Luật Về Đường Đi Chung / TOP #10 ❤️ Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 8/2022 ❣️ Top View | Bac.edu.vn

Tư Vấn Pháp Luật Về Việc Hiến Đất Làm Đường Đi Chung?

Tìm Hiểu Các Quy Định Của Pháp Luật Về Giải Quyết Tranh Chấp Lối Đi Chung ?

Ngõ Đi Chung Được Xác Định Như Thế Nào?

Quyền Sử Dụng Đường Đi Chung Theo Quy Định Pháp Luật

Hướng Dẫn Giải Quyết Tranh Chấp Lối Đi Chung

Có Được Mở Cửa Sổ Ra Khoảng Không Ngõ Đi Chung Không?

5. Tư vấn để đòi lại ngõ đi chung ?

Kính chào các Quý luật sư Công ty tư vấn Luật Minh Khuê. Tôi có một vấn đề mong luật sư giải đáp: Hiện tại gia đình tôi đang có tranh chấp với gia đình hàng xóm về một phần ngõ đi như sau: Năm 1949 cụ nhà tôi có để lại một bản chia tài sản (có cả dấu và chứng thực của chính quyền xã hồi đó)

Trong bản chia đất đó cụ tôi chia cho 4 người con trai mỗi người một phần đất riêng và một phần đất có ghi rõ 110 m2 dùng làm ngõ đi chung cho 4 anh em không ai được sử dụng. Bây giờ nhà hàng xóm (là cháu của người con trai cả của cụ tôi) đã mua lại hai phần đất còn lại của 2 người con kia, năm 2012 UBND xã đã làm sổ đỏ cho gia đình nhà hàng xóm đó bao gồm cả diện tích 110 m2 đó. Hiện tại nhà hàng xóm đó đang xây hết tường rào chặn hết ngõ đi nhà tôi lại, bên dưới phần ngõ đi còn có ống nước thải sinh hoạt của nhà tôi, ngõ đi đó gia đình còn sử dụng làm nối đi ra 1 khu vườn nữa cũng được cấp sổ đỏ là đất vườn. Khi gia đình nhà tôi khiếu nại xuống chính quyền UBND để đòi lại ngõ đi đó thì cán bộ địa chính nói “Đã có sổ đỏ không giải quyết được” và còn nói bản chia tài sản mà cụ tôi để lại chung chung quá không có giá trị. Khi nhà hàng xóm xây tường rào chặn ngõ đi nhà tôi thì tôi lại phá, Ủy ban lại cho Công an viên nên lập biên bản nhà tôi. Vậy tôi xin hỏi ý kiến tư vấn của Luật sư liệu gia đình nhà tôi có thể đòi lại phần ngõ đi đó được không?

Tôi xin chân thành cảm ơn và rất mong sự phản hồi từ các Quý Luật sư Công ty tư vấn Luật Minh Khuê. Tôi rất mong nhận được lời tư vấn vào địa chỉ email này. Kính thư!

Người gửi: Trung

Điều 630. Di chúc hợp pháp

1. Di chúc hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau đây:

a) Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép;

b) Nội dung của di chúc không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của luật.

2. Di chúc của người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi phải được lập thành văn bản và phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý về việc lập di chúc.

3. Di chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc của người không biết chữ phải được người làm chứng lập thành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực.

4. Di chúc bằng văn bản không có công chứng, chứng thực chỉ được coi là hợp pháp, nếu có đủ các điều kiện được quy định tại khoản 1 Điều này.

5. Di chúc miệng được coi là hợp pháp nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau khi người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng, người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng viên hoặc cơ quan có thẩm quyền chứng thực xác nhận chữ ký hoặc điểm chỉ của người làm chứng.

Như vậy, nếu di chúc của cụ bạn để lại đáp ứng được các điều kiện quy định tại điều 652 Bộ luật Dân sự năm 2022 thì di chúc đó là di chúc hợp pháp.

2. Việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung của các thành viên gia đình được thực hiện theo phương thức thỏa thuận. Trường hợp định đoạt tài sản là bất động sản, động sản có đăng ký, tài sản là nguồn thu nhập chủ yếu của gia đình phải có sự thỏa thuận của tất cả các thành viên gia đình là người thành niên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, trừ trường hợp luật có quy định khác.

Theo như bạn trình bày thì “Năm 1949 cụ nhà tôi có để lại một bản chia tài sản (có cả dấu và chứng thực của chính quyền xã hồi đó)” trong đó có 110 m2 dùng làm ngõ đi chung cho 4 anh em không ai được sử dụng. Theo quy định tại điều 108 Bộ luật Dân sự năm 2022 thì đó là tài sản chung của hộ gia đình, việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung này phải theo thỏa thuận của các chủ sở hữu chung hoặc theo quy định của pháp luật. Khi UBND xã cấp sổ đỏ cho người kia mà không xác định đất đó có giấy tờ hay có tranh chấp không là trái với quy định của Luật Đất đai.

Ngoài ra theo quy định Bộ luật Dân sự thì bạn hoàn toàn có quyền yêu cầu người đó cho mình quyền sử dụng hạn chế bất động sản liền kề.

Nếu bạn không thỏa thuận được với người đó và người đó vẫn cố tình chặn ngõ đi chung thì bạn hoàn toàn có quyền khởi kiện đòi lối đi chung.

Về vấn đề khi hàng xóm xây hàng rào chặn lại ngõ thì bạn lại phá là đã vi phạm quy định của pháp luật tùy theo thiệt hại mà bạn sẽ bị phạt hành chính hoặc chịu trách nhiệm hình sự

Tư vấn soạn hợp đồng mua bán thỏa thuận về lối đi chung ?

Hướng Dẫn Giải Quyết Tranh Chấp Về Lối Đi Chung/đường Đi Nội Bộ Trong Gia Đình Theo Quy Định Pháp Luật ?

Quy Định Mới Về Mức Tiền Trợ Cấp Nuôi Con Khi Bố Mẹ Ly Hôn?

Mức Cấp Dưỡng Cho Con Khi Ly Hôn Theo Quy Định ?

Luật Sư Tư Vấn Cấp Dưỡng Nuôi Con Trực Tuyến Miễn Phí

Mức Cấp Dưỡng Cho Con Sau Khi Ly Hôn Là Bao Nhiêu?

Hỏi Về Lấn Chiếm Khoảng Không Đường Ngõ Đi Chung?

Quy Định Pháp Luật Về Lối Đi Chung

Tranh Chấp Đất Đai Về Con Đường Đi Chung Sau Khi Mua Đất Phải Làm Như Thế Nào?

Xử Lý Đối Với Hành Vi Lấn Chiếm Đường Dân Sinh Của Xã

Ngang Nhiên Rào Đường Dân Sinh, Lấn Chiếm Đất

Pháp Luật Quy Định Về Phân Loại Đường Bộ Như Thế Nào?

24/08/2018

Thưa luật sư tôi muốn hỏi một việc như sau: hiện nay hàng ngõ tôi có 10 hộ gia đình đang đi chung một con ngõ từ lâu đời nay, sự việc xẩy ra khi có một hộ gia đình làm nhà ở đầu ngõ, đã lấn chiếm khoảng không trên cao của đường ngõ đi, cụ thể là hộ đó làm văng, my cửa sổ đua ra ngõ đi chung của 10 hộ dân chúng tôi.

(Bản thân hộ đó không đi chung cùng ngõ, mà đi hướng mặt đường to, còn mé sườn nhà giáp hàng ngõ chúng tôi đang đi thì làm văng my đu ra hàng mét.) 10 hộ dân chúng tôi quá bức xúc, đã làm đơn kiện 10 hộ gia đình cùng ký và gửi đơn ra UBND xã, nhưng UBND xã trả lời chúng tôi bằng miệng là, người ta làm văng my ra nhưng không ảnh hưởng đến giao thông đi lại của ngõ nên không giải quyết. vậy tôi xin hỏi trường hợp như trên, UBND trả lời như vậy có đúng không.? và chúng tôi có cơ sở nào để làm đơn khiếu kiện lên cấp trên được không. ? việc lấn chiến khoảng không trên cao của hàng ngõ có vi phạm không. vi phạm như thế nào? tôi xin chân thành cảm ơn

Trả lời: Cảm ơn câu hỏi của bạn đã gửi đến cho công ty Luật Minh Gia. Trường hợp của bạn, chúng tôi tư vấn như sau:

Điều 174 Bộ luật dân sự 2022 có quy định về nghĩa vụ tôn trọng quy tắc xây dựng như sau:

“Khi xây dựng công trình, chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản phải tuân theo pháp luật về xây dựng, bảo đảm an toàn, không được xây vượt quá độ cao, khoảng cách mà pháp luật về xây dựng quy định và không được xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu, người có quyền khác đối với tài sản là bất động sản liền kề và xung quanh.”

Và tại 2.8.10 Quyết định 04/2008/QĐ-BXD quy định Phần nhà được phép nhô quá chỉ giới đường đỏ trong trường hợp chỉ giới xây dựng trùng với chỉ giới đường đỏ như sau:

“- Trong khoảng không từ độ cao 3,5m (so với mặt vỉa hè) trở lên, các bộ phận cố định của nhà (ô-văng, sê-nô, ban công, mái đua…, nhưng không áp dụng đối với mái đón, mái hè) được vượt quá chỉ giới đường đỏ theo những Điều kiện sau:+ Độ vươn ra (đo từ chỉ giới đường đỏ tới mép ngoài cùng của phần nhô ra), tùy thuộc chiều rộng lộ giới, không được lớn hơn giới hạn được quy định ở bảng 2.9, đồng thời phải nhỏ hơn chiều rộng vỉa hè ít nhất 1,0m, phải đảm bảo các quy định về an toàn lưới điện và tuân thủ quy định về quản lý xây dựng áp dụng cụ thể cho khu vực;+ Vị trí độ cao và độ vươn ra cụ thể của ban công phải thống nhất hoặc tạo được nhịp điệu trong hình thức công trình kiến trúc, tạo được không gian kiến trúc cảnh quan trong từng cụm nhà cũng như trong tổng thể toàn khu vực;+ Trên phần nhô ra chỉ được làm ban công, không được che chắn tạo thành lô-gia hay buồng.”Bảng 2.9: Độ vươn ra tối đa của ban công, mái đua, ô-văng

​Như vậy, trường hợp chỉ giới xây dựng trùng với chỉ giới đường đỏ thì việc xây dựng ban công, mái đua, ô-văng phải đảm bảo điều kiện sau: nếu chiều rộng lộ giới từ dưới 7m thì độ vươn ra tối đa là 0m; từ 7m đến 12m được vươn ra đối đa 0,9m; Từ trên 12m đến 15m được phép vươn ra 1,2m và trên 15m trở lên độ vươn ra tối đa là 1,4m. Vì bạn không cung cấp cụ thể chiều rộng ngõ đi chung, do đó bạn có thể căn cứ vào quy định trên để áp dụng vào trường hợp của mình.

Theo đó, nếu văng, my cửa sổ mà hàng xóm bạn muốn xây dựng lấn ra ngoài ngõ đi chung vàkhông đảm bảo điều kiện trên thì các hộ xung quanh có thể báo tới cơ quan nhà nước xã, phường để tới lập biên bản xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực xây dựng theo Khoản 4 ĐIều 15 Nghị định 139/2017/NĐ-CP, cụ thể:

Trân trọng

Trịnh Hoa – Công ty Luật Minh Gia

Vụ Ông Lương Hữu Phước Nhảy Lầu Tự Tử Sau Khi Tòa Tuyên Án: Thẩm Phán, Luật Sư Nói Gì?

Luật Sư Dương Vĩnh Tuyến Nói Về Thân Chủ Đã Nhảy Lầu Tự Vẫn Sau Phán Quyết Của Toà Án

Văn Phòng Luật Sư Thảo Vinh

Luật Sư: ‘nguyễn Hải Dương Chủ Động Thực Nghiệm Hiện Trường Thảm Sát’

Công Ty Luật, Văn Phòng Luật Sư Tư Vấn Pháp Luật Tại Tp Vinh

Quyền Sử Dụng Đường Đi Chung Theo Quy Định Pháp Luật

Hướng Dẫn Giải Quyết Tranh Chấp Lối Đi Chung

Có Được Mở Cửa Sổ Ra Khoảng Không Ngõ Đi Chung Không?

Những Nguyên Tắc Cần Nhớ Khi Lái Xe Trên Đường Cao Tốc

Lùi Xe Trên Đường Cao Tốc Bị Xử Lý Thế Nào?

Quy Định Của Pháp Luật Về Vấn Đề Dừng Xe Trên Đường Cao Tốc

Quyền sử dụng đường đi chung được xác định hoàn toàn dựa trên sự thỏa thuận giữa cá bên, căn cứ vào các quy định tại Bộ luật dân sự 2022.

QUYỀN SỬ DỤNG ĐƯỜNG ĐI CHUNG

Thưa Luật sư, tôi có câu hỏi về quyền sử dụng đường đi chung muốn nhờ Luật sư tư vấn giúp như sau: tôi và một số hộ gia đình lân cận có góp tiền xây dựng lối đi chung. Trong đó có gia đình ông A, khi chính quyền địa phương kêu gọi nhân dân hiến 2m đất thì tất cả các hộ đã kí tên, chỉ duy nhất gia đình ông không đi và không kí tên. Nhưng khi làm đường thì ông A lại cho lối đi chạy qua đất nhà mình và đốn một cây để làm đường. Hiện tại, các hộ gia đình vẫn cho gia đình ông A vẫn được sử dụng lối đi này nhưng không được chở hàng hóa cồng kềnh.Vậy Luật sư cho tôi hỏi, trong trường hợp này thì gia đình ông A có được sử dụng lối đi đó và chở hàng hóa như những gia đình khác hay không vì gia đình ông A không đóng tiền làm đường. Tôi xin cảm ơn!

Điều 171 Luật Đất đai quy định:

Điều 171. Quyền sử dụng hạn chế đối với thửa đất liền kề

1. Quyền sử dụng hạn chế đối với thửa đất liền kề bao gồm quyền về lối đi; cấp, thoát nước; tưới nước, tiêu nước trong canh tác; cấp khí ga; đường dây tải điện, thông tin liên lạc và các nhu cầu cần thiết khác một cách hợp lý trên thửa đất liền kề.

2. Việc xác lập quyền sử dụng hạn chế đối với thửa đất liền kề thực hiện theo quy định của pháp luật dân sự và phải thực hiện đăng ký theo quy định tại Điều 95 của Luật này.

Với những thông tin mà bạn cung cấp, chúng tôi xin tư vấn cho bạn như sau:

Trong trường hợp này, gia đình ông A đã không đóng góp tiền và cũng không ký tên trong danh sách hiến đất để làm đường nhưng trên thực tế khi xây dựng con đường đó ông A vẫn để cho chạy qua đất nhà mình và đốn cây để làm đường. Theo quy định của pháp luật về đất đai, khi đất đã được công nhận quyền sử dụng cho cá nhân, hộ gia đình thì đó là những người có quyền sử dụng. Do vậy, trong trường hợp phần đất để xây dựng lối đi đó thuộc quyền sử dụng của ông A, nay ông A đã đồng ý để cho lối đi chạy qua, như vậy cũng có thể coi như ông A đã đóng góp bằng quyền sử dụng đất vào việc xây dựng lối đi này và lối đi này được coi như tài sản thuộc sở hữu chung của cộng đồng theo quy định tại Điều 211 Bộ luật dân sự 2022:

“Điều 211: Sở hữu chung của cộng đồng

1. Sở hữu chung của cộng đồng là sở hữu của dòng họ, thôn, ấp, bản, làng, buôn, phum, sóc, cộng đồng tôn giáo và cộng đồng dân cư khác đối với tài sản được hình thành theo tập quán, tài sản do các thành viên của cộng đồng cùng nhau đóng góp, quyên góp, được tặng cho chung hoặc từ các nguồn khác phù hợp với quy định của pháp luật nhằm mục đích thỏa mãn lợi ích chung hợp pháp của cộng đồng. 2. Các thành viên của cộng đồng cùng quản lý, sử dụng, định đoạt tài sản chung theo thỏa thuận hoặc theo tập quán vì lợi ích chung của cộng đồng nhưng không được vi phạm điều cấm của pháp luật. 3. Tài sản chung của cộng đồng là tài sản chung hợp nhất không phân chia.”

Như vậy, với việc quy định như trên, pháp luật luôn ưu tiên sự thỏa thuận của các bên. Do đó, các hộ gia đình trong khu dân cư có thể họp và thỏa thuận về việc có công nhận sự đóng góp của gia đình ông A như những hộ gia đình khác hay không. Từ đó quyết định việc có cho phép gia đình ông A được sử dụng con đường đó.

Xin chân thành cảm ơn sự đồng hành của quý khách hàng!

Ngõ Đi Chung Được Xác Định Như Thế Nào?

Tìm Hiểu Các Quy Định Của Pháp Luật Về Giải Quyết Tranh Chấp Lối Đi Chung ?

Tư Vấn Pháp Luật Về Việc Hiến Đất Làm Đường Đi Chung?

Hướng Dẫn Giải Quyết Tranh Chấp Về Lối Đi Chung/đường Đi Nội Bộ Trong Gia Đình Theo Quy Định Pháp Luật ?

Quy Định Mới Về Mức Tiền Trợ Cấp Nuôi Con Khi Bố Mẹ Ly Hôn?

Quy Định Pháp Luật Về Lối Đi Chung

Tranh Chấp Đất Đai Về Con Đường Đi Chung Sau Khi Mua Đất Phải Làm Như Thế Nào?

Xử Lý Đối Với Hành Vi Lấn Chiếm Đường Dân Sinh Của Xã

Ngang Nhiên Rào Đường Dân Sinh, Lấn Chiếm Đất

Pháp Luật Quy Định Về Phân Loại Đường Bộ Như Thế Nào?

Đi Sai Làn Đường Bị Phạt Bao Nhiêu Tiền ? Quy Định Về Phân Làn Đường?

Hiện nay, nhiều gia đình đang có tranh chấp đối với lối đi chung với hàng xóm. Vậy có quy định pháp luật về việc không cho đi qua lối đi chung hay không?

Lối đi qua có thể là phần đất thuộc sở hữu chung, sở hữu chung của cộng đồng hoặc sở hữu riêng của cá nhân.

Để xác định lối đi qua thuộc hình thức sở hữu nào, có thể yêu cầu Phòng tài nguyên môi trường nơi có bất động sản kiểm tra hồ sơ địa chính.

Trường hợp phần đất là lối đi chung được xác định là thuộc sở hữu riêng

Quyền về lối đi chung đã được quy định trong Bộ luật dân sự 2022 như sau:

“Điều 254. Quyền về lối đi qua

1. Chủ sở hữu có bất động sản bị vây bọc bởi các bất động sản của các chủ sở hữu khác mà không có hoặc không đủ lối đi ra đường công cộng, có quyền yêu cầu chủ sở hữu bất động sản vây bọc dành cho mình một lối đi hợp lý trên phần đất của họ.

Lối đi được mở trên bất động sản liền kề nào mà được coi là thuận tiện và hợp lý nhất, có tính đến đặc điểm cụ thể của địa điểm, lợi ích của bất động sản bị vây bọc và thiệt hại gây ra là ít nhất cho bất động sản có mở lối đi.

Chủ sở hữu bất động sản hưởng quyền về lối đi qua phải đền bù cho chủ sở hữu bất động sản chịu hưởng quyền, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

2. Vị trí, giới hạn chiều dài, chiều rộng, chiều cao của lối đi do các bên thỏa thuận, bảo đảm thuận tiện cho việc đi lại và ít gây phiền hà cho các bên; nếu có tranh chấp về lối đi thì có quyền yêu cầu Tòa án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác xác định.

3. Trường hợp bất động sản được chia thành nhiều phần cho các chủ sở hữu, chủ sử dụng khác nhau thì khi chia phải dành lối đi cần thiết cho người phía trong theo quy định tại khoản 2 Điều này mà không có đền bù”.

Theo đó, các gia đình có đất đai phía bên trong mảnh đất của gia đình hàng xóm thì có quyền yêu cầu gia đình hàng xóm đó dành cho mình một lối đi hợp lý trên phần đất của họ, và phải có sự đền bù thích hợp cho gia đình hàng xóm, trừ khi các bên có thỏa thuận khác. Gia đình hàng xóm dành lối đi cần thiết cho gia đình bên trong và các gia đình khác.

Xác định có quyền về lối đi chung hay không

Cần phải xác định một số vấn đề sau để xác định là gia đình của mình có quyền về lối đi chung với phần đất của gia đình hàng xóm hay không:

Thứ nhất, gia đình hàng xóm đó là chủ sở hữu của phần đất là đường đi chung hay không?

Thứ hai, khi gia đình hàng xóm mở đường đi chung trên đất của họ, thì các hộ gia đình cùng sử dụng đường đi chung đó có đền bù cho gia đình hàng xóm không? Hoặc các bên có thỏa thuận gì khác không?

Tuy nhiên, nếu xác định được phần đất là đường đi chung đó thuộc quyền sở hữu của gia đình hàng xóm và trước đó, các gia đình khác đã có sự đền bù cho gia đình hàng xóm hoặc thỏa thuận khác thì quyền về lối đi chung được xác lập.

Chấm dứt quyền đối với đường đi chung

Quyền đối với đường đi chung này chỉ bị chấm dứt khi thuộc một trong các trường hợp được quy định tại BLDS 2022 như sau:

“Điều 256. Chấm dứt quyền đối với bất động sản liền kề

Quyền đối với bất động sản liền kề chấm dứt trong trường hợp sau đây:

1. Bất động sản hưởng quyền và bất động sản chịu hưởng quyền thuộc quyền sở hữu của một người.

2. Việc sử dụng, khai thác bất động sản không còn làm phát sinh nhu cầu hưởng quyền.

3. Theo thỏa thuận của các bên.

4. Trường hợp khác theo quy định của luật”.

Tức là gia đình hàng xóm muốn rào lại phần đất là lối đi chung chỉ khi được các gia đình khác đồng ý.

Như vậy là gia đình hàng xóm không cho đi trên lối đi chung là không đúng pháp luật. Các gia đình còn lại có thể yêu cầu UBND cấp xã can thiệp bằng thủ tục hòa giải cơ sở. Nếu hòa giải cơ sở tại UBND cấp xã không thành thì tranh chấp về lối đi chung sẽ do TAND nơi có bất động sản giải quyết.

Còn nếu, gia đình hàng xóm đó không có sổ đỏ với phần đất trên thì họ không có quyền gì đối với phần đất đó cả. Các gia đình khác có thể yêu cầu UBND cấp xã giải quyết.

Luật gia Nguyễn Thị Tâm – Phòng tư vấn pháp luật đất đai của Công ty Luật TNHH Everest – Tổng đài tư vấn pháp luật 1900 6198, tổng hợp.

Bài viết được luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại, mà chỉ sử dụng vì mục đích nghiên cứu khoa học, hoặc phổ biến kiến thức pháp luật;

Bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý Vị đây chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi đây có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết.

Hỏi Về Lấn Chiếm Khoảng Không Đường Ngõ Đi Chung?

Vụ Ông Lương Hữu Phước Nhảy Lầu Tự Tử Sau Khi Tòa Tuyên Án: Thẩm Phán, Luật Sư Nói Gì?

Luật Sư Dương Vĩnh Tuyến Nói Về Thân Chủ Đã Nhảy Lầu Tự Vẫn Sau Phán Quyết Của Toà Án

Văn Phòng Luật Sư Thảo Vinh

Luật Sư: ‘nguyễn Hải Dương Chủ Động Thực Nghiệm Hiện Trường Thảm Sát’

Hướng Dẫn Giải Quyết Tranh Chấp Về Lối Đi Chung/đường Đi Nội Bộ Trong Gia Đình Theo Quy Định Pháp Luật ?

Tư Vấn Pháp Luật Về Việc Hiến Đất Làm Đường Đi Chung?

Tìm Hiểu Các Quy Định Của Pháp Luật Về Giải Quyết Tranh Chấp Lối Đi Chung ?

Ngõ Đi Chung Được Xác Định Như Thế Nào?

Quyền Sử Dụng Đường Đi Chung Theo Quy Định Pháp Luật

Hướng Dẫn Giải Quyết Tranh Chấp Lối Đi Chung

Hiện nay, kiến thức pháp lý về đất đai của người dân đã từng bước được nâng cao do chính sách tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật của nhà nước. Việc hành xử theo pháp luật là đặc biệt quan trọng nhất là quan hệ giải quyết tranh chấp đất đai:

1. Hướng dẫn giải quyết tranh chấp về lối đi chung/đường đi nội bộ trong gia đình theo quy định pháp luật?

Kính gửi Luật Minh Khuê! Trước nhà em là 1 con đường do nhà em và các anh chị trong gia đình xây nên bằng xi măng. Con đường này là do các chị em trong nhà chừa ra khi xây nhà trên đất ba má chia. Ba má chia từ 1 mảnh lớn thành 7 miếng đất cho 7 đứa con.

Trong sổ đỏ của từng chị em có ghi đường đó là đường nội bộ. Đầu đường là cổng lớn. Trên con đường đó nhà em có xây bàn thiêng trước nhà. Giờ có người em trong gia đình nói đó là đường nội bộ nên họ có quyền sử dụng con đường đó trong khi họ không hề đóng góp xây dựng con đường. Họ nói muốn bán mảnh đất mà họ được chia cho người ngoài và yêu cầu những nhà trong khu đất phải đập bỏ bàn thiêng trước nhà và không được đóng cổng. Đường nội bộ đó cũng đi ngang qua mảnh đất của người em đó.

Cảm ơn luật sư!

Hiện tại, theo quy định pháp luật hiện hành, cách giải thích đường nội bộ có khá nhiều, ví dụ như; Trong tiêu chuẩn xây dựng VN 1- năm 2007 (Phân loại đường phố trong đô thị) thì Đường nội bộ là đường giao thông trong phạm vi phường, khu ở, khu công nghiệp, khu chung cư, khu công trình công cộng hay thương mại…; Trong điểm 6.2 Mục I Thông tư 25/2014/TT-BTNMT có quy định “…Đường có độ rộng tại thực địa từ 0,5 m trở lên trên bản đồ phải vẽ bằng 2 nét (vẽ theo tỷ lệ). Nếu đường nằm trong thửa đất lớn và thuộc phạm vi khuôn viên của thửa đất đó (ví dụ: đường nội bộ trong khuôn viên khu triển lãm, khu công viên…) vẽ bằng nét đứt và chỉ vẽ phần mặt đường….”. Như vậy, với trường hợp này chúng ta có thể hiểu đây là đường nội bộ nằm trong khuân viên quyền sử dụng đất ở của 07 chị em nhà bạn, là tài sản chung của 7 chị em.

2. Việc định đoạt tài sản chung hợp nhất được thực hiện theo thỏa thuận của các chủ sở hữu chung hoặc theo quy định của pháp luật

2. Ngõ đi chung đủ 2m mới được làm sổ đỏ ?

Thưa luật sư, xin luật sư cho tôi biết là: bây giờ có luật nào quy định là ngõ đi chung phải đủ 2m thì mới làm sổ đỏ không? Bố mẹ tôi có sổ đỏ chính chủ khoảng 135m2 đất ở Hà Nội. Bây giờ căn nhà bố mẹ tôi đang ở xuống cấp nên bố mẹ tôi phải bán đi 80m2 để xây lại căn nhà đang ở. Khi bố mẹ tôi đi làm giấy tờ để tách sổ đỏ cho người mua thì họ nói ngõ đi chung có 1,7m thì ko đủ điều kiện để tách sổ. Xin luật sư tư vấn cho tôi và bố mẹ tôi được biết có quy định như vậy không ạ ?

Tôi xin chân thành cảm ơn.

Luật đất đai hiện hành không có quy định cụ thể về bề ngang của ngõ chung, việc quy định bề ngang của ngõ chung là các văn bản của từng địa phương cụ thể và phụ thuộc vào quy hoạch của địa phương đó.

Đối với trường hợp đất ở Hà Nội, điều kiện tách thửa đất được quy định tại Điều 5 Quyết định số 20/2017/QĐ-UBND ngày 01/6/2017 của UBND thành phố Hà Nội như sau:

Điều 5. Điều kiện về kích thước, diện tích đất ở tối thiểu được phép và không được phép tách thửa và việc quản lý đối với thửa đất ở có kích thước, diện tích nhỏ hơn mức tối thiểu 1. Các thửa đất được hình thành từ việc tách thửa phải đảm bảo đủ các điều kiện sau: a) Có chiều rộng mặt tiền và chiều sâu so với chỉ giới xây dựng (đường giới hạn cho phép xây dựng công trình trên thửa đất) từ 3 mét trở lên; b) Có diện tích không nhỏ hơn 30 m2 đối với khu vực các phường, thị trấn và không nhỏ hơn 50% hạn mới giao đất ở (mức tối thiểu) quy định tại Điều 3 Quy định này đối với các xã còn lại. 2. Khi chia tách thửa đất có hình thành ngõ đi sử dụng riêng thì ngõ đi phải có mặt cắt ngang từ 2m trở lên đối với thửa đất thuộc khu vực các xã và từ 1m trở lên đối với thửa đất thuộc khu vực các phường, thị trấn và các xã giáp ranh. Thửa đất sau khi chia tách phải đảm bảo đủ điều kiện tại khoản 1 Điều này.

Căn cứ vào quy định trên, nếu đất của gia đình mình thuộc khu vực xã thì mới phải đáp ứng điều kiện là nghõ đi phải có mặt cách ngang 2m trở lên, nếu đất thuộc khu vực phường, thị trấn và các xã giáp ranh thì chỉ cần ngõ có mặt cắt ngang 01 mét trở lên là đủ điều kiện tách thửa.

3. Hướng dẫn quy định về việc thu hồi ngõ đi chung ?

Nhà em và gia đình hàng xóm có một lối đi chung nhưng chỉ thỏa thuận miệng với nhau chứ không lập văn bản. Tuy nhiên giữa hai gia đình gần đây có mâu thuẫn về ngõ đi chung do nhà hàng xóm bán đất cho người khác. Việc mâu thuẫn trên đã đưa ra UBND phường giải quyết. Do không có văn bản về ngõ đi chung lên UBND phường cho rằng mâu thuẫn trên không có cơ sở để giải quyết và tiến hành thu hồi ngõ đi chung để bán cho hộ cá thể khác.

Thưa luật sư, Cho tôi hỏi UBND phường có được phép thu hồi ngõ chung để bán cho hộ cá thể không ?

Theo quy định tại Điều 66 Luật đất đai 2013 quy định về thẩm quyền thu hồi đất như sau:

“1. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thu hồi đất trong các trường hợp sau đây:a) Thu hồi đất đối với tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, trừ trường hợp quy định tại điểm b khoản 2 Điều này;b) Thu hồi đất nông nghiệp thuộc quỹ đất công ích của xã, phường, thị trấn.2. Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định thu hồi đất trong các trường hợp sau đây:a) Thu hồi đất đối với hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư;b) Thu hồi đất ở của người Việt Nam định cư ở nước ngoài được sở hữu nhà ở tại Việt Nam.3. Trường hợp trong khu vực thu hồi đất có cả đối tượng quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thu hồi đất hoặc ủy quyền cho Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định thu hồi đất.”

Như vậy UBND cấp xã không có thẩm quyền thu hồi đất. Trường hợp Uỷ ban nhân dân xã thực hiện thu hồi đất của gia đình là trái với quy định pháp luật và khi đó để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của mình có thể làm đơn khiếu nại (căn cứ theo Điều 204 Luật đất đai 2013). Trường hợp khiếu nại không được thì khởi kiện trực tiếp ra Tòa án nhân dân để yêu cầu hủy việc quyết định thu hồi đất do xã ban hành.

4. Tư vấn về vấn đề ngõ đi chung giữa hai gia đình ?

Thưa luật sư! Nhà thờ họ của dòng họ em nằm hoàn toàn đất ở nhà bên cạnh và trước đó thì lối vào có cả nhà em và nhà bên cạnh. Nhưng do các ông trong họ đòi nghiến lấy 100m2 và gây bất mãn với nhà bên nên họ quây kín ko có lỗi vào và đã xin mấy mét đất nhà em để mở lối vào và hỏi đi nhờ ngõ nhà em từ 2010.

Kể từ đấy mọi người đi lại bình thường và đến hiện tại trong họ làm đơn đi kiện đòi ngõ bảo đấy không phải ngõ nhà em. Ngõ nhà em là ngõ chung với 1 nhà ở đằng sau và giờ nhà đó ko đi nữa và giao cho nhà em quản lý . Trong một biên bản của xã năm 2010 có ghi rõ là ngõ chung của 2 nhà. Vậy cho em hỏi thì trong trường hợp này có nhà thờ họ có ngõ không ạ và có được quyền đi lại không ạ?

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Trả lời

Theo như thông tin bạn cung cấp thì nhà thờ họ đã xin gia đình bạn mấy mét đất để đi nhờ ngõ nhà bạn vào, trong biên bản của xã năm 2010 có ghi rõ là ngõ chung của 2 nhà là nhà của bạn và nhà hàng xóm. Chính vì vậy mà nhà thờ họ của bạn không hề có ngõ, và từ trước giờ đi nhờ nhà bạn nên họ không có quyền khởi kiện đòi ngõ đấy không phải nhà bạn. Tuy nhiên, vì nhà thờ không có lối đi chung nên theo quy định Tại Điều 254

Điều 254. Quyền về lối đi qua

1. Chủ sở hữu có bất động sản bị vây bọc bởi các bất động sản của các chủ sở hữu khác mà không có hoặc không đủ lối đi ra đường công cộng, có quyền yêu cầu chủ sở hữu bất động sản vây bọc dành cho mình một lối đi hợp lý trên phần đất của họ.

Lối đi được mở trên bất động sản liền kề nào mà được coi là thuận tiện và hợp lý nhất, có tính đến đặc điểm cụ thể của địa điểm, lợi ích của bất động sản bị vây bọc và thiệt hại gây ra là ít nhất cho bất động sản có mở lối đi.

Chủ sở hữu bất động sản hưởng quyền về lối đi qua phải đền bù cho chủ sở hữu bất động sản chịu hưởng quyền, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

2. Vị trí, giới hạn chiều dài, chiều rộng, chiều cao của lối đi do các bên thỏa thuận, bảo đảm thuận tiện cho việc đi lại và ít gây phiền hà cho các bên; nếu có tranh chấp về lối đi thì có quyền yêu cầu Tòa án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác xác định.

3. Trường hợp bất động sản được chia thành nhiều phần cho các chủ sở hữu, chủ sử dụng khác nhau thì khi chia phải dành lối đi cần thiết cho người phía trong theo quy định tại khoản 2 Điều này mà không có đền bù.

5. Xin luật sư tư vấn giúp về giải quyết tranh chấp ngõ đi chung ?

Thưa luật sư, Năm 2012 tôi có mua 1 căn nhà trong ngõ của ông H, có 1 lối đi chung của 4 nhà, Ông V bà T, bà B và gia đình tôi. Hiện diện tích lối đi chung này đã được cắt trong sổ đỏ của ông V năm 2012 – 24m2. Và đã được thể hiện trên bản đồ của địa chính của UBND phường.Trên lối đi chung có 2 cổng chung đầu ngõ và giữa ngõ chưa phá bỏ.

Cổng đó là của gia đình ông V, chính vì thế ông V ở nhà nên hay đóng cổng sớm khi gia đình tôi về thì phải gọi cổng và luôn gây khó dễ cho gia đình tôi, ông V nhận phần ngõ đó là của nhà ông và vít luôn cống thoát nước chung của ngõ gây ứ đọng nước. Và còn nhiều lần đe dọa chặn cổng nhà tôi. Cái lý của ông ấy là : Ông ấy cắt phần lối đi chung đó trên sổ đỏ là chỉ cho bà B và Bà T đi còn gia đình tôi mua lại của ông H là không được đi vì trong sổ đỏ của tôi không thể hiện. Ngày xưa tất cả 4 lô đất đó là của cụ ông V để lại và chia cho con cháu bán cho mọi người và có thỏa thuận miệng cắt 24 m làm ngõ chung. ông cậu của ông ấy bán cho ông Hùng, ông hùng ở đó 6 năm và bán lại cho nhà tôi. Hiện tại chỉ có lối đi đó là lối đi duy nhất của 4 hộ. Xin luật sư tư vấn giúp tôi, tôi có quyền sử dụng lối đi chung đó không? có quyền yêu cầu ông V phá cổng chung hay không? Ông V làm thế đúng hay sai. Nếu tôi muốn lối đi chung đó được công nhận thì phải làm gì?

Xin cám ơn luật sư, rất mong luật sư hồi âm sớm nhất , vì tình hình hiện tại rất căng thẳng.

Điều 254. Quyền về lối đi qua1. Chủ sở hữu có bất động sản bị vây bọc bởi các bất động sản của các chủ sở hữu khác mà không có hoặc không đủ lối đi ra đường công cộng, có quyền yêu cầu chủ sở hữu bất động sản vây bọc dành cho mình một lối đi hợp lý trên phần đất của họ.Lối đi được mở trên bất động sản liền kề nào mà được coi là thuận tiện và hợp lý nhất, có tính đến đặc điểm cụ thể của địa điểm, lợi ích của bất động sản bị vây bọc và thiệt hại gây ra là ít nhất cho bất động sản có mở lối đi.Chủ sở hữu bất động sản hưởng quyền về lối đi qua phải đền bù cho chủ sở hữu bất động sản chịu hưởng quyền, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.2. Vị trí, giới hạn chiều dài, chiều rộng, chiều cao của lối đi do các bên thỏa thuận, bảo đảm thuận tiện cho việc đi lại và ít gây phiền hà cho các bên; nếu có tranh chấp về lối đi thì có quyền yêu cầu Tòa án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác xác định.3. Trường hợp bất động sản được chia thành nhiều phần cho các chủ sở hữu, chủ sử dụng khác nhau thì khi chia phải dành lối đi cần thiết cho người phía trong theo quy định tại khoản 2 Điều này mà không có đền bù.

6. Cách giải quyết của cấp phường về tranh chấp ngõ đi chung ?

Kính gửi công ty luật minh khuê, sau đây tôi muốn quý công ty tư vấn giúp gia đình chúng tôi về việc sau. Vụ việc này tranh chấp đất đai của gia đình tôi.

Gia đình tôi nhận được giấy mời của UBND phường về việc gia đình tôi lấn chiếm ngõ của xóm và sử dụng máy công nghiệp gây tiếng ồn ảnh hưởng đến các hộ xung quanh. Hơn nữa ông A hàng xóm kế bên bảo gia đình tôi đi nhờ là không đúng sự thật. Về việc sử dụng ngõ đi chung, gia đình tôi cuối năm 2007 có xây dựng nhà ở và mở cổng để sử dụng đi lại từ đó, tất cả hành xóm không ai có ý kiến gì, tôi cùng các hộ gia đình trong xóm cùng góp tiền, công để xây dựng và cải tạo mặt đường ngõ đi chung. Gia đình tôi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với tổng diện tích là 147m2 vuông). Gia đình tôi khẳng định toàn bộ phần xây dựng chỉ xây trong phần diện tích đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên. Đến khoảng giữa tháng 8/2014 gia đình tôi có xây lại bức tường rào để bảo vệ kho lạnh, toàn bộ phần tường xây gia đình tôi xây trên nền móng cũ từ năm 2007. UBND Phường đã ra quyết định việc ông A tố cáo gia đình tôi cố tình xây dựng lấn chiếm gần 10m2 đất đường ngõ đi chung để sử dụng là có cơ sở. Thưa luật sư tôi không đồng ý với cách giải quyết này, trong quá trình giải quyết chúng tôi không còn có niềm tin vào cách giải quyết của UBND phường. Ngày 18/9/2015 gia đình tôi có mời Công ty TNHH một thành viên khảo sát và đo đạc Hà Nội về đo đạc, kiểm tra toàn bộ diện tích mà gia đình tôi hiện đang sử dụng thì được kết quả là toàn bộ phần diện tích đất chỉ còn 140.6m2. Như vậy phần diện tích đất nhà tôi được cấp đã bị hụt mất 6.4m2. Tiếp theo, gia đình tôi lại nhận được Thông báo số: 794/TB-UBND ngày 21/9/2015 của UBND phường về việc tổ chức cưỡng chế giải tỏa công trình vi phạm trên đất công đối với gia đình tôi và thời gian để gia đình tự dỡ bỏ các công trình vi phạm xong trước 16 giờ ngày 26/9/2015. Trong nội dung thông báo còn ghi: “trong quá trình thực hiện cưỡng chế, mọi tài sản vật chất của các hộ gia đình có trong phạm vi cưỡng chế nếu bị thiệt hại, lực lượng cưỡng chế sẽ không chịu trách nhiệm, các gia đình miễn thắc mắc.”

Kính thưa quý công ty, Cho tôi được hỏi như vậy thì UBND có làm sai quy định của pháp luật không ?. Nếu có gia đình tôi phải gửi đơn khiếu nại đến đâu vì gia đình tôi đã gửi đơn khiếu nại lên quận thì họ không nhận và nói để phường giải quyết. Gia đình tôi biết ông chủ tịch có nhận hối lộ của ông A người đã kiện gia đình tôi nhưng không có bằng chứng. Vậy nhà tôi có thể tố cáo ông chủ tịch về tội tham nhũng không ?Gia đình tôi xin chân thành cảm ơn quý công ty.

Người gửi: L.K

Luật sư tư vấn pháp luật đất đai gọi: 1900.6162

Theo quy định tại Điều 202 Luật đất đai 2013 , khi hai bên không thể thỏa hiệp được sẽ yêu cầu giải quyết tranh chấp thông qua tổ hòa giải cấp cơ sở

Nghị định 43/2014/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai:

Tội nhận hối lộ thuộc tội phạm về tham nhũng được Điều 354 Bộ luật hình sự 2022 sửa đổi, bổ sung năm 2022

a) Tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm hoặc đã bị kết án về một trong các tội quy định tại Mục 1 Chương này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

Cấu thành tội phạm này như sau:

Mặt chủ quan của tội nhận hối lộ được thể hiện do hình thức lỗi cố ý trực tiếp. Người phạm tội thấy trước họ là người có chức vụ, việc nhận tiền của là do lợi dụng chức vụ, quyền hạn, nhận tiền của hối lộ là trái pháp luật, trái với quy định của cơ quan, tổ chức. Tuy nhiên, người phạm tội đã mong muốn nhận được tiền của hối lộ.

Quy Định Mới Về Mức Tiền Trợ Cấp Nuôi Con Khi Bố Mẹ Ly Hôn?

Mức Cấp Dưỡng Cho Con Khi Ly Hôn Theo Quy Định ?

Luật Sư Tư Vấn Cấp Dưỡng Nuôi Con Trực Tuyến Miễn Phí

Mức Cấp Dưỡng Cho Con Sau Khi Ly Hôn Là Bao Nhiêu?

Quy Định Của Pháp Luật Về Phương Thức Cấp Dưỡng

Đường Đi Luật Nhân Quả

Trưởng Lão Thích Thông Lạc

Tổ Chức Kỷ Niệm 74 Năm Ngày Luật Sư Việt Nam Và 29 Năm Thành Lập Đoàn Luật Sư An Giang

Văn Phòng Luật Sư Giỏi Tại Thành Phố Vị Thanh, Tỉnh Hậu Giang

Danh Sách Đoàn Luật Sư Các Tỉnh, Thành Phố Trên Toàn Quốc.

Danh Sách Địa Chỉ Tòa Án Tỉnh An Giang

Lượt xem: 10889

(Trưởng lão Thích Thông Lạc, trích ĐVXP.9, TG. 2013, tr.56-62)

Nguồn: Sách: Đường Về Xứ Phật – Tập 9

Hỏi: Kính bạch Thầy! Người kiếp này khổ đau nghèo khó xét theo luật nhân quả là kiếp trước họ làm nhiều điều không tốt, làm ác, nói chung là thường làm khổ mình, khổ người hoặc kiếp này làm nhiều điều ác, không tốt, khiến mình khổ người khác khổ và kiếp sau sẽ thọ quả khổ. Song cả hai kiếp quá khứ và vị lai cũng không biết mình là ai cả, cũng như con hiện giờ đây, con đâu có biết kiếp trước mình là ai? Ở đâu vậy? Vì thế họ đâu có sợ làm điều ác, vì kiếp sau họ đâu biết họ là ai để mà đau, mà khổ, mà hối tiếc, mà ân hận, v.v… Vậy định luật nhân quả có hạn chế không? Mong Thầy giải thích cho con hiểu.

Ðáp: Ðịnh luật nhân quả như cháu đã hiểu đó là luật nhân quả của kinh sách phát triển, chứ không phải là đạo đức nhân quả. Kinh sách phát triển thường dạy nhân quả trừu tượng để lừa đảo con người và đã biến luật nhân quả trở thành luật định mệnh hay gọi là số mệnh. Nhân kiếp trước thọ quả kiếp này, nhân kiếp này thọ quả kiếp sau, đó là một hình thức mơ hồ, trừu tượng, không logic, kẻ gieo nhân và người gặt quả không chủ thể, khiến cho người ta không đủ lòng tin. Ðó là một lối hý luận của kinh sách phát triển để biến đạo đức nhân quả thành một triết thuyết nhân quả suông, chuyên tranh luận hơn thua.

Ðối với đạo Phật thì luật nhân quả là những hành động sống hằng ngày trong môi trường duyên hợp, duyên tan của các pháp vô thường, thường thay đổi di dịch, biến động liên tục theo các hành của nó. Nếu hành động ác thì sự đau khổ tăng lên nhiều, hành động càng ác thì sự khổ đau càng tăng dần đi đến khổ đau tận cùng mà đức Phật gọi là Ðịa ngục; nếu hành động thiện thì sự khổ đau giảm xuống và giảm xuống dần rồi đi đến hết khổ đau mà đạo Phật gọi là giải thoát hay là Niết Bàn.

Luật nhân quả của đạo Phật không phải là luật số mệnh, vì luật số mệnh có nghĩa là có sự cố định không thay đổi được. Nếu có luật nhân quả cố định nào như vậy thì đạo Phật sẽ không xuất hiện trên đời này vì không giải quyết mọi sự khổ đau của loài người và tất cả chúng sanh. Vì rõ thấu môi trường sống của luật nhân quả vô thường như vậy, nên đạo Phật ra đời xây dựng cho loài người một nền đạo đức nhân bản – nhân quả để mọi người cùng sống không làm khổ mình, khổ người bằng cách ngăn ác diệt ác pháp trong tâm, sống thiện tăng trưởng thiện pháp.

Ðạo đức nhân bản – nhân quả tức là đạo đức gốc của con người. Ví dụ một lời nói làm cho người khác buồn khổ là mình thiếu đạo đức nhân bản. Cho nên, đạo đức nhân bản – nhân quả rất thực tế, không mơ hồ, trừu tượng, không như nhân quả của kinh sách phát triển.

Ðạo Phật cho nhân của kiếp trước tạo nên quả môi trường sống cho hiện tại chứ nó không còn nhân quả nối tiếp với hiện tại nữa. Nhân quá khứ (ác hay thiện) ví như đám ruộng: Ðám ruộng bạc mầu chai xấu không mầu mỡ là nhân quá khứ ác; đám ruộng mầu mỡ đất phù sa là nhân quá khứ thiện. Nhân thiện hiện tại ví như hạt giống tốt, ngọt, ngon, béo, v.v… mà lại gieo trồng trên mảnh đất xấu, không mầu mỡ (nhân quá khứ ác) thì sự chăm sóc phải rất vất vả và cực nhọc mới có quả tốt để hưởng. Thiện chuyển ác thành phước báo. Nhân ác hiện tại ví như hạt giống xấu, chua, cay, đắng, v.v… lại được gieo trồng trên mảnh đất xấu (nhân quá khứ ác), thì sự chăm sóc không phải gian nan cực nhọc, vẫn hưởng quả chua, cay, đắng và còn cay đắng hơn, đó là quả Ðịa Ngục. Ác cộng ác thành Ðịa Ngục.

Mảnh đất tốt mầu mỡ (nhân thiện quá khứ) lạiđược gieo hạt giống tốt, ngọt, ngon, béo, v.v… (nhân thiện hiện tại) thì được thọ hưởng quả an vui, phước báo, hạnh phúc, an lạc, v.v … Mảnh đất tốt mầu mỡ (nhân thiện quá khứ) nhưng lại được gieo trồng hạt giống chua, cay, đắng (nhân ác hiện tại) thì cũng vẫn hưởng quả chua, cay, đắng, phải gặt lấy sự khổ đau.

Chúng ta thấy mặc dù nhân quá khứ tốt thiện, nhưng cũng không mang lại cho chúng ta hạnh phúc, an vui được, bởi vì nhân quả quá khứ không còn là nhân quả nữa, nó chỉ còn là môi trường sống của muôn loài vạn vật đang sống chung nhau mà thôi. Chỉ có nhân quả hiện tại mới đáng cho chúng ta lưu ý. Khổ, vui, hạnh phúc hay không hạnh phúc đều do nhân quả hiện tại mà có. Do quy luật chuyển đổi được nhân quả này, đạo Phật ra đời dạy chúng ta ngăn ác pháp diệt ác pháp, sống thiện tăng trưởng thiện là để chúng ta thoát khổ, chứ không có nghĩa dạy chúng ta đi tìm một cảnh giới Niết Bàn ở đâu xa mà cũng không có nghĩa đi tìm nhân quả quá khứ để biết mình kiếp trước là ai? Làm gì? Sống ở đâu? Tỉnh nào, huyện nào, xã nào và nước nào? Tìm biết như vậy có ích lợi gì? Phỏng chừng khi biết quá khứ như vậy thì có lợi ích những gì cho chúng ta trong hiện giờ chăng?

Suy ra đối với một người sống thiện, hành thiện trong hiện tại thì sự khổ đau của con người là ở nhân quả hiện kiếp chứ nhân quả quá khứ và vị lai không có nghĩa lý gì cả. Sống thiện, hành thiện trong hiện tại là có một cuộc sống an vui, hạnh phúc. Còn ngược lại cho rằng chẳng biết mình ở quá khứ và vị lai là ai để chịu đau khổ, ân hận, hối tiếc về sau, thì hiện tại cứ làm ác đâu sợ gì vì kiếp sau có biết ai đâu để mà đau, mà khổ, mà tiếc, mà ân hận, v.v… Nghĩ như vậy thì cứ làm rồi kết quả hiện tại sẽ thấy. Ví dụ: cứ đi ăn trộm, ăn cướp, hiếp dâm, lấy vợ người thì sẽ thấy quả khổ của nó ngay liền: bị người bắt đánh đập và tù tội có khi mang án tử hình, v.v… Ðó là quả hiện tại chứ đừng bảo sẽ trả quả ở tương lai ai trả mặc kệ họ. Sự tư duy như vậy là không hiểu nhân quả của đạo Phật. Ðức Phật dạy:

“Quá khứ không truy tìm,

Vị lai không ước vọng,

Chỉ có pháp hiện tại”

Con người sống chỉ có khổ hay vui trong kiếp hiện tại mà thôi, trong hiện tại mà làm ác, sống ác, tức là làm khổ mình, khổ người, khổ tất cả chúng sanh, thì không thể chạy trốn đâu khỏi sự đau khổ, ngược lại trong hiện tại làm thiện, sống thiện tức là không làm khổ mình, khổ người, khổ tất cả chúng sanh, thì dù muốn dù không người này vẫn được hưởng phước báo an vui, hạnh phúc trong hiện tại. Luật nhân quả rất công bằng và công lý trong hiện tại, không tha thứ và vị tình ai cả. Luật nhân quả xử phạt công minh trong hiện kiếp, là do hành động ác hay thiện của mình mà mình thọ hưởng quả khổ hay vui trong hiện kiếp, còn nhân quá khứ thì chỉ còn là một nền tảng cho quả hiện kiếp, và nhân hiện kiếp mới đâm chồi nảy lộc cho nền tảng quả vị lai. Nhân quả thiện ác trong hiện kiếp một người trả chưa xong, còn tồn đọng dư thừa, khi người ấy chết thì sự thọ khổ vui tan biến thành một môi trường sống. Nếu làm ác thì môi trường sống ấy trở thành một hoàn cảnh sống thiếu trước hụt sau, khi nhân quả sanh ra trong một đời sống cơ cực, ba chìm bảy nổi, vất vả vô cùng; còn ngược nếu lại làm thiện, sống thiện thì môi trường sống kế tiếp khi nhân quả sanh ra không thiếu trước hụt sau, đời sống không cơ cực, không ba chìm bảy nổi, lúc nào cũng gặp may mắn, tiền của dư thừa, có khi nhân quả vừa sanh ra trong môi trường (hoàn cảnh) thì có kẻ hầu người hạ, được học hành đến nơi đến chốn và còn được học đạo đức làm người sống toàn thiện.

Luật nhân quả không tha thứ giảm tội cho những kẻ vô tình làm ác. Vô tình làm ác thì cũng phải trả vay sự khổ đau như kẻ hữu ý, vì thế đức Phật nói vì vô minh mà chúng sanh tự làm khổ. Vô minh tức là vô tình, vô ý chứ không có nghĩa là ngu si tối tăm như mọi người hiểu. Vô minh không phải là không biết mà biết sai sự thật, biết không chánh kiến. Biết sai sự thật, không chánh kiến tức là vô tình làm ác. Do vô tình hiểu biết không chân chánh tức là không có chánh kiến như trên đã nói, vì thế con người mới làm ác. Làm ác nên cuối cùng phải chịu lấy muôn ngàn sự khổ đau trong kiếp hiện tại.

Người không biết nhân quả, không sợ nhân quả mà cứ làm ác thì cũng chịu đủ mọi sự khổ đau trong hiện kiếp. Sau này có dịp được đọc sách Ðạo Ðức Làm Người thì cháu sẽ hiểu nhiều hơn về môn đạo đức này.

***

Luật Xây Dựng Số 50/2014/qh13 Doc

Qh14: Luật Sửa Đổi Luật Đầu Tư

Những Nội Dung Cơ Bản Của Luật Sửa Đổi, Bổ Sung Luật Đầu Tư Năm 2022 – Công An Tỉnh Quảng Bình

Biểu Thuế Xuất Khẩu, Biểu Thuế Nhập Khẩu Ưu Đãi 2022

Biểu Thuế Xuất Nhập Khẩu 2022 Theo Nghị Định 125/2017/nđ

Tranh Chấp Đất Đai Về Con Đường Đi Chung Sau Khi Mua Đất Phải Làm Như Thế Nào?

Xử Lý Đối Với Hành Vi Lấn Chiếm Đường Dân Sinh Của Xã

Ngang Nhiên Rào Đường Dân Sinh, Lấn Chiếm Đất

Pháp Luật Quy Định Về Phân Loại Đường Bộ Như Thế Nào?

Đi Sai Làn Đường Bị Phạt Bao Nhiêu Tiền ? Quy Định Về Phân Làn Đường?

Có Được Đi Vào Làn Đường Bên Trong Sát Lề Bên Phải Không ? Lỗi Đi Sai Làn Đường

Công ty Luật TNHH Everest tư vấn về tranh chấp đất đai về con đường đi chung sau khi mua đất.

Hỏi: Tôi có mua 1 mảnh đất và con đường đi vào cách đây 5 tháng. Mảnh đất và con đường đi vào này là thừa kế thuộc quyền của 10 người (có sổ đỏ) . Sau khi thỏa thuận, tôi đã mua với giá 2,6 tỷ. 10 người đồng sở hữu kia đã ký và giấy tờ chuyển nhượng sử dụng đất đã được công chứng. Nhưng trong quá trình chuyển sang tên tôi, thì có 1 tờ đơn kiện của bà Hoa đang ở, sinh sống sát phần đất của con đường đi vào. Vì trước đó bà Hoa và 10 người sở hữu kia đã kí 1 văn bản thỏa thuận dưới sự của UBND xã. Trong bản thỏa thuận thì: con đường này là con đường đi chung, không là của ai. Và bà Hoa đưa đơn kiện với lý do là: con đường đi chung, không là của ai thì sao lại nằm trong sổ quyền sử dụng của tôi. Nên bà Hoa đòi tách con đường này ra khỏi sổ của tôi, và con đường đi này sẽ thuộc vào 1 sổ quyền sử dụng đất đứng tên tôi và bà Hoa. Tôi không đồng ý nhưng nói sẽ cho Bà Hoa đi chung con đường đó vì sổ đỏ đã gồm mảnh đất và con đường, giấy tờ hợp pháp và từ trước đến nay khi đóng thuế, trước (10 người thừa kế trên) đã đóng thuế cho cả đất đường đi vào. Bà Hoa không hề đóng góp gì. Xin hỏi Luật sư, tôi phải làm gì để giải quyết vấn đề này? (Nguyễn Thanh Xuân – Hà Tĩnh)

Bộ luật dân sự năm 2005 quy định như sau:

Điều 273. Quyền sử dụng hạn chế bất động sản liền kề.

“Chủ sở hữu nhà, người sử dụng đất có quyền sử dụng bất động sản liền kề thuộc sở hữu của người khác để bảo đảm các nhu cầu của mình về lối đi, cấp, thoát nước, cấp khí ga, đường dây tải điện, thông tin liên lạc và các nhu cầu cần thiết khác một cách hợp lý, nhưng phải đền bù, nếu không có thoả thuận khác”.

Điều 275. Quyền về lối đi qua bất động sản liền kề

“1. Chủ sở hữu bất động sản bị vây bọc bởi các bất động sản của các chủ sở hữu khác mà không có lối đi ra, có quyền yêu cầu một trong những chủ sở hữu bất động sản liền kề dành cho mình một lối đi ra đến đường công cộng; người được yêu cầu có nghĩa vụ đáp ứng yêu cầu đó. Người được dành lối đi phải đền bù cho chủ sở hữu bất động sản liền kề, nếu không có thoả thuận khác.

Lối đi được mở trên bất động sản liền kề nào mà được coi là thuận tiện và hợp lý nhất, có tính đến đặc điểm cụ thể của địa điểm, lợi ích của bất động sản bị vây bọc và thiệt hại gây ra là ít nhất cho bất động sản có mở lối đi.

2. Vị trí, giới hạn chiều dài, chiều rộng, chiều cao của lối đi do các bên thoả thuận, bảo đảm thuận tiện cho việc đi lại và ít gây phiền hà cho các bên; nếu có về lối đi thì có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định.

3. Trong trường hợp bất động sản được chia thành nhiều phần cho các chủ sở hữu, chủ sử dụng khác nhau thì khi chia phải dành lối đi cần thiết cho người phía trong theo quy định tại khoản 2 Điều này mà không có đền bù”.

Như vậy trong trường hợp này nếu con đường đang tranh chấp thuộc sở hữu của bạn, được ghi nhận trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, cũng như trong bản hồ sơ địa chính xã, thì bạn hoàn toàn có quyền sử dung đối với phần đất này để tiếp tục sử dụng.

Còn nếu con đường đang tranh chấp là phần đất công cộng được sử dụng làm lối đi chung bà Hoa hoàn toàn có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước xem xét lại việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác trên đất.

Để có ý kiến tư vấn chính xác và cụ thể hơn, Quý vị vui lòng liên hệ với các Luật sư chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật 1900 6198, hoặc E-mail: [email protected]

Nội dung bài tư vấn pháp luật bất động sản mà Công ty Luật TNHH Everest cung cấp, Quý vị chỉ nên xem như nguồn tài liệu tham khảo.

Tại thời điểm quý Vị đọc bài viết này, các điều luật chúng tôi viện dẫn có thể đã hết hiệu lực, hoặc đã được sửa đổi, bổ sung; các thông tin trong tình huống là cá biệt. Do đó, chúng tôi không đảm bảo những thông tin này có thể áp dụng cho mọi trường hợp, mọi đối tượng, ở mọi thời điểm.

Quy Định Pháp Luật Về Lối Đi Chung

Hỏi Về Lấn Chiếm Khoảng Không Đường Ngõ Đi Chung?

Vụ Ông Lương Hữu Phước Nhảy Lầu Tự Tử Sau Khi Tòa Tuyên Án: Thẩm Phán, Luật Sư Nói Gì?

Luật Sư Dương Vĩnh Tuyến Nói Về Thân Chủ Đã Nhảy Lầu Tự Vẫn Sau Phán Quyết Của Toà Án

Văn Phòng Luật Sư Thảo Vinh

Quy Định Về Mở Lối Đi Chung Theo Luật Dân Sự?

Quy Định Của Pháp Luật Về Quyền Sử Dụng Đối Với Lối Đi Chung?

Quy Định Về Việc Tranh Chấp Lối Đi Chung

Quy Định Về Tranh Chấp Lối Đi Chung: Thủ Tục, Mẫu Đơn Giải Quyết

Hướng Dẫn Giải Quyết Tranh Chấp Ngõ Đi Chung Theo Luật Đất Đai ?

Quyền Sử Dụng Ngõ Đi Chung Của Các Hộ Liền Kề

1. Quy định về mở lối đi chung theo luật dân sự?

Thưa luật sư, em muốn hỏi: Nhà em có bán cho các hộ dân 01 thửa đất. Trước đó là đất của cha mẹ cho con, sau đó em tách từng thửa ra để chuyển quyền lại cho người dân. Tuy nhiên, thửa đất của em lại không có đường đi vào (Cách đường nhựa khoảng 60m). Ba em đã làm thủ tục hiến đường đi để em có đường đi vào cho em và các hộ sau. UBND xã và UBND huyện lại không đồng ý lập đường đi cho em. Theo Điều 254 Bộ luật Dân sự thì ba em đã tự nguyện chừa đường rồi sao lại không được chấp thuận? Xin luật sư tư vấn cho em!

Trả lời:

“1. Chủ sở hữu có bất động sản bị vây bọc bởi các bất động sản của các chủ sở hữu khác mà không có hoặc không đủ lối đi ra đường công cộng, có quyền yêu cầu chủ sở hữu bất động sản vây bọc dành cho mình một lối đi hợp lý trên phần đất của họ.Lối đi được mở trên bất động sản liền kề nào mà được coi là thuận tiện và hợp lý nhất, có tính đến đặc điểm cụ thể của địa điểm, lợi ích của bất động sản bị vây bọc và thiệt hại gây ra là ít nhất cho bất động sản có mở lối đi.Chủ sở hữu bất động sản hưởng quyền về lối đi qua phải đền bù cho chủ sở hữu bất động sản chịu hưởng quyền, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.”

Như vậy, trong trường hợp này bạn có quyền yêu cầu được mở một lối đi ra đến đường công cộng. UBND cấp xã, huyện không đồng ý lập đường cho bạn cần phải có lý do. Nếu lý do không thỏa đáng bạn có quyền gửi đơn khiếu nại, tố cáo tới cơ quan có thẩm quyền giải quyết để đòi lại quyền lợi cho mình.

2. Lối đi chung – Lối đi riêng được xác định như thế nào?

Thưa luật sư, tôi có một thửa đất 300 m2, nay muốn phân chia thành hai thửa nhưng thửa đất phía sau cần có một lối đi nên yêu cầu tôi cắt lối đi cho bất động sản phía sau (Tôi không rõ quy định của Nhà nước là lối đi này bắt buộc là bao nhiêu m). Xin hỏi Luật sư:

+ Lối đi này là lối đi chung hay lối đi riêng? ( Lô đất kia đã có lối đi khác)

+ Sau này tôi có lối đi khác thì tôi có được bán cho hộ liền kề lô đất phía trước không?

+ Hộ liền kề đó hợp thức lối đi đó vào đất của họ có được không?

Trả lời:

Khoản 1 Điều 254 Bộ luật Dân sự 2022 quy định quyền về lối đi qua như sau: Chủ sở hữu có bất động sản bị vây bọc bởi các bất động sản của các chủ sở hữu khác mà không có hoặc không đủ lối đi ra đường công cộng, có quyền yêu cầu chủ sở hữu bất động sản vây bọc dành cho mình một lối đi hợp lý trên phần đất của họ.

Lối đi được mở trên bất động sản liền kề nào mà được coi là thuận tiện và hợp lý nhất, có tính đến đặc điểm cụ thể của địa điểm, lợi ích của bất động sản bị vây bọc và thiệt hại gây ra là ít nhất cho bất động sản có mở lối đi.

Chủ sở hữu bất động sản hưởng quyền về lối đi qua phải đền bù cho chủ sở hữu bất động sản chịu hưởng quyền, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

Căn cứ theo quy định trên thì nhà nước không quy định cụ thể về chiều dài, chiều rộng, chiều cao của lối đi qua này, hai bên được quyền thỏa thuận với nhau về kích thước của lối đi, chủ sở hữu bất động sản hưởng quyền về lối đi qua phải đền bù cho chủ sở hữu bất động sản chịu hưởng quyền, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Lối đi này được xác định là lối đi qua cho bất động sản phía sau, bạn hoàn toàn có quyền thỏa thuận với chủ sở hữu bất động sản phía sau về việc có sử dụng lối đi đó hay không và mức đền bù mà bên được hưởng quyền về lối đi qua phải trả.

3. Tranh chấp lối đi chung được giải quyết như thế nào?

Thưa luật sư! Hiện em có một lô đất thổ cư ở xã Mỹ Hạnh, Long An. Đất có sổ hồng cấp năm 2013. Trên bản vẽ sổ hồng có ghi đường đất (nhưng đất ở nông thôn nên không ghi rõ là đường đất bao nhiêu mét). Do điều kiện kinh tế nên giờ em mới có tiền xây nhà, tuần trước em xuống lô đất khảo sát lại tình hình thì không có lối đi vào lô đất nữa. Em có hỏi hàng xóm (mới có 3 nhà ở gần đó) họ nói đường đi đang bị tranh chấp giữa 2 ông chủ ngày xưa chung nhau phân lô bán nền. Giờ họ mâu thuẫn, họ ủi đất, ủi bê tông lên cao, xe máy không đi qua được. Chỉ có thể dắc bộ. Muốn xây nhà cũng không đươc vì xe công xe ben không vào đươc. Giờ ai cũng nói: bán đất cũng không bán được mà xây nhà cũng không xong. Em xin hỏi công ty luật là: trên sổ hồng có hiển thị đường đi vào lô đất. Vậy em có thể xây nhà hay mua bán trao đổi được không? Cách giải quyết nào ổn thỏa ạ? Mong công ty trả lời em sớm. Em cảm ơn rất nhiều.

Trả lời:

Điều 254 Bộ luật Dân sự 2022 quy định Quyền về lối đi qua , áp dụng trong trường hợp bạn có lô đất bị vây bọc bởi các lô đất khác, không đủ để đi xe vào thì bạn cần thỏa thuận với các chủ sở hữu bất động sản liền kề để yêu cầu họ dành cho mình 1 lối đi hợp lý sao cho lối đi đó đủ rộng để bạn có thể tiến hành việc xây nhà. Bạn có thể đền bù cho các chủ sở hữu trên một khoản tiền phù hợp để họ tạo điều kiện giúp bạn tiến hành xây nhà một cách nhanh chóng.

Trong trường hợp, chủ đất không mở lối đi cho gia đình bạn thì gia đình bạn có quyền nộp đơn yêu cầu hòa giải tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp xã, phường nơi có đất để được giải quyết vì yêu cầu có lối đi vào bất động sản của bạn là hoàn toàn chính đáng và đúng quy định của pháp luật.

4. Tự ý trổ cửa hướng vào lối đi chung?

Chào luật sư, mong được sự tư vấn giúp: Lối đi chung nhà em với một nhà nữa pháp lý rõ ràng là nhà kia được mở cửa hậu ra lối đi chung đó, còn cửa chính nằm hướng khác. Sau khi nhà kia bán chủ mới phân lô dạng sổ hồng chung cất nhà bán và cho quay mặt các nhà trên qua lối đi chung còn lối cửa chính của nhà cũ bít lại để lấy diện tích. Mỗi căn nhà đó khoảng hơn hai mươi m vuông. Vậy xin luật sư cho biết chủ nhà trên trổ cửa như vậy đúng hay sai và làm thế nào để đảm bảo quyền lợi cho gia đình về lối đi trong trường hợp này? Bây giờ, nhà em thành nhà cuối cùng trong tám nhà trên. Nhà em đang làm sổ hồng. Cảm ơn luật sư giúp đỡ!

Trả lời:

“Sử dụng công trình không đúng với mục đích, công năng sử dụng; xây dựng cơi nới, lấn chiếm diện tích, lấn chiếm không gian đang được quản lý, sử dụng hợp pháp của tổ chức, cá nhân khác và của khu vực công cộng, khu vực sử dụng chung.”

Cũng theo Điều 178 Bộ luật Dân sự 2022 quy định về trổ cửa nhìn sang bất động sản liền kề như sau:

“1. Chủ sở hữu nhà chỉ được trổ cửa ra vào, cửa sổ quay sang nhà bên cạnh, nhà đối diện và đường đi chung theo quy định của pháp luật về xây dựng. 2. Mặt dưới mái che trên cửa ra vào, mặt dưới mái che cửa sổ quay ra đường đi chung phải cách mặt đất từ 2,5 mét trở lên.”

Như vậy, không rõ là gia đình bạn và gia đình hàng xóm cũ đã có căn cứ gì cho việc thỏa thuận gia đình đó không được trổ cửa chính không được quay mặt ra phía lối đi chung. Đối với chủ mới của bất động sản liền kề, họ hoàn toàn không phải chịu trách nhiệm về những thỏa thuận mà chủ cũ đã có với gia đình bạn. Theo quy định của pháp luật dân sự thì họ hoàn toàn có thể trổ của ở vị trí hiện tại chỉ cần không trái các quy định về pháp luật xây dựng nêu trên.

5. Tranh chấp lối đi chung có được làm cổng không?

Thưa luật sư! Gia đình chúng tôi có một thửa đất thổ cư được cấp ở từ năm 1957 có diện tích 998 m2, bố mẹ chúng tôi để lại chia cho 3 anh em chúng tôi (cho tôi, em Dũng và em Cường) vào năm 1992 và có để một lối đi chung cho 3 anh em chúng tôi và đã thể hiện trên sơ đồ, hiện nay chỉ có gia đình chúng tôi ở đây còn lại 2 em tôi không ở đây. Hiện lối đi chung này có phần đầu tiếp giáp với 2 gia đình là nhà ông N và gia đình ông Q. Hiện nay, hai gia đình nhà ông N và nhà ông Q có kiện cáo chúng tôi đây là lối đi chung của 3 nhà gồm gia đình nhà tôi nhà ông N và nhà ông Q, vì vậy gia đình tôi không được làm cổng và không được sử dụng một mình. Vậy tôi xin hỏi luật sư như vậy có đúng không ạ? Và gia đình tôi làm cổng ngõ của gia đình chúng tôi có đúng không? Xin luật sư trả lời giúp gia đình chúng tôi với ạ.

Trả lời:

Theo như thông tin bạn cung cấp thì không biết là ngoài phần đầu tiếp giáp với gia đình ông N và ông Q thì gia đình 2 người này còn lối đi nào khác hay không?

Căn cứ khoản 1 Điều 254 Bộ luật Dân sự 2022 quy định thì chủ sở hữu có bất động sản bị vây bọc bởi các bất động sản của các chủ sở hữu khác mà không có hoặc không đủ lối đi ra đường công cộng, có quyền yêu cầu chủ sở hữu bất động sản vây bọc dành cho mình một lối đi hợp lý trên phần đất của họ.

Như vậy, nếu gia đình ông N và ông Q không còn một lối đi nào khác thì bạn bắt buộc phải để cho họ một phần đất làm lối đi qua hợp lý. Gia đình ông N và ông Q sẽ phải đền bù cho bạn một khoản tiền phù hợp theo thỏa thuận giữa các bên. Tuy nhiên, nếu gia đình 2 ông không bị vây kín và còn một lối đi khác thì gia đình bạn không cần phải để lối đi qua cho họ và hoàn toàn có thể làm cổng ngõ nếu không ảnh hưởng đến các gia đình khác.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác quý khách vui lòng liên hệ bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi ngay số : để được giải đáp.

Bộ Luật Dân Sự Quy Định Về Lãi Suất

Chưa Thông Về Trần Lãi Suất Quy Định Trong Bộ Luật Dân Sự 2022

Tin Hay : Quy Định Về Lãi Suất Cho Vay Của Ngân Hàng

Quy Định Về Lãi Suất Cho Vay Trong Dự Thảo Sửa Đổi Bộ Luật Dân Sự

Mức Lãi Suất Vay Theo Bộ Luật Dân Sự Quy Định Thế Nào?

Quy Định Về Việc Tranh Chấp Lối Đi Chung

Quy Định Về Tranh Chấp Lối Đi Chung: Thủ Tục, Mẫu Đơn Giải Quyết

Hướng Dẫn Giải Quyết Tranh Chấp Ngõ Đi Chung Theo Luật Đất Đai ?

Quyền Sử Dụng Ngõ Đi Chung Của Các Hộ Liền Kề

Tư Vấn Soạn Hợp Đồng Mua Bán Thỏa Thuận Về Lối Đi Chung?

Quyền Về Lối Đi Qua Theo Quy Định Của Bộ Luật Dân Sự

Với số dân tương đối lớn ở Việt Nam là hơn 87 triệu dân thì vấn đề đất đai là vô cùng cấp bách. Nhiều hộ dân có đất nằm trong, hay bị bao bọc xung quanh là các hộ dân khác đang có số lượng tăng lên. vấn đề này đã được pháp luật điều chỉnh kịp thời qua các quy định trong Bộ luật dân sự năm 2005

1. Quy định của pháp luật về quyền có lối đi chung

Quyền sử dụng bất động sản liền kề được quy định tại Điều 273 Bộ luật dân sự năm 2005:

“Chủ sở hữu nhà, người sử dụng đất có quyền sử dụng bất động sản liền kề thuộc sở hữu của người khác để bảo đảm các nhu cầu của mình về lối đi, cấp, thoát nước, cấp khí ga, đường dây tải điện, thông tin liên lạc và các nhu cầu cần thiết khác một cách hợp lý, nhưng phải đền bù, nếu không có thỏa thuận khác.”

Ngoài ra, Điều 275 Bộ luật dân sự năm 2005 cũng có quy định về quyền về lối đi qua bất động sản liền kề, cụ thể như sau:

“1. Chủ sở hữu bất động sản bị vây bọc bởi các bất động sản của các chủ sở hữu khác mà không có lối đi ra, có quyền yêu cầu một trong những chủ sở hữu bất động sản liền kề dành cho mình một lối đi ra đến đường công cộng; người được yêu cầu có nghĩa vụ đáp ứng yêu cầu đó. Người được dành lối đi phải đền bù cho chủ sở hữu bất động sản liền kề, nếu không có thỏa thuận khác. Lối đi được mở trên bất động sản liền kề nào mà được coi là thuận tiện và hợp lý nhất, có tính đến đặc điểm cụ thể của địa điểm, lợi ích của bất động sản bị vây bọc và thiệt hại gây ra là ít nhất cho bất động sản có mở lối đi. 2. Vị trí, giới hạn chiều dài, chiều rộng, chiều cao của lối đi do các bên thỏa thuận, bảo đảm thuận tiện cho việc đi lại và ít gây phiền hà cho các bên; nếu có tranh chấp về lối đi thì có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định. 3. Trong trường hợp bất động sản được chia thành nhiều phần cho các chủ sở hữu, chủ sử dụng khác nhau thì khi chia phải dành lối đi cần thiết cho người phía trong theo quy định tại khoản 2 Ðiều này mà không có đền bù.”

Như vậy, pháp luật dân sự đã có những quy định rõ ràng về quyền có lối đi chung. Do đó, bất động sản ở phía trong hoàn toàn có quyền mở lối đi qua bất động sản liền kề. Nếu bất động sản ở phía ngoài cho rằng lối đi này là của riêng họ thì phải có nghĩa vụ chứng minh và việc đền bù sẽ theo thoải thuận hoặc theo quy định của pháp luật. Trên thực tế cho thấy rằng, các tranh chấp phát sinh liên qun đến vấn đề này diễn ra khá phổ biến.

2. Cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lối đi chung

Được quy định tại Điều 136 Bộ “Luật đất đai năm 2013”:

– Tiến hành hòa giải cơ sở: Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn.

– Tranh chấp về quyền sử dụng đất mà đương sự có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật này và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì do Toà án nhân dân giải quyết;

– Tranh chấp về quyền sử dụng đất mà đương sự không có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật này được giải quyết như sau:

+ Trường hợp Chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh giải quyết lần đầu mà một bên hoặc các bên đương sự không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương giải quyết; quyết định của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương là quyết định giải quyết cuối cùng;

+ Trường hợp Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương giải quyết lần đầu mà một bên hoặc các bên đương sự không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường; quyết định của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường là quyết định giải quyết cuối cùng.

3. Thủ tục, trình tự giải quyết tranh chấp lối đi chung

Điều 135 “Luật đất đai năm 2013” đã quy định rất rõ ràng về hòa giải tranh chấp đất đai, cụ thể như sau:

– Nhà nước khuyến khích các bên tranh chấp đất đai tự hoà giải hoặc giải quyết tranh chấp đất đai thông qua hoà giải ở cơ sở.

– Tranh chấp đất đai mà các bên tranh chấp không hoà giải được thì gửi đơn đến Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất tranh chấp. Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn có trách nhiệm phối hợp với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận, các tổ chức xã hội khác để hoà giải tranh chấp đất đai.

– Thời hạn hoà giải là ba mươi ngày làm việc, kể từ ngày Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nhận được đơn.

– Kết quả hoà giải tranh chấp đất đai phải được lập thành biên bản có chữ ký của các bên tranh chấp và xác nhận của Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất. Trường hợp kết quả hoà giải khác với hiện trạng sử dụng đất thì Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn chuyển kết quả hoà giải đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền để giải quyết theo quy định về quản lý đất đai.

b. Thủ tục, trình tự giải quyết tranh chấp tại Tòa án

+ Người khởi kiện nộp hồ sơ khởi kiện trực tiếp tới Tòa án hoặc gửi qua đường bưu điện.

+ Nộp tiền tạm ứng án phí để Tòa án thụ lý vụ án;

* Hòa giải trong thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án:

– Trước khi tiến hành phiên hoà giải, Toà án phải cho các đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự biết về thời gian, địa điểm tiến hành phiên hoà giải, nội dung các vấn đề cần hoà giải.

+ Khi tiến hành hòa giải, Thư ký Tòa án báo cáo Thẩm phán về sự có mặt, vắng mặt của những người tham gia phiên hòa giải đã được Tòa án thông báo. Thẩm phán chủ trì phiên hòa giải kiểm tra lại sự có mặt và căn cước của những người tham gia phiên hòa giải.

+ Thẩm phán chủ trì phiên hòa giải theo nội dung hòa giải.

+ Các đương sự hoặc người đại diện hợp pháp của đương sự trình bày ý kiến của mình về những nội dung tranh chấp và đề xuất những vấn đề cần hòa giải.

+ Thẩm phán xác định những vấn đề các bên đã thống nhất, những vấn đề chưa thống nhất và yêu cầu các bên đương sự trình bày bổ sung những nội dung chưa rõ, chưa thống nhất.

+ Thẩm phán kết luận về những vấn đề các bên đương sự đã hòa giải thành và vấn đề chưa thống nhất.

– Biên bản hòa giải: Việc hoà giải được Thư ký Toà án ghi vào biên bản. Biên bản hoà giải phải có các nội dung chính sau đây:Ngày, tháng, năm tiến hành phiên hoà giải; Địa điểm tiến hành phiên hoà giải;Thành phần tham gia phiên hoà giải; Ý kiến của các đương sự hoặc người đại diện hợp pháp của các đương sự; Những nội dung đã được các đương sự thoả thuận, không thoả thuận.Biên bản hoà giải phải có đầy đủ chữ ký hoặc điểm chỉ của các đương sự có mặt trong phiên hoà giải, chữ ký của Thư ký Toà án ghi biên bản và của Thẩm phán chủ trì phiên hoà giải.Khi các đương sự thoả thuận được với nhau về vấn đề phải giải quyết trong vụ án dân sự thì Toà án lập biên bản hoà giải thành. Biên bản này được gửi ngay cho các đương sự tham gia hoà giải.

– Hết thời hạn bảy ngày, kể từ ngày lập biên bản hoà giải thành mà không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thoả thuận đó thì Thẩm phán chủ trì phiên hoà giải hoặc một Thẩm phán được Chánh án Toà án phân công ra quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự. Trong thời hạn năm ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự, Toà án phải gửi quyết định đó cho các đương sự và Viện kiểm sát cùng cấp.

– Trong trường hợp các đương sự không hòa giải được với nhau về cách thức giải quyết tranh chấp thì Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục sơ thẩm.

– Trong thời hạn một tháng kể từ khi ra quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tòa án phải mở phiên tòa xét xử.

– Trong thời hạn ba ngày làm việc, kể từ khi kết thúc phiên tòa; các đương sự, cơ quan, tổ chức khởi kiện được Tòa án cấp trích luc bản án. Trong thời hạn mười ngày kể từ ngày tuyên án, Tòa án phải giao hoặc gửi bản án cho các đương sự, cơ quan, tổ chức khởi kiện và Viện kiểm sát cùng cấp.

– Trong trường hợp một bên tranh chấp không đồng ý với bản án sơ thẩm của Tòa án thì họ có quyền kháng cáo bản án, quyết định sơ thẩm để yêu cầu Tòa án cấp trên trực tiếp giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm. Thời hạn kháng cáo đối với bản án sơ thẩm của Tòa án là mười lăm ngày, kể từ ngày tuyên án.

Quy Định Của Pháp Luật Về Quyền Sử Dụng Đối Với Lối Đi Chung?

Quy Định Về Mở Lối Đi Chung Theo Luật Dân Sự?

Bộ Luật Dân Sự Quy Định Về Lãi Suất

Chưa Thông Về Trần Lãi Suất Quy Định Trong Bộ Luật Dân Sự 2022

Tin Hay : Quy Định Về Lãi Suất Cho Vay Của Ngân Hàng

Cách Đi Trên Đường Đôi Đúng Luật

Quy Định Về Việc Đặt Biển Cấm Dừng Xe Và Cấm Đỗ Xe, Xử Phạt Hành Vi Dừng Ở Nơi Cấm Dừng, Cấm Đỗ Như Thế Nào ?

Hướng Dẫn Cách Giải Quyết Tranh Chấp Về Lối Đi Chung?

Tư Vấn Về Trường Hợp Tranh Chấp Lối Đi Chung Và Thủ Tục Giải Quyết

Tranh Chấp Lối Đi Chung Theo Luật Đất Đai

Giải Quyết Tranh Chấp Đường Ống Nước Thải Sinh Hoạt Đi Qua Nhà Liền Kề

Thưa các bạn là về nội dung video thì chúng tôi sẽ chia làm hai phần, phần thứ nhất chúng tôi sẽ hướng dẫn các bạn để phân biệt và hiểu được thế nào là đường đôi, và phần thứ hai chúng tôi sẽ hướng dẫn là cách đi trên đường đôi như thế nào là đúng luật.

Bây giờ chúng ta sẽ đi vào chi tiết từng phần như sau: Thứ nhất về cái khái niệm đường đôi quy định tại TT91/2015/TT-BGTVT thì có nêu như sau : Đường đôi là đường có chiều đi và về được phân biệt bằng dải phân cách giữa. Thì thưa các bạn chúng ta hiểu rất đơn giản thôi tức cái đường nào mà có giải phân cách ở giữa, có thể giải bằng đất bằng dong như thế này, hoặc là như bên này chúng ta nhìn thấy hình này cũng là một giải bằng đất còn trồng cây ở giữa đây, hoặc là giải phân cách ở giữa có thể bằng bê tông ròi bằng những lan can đấy thì như vậy gọi là đường đôi. Thì chúng tôi giải thích thêm một tí thế này là các bạn phân biệt đường đôi khác đường hai chiều nha, thì đường hai chiều nó không có đường ngăn cách ở giữa và nó có chiều đi chiều về và phân biệt bằng vạch kẻ đường thôi. Đấy là đường đôi và đường hai chiều nó khác nhau như vậy.

Thế bây giờ đi trên đường đôi như vậy thì phương tiện tham gia giao thông đi như thế nào mới đúng quy tắc giao thông thì chúng ta sang phần thứ hai và đặc biệt chúng tôi sẽ chủ yếu hướng dẫn về xe máy thôi thì các bạn chúng ta căn cứ vào điều 13 luật giao thông đường bộ nó có quy định về các việc mà được phép đi ở đường đôi thì xe máy đi làn nào là đúng, thì trong luật nó quy định như sau, đối với đường đôi thì là các xe được đi trong một làn đường và chỉ được chuyển làn ở những nơi cho phép.

Đấy thưa các bạn là các việc được ban luật giao thông đường bộ năm 2008 nó nói một câu như vậy, thì có nghĩa là gì? Nó chỉ nói các xe đi trong một làn đường thì tất cả các xe có thể được đi trong một làn đường tức là không phải phân biệt chúng ta đi làn bên trái hay bên phải. Đấy các bạn thấy không, theo hình vẽ các bạn thấy đây là bên trong cùng cái làn đường tôi đang mô tả đây là minh họa có ba làn đường thì chúng ta thấy làn bên trong phải trong cùng này xe máy cũng đi, làn ở giữa này xe máy cũng đi và làn bên trái cùng này xe máy cũng đi.

Thế như vậy đối với cái làn đường đôi này xe máy được phép đi được cả 3 làn đường này luôn, và đều không vi phạm quy tắc giao thông. Tiếp theo có một câu trong luật bộ giao thông điều 13 quy định thêm như thế này, phương tiện tham gia giao thông đường bộ di chuyển với tốc độ thấp hơn phải đi về bên phải. Các bạn lưu ý mặc dù không cấm xe máy đi vào làn nào. Tức là xe máy có thể được đi bất kỳ làn nào trong ba làn mà theo hình vẽ mô tả đây. Thế nhưng trong trường hợp mà xe máy chúng ta mà di chuyển với tốc độ thấp hơn ý thì các bạn lưu ý các bạn đi về phía bên phải nha. Chứ nếu không xe máy mà đi sang bên trái đi với tốc độ thấp mà đi vào làn ô tô này mà xe ô tô bấm còi xin vượt mà chúng ta vẫn cứ ngáng ở giữa phía trước mặt mà chúng ta không cho đi là chúng ta cũng vi phạm đấy. Thế thôi, thế quy định về đường đôi nó chỉ có đơn giản vậy thôi.

Bộ 365 Câu Hỏi Cho Bài Thi Sát Hạch Bằng A2

Các bạn chúng ta thấy không có gì phức tạp cả, thì các bạn cứ lưu ý một chút như vậy. Thế mà nó có một câu nữa trong vấn đề đường đôi này có bạn lưu ý là khi mà đi trên làn đường mà là đường đôi này thì các phương tiện phải đi trong một làn đường nhất định. Tức là khi chúng ta đã đi ở cái làn nào thì chúng ta cứ phải đi làn đó thôi, thế đặc biệt khi chúng ta chuyển làn thì chuyển làn ở những nơi cho phép thôi chứ không phải chúng ta chuyển làn lung tung. Tại vì đường đôi nó quy định tất cả phương tiện đi tự do như vậy rồi nên nếu mà chuyển làn mà chúng ta không chuyển theo nguyên tắc mà chuyển lung tung thì rất là nguy hiểm và có thế gây ra tai nạn đột ngột cho xe đằng sau.

Do vậy điều 13 luật giao thông đường bộ cũng đã quy định thêm là khi chuyển làn thì đối với đường đôi như thế này thì chúng ta chuyển làn ở những nơi cho phép và phải có báo xi nhan chuyển hướng thì mới được chuyển làn. Thưa các bạn là chỉ đơn giản như vậy thôi. Xin trân trọng cảm ơn, xin chào và hẹn gặp lại quý vị.

Tags

hình phạt cho kẻ ngáng đường trung rồi, khi di xe may di ben lao la dung, luật đi đường xe máy, vuot trai tren duong doi, đi đúng làn đường xe oto

Mua Đất Nền Chưa Có Sổ Đỏ Có Thể Gặp Rủi Ro Pháp Lý Nào?

Thủ Tục Pháp Lý Khi Mua Đất Nền Dự Án

Điều Kiện Phân Lô Bán Nền Đất Dự Án Và Những Rủi Ro Người Mua Cần Tránh

Luật Sư Tư Vấn Mua Đất Nền

Luật Giao Thông Dành Cho Ô Tô