Mẫu Quyết Định Không Khởi Tố Vụ Án Hình Sự / TOP #10 Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 8/2022 # Top View | Bac.edu.vn

Quyết Định Không Khởi Tố Vụ Án Hình Sự, Quyết Định Hủy Bỏ Quyết Định Khởi Tố Vụ Án Hình Sự

--- Bài mới hơn ---

  • Về Kiểm Sát Quyết Định Khởi Tố Vụ Án Hình Sự
  • Thời Hạn Tổ Chức Lễ Kết Nạp Đảng Viên
  • Quyết Định Kết Nạp Đoàn Viên Công Đoàn
  • Mẫu Quyết Định Kết Nạp Đoàn Viên Công Đoàn 2022
  • Quyết Định Công Nhận Ly Hôn Tòa Án Sẽ Giao Cho Vợ Hay Chồng?
  • 1. Khái niệm quyết định không khởi tố vụ án hình sự, quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố vụ án hình sự

    Theo quy định tại Điều 158 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2022 như sau:

    Quyết định không khởi tố vụ án hình sự là sự khẳng định thái độ của người có thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự dựa trên những căn cứ pháp lý xác đáng, quyết định không triển khai hoặc chấm dứt mọi hoạt động và huỷ bỏ mọi hình thức phản ánh mang tính chất tố tụng hình sự đối với một sự kiện, vấn đề hay những mức thông tin cụ thể mà trước đó bị nghi là có dấu hiệu tội phạm.

    – Pháp luật quy định khi có một trong những căn cứ ghi ở Điều 157 tức là khi có một trong bảy căn cứ không được khởi tố vụ án hình sự (không có sự việc phạm tội; hành vi không cấu thành tội phạm; người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự; người mà hành vi phạm tội của họ đã có bản án hoặc quyết định đình chỉ vụ án có hiệu lực pháp luật; đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự; tội phạm đã được đại xá; người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã chết, trừ trường hợp cần tái thẩm đối với người khác), thì người có quyền khởi tố vụ án ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự hoặc quyết định huỷ bỏ quyết định khởi tố vụ án hình sự.

    Tuỳ theo trường hợp cụ thể mà việc quyết định không khởi tố vụ án hình sự có thể chuyển thành các trường hợp: xử lý bằng các biện pháp pháp lý khác như hành chính, kỷ luật, dân sự hoặc không có hình thức xử lý nào và các biện pháp khác (hoà giải ở cơ sở…).

    Quyết định không khởi tố vụ án hình sự được áp đụng cho một trong hai trường hợp: quyết định không khởi tố vụ án hình sự hoặc quyết định huỷ bỏ quyết định khởi tố vụ án hình sự. Dù trường hợp nào, thì hành vi tố tụng của người quyết định không khởi tố vụ án hình sự cũng phải tuân theo đúng quy định của pháp luật về thủ tục, hình thức văn bản, nội dung và thẩm quyền người ký. Căn cứ vào nội dung của Điều luật, thì cần hiểu rằng: cơ quan có quyền khởi tố, người có quyền khởi tố vụ án hình sự thì cũng là cơ quan, người có quyền ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự hoặc huỷ bỏ quyết định khởi tố vụ án hình sự.

    Theo quy định tại khoản 1 điều này và những quy định tại Khoản 1 Điều 163 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2022 thì:

    Cơ quan điều tra trong Công an nhân dân ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự hoặc ra quyết định huỷ bỏ quyết định khởi tô vụ án hình sự đối với tất cả các tội phạm trừ những tội phạm thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân và Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

    Cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự hoặc ra quyết định huỷ bỏ quyết định khởi tố vụ án hình sự đối với những tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự.

    Cơ quan điều tra của Viện Kiểm sát nhân dân tối cao ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự hoặc ra quyết định huỷ bỏ quyết định khởi tố vụ án hình sự đối với một số loại tội xâm phạm hoạt động tư pháp mà người phạm tội là cán bộ thuộc các cơ quan tư pháp

    – Cơ quan điều tra có thẩm quyền ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự hoặc ra quyết định huỷ bỏ quyết định khởi tố vụ án hình sự đối với tội phạm xảy ra trên địa phận của mình. Trong trường hợp không xác định được địa điểm xảy ra tội phạm thì việc ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự hoặc ra quyết định huỷ bỏ quyết định khởi tố vụ án hình sự đối với tội phạm thuộc trách nhiệm của Cơ quan điều tra nơi nhận được tin báo tố giác về tội phạm hoặc nơi người bị tô’ giác, người bị tạm giữ cư trú.

    Thẩm quyền ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự hoặc ra quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố vụ án hình sự của Cơ quan điều tra do Thủ trưởng, Phó thủ trưởng cơ quan điều tra được phân công điều tra vụ án (khoản 2, khoản 3, Điều 36, Bộ luật tố tụng hình sự) thực hiện.

    – Thủ trưởng đơn vị Bộ đội biên phòng, Cơ quan Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển và Thủ trưởng các cơ quan khác của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự hoặc hủy bỏ quyết định khởi tố vụ án hình sự đối với những trường hợp phù hợp các chủ thể này đã khởi tố vụ án hình sự theo qui định tại Điều 164 của Bộ luật tố tụng hình sự.

    – Viện trưởng hoặc Phó Viện trưởng Viện kiểm sát ra quyết định không khởi tố vụ án trong trường hợp Viện kiểm sát đã khởi tố vụ án sau khi huỷ bỏ quyết định không khởi tố vụ án của Cơ quan điều tra, Bộ đội biên phòng, Hải quan Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển, các cơ quan khác của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra.

    – Hội đồng xét xử ra quyết định không khởi tố vụ án nếu Hội đồng xét xử đã khởi tố vụ án trong quá trình xét xử tại phiên toà mà phát hiện được tội phạm hoặc người phạm tội mới.

    Trong những trường hợp này, cơ quan đã khởi tố và người có thẩm quyền khởi tố phải huỷ bỏ quyết định khởi tố và thông báo cho cơ quan, tổ chức đã báo tin hoặc người đã tố giác tội phạm biết rõ lí do huỷ bỏ quyết định khởi tố. Các cơ quan, tổ chức, cá nhân đã tố giác tội phạm có quyền khiếu nại quyết định không khởi tố vụ án hình sự. Khoản 2 của điều luật qui định việc khiếu nại quyết định không khởi tố vụ án hình sự. Người có quyền khiếu nại là cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân đã tố giác hoặc báo tin về tội phạm.

    Điều luật quy định, nếu xét cần xử lý bằng biện pháp khác thì chuyển hồ sơ cho cơ quan, tổ chức hữu quan giải quyết, có nghĩa là nếu sự vụ không cho phép khởi tố vụ án hình sự và cơ quan, đơn vị, người có quyền khởi tố thấy rằng có dấu hiệu của vi phạm pháp luật, nhưng không phải là vi phạm pháp luật hình sự, hoặc chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự mà xét cần xử lí bằng các biện pháp phù hợp nhằm bảo đảm giữ nghiêm pháp chế thì chuyển hồ sơ cho cơ quan hoặc tổ chức hữu quan giải quyết. Cơ quan, tổ chức hữu quan nói trong điều luật là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền quyết định các hình thức xử lý hành chính, vi phạm kỷ luật hoặc vi phạm pháp luật khác đối với người có hành vi vi phạm.

    Trong quyết định không khởi tố vụ án hình sự phải nêu rõ lí do không khởi tố hoặc huỷ bỏ quyết định khởi tố vụ án hình sự.

    Trong trường hợp cần tư vấn thêm, bạn có thể liên hệ với Luật sư của Luật Hoàng Phi qua TỔNG ĐÀI TƯ VẤN LUẬT MIỄN PHÍ 19006557 để được tư vấn.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thay Đổi Hoặc Bổ Sung Quyết Định Khởi Tố Vụ Án Hình Sự
  • Mẫu Quyết Định Khen Thưởng Học Sinh Tiểu Học
  • Các Mẫu Quyết Định Khen Thưởng Học Sinh Giỏi 2022
  • Mẫu Quyết Định Kỷ Luật Đảng Viên Cấp Chi Bộ
  • Mẫu Quyết Định Xử Lý Kỷ Luật
  • Khiếu Nại Quyết Định Không Khởi Tố Vụ Án Hình Sự

    --- Bài mới hơn ---

  • Trao Đổi: “về Kiểm Sát Việc Ra Quyết Định Không Khởi Tố Vụ Án Hình Sự”
  • Viện Kiểm Sát Ra Quyết Định Khởi Tố Vụ Án Hình Sự Trong Những Trường Hợp Nào?
  • Tư Vấn Thay Đổi Hoặc Bổ Sung Quyết Định Khởi Tố Vụ Án Hình Sự
  • Việc Thay Đổi Hoặc Bổ Sung Quyết Định Khởi Tố Vụ Án Hình Sự Được Quy Định Như Thế Nào?
  • Có Được Thay Đổi Bổ Sung Quyết Định Khởi Tố Vụ Án Hình Sự?
  • Khiếu nại là một quyền của cá nhân, tổ chức đối với các quyết định, hành vi của người có thẩm quyền nói chung và trong tố tụng hình sự nói riêng. Quyền khiếu nại các quyết định, hành vi của người có thẩm quyền trong tiến hành tố tụng hình sự được quy định cụ thể trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2022; trong đó có quyền khiếu nại của cá nhân, tổ chức tố giác hoặc báo tin về tội phạm đối với quyết định không khởi tố vụ án hình sự.

    1. Cơ sở pháp lý

    – Luật tố tụng hình sự năm 2022;

    – Thông tư liên tịch số 02/2018/TTLT-VKSTC-TATC-BCA-BQP-BTC-BNN & PT NT ngày 05/9/2018 về việc phối hợp thi hành một số quy định của bộ luật tố tụng hình sự về khiếu nại, tố cáo.

    Căn cứ khoản 2, Điều 158, Bộ luật tố tụng hình sự quy định như sau: Cơ quan, tổ chức, cá nhân đã tố giác hoặc báo tin về tội phạm có quyền khiếu nại quyết định không khởi tố vụ án hình sự.

    * Xác định thời hiệu khiếu nại:

    Thời hiệu khiếu nại quyết định không khởi tố vụ án hình sự là 15 ngày kể từ ngày cơ quan, tổ chức, cá nhân đã tố giác hoặc báo tin về tội phạm nhận được hoặc biết được quyết định không khởi tố vụ án hình sự. Nếu hết thời gian 15 ngày mà không khiếu nại thì hết quyền khiếu nại. Trừ trường hợp lý do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan thì thời gian này không tính vào thời hiệu khiếu nại.

    * Xác định thẩm quyền và thời hạn giải quyết khiếu nại:

    Được quy định tại Điều 475, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2022, theo đó có thể xác định như sau:

    Đối với quyết định không khởi tố vụ án hình sự do Thủ trưởng cơ quan điều tra cấp huyện ban hành: Người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu là Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp (cấp huyện). Thời hạn giải quyết là 07 ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại. Ví dụ: Thủ trưởng cơ quan điều tra huyện X ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự. Giải quyết khiếu nại lần đầu thuộc thẩm quyền của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện X.

    Nếu không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại (lần đầu) của Viện trưởng VKSND cấp huyện thì có quyền khiếu nại lần 2. Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết khiếu nại (lần đầu) của Viện trưởng VKSND cấp huyện thì người khiếu nại có quyền khiếu nại đến Viện trưởng VKSND cấp tỉnh. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại viện trưởng VKSND cấp tỉnh phải xem xét, giải quyết. Quyết định của Viện trưởng VKSND cấp tỉnh là quyết định có hiệu lực pháp luật.

    Đối với quyết định không khởi tố hình sự do Thủ trưởng cơ quan điều tra cấp tỉnh ban hành:

    Người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu là Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp (cấp tỉnh). Thời hạn giải quyết là 07 ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại.

    Nếu không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại (lần đầu) của Viện trưởng VKSND cấp tỉnh thì có quyền khiếu nại lần 2. Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết khiếu nại (lần đầu) của Viện trưởng VKSND cấp tỉnh, người khiếu nại có quyền khiếu nại đến Viện trưởng VKSND Tối cao. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại viện trưởng VKSND Tối cao phải xem xét, giải quyết. Quyết định của Viện trưởng VKSND Tối cao là quyết định có hiệu lực pháp luật.

    * Xác định quyền và nghĩa vụ của người khiếu nại

    Quyền và nghĩa vụ của người khiếu nại được quy định tại Điều 472, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2022. Theo đó, cá nhân, tổ chức, cơ quan đã tố giác hoặc báo tin về tội phạm có quyền và nghĩa vụ của người khiếu nại đối với quyết định không khởi tố vụ án hình sự như sau:

    – Về quyền: Tự mình khiếu nại hoặc thông qua người đại diện để khiếu nại; Rút khiếu nại trong bất kỳ giai đoạn nào của quá trình giải quyết khiếu nại; Được nhận quyết định giải quyết khiếu nại; được khôi phục quyền, lợi ích hợp pháp đã bị xâm phạm, được bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật.

    – Về nghĩa vụ: Trình bày trung thực sự việc, cung cấp thông tin, tài liệu cho người giải quyết khiếu nại; chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung trình bày và việc cung cấp thông tin, tài liệu đó. Chấp hành quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực pháp luật.

    Để được tư vấn chi tiết xin vui lòng liên hệ:

    Công ty Luật TNHH HTC Việt Nam

    Địa chỉ: Tầng 1, Toà nhà CT 1 – SUDICO Khu đô thị Mỹ Đình – Mễ Trì, đường Vũ Quỳnh, P. Mỹ Đình 1, Q. Nam Từ Liêm, Hà Nội.

    ĐT: 0989.386.729; Email: htcvn.law@gmail.com

    Website: https://htc-law.com; https://luatsuchoban.vn

    --- Bài cũ hơn ---

  • Căn Cứ Không Khởi Tố Vụ Án Hình Sự Theo Quy Định Bộ Luật Tố Tụng Hình Sự Năm 2022
  • Khiếu Nại Quyết Định Không Khởi Tố Vụ Án Hình Sự Ở Đâu?
  • Quy Định Mới Về Quy Trình Khởi Tố Bị Can?
  • Khởi Tố Bị Can Là Gì?
  • Hưỡng Dẫn Về Khởi Tố Bị Can, Thay Đổi Hoặc Bổ Sung Quyết Định Khởi Tố Bị Can Trong Tố Tụng Hình Sự
  • Hủy Hàng Chục Quyết Định Không Khởi Tố Vụ Án Hình Sự

    --- Bài mới hơn ---

  • Công An Huyện Đã Hủy Quyết Định Không Khởi Tố Vụ Án Hình Sự
  • Bàn Về Quy Định Thay Đổi Quyết Định Khởi Tố Vụ Án Hình Sự Và Thay Đổi Quyết Định Khởi Tố Bị Can
  • Thành Lập Ban Quản Lý Xây Dựng Ntm Cấp Xã
  • Kiện Toàn Bcđ Chương Trình Mtqg Xây Dựng Nông Thôn Mới
  • Thủ Tướng Chính Phủ Quyết Định Kiện Toàn Ban Chỉ Đạo Chương Trình Mục Tiêu Quốc Gia Xây Dựng Nông Thôn Mới
  • Tiếp tục phiên họp của Ủy ban Thường vụ Quốc hội chiều 11-9, Viện trưởng VKSND Tối cao Lê Minh Trí trình bày báo cáo tóm tắt về kết quả công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo và kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp năm 2022.

    Viện trưởng VKSND Tối cao nhận định: “Năm 2022, tình hình khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp vẫn còn diễn biến phức tạp. Một số nội dung khiếu nại, tố cáo mới gây khó khăn cho cơ quan có thẩm quyền giải quyết. Các vụ việc khiếu nại, tố cáo gay gắt, kéo dài nhiều năm có phần gia tăng. Nhiều vụ việc đã được các cơ quan giải quyết hết thẩm quyền, đúng pháp luật nhưng công dân không đồng ý, vẫn tiếp tục yêu cầu giải quyết”.

    Ông Trí còn cho hay thời gian gần đây, một số trường hợp gửi đơn tố giác đến CQĐT VKSND Tối cao về hành vi làm sai lệch hồ sơ vụ án, không truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội, ra bản án trái pháp luật… nhưng thực chất nội dung đơn là khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp.

    “Khi CQĐT VKSND Tối cao chuyển đơn đến cơ quan có thẩm quyền giải quyết thì công dân không đồng ý và yêu cầu phải xử lý theo tội danh đã tố giác, dẫn đến vụ việc trở thành khiếu nại gay gắt, kéo dài” – ông Trí cho hay.

    Sau khi lướt qua số lượng công dân và đơn khiếu nại, tố cáo, kiến nghị mà VKSND các cấp đã tiếp, tiếp nhận, ông Trí đề cập đến một số kết quả về giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp.

    Theo đó, dù số đơn và vụ việc có giảm nhưng tính chất của các đơn, vụ việc vẫn là khiếu nại về quyết định của thủ trưởng CQĐT và VKSND trong tố tụng hình sự. “Qua giải quyết khiếu nại, VKSND đã hủy sáu quyết định không khởi tố vụ án hình sự của CQĐT vì có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm để yêu cầu giải quyết lại tố giác tội phạm” – ông Trí cho hay.

    Về kiểm tra quyết định giải quyết khiếu nại, ông Trí cho hay: “VKSND, VKSND Tối cao và VKSND cấp tỉnh thụ lý kiểm tra 146 vụ, việc đã có quyết định giải quyết khiếu nại trong tố tụng hình sự có hiệu lực pháp luật; đã kết luận kiểm tra 130 vụ việc. Qua đó, hủy 11 quyết định không khởi tố vụ án hình sự để giải quyết lại tin báo, tố giác tội phạm vì thiếu căn cứ” – ông Trí cho hay.

    Báo cáo của VKSND Tối cao cũng cho hay một số trường hợp khiếu nại không có cơ sở nhưng quá trình giải quyết, cơ quan có thẩm quyền chưa phân tích rõ căn cứ bác đơn dẫn đến khiếu kiện kéo dài nhiều năm. Khi kiểm tra, VKSND cấp trên xem xét toàn diện tài liệu, chứng cứ, tiến hành đối thoại với công dân, phân tích, ban hành kết luận có cơ sở. Từ đó đương sự chấp nhận kết quả xem xét, giải quyết, không tiếp tục khiếu nại.

    Đề cập đến một số tồn tại, hạn chế và nguyên nhân, ông Trí nói đến việc chưa đảm bảo thời hạn hoặc chưa thu thập, phân tích đầy đủ tài liệu, chứng cứ cho việc giải quyết, dẫn đến VKSND cấp trên phải hủy để giải quyết lại. Công tác kiểm sát chưa hiệu quả.

    Nguyên nhân của tồn tại, hạn chế được VKSND Tối cao quy về việc BLTTHS quy định thời hạn giải quyết khiếu nại rất ngắn, áp lực chuyên môn khiến nhiều đơn vị kiểm sát chưa thực hiện tốt nhiệm vụ và việc chỉ đạo, công tác nhân sự cũng có nhiều hạn chế.

    Trong hai khó khăn, vướng mắc, ông Trí đề cập đến việc một số công dân lợi dụng quyền khiếu nại, tố cáo hoặc do nhận thức pháp luật hạn chế nên liên tục gửi đơn và trực tiếp đến địa điểm tiếp công dân của VKSND Tối cao và một số VKSND tỉnh, TP lớn. “Không ít trường hợp do không được đáp ứng yêu cầu đã có hành vi quá khích, quay video, chụp ảnh… nhưng pháp luật chưa có quy định cụ thể về xử lý những trường hợp này, vì vậy công tác tiếp công dân, xử lý đơn của VKSND các cấp gặp khó khăn” – ông Trí cho hay.

    Các giải pháp mà VKSND Tối cao đề ra vẫn là tiếp tục chỉ đạo tăng cường trách nhiệm, tăng cường công tác kiểm sát trực tiếp, kiện toàn biên chế, tổ chức và đào tạo, bồi dưỡng cho cán bộ, công chức.

    Báo cáo của VKSND Tối cao kiến nghị Ủy ban Thường vụ Quốc hội tăng cường giám sát, kiến nghị Đảng, Nhà nước tăng cường nguồn lực cho ngành kiểm sát, trong đó có chính sách đãi ngộ cho những đơn vị, cán bộ tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Vai Trò, Trách Nhiệm Của Viện Kiểm Sát Trong Khởi Tố Vụ Án Hình Sự
  • Kêu Cứu Vì Bị Tung Ảnh Khỏa Thân: Có Căn Cứ Khởi Tố Vụ Tàng Trữ Súng
  • Có Được Thay Đổi Bổ Sung Quyết Định Khởi Tố Vụ Án Hình Sự?
  • Việc Thay Đổi Hoặc Bổ Sung Quyết Định Khởi Tố Vụ Án Hình Sự Được Quy Định Như Thế Nào?
  • Tư Vấn Thay Đổi Hoặc Bổ Sung Quyết Định Khởi Tố Vụ Án Hình Sự
  • Khởi Tố Vụ Án Hình Sự

    --- Bài mới hơn ---

  • Hoàn Thiện Thủ Tục Khởi Tố Vụ Án, Khởi Tố Bị Can Trong Tố Tụng Hình Sự Đáp Ứng Yêu Cầu Cải Cách Tư Pháp
  • Phân Biệt Quy Định Khởi Tố Vụ Án Hình Sự Và Khởi Tố Bị Can
  • Quyết Định Ly Thân Hay Ly Hôn
  • Bất Động Sản Chơn Thành “Hưởng Lợi” Khi Chơn Thành Chính Thức Lên Thị Xã
  • Tải Mẫu Quyết Định Tăng Lương 2022
  • I. Căn cứ khởi tố vụ án hình sự

    Chỉ được khởi tố vụ án khi đã xác định có dấu hiệu tội phạm. Việc xác định dấu hiệu tội phạm dựa trên những căn cứ:

    1. Tố giác của cá nhân;

    2. Tin báo của cơ quan, tổ chức, cá nhân;

    3. Tin báo trên phương tiện thông tin đại chúng;

    4. Kiến nghị khởi tố của cơ quan nhà nước;

    5. Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trực tiếp phát hiện dấu hiệu tội phạm;

    6. Người phạm tội tự thú.

    II. Khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại

    1. Chỉ được khởi tố vụ án hình sự về tội phạm quy định tại khoản 1 các điều 134 (tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác), 135 (Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh),136 (Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc do vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội), 138 (Tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác), 139 (Tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính), 141 (Tội hiếp dâm), 143 (Tội cưỡng dâm), 155 (Tội làm nhục người khác), 156 (Tội vu khống) và 226 (Tội xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp) của Bộ luật hình sự khi có yêu cầu của bị hại hoặc người đại diện của bị hại là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất hoặc đã chết.

    2. Trường hợp người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu thì vụ án phải được đình chỉ, trừ trường hợp có căn cứ xác định người đã yêu cầu rút yêu cầu khởi tố trái với ý muốn của họ do bị ép buộc, cưỡng bức thì tuy người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án vẫn tiếp tục tiến hành tố tụng đối với vụ án.

    3. Bị hại hoặc người đại diện của bị hại đã rút yêu cầu khởi tố thì không có quyền yêu cầu lại, trừ trường hợp rút yêu cầu do bị ép buộc, cưỡng bức.

    III. Căn cứ không khởi tố vụ án hình sự

    Không được khởi tố vụ án hình sự khi có một trong các căn cứ sau:

    1. Không có sự việc phạm tội;

    2. Hành vi không cấu thành tội phạm;

    3. Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự;

    4. Người mà hành vi phạm tội của họ đã có bản án hoặc quyết định đình chỉ vụ án có hiệu lực pháp luật;

    5. Đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự;

    6. Tội phạm đã được đại xá;

    7. Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã chết, trừ trường hợp cần tái thẩm đối với người khác;

    8. Tội phạm khởi tố theo yêu cầu của người bị hại mà bị hại hoặc người đại diện của bị hại không yêu cầu khởi tố.

    IV. Thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự

    1. Cơ quan điều tra quyết định khởi tố vụ án hình sự đối với tất cả vụ việc có dấu hiệu tội phạm, trừ những vụ việc do cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử đang thụ lý, giải quyết quy định tại các khoản 2, 3 và 4 Điều này.

    2. Khi phát hiện hành vi có dấu hiệu tội phạm trong lĩnh vực và địa bàn quản lý của mình thì Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển, Kiểm ngư và cơ quan khác của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra được tiến hành khởi tố vụ án hình sự.

    3. Viện kiểm sát ra quyết định khởi tố vụ án hình sự trong trường hợp:

    a) Viện kiểm sát hủy bỏ quyết định không khởi tố vụ án hình sự của Cơ quan điều tra, cơ quan được  giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra;

    b) Viện kiểm sát trực tiếp giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố;

    c) Viện kiểm sát trực tiếp phát hiện dấu hiệu tội phạm hoặc theo yêu cầu khởi tố của Hội đồng xét xử.

    4. Hội đồng xét xử ra quyết định khởi tố hoặc yêu cầu Viện kiểm sát khởi tố vụ án hình sự nếu qua việc  xét xử tại phiên tòa mà phát hiện có việc bỏ lọt tội phạm

    --- Bài cũ hơn ---

  • Quy Trình Xử Lý Kỷ Luật Đảng Viên
  • Steve Jobs: Định Nghiệp Như Những Dấu Chấm
  • Thông Báo Hủy Giấy Chứng Nhận
  • Các Quyết Định Về Việc Hủy Giấy Chứng Nhận Quyền Sử Dụng Đất
  • Quy Định Và Thủ Tục Giải Thể Chi Nhánh Hạch Toán Phụ Thuộc
  • Khiếu Nại Quyết Định Không Khởi Tố Vụ Án Hình Sự Ở Đâu?

    --- Bài mới hơn ---

  • Căn Cứ Không Khởi Tố Vụ Án Hình Sự Theo Quy Định Bộ Luật Tố Tụng Hình Sự Năm 2022
  • Khiếu Nại Quyết Định Không Khởi Tố Vụ Án Hình Sự
  • Trao Đổi: “về Kiểm Sát Việc Ra Quyết Định Không Khởi Tố Vụ Án Hình Sự”
  • Viện Kiểm Sát Ra Quyết Định Khởi Tố Vụ Án Hình Sự Trong Những Trường Hợp Nào?
  • Tư Vấn Thay Đổi Hoặc Bổ Sung Quyết Định Khởi Tố Vụ Án Hình Sự
  • Câu hỏi của bạn, chúng tôi trả lời như sau:

    Quyết định không khởi tố vụ án mà bạn nhận được là một quyết định tố tụng, do Cơ quan điều tra của Công an thành phố H ban hành.

    Theo quy định tại khoản 2 Điều 158, khoản 1 Điều 469 và khoản 1 Điều 470 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2022 thì bạn có quyền khiếu nại quyết định đó khi có căn cứ cho rằng quyết định đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình.

    Thời hiệu khiếu nại là 15 ngày kể từ ngày bạn nhận được quyết định không khởi tố vụ án. Trường hợp vì lý do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan mà bạn không thực hiện được quyền khiếu nại theo đúng thời hiệu thì thời gian có lý do bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan đó không tính vào thời hiệu khiếu nại (Điều 471 BLTTHS năm 2022).

    Quyết định không khởi tố vụ án theo bạn trình bày là do Thủ trưởng Cơ quan điều tra Công an thành phố H ký nên theo quy định tại khoản 1 Điều 475 BLTTHS năm 2022, thì việc khiếu nại của bạn đối với quyết định này sẽ do Viện trưởng VKSND thành phố H giải quyết trong thời hạn 07 ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại.

    Nếu không đồng ý với quyết định giải quyết của Viện trưởng VKSND thành phố H thì trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết khiếu nại, bạn có quyền khiếu nại đến Viện trưởng VKSND tỉnh T. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được khiếu nại, Viện trưởng VKSND tỉnh T sẽ xem xét, giải quyết. Quyết định giải quyết của Viện trưởng VKSND tỉnh T là quyết định có hiệu lực pháp luật, bạn phải chấp hành mà không có quyền khiếu nại tiếp.

    Như vậy, trước tiên, bạn có thể khiếu nại quyết định không khởi tố vụ án của Thủ trưởng Cơ quan điều tra Công an thành phố H với VKSND thành phố H để được xem xét, giải quyết.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Quy Định Mới Về Quy Trình Khởi Tố Bị Can?
  • Khởi Tố Bị Can Là Gì?
  • Hưỡng Dẫn Về Khởi Tố Bị Can, Thay Đổi Hoặc Bổ Sung Quyết Định Khởi Tố Bị Can Trong Tố Tụng Hình Sự
  • Cần Có Văn Bản Hướng Dẫn Thống Nhất Về Tư Cách Bị Can Theo Quy Định Của Bltths
  • Quan Hệ Phối Hợp, Kiểm Soát Giữa Cơ Quan Điều Tra Và Viện Kiểm Sát Trong Khởi Tố, Điều Tra Vụ Án Hình Sự
  • Công An Huyện Đã Hủy Quyết Định Không Khởi Tố Vụ Án Hình Sự

    --- Bài mới hơn ---

  • Bàn Về Quy Định Thay Đổi Quyết Định Khởi Tố Vụ Án Hình Sự Và Thay Đổi Quyết Định Khởi Tố Bị Can
  • Thành Lập Ban Quản Lý Xây Dựng Ntm Cấp Xã
  • Kiện Toàn Bcđ Chương Trình Mtqg Xây Dựng Nông Thôn Mới
  • Thủ Tướng Chính Phủ Quyết Định Kiện Toàn Ban Chỉ Đạo Chương Trình Mục Tiêu Quốc Gia Xây Dựng Nông Thôn Mới
  • Quyết Định Về Việc Kiện Toàn Ban Chỉ Đạo Phong Trào “toàn Dân Đoàn Kết Xây Dựng Đời Sống Văn Hóa” Tỉnh Hà Nam
  • Công an huyện đã hủy quyết định

    Công an huyện đã hủy quyết định không khởi tố vụ án hình sự

    BT- Vào năm 2022, ông Hà Minh Thành, thị xã Quảng Trị, tỉnh Quảng Trị đã điều khiển xe ô tô biển số 51C-873.51 của Công ty TNHH DVVT XNK Bảo Thiên Phúc tại TP. Hồ Chí Minh theo hướng từ Khánh Hòa vào TP. Hồ Chí Minh. Khi xe lưu thông đến Km 1690 + 200 m, quốc lộ 1A thuộc thôn 4, xã Hàm Đức, Hàm Thuận Bắc, ông Thành đã điều khiển xe chạy ở làn đường giữa, với tốc độ từ 45 – 48 km/giờ. Cùng thời điểm này có ông Lê Thành Năm, xã Thuận Hòa điều khiển xe mô tô 86 H2-4570 chở vợ phía sau là bà Bùi Thị Tư theo hướng Phan Thiết – Phan Rang thiếu quan sát xe chạy ngược chiều đã rẽ trái chuyển hướng qua đường. Lúc ông Năm điều khiển xe mô tô chuyển hướng chạy vào làn đường nơi xe ô tô biển số 51C-873.51 đang lưu thông, với khoảng cách của 2 xe chừng 25 – 30 m, ông Thành xử lý đạp phanh nhưng không kịp dẫn đến xe ô tô 51 C-873.51 va chạm vào xe mô tô 86 H2-4570 xảy ra tai nạn. Hậu quả ông Năm, bà Tư bị thương nặng đưa đi cấp cứu, nhưng ông Năm chết trên đường đi cấp cứu, còn bà Tư chết tại Bệnh viện đa khoa Bình Thuận.

    Sau khi tai nạn xảy ra, Công an huyện đã tiến hành xác minh đo đạc hiện trường, tìm hiểu nguyên nhân vụ tai nạn giao thông giữa 2 xe. Viện Kiểm sát nhân dân huyện và Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện đã tổ chức cuộc họp thống nhất nguyên nhân xảy ra tai nạn giao thông tại Km 1690 + 200 m quốc lộ 1A thuộc thôn 4, xã Hàm Đức là do lỗi hỗn hợp. Trong đó nguyên nhân chính là do ông Năm điều khiển xe mô tô chở vợ phía sau là bà Tư khi qua đường thiếu chú ý quan sát, không nhường đường cho xe ô tô đi ngược chiều, nên đã vi phạm theo quy định tại khoản 2, Điều 15 Luật Giao thông đường bộ. Đối với ông Thành điều khiển xe ô tô không chú ý giảm tốc độ khi lưu thông vào đoạn đường có biển cảnh báo nguy hiểm là vi phạm theo quy định tại khoản 1, Điều 5, Thông tư số 91/TT-BGTVT, ngày 31/12/2015 của Bộ Giao thông Vận tải, nhưng không phải nguyên nhân chính dẫn đến tai nạn giao thông. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện đã ra Quyết định số 65 không khởi tố vụ án hình sự vụ tai nạn giao thông đường bộ. Gia đình ông Năm đã làm đơn khiếu nại gửi các ngành chức năng.

    Qua rà soát, xem xét hồ sơ vụ án, Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh đã có văn bản đề nghị Viện Kiểm sát nhân dân huyện hủy Quyết định số 65 không khởi tố vụ án hình sự, với lý do qua nghiên cứu hồ sơ vụ tai nạn giao thông nhận thấy nguyên nhân gây ra tai nạn là do lỗi hỗn hợp của ông Thành và ông Năm. Trong đó ông Năm là người điều khiển xe mô tô 86 H2-4570 chuyển hướng rẽ trái nhưng không quan sát xe chạy ngược chiều và không đảm bảo an toàn, nên vi phạm tại khoản 2, Điều 15, Luật Giao thông đường bộ, nhưng ông Năm đã chết. Ông Thành là người điều khiển xe ô tô 51 C-873.51 thiếu chú ý quan sát khi đi đến ngã ba đoạn đường có biển cảnh báo nguy hiểm, nhưng ông Thành không giảm tốc độ đến mức an toàn mà vẫn điều khiển xe với tốc độ từ 45 – 48 km/giờ. Bởi vậy khi phát hiện thấy xe mô tô của ông Năm rẽ trái qua đến làn đường giữa bên phải thì ông Thành không kịp lách tránh hoặc dừng lại dẫn đến xảy ra tai nạn giao thông. Hành vi của ông Thành đã phạm vào khoản 1, Điều 5, Thông tư số 91, ngày 31/12/2015 của Bộ Giao thông Vận tải. Hậu quả vụ tai nạn đã làm 2 người chết, nên cần phải khởi tố về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” để điều tra xử lý theo quy định của pháp luật.

    Ngày 16/4/2019, Viện Kiểm sát nhân dân huyện đã có văn bản yêu cầu Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện hủy Quyết định số 65 không khởi tố vụ án hình sự vụ tai nạn giao thông. Ngày 8/5/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện đã ra quyết định hủy Quyết định số 65 không khởi tố vụ án hình sự và ra Quyết định số 57 khởi tố vụ án hình sự vụ tai nạn giao thông đường bộ. Đến ngày 30/10/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện đã ra quyết định khởi tố bị can Hà Minh Thành về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Nhưng bị can Hà Minh Thành đã bỏ trốn, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện đã ra quyết định truy nã và khi nào bắt được bị can Thành sẽ đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.

    Khánh Huyền

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hủy Hàng Chục Quyết Định Không Khởi Tố Vụ Án Hình Sự
  • Vai Trò, Trách Nhiệm Của Viện Kiểm Sát Trong Khởi Tố Vụ Án Hình Sự
  • Kêu Cứu Vì Bị Tung Ảnh Khỏa Thân: Có Căn Cứ Khởi Tố Vụ Tàng Trữ Súng
  • Có Được Thay Đổi Bổ Sung Quyết Định Khởi Tố Vụ Án Hình Sự?
  • Việc Thay Đổi Hoặc Bổ Sung Quyết Định Khởi Tố Vụ Án Hình Sự Được Quy Định Như Thế Nào?
  • Khi Nào Quyết Định Khởi Tố Vụ Án Hình Sự?

    --- Bài mới hơn ---

  • Thời Hạn Khởi Tố Vụ Án Hình Sự Theo Quy Định Của Pháp Luật ?
  • Khởi Tố Bị Can Theo Quy Định Luật Hình Sự
  • Những Căn Cứ Không Khởi Tố Vụ Án Hình Sự?
  • Có Những Căn Cứ Không Khởi Tố Vụ Án Hình Sự Nào?
  • Không Khởi Tố Vụ Án Hình Sự Theo Quy Định Pháp Luật
  • Điều 143 Bộ luật tố tụng hình sự 2022 quy định cụ thể về căn cứ khởi tố vụ án hình sự như sau:

    Chỉ được khởi tố vụ án khi đã xác định có dấu hiệu tội phạm. Việc xác định dấu hiệu tội phạm dựa trên những căn cứ:

    2. Tin báo của cơ quan, tổ chức, cá nhân;

    3. Tin báo trên phương tiện thông tin đại chúng;

    4. Kiến nghị khởi tố của cơ quan nhà nước;

    5. Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trực tiếp phát hiện dấu hiệu tội phạm;

    Trong đó, dấu hiệu tội phạm được hiểu là những dấu hiệu của hành vi phạm tội được quy định trong bộ luật hình sự, đó là dấu hiệu của những hành vi có tính chất nguy hiểm đối với xã hội. Những dấu hiệu đó có thể là một hành vi trái pháp luật hoặc một thiệt hại cụ thể nào đó và có thể được chia thành 3 nhóm:

    Thứ nhất, nhóm các dấu hiệu tội phạm trong tin tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố. Đây là những căn cứ khởi tố vụ án hình sự dựa trên sự đóng góp, giúp đỡ của các cá nhân, tổ chức cơ quan đoàn thể trong xã hội, cơ quan có thẩm quyền có trách nhiệm tiếp nhận và xác minh tính chính xác của dấu hiệu phạm tội được cung cấp trên trước khi ra quyết định có khởi tố vụ án hình sự hay không?Vấn đề này đã được quy định khá chi tiết tại các điều 144 và điều 145 Bộ luật tố tụng hình sự 2022:

    Điều 144. Tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố

    1. Tố giác về tội phạm là việc cá nhân phát hiện và tố cáo hành vi có dấu hiệu tội phạm với cơ quan có thẩm quyền.

    2. Tin báo về tội phạm là thông tin về vụ việc có dấu hiệu tội phạm do cơ quan, tổ chức, cá nhân thông báo với cơ quan có thẩm quyền hoặc thông tin về tội phạm trên phương tiện thông tin đại chúng.

    4. Tố giác, tin báo về tội phạm có thể bằng lời hoặc bằng văn bản.

    5. Người nào cố ý tố giác, báo tin về tội phạm sai sự thật thì tuỳ tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của luật.

    Điều 145.Trách nhiệm tiếp nhận và thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm,kiến nghị khởi tố.

    1. Mọi tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố phải được tiếp nhận đầy đủ, giải quyết kịp thời. Cơ quan, tổ chức có trách nhiệm tiếp nhận không được từ chối tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố.

    2. Cơ quan, tổ chức có trách nhiệm tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố gồm:

    a) Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố;

    b) Cơ quan, tổ chức khác tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm

    3. Thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố:

    a) Cơ quan điều tra giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố theo thẩm quyền điều tra của mình;

    b) Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm theo thẩm quyền điều tra của mình;

    c) Viện kiểm sát giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố trong trường hợp phát hiện Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong hoạt động kiểm tra, xác minh tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố hoặc có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm mà Viện kiểm sát đã yêu cầu bằng văn bản nhưng không được khắc phục.

    4. Cơ quan có thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố có trách nhiệm thông báo kết quả giải quyết cho cá nhân, cơ quan, tổ chức đã tố giác, báo tin về tội phạm, kiến nghị khởi tố.

    Thứ hai, nhóm dấu hiệu tội phạm do cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trực tiếp phát hiện được quy định tại điều 151 Bộ luật tố tụng hình sự 2022:

    Điều 151. Giải quyết vụ việc có dấu hiệu tội phạm do cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trực tiếp phát hiện

    Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trực tiếp phát hiện dấu hiệu tội phạm thì quyết định việc khởi tố vụ án theo thẩm quyền hoặc chuyển cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền giải quyết.”

    Đây thường là nhưng dấu hiệu tội phạm mà cơ quan tiến hành tố tụng trực tiếp phát hiện ra trong khi thực hiện nhiệm vụ. Đó có thể là những thông tin về một hành vi tội phạm phát hiện trong quá trình tìm hiểu các tài liệu, chứng cứ hoặc thông tin về một vụ việc khác hoặc thông qua lời khai của nhân chứng hay bị can, bị cáo trong một vụ án khác.

    Thứ ba, dấu hiệu tội phạm thu được do người phạm tội đầu thú hoặc tự thú. Trong trường hợp này, người phạm tội tự mình đến cơ quan có thẩm quyền trình bày về những hành vi phạm tội của mình. Trên cơ sở những thông tin đó, cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền sẽ xác minh, đối chiếu trước khi xem xét ra quyết định khởi tố vụ án hình sự đối với người đó và hành vi của họ. Điều 152 Bộ luật tố tụng hình sự 2022 quy định cụ thể về vấn đề này như sau:

    Điều 152. Người phạm tội tự thú, đầu thú

    1. Khi người phạm tội đến tự thú, đầu thú, cơ quan, tổ chức tiếp nhận phải lập biên bản ghi rõ họ tên, tuổi, nghề nghiệp, chỗ ở và lời khai của người tự thú, đầu thú. Cơ quan, tổ chức tiếp nhận người phạm tội tự thú, đầu thú có trách nhiệm thông báo ngay cho Cơ quan điều tra hoặc Viện kiểm sát.

    2. Trường hợp xác định tội phạm do người tự thú, đầu thú thực hiện không thuộc thẩm quyền điều tra của mình thì Cơ quan điều tra tiếp nhận người tự thú, đầu thú phải thông báo ngay cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền để tiếp nhận, giải quyết.

    3. Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi tiếp nhận người phạm tội tự thú, đầu thú, Cơ quan điều tra có thẩm quyền phải thông báo bằng văn bản cho Viện kiểm sát cùng cấp.”

    Tuy nhiên, không phải trong mọi trường hợp có các dấu hiệu tội phạm thì cơ quan tiến hành tố tụng đều ra quyết định khởi tố vụ án hình sự bởi khoản 1 điều 155 Bộ luật tố tụng hình sự 2022 về khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại quy định:

    1. Chỉ được khởi tố vụ án hình sự về tội phạm quy định tại khoản 1 các điều 134, 135, 136, 138, 139, 141, 143, 155, 156 và 226 của Bộ luật hình sự khi có yêu cầu của bị hại hoặc người đại diện của bị hại là người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất hoặc đã chết.

    Theo đó, nhóm các tội phạm chỉ có thể được khởi tố theo yêu cầu của người bị hại là những tội như: cố ý gây thương tích hoặc tổn hại về sức khỏe cho người khác (điều 134), cố ý gây thương tích hoặc tổn hại về sức khỏe cho người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh (điều 135), tội hiếp dâm (điều 141), cưỡng dâm (điều 143)…Đây là các tội phạm mà việc khởi tố vụ án hình sự sẽ có thể có những ảnh hưởng lớn đến tâm sinh lý, cũng như danh dự, nhân phẩm và những lợi ích của người bị hại nên việc khởi tố chỉ diễn ra khi có yêu cầu của người bị hại.

    Từ những phân tích trên có thể thấy, khởi tố vụ án hình sự là một hoạt động có ý nghĩa lớn đối với cả quá trình tố tụng hình sự. Về nguyên tắc, quyết định khởi tố vụ án hình sự được ban hành khi có các dấu hiệu của tội phạm, tuy nhiên có những trường hợp vụ án hình sự chỉ được khởi tố khi có yêu cầu khởi tố của người bị hại.

    Trong trường hợp cần tư vấn thêm, bạn có thể liên hệ với Luật sư của Luật Hoàng Phi qua TỔNG ĐÀI để được tư vấn.

    Câu hỏi: Gây tai nạn giao thông đường bộ có bị khởi tố và bồi thường thiệt hại?

    Kính thưa Luật sư. Chồng tôi lái xe ô tô, trong lúc vượt xe thì lấn sang phần đường của xe khác và gây tai nạn cho một người đi xe máy. Người đi xe máy bị trật khớp cổ chân và gãy xương đùi. Sau đó, gia đình tôi đã bồi thường 15 triệu đồng và chăm sóc cho nạn nhân khi đi mổ nhưng giờ gia đình họ đưa ra những yêu cầu quá đáng quá đòi gia đình tôi bồi thường nhiều hơn. Tôi xin hỏi trong trường hợp này gia đình tôi bồi thường bao nhiêu là hợp lý và chồng tôi có bị khởi tố hình sự không?

    Theo thông tin bạn cung cấp thì chồng bạn khi lái xe ô tô và có vượt xe đã lấn sang phần đường của xe máy, gây tổn thương sức khỏe của người lái xe máy.

    – Căn cứ quy định tại Điều 14 Luật giao thông đường bộ 2008 thì khi vượt xe người điều khiển xe xin vượt phải thực hiện theo các quy định sau:

    + Có báo hiệu bằng đèn hoặc còi; trong đô thị và khu đông dân cư từ 22h đến 5h chỉ được báo hiệu xin vượt bằng đèn.

    + Chỉ được vượt khi không có chướng ngại vật phía trước, không có xe chạy ngược chiều trong đoạn đường định vượt, xe chạy trước không có tín hiệu vượt xe khác và đã tránh về bên phải.

    + Khi có xe xin vượt, nếu đủ điều kiện an toàn, người điều khiển phương tiện phía trước phải giảm tốc độ, đi sát về bên phải của phần đường xe chạy cho đến khi xe sau đã vượt qua, không được gây trở ngại đối với xe xin vượt.

    + Khi vượt, các xe phải vượt về bên trái, trừ các trường hợp sau đây thì được phép vượt bên phải: Khi xe phía trước có tín hiệu rẽ trái hoặc đang rẽ trái; Khi xe điện đang chạy giữa đường; Khi xe chuyên dùng đang làm việc trên đường mà không thể vượt bên trái được.

    – Các trường hợp không được vượt xe:

    Theo quy định, không được vượt xe khi có một trong các trường hợp sau đây:

    + Không bảo đảm các quy định: chỉ được vượt khi không có chướng ngại vật phía trước, không có xe chạy ngược chiều trong đoạn đường định vượt, xe chạy trước không có tín hiệu vượt xe khác và đã tránh về bên phải;

    + Trên cầu hẹp có một làn xe;

    + Đường vòng, đầu dốc và các vị trí có tầm nhìn hạn chế;

    + Nơi đường giao nhau, đường bộ giao nhau cùng mức với đường sắt;

    + Khi điều kiện thời tiết hoặc đường không bảo đảm an toàn cho việc vượt;

    + Xe được quyền ưu tiên đang phát tín hiệu ưu tiên đi làm nhiệm vụ.

    Như vậy, nếu như chồng bạn không đảm bảo an toàn khi vượt xe thì chồng bạn đã có hành vi vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ và gây thiệt hại đến sức khỏe người khác, theo đó:

    – Căn cứ Điều 260 Bộ Luật Hình sự 2022 sửa đổi bổ sung năm 2022 quy định tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ:

    1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

    Còn về mức bồi thường thiệt hại hợp lý pháp luật dân sự vẫn tôn trọng sự thỏa thuận giữa các bên, trong trường hợp có tranh chấp có thể yêu cầu Tòa án giải quyết. Tuy nhiên, bạn có thể tham khảo quy định về bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm nếu vẫn muốn thỏa thuận nhưng theo mức hợp lý hơn trong trường hợp của mình. Điều 590 Bộ luật dân sự 2022 quy định về các khoản bồi thường thiệt hại bao gồm:

    – Chi phí hợp lý cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và chức năng;

    – Thu nhập thực tế bị mất của người bị thiệt hại;

    – Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị, nếu người bị thiệt hại mất khả năng lao động cần có người thường xuyên chăm sóc thì phải bồi thường chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại;

    – Thiệt hại khác do luật quy định.

    Trong trường hợp cần tư vấn thêm, khách hàng có thể liên hệ với Luật sư của Luật Hoàng Phi qua TỔNG ĐÀI TƯ VẤN LUẬT MIỄN PHÍ 19006557 để được tư vấn.

    Tác giả

    Nguyễn Văn Phi

    --- Bài cũ hơn ---

  • Quy Định Về Tội Nhận Hối Lộ Trong Các Trường Hợp Thuộc Khoản 4 Điều 279 Bộ Luật Hình Sự
  • Điều 354 Khoản 4 Bộ Luật Hình Sự 2022
  • Khoản 4 Điều 111 Bộ Luật Hình Sự 1999
  • Rút Ngắn Thời Gian Thử Thách Án Treo Khoản 4 Bộ Luật Hình Sự
  • Khoản 4 Điều 251 Về Tội Mua Bán Trái Phép Chất Ma Túy
  • Quyết Định Khởi Tố Vụ Án Hình Sự Là Gì?

    --- Bài mới hơn ---

  • Kê Biên Xử Lý Tài Sản Của Người Phải Thi Hành Án Đã Chuyển Quyền Sở Hữu Kể Từ Thời Điểm Có Bản Án, Quyết Định Sơ Thẩm
  • Marketing Căn Bản : Hệ Thống Và Nghiên Cứu Marketing
  • Marketing Là Gì? 10 Công Việc Bộ Phận Marketing Làm Mỗi Ngày
  • Tìm Hiểu Nội Dung Điều 231 Về “Truy Nã Bị Can” Tại Bltths Năm 2022 – Công An Tỉnh Quảng Bình
  • Lập Kế Hoạch Tác Nghiệp Là Gì? Định Hướng Phát Triển Cho Doanh Nghiệp
  • Quyết định khởi tố vụ án hình sự tại Bộ luật tố tụng hình sự quy định như sau:

    – Trong đó, dấu hiệu tội phạm được hiểu là những dấu hiệu của hành vi phạm tội được quy định trong bộ luật hình sự, đó là dấu hiệu của những hành vi có tính chất nguy hiểm đối với xã hội. Những dấu hiệu đó có thể là một hành vi trái pháp luật hoặc một thiệt hại cụ thể nào đó và có thể được chia thành 3 nhóm:

    + Một là, nhóm các dấu hiệu tội phạm trong tin tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố. Đây là những căn cứ khởi tố vụ án hình sự dựa trên sự đóng góp, giúp đỡ của các cá nhân, tổ chức cơ quan đoàn thể trong xã hội, cơ quan có thẩm quyền có trách nhiệm tiếp nhận và xác minh tính chính xác của dấu hiệu phạm tội được cung cấp trên trước khi ra quyết định có khởi tố vụ án hình sự hay không? Vấn đề này đã được quy định khá chi tiết tại các Điều 144 và điều 145 Bộ luật tố tụng hình sự 2022.

    + Hai là, nhóm dấu hiệu tội phạm do cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trực tiếp phát hiện được quy định tại Điều 151 Bộ luật tố tụng hình sự 2022.

    + Ba là, dấu hiệu tội phạm thu được do người phạm tội đầu thú hoặc tự thú. Trong trường hợp này, người phạm tội tự mình đến cơ quan có thẩm quyền trình bày về những hành vi phạm tội của mình. Trên cơ sở những thông tin đó, cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền sẽ xác minh, đối chiếu trước khi xem xét ra quyết định khởi tố vụ án hình sự đối với người đó và hành vi của họ được quy định tại Điều 152 Bộ luật tố tụng hình sự 2022.

    Văn phòng

    Luật sư Thủ Đô chuyên cung cấp các dịch vụ pháp lý về vấn đề Hôn nhân và gia

    đình, Doanh nghiệp, Đất đai, Hình sự… Hãy gọi cho Văn phòng Luật sư Thủ Đô

    theo hotline: 1900 6197 để được tư vấn và giải đáp thắc mắc của bạn!

    --- Bài cũ hơn ---

  • Kháng Nguyên Là Gì? Những Đặc Tính Cơ Bản Của Kháng Nguyên Ra Sao?
  • Quyết Định Về Việc Kiện Toàn Hội Đồng Khoa Học Bệnh Viện Năm 2022
  • Hiểu Đúng Quy Trình Quyết Định Mua Hàng Của Khách Hàng
  • Định Giá Theo Chi Phí Và Định Giá Theo Giá Trị
  • 11+ Công Thức Định Giá Cổ Phiếu: Đơn Giản & Siêu Hiệu Quả – Cophieux
  • Những Căn Cứ Không Khởi Tố Vụ Án Hình Sự?

    --- Bài mới hơn ---

  • Có Những Căn Cứ Không Khởi Tố Vụ Án Hình Sự Nào?
  • Không Khởi Tố Vụ Án Hình Sự Theo Quy Định Pháp Luật
  • Các Căn Cứ Để Khởi Tố Vụ Án Hình Sự
  • Khởi Tố Vụ Án Theo Yêu Cầu Của Bị Hại Theo Quy Định Luật Tố Tụng Hình Sự Mới
  • Bộ Luật Hình Sự 2022
  • 1. Khái niệm căn cứ không khởi tố vụ án hình sự theo quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự năm 2022

    Theo quy định tại Điều 157 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2022 như sau:

    – Những quy định trong Điều 157 là sự kết hợp các quy phạm của Bộ luật hình sự quy định các trường hợp không phải là tội phạm với các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về những yếu tố loại trừ căn cứ khởi tố vụ án. Những quy định này là cơ sở pháp lý để các cơ quan có thẩm quyền ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự. Theo Điều luật quy định, khi có một trong những căn cứ quy định tại Điều 107 Bộ luật tố tụng hình sự thì không được khởi tố vụ án hình sự mà cơ quan có thẩm quyền phải ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự.

    – Điều luật quy định bảy căn cứ không được khởi tố vụ án hình sự. Một trong bảy căn cứ đó là độc lập và chỉ cần có một trong bảy căn cứ đó, cơ quan, người tiến hành tố tụng có thẩm quyền phải ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự. Bảy căn cứ đó là:

    + Không có sự việc phạm tội.

    + Hành vi không cấu thành tội phạm.

    Trường hợp này được hiểu là đã có hành vi nguy hiểm cho xã hội xảy ra, nhưng hành vi đó không có đủ những dấu hiệu cấu thành một tội phạm cụ thể nào quy định trong Bộ luật hình sự. Về mặt hình thức có thể có những hành vi có một số dấu hiệu giống như tội phạm, thậm chí có một số dấu hiệu đã được quy định trong cấu thành tội phạm cụ thể nào đó trong Bộ luật hình sự, nhưng không đầy đủ. Để xác định là có tội phạm cụ thể nào đó, hành vi được xem xét phải có đầy đủ các dấu hiệu của cấu thành một tội phạm trong một điều luật cụ thể của Bộ luật hình sự hiện hành. Trong thực tế, có thể những hành vi giống như tội phạm như thế đã được thực hiện một cách không có lỗi, hoặc có hậu quả xấu gây ra cho xã hội nhưng không đáng kể, hoặc số lượng tài sản chiếm đoạt, hay thiệt hại chưa đạt đến mức điều luật của Bộ luật hình sự quy định về tội phạm đó. Căn cứ vào các quy định của Bộ luật hình sự thì hành vi tuy về hình thức có dấu hiệu cấu thành tội phạm cụ thể nhưng tính chất mức độ nguy hiểm không đáng kể thì không phải là tội phạm. Hành vi đã có những tình tiết loại trừ tính nguy hiểm cho xã hội như sự kiện bất ngờ, phòng vệ chính đáng, tình thế cấp thiết, thi hành mệnh lệnh, bắt giữ người phạm tội, những rủi ro trong nghiên cứu khoa học… thì không thể bị khởi tố về hình sự.

    Tóm lại, khi mà hành vi hoặc là không có lỗi, hoặc là gây thiệt hại hoặc đe doạ gây thiệt hại cho xã hội không đáng kể; hoặc là hành vi được thực hiện không phải bởi những chủ thể mà Bộ luật hình sự quy định có thể là chủ thể của tội phạm đó, hoặc đã có những tình tiết loại trừ tính chất tội phạm của hành vi, thì có căn cứ để không khởi tố vụ án hình sự.

    + Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự

    Tuổi chịu trách nhiệm hình sự của một người là căn cứ quan trọng để khởi tố về hình sự đối với hành vi của họ và truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người đó. Theo quy định tại Điều 12 của Bộ luật hình sự 2022, người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm; người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Như vậy chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự được hiểu chính xác là chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự đối với những loại tội phạm cụ thể.

    Theo quy định tại Điều 157 của Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 12 của Bộ luật hình sự hiện hành, khi hành vi nguy hiểm cho xã hội do người chưa đủ 14 tuổi thực hiện là có căn cứ không được khởi tố vụ án hình sự.

    Cũng theo quy định tại các điều luật vừa nêu, nếu hành vi nguy hiểm cho xã hội do người chưa đủ 16 tuổi thực hiện mà hành vi đó không phải là tội phạm rất nghiêm trọng, tức là chưa đến mức gây nguy hại rất lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt quy định đối với hành vi phạm tội ấy là đến mười lăm năm tù, thì cho dù hành vi đó có được thực hiện một cách cô ý, cũng có căn cứ đê không khởi tố vụ án hình sự.

    Người chưa đủ 16 tuổi, có hành vi gây nguy hại rất lớn cho xã hội, được quy định trong Bộ luật hình sự là tội phạm rất nghiêm trọng mà mức cao nhất của khung hình phạt quy định đối với hành vi phạm tội ấy là đến mười lăm năm tù, nhưng đó là hành vi được thực hiện một cách vô ý, thì cũng có căn cứ để không khởi tố vụ án hình sự.

    Tuổi của người chịu trách nhiệm hình sự được khẳng định trên cơ sở giấy khai sinh (bản gốc), sổ đăng ký khai sinh và các bằng chứng xác thực khác. Các giấy tờ phản ánh ngày sinh của người đang bị xem xét vấn đề truy cứu trách nhiệm hình sự phải đủ độ tin cậy. Nếu có nghi ngờ thì phải trưng cầu giám định về tuổi.

    + Người mà hành vi phạm tội của họ đã có bản án hoặc quyết định đình chỉ vụ án đã có hiệu lực pháp luật.

    Hành vi phạm tội của một người sau khi đã có bản án có hiệu lưc của Toà án tức là đã được phán quyết. Khi hành vi của một người đã được Toà án nhân danh Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam phán quyết và bản án đó đã có hiệu lực pháp luật, thì cũng có nghĩa là công lý về vấn đề và sự kiện pháp lý làm phát sinh các quan hệ tố tụng hình sự ban đầu đã được xác lập. Đó là căn cứ để không khởi tố vụ án hình sự.

    Quyết định đình chỉ vụ án có thể là văn bản của Viện kiểm sát hoặc Toà án nhằm chấm dứt việc tiến hành tố tụng đối với vụ án hình sự.

    Trong quá trình kiểm sát việc tuân theo pháp luật đối với các hoạt động điều tra, truy tố, xét xử Viện kiểm sát phải quyết định việc đình chỉ vụ án khi có đủ căn cứ luật định và quyết định đó có hiệu lực pháp luật ngay (Điều 248 Bộ luật tố tụng hình sự). Trong quá trình thực hiện các hoạt động tố tụng hình sự, thực tế có thể có nhận thức khác nhau từ phía các cơ quan có thẩm quyền tố tụng ngay từ giai đoạn khởi tố vụ án hình sự đối với sự kiện pháp lý đã diễn ra. Tuy nhiên, Viện kiểm sát là cơ quan thay mặt Nhà nước, kiểm sát việc tuân thủ pháp luật, và theo quy định của pháp luật, quyết định đúng thẩm quyền của Viện Kiểm sát đình chỉ đối với những hành vi áp dụng pháp luật của pháp nhân và thể nhân nào đó phải được thi hành nghiêm chỉnh. Quyết định của Viện Kiểm sát đình chỉ vụ án là căn cứ không khởi tố vụ án hình sự.

    Toà án là cơ quan xét xử của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, là cơ quan duy nhất được quyền ra bản án, nhân danh Nhà nước để quyết định bị cáo có phạm tội hay không, bị áp dụng hình phạt hay không, hình phạt gì và các biện pháp tư pháp. Thông qua nghiên cứu hồ sơ vụ án hoặc qua xét xử sơ thẩm mà Toà án đi đến quyết định đình chỉ vụ án đối với hành vi nào đó hoặc với những người nào đó (Điều 281 và 282, Bộ luật tố tụng hình sự) thì dù các cơ quan có thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự có nhất trí hay không và có phát hiện những tình tiết mới nào đó thì cũng phải thi hành. Và đó là căn cứ không khởi tố vụ án hình sự.

    Ngoài ra, thực tế có thể xảy ra những trường hợp mà người có hành vi phạm tội sau khi đã bị truy cứu trách nhiệm hình sự, và đã được xét xử, bản án đã có hiệu lực pháp luật, có thể phát sinh những sự đánh giá nào đó về chính hành vi đã được xét xử, cả những tình tiết tăng nặng hay giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nhưng tuyệt nhiên, điều đó không thể là căn cứ để phát sinh bất cứ những quan hệ tô’ tụng hình sự nào. Trường hợp khác, người có hành vi phạm tội sau khi đã bị truy cứu trách nhiệm hình sự, và đã được xét xử, bản án đã có hiệu lực pháp luật, do di trú đi nơi khác, sau thời gian dài, bị lãng quên, khi người này xuất hiện trở lại, có những người do nhầm lẫn mà tố giác họ về hành vi phạm tội trong quá khứ, thậm chí có thể nêu ra những tình tiết mới về hành vi đã được xét xử (mà không phải là một tội phạm khác) thì bản án đã có hiệu lực pháp luật chính là căn cứ không được khởi tố vụ án hình sự.

    Theo khoản 1, Điều 255, Bộ luật tố tụng hình sự, những bản án và quyết định đã có hiêu lực pháp luật, bao gồm: những bản án và quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm không bị kháng cáo kháng nghị theo trình tự phúc thẩm; những bản án và quyết định của Tòa án cấp phúc thẩm; những quyết định của Tòa án giám đốc thẩm hoặc tái thẩm.

    Ngoài những bản án, quyết định của Tòa phúc thẩm, hay Tòa Giám đốc thẩm hoặc tái thẩm có hiệu lực ngay, thì sau 15 ngày kể từ ngày Tòa sơ thẩm quyết định hoặc tuyên án, hoặc từ ngày bị cáo được giao bản án sơ thẩm, hoặc bản án sơ thẩm được niêm yết mà các chủ thể có quyền kháng cáo (quy định tại các khoản 1, 2, 6, Điều 331, Bộ luật tố tụng hình sự) không có kháng cáo, hoặc Viện kiểm sát trong vòng 15 ngày từ ngày tuyên án không kháng nghị, thì bản án hoặc quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật.

    Những quy định vừa nêu là nhằm tránh tình trạng một hành vi bị truy cứu trách nhiệm hình sự nhiều lần, hoặc việc truy cứu không đủ căn cứ pháp lý dẫn đến những vi phạm quyền con người, quyền công dân, thiệt hại cho Nhà nước và xã hội.

    + Đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự

    Điểm này hoàn toàn phù hợp và nhằm thực hiện quy định tại Điều 19, Bộ luật hình sự 2022 về thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự. Theo quy định hiện hành thì những người có hành vi phạm tội nhưng đã qua những thời hạn nhất định nếu không bị truy cứu trách nhiệm hình sự (không phải do người phạm tội cố tình trốn tránh và đã có lệnh truy nã) thì không bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người thực hiện hành vi phạm tội nào đó được hiểu là thời hạn mà quy định về truy cứu trách nhiệm hình sự đối với những hành vi phạm tội cụ thể của người đó còn hiệu lực áp dụng. Thời hạn đó được tính từ ngày phạm tội.

    Theo quy định tại Điều 19, Bộ luật hình sự 2022 thì không truy cứu trách nhiệm hình sự, đối với những trường hợp hành vi phạm tội đã chấm dứt ở thời điểm mà thời gian trôi qua đã là:

    – Năm năm đối với các tội phạm nghiêm trọng;

    – Mười năm đối với tội nghiêm trọng;

    – Mười lăm năm đối với các tội rất nghiêm trọng;

    – Hai mươi năm đối với các tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

    Tuy nhiên, luật quy định, nếu trong thời hạn nói trên, người phạm tội cố tình trốn tránh và đã có lệnh truy nã thì thời gian trốn tránh không được tính vào thời hiệu; thời hiệu tính lại kể từ ngày người đó ra tự thú hoặc bị bắt giữ. Đồng thời, nếu trong thời hạn đó, người phạm tội lại phạm tội mới mà Bộ luật hình sự quy định hình phạt tù từ 1 năm trở lên thì thời gian đã qua không được tính thời hiệu và thời hiệu đối với tội cũ được tính lại kể từ ngày phạm tội mới.

    Bộ luật hình sự 2022 quy định không áp dụng thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm an ninh quốc gia và tội phá hoại hoà bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh. Do vậy, căn cứ không khởi tố vụ án hình sự vì “đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự” không áp dụng đối với với các tội xâm phạm an ninh quốc gia và tội phá hoại hoà bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh.

    + Tội phạm được đại xá.

    Đối với những tội phạm được đại xá thì không được khởi tố vụ án hình sự. Đại xá đối với những tội phạm nhất định là quyết định của cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất. Hình thức và mức độ đại xá được nêu rõ trong văn bản về đại xá. Trong văn bản đại xá có thể công bố vô tội, phóng thích hoặc miễn trách nhiệm hình sự, hình phạt đối với một loại, hoặc một số loại can phạm nào đó. Có căn cứ để không khởi tố vụ án đối với những hành vi phạm tội được nêu trọng văn bản đại xá, kê cả những hành vi đã xảy ra trước khi văn bản đại xá được ban hành. Những vụ án đã được khởi tố, điều tra, truy tố hay đang xét xử đều được đình chỉ.

    + Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã chết, trừ trường hợp cần tái thẩm đối với người khác.

    Việc khởi tố vụ án sẽ dẫn đến khởi tố bị can, truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người thực hiện hành vi phạm tội. Hình phạt sẽ được áp dụng đối với người phạm tội nhằm giáo dục, cải tạo họ. Vì thế, khi người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã chết, trừ trường hợp cần tái thẩm đối với người khác, thì có căn cứ không khởi tố vụ án hình sự, bởi việc khởi tố đã không cần thiết nữa.

    – cĐiều luật không quy định riêng trường hợp: không có yêu cầu khởi tố vụ án hình sự của người bị hại là một căn cứ độc lập không được khởi tố vụ án hình sự.

    Bởi vì, trong trường hợp có căn cứ như quy định tại Điều 155 Bộ luật tố tụng hình sự (chỉ khởi tố khi có yêu cầu của người bị hại hoặc của người đại diện hợp pháp của người bị hại là người chưa thành niên, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất), thì điều đó cũng được hiểu là nhà làm luật đặt ra đối với trường hợp này phải có đến hai điều kiện mới được khởi tố, chứ không phải quy định có căn cứ không khởi tố vụ án hình sự. Bản chất của quy định này là khi có yêu cầu của người bị hại thì đủ căn cứ. Như vậy, bản thân hành vi phạm các tội nói ở khoản 1 Điều 155 đã là căn cứ để Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát xem xét việc khởi tố, chứ không phải là căn cứ không khởi tố vụ án hình sự. Tuy nhiên, luật quy định điều đó chưa đủ mà cần có thêm yếu tố người bị hại yêu cầu khởi tố.

    Hoặc trong trường hợp người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu trước ngày mở phiên toà sơ thẩm thì vụ án phải được đình chỉ. Quyết định đình chỉ vụ án của Viện kiểm sát là căn cứ để không khởi tố vụ án hình sự. Nhưng điểm này đã được quy định trong khoản 4, của Điều 157 này (người mà hành vi phạm tội của họ đã có bản án hoặc quyết định đình chỉ vụ án có hiệu lực pháp luật).

    Trường hợp có căn cứ để xác định người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu khởi tố trái với ý muốn của họ do bị ép buộc, cưỡng bức thì tuy người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Toà án vẫn có thể tiếp tục tiến hành tố tụng đối với vụ án. Trong trường hợp đó không có căn cứ để không khởi tố vụ án hình sự.

    Như vậy, đối với những trường hợp chỉ khởi tố vụ án theo yêu cầu của người bị hại thì không thể coi là căn cứ không khởi tố vụ án hình sự.

    Trong trường hợp cần tư vấn thêm, khách hàng có thể liên hệ với Luật sư của Luật Hoàng Phi qua TỔNG ĐÀITƯ VẤN LUẬT MIỄN PHÍ 19006557 để được tư vấn.

    Tác giả

    Nguyễn Văn Phi

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khởi Tố Bị Can Theo Quy Định Luật Hình Sự
  • Thời Hạn Khởi Tố Vụ Án Hình Sự Theo Quy Định Của Pháp Luật ?
  • Khi Nào Quyết Định Khởi Tố Vụ Án Hình Sự?
  • Quy Định Về Tội Nhận Hối Lộ Trong Các Trường Hợp Thuộc Khoản 4 Điều 279 Bộ Luật Hình Sự
  • Điều 354 Khoản 4 Bộ Luật Hình Sự 2022
  • Không Khởi Tố Vụ Án Hình Sự Theo Quy Định Pháp Luật

    --- Bài mới hơn ---

  • Các Căn Cứ Để Khởi Tố Vụ Án Hình Sự
  • Khởi Tố Vụ Án Theo Yêu Cầu Của Bị Hại Theo Quy Định Luật Tố Tụng Hình Sự Mới
  • Bộ Luật Hình Sự 2022
  • Tội Cho Vay Lãi Nặng Theo Quy Định Luật Hình Sự Năm 2022
  • Tội Tàng Trữ Ma Túy Hình Phạt Thế Nào ? ” Tư Vấn Của Luật Thái An™
    • 23/09/2020
    • Luật sư Nguyễn Mạnh Tuấn
    • Mục đích chính của pháp luật nói chung và luật hình sự nói chung là giáo dục và răn đe để nhưng cá nhân, tổ chức đang thực hiện hành vi vi phạm pháp luật chấm dứt thực hiện hành vi và những cá nhân, tổ chức đang có ý định thực hiện hành vi vi phạm pháp luật sẽ không thực hiện nữa. Mặc dù hầu hết các tội phạm đều có thể bị khởi tố nếu phát hiện, song vẫn có những trường hợp chỉ được khởi tố theo yêu cầu của bị hại. Luật sư sẽ tư vấn rõ hơn về vấn đề này.

    1. Luật sư tư vấn về Bộ luật hình sự.

    Việc quy định những tội phạm chỉ được khởi tố theo yêu cầu của bị hại nhằm tôn trọng ý chí tự nguyện của bị hại khi bảo vệ quyền nhân thân, tính mạng, sức khỏe của mình. Hiện nay Bộ luật hình sự 2022 ghi nhận mười tội phạm chỉ được khởi tố nếu có yêu cầu của bị hại, điều này đồng nghĩa với việc nếu như tội phạm đã bị khởi tố mà người bị hại rút đơn yêu cầu thì có thể sẽ đình chỉ không tiến hành giải quyết nữa. Tuy nhiên, để tránh trường hợp bị hại lợi dụng quyền này của mình để nhằm taọ áp lực cho bên gây ra thiệt hại về tinh thần hoặc bất kỳ khía cạnh nào đó thì Bộ luật hình sự cũng quy định rõ hệ quả của việc rút đơn không yêu cầu khởi tố.

    Bên cạnh đó, chúng ta có thể thấy mười tội phạm chỉ được khởi tố theo yêu cầu của bị hại có mức ảnh hưởng không lớn đối với xã hội mà trực tiếp ảnh hưởng đến người bị hại, điều này cũng tạo điều kiện cho những chủ thể thực hiện hành vi phạm tội có cơ hội được hối cải và tự sửa chữa sai lầm.

    Nếu bạn đang gặp khó khăn về vấn đề này, đừng ngần ngại hãy liên lạc với chúng tôi qua hotlline 1900.6169 để được hỗ trợ và giải đáp những thắc mắc các vấn đề pháp lý.

    2. Trường hợp không khởi tố hình sự theo quy định pháp luật.

    Không khởi tố vụ án hình sự được quy định và hướng dẫn cụ thể tại Luật Tố tụng hình sự số 19/2003/QH11, quy định trình tự, thủ tục tiến hành các hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự. Nội dung cụ thể như sau:

    Những căn cứ không được khởi tố vụ án hình sự

    Không được khởi tố vụ án hình sự khi có một trong những căn cứ sau đây:

    1. Không có sự việc phạm tội;

    2. Hành vi không cấu thành tội phạm;

    3. Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự;

    4. Người mà hành vi phạm tội của họ đã có bản án hoặc quyết định đình chỉ vụ án có hiệu lực pháp luật;

    5. Đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự;

    6. Tội phạm đã được đại xá;

    7. Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã chết, trừ trường hợp cần tái thẩm đối với người khác.

    Quyết định không khởi tố vụ án hình sự

    1. Khi có một trong những căn cứ quy định tại Điều 107 của Bộ luật này thì người có quyền khởi tố vụ án ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự; nếu đã khởi tố thì phải ra quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố và thông báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân đã tố giác hoặc báo tin về tội phạm biết rõ lý do; nếu xét cần xử lý bằng biện pháp khác thì chuyển hồ sơ cho cơ quan, tổ chức hữu quan giải quyết.

    2. Cơ quan, tổ chức, cá nhân đã tố giác hoặc báo tin về tội phạm có quyền khiếu nại quyết định không khởi tố vụ án. Thẩm quyền và thủ tục giải quyết khiếu nại theo quy định tại Chương XXV của Bộ luật này.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Có Những Căn Cứ Không Khởi Tố Vụ Án Hình Sự Nào?
  • Những Căn Cứ Không Khởi Tố Vụ Án Hình Sự?
  • Khởi Tố Bị Can Theo Quy Định Luật Hình Sự
  • Thời Hạn Khởi Tố Vụ Án Hình Sự Theo Quy Định Của Pháp Luật ?
  • Khi Nào Quyết Định Khởi Tố Vụ Án Hình Sự?
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100