Nghề Luật Sư Ở Mỹ

Có nhiều nguyên nhân giải thích vấn đề đội ngũ luật sư đông đảo và lương bổng cao nhất ở Mỹ. Thứ nhất, là một nước ưa kiện tụng nhất trên thế giới nên số số lượng rất lớn. Người dân có thể kiện bất kỳ về vấn đề gì họ thấy cần có sự can thiệp của pháp luật. Thứ hai, cho dù họ không kiện ai đi chăng nữa thì rất nhiều giao dịch trong xã hội cần thông qua luật sư nếu muốn chắc ăn. Bạn cần đến luật sư từ việc rất nhỏ như vi phạm giao thông, khai thuế, cho đến ly dị, thừa kế, các loại giao dịch theo hợp đồng… Dĩ nhiên là chi phí thuê luật sư rất cao. Ví dụ bạn chay xe quá tốc độ cho phép bị cảnh sát bắt và bạn muốn nhờ luật sư thì chi phí tùy theo mức độ nặng nhẹ và tiểu bang mà bạn vi phạm có giá dao dộng ít nhất từ $300 trở lên.

Những con số trên cho thấy luật sư chỉ hài lòng với nghề nghiệp khi đã có tuổi, đơn giản vì khi sự nghiệp phát triển, họ cần phải có nhiều trách nhiệm hơn để giữ vững uy tín cũng như lấy đó làm đảm bảo cho việc chuyển nghề khác sau một vài năm. Tuy nhiên, chỉ có 42% luật sư hành nghề từ 10 năm trở lên khuyến nghị giới trẻ chọn nghề luật, với luật sư hành nghề dưới 3 năm, tỷ lệ này là 57%.

Rất nhiều luật sư đánh giá thấp công tác đào tạo sinh viên ngành , 54% luật sư được hỏi đồng ý với nhận định công tác đào tạo tại các trường luật rất nghèo nàn. sinh viên luật không được thông tin đầy đủ về nhu cầu của nghề.

Nhiều chuyên gia cũng lên tiếng cảnh báo về đạo đức nghề luật sư. Trong những năm gần đây, phí tranh tụng tăng lên, ngày càng có nhiều biểu hiện không công bằng giữa các luật sư với nhau, nguyên nhân theo các chuyên gia là do bắt nguồn từ việc cạnh tranh để giành khách hàng. Điều đó dẫn đến việc các luật sư quan tâm đến tiền nhiều hơn công việc chính của họ là giải quyết vấn đề cho khách hàng. “Họ đặt mục tiêu giành thắng lợi bằng mọi giá, dẫn đến việc cư xử “thiếu lễ độ” với nhau và đẩy tiến trình tranh tụng thêm hao tốn tiền của”.

2. Điều kiện để trở thành luật sư ở Mỹ

Ở Mỹ không có sự phân biệt giữa luật sư tư vấn và luật sư bào chữa. Thông thường họ được gọi là lawyer, còn khi đi bào chữa được gọi là attorney. Luật sư hoạt động dưới sự kiểm soát của Toà án tối cao cấp Tiểu bang nơi họ hành nghề. Khác với những người dạy học ở các trường luật và luật gia doanh nghiệp không chịu sự kiểm soát của toà án, nhưng hầu như luôn luôn là thành viên của Đoàn luật sư của Tiểu bang nào đó, không nhất thiết là Tiểu bang nơi họ hành nghề.

Điều kiện trở thành luật sư ở các Tiểu bang không giống nhau. Một người được thừa nhận là luật sư ở các Tiểu bang thì chỉ được hành nghề ở Tiểu bang đó, và trước toà án Liên bang. Mọi luật sư đều có thể được đăng ký vào danh sách luật sư (và phải trả một khoản thuế không lớn lắm). Hiện nay, ở nhiều Tiểu bang, muốn hành nghề luật sư phải chấp nhận qua kỳ kiểm tra được tổ chức dưới sự kiểm soát của toà án. Ở ¾ số Tiểu bang ở nước Mỹ, có bằng đại học là điều kiện cần nhưng chưa đủ để trở thành luật sư.

Đa số các hành nghề với danh nghĩa cá nhân (70%) hoặc liên kết với duy nhất một đồng nghiệp khác (15%). Tuy nhiên, ở những thành phố lớn, luật sư thường làm việc trong một Văn phòng luật bao gồm khoảng từ 10 đến 200 luật sư. Một số ít luật sư theo chuyên ngành luật sư tranh tụng, tham gia hoạt động tố tụng trước phiên toà (hỏi cung và phản cung) trong các vụ án dân sự và hình sự. Một số khác theo chuyên ngành tương tự như luật sư công của Pháp. Còn lại đa số luật sư hoạt động ngoài lĩnh vực tranh tụng, thực hiện vai trò tương tự như công chứng viên, nhà tư vấn pháp luật, nhà tư vấn về thuế. Rất nhiều luật sư được tuyển dụng tại các cơ quan hành chính, các doanh nghiệp Nhà nước hoặc tư nhân.

Tuy nhiên, để trở thành luật sư thì không dễ. Hầu hết các tiểu bang đều yêu cầu phải có bằng luật sư như là một điều kiện tiên quyết (một số tiểu bang không yêu cầu có bằng luật là California, Maine, New York, Vermont, Virginia, Washington and Wyoming và họ có thể tự học khi làm thực tập ở văn phòng luật nào đấy). Xu thế hiện nay là ngày càng có ít người tự học để làm luật sư và tất nhiên, để được nhận vào học và hoàn tất chương trình luật sư thì không dễ dàng chút nào.

3. Đào tạo luật sư ở Mỹ

Không phải như ở Việt Nam, nghề luật đòi hỏi phải có bằng cấp, tức là bạn phải tốt nghiệp đại học. Cụ thể hơn, các trường đại học Mỹ không cấp bằng Cử nhân Luật. Các trường luật danh tiếng hằng năm nhận rất nhiều hồ sơ của các ứng viên đã là Tiến sĩ ở một ngành nào đấy và muốn đổi nghề làm luật sư. Hội đồng xét tuyển sẽ căn cứ vào điểm số (điểm trung bình toàn khoá học, điểm của từng môn học) mà bạn đã từng học, thư giới thiệu, bài viết giới thiệu bản thân,… và một kì thi tuyển đầu vào (tuỳ từng trường). Mặc dù điểm số bài thi đầu vào không phải là thước đo hoàn toàn chính xác khả năng lý luận cần thiết của một luật sư nhưng các trường thường đặt trọng số tương đối lớn đối với bài thi này.

Tuy nhiên, được cấp bằng luật sư không phải mặc nhiên là có thể hành nghề được. Những người được cấp bằng luật sư còn phải trải qua một kỳ thi để được tiếp nhận vào luật sư đoàn. Tất cả các bang đều quy định tất cả luật sư tiềm năng (cho dù có bằng luật sư hay không như yêu cầu của một số bang ở Mỹ) đều phải thi đậu vào một luật sư đoàn nào đó thì mới được hành nghề luật sư.

Ngoài ra, ở Mỹ có xu hướng kết hợp giữa đào tạo lý thuyết với đào tạo nghề trong chương trình đại học luật. Theo đó, sinh viên tốt nghiệp trường luật chỉ cần qua thời gian tập sự ngắn là có thể làm việc được. Cách đào tạo này rất khác so với cách đào tạo ở các nước châu Âu (thường đưa đào tạo luật vào chương trình đại học cơ bản và sinh viên tốt nghiệp không đủ khả năng hành nghề ngay và những người muốn hành nghề phải trải qua một khoá đào tạo nghề).

Một Góc Nhìn Nghề Luật Sư Ở Mỹ

Chuyến bay mang ký hiệu KE 037 của Hãng hàng không Korean Air hạ cánh xuống sân bay quốc tế O’Hare vào lúc gần 11h sáng giờ địa phương. Sau hành trình từ TP.Hồ Chí Minh quá cảnh tại Seoul, chúng tôi đã chạm vào mùa hè nước Mỹ qua cửa ngõ Chicago và sẽ tham gia một số sự kiện nhân Hội nghị thường niên năm 2012 của Hiệp hội Luật sư Hoa Kỳ (ABA).

Theo dự báo thời tiết, nhiệt độ ở Chicago những ngày này khá lý tưởng, trung bình từ khoảng 17oC đến 27°C, nhưng độ ẩm khá cao và cuối giờ chiều tôi đã bắt gặp trận mưa rào đầu tiên.

Số liệu khảo sát hàng năm của ABA cho thấy, hiện Hoa Kỳ có khoảng trên 1,2 triệu luật sư trên tổng số dân khoảng 312 triệu, với tỉ lệ khoảng 01 luật sư/300 người dân. Theo tài liệu tham khảo của luật sư Richard S. Shine, rất khó ước lượng số lượng luật sư hành nghề trong lĩnh vực luật hình sự ở Hoa Kỳ, bởi không có cơ quan đăng ký Trung ương cho các luật sư này. Mặc dù mỗi luật sư hành nghề phải là thành viên của một trong 50 đoàn luật sư của tiểu bang, trong đó một số luật sư là thành viên của nhiều đoàn luật sư tiểu bang cùng một lúc, nhưng thực tế không có đoàn luật sư nào yêu cầu luật sư phải thông báo cho đoàn về việc mình có hành nghề luật hình sự hay không. Tuy nhiên, trong số các thành viên của ABA, có khoảng 19.000 người đã gia nhập bộ phận tư pháp hình sự, theo đó bày tỏ mối quan tâm về luật hình sự (bao gồm cả các công tố viên và luật sư bào chữa). Hiện ở Mỹ có khoảng 1.380 trợ tá bào chữa viên Nhà nước Liên bang và khoảng 10.000 luật sư tư nhân được chỉ định- là những người được các Tòa án liên bang trả lương theo quy định của Luật Tư pháp Hình sự nhằm đại diện cho các bị can có hoàn cảnh khó khăn tại các Tòa án liên bang. Ngoài ra, cần phải tính đến số lượng khoảng 31.000 người ở tiểu bang và khu vực so với 6.000 người ở liên bang làm việc trong các văn phòng bào chữa nhà nước.

Để có thể đạt được mức phát triển nghề luật sư như hiện nay, tùy thuộc rất nhiều vào cách thức tổ chức bộ máy quyền lực nhà nước, phân định chức năng tố tụng, cũng như một số nguyên tắc cơ bản được quy định trong Hiến pháp Hoa Kỳ. Mặc dù có sự khác biệt đáng kể giữa hệ thống tư pháp, nhưng trong điều kiện chủ trương mở rộng và bảo đảm tranh tụng dân chủ, hướng đến việc tôn trọng và bảo đảm quyền con người trong hoạt động tư pháp ở Việt Nam, một số quan niệm và cách tiếp cận phát triển nghề luật sư ở Mỹ cùng với các quốc gia phát triển khác, có thể là sự tham khảo hữu ích trong quá trình hoàn thiện mô hình tố tụng hình sự ở nước ta hiện nay.

Nghề Luật Và Nghề Luật Sư

Ở nghĩa rộng nhất, nói đến những người làm nghề luật là chúng ta nói đến thẩm phán, luật sư, kiểm sát viên, công chứng viên…

Thẩm phán được hiểu là những người làm việc tại Toà án, được quyền nhân danh Nhà nước để xét xử các vụ án. Thẩm phán – ở nghĩa lý tưởng được hiểu là người được quyền ra quyết định cuối cùng để mang lại sự công bằng cho mọi người, cứu người vô tội và trừng phạt kẻ ác.

Kiểm sát viên là người buộc tội tại phiên toà (ở nước ngoài thường được gọi là công tố viên). Họ được quyền đưa một vụ phạm pháp ra xem xét để xử lý, ra lệnh bắt giữ, tham gia điều tra vụ án, truy tố người phạm tội.

Luật sư là người có đủ tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề theo quy định của pháp luật của mỗi quốc gia, thực hiện dịch vụ pháp lý theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức. Luật sư là những người hành nghề trong Văn phòng hoặc Công ty luật. Thu nhập của luật sư là từ các khoản thù lao do khách hàng trả.

Công chứng viên là người làm việc tại các Phòng công chứng, có quyền xác nhận tính hợp pháp của các giao dịch, hợp đồng…

Ở nghĩa hẹp hơn, nói đến nghề luật là chúng ta nói đến nghề luật sư. Nghề luật sư là nghề luật tiêu biểu nhất, nghề luật sư thể hiện đầy đủ nhất những đặc trưng của nghề luật.

Nghề luật sư không giống như những nghề bình thường khác vì ngoài những yêu cầu về kiến thức và trình độ chuyên môn thì yêu cầu về việc hành nghề luật sư còn phải tuân thủ theo quy chế đạo đức nghề nghiệp. Đây là một nét đặc thù riêng của nghề luật sư và nét đặc thù này tác động sâu sắc đến kỹ năng hành nghề, đặc biệt là kỹ năng tranh tụng của luật sư.

Trong suy nghĩ của chúng ta, hoạt động nghề nghiệp của luật sư bao gồm ba tính chất: trợ giúp, hướng dẫn và phản biện.

(i) Tính chất trợ giúp: Do sự phát triển không đồng đều cả về đời sống vật chất lẫn tinh thần, bất kỳ xã hội nào trong cộng đồng dân cư cũng tồn tại những người rơi vào vị thế thấp kém so với mặt bằng xã hội như người nghèo, người già đơn côi, người chưa thành niên mà không có sự đùm bọc của gia đình. Những người ở vào vị thế thấp kém này thường bị ức hiếp, bị đối xử bất công trái pháp luật và rất cần sự giúp đỡ, bênh vực của những người khác và đặc biệt cần sự trợ giúp hoàn toàn vô tư, không vụ lợi của luật sư.

Ở thời kỳ cổ đại, những người dám đứng ra bênh vực, trợ giúp các đối tượng bị ức hiếp được xã hội tôn vinh như là các “hiệp sỹ”. Ngày nay, xã hội loài người đã phát triển nhưng ở nhiều nước, ở nhiều địa phương vẫn tồn tại những người ở vào vị thế thấp kém, vẫn tồn tại sự ức hiếp, sụ đối xử bất công. Hoạt động trợ giúp của luật sư đối với những đối tượng này không chỉ là bổn phận mà còn là thước đo lòng nhân ái và đạo đức của luật sư.

(ii) Tính chất hướng dẫn: Tính chất nghề nghiệp đòi hỏi luật sư không chỉ thông hiểu pháp luật hiện hành mà còn hiểu biết cả tinh thần, nội dung những quy định của pháp luật ở từng thời điểm của thời gian đã qua. Luật sư còn phải hiểu sâu rộng cả tục lệ và bản sắc văn hoá của dân tộc.

Mọi người hiểu và nghĩ về luật sư như vậy, cho nên mỗi khi bản thân hoặc gia đình có điều gì vướng mắc đều tìm đến luật sư, nhờ luật sư tư vấn. Vì vậy, hoạt động của luật sư luôn luôn có tính chất hướng dẫn. Yêu cầu của hoạt động này là hướng dẫn cho đương sự hiểu đúng tinh thần và nội dung của pháp luật để biết cách xử sự tháo gỡ vướng mắc của họ phù hợp với pháp lý và đạo lý.

(iii) Tính chất phản biện: Tính chất phản biện trong hoạt động của luật sư là những biện luận nhằm phản bác lại lý lẽ, ý kiến quan điểm của người khác mà mình cho là không phù hợp với pháp lý và đạo lý.

Tính chất phản biện trong hoạt động của luật sư, thông thường thể hiện ở lĩnh vực tố tụng, đặc biệt là trong tố tụng hình sự. Điều 36, khoản 3 Bộ Luật tố tụng hình sự hiện hành quy định: “Người bào chữa có nghĩa vụ sử dụng mọi biện pháp do pháp luật quy định để làm sáng tỏ những tình tiết xác định bị can, bị cáo vô tội, những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo; giúp bị can, bị cáo về mặt pháp lý nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ”.

Phản biện là phải dựa trên sự thông hiểu tường tận về pháp lý và đạo lý. Hoạt động phản biện của luật sư là lấy pháp luật và đạo đức xã hội làm chuẩn mực để xem xét mọi khía cạnh của sự việc nhằm xác định rõ phải trái, đúng sai…từ đó đề xuất những biện pháp phù hợp bảo vệ lẽ phải, loại bỏ cái sai, bảo vệ công lý.

Ở đây có thể có câu hỏi đặt ra là trong trường hợp không phát biện ra điều gì sai, không có cơ sở để phản biện thì luật sư sẽ làm gì?. Xin nêu một câu ngạn ngữ phương Tây: “Luật sư chỉ giỏi khi gặp Công tố viên tồi”. Câu ngạn ngữ này có nghĩa là khi người tiến hành tố tụng hoạt động hoàn toàn đúng pháp luật với những nhận định và kết luận chuẩn xác thì không còn chỗ cho luật sư phản biện. Luật sư không còn chỗ để phản biện, cũng giống như thầy thuốc không có bệnh nhân để chữa thì thật là hạnh phúc.

Hoạt động của luật sư trong trường hợp này chỉ còn ý nghĩa là người chứng kiến. Việc chứng kiến của luật sư không phải là không quan trọng. Trong nhiều trường hợp, sự hiện diện của luật sư là chỗ dựa tin cậy của bị can, bị cáo. Sự chứng kiến của luật sư trong khi hỏi cung, khi đối chất, khi xét xử đảm bảo chắc chắn rằng quyền và lợi ích hợp pháp mà pháp luật dành cho bị can, bị cáo sẽ được bảo đảm.

Người phạm tội phải chịu sự trừng phạt của pháp luật, nhưng không thể bị tra tấn, đánh đập, hành hạ về thể xác cũng như xúc phạm nhân phẩm. Sự có mặt của luật sư là cần thiết bởi những người đã lâm vào vòng lao lý, phải đối mặt với uy lực của cơ quan công quyền, không phải ai cũng có đủ can đảm tự bảo vệ quyền hợp pháp của mình. Người xưa đã có câu: “Khôn ngoan đến cửa quan mới bíết”.

Do vai trò và tác dụng của hoạt động luật sư, nên Khoản 2 Điều 1 Pháp lệnh Luật sư năm 2001 đã nêu rõ: “Bằng hoạt động của mình luật sư góp phần bảo vệ công lý, công bằng xã hội và pháp chế xã hội chủ nghĩa”. Nghị quyết 08 của Bộ Chính trị viết: “Các cơ quan Tư pháp có trách nhiệm tạo điều kiện để luật sư tham gia vào quá trình tố tụng: tham gia hỏi cung bị can, bị cáo, nghiên cứu hồ sơ vụ án tranh luận dân chủ tại phiên toà…”

Xuất phát từ tính chất, đặc thù của nghề luật sư, nó đòi hỏi luật sư ngoài các phẩm chất chung là Chân, Thiện, Mỹ, luật sư còn phải là người có khối óc thông minh, tấm lòng trong sáng, dũng cảm, biết lấy pháp luật và đạo đức xã hội làm cơ sở hoạt động mới xứng đáng với sự tin cậy và tôn vinh của xã hội .

II.Nghề luật sư trong quá khứ

Nghề luật sư luôn gắn với sự hình thành và phát triển của hệ thống pháp luật. Có thể nói luật gia đầu tiên xuất hiên trong xã hội chính là nhà lập pháp, người định ra các quy phạm pháp luật. Sau đó là sự xuất hiện của các thẩm phán, người có nhiệm vụ bảo đảm cho các quy phạm pháp luật được tôn trọng và cũng là người quyết dịnh hình phạt đối với người vi phạm các quy phạm pháp luật.

Nghề luật sư đã xuất hiện ở châu Âu từ thời Hy Lạp và La Mã cổ đại. Vào thế kỷ V trước Công nguyên, trong nhà nước Hy Lạp cổ, tổ chức toà án hình thành và việc xét xử có sự tham gia của mọi người dân. Nguyên cáo hoặc bị cáo có thể tự trình bày ý kiến, lý lẽ của mình trước Toà hoặc nhờ người khác có tài hùng biện trình bày hộ ý kiến, lý lẽ trước Toà. Việc bào chữa xuất phát tự nhiên nhằm minh oan cho bạn bè hoặc người thân bị nhà cầm quyền bắt giam vô cớ và trừng phạt một cách độc đoán dần phát triển.

Ở La Mã cổ đại, cũng với sự xuất hiện của pháp luật đã xuất hiện những mầm mống của nghề luật sư. Pháp luật La mã cổ đại mang tính huyền bí, thần thánh và việc áp dụng pháp luật gắn liền với lễ nghi tôn giáo. Trong phiên toà, có sự tham gia của các nhà chuyên môn, người am hiểu pháp luật để nhắc lại những quy tắc, quy định tôn giáo để tránh việc viện dẫn sai hoặc vi phạm thủ tục tố tụng.

Trong xã hội dần dần hình thành một nhóm người chuyên sâu, am hiểu về pháp luật và việc diễn giải pháp luật của họ được xem xét như hoạt động nghề nghiệp. Hoạt động của các luật sư được chấp nhận và uy tín của họ trong xã hội ngày càng được nâng cao. Nghề luật sư được xem như một nghề vinh quang trong xã hội.

Sau khi Đế quốc La Mã tan rã, châu Âu chuyển sang thời kỳ Trung cổ với các triều đại phong kiến phân quyền cát cứ. Tổ chức Toà án và chế độ luật sư ở các nước được xây dựng dưới nhiều hình thức khác nhau nhằm mục đích phục vụ tôn giáo và chế độ phong kiến.

Dưới chế độ tư bản, nghề luật sư được tổ chức chặt chẽ với những điều kiện khắt khe nhằm bảo vệ quyền lợi riêng cho một số ít người xuất thân từ giai cấp bóc lột. Từ xuất phát điểm của những người tự nguyện thực hiện việc bào chữa vì sự thật và công lý, nghề luật sư dưới chế độ tư bản dần dần trở thành nghề tự do, nghề làm vì tiền.

Ở Việt Nam, từ năm 1930 trở về trước, người Pháp chiến độc quyền trong hành nghề luật sư. Với Sắc lệnh ngày 25/5/1930 của Toàn quyền Đông Dương, thực dân Pháp tổ chức Hội đồng luật sư ở Hà Nội và Sài Gòn cho những người đã tốt nghiệp luật khoa và đã tập sự 5 năm trong một Văn phòng biện hộ của luật sư thực thụ.

Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 46/SL ngày 10/10/1945 tổ chức đoàn thể luật sư. Quyền bào chữa của bị can, bị cáo được ghi nhận ngay trong Sắc lệnh về Toà án ngày 13/9/1945 của Chủ tịch Chính phủ lâm thời Việt Nam dân chủ cộng hoà. Do hoàn cảnh kháng chiến, một số luật sư tham gia cách mạng, một số luật sư chuyển sang hoạt động ở lĩnh vực khác, nghề luật sư thời kỳ này hầu như không được chú trọng.

Sau hoà bình lập lại, để đảm bảo quyền bào chữa của bị cáo đã được Hiến pháp 1959 quy định, năm 1963, Văn phòng luật sư thí điểm được thành lập lấy tên là Văn phòng luật sư Hà Nội.

III.Nghề luật sư hiện tại: Vấn đề xây dựng một đội ngũ luật sư đạo đức và tài năng.

Luật sư ở nước ta hiện nay còn đang thiếu và mới chỉ đáp ứng một phần nhỏ nhu cầu của xã hội. Thống kê cho thấy chỉ khoảng dưới 10% vụ án có luật sư. Số luật sư lại chủ yếu tập trung tại các đô thị lớn (riêng ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh chiếm hơn 50 % tổng số luật sư toàn quốc). Luật sư còn rất thiếu ở vùng sâu, vùng xa.

Việt Nam đang trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế và hoà mình vào dòng chảy toàn cầu hoá, pháp luật Việt Nam nói chung và pháp luật về luật sư nói riêng đã không ngừng hoàn thiện, sửa đổi bổ sung để tạo cơ sở pháp lý cho việc phát triển đội ngũ luật sư và nâng cao hiệu quả hoạt động của đội ngũ luật sư. Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2023 đặt ra yêu cầu cấp bách là đất nước cần có một đội ngũ luật sư đạo đức và tài năng. Nghĩ về nghề luật sư hôm nay, chúng ta thấy nổi lên hai vấn đề chính đó là vấn đề đạo đức nghề nghiệp và vấn đề nâng cao kỹ năng nghề nghiệp của luật sư.

(i) Đạo đức nghề nghiệp của luật sư: Khi bàn về đạo đức nghề nghiệp luật sư, có nhiều ý kiến và quan niệm khác nhau. Có ý kiến cho rằng, trong xã hội nghề nào cũng đòi hỏi người làm nghề phải có lương tâm, trách nhiệm đối với nghề của mình trước xã hội. Bởi vậy không cần phải đặt đạo đức nghề nghiệp luật sư thành vấn đề riêng. Ý kiến khác lại cho rằng, trong thời buổi kinh tế thị trường, mọi nghề trong xã hội đều mang tính cạnh tranh và nhằm thu lợi nhuận cao nhất. Nghề luật sư là một nghề giống như các nghề khác, cũng phải chịu sự chi phối của quy luật thị trường do đó đặt đạo đức nghề nghiệp luật sư thành một vấn đề riêng biệt là hoàn toàn vô lý.

Luật sư là nghề nghiệp đặc thù, đòi hỏi sự “trong sáng về đạo đức”. Người làm công việc này phải tuân theo những quy tắc đạo đức hành nghề bắt buộc, có như vậy mới nâng cao được uy tín và vị thế trong xã hội. Tuy nhiên, giới luật sư Việt Nam lại chưa có những quy định chung này. Hiện chỉ tồn tại quy tắc riêng lẻ do mỗi đoàn luật sư tự ban hành, áp dụng với các thành viên của mình. Rõ ràng là cần phải có bộ quy tắc hành nghề luật sư để đưa ra chuẩn mực điều chỉnh hoạt động của luật sư.

(iv) Nâng cao và đổi mới kỹ năng hành nghề luật sư: Việc hành nghề của luật sư hôm nay đòi hỏi phải có sự nâng cao và đổi mới về kỹ năng hành nghề để bắt kịp những yêu cầu của tiến trình đổi mới và hội nhập.

Trong tổng số gần 4.000 luật sư Việt Nam hiện nay, kể cả luật sư tập sự, chỉ có khoảng 50 người hiểu biết về luật pháp quốc tế, có thể hỗ trợ doanh nghiệp trong những giao dịch thương mại quốc tế. Song thực sự chỉ chừng 10-15 luật sư là đáp ứng được các tiêu chuẩn pháp luật thế giới (Những tiêu chuẩn pháp luật thế giới được hiểu là các kiến thức pháp luật chung, uy tín, khả năng tranh tụng ở tòa nước ngoài, được khách hàng nước ngoài tin tưởng, khả năng ngoại ngữ…)

Từ lâu nhiều chuyên gia đã cảnh báo rằng Việt Nam cần phải có một đội ngũ luật sư chuyên về hội nhập kinh tế thế giới, nếu không doanh nghiệp trong nước dễ lâm vào tình trạng “kiếm củi 3 năm đốt 1 giờ”. “Vấn đề ở đây là hội nhập toàn cầu, nếu doanh nghiệp không được trang bị tốt những kiến thức về luật lệ chung của thế giới, những rào cản, sân chơi riêng của từng quốc gia… thì sẽ dễ vấp những vụ tranh tụng dẫn đến thua kiện, phá sản, mất thị trường nhanh chóng.

Nhiều vụ việc tranh chấp đã xảy ra như vụ Bỉ bắt giữ Phó giám đốc Công ty Afiex Bửu Huy theo yêu cầu của Mỹ, sự cố tàu Cần Giờ bị Tanzania bắt giữ, Hàng không VN thua kiện tại Italy…, chính là hậu quả của tình trạng ngại trang bị kiến thức pháp luật quốc tế thông qua luật sư trong giới doanh nghiệp, cũng như thể hiện sự yếu và thiếu của đội ngũ luật sư trong nước.

Kết quả khảo sát cũng cho thấy chất lượng đội ngũ luật sư hiện nay chưa đáp ứng được yêu cầu về cải cách tư pháp và hội nhập kinh tế quốc tế. Hệ thống pháp luật không rõ ràng, đồng bộ, thiếu; cơ chế tranh tụng tại tòa khá mới mẻ so với luật sư Việt Nam; thiếu luật sư chuyên sâu về các lĩnh vực đầu tư, kinh doanh, thương mại như sở hữu trí tuệ, tài chính ngân hàng, bảo hiểm, hàng hải, thương mại quốc tế, giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế…

Nguyên nhân của tình trạng này là do việc định hướng đào tạo đội ngũ luật sư về kinh tế, thương mại, vận tải, dịch vụ quốc tế có thể nói là yếu và rất hạn chế. Bên cạnh đó, đối với các luật sư Việt Nam có một cái rào cản rất lớn là ngoại ngữ. Hiện những luật sư thông thạo ngoại ngữ để có thể tham gia các vụ kiện quốc tế mới chỉ đếm được trên đầu ngón tay.

Bộ Tư pháp và các cơ quan có thẩm quyền ở Việt Nam đang có kế hoạch để đào tạo, chuẩn bị cho đội ngũ luật sư Việt Nam có thể tham gia vào được các vụ kiện, các vụ tranh chấp quốc tế giữa các doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức Việt Nam với các doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức nước ngoài. Vấn đề đặt ra là phải làm gì để tới đây, chúng ta có thể chủ động và khẳng định được vai trò của mình trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế.

IV.Trong tương lai: Luật sư cần phải làm gì?

Theo đánh giá sơ bộ, Việt Nam phải có được từ 18.000 tới 20.000 luật sư hành nghề, tức là gấp 5 lần số luật sư hiện nay. Không thể có phép mầu nào thực hiện được điều này một cách nhanh chóng, theo suy nghĩ của chúng tôi, lộ trình đào tạo để có được một đội ngũ luật sư đạo đức và tài năng phải qua hàng chục năm. Trước mắt, theo chúng tôi trong thời gian sắp tới, mỗi luật sư cần phải có những định hướng cụ thể cho mình để đáp ứng những yêu cầu của công cuộc hội nhập và để đáp ứng những đòi hỏi của cuộc sống.

Vẫn biết rằng người hành nghề luật sư cần am hiểu về mọi lĩnh vực pháp luật, nhưng trong xu hướng hội nhập hiện nay các vụ án hình sự và phi hình sự rất đa dạng, xuất hiện trên mọi lĩnh vực của đời sống cho nên luật sư cần xác định cho mình lĩnh vực tranh tụng chuyên sâu để hành nghề. Bên thềm hội nhập, chúng ta cũng không thể đi khác với xu hướng hành nghề của các luật sư trên thế giới hiên nay.

Luật sư của các nước theo hệ thống pháp luật Civil Law hay Common Law đều hành nghề theo hướng chuyên môn hoá một lĩnh vực cụ thể. Ở các nước đó chúng ta không xa lạ gì khi nghe đến tên gọi “luật sư hình sự”, “luật sư về thừa kế”, “luật sư về hôn nhân & gia đình”, “luật sư về ngân hàng”, “luật sư về chứng khoán”, “luật sư về bảo hiểm”, “luật sư về bất động sản”, thậm chí có “luật sư về bồi thường thiệt hại”, “luật sư chuyên về tai nạn giao thông”….

Khách hàng của luật sư hôm nay không chỉ dừng lại là những khách hàng mang quốc tịch Việt Nam mà họ còn là khách hàng mang quốc tịch của nhiều quốc gia khác. Do vậy, trong bối cảnh hiện nay, các luật sư cần chủ động, linh hoạt hoàn thiện mọi điều kiện hành nghề cần thiết cho bản thân để mở rộng đối tượng phục vụ cho mình, hướng tới phục vụ cho cả các khách hàng nước là cá nhân, tổ chức nước ngoài.

(ii) Luật sư cần cập nhật kiến thức pháp luật mới: Luật sư phải căn cứ vào lĩnh vực chuyên sâu hành nghề của mình là gì để đáp ứng yêu cầu cập nhật kiến thức pháp luật mới (đặc biệt là pháp luật quốc tế) và các kiến thức ngoại ngữ, tin học. Điều này sẽ giúp cho luật sư hướng tới cơ hội tham gia tranh tụng tốt tại các phiên toà của các vụ việc có yếu tố nước ngoài hay xét xử tại nước ngoài. Xu hướng hội nhập buộc các luật sư trẻ của chúng ta phải tự hoàn thiện đầy đủ các kiến thức chuyên môn cũng như khả năng ngoại ngữ, tin học để tự tin hành nghề, độc lập tranh tụng tại bất cứ đâu, cho dù nơi xét xử nằm ngoài biên giới Việt Nam.

Vì vậy, việc đầu tiên để các luật sư nâng cao kỹ năng tranh tụng của mình trong các vụ án hình sự hay phi hình sự là yêu cầu chuyên môn hoá lĩnh vực tranh tụng, hoàn thiện kiến thức chuyên môn, khả năng ngoại ngữ và tin học trước khi tiếp nhận vụ việc từ khách hàng và chuẩn bị tham gia phiên toà.

Bên cạnh việc chuyên môn hoá lĩnh vực tranh tụng, giỏi chuyên môn, giỏi ngoại ngữ, tin học luật sư cần phải đổi mới kỹ năng tiếp xúc và làm việc với khách hàng khi nhận bào chữa hay bảo vệ quyền lợi hợp pháp của họ. Để làm được điều này, các văn phòng luật sư cần chuẩn bị các mẫu giấy tờ rõ ràng, mang tính chuyên nghiệp, đơn giản mà không mang nặng tính hành chính để giúp cho việc giao kết hợp đồng dịch vụ pháp lý với khách hàng được nhanh chóng, thuận tiện.

Bên cạnh đó, cũng cần công khai Bảng tính mức thù lao, danh sách các luật sư được chuyên môn hoá trong từng lĩnh vực tranh tụng cụ thể, tiến trình tố tụng để giải quyết yêu cầu của khách hàng để khách hàng được biết trước khi ký Hợp đồng. Kỹ năng tiếp xúc khách hàng hiện nay buộc luật sư phải kết hợp và coi khách hàng như một người cộng sự trong quá trình giải quyết vụ việc của họ. Điều này cũng đồng nghĩa với việc luật sư cần có sự nhận thức mới về quan hệ giữa luật sư với khách hàng.

Đã qua đi cái thời mà khách hàng chẳng hiểu biết và cũng không cần biết về vụ việc, miễn là giao “trọn gói” cho luật sư thực hiện yêu cầu giúp đỡ pháp lý của mình. Tham gia tranh tụng hôm nay, luật sư chúng ta cần phải nhận thức là chúng ta đang “hợp tác” với khách hàng chứ không phải khách hàng đang “nhờ vả” chúng ta để chúng ta cho mình cái quyền quyết định mọi thứ không cần hỏi ý kiến khách hàng ngay cả khi họ là những người trình độ văn hoá thấp, thiếu hiểu biết pháp luật. Cho nên, luật sư trong quá trình trao đổi với khách hàng cần thông tin thường xuyên về tình hình công việc luật sư đang thực hiện, đặc biệt cần phải làm cho khách hàng nhận diện bản chất của vụ việc một cách trung thực, rõ ràng.

(iii) Đổi mới tư duy về quyền con người: Luật sư tham gia tranh tụng hôm nay phải nhận thức và đổi mới tư duy về quyền con người – bởi quyền con người luôn được tôn trọng và ngày một nâng cao cho dù thân chủ chúng ta là bị cáo, người bị hại hay các đương sự. Do vậy, đối với việc tham gia tranh tụng trong vụ án hình sự luật sư đừng quá lệ thuộc vào kết luận điều tra, cáo trạng hay quyết định đưa vụ án ra xét xử của Toà án mà có tư duy làm sao để bảo vệ thân chủ tối đa – hãy quyết định đường hướng giải quyết vụ việc trong nhận thức của luật sư trên cơ sở luật định mặc dù trước đó đã có những chứng cứ buộc tội, bất lợi cho thân chủ.

Còn trong tố tụng phi hình sự, xu hướng hiện đại cho thấy các vụ án đều hướng đến vấn đề hoà giải mà không cần tới việc xét xử của Toà án. Do vậy, đối với tranh tụng phi hình sự, bên cạnh việc quan tâm và bảo vệ lợi ích tối đa cho thân chủ luật sư phải nhận diện đúng yêu cầu của thân chủ, bản chất của vụ việc để có sự đánh giá khách quan và hướng thân chủ đến với hoà giải nếu điều đó cũng là mong muốn của thân chủ, hoặc thân chủ không mong muốn nhưng việc xét xử sau này sẽ bất lợi cho họ nếu căn cứ theo quy định pháp luật…

Chúng tôi cho rằng một xã hội dân sự có nền tư pháp dân chủ, văn minh là xã hội không phải có thật nhiều các bản án được tuyên thấu tình, đạt lý mà phải là xã hội ít tranh chấp, nếu có tranh chấp thì trước tiên phải được giải quyết bằng con đường hoà giải mà các bên vẫn đạt được quyền lợi cho mình chứ không chỉ tưu duy theo lối quyền lợi của mình chỉ có thể đạt được khi có bản án có hiệu lực của cơ quan Toà án. Đây cũng là xu hướng chung hiện nay được giới luật sư của các nước đang phát triển coi trọng và áp dụng.

(iv) Hoàn thiện kỹ năng tranh tụng: Xu hướng tranh tụng gần đây và đặc biệt sau khi Việt Nam gia nhập WTO buộc chúng ta phải tuân thủ các cam kết quốc tế và pháp luật quốc tế, chắc chắn vấn đề tranh tụng công khai tại phiên toà sẽ là con đường xác định sự công bằng, lẽ phải để tuyên án. Do vậy, các luật sư cần phải tích cực tham gia, tham dự các phiên toà nhiều hơn để đúc kết kinh nghiệm cho mình; đồng thời ngoài việc lập sẵn cho mình kế hoạch xét hỏi, cần biết dự đoán các vấn đề cần tranh tụng công khai tại phiên toà trên cơ sở nghiên cứu hồ sơ, đánh giá chứng cứ kết hợp với quan điểm bào chữa, bảo vệ của luật sư.

Để làm được điều này, các luật sư cần phải giành thời gian để tự hùng biện quan điểm bào chữa hay bảo vệ của mình đối với yêu cầu của thân chủ. Kỹ năng nói, tốc độ nói, giọng nói, phong thái, tư thế đi lại tại phiên toà là những vấn đề bắt buộc luật sư phải quan tâm và xử lý tốt mới giúp luật sư tự tin. Các luật sư phải đặc biệt quan tâm nhiều hơn kỹ năng của mình đối với phần tranh luận công khai tại phiên toà. Do vậy bài bào chữa hay bản luận cứ nên để dưới dạng “mở” có thể thay đổi linh hoạt cho phù hợp với diễn biến phiên toà chứ không nên theo cách chuẩn bị cổ điển “đóng” bằng cách viết sẵn để đọc và trình bày trước Hội đồng xét xử.

Luật sư của các nước theo pháp luật Common Law mặc dù chịu sự điều chỉnh rất lớn của các “án lệ” trước đó, nhưng không vì thế mà họ không thể hiện tốt kỹ năng tranh luận để bảo vệ tối đa cho thân chủ mình, trái lại tại các phần tranh luận luật sư luôn là người chủ động, điều khiển phần tranh luận theo đúng mục tiêu cần đạt tới của mình.

Suy nghĩ về nghề luật sư, chia sẻ với những nghĩ suy của những luật sư có kinh nghiệm và tâm huyết với nghề, chúng ta nhìn nhận về nghề luật sư trong quá khứ để hiểu nghề luật sư hiện tại và hướng tới nghề luật sư trong tương lai như một nghề cao quý, một nghề được cả xã hội tôn vinh.

Nguồn: http://hungngominh.wordpress.com/

(MKLAW FIRM: Bài viết được đăng tải nhằm mục đích giáo dục, phổ biến, tuyên truyền pháp luật và chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước không nhằm mục đích thương mại. Thông tin nêu trên chỉ có giá trị tham khảo và có thể một số thông tin pháp lý đã hết hiệu lực tại thời điểm hiện tại vì vậy Quý khách khi đọc thông tin này cần tham khảo ý kiến luật sư, chuyên gia tư vấn trước khi áp dụng vào thực tế.)

Luật Sư Giàu, Luật Sư Nghèo Tại Úc « Du Học Úc

Nhiều bậc cha mẹ người Việt tại Úc mong muốn cho con mình học ngành luật hoặc y khoa vì cho rằng hai nghề ‘danh giá’ đó sẽ mang lại thu nhập cao và cuộc sống ổn định trong tương lai. Tuy nhiên, liệu quan niệm đó có luôn đúng?

Chênh lệch thu nhập

Theo tài liệu lưu hành nội bộ của Luật sư Đoàn tiểu bang Victoria (Úc), thu nhập hàng năm của các luật sư tại bang này có sự chênh lệch rất lớn. Theo đó, nhóm có thu nhập cao trong ngành luật thường là đồng giám đốc của các công ty luật lớn hoặc là luật sư tranh tụng (trạng sư). Một số luật sư hàng đầu thậm chí còn được trả tới 5000 đô-la/ngày.

Trong khi đó, các số liệu thống kê cho thấy khoảng 28% nữ luật sư (tương đương 130 người) và 13% nam luật sư (tương đương 181 người) tại tiểu bang Victoria có thu nhập khoảng 50.000 đô-la/năm (mức thu nhập trung bình của người Úc là 57.324 đô-la/năm theo Cục Thống kê Úc). Như vậy, sau khi trừ thuế thì thu nhập còn lại của họ chỉ vào khoảng 800 đô-la/tuần, đôi khi còn thấp hơn cả lương của luật sư mới ra trường đầu quân cho một số công ty danh tiếng tại thành phố Melbourne.

Bên cạnh đó, những luật sư mới vào nghề hoặc những người làm việc tại một số khu vực có mức sống thấp của Melbourne cũng nằm trong nhóm có thu nhập thấp. Họ thường gặp khó khăn trong việc trả tiền thuê văn phòng và chi phí gửi trẻ nếu đã có gia đình.

Như vậy, những cử nhân luật làm việc tại các văn phòng luật chưa hẳn đã có thu nhập cao và cuộc sống của họ không giàu nhanh như người ta vẫn thường nghĩ.

Ý kiến trái chiều

Khảo sát trên đã gây ra nhiều tranh cãi đối với các độc giả. Phần lớn họ đều không tin rằng các luật sư lại phải sống trong cảnh khó khăn về tiền bạc.

Một số độc giả cho rằng có thể việc khai bớt thu nhập của các luật sư/trạng sư là cách để họ giảm tiền bảo hiểm nghề nghiệp hoặc thuế thu nhập và người nào tin vào mức thu nhập đó thì “thật ngây thơ”.

Một người tên là Peter từ Canberra cho rằng luật sư có cách kiếm tiền “rất hay”. “Đa phần họ có công ty riêng hoặc lập quỹ ủy thác cho con cháu trong gia đình với mức đóng thuế rất thấp”, Peter cho biết. Peter còn quả quyết rằng ông biết có người chỉ nhận bào chữa cho thân chủ với giá tối thiểu là 3000 đô-la/ngày.

Độc giả Gail Burrows cũng bày tỏ sự nghi ngờ về mức lương ‘bèo’ được đưa ra từ cuộc khảo sát. Theo anh, những luật sư có trên bốn năm kinh nghiệm ở Melbourne có mức lương cơ bản là 80.000 đô-la/năm.

Tuy nhiên, cũng có nhiều độc giả quả quyết rằng, tại Úc luôn có một số luật sư… không bao giờ giàu với thu nhập chính vào khoảng 50.000 đô-la/năm đúng như kết quả khảo sát.

Độc giả Steve Pollard từ Victoria giải thích: “Họ là những người sắp nghỉ hưu, ‘tài hèn, sức mọn’, bị mấy công ty luật ‘chê’, hay một số luật sư sự vụ (solicitor) trước đây khá thành công, giờ chuyển sang làm luật sư tranh tụng bán thời gian nhằm giữ gìn uy tín và duy trì mối liên hệ với ngành luật.”

Steve cho rằng những người này không nhận hồ sơ khách hàng một cách thường xuyên bởi họ chỉ làm theo sở thích.

Ngoài ra, một số nữ luật sư tranh tụng có con nhỏ chỉ làm một ngày/tuần hoặc một tuần/tháng nên có mức lương từ 40.000-50.000 đô-la/năm là hợp lý.

Độc giả Tom Lancing hiện đang tập sự tại một văn phòng luật cũng đồng ý với kết quả khảo sát. “Là sinh viên luật năm thứ tư, tôi có thể nói rằng những gì bài báo nêu là đúng. Trước khi học luật, tôi là nhân viên thu ngân ở ngân hàng và còn kiếm được nhiều tiền hơn bây giờ”, anh cho biết.

Danny Denuto, một độc giả khác, kể lại anh khởi nghiệp luật sư tranh tụng với mức thu nhập chỉ 37.000 đô-la/năm. Anh chấp nhận làm việc cực khổ trong vài năm nhưng cuộc sống luôn chật vật. Danny kết luận: “Quý vị đừng nghĩ luật sư kiếm bộn tiền. Chỉ có nhóm ‘thượng lưu’ điều hành văn phòng luật thôi”.

Độc giả Michael từ Adelaide cũng khẳng định luật sư không giàu như mọi người nghĩ: “Luật sư tập sự tại Adelaide (Nam Úc) may mắn lắm mới được mức lương 40.000 đô-la/năm. Một số người thậm chí còn chấp nhận giảm lương khi được may mắn ‘đề cử’ từ vị trí trợ lý lên luật sư văn phòng và thời lượng làm việc ít nhất 12 tiếng/ngày.”

Độc giả John Burton đặt câu hỏi, liệu có ai tin luật sư phải ăn mì gói ‘cầm hơi’ không? John còn dẫn chứng ‘hùng hồn’ ví dụ điển hình là cô em gái mình, sau khi tốt nghiệp ngành luật, ra trường đi làm tại Sydney thì tiền lương “chỉ đủ ăn mì gói!”.

Căng thẳng nghề nghiệp

Theo nhận định của một số người trong cuộc, luật sư là một nghề có tính cạnh tranh cao giữa các cá nhân và không khí làm việc ở các văn phòng luật thường “căng như dây đàn”, thậm chí đôi khi xảy ra sự bon chen giữa các đồng nghiệp nhằm loại trừ ‘đối thủ’, tranh giành cơ hội thăng tiến nghề nghiệp.

Bà cho biết khi bà mang thai đứa con đầu lòng, mọi người trong công ty đều được tăng lương, trừ bà. Bà đã than phiền điều đó với một đồng nghiệp nam cùng tuổi và được người này trả lời với bộ mặt nghiêm trang: “Tại sao công ty lại phải tăng lương cho bạn? Đằng nào bạn cũng nghỉ để sinh con cơ mà”.

Và Emma McDonald kết luận: “Những nữ luật sư như tôi thật lo sợ, không dám đứng ra đặt câu hỏi về kiểu phân biệt đối xử hạ thấp con người như vậy. Trong thâm tâm, các nữ luật sư luôn hiểu rằng giới tính của họ chính là điểm yếu trong một môi trường đàn ông chiếm đa số”.

Sự căng thẳng nghề nghiệp đã khiến cho một số người làm việc trong ngành luật gặp vấn đề về sức khỏe tâm thần. Trong tháng 6 vừa qua, tại tiểu bang New South Wales, hai thẩm phán là bà Jennifer Betts và ông Brian Maloney bị kiến nghị cách chức vì có những phát ngôn và hành vi không phù hợp với tư cách của người xử án.

Tuy nhiên, họ cho rằng mình bị bệnh trầm cảm và thần kinh phân liệt. Trong lời bào chữa xin được tiếp tục hành nghề đọc trước Thượng viện New South Wales ngày 22/6/2011, thẩm phán Brian Maloney cho rằng những người có vấn đề nhẹ về sức khỏe tâm thần như ông được tiếp tục làm việc là điều hết sức bình thường. Theo ông, tại Úc có tới 40% sinh viên luật, 33% luật sư và 20% trạng sư có biểu hiện bất thường về sức khỏe tâm thần.

Một Luật Sư Gốc Việt Bị Toà Án Úc Tước Bằng Hành Nghề Di Trú

Doanhnhanvietuc – Ngày 14.12.2023 Một agent di trú tư nhân ( migration agent) gốc Việt, hành nghề ở Úc với số đăng ký MARN 0351235 vừa bị Bộ Di Trú Úc tước bằng ( cancellation ) hành nghề .Thông báo được đăng public trên web MARA kèm theo báo cáo 84 trang nêu chi tiết các vi phạm dựa vào kết quả điều tra của Bộ Di Trú Úc .

Điều tra của MARA sau khi nhận được 5 khiếu nại trong khoảng thời gian 2013 – 2014, đã quyết định tước bằng hành nghề trong 5 năm đối với luật sư di trú Nguyễn Hoàng Tranh, văn phòng East West Lawyers ở Canley Heights, NSW.

Trong một khiếu nại khác, luật sư này đã nộp hồ sơ 457 cho thân chủ với chức danh Quản lý Dịch vụ Khách hàng (Customer Service Manager) với mức lương $50,000/năm.Tuy nhiên sau đó khi Bộ di trú đến kiểm tra địa điểm kinh doanh thì phát hiện hợp đồng lao động là giả, việc thuê mướn nhân viên chỉ là dàn xếp, và thân chủ phải trả $3,000 tiền bảo lãnh mà đáng lẽ chính công ty bảo lãnh phải trả số tiền này. Ngoài ra còn phải trả phí luật sư lên đến $10,000.

Trong khoảng thời gian từ 3/2/2012 đến 6/9/2012, văn phòng di trú này đã nộp tổng cộng 14 hồ sơ doanh nghiệp bảo lãnh, toàn bộ đều là các vị trí quản lý trong nhà hàng với mức lương $50,000, và tất cả đều là hợp đồng lao động giả.

Một khi cánh cửa vào Úc ngày càng thu hẹp thì càng có những lời mách nước dụ dỗ, lợi dụng sự cả tin, không hiểu luật pháp của khách hàng nhằm trục lợi. Hậu quả không chỉ hồ sơ bị từ chối mà còn có khả năng người đó không bao giờ được quay trở lại

Trong khoảng thời gian từ năm từ năm 2008 đến nay có tổng cộng 76 luật sư và chuyên viên di trú bị tước bằng hoặc bị cấm vĩnh viễn không được hành nghề, trong đó có 2 Luật sư di trú gốc Việt.

Visa 457 trước đây là một con đường bắc cầu đến PR cho nhiều du học sinh tại Úc, vì không cần biết ngành học là gì, miễn họ tìm được một công ty chịu đứng ra bảo lãnh 4 năm thì sẽ có khả năng xin làm thường trú nhân tại Úc.

Visa 457 cũng phổ biến ở những ngành lao động tay chân như nhà hàng-khách sạn, làm nông hay làm nail, do đặc tính của người lao động ngoại quốc (chủ yếu là Hoa, Ấn, Việt, Thái…) vốn chăm chỉ, chịu thương chịu khó hơn người Úc.

Tuy nhiên, visa 457 từ lâu đã bị cho là một kẽ hở để cả chuyên viên di trú lẫn người lao động lợi dụng để tìm đường định cư tại Úc. Đã có nhiều vụ bê bối, lợi dụng lỗ hổng trong hệ thống di trú Úc, đơn cử như vụ chuỗi nhà hàng pizza Domino’s “rao bán” visa 457 cho sinh viên – tức là các sinh viên này phải trả một số tiền vô cùng lớn để nhà hàng đứng ra nhận bảo lãnh để xin PR. Hay việc các chủ nông trại đứng ra bảo lãnh nhân công ngoại quốc, sau đó bóc lột với đồng lương rẻ mạt.

Do đó, visa 457 sẽ được thay thế bằng visa TSS (Temporary Skill Shortage), có thời hạn 2 hoặc 4 năm, và áp dụng chính thức từ tháng 3/2023. Theo đó, chỉ một số ngành nghề được phép xin PR sau khi làm việc vài năm, còn lại thì hết thời hạn visa là phải về nước.

Nếu ngành của bạn nằm trong STSOL, thì visa TSS của bạn chỉ có thời hạn 2 năm, có thể gia hạn thêm 1 lần, nhưng không thể xin PR thông qua visa 186 hoặc 187.

Nếu ngành của bạn nằm trong MLTSSL, thì visa TSS của bạn sẽ có thời hạn 4 năm, được xin visa 186 hoặc 187 sau 3 năm có visa TSS (tức tăng thêm 1 năm so với 457).

Một số điều kiện cần lưu ý đối với TSS thời hạn 4 năm:

– Phải có 2 năm kinh nghiệm làm việc trong ngành nghề sắp xin

– Mức lương tối thiểu: $53,900

– Nếu bị án tù trên 12 tháng sẽ bị từ chối visa

– Chủ nhân phải chứng minh không được kỳ thị nhân viên người Úc. Nghĩa là nếu trong công ty số lượng người lao động ngoại quốc hoặc du học sinh quá nhiều thì rất có khả năng bị bác hồ sơ.

Các nguồn tại web của Chính phủ Úc

– Sanctioned agent detail: https://www.mara.gov.au/…/discipl…/sanctioned-agent-detail/…

– Decision file: https://www.mara.gov.au/api/fileupload/documentFile…

Theo tìm hiểu của NewsVietUc thì tại Sydney, ông Tranh là một nhân vật có tiếng , một trang web tại Sydney đã viết : “…. 23/06/2023 Nguyễn Hoàng Tranh

B.Ec, LL.B. (Sydney Uni.) Grad.Dip.Leg.Prac. (The College of Law, Sydney) Solicitor and Barrister of the Supreme Court of NSW and the High Court of Australia Registered Migration Agent – MARN 0531235 Qualified Education Agent Counsellor No. E528 Member of the Law Society of New South Wales & OMARA Member of the Law Association for Asia and the Pacific – LAWASIA

Luật sư Nguyễn Hoàng Tranh là động lực chính đằng sau sự phát triển của East West Group, bao gồm công ty luật East West Lawyers và công ty tư vấn East West Consulting. Là luật sư trưởng kiêm giám đốc điều hành của East West, luật sư Tranh hiện đang điều hành hai văn phòng luật trực thuộc công ty tại thành phố Sydney và một văn phòng đại diện tại Sài Gòn với thành phần thân chủ bao gồm mọi tầng lớp trong xã hội.

Luật sư Tranh được Tòa Thượng Thẩm bang NSW (Supreme Court of NSW) và Tối Cao Pháp Viện Liên Bang Úc (High Court of Australia) công nhận và cấp giấy phép hành nghề với tư cách là Luật Sư & Trạng Sư có thẩm quyền biện hộ và đại diện cho thân chủ ở tất cả các cấp tòa án tiểu bang và liên bang Úc. Chính nhờ vào sự kính trọng, uy tín đã gầy dựng được trên 10 năm qua, luật sư Tranh đã tạo cho mình một vị thế và ấn tượng tốt đẹp đối với hầu hết các thân chủ và có mối quan hệ chiến lược lâu dài với các công ty lớn, các tổ chức kinh tế tài chánh, ngân hàng và các Hiệp Hội Thương Mại & Kỹ Nghệ Úc thuộc nhiều ngành công nghệ quan trọng hàng đầu của nước Úc.”

Theo Newsvietuc

Một luật sư gốc Việt bị toà án Úc tước bằng hành nghề di trú

Vui lòng đánh giá bài viết

Vui lòng đánh giá bài viết