bản hay chính sách mới của hải quan vào thực tế cho các đầu mối cũng là thuận lợi hơn trước, trong nhiều trường hợp chính họ cũng phát hiện ra những nội dung bất hợp lý, không phù hợp với thực tế để cơ quan hải quan nhanh chóng chỉnh sửa. – 10 –

11. – Thứ tư, Đại lý hải quan hỗ trợ cơ quan hải quan trong hoạt động ngăn ngừa tiêu cực, buôn lậu gian lận thương mại và trồn thuế. Với việc phát triển các Đại lý Hải quan đã làm giảm mối quan hệ trực tiếp giữa doanh nghiệp và công chức haỉ quan, nên đã góp phần ngăn hiện tuợng một số công chức hải quan bị thái hóa, biến chất thông đồng, tiếp tay cho doanh nghiệp trốn thuế, gian lận thương mại. Từ sự phân tích trên có thể thấy đại lý hải quan đã đóng một vai trò khá quan trọng trong hoạt động của ngành Hải Quan. Không chỉ mang lợi cho doanh nghiệp mà còn giúp cho hoạt động quản lý nhà nước của ngành Hải Quan thêm thuận lợi góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển. 3. Pháp luật về Đại lý Hải quan 3.1. Khái quát pháp luật về đại lý hải quan Đại lý hải quan là một loại dịch vụ thương mại đặc biệt. Cũng giống như các thương mại dịch vụ khác, nó đều phải được vận hành trong một môi trường pháp lý nhất định, cụ thể bao gồm: Môi trường pháp lý đầu vào (quy định điều kiện về đại lý hải quan, trình tự, thủ tục đăng ký kinh doanh đại lý hải quan); Môi trường pháp lý hoạt động (quy định quyền và nghĩa vụ pháp lý của đại lý hải quan); Môi trường pháp lý đầu ra (quy định việc chấm dứt sự tồn tại của đại lý hải quan). Với cách thức tiếp cận vấn đề như vậy thì đại lý hải quan phải tồn tại trong một môi trường pháp lý rộng lớn và chịu sự điều chỉnh của nhiều văn bản pháp luật khác nhau.[2] Với sự phát triển ngày càng nhanh của các đại lý hải quan đồng thời với vai trò ngày càng to lớn của đại lý hải quan trong nền kinh tế thì việc cần có một hệ thống các qưy định pháp luật về đại lý này là một nhu cầu cấp thiết. Hệ thống pháp luật này không những phải đầy đủ chặt chẽ về các quy định hoạt động đại lý mà còn phải thường xuyên đổi mới để đáp ứng với sự thay đổi nhanh chóng của thị trường. Tại Việt Nam, Đại lý hải quan tồn tại trong một môi trường pháp lý khá rộng lớn và chịu sự điều chỉnh của nhiều loại văn bản pháp luật khác nhau, như Bộ luật Dân sự 2005; Luật Doanh nghiệp2005; Luật Cạnh tranh 2004; Luật Phá – 11 –

14. đồng thời cũng quy định về các trường hợp cơ quan hải quan quyết định thu hồi thẻ của nhân viên Đại lý Hải quan. Những năm vừa qua, qui trình Hải quan đã bắt đầu chuyển sang qui trình hiện đại, cụ thể là việc thực hiện thí điểm thủ tục hải quan điện tử được quy định rõ trong quyết định số 149/2005/QĐ-TTg. Đây là một Quyết định quan trọng đánh dấu bước chuyển đổi cơ bản quy trình hải quan, từ thủ công sang hiện đại. Và vì đây cũng là một văn bản pháp lý có “dấu ấn” đối với công tác Hiện đại hóa thủ tục hải quan. – Quyết định số 50/200/QĐ-BTC ban hành quy trình thực hiện thí điểm thủ tục hải quan điện tử đối với hàng hóa XNK. Quyết định này đã cho thấy những ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ công tác làm thủ tụchải quan. Tuy nhiên vẫn cho thấy sự thủ công trong tác nghiệp của người khai hải quan cũng như công chức hải quan. – Quyết định số 810/QĐ-BTC về kế hoạch cải cách phát triển và hiện đại hóa ngành hải quan giai đoạn 2004 – 2006. Những văn bản pháp luật trên là những cơ sở pháp lý giúp cho Đại lý Hải quan có một một môi truờng hoạt động thuận lợi góp phần đẩy nhanh công tác hiện đại hóa hải quan trong thời kỳ mới. 3.2. Pháp luật về đại lý hải quan của một số nước trên thế giới Hoạt động Đại lý Hải quan ở các nước là một hoạt động khá phổ biến và được quản lý chặt chẽ. Việc làm thủ tục hải quan cho hàng hóa XNK ở các nước chủ yếu do các Đại lý Hải quan thực hiện, chỉ có một ít doanh nghiệp trực tiếp tự minh đi làm. Nhìn chung quy định về dịch vụ đại lý làm thủ tục hải quan ở các nước cơ bản đều giống nhau ở một số nội dung như sau: – Dịch vụ này đều được quy định trong luật; – Dịch vụ này đều được cơ quan hải quan quản lý chặt chẽ; – Các công ty làm dịch vụ này đều phải được phép của cơ quan hải quan và phải có đội ngũ nhân viên làm dịch vụ đại lý làm thủ tục hải quan đã qua đào tạo; – 14 –

16. Đối với Hiệp hội: Để đảm bảo giấy phép khai thuê hải quan được cấp đúng cho Hiệp hội, với tư cách là Hiệp hội phải: + Được trao quyền theo các điều khoản của Hiệp hội để giao dịch với các công việc của hải quan như là tư cách của người khai thuê hải quan; + Có ít nhất một cán bộ là nguời khai thuê hải quan. Điểm 111.21 quy định về chứng từ giao dịch, điểm 111.23 quy định về thời hạn lưu giữ chứng từ ….[3] – Tại Trung Quốc Điều 09 Luật hải quan nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa quy định: Ngoài những quy định đối với hàng hóa, vật phẩm XNK có thể do chủ hàng tiến hành làm các thủ tục khai báo, nộp thuê hải quan, cũng có thể là xí nghiệp khai thuê hải quan đã được đăng ký tại hải quan được chủ hàng ủy quyền tiến hành làm các thủ tục khai báo, nộp thuế hải quan; Điều 10 Luật hải quan quy định: Xí nghiệp khai thuê hải quan được chủ hàng hóa XNK ủy quyền, tiến hành làm thủ tục khai báo hải quan với danh nghĩa người được ủy quyền, phải nộp cho hải quan giấy ủy quyền do người ủy quyền kí và tuân thủ các quy định đối với người ủy quyền tại Luật này. Xí nghiệp khai thuê hải quan được chủ hàng hóa XNK ủy quyền, tiến hành làm thủ tục khai báo hải quan với danh nghĩa người được ủy quyền phải chịu trách nhiệm trước pháp luật giống như chủ hàng hóa XNK; Hay điều 11 quy đinh: Chủ hàng hóa XNK, xí nghiệp khai thuê hải quan làm tủ tục hải quan nhất thiết phải đăng ký trước với hải quan theo quy định. Nhân viên khai thuê hải quan nhất thiết phải có chứng nhận về tư cách của người khai thuê theo quy định, những xí nghiệp chưa được dăng ký tại hải quan và những nhân viên chưa có chứng nhận về tư cách khai thuê hải quan đều không được tiến hành khai báo hải quan….[3] – Tại Philippin: Tiết 1301 Luật hải quan philippin qui định người có quyền thực hiện khai báo hải quan là: Môi giới hải quan được cấp giấy phép đúng thể thức, thực hiện theo sự ủy quyền của người giữ vận tải đơn, hoặc… – 16 –

18. quan, tăng nhanh tốc độ lưu chuyển hàng hóa trong giao dịch ngoại thương, thông quan nhanh hàng hóa, giảm thiểu chi phí cho doanh nghiệp… Tuy nhiên để thực hiện được mục tiêu này, ngoài việc hỗ trợ, phối hợp từ các cơ quan khác của Nhà nước, nỗ lực tự thân của ngành Hải quan thì phải có sự tham gia đóng góp tích cực và không nhỏ từ phía người làm thủ tục hải quan. Thực tế cho thấy, việc chậm trễ trong việc làm thủ tục hải quan, giải phóng hàng hóa khỏi cửa khẩu có một phần lý do và nguyên nhân từ phía người làm thủ tục hải quan, đó là: người khai hải quan còn kém hiểu biết về pháp luật hải quan, về chứng từ thuộc hồ sơ hải quan, thiếu tính chuyên nghiệp, lúng túng trong các thao tác nghiệp vụ thủ tục hải quan…Vì vậy vai trò của Đại lý Hải quan với tư cách là người làm thủ tục hải quan chuyên nghiệp sẽ góp phần tích cực vào việc thực hiện mục tiêu cải cách hành chính hải quan. – 18 –

20. – Hai là, Đại lý hải quan phải đáp ứng điều kiện cơ sở vật chất – kỹ thuật cần thiết để đảm bảo thực hiện quy trình khai báo và làm thủ tục hải quan theo yêu cầu của cơ quan hải quan tại nơi đăng ký và làm thủ tục hải quan. Trong điều kiện tự do hoá thương mại và thực hiện các cam kết quốc tế về đơn giản hoá và hài hoà hoá thủ tục hải quan, việc khai báo và làm thủ tục hải quan từng bước sẽ tiến dần đến việc thực hiện tự động hoá quy trình thủ tục hải quan, từ khâu đăng ký tờ khai hải quan, kiểm tra hải quan đến thông quan hàng hoá.Cho nên việc đảm bảo cơ sở vật chất cho Đại lý là một điều kiện tối thiểu. – Ba là, phải có đội ngũ nhân lực cần thiết hội đủ điều kiện hành nghề trong lĩnh vực khai báo và làm thủ tục hải quan theo quy định của cơ quan hải quan. Do đặc điểm hoạt động nghiệp vụ khai báo và làm thủ tục hải quan, người khai hải quan muốn thực thi tốt chính sách về hải quan phải nắm đầy đủ chuyên môn, nghiệp vụ, quy trình, thủ tục hải quan. Vì vậy, đòi hỏi người khai hải quan phải có kiến thức nghiệp vụ hải quan tổng hợp cần thiết để đảm bảo thực hiện tốt nghĩa vụ của mình. Đây là một điều kiện tiên quyết đến việc chấp hành quyền và nghĩa vụ của người khai hải quan đối với đại lý hải quan. – Bốn là, phải có cam kết chấp hành tốt pháp luật hải quan và chịu sự quản lý của cơ quan hải quan. Việc chấp hành tốt chính sách về hải quan nhằm góp phần quan trọng trong việc thúc đẩy tiến trình cải cách hiện đại hoá, tự động hoá quy trình, thủ tục hải quan là đòi hỏi của cả cơ quan hải quan và chủ hàng đối với Đại lý Hải quan. Vì vậy, đánh giá việc chấp hành tốt pháp luật về hải quan là để khẳng định sự tồn tại, vai trò của từng Đại lý Hải quan trong hệ thống Đại lý làm thủ tục hải quan. Đồng thời, quá trình hoạt động của Đại lý Hải quan phải chịu sự quản lý của cơ quan hải quan. Khi thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình nếu Đại lý Hải quan vi phạm pháp luật về hải quan thì ngoài việc phải bị xử lý theo pháp luật, đền bù thiệt hại vật chất cho chủ hàng còn bị cấm hoạt động dịch vụ trong lĩnh vực này trong một thời gian hạn định. Ngoài ra do đại lý hải quan là một loại hình đặc biệt trong đó yêu cầu phải có các nhân viên đại lý có trình độ. Pháp luật cũng có quy định về điều kiện để trở thành nhân viên Đại lý Hải quan mà cụ thể là: Tại Điều 3 Nghị định – 20 –

21. 79/2005/NĐ – CP đã quy định về điều kiện để trở thành đại lý hải quan. Nhân viên đại lý hải quan phải đáp ứng các điều kiện sau: 1. Là công dân Việt Nam. 2. Có bằng từ trung cấp trở lên thuộc các ngành kinh tế, luật. 3. Có chứng chỉ về nghiệp vụ khai hải quan.” Về điều kiện có bằng trung cấp trở lên thuộc các ngành kinh tế, luật được Thông tư 73/2005/TT – BTC Hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 79/2005/NĐ – CP hướng dẫn cụ thể là: Nhân viên đại lý hải quan phải có bằng tốt nghiệp chính quy của tất cả các trường trung cấp trở lên và chuyên ngành học là các chuyên ngành về kinh tế và pháp luật. Đối với nhân viên của các doanh nghiệp chuyên kinh doanh dịch vụ giao nhận, vận tải hàng hoá XNK, nếu đã trực tiếp làm thủ tục hải quan ít nhất là 01 năm tính đến ngày thông tư này có hiệu lực, có bằng tốt nghiệp chính quy của các trường trung cấp trở lên, nhưng không thuộc ngành học về kinh tế và pháp luật thì vẫn được coi là đủ điều kiện. Một số ý kiến cho rằng cần phải mở rộng điều kiện này hơn nữa cho nhân viên đại lý hải quan nhằm tăng số lượng đầu vào, đảm bảo đáp ứng nhu cầu thị trường. Có thể mở rộng điều kiện là bằng Đại học tại chức hoặc từ xa cho chuyên ngành kinh tế, luật bởi vì việc công nhận bằng trung cấp mà không công nhận bằng Đại học tại chức hay từ xa sẽ làm giảm thiểu rất nhiều người không đủ điều kiện mặc dù vẫn đáp ứng đủ các tiêu chuẩn khác. Đây là một sự lãng phí lớn. – Đồng thời tại điều 4 Thông tư này cũng quy định các đối tượng không được làm nhân viên Đại lý Hải quan: 1. Người thành niên bị hạn chế hoặc mất năng lực hành vi dân sự. 2. Người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc đang phải chấp hành hình phạt tù. 3. Người đã bị xử lý hành chính về hành vi vi phạm pháp luật hải quan và thuế trong phạm vi một (01) năm tính đến ngày nộp hồ sơ đề nghị cấp thẻ nhân viên đại lý hải quan. 4. Công chức, viên chức nhà nước đang tại chức. – 21 –

22. Đại lý hải quan đề nghị cấp thẻ nhân viên đại lý hải quan cho nhân viên của mình phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc kiểm tra, xác nhận các điều kiện quy định tại Điều này.” Quy định này nhằm thắt chặt phạm vi đối tượng tham gia làm nhân viên Đại lý Hải quan, nói chung các quy định này cũng phù hợp với các quy định của các văn bản pháp luật khác về điều kiện cơ bản để tham gia hoạt động trong một ngành nghề đặc biệt như Đại lý Hải quan. Sau khi đủ các tiêu chuẩn được quy định tại các điều khoản trên thì các đối tượng này được làm hồ sơ xin cấp thẻ nhân viên Đại lý Hải quan theo qui định tại điều 5 và điều 6 Nghị định 79/2005/NĐ – CP Khi nhân viên đã được cấp thẻ, doanh nghiệp của các nhân viên đó có ý định hoat động dịch vụ này thì đăng ký theo quy định tại điều 7 Nghị định 79/2005/NĐ – CP quy định về trình tự đăng ký hoạt động Đại lý Hải quan: Đầu tiên, thương nhân phải đăng ký kinh doanh ngành nghề dịch vụ giao nhận HHXNK hoặc dịch vụ khai thuê hải quan theo quy định của Luật Doanh nghiệp. Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh, thành phố sẽ căn cứ quy định của pháp luật để cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc ghi bổ sung ngành nghề này vào giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Trước khi triển khai hoạt động, đại lý hải quan phải nộp các chứng từ sau cho Cục Hải quan tỉnh, nơi đại lý hải quan có trụ sở chính. Trường hợp nơi đại lý hải quan có trụ sở chính không có Cục Hải quan tỉnh thì nộp cho Cục Hải quan tỉnh có cửa khẩu nơi đại lý hải quan th- ường xuyên hoạt động, trong đó: – Văn bản của đại lý hải quan thông báo đã đáp ứng đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật và cam kết thực hiện đúng các điều kiện đó trong suốt quá trình hoạt động kinh doanh; – Bản sao có công chứng giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh; – Bản sao có công chứng chứng chỉ về nghiệp vụ khai hải quan của nhân viên đại lý hải quan; – Mẫu chữ ký của nhân viên đại lý hải quan có thẩm quyền khai trên tờ khai hải quan. – 22 –

24. Hải quan là rất cần thiết trong việc giảm thiểu số lượng nhân viên thường trực được duy trì để thực hiện công việc khai hải quan mỗi khi có lô hàng XNK. Mặt khác, doanh nghiệp không phải bỏ chi phí vào đầu tư trang thiết bị, phương tiện hiện đại phục vụ cho việc làm thủ tục hải quan. Nhất là khi tiến hành áp dụng khai báo hải quan điện tử thì chi phí này lại càng tăng cao. Điều này dẫn đến việc tránh lãng phí cho doanh nghiệp, ấy vậy mà về mặt nhận thức, các doanh nghiệp này lại không có thói quen thuê nhân viên Đại lý thực hiện nhiệm vụ khai báo và làm thủ tục hải quan. Với sự lo lắng về chất lượng dịch vụ và sự hoài nghi về thẩm quyền và trách nhiệm của Đại lý Hải quan không đảm bảo nhu cầu của họ. Cùng với việc số lượng tờ khai và số lượng doanh nghiệp XNK cũng ngày càng tăng với tốc độ tương ứng từ 537 nghìn tờ khai XK năm 2002 đến hơn 1 triệu tờ khai XK năm 2006. Với tốc độ tăng trưởng kinh tế, đặc biệt là thương mại quốc tế như hiện nay, cùng với những tác động sau khi Việt Nam gia nhập WTO, kim ngạch XNK và khối lượng giao dịch trong các năm tới sẽ còn tiếp tục tăng cao. Vì vậy việc các doanh nghiệp tăng cường năng suất làm thủ tục hải quan theo hướng nhanh chóng và thuận tiện là một việc làm rất cần thiết. Năm Tổng kim ngạch hàng hóa XNK làm thủ tục hải quan (triệu USD) Kim ngạch xuất khẩu (triệu USD) Kim ngạch nhập khẩu (triệu USD) Tỷ trọng xuất khẩu (%) Tỷ trọng nhập khẩu (%) 1999 23.143 11.521 11.622 49.78 50.22 2000 30.084 14.449 15.635 48 52 2001 31.189 15.027 16.162 48.18 61.82 2002 35.500 16.500 19.000 46.48 53.52 (Tổng kim ngạch hàng hóa XNK làm thủ tục hải quan giai đoạn 1999 – 2002) [M] Một số doanh nghiệp khác có cách làm tiên tiến hơn là thuê dịch vụ làm thủ tục hải quan của Đại lý Hải quan, trong trường hợp đó thì bản thân họ sẽ – 24 –

27. Công tác đào tạo và cấp chứng chỉ nghiệp vụ khai hải quan được tiến hành ngay sau khi nghị định 79/2005/NĐ – CP và Thông tư 73/2005/TT – BTC có hiệu lực. Công tác đào tạo được tiến hành tại 4 cơ sở: Học viện Tài chính Cao đẳng Tài chính Hải quan Trung tâm đào tạo bồi dưỡng cán bộ Hải quan Cao đẳng kinh tế Nguyễn Tất Thành. Công tác tổ chức thi cấp chứng chỉ trong năm 2005 – 2006 tiến hành được 4 đợt. Đợt 1 cấp 240 chứng chỉ Đợt 2 cấp 120 chứng chỉ Đợt 3 cấp 170 chứng chỉ Đợt 4 cấp 361 chứng chỉ Việc cấp thẻ nhân viên đại lý được triển khai thông qua các Cục Hải quan địa phương và Tổng Cục Hải quan. Cấp thẻ nhân viên đại lý hiện nay được cấp bởi Tổng cục hải quan do 1 chuyên viên của Vụ giám sát Quản lý phụ trách việc cấp thẻ nhân viên đại lý. Nghị định 79/2005/NĐ – CP cũng quy định rõ các quyền hạn và nghĩa vụ của cơ quan hải quan mà cụ thể là tại Điều 10 về Kiểm tra, giám sát hoạt động đại lý hải quan: Cơ quan Hải quan kiểm tra, giám sát hoạt động và việc thực hiện các quy định tại Nghị định này của các đại lý hải quan.Điều 12 về hỗ trợ của cơ quan Hải quan đối với đại lý hải quan thì: Cơ quan Hải quan hỗ trợ miễn phí cho đại lý hải quan trong các lĩnh vực sau: 1. Hỗ trợ kỹ thuật trong việc kết nối mạng giữa đại lý hải quan với cơ quan Hải quan. 2. Tư vấn về thủ tục hải quan, thuế đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu. 3. Cập nhật các quy định mới của pháp luật về hải quan. 4. Tập huấn, bồi dưỡng pháp luật về hải quan. – 27 –

29. Đại lý hải quan nơi nhân viên đại lý hải quan có văn bản đề nghị cơ quan Hải quan thu hồi thẻ. Các hành vi vi phạm pháp luật khác của đại lý hải quan và nhân viên đại lý hải quan trong lĩnh vực hải quan, tuỳ theo mức độ sẽ bị xử lý vi phạm hành chính theo quy định tại Nghị định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật. Mặc dù ngành hải quan là ngành trực tiếp quản lý các Đại lý Hải quan thế nhưng hiện nay nhìn chung là ta chưa thấy rõ được vai trò này của ngành hải quan. Hiện nay, sự kết nối trao đổi thông tin giữa hải quan và các Đại lý Hải quan là chưa được triển khai, hay nói cách chính xác thì hiện tại các Đại lý Hải quan hoạt động theo đúng nghĩa của nó vẫn chưa được hình thành. 2. Quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia quan hệ Đại lý Hải quan 2.1. Quyền và nghĩa vụ của bên Đại lý Hải quan Sự vận hành của Đại lý Hải quan tất yếu sẽ làm nảy sinh mối quan hệ giữa chủ hàng với Đại lý, đồng thời còn nảy sinh mối quan hệ giữa Đại lý Hải quan với cơ quan Hải quan. Chính vì vậy việc quy định cụ thể vị thế pháp lý của các chủ thể này trên cơ sở xác định các quyền và nghĩa vụ pháp lý của các bên là một việc làm rất cần thiết. Việc xem xét vị thế pháp lý của Đại lý Hải quan mà ở đây là quyền và nghĩa vụ của họ cần được nhìn nhận trên nhiều phương diện khác nhau. Thứ nhất là xét Đại lý Hải quan với tư cách là người làm thuê (người nhận dịch vụ). Thứ hai là xem Đại lý Hải quan với tư cách là người khai hải quan. Thứ ba Đại lý Hải quan được xem là thay mặt cho cơ quan hải quan thực hiện một số công việc của hải quan với chủ hàng. Ta sẽ lần lượt phân tích từng tư cách một của Đại lý Hải quan và quyền nghĩa vụ của nó trong mối quan hệ đó. a. Với tư cách người làm thuê: – 29 –

33. f) Không được thực hiện hành vi buôn lậu, gian lận thương mại, gian lận thuế, đưa hối lộ hoặc các hành vi khác nhằm mưu lợi bất chính. – Ngoài ra Đại lý Hải quan còn được hưởng một số ưu đãi của cơ quan hải quan được quy định tại Điều 12 Nghị định 79/2005/NĐ – CP cụ thể là: Cơ quan Hải quan hỗ trợ miễn phí cho đại lý hải quan trong các lĩnh vực sau: Hỗ trợ kỹ thuật trong việc kết nối mạng giữa đại lý hải quan với cơ quan Hải quan. Tư vấn về thủ tục hải quan, thuế đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu. Cập nhật các quy định mới của pháp luật về hải quan. Tập huấn, bồi dưỡng pháp luật về hải quan. c. Khi thay mặt cơ quan hải quan thực hiện một số công việc của hải quan với chủ hàng: Khi thay mặt cơ quan hải quan thực hiện một số công việc của hải quan với chủ hàng (nhất là trong điều kiện cơ quan hải quan thực hiện thủ tục hải quan điện tử), Đại lý Hải quan có một số quyền và nghĩa vụ của cơ quan hải quan theo quy định của Luật hải quan, mà cụ thể là kiểm tra bộ hồ sơ hải quan ; lưu giữ một số chứng từ thuộc hồ sơ hải quan đối với trường hợp hàng hóa được thông quan trước, nộp hồ sơ hải quan sau; lưu giữ hồ sơ phục vụ cho công tác kiểm tra sau thông quan.. Đương nhiên, với tư cách này Đại lý Hải quan giúp cơ quan hải quan quản lý doanh nghiệp, hướng dẫn, kiểm tra doanh nghiệp tuân thủ pháp luật hải quan, làm cho môi trường hải quan trong sạch, minh bạch hơn. Theo đó, Đại lý Hải quan được nhận sự hỗ trợ của hải quan về kỹ thuật (như việc kết nối mạng giữa doanh nghiệp với hải quan); về nghiệp vụ (như vấn đề thủ tục hải quan, về thuế đối với hàng hóa xuất nhập khẩu); về pháp luật (như cập nhật các quy định mới pháp luật về hải quan); về đào tạo (như tập huấn, bồi dưỡng pháp luật về hải quan)…v…v. – 33 –

35. 3. Chấm dứt quan hệ đại lý hải quan Đại lý hải quan cũng giống như các hoạt động dịch vụ thương mại khác luôn tồn tại trong một phạm vi thời gian và không gian nhất định. Hơn nữa việc hoạt động thương mại luôn phải tồn tại trong một môi trường cạnh tranh vì thế có thể bị giải thể và phá sản theo quy định của pháp luật giải thể và phá sản doanh nghiệp. Ngoài môi trường pháp lý chung đó, Đại lý Hải quan sẽ phải chấm dứt tư cách pháp lý của mình (không được tiếp tục làm người khai hải quan nữa) khi có các hành vi vi phạm pháp luật về điều kiện và hoạt động Đại lý Hải quan, chẳng hạn: – Không còn đáp ứng được các điều kiện làm Đại lý Hải quan (được quy định tại Điều 2 Nghị định 79/2005/NĐ – CP); – Thông đồng với chủ hàng để vi phạm pháp luật về hải quan; – Không thực hiện đầy đủ trách nhiệm của Đại lý Hải quan theo quy định của pháp luật; – Không chấp hành hoặc chấp hành không đúng các quyết định xử phạt của cơ quan hải quan khi có hành vi vi phạm pháp luật về hải quan; – Không thông báo trước cho cơ quan hải quan các thay đổi về tên, địa chỉ Đại lý hải quan nhằm mục đích buôn lậu, gian lận thương mại, trốn thuế; – Cho mượn danh nghĩa trong hoạt động Đại lý Hải quan…v.v… Nói chung, pháp luật đã quy các trường hợp chấm dứt quan hệ đại lý hải quan thành 3 nguyên nhân chính sau: – Chấm dứt theo sự thỏa thuận của các bên: Do việc ký kết hợp đồng là hoàn toàn tự nguyện nên khi các bên thấy hợp đồng không còn có ích thì có thể thỏa thuận để chấm dứt nó. Do là một đại lý thương mại nên hợp đồng đó cũng chấm dứt tuân theo quy định của một hợp đồng thương mại. Hợp đồng đại lý chấm dứt khi các bên có thoả thuận hoặc: . Hợp đồng đã thực hiện xong, hết thời hạn hiệu lực, . Một trong các bên mất tư cách pháp lý, . Hợp đồng đại lý bị huỷ bỏ, bị đơn phương chấm dứt việc thực hiện. – 35 –

36. – Chấm dứt theo ý chí của một bên: Về vấn đề chấm dứt hợp đồng Đại lý Hải quan của Đại lý với chủ hàng thì Hợp đồng đại lý Hải quan cũng là hợp đồng đại lý thương mại nên theo quy định tại điều 177 Luật Thương mại, các bên tham gia hợp đồng đại lý có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng đại lý trong những trường hợp sau: . Việc tiếp tục thực hiện hợp đồng không có lợi cho bên chủ hàng . Chủ hàng không thực hiện nghĩa vụ của mình được quy định như trên hoặc thực hiện không đúng theo thoả thuận thì bên đại lý có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng .Cũng theo điều này thì thì các bên có thể đơn phương chấm dứt hợp đồng đại lý và chỉ cần thông báo bằng văn bản cho bên kia về việc chấm dứt hợp đồng trong thời hạn quy định tại điều này chứ không phải chỉ trong các trường hợp quy định tại điều 525 Bộ luật dân sự. Do đó, nếu thực hiện theo quy định của Luật thương mại thì các bên có thể tự do chấm dứt hợp đồng và như vậy sẽ ảnh hưởng đến quyền lợi của bên kia. – Chấm dứt khi có vi phạm pháp luật, bắt buộc phải chấm dứt hoạt động đại lý hải quan: Điều 14 Nghị định 79/2005/NĐ – CP quy định về vấn đề xử lý vi phạm cũng đã nêu các trường hợp chấm dứt hoạt động Đại lý Hải quan cụ thể như sau: . Đối với Đại lý Hải quan a) Tổng cục Hải quan đề nghị Sở kế hoạch và đầu tư tỉnh thành phố quyết định dừng hoạt động của Đại lý Hải quan trong các trường hợp sau đây: – Đại lý Hải quan không đáp ứng các điều kiện quy định tại Điều 2 Nghị định này; – Đại lý Hải quan thông đồng với chủ hàng để vi phạm pháp luật hải quan; – Đại lý Hải quan tự ý thay đổi tên, địa chỉ không đúng quy định của pháp luật nhằm mục đích buôn lậu, gian lận thương mại, trốn thuế; – Đại lý Hải quan đã tự động chấm dứt hoạt động. – 36 –

38. – Sử dụng thẻ để làm thủ tục hải quan cho hàng hoá của doanh nghiệp không ký hợp đồng với Đại lý Hải quan cho hàng hoá XNK; b) Đại lý Hải quan nơi nhân viên Đại lý Hải quan có văn bản đề nghị cơ quan hải quan thu hồi thẻ. Các hành vi vi phạm pháp luật khác của đại lý hải quan và nhân viên đại lý hải quan trong lĩnh vực hải quan, tuỳ theo mức độ sẽ bị xử lý vi phạm hành chính theo quy định tại Nghị định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật. Như vậy, các trường hợp dẫn đến việc chấm dứt quan hệ Đại lý Hải quan đều đã được pháp luật quy định mà cụ thể nhất là trong Nghị định 79/2005/NĐ – CP. Việc quy định này cũng là một phần rất quan trọng trong việc duy trì một hệ thống Đại lý Hải quan chuyên nghiệp, lành mạnh đáp ứng đầy đủ nhu cầu của thị trường đồng thời từng bước tiến tới hiện đại hoá ngành hải quan, có thể đứng ngang hàng với khu vực và thế giới về chất lượng thông quan hiệu quả, thuận lợi. Tóm lại: Với vị trí là cầu nối trung gian giữa người XNK hàng hóa với cơ quan hải quan, Đại lý Hải quan đóng góp một vai trò tích cực trong họat động quản lý Nhà nước về hải quan. Thông qua Đại lý Hải quan, cơ quan hải quan biết tập trung thông tin về các chủ hàng, về các lô hàng, loại hàng chuẩn bị nhâpk khẩu vào Việt Nam hoặc xuất khẩu ra nước ngoài, đồng thời còn biết về khu vực, quốc gia mà các chủng loại hàng hóa XNK thường xuyên,… Từ đó đánh giá được các thông tin, quyết định các hình thức, mức độ kiểm tra thực tế phù hợp đối với lô hàng hóa để quyết định thông quan nhanh chóng. Hiểu rõ được vai trò của Đại lý Hải quan và mối tương quan giữa các bên tham gia quan hệ dịch vụ đại lý này cũng giúp cho việc xây dưng hệ thống dịch vụ Hải quan phát triển nhanh và mạnh hơn, kịp thời đề xuất và bổ sung các chính sách quản lý phù hợp với tình hình thực tế, bước tới hiện đại hóa ngành Hải quan của Đất nước. – 38 –

39. CHƯƠNG III MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ ĐẠI LÝ HẢI QUAN 1. Thực tiễn hoạt động của Đại lý Hải quan Ở Việt Nam, các doanh nghiệp làm dịch vụ khai thuê hải quan đã tồn tại từ lâu dưới hình thức tự phát là chính và chưa chịu bất kỳ một sự hướng dẫn, quản lý nào từ các cơ quan quản lý Nhà nước. Vào năm 1995, Cục Hải quan thành phố Hồ Chí Minh đã báo cáo và xin phép Tổng cục Hải quan mở lớp huấn luyện, bồi dưỡng nghiệp vụ khai báo Hải quan và cấp giấy chứng nhận hoạt động cho từng doanh nghiệp trên địa bàn nhằm đưa hoạt động khai thuê hải quan này vào sự quản lý của cơ quan hải quan. Đến cuối năm 1998 đã có 85 doanh nghiệp được Cục Hải quan thành phố Hồ Chí Minh tạm thời cấp giấy chứng nhận trong lĩnh vực thay mặt chủ hàng làm thủ tục hải quan tuy vẫn chưa được hướng dẫn nghiệp vụ khai báo hải quan một cách đầy đủ. Ngày 08/01/1999, đứng trước yêu cầu thúc bách của các doanh nghiệp đối với loại hình này, đồng thời để triển khai đồng bộ các nội dung đã được xây dựng trong đề án cải cách tủ tục hải quan nêu tại tờ trình Thủ tướng Chính phủ số: 146/TCHQ – GSQL ngày 14/01/1998 và đã được Thủ tướng Chính phủ chấp thuận tại công văn số 162/CP – KTTH ngày 17/02/1998, Tổng cục trưởng Tổng cục hải quan đã ra quyết định số 15/1999/QĐ – TCHQ ban hành “Quy chế tạm thời quản lý dịch vụ khai thuê hải quan” thí điểm tại 7 địa phương là Hà Nội, Hải Phòng, TP Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bà Rịa – Vũng Tàu. Nội dung quy chế tạm thời cho phép tất cả các doanh nghiệp được tham gia hoạt động đăng ký làm dịch vụ này trên cơ sở đáp ứng đầy đủ các điều kiện được quy định trong quy chế. Thủ tục đăng ký để được làm dịch vụ khai thuê hải quan quy định hết sức đơn giản, dễ dàng không mất phí với mục đích là để theo dõi, quản lý việc đào tạo bồi dưỡng nghiệp vụ khai thuê hải quan cho nhân viên tham gia hoạt động khai thuê hải quan. Với tư tưởng chỉ đạo rút kinh nghiệm để sau thời gian thí – 39 –

40. điểm sẽ tổng hợp báo cáo Chính phủ cho phép ban hành chính thức quy chế hoạt động khai thuê hải quan. Sau khi ban hành quy chế tạm thời, Tổng cục hải quan đã có nhiều văn bản hướng dẫn chỉ đạo Hải quan địa phương triển khai đồng thời tiếp tục nhận đào tạo bồi dưỡng nghiệp vụ khai hải quan và cho đăng ký làm dịch vụ khai hải quan cho các doanh nghiệp. Tính đến tháng 10/1999, Tổng cục hải quan thống kê các doanh nghiệp làm dịch vụ khai thuê hải quan như sau: STT Địa phương Số doanh nghiệp được công nhận hoạt động 1 Hà Nội 47 2 Hải Phòng 26 3 Tp Hồ Chí Minh 123 4 Đà Nẵng 3 5 Bình Dương 3 6 Đồng Nai 3 7 Bà Rịa – Vũng Tàu 5 8 Kom – Tum 1 9 Tổng số 210 (Báo cáo tổng kết công tác quản lý dịch vụ thủ tục hải quan, Cục giám sát quản lý về hải quan, 30/10/1999) [M] Những doanh nghiệp này là tiền đề cho sự hình thành các Đại lý Hải quan, thêm vào đó, năm 2005, Chính phủ ban hành 2 văn bản pháp luật là Nghị định 79/2005/NĐ – CP ngày 16/5/2005 của Chính phủ quy định điều kiện và hoạt động của đại lý làm thủ tục hải quan và Thông tư 73/2005/TT – BTC ngày 05/9/2005 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện một số điều của của Nghị định số 79 nêu trên, đã đánh dấu sự ra đời của các Đại lý Hải quan thay mặt chủ hàng thực hiện nghĩa vụ của người khai hải quan theo quy định của pháp luật và tự chịu trách nhiệm trước những gì họ khai báo. Việc hình thành này là hoàn toàn phù hợp với xu hướng phát triển của Thế giới. 1.1. Những mặt đạt được của hoat động Đại lý Hải quan trong những năm qua – 40 –

Hợp Nhất Hai Thông Tư Về Đại Lý Làm Thủ Tục Hải Quan / 2023

Thông tư 22 hướng tới 2 mục tiêu:

Một là, cải cách, đơn giản hóa thủ tục hành chính nhưng đảm bảo công tác quản lý của cơ quan hải quan; bảo vệ được quyền lợi cho các doanh nghiệp xuất nhập khẩu hàng hóa, các đại lý hải quan chấp hành tốt pháp luật; phòng chống, hạn chế tối đa các trường hợp lợi dụng để buôn lậu hoặc gian lận thương mại.

Trong thời gian vừa qua, Tổng cục Hải quan đã phát hiện có trường hợp đại lý làm thủ tục hải quan lợi dụng thông tin của các chủ hàng chấp hành tốt pháp luật để khai và làm thủ tục hải quan đối với hàng hóa xuất nhập khẩu nhằm mục đích buôn lậu, gian lận thương mại.

Để ngăn chặn trường hợp này, Thông tư số 22đã bổ sung quy định yêu cầu các chủ hàng xuất nhập khẩu sau khi ký kết hợp đồng đại lý làm thủ tục hải quan thì sẽ thông báo cho cơ quan hải quan việc ủy quyền cho đại lý hải quan khai và làm thủ tục hải quan đối với hàng hóa của mình. Việc thông báo sẽ được thực hiện qua hệ thống xử lý dữ liệu hải quan điện tử nên sẽ tạo thuận lợi cho cả cơ quan hải quan và các doanh nghiệp đồng thời bảo vệ được các doanh nghiệp chủ hàng tránh bị lợi dung thông tin.

Bên cạnh đó, Thông tư 22 cũng hướng tới mục tiêu tạo cơ sở pháp lý để triển khai thực hiện các hoạt động hỗ trợ các đại lý hải quan phát triển theo hướng chuyên nghiệp hóa và hoạt động đúng vai trò của đại lý hải quan.

Như vậy, với quy định mới tại Thông tư số 22 thì các đại lý làm thủ tục hải quan sẽ được tạo thuận lợi hơn nhiều trong các thủ tục hành chính về thi cấp chứng chỉ nghiệp vụ khai hải quan, công nhận hoạt động đại lý làm thủ tục hải quan, cấp mã số nhân viên đại lý hải quan…

Bên cạnh đó, với thực trạng hoạt động như hiện nay thì việc triển khai thực hiện Thông tư 22 cũng sẽ là cơ hội để các đại lý làm thủ tục hải quan củng cố, sắp xếp lại nguồn lực và công tác quản lý, tổ chức hoạt động kinh doanh của mình để hướng tới mục tiêu chuyên nghiệp hóa và phát triển hoạt động đại lý làm thủ tục hải quan.

N.Linh

Luật Hải Quan Là Gì ? Tìm Hiểu Quy Định Về Luật Hải Quan / 2023

Luật hải quan là đạo luật quy định có hệ thống về chính sách hải quan, tổ chức và hoạt động của ngành hải quan, quyền và nghĩa vụ của các tổ chức, cá nhân trong lĩnh vực hải quan được Quốc hội Khoá X, kì họp thứ 9 thông qua ngày 29.6.2001, có hiệu lực từ ngày 01.01.2002.

Để đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế thị trường và yêu cầu của sự phát triển kinh tế xã hội, ngày 20.02.1990, Pháp lệnh hải quan đã được ban hành và có hiệu lực từ ngày 01.5.1990. Pháp lệnh này là cơ sở pháp lí điều chỉnh các hoạt động trong lĩnh vực hải quan về quản lí nhà nước đối với hàng hoá, hành lí, ngoại hối, tiền Việt Nam, bưu kiện, bưu phẩm, các đồ vật và tài sản khác xuất khẩu, nhập khẩu, phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh, mượn đường Việt Nam.

Qua hơn 10 năm thực hiện, Pháp lệnh hải quan cần được sửa đổi, bổ sung nhiều nội dung mới và nâng thành một đạo luật đáp ứng yêu cầu phát triển của nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần và chính sách hội nhập kinh tế quốc tế. Luật hải quan năm 2001 được ban hành nhằm mục tiêu góp phần bảo đảm thực hiện chính sách của Nhà nước về phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, khoa học và công nghệ; hợp tác và giao lưu quốc tế; bảo vệ chủ quyền và an ninh quốc gia, lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân; hoàn thiện cơ cấu tổ chức và cơ chế hoạt động của ngành hải quan.

Đối tượng và phạm ví điều chỉnh của Luật là các quan hệ xã hội xuất hiện trong lĩnh vực quản lí nhà nước về hải quan đối với hàng hoá được xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh, các phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh của tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài; về tổ chức và hoạt động của ngành hải quan.

Về bố cục, Luật có 8 chương, 82 điều với những nội dung cơ bản như sau: những quy định chung về các chính sách hải quan, phạm vi điều chỉnh, đối lượng áp dụng; quy định về nhiệm vụ, tổ chức của hải quan: nguyên tắc tổ chức và hoạt động hệ thống tổ chức, công chức ngành hải quan; quy định về thủ tục hải quan, chế độ kiểm tra, giám sát hải quan và các chế độ ưu đãi, miễn trừ…, quy định về trách nhiệm của hải quan trong việc phòng chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới; quy định về tổ chức thu thuế và các khoản thu khác đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu; quy định về quản lí nhà nước về hải quan; quy định về khen thưởng và xử lí các vi phạm trong lĩnh vực hải quan. Đây là đạo luật đầu tiên quy định có hệ thống về cơ cấu tổ chức và bộ máy hoạt động của ngành hải quan cũng như các hoạt động của các tổ chức, cá nhân trong lĩnh vực hải quan. Đạo luật này là cơ SỞ pháp lí để xây dựng các văn bản pháp luật khác theo cơ chế thị trường có định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

Thủ Tục Hải Quan Trong Luật Hải Quan / 2023

Thủ tục hải quan là các công việc mà người khai hải quan và công chức hải quan phải thực hiện theo quy định của luật hải quan đối với hàng hóa, phương tiện vận tải. Toàn văn luật hải quan 2014

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Luật này quy định quản lý nhà nước về hải quan đối với hàng hóa được xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh, phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh của tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài trong lãnh thổ hải quan; về tổ chức và hoạt động của Hải quan.

Điều 2. Đối tượng áp dụng

Điều 3. Chính sách về hải quan

Nhà nước Việt Nam tạo điều kiện thuận lợi về hải quan đối với hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh lãnh thổ Việt Nam.

Xây dựng Hải quan Việt Nam trong sạch, vững mạnh, chuyên nghiệp, hiện đại, hoạt động minh bạch, hiệu lực, hiệu quả.

Điều 4. Giải thích từ ngữ

Chuyển cửa khẩu là việc chuyển hàng hóa, phương tiện vận tải đang chịu sự kiểm tra, giám sát hải quan từ địa điểm làm thủ tục hải quan này đến địa điểm làm thủ tục hải quan khác.

Chuyển tải là việc chuyển hàng hóa từ phương tiện vận tải vận chuyển nội địa, phương tiện vận tải nhập cảnh sang phương tiện vận tải xuất cảnh để xuất khẩu hoặc từ phương tiện vận tải vận chuyển nội địa, phương tiện vận tải nhập cảnh xuống kho, bãi trong khu vực cửa khẩu, sau đó xếp lên phương tiện vận tải khác để xuất khẩu.

Địa điểm thu gom hàng lẻ là khu vực kho, bãi dùng để thực hiện các hoạt động thu gom, chia, tách hàng hóa của nhiều chủ hàng vận chuyển chung công-te-nơ.

Giám sát hải quan là biện pháp nghiệp vụ do cơ quan hải quan áp dụng để bảo đảm sự nguyên trạng của hàng hóa, sự tuân thủ quy định của pháp luật trong việc bảo quản, lưu giữ, xếp dỡ, vận chuyển, sử dụng hàng hóa, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh phương tiện vận tải đang thuộc đối tượng quản lý hải quan.

Hành lý của người xuất cảnh, nhập cảnh là vật dụng cần thiết cho nhu cầu sinh hoạt hoặc mục đích chuyến đi của người xuất cảnh, nhập cảnh, bao gồm hành lý mang theo người, hành lý gửi trước hoặc gửi sau chuyến đi.

Hồ sơ hải quan gồm tờ khai hải quan, các chứng từ phải nộp hoặc xuất trình cho cơ quan hải quan theo quy định của Luật này.

Kho bảo thuế là kho dùng để chứa nguyên liệu, vật tư nhập khẩu đã được thông quan nhưng chưa nộp thuế để sản xuất hàng hóa xuất khẩu của chủ kho bảo thuế.

Kho ngoại quan là khu vực kho, bãi lưu giữ hàng hóa đã làm thủ tục hải quan được gửi để chờ xuất khẩu; hàng hóa từ nước ngoài đưa vào gửi để chờ xuất khẩu ra nước ngoài hoặc nhập khẩu vào Việt Nam.

Kiểm soát hải quan là biện pháp tuần tra, điều tra, xác minh hoặc biện pháp nghiệp vụ khác do cơ quan hải quan áp dụng để phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới và hành vi khác vi phạm pháp luật về hải quan.

Lãnh thổ hải quan gồm những khu vực trong lãnh thổ, vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam nơi Luật hải quan được áp dụng.

Người khai hải quan bao gồm: chủ hàng hóa; chủ phương tiện vận tải; người điều khiển phương tiện vận tải; đại lý làm thủ tục hải quan, người khác được chủ hàng hóa, chủ phương tiện vận tải ủy quyền thực hiện thủ tục hải quan.

Niêm phong hải quan là việc sử dụng các công cụ kỹ thuật hoặc các dấu hiệu để nhận biết và bảo đảm tính nguyên trạng của hàng hóa.

Phương tiện vận tải bao gồm phương tiện vận tải đường bộ, đường sắt, đường hàng không, đường biển, đường thủy nội địa xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh.

Quản lý rủi ro là việc cơ quan hải quan áp dụng hệ thống các biện pháp, quy trình nghiệp vụ nhằm xác định, đánh giá và phân loại mức độ rủi ro, làm cơ sở bố trí, sắp xếp nguồn lực hợp lý để kiểm tra, giám sát và hỗ trợ các nghiệp vụ hải quan khác có hiệu quả.

Rủi ro là nguy cơ không tuân thủ pháp luật về hải quan trong việc thực hiện xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh hàng hóa; xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh phương tiện vận tải.

Tài sản di chuyển là đồ dùng, vật dụng phục vụ sinh hoạt, làm việc của cá nhân, gia đình, tổ chức được mang theo khi thôi cư trú, chấm dứt hoạt động ở Việt Nam hoặc nước ngoài.

Thông quan là việc hoàn thành các thủ tục hải quan để hàng hóa được nhập khẩu, xuất khẩu hoặc đặt dưới chế độ quản lý nghiệp vụ hải quan khác.

Thủ tục hải quan là các công việc mà người khai hải quan và công chức hải quan phải thực hiện theo quy định của Luật này đối với hàng hóa, phương tiện vận tải.

Trị giá hải quan là trị giá của hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu phục vụ cho mục đích tính thuế, thống kê hải quan.

Vật dụng trên phương tiện vận tải bao gồm: tài sản sử dụng trên phương tiện vận tải; nguyên liệu, nhiên liệu phục vụ hoạt động của phương tiện vận tải; lương thực, thực phẩm và các đồ dùng khác trực tiếp phục vụ sinh hoạt của người làm việc và hành khách trên phương tiện vận tải.

Xác định trước mã số, xuất xứ, trị giá hải quan là việc cơ quan hải quan xác định mã số, xuất xứ, trị giá hải quan của hàng hóa trước khi làm thủ tục hải quan.

Trong trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác với quy định của Luật này thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế đó.

Điều 6. Hoạt động hợp tác quốc tế về hải quan

Điều 7. Địa bàn hoạt động hải quan

Điều 8. Hiện đại hóa quản lý hải quan

Nhà nước ưu tiên đầu tư thiết bị kỹ thuật, phương tiện hiện đại, công nghệ tiên tiến để bảo đảm hiệu quả quản lý hải quan; khuyến khích tổ chức, cá nhân tham gia phát triển công nghệ và phương tiện kỹ thuật tiên tiến để bảo đảm áp dụng phương pháp quản lý hải quan hiện đại. Tổ chức, cá nhân hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu có trách nhiệm tham gia xây dựng, thực hiện giao dịch điện tử và thủ tục hải quan điện tử.

Hệ thống tiêu chuẩn kỹ thuật trao đổi dữ liệu điện tử, giá trị pháp lý của chứng từ điện tử trong việc thực hiện thủ tục hải quan điện tử theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử.

Điều 9. Phối hợp thực hiện pháp luật về hải quan

Cơ quan hải quan có trách nhiệm chủ trì, phối hợp chặt chẽ với các cơ quan nhà nước, tổ chức hữu quan, đơn vị vũ trang nhân dân thực hiện pháp luật về hải quan.

Cơ quan nhà nước, tổ chức hữu quan, đơn vị vũ trang nhân dân trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm phối hợp, tạo điều kiện để cơ quan hải quan hoàn thành nhiệm vụ.

Điều 10. Hành vi bị nghiêm cấm trong lĩnh vực hải quan

đ) Cản trở công chức hải quan thi hành công vụ;

e) Truy cập trái phép, làm sai lệch, phá hủy hệ thống thông tin hải quan;

g) Hành vi khác vi phạm pháp luật về hải quan.

Điều 11. Giám sát thi hành pháp luật về hải quan

Điều 12. Nhiệm vụ của Hải quan

Điều 13. Nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Hải quan

Hải quan Việt Nam được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung, thống nhất.

Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan thống nhất quản lý, điều hành hoạt động của Hải quan các cấp; Hải quan cấp dưới chịu sự quản lý, chỉ đạo của Hải quan cấp trên.

Điều 14. Hệ thống tổ chức Hải quan

Điều 15. Công chức hải quan

Công chức hải quan là người có đủ điều kiện được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan hải quan; được đào tạo, bồi dưỡng và quản lý, sử dụng theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức.

Chế độ phục vụ, chức danh, tiêu chuẩn, lương, phụ cấp thâm niên, chế độ đãi ngộ khác đối với công chức hải quan, hải quan hiệu, cờ hiệu, cấp hiệu, trang phục, giấy chứng minh hải quan theo quy định của Chính phủ.

Mục 1: QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 16. Nguyên tắc tiến hành thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát hải quan

Điều 17. Quản lý rủi ro trong hoạt động nghiệp vụ hải quan

Điều 18. Quyền và nghĩa vụ của người khai hải quan

Điều 19. Nhiệm vụ và quyền hạn của công chức hải quan

Điều 20. Đại lý làm thủ tục hải quan

Điều kiện là đại lý làm thủ tục hải quan:

a) Có Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp có ngành, nghề kinh doanh dịch vụ giao nhận hàng hóa hoặc đại lý làm thủ tục hải quan;

b) Có nhân viên đại lý làm thủ tục hải quan;

c) Có hạ tầng công nghệ thông tin đáp ứng điều kiện để thực hiện khai hải quan điện tử và các điều kiện khác theo quy định.

Nhân viên đại lý làm thủ tục hải quan là công dân Việt Nam đáp ứng đủ các điều kiện sau đây:

a) Có trình độ cao đẳng kinh tế, luật, kỹ thuật trở lên;

b) Có chứng chỉ nghiệp vụ khai hải quan;

c) Được cơ quan hải quan cấp mã số nhân viên đại lý làm thủ tục hải quan.

Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan quyết định việc công nhận, tạm dừng, chấm dứt hoạt động đại lý làm thủ tục hải quan; cấp chứng chỉ nghiệp vụ khai hải quan; cấp và thu hồi mã số nhân viên đại lý làm thủ tục hải quan.

Đại lý làm thủ tục hải quan và nhân viên đại lý làm thủ tục hải quan thực hiện quyền và nghĩa vụ của người khai hải quan quy định tại Điều 18 của Luật này.

Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định chi tiết trình tự, thủ tục công nhận và hoạt động của đại lý làm thủ tục hải quan; thủ tục cấp chứng chỉ nghiệp vụ khai hải quan, cấp và thu hồi mã số nhân viên đại lý làm thủ tục hải quan.

Điều 21. Thủ tục hải quan

Điều 22. Địa điểm làm thủ tục hải quan

đ) Địa điểm kiểm tra tại khu vực kho ngoại quan, kho bảo thuế, địa điểm thu gom hàng lẻ;

Điều 23. Thời hạn cơ quan hải quan làm thủ tục hải quan

Trường hợp lô hàng có số lượng lớn, nhiều chủng loại hoặc việc kiểm tra phức tạp thì Thủ trưởng cơ quan hải quan nơi làm thủ tục hải quan quyết định việc gia hạn thời gian kiểm tra thực tế hàng hóa, nhưng thời gian gia hạn tối đa không quá 02 ngày;

Điều 24. Hồ sơ hải quan

Chứng từ thuộc hồ sơ hải quan là chứng từ giấy hoặc chứng từ điện tử. Chứng từ điện tử phải bảo đảm tính toàn vẹn và khuôn dạng theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử.

Hồ sơ hải quan được nộp, xuất trình cho cơ quan hải quan tại trụ sở cơ quan hải quan.

Trường hợp áp dụng cơ chế một cửa quốc gia, cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành gửi giấy phép xuất khẩu, nhập khẩu, văn bản thông báo kết quả kiểm tra, miễn kiểm tra chuyên ngành dưới dạng điện tử thông qua hệ thống thông tin tích hợp.

Điều 25. Thời hạn nộp hồ sơ hải quan

Thời hạn nộp tờ khai hải quan được quy định như sau:

a) Đối với hàng hóa xuất khẩu, nộp sau khi đã tập kết hàng hóa tại địa điểm người khai hải quan thông báo và chậm nhất là 04 giờ trước khi phương tiện vận tải xuất cảnh; đối với hàng hóa xuất khẩu gửi bằng dịch vụ chuyển phát nhanh thì chậm nhất là 02 giờ trước khi phương tiện vận tải xuất cảnh;

b) Đối với hàng hóa nhập khẩu, nộp trước ngày hàng hóa đến cửa khẩu hoặc trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày hàng hóa đến cửa khẩu;

c) Thời hạn nộp tờ khai hải quan đối với phương tiện vận tải thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 69 của Luật này.

Tờ khai hải quan có giá trị làm thủ tục hải quan trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày đăng ký.

a) Trường hợp khai hải quan điện tử, khi cơ quan hải quan tiến hành kiểm tra hồ sơ hải quan, kiểm tra thực tế hàng hóa, người khai hải quan nộp các chứng từ giấy thuộc hồ sơ hải quan, trừ những chứng từ đã có trong hệ thống thông tin một cửa quốc gia;

Điều 26. Phân loại hàng hóa

Khi tiến hành kiểm tra hải quan, cơ quan hải quan xác định mã số hàng hóa căn cứ hồ sơ hải quan, kết quả kiểm tra thực tế hàng hóa hoặc kết quả phân tích, giám định hàng hóa. Trong trường hợp không chấp nhận mã số hàng hóa do người khai hải quan khai, cơ quan hải quan có quyền lấy mẫu hàng hóa với sự chứng kiến của người khai hải quan để phân tích, trưng cầu giám định và quyết định mã số đối với hàng hóa đó; nếu người khai hải quan không đồng ý với kết quả phân loại của cơ quan hải quan thì có quyền khiếu nại hoặc khởi kiện theo quy định của pháp luật.

Điều 27. Xác định xuất xứ hàng hóa

Trong khi chờ kết quả kiểm tra, xác minh xuất xứ hàng hóa, hàng hóa nhập khẩu được thông quan theo quy định tại Điều 37 của Luật này nhưng không được hưởng thuế suất ưu đãi đặc biệt. Số thuế chính thức phải nộp căn cứ vào kết quả kiểm tra, xác minh xuất xứ hàng hóa.

Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định thủ tục, thẩm quyền, thời hạn xác định xuất xứ hàng hóa.

Điều 28. Xác định trước mã số, xuất xứ, trị giá hải quan

Điều 29. Khai hải quan

Quá thời hạn quy định tại điểm a và điểm b khoản này, người khai hải quan mới phát hiện sai sót trong việc khai hải quan thì thực hiện khai bổ sung và xử lý theo quy định của pháp luật về thuế, pháp luật về xử lý vi phạm hành chính.

Người khai hải quan được nộp tờ khai hải quan chưa hoàn chỉnh hoặc chứng từ thay thế tờ khai hải quan để thông quan và hoàn chỉnh tờ khai hải quan trong thời hạn quy định tại Điều 43 và Điều 50 của Luật này, khai một lần để xuất khẩu, nhập khẩu nhiều lần trong một thời gian nhất định đối với mặt hàng nhất định.

Hàng hóa đang được làm thủ tục hải quan hoặc đã hoàn thành thủ tục hải quan nhưng vẫn đang chịu sự giám sát hải quan, người khai hải quan được thay đổi loại hình xuất khẩu, nhập khẩu theo quy định của pháp luật về hải quan.

Điều 30. Đăng ký tờ khai hải quan

Trường hợp không chấp nhận đăng ký tờ khai hải quan, cơ quan hải quan thông báo lý do bằng văn bản giấy hoặc qua phương thức điện tử cho người khai hải quan biết.

Điều 31. Căn cứ, thẩm quyền quyết định kiểm tra hải quan

Điều 32. Kiểm tra hồ sơ hải quan

Kiểm tra hồ sơ hải quan được thực hiện thông qua hệ thống xử lý dữ liệu điện tử hải quan hoặc trực tiếp bởi công chức hải quan.

Điều 33. Kiểm tra thực tế hàng hóa

Hàng hóa thuộc một trong các trường hợp sau đây được miễn kiểm tra thực tế:

a) Hàng hóa phục vụ yêu cầu khẩn cấp;

b) Hàng hóa chuyên dùng phục vụ quốc phòng, an ninh;

c) Hàng hóa thuộc trường hợp đặc biệt khác theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ.

Hàng hóa quy định tại khoản 1 Điều này mà phát hiện có dấu hiệu vi phạm pháp luật phải được kiểm tra thực tế.

Hàng hóa không thuộc quy định tại khoản 1 Điều này, việc kiểm tra thực tế được thực hiện trên cơ sở áp dụng quản lý rủi ro.

Hàng hóa là động vật, thực vật sống, khó bảo quản, hàng hóa đặc biệt khác được ưu tiên kiểm tra trước.

Việc kiểm tra thực tế hàng hóa do công chức hải quan thực hiện trực tiếp hoặc bằng máy móc, thiết bị kỹ thuật, các biện pháp nghiệp vụ khác.

Việc kiểm tra thực tế hàng hóa phải có mặt của người khai hải quan hoặc người đại diện hợp pháp của họ sau khi đăng ký tờ khai hải quan và hàng hóa đã được đưa đến địa điểm kiểm tra, trừ trường hợp quy định tại Điều 34 của Luật này.

Việc kiểm tra thực tế hàng hóa tại địa điểm kiểm tra chung với nước láng giềng được thực hiện theo thỏa thuận giữa các bên.

Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định chi tiết việc kiểm tra thực tế hàng hóa.

Điều 34. Kiểm tra thực tế hàng hóa trong trường hợp vắng mặt người khai hải quan

đ) Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật.

Điều 35. Trách nhiệm kiểm tra hàng hóa, phương tiện vận tải trong địa bàn hoạt động hải quan

Trong phạm vi địa bàn hoạt động hải quan, cơ quan hải quan chịu trách nhiệm kiểm tra hàng hóa, phương tiện vận tải.

Trường hợp theo quy định của pháp luật phải kiểm tra chuyên ngành về chất lượng, y tế, văn hóa, kiểm dịch động vật, thực vật, an toàn thực phẩm đối với hàng hóa, phương tiện vận tải thì cơ quan hải quan căn cứ kết quả kiểm tra của cơ quan kiểm tra chuyên ngành để quyết định việc thông quan.

Hàng hóa thuộc đối tượng kiểm tra chuyên ngành phải được lưu giữ tại cửa khẩu cho đến khi được thông quan. Trường hợp quy định của pháp luật cho phép đưa hàng hóa về địa điểm khác để tiến hành việc kiểm tra chuyên ngành hoặc chủ hàng hóa có yêu cầu đưa hàng hóa về bảo quản thì địa điểm lưu giữ phải đáp ứng điều kiện về giám sát hải quan và hàng hóa đó chịu sự giám sát của cơ quan hải quan cho đến khi được thông quan.

Chủ hàng hóa chịu trách nhiệm bảo quản, lưu giữ hàng hóa tại địa điểm kiểm tra chuyên ngành hoặc địa điểm lưu giữ của chủ hàng hóa cho đến khi cơ quan hải quan quyết định thông quan.

Chi cục trưởng Chi cục Hải quan chủ trì, phối hợp với các cơ quan kiểm tra chuyên ngành tại cửa khẩu để bảo đảm thông quan nhanh chóng hàng hóa, phương tiện vận tải.

Điều 36. Giải phóng hàng hóa

Điều 37. Thông quan hàng hóa

Điều 38. Đối tượng, phương thức và thời gian giám sát hải quan

Đối tượng giám sát hải quan gồm hàng hóa, phương tiện vận tải, phương tiện vận tải nội địa vận chuyển hàng hóa đang chịu sự giám sát hải quan.

Giám sát hải quan được thực hiện bằng các phương thức sau đây:

a) Niêm phong hải quan;

b) Giám sát trực tiếp do công chức hải quan thực hiện;

c) Sử dụng phương tiện, thiết bị kỹ thuật.

Thời gian giám sát hải quan:

a) Hàng hóa nhập khẩu chịu sự giám sát hải quan từ khi tới địa bàn hoạt động hải quan đến khi được thông quan, giải phóng hàng hóa và đưa ra khỏi địa bàn hoạt động hải quan;

b) Hàng hóa xuất khẩu miễn kiểm tra thực tế hàng hóa chịu sự giám sát hải quan từ khi thông quan đến khi ra khỏi địa bàn hoạt động hải quan. Trường hợp phải kiểm tra thực tế, hàng hóa xuất khẩu chịu sự giám sát hải quan từ khi bắt đầu kiểm tra thực tế hàng hóa đến khi ra khỏi địa bàn hoạt động hải quan;

c) Hàng hóa quá cảnh chịu sự giám sát hải quan từ khi tới cửa khẩu nhập đầu tiên đến khi ra khỏi cửa khẩu xuất cuối cùng;

d) Thời gian giám sát hải quan đối với phương tiện vận tải thực hiện theo quy định tại Điều 68 của Luật này.

Điều 39. Trách nhiệm của cơ quan hải quan trong hoạt động giám sát hải quan

Điều 40. Trách nhiệm của người khai hải quan, người chỉ huy hoặc người điều khiển phương tiện vận tải trong hoạt động giám sát hải quan

Điều 41. Trách nhiệm của doanh nghiệp kinh doanh cảng, kho, bãi trong hoạt động giám sát hải quan

Mục 2: CHẾ ĐỘ ƯU TIÊN ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP

Điều 42. Điều kiện áp dụng chế độ ưu tiên

đ) Có hệ thống kiểm soát nội bộ;

Điều 43. Chế độ ưu tiên đối với doanh nghiệp

Điều 44. Trách nhiệm của cơ quan hải quan trong việc thực hiện chế độ ưu tiên

Điều 45. Trách nhiệm của doanh nghiệp được áp dụng chế độ ưu tiên

Mục 3: KIỂM TRA, GIÁM SÁT HẢI QUAN ĐỐI VỚI HÀNG HÓA, TÀI SẢN DI CHUYỂN, HÀNH LÝ

Điều 46. Kiểm tra, giám sát hải quan đối với hàng hóa kinh doanh tạm nhập, tái xuất

Điều 47. Kiểm tra, giám sát hải quan đối với hàng hóa bán tại cửa hàng miễn thuế

Điều 48. Kiểm tra, giám sát hải quan đối với hàng hóa tạm nhập khẩu, tạm xuất khẩu

đ) Hàng hóa tham dự hội chợ, triển lãm, giới thiệu sản phẩm;

Điều 49. Kiểm tra, giám sát hải quan đối với hàng hóa là quà biếu, tặng

Hàng hóa là quà biếu, tặng phải được làm thủ tục hải quan; nếu là hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu có điều kiện phải thực hiện theo quy định của pháp luật về hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu có điều kiện.

Định mức hàng hóa là quà biếu, tặng được miễn thuế thực hiện theo quy định của pháp luật về thuế.

Điều 50. Kiểm tra, giám sát hải quan đối với hàng hóa phục vụ yêu cầu khẩn cấp, hàng hóa chuyên dùng phục vụ an ninh, quốc phòng

Hàng hóa phục vụ yêu cầu khẩn cấp là hàng hóa phục vụ việc khắc phục hậu quả của thiên tai, dịch bệnh hoặc hàng hóa phục vụ các yêu cầu cứu trợ khẩn cấp.

Hàng hóa phục vụ yêu cầu khẩn cấp phải có văn bản xác nhận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Người khai hải quan được sử dụng tờ khai hải quan chưa hoàn chỉnh hoặc chứng từ thay thế tờ khai hải quan để làm thủ tục hải quan. Cơ quan hải quan quyết định thông quan hàng hóa trên cơ sở tờ khai hải quan chưa hoàn chỉnh hoặc chứng từ thay thế tờ khai hải quan.

Hàng hóa chuyên dùng phục vụ an ninh, quốc phòng:

a) Hàng hóa chuyên dùng phục vụ an ninh, quốc phòng theo văn bản xác nhận của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng hoặc Bộ trưởng Bộ Công an, người khai hải quan được sử dụng tờ khai hải quan chưa hoàn chỉnh để làm thủ tục hải quan. Cơ quan hải quan quyết định thông quan hàng hóa trên cơ sở tờ khai hải quan chưa hoàn chỉnh.

b) Hàng hóa chuyên dùng phục vụ an ninh, quốc phòng có yêu cầu bảo mật theo văn bản xác nhận của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng hoặc Bộ trưởng Bộ Công an được miễn khai hải quan và miễn kiểm tra thực tế.

Điều 51. Kiểm tra, giám sát hải quan đối với hàng hóa mua bán, trao đổi của cư dân biên giới

Hàng hóa mua bán, trao đổi của cư dân biên giới là hàng hóa phục vụ sinh hoạt, sản xuất bình thường của cư dân biên giới của Việt Nam với cư dân biên giới của nước có chung đường biên giới quốc gia với Việt Nam.

Hàng hóa mua bán, trao đổi của cư dân biên giới phải chịu sự kiểm tra, giám sát hải quan; nơi không có cơ quan hải quan thì chịu sự kiểm tra, giám sát của Bộ đội biên phòng theo quy định của Luật này.

Điều 52. Kiểm tra, giám sát hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu qua dịch vụ bưu chính, chuyển phát nhanh

Hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu qua dịch vụ bưu chính, chuyển phát nhanh phải làm thủ tục hải quan, chịu sự kiểm tra, giám sát hải quan.

Trường hợp người được ủy quyền khai hải quan là doanh nghiệp cung cấp dịch vụ bưu chính, doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ chuyển phát nhanh quốc tế thì phải thực hiện trách nhiệm của người khai hải quan theo quy định tại Điều 18 của Luật này; chỉ được chuyển, phát hàng hóa sau khi được thông quan.

Điều 53. Kiểm tra, giám sát hải quan đối với tài sản di chuyển

Tài sản di chuyển của cá nhân, gia đình, tổ chức phải làm thủ tục hải quan, chịu sự kiểm tra, giám sát hải quan.

Cá nhân, tổ chức xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa là tài sản di chuyển phải có giấy tờ chứng minh việc cư trú, hoạt động ở Việt Nam hoặc nước ngoài.

Điều 54. Kiểm tra, giám sát hải quan đối với hành lý của người xuất cảnh, nhập cảnh

Hành lý của người xuất cảnh, nhập cảnh phải chịu sự kiểm tra, giám sát hải quan tại cửa khẩu.

Hành lý của người xuất cảnh, nhập cảnh vượt định mức miễn thuế phải làm thủ tục hải quan như đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu.

Người xuất cảnh, nhập cảnh có thể gửi hành lý vào kho tại cửa khẩu và được nhận lại khi nhập cảnh, xuất cảnh.

Tiêu chuẩn hành lý, định mức hành lý được miễn thuế thực hiện theo quy định của pháp luật về thuế.

Điều 55. Kiểm tra, giám sát hải quan đối với ngoại tệ tiền mặt, đồng Việt Nam tiền mặt, công cụ chuyển nhượng, vàng, kim loại quý, đá quý của người xuất cảnh, nhập cảnh

Điều 56. Kiểm tra, giám sát hải quan đối với hàng hóa trên phương tiện vận tải

Điều 57. Kiểm tra, giám sát hải quan đối với túi ngoại giao, túi lãnh sự, hành lý, phương tiện vận tải của cơ quan, tổ chức, cá nhân được hưởng quyền ưu đãi, miễn trừ

Chế độ ưu đãi, miễn trừ quy định tại Luật này bao gồm ưu đãi, miễn trừ về khai hải quan, kiểm tra hải quan.

Túi ngoại giao, túi lãnh sự được miễn khai, miễn kiểm tra hải quan.

Hành lý, phương tiện vận tải của đối tượng được hưởng quyền ưu đãi, miễn trừ theo quy định của pháp luật về quyền ưu đãi, miễn trừ dành cho cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự và cơ quan đại diện của tổ chức quốc tế tại Việt Nam được miễn kiểm tra hải quan.

Điều 58. Kiểm tra, giám sát hải quan, xử lý hàng hóa tồn đọng

Hàng hóa tồn đọng được lưu giữ tại khu vực cảng, kho, bãi thuộc địa bàn hoạt động hải quan bao gồm:

a) Hàng hóa mà chủ hàng hóa tuyên bố từ bỏ hoặc thực hiện hành vi chứng tỏ việc từ bỏ.

Không thừa nhận việc chủ hàng hóa từ bỏ hoặc thực hiện hành vi chứng tỏ việc từ bỏ đối với hàng hóa có dấu hiệu vi phạm pháp luật;

Mục 4: KIỂM TRA, GIÁM SÁT HẢI QUAN ĐỐI VỚI HÀNG HÓA NHẬP KHẨU ĐỂ GIA CÔNG, SẢN XUẤT HÀNG HÓA XUẤT KHẨU

Điều 59. Trách nhiệm của cơ quan hải quan trong kiểm tra, giám sát hải quan đối với hàng hóa nhập khẩu để gia công, sản xuất hàng hóa xuất khẩu

Điều 60. Trách nhiệm của tổ chức, cá nhân gia công, sản xuất hàng hóa xuất khẩu

Mục 5: KIỂM TRA, GIÁM SÁT HẢI QUAN ĐỐI VỚI HÀNG HÓA TẠI KHO NGOẠI QUAN, KHO BẢO THUẾ, ĐỊA ĐIỂM THU GOM HÀNG LẺ

Điều 61. Hàng hóa gửi tại kho ngoại quan, kho bảo thuế, địa điểm thu gom hàng lẻ

Hàng hóa được lưu giữ tại địa điểm thu gom hàng lẻ trong thời gian không quá 90 ngày kể từ ngày được đưa vào địa điểm thu gom hàng lẻ; trường hợp có lý do chính đáng thì được Chi cục trưởng Chi cục Hải quan đang quản lý địa điểm thu gom hàng lẻ gia hạn một lần không quá 90 ngày.

Điều 62. Điều kiện thành lập kho ngoại quan, kho bảo thuế, địa điểm thu gom hàng lẻ

Điều 63. Quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp kinh doanh kho ngoại quan, doanh nghiệp kinh doanh địa điểm thu gom hàng lẻ, doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ thu gom hàng lẻ, chủ hàng hóa, chủ kho bảo thuế

Doanh nghiệp kinh doanh kho ngoại quan, chủ hàng hóa gửi kho ngoại quan có quyền và nghĩa vụ sau đây:

a) Doanh nghiệp kinh doanh kho ngoại quan được thực hiện hợp đồng nhận hàng hóa gửi kho ngoại quan; được di chuyển hàng hóa trong kho ngoại quan theo thỏa thuận với chủ hàng hóa.

Doanh nghiệp kinh doanh kho ngoại quan có trách nhiệm thực hiện yêu cầu kiểm tra hàng hóa của cơ quan hải quan. Định kỳ 03 tháng một lần, doanh nghiệp kinh doanh kho ngoại quan phải thông báo bằng văn bản với Cục Hải quan đang quản lý kho ngoại quan về hiện trạng hàng hóa và tình hình hoạt động của kho ngoại quan;

đ) Chậm nhất là ngày 31 tháng 01 hàng năm, phải lập bảng tổng hợp các tờ khai hải quan nhập khẩu và số lượng nguyên liệu, vật tư đã đưa vào kho bảo thuế, tổng hợp các tờ khai hải quan xuất khẩu và số lượng hàng hóa đã xuất khẩu trong năm trước đó gửi Cục Hải quan đang quản lý kho bảo thuế.

Mục 6: THỦ TỤC HẢI QUAN, KIỂM TRA, GIÁM SÁT HẢI QUAN ĐỐI VỚI HÀNG HÓA VẬN CHUYỂN CHỊU SỰ GIÁM SÁT HẢI QUAN

Điều 64. Thủ tục hải quan đối với hàng hóa vận chuyển chịu sự giám sát hải quan

Điều 65. Tuyến đường, thời gian vận chuyển

Mục 7: THỦ TỤC HẢI QUAN, KIỂM TRA, GIÁM SÁT HẢI QUAN ĐỐI VỚI PHƯƠNG TIỆN VẬN TẢI

Điều 66. Thông báo thông tin phương tiện vận tải

Chủ phương tiện vận tải, người điều khiển phương tiện vận tải, người được chủ phương tiện vận tải ủy quyền hoặc người phát hành chứng từ vận chuyển phải thông báo thông tin trực tiếp cho cơ quan hải quan hoặc qua hệ thống thông tin một cửa quốc gia về hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu và hành khách xuất cảnh, nhập cảnh trên phương tiện vận tải trước khi nhập cảnh, xuất cảnh.

Điều 67. Địa điểm làm thủ tục hải quan đối với phương tiện vận tải

Phương tiện vận tải khi xuất cảnh, nhập cảnh phải qua cửa khẩu.

Phương tiện vận tải nhập cảnh phải được làm thủ tục hải quan tại cửa khẩu nhập cảnh đầu tiên. Phương tiện vận tải xuất cảnh phải được làm thủ tục hải quan tại cửa khẩu xuất cảnh cuối cùng.

Điều 68. Tuyến đường, thời gian chịu sự giám sát hải quan đối với phương tiện vận tải

Phương tiện vận tải thương mại nước ngoài nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh phải di chuyển theo đúng tuyến đường quy định, chịu sự giám sát hải quan từ khi đến địa bàn hoạt động hải quan, quá trình di chuyển cho đến khi ra khỏi lãnh thổ Việt Nam.

Phương tiện vận tải thương mại Việt Nam nhập cảnh chịu sự giám sát hải quan từ khi tới địa bàn hoạt động hải quan cho đến khi toàn bộ hàng hóa nhập khẩu chuyên chở trên phương tiện vận tải được dỡ hết khỏi phương tiện để làm thủ tục nhập khẩu.

Phương tiện vận tải thương mại Việt Nam xuất cảnh chịu sự giám sát hải quan từ khi bắt đầu xếp hàng hóa xuất khẩu cho đến khi ra khỏi lãnh thổ Việt Nam.

Phương tiện vận tải không nhằm mục đích thương mại nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh chịu sự kiểm tra, giám sát hải quan khi làm thủ tục hải quan tại cửa khẩu nhập cảnh, xuất cảnh hoặc địa điểm khác theo quy định của pháp luật.

Khi có căn cứ cho rằng trên phương tiện vận tải có cất giấu hàng hóa trái phép, có dấu hiệu khác vi phạm pháp luật thì thủ trưởng cơ quan hải quan nơi làm thủ tục hải quan đối với phương tiện vận tải, Đội trưởng Đội Kiểm soát Hải quan quyết định tạm hoãn việc khởi hành hoặc dừng phương tiện vận tải để khám xét. Việc khám xét phải thực hiện theo quy định của pháp luật; người ra quyết định phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về quyết định của mình.

Điều 69. Thủ tục hải quan đối với phương tiện vận tải

Khi làm thủ tục hải quan đối với phương tiện vận tải, chủ phương tiện vận tải, người điều khiển phương tiện vận tải hoặc người được chủ phương tiện vận tải ủy quyền phải khai hải quan; nộp, xuất trình các chứng từ vận tải để làm thủ tục hải quan; cung cấp các thông tin, chứng từ về hàng hóa, vật dụng trên phương tiện vận tải.

Điều 70. Chuyển tải, sang toa, cắt toa, xếp dỡ hàng hóa, hành lý trên phương tiện vận tải

Việc chuyển tải, sang toa, cắt toa, xếp dỡ hàng hóa, hành lý trên phương tiện vận tải đang chịu sự kiểm tra, giám sát hải quan chỉ được tiến hành khi có sự đồng ý của cơ quan hải quan.

Hàng hóa chuyển tải, sang toa, cắt toa phải được giữ nguyên trạng bao bì, thùng, kiện.

Điều 71. Vận chuyển quốc tế kết hợp vận chuyển nội địa, vận chuyển nội địa kết hợp vận chuyển hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu

Phương tiện vận tải khi vận chuyển quốc tế, nếu được phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và đáp ứng các điều kiện về giám sát hải quan theo quy định của Bộ trưởng Bộ Tài chính thì được kết hợp vận chuyển hàng hóa nội địa.

Phương tiện vận tải vận chuyển nội địa, nếu được phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và đáp ứng các điều kiện về giám sát hải quan theo quy định của Bộ trưởng Bộ Tài chính thì được kết hợp vận chuyển hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu đang chịu sự giám sát hải quan.

Điều 72. Trách nhiệm của người đứng đầu tại sân bay, cảng biển, ga đường sắt liên vận quốc tế

Mục 8: KIỂM TRA, GIÁM SÁT, TẠM DỪNG LÀM THỦ TỤC HẢI QUAN ĐỐI VỚI HÀNG HÓA NHẬP KHẨU, XUẤT KHẨU CÓ YÊU CẦU BẢO VỆ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ

Điều 73. Nguyên tắc kiểm tra, giám sát, tạm dừng làm thủ tục hải quan

Điều 74. Thủ tục đề nghị kiểm tra, giám sát, tạm dừng làm thủ tục hải quan

Trường hợp đề nghị tạm dừng làm thủ tục hải quan, chủ thể quyền sở hữu trí tuệ hoặc người được ủy quyền hợp pháp phải cung cấp cho cơ quan hải quan các tài liệu quy định tại khoản 2 Điều này và nộp khoản tiền hoặc chứng từ bảo lãnh của tổ chức tín dụng bằng 20% trị giá lô hàng theo giá ghi trong hợp đồng hoặc tối thiểu 20 triệu đồng nếu chưa biết trị giá lô hàng nghi ngờ xâm phạm để bồi thường thiệt hại và các chi phí phát sinh theo quy định của pháp luật do việc đề nghị tạm dừng làm thủ tục hải quan không đúng.

Điều 75. Tiếp nhận, xử lý đơn đề nghị kiểm tra, giám sát, tạm dừng làm thủ tục hải quan

Trường hợp từ chối đơn phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.

Điều 76. Thủ tục tạm dừng làm thủ tục hải quan

Trường hợp người nộp đơn yêu cầu bằng văn bản đề nghị tạm dừng, đồng thời nộp một khoản tiền hoặc chứng từ bảo lãnh theo quy định tại khoản 3 Điều 74 của Luật này thì cơ quan hải quan quyết định tạm dừng làm thủ tục hải quan.

Trường hợp người yêu cầu tạm dừng làm thủ tục hải quan rút đơn yêu cầu và cơ quan hải quan không quyết định thụ lý vụ việc theo thủ tục xử lý vi phạm hành chính trước khi kết thúc thời hạn tạm dừng thì cơ quan hải quan tiếp tục làm thủ tục hải quan ngay cho lô hàng.

Mục 9: KIỂM TRA SAU THÔNG QUAN

Điều 77. Kiểm tra sau thông quan

Kiểm tra sau thông quan được thực hiện tại trụ sở cơ quan hải quan, trụ sở người khai hải quan.

Trụ sở người khai hải quan bao gồm trụ sở chính, chi nhánh, cửa hàng, nơi sản xuất, nơi lưu giữ hàng hóa.

Thời hạn kiểm tra sau thông quan là 05 năm kể từ ngày đăng ký tờ khai hải quan.

Điều 78. Các trường hợp kiểm tra sau thông quan

Điều 79. Kiểm tra sau thông quan tại trụ sở cơ quan hải quan

Thời gian kiểm tra được xác định trong quyết định kiểm tra, nhưng tối đa là 05 ngày làm việc.

Quyết định kiểm tra sau thông quan phải gửi cho người khai hải quan trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày ký và chậm nhất là 05 ngày làm việc trước ngày tiến hành kiểm tra.

Điều 80. Kiểm tra sau thông quan tại trụ sở người khai hải quan

Trường hợp kiểm tra doanh nghiệp không thuộc phạm vi địa bàn quản lý được phân công, Cục Hải quan báo cáo Tổng cục Hải quan xem xét phân công đơn vị thực hiện kiểm tra.

Việc kiểm tra đánh giá tuân thủ pháp luật của người khai hải quan thực hiện theo kế hoạch kiểm tra sau thông quan hàng năm do Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan ban hành.

Thời hạn kiểm tra sau thông quan:

a) Thời hạn kiểm tra sau thông quan được xác định trong quyết định kiểm tra, nhưng tối đa là 10 ngày làm việc. Thời gian kiểm tra được tính từ ngày bắt đầu tiến hành kiểm tra; trường hợp phạm vi kiểm tra lớn, nội dung phức tạp thì người đã ký quyết định kiểm tra có thể gia hạn một lần không quá 10 ngày làm việc;

b) Quyết định kiểm tra sau thông quan phải gửi cho người khai hải quan trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày ký và chậm nhất là 05 ngày làm việc trước ngày tiến hành kiểm tra, trừ trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 78 của Luật này.

Trình tự, thủ tục kiểm tra sau thông quan:

a) Công bố quyết định kiểm tra sau thông quan khi bắt đầu tiến hành kiểm tra;

c) Lập biên bản kiểm tra sau thông quan trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày kết thúc việc kiểm tra;

d) Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày kết thúc việc kiểm tra, người quyết định kiểm tra phải ký kết luận kiểm tra và gửi cho người khai hải quan. Trường hợp kết luận kiểm tra cần có ý kiến về chuyên môn của cơ quan có thẩm quyền thì thời hạn ký kết luận kiểm tra được tính từ ngày có ý kiến của cơ quan có thẩm quyền. Cơ quan chuyên môn có thẩm quyền có ý kiến trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu của cơ quan hải quan;

đ) Xử lý theo thẩm quyền hoặc chuyển cấp có thẩm quyền xử lý theo kết quả kiểm tra.

Trường hợp người khai hải quan không chấp hành quyết định kiểm tra, không giải trình, cung cấp hồ sơ, tài liệu đúng thời hạn cho cơ quan hải quan thì cơ quan hải quan căn cứ hồ sơ, tài liệu đã thu thập, xác minh để quyết định xử lý theo quy định của pháp luật về thuế, pháp luật về xử lý vi phạm hành chính hoặc thực hiện thanh tra chuyên ngành theo quy định của pháp luật.

Điều 81. Nhiệm vụ và quyền hạn của công chức hải quan trong kiểm tra sau thông quan tại trụ sở người khai hải quan

đ) Lập, ký biên bản kiểm tra;

Điều 82. Quyền và nghĩa vụ của người khai hải quan trong kiểm tra sau thông quan

Điều 83. Trách nhiệm của người khai hải quan trong việc kê khai, tính thuế, nộp thuế và các khoản thu khác

Điều 84. Trách nhiệm của cơ quan hải quan trong việc tổ chức thu thuế và các khoản thu khác

Cơ quan hải quan nơi làm thủ tục xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa theo chức năng và thẩm quyền được phân cấp kiểm tra việc kê khai, tính thuế; thực hiện miễn thuế, giảm thuế, hoàn thuế, không thu thuế, ấn định thuế, gia hạn, xóa nợ tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt đối với người khai hải quan; thu thuế, các khoản thu khác và quản lý việc nộp thuế.

Điều 85. Xác định mức thuế, thời điểm tính thuế, thời hạn nộp thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu

Việc xác định mức thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu căn cứ vào mã số hàng hóa và chính sách thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu có hiệu lực tại thời điểm tính thuế.

Thời điểm tính thuế, thời hạn nộp thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu được thực hiện theo quy định của pháp luật về thuế.

Điều 86. Trị giá hải quan

Điều 87. Nhiệm vụ của Hải quan trong phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới

Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, cơ quan hải quan các cấp tổ chức thực hiện nhiệm vụ phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới.

Cơ quan hải quan các cấp được thành lập đơn vị chuyên trách để thực hiện nhiệm vụ phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới.

Điều 88. Phạm vi trách nhiệm phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới

Trong phạm vi địa bàn hoạt động hải quan, cơ quan hải quan chịu trách nhiệm kiểm tra, giám sát, kiểm soát hải quan đối với hàng hóa, phương tiện vận tải để chủ động phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới.

Trường hợp hàng hóa, phương tiện vận tải chưa đưa ra khỏi phạm vi địa bàn hoạt động hải quan mà cơ quan, tổ chức, cá nhân phát hiện có hành vi buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới thì cơ quan, tổ chức, cá nhân đó báo ngay cho cơ quan hải quan để kiểm tra, xử lý.

Trường hợp có căn cứ xác định hàng hóa buôn lậu, vận chuyển trái phép qua biên giới, phương tiện vận tải chở hàng hóa buôn lậu, vận chuyển trái phép qua biên giới đang di chuyển từ địa bàn hoạt động hải quan ra ngoài địa bàn hoạt động hải quan thì cơ quan hải quan tiếp tục truy đuổi, thông báo cho cơ quan công an, bộ đội biên phòng, cảnh sát biển, quản lý thị trường trên địa bàn để phối hợp, đồng thời áp dụng các biện pháp ngăn chặn, xử lý theo quy định của pháp luật. Việc dừng, truy đuổi phương tiện vận tải nước ngoài đang đi trong vùng biển Việt Nam được thực hiện theo quy định của Luật biển Việt Nam.

Điều 89. Thẩm quyền của cơ quan hải quan trong việc áp dụng các biện pháp phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới

Thực hiện kiểm soát hải quan đối với hàng hóa, phương tiện vận tải; chủ trì, phối hợp với cơ quan nhà nước hữu quan thực hiện các hoạt động phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới trong địa bàn hoạt động hải quan.

Khi tiến hành kiểm soát hải quan đối với hàng hóa, phương tiện vận tải trong địa bàn hoạt động hải quan, cơ quan hải quan được áp dụng biện pháp tuần tra, điều tra, xác minh hoặc biện pháp nghiệp vụ khác theo quy định của Luật này, pháp luật xử lý vi phạm hành chính, pháp luật tố tụng hình sự và pháp luật tổ chức điều tra hình sự.

Điều 90. Thẩm quyền của cơ quan hải quan, công chức hải quan trong việc xử lý hành vi buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới

Xử lý vi phạm hành chính, áp dụng biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử lý vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính.

Trường hợp có căn cứ cho rằng có hành vi buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới, Chi cục trưởng Chi cục Hải quan, Đội trưởng Đội Kiểm soát thuộc Cục Hải quan, Đội trưởng Đội Kiểm soát chống buôn lậu và Hải đội trưởng Hải đội Kiểm soát trên biển thuộc Cục Điều tra chống buôn lậu có thẩm quyền dừng phương tiện vận tải, tạm giữ người, áp giải người vi phạm. Trình tự, thủ tục tạm giữ người, áp giải người vi phạm theo quy định của Luật xử lý vi phạm hành chính.

Khi phát hiện có hành vi vi phạm pháp luật về hải quan đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự thì cơ quan hải quan, công chức hải quan có thẩm quyền khởi tố vụ án, khởi tố bị can, thực hiện các hoạt động điều tra theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự và pháp luật tổ chức điều tra hình sự.

Cơ quan hải quan, công chức hải quan khi tiến hành các hoạt động được quy định tại Điều này phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về quyết định của mình.

Điều 92. Trang bị và sử dụng trang thiết bị kỹ thuật, phương tiện phục vụ phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới

Cơ quan hải quan, công chức hải quan được trang bị, sử dụng các phương tiện kỹ thuật nghiệp vụ, vũ khí, công cụ hỗ trợ, cờ hiệu, pháo hiệu, đèn hiệu, thiết bị quan sát, soi chiếu, công nghệ sinh hóa, thiết bị cơ khí, điện, điện tử và các phương tiện khác theo quy định của pháp luật để thực hiện nhiệm vụ phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới. Việc trang bị, sử dụng vũ khí, công cụ hỗ trợ phải theo quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ.

Trong trường hợp cần thiết, cơ quan hải quan, công chức hải quan trực tiếp làm nhiệm vụ chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới được yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân phối hợp lực lượng, hỗ trợ phương tiện, cung cấp thông tin; nếu phương tiện được hỗ trợ bị thiệt hại thì cơ quan hải quan phải bồi thường theo quy định của pháp luật.

Mục 1: THÔNG TIN HẢI QUAN

Điều 93. Thông tin hải quan

Thông tin hải quan được thu thập, lưu trữ, quản lý, sử dụng để phục vụ thực hiện thủ tục hải quan; thống kê hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu; áp dụng quản lý rủi ro trong hoạt động nghiệp vụ hải quan; kiểm tra sau thông quan; phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới và các hoạt động nghiệp vụ khác của cơ quan hải quan.

Điều 94. Hệ thống thông tin hải quan

Cơ quan hải quan áp dụng các biện pháp bảo mật thông tin, ngăn ngừa hành vi truy cập trái phép vào hệ thống thông tin hải quan.

Điều 95. Thu thập, cung cấp thông tin hải quan ở trong nước

Điều 96. Thu thập thông tin hải quan ở nước ngoài

Mục 2: THỐNG KÊ HÀNG HÓA XUẤT KHẨU, NHẬP KHẨU

Điều 97. Hoạt động thống kê hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu

Điều 98. Báo cáo thống kê hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu

Tổng cục Hải quan báo cáo Bộ Tài chính, Chính phủ thông tin thống kê hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu định kỳ hàng tháng theo hệ thống mẫu biểu quy định và báo cáo phân tích đánh giá tình hình xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa.

Điều 99. Nội dung quản lý nhà nước về hải quan

Nội dung quản lý nhà nước về hải quan bao gồm:

Điều 100. Cơ quan quản lý nhà nước về hải quan

Điều 101. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật quản lý thuế số 78/2006/QH11 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 21/2012/QH13

Sửa đổi khoản 5 Điều 4 như sau:

“5. Áp dụng chế độ ưu tiên khi thực hiện các thủ tục về thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu nếu người nộp thuế đáp ứng đủ các điều kiện áp dụng chế độ ưu tiên theo quy định của Luật hải quan.”

Sửa đổi khoản 4 Điều 32 như sau:

“4. Đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu thì thời hạn nộp hồ sơ khai thuế thực hiện theo quy định của Luật hải quan.”

Sửa đổi khoản 2 Điều 34 như sau:

“2. Đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, việc khai bổ sung hồ sơ khai thuế thực hiện theo quy định của Luật hải quan.”

Sửa đổi điểm b khoản 1 Điều 78 như sau:

“b) Các trường hợp kiểm tra sau thông quan theo quy định của Luật hải quan.

Khi kiểm tra sau thông quan nếu phát hiện có dấu hiệu trốn thuế, gian lận thuế thì Cục trưởng Cục Kiểm tra sau thông quan, Cục trưởng Cục Hải quan, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm tra sau thông quan có thẩm quyền quyết định áp dụng các biện pháp quy định tại Mục 4 Chương X của Luật này;”

Bãi bỏ điểm d khoản 3 Điều 77; bỏ cụm từ “và điểm d” tại điểm a khoản 1 Điều 78; bỏ cụm từ “tại trụ sở người nộp thuế theo quy định tại khoản 2 Điều 34 của Luật này” tại điểm a khoản 2 Điều 107.

Sửa cụm từ “kể từ ngày đăng ký tờ khai” tại điểm a khoản 2 Điều 107 thành cụm từ “kể từ ngày thông quan”.

Điều 102. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật xử lý vi phạm hành chính số 15/2012/QH13

Sửa đổi khoản 1 Điều 122 như sau:

“1. Việc tạm giữ người theo thủ tục hành chính chỉ được áp dụng trong trường hợp cần ngăn chặn, đình chỉ ngay những hành vi gây rối trật tự công cộng, gây thương tích cho người khác hoặc có căn cứ cho rằng có hành vi buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới.”

Sửa đổi đoạn đầu khoản 1 Điều 123 như sau:

“1. Trong trường hợp có hành vi gây rối trật tự công cộng, gây thương tích cho người khác hoặc có căn cứ cho rằng có hành vi buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới quy định tại khoản 1 Điều 122 của Luật này, thì những người sau đây có quyền quyết định tạm giữ người theo thủ tục hành chính:”

Điều 103. Hiệu lực thi hành

Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2015.

Luật hải quan số 29/2001/QH10 và Luật số 42/2005/QH11 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật hải quan hết hiệu lực kể từ ngày Luật này có hiệu lực.

Điều 104. Quy định chi tiết

Chính phủ quy định chi tiết các điều, khoản được giao trong Luật.

Luật này đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 23 tháng 6 năm 2014.