Nghị Định Thư Có Nghĩa Là Gì / 2023 / Top 16 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 12/2022 # Top View | Bac.edu.vn

Từ Nghị Định Có Nghĩa Là Gì / 2023

Nghị Định Có Nghĩa Là Gì, ý Nghĩa Của Nghị Định, Nghị Định Về Quỹ Đền ơn Đáp Nghĩa, ý Nghĩa Của Nghị Định 100, ý Nghĩa Của Nghị Định Là Gì, Định Nghĩa Câu Nghi Vấn, Nghị Định 45 Đền ơn Đáp Nghĩa, Nghị Định Số 45 Về Quỹ Đền ơn Đáp Nghĩa, Từ Nghị Định Có Nghĩa Là Gì, Nghị Định 45 Quỹ Đền ơn Đáp Nghĩa, ý Nghĩa Nghị Định 72, ý Nghĩa Nghị Định Thư Kyoto, ý Nghĩa Của Nghị Định Thư Kyoto, Nghị Quyết Về Hoàn Thiện Thể Chế Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa, Nghị Quyết Số 11-nq/tw Về Hoàn Thiện Thể Chế Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa, ý Nghĩa Phương Pháp Luận Của Định Nghĩa Vật Chất Của Lênin, Định Nghĩa âm Tiết Và Định Nghĩa Hình Vị, Định Nghĩa Nhân Nghĩa, Định Nghĩa Và ý Nghĩa Của Đạo Hàm Tiết 2, Tại Sao Việc Xác Định Động Cơ Vào Đảng Đúng Đắn Được Đặt Lên Hàng Đầu Và Có ý Nghĩa Quyết Định, Định Nghĩa 4 Kiểu Dinh Dưỡng ở Vi Sinh Vật, Nghị Định 40/2019/nĐ-cp Về Sửa Đổi Bổ Sung Một Số Điều Của Các Nghị Định Chi Tiết, Hướng Dẫn Thi Hàn, Nghị Định 40/2019/nĐ-cp Về Sửa Đổi Bổ Sung Một Số Điều Của Các Nghị Định Chi Tiết, Hướng Dẫn Thi Hàn, Định Nghĩa Xã Hội Chủ Nghĩa, Định Nghĩa Và ý Nghĩa Của Đạo Hàm, Định Nghĩa Và ý Nghĩa Đạo Hàm, ý Nghĩa Của Đơn Đề Nghị, Cô Đơn ơi Tên Mi Có Nghĩa Là Nghị Lực, Đơn Xin Nghỉ Tranh Thủ Cho Bộ Đội Nghĩa Vụ, Nghị Quyết Có ý Nghĩa Gì, Từ Quyết Nghị Nghĩa Là Gì, ý Nghĩa Nghị Quyết 15, ý Nghĩa Nghị Quyết 18, ý Nghĩa Nghị Quyết 26, Nghị Quyết Có Nghĩa Là Gì, ý Nghĩa Nghị Quyết 27, Đơn Xin Nghỉ Tranh Thủ Cho Bộ Đội Đi Nghĩa Vụ, ý Nghĩa Nghị Quyết 36, Từ Quyết Nghị Có Nghĩa Là Gì, Đơn Xin Nghỉ Tranh Thu Của Bộ Đội Đi Nghĩa Vụ, ý Nghĩa Nghị Quyết 35, Đơn Xin Nghỉ Việc ý Nghĩa, ý Nghĩa Của Giấy Đề Nghị Vay Vốn, ý Nghĩa Nghị Quyết, Dự Thảo Nghị Định Sửa Đổi Các Nghị Định Thi Hành Luật Đất Đai, Dự Thảo Nghị Định Thay Thế Nghị Định 30/2015/nĐ-cp, Nghị Định 10/2020/nĐ-cp Thay Thế Nghị Định 86/2014/nĐ-cp, Dự Thảo Nghị Định Thay Thế Nghị Định Số 24/2014/nĐ-cp, Đơn Xin Nghỉ Tranh Thu Của Bộ Đội Đi Nghĩa Vụ Quân Sự, Đơn Xin Nghỉ Việc Để Đi Nghĩa Vụ Quân Sự, Văn Bản Đề Nghị Xác Nhận Nghĩa Vụ Thuế, Đơn Xin Nghỉ Tranh Thủ Cho Nguoi Đi Nghia Vu, Nghị Quyết 9 Chống Chủ Nghĩa Xét Lại, Don Xin Nghi Tranh Thu Choi Bo Doi Dj Nghia Vu, Mẫu Đơn Xin Nghỉ Việc Đi Nghĩa Vụ Quân Sự, Đơn Xin Nghỉ Việc Đi Nghĩa Vụ Quân Sự, Nghỉ Tranh Thủ Của Công An Nghĩa Vụ, Màu Đơn Xin Nghỉ Tranh Thủ Của Bộ Đội Đi Nghĩa Vụ Quân Sự, Định Nghĩa Ròng Rọc Cố Định, ý Nghĩa Nghị Quyết Trung ương Lần Thứ 15, Đơn Xin Nghĩ Tranh Thủ Chuo Công An Nghĩa Vụ, ý Nghĩa Của Giấy Đề Nghị Thanh Toán, ý Nghĩa Của Nghị Quyết Trung ương 15, ý Nghĩa Nghị Quyết Trung ương 8, ý Nghĩa Nghị Quyết Trung ương 15, ý Nghĩa Nghị Quyết Trung ương 7, ý Nghĩa Giấy Đề Nghị Thanh Toán, ý Nghĩa Nghị Quyết Trung ương 4, Cách Xin Nghỉ Tranh Thủ Của Bộ Đội Đi Nghĩa Vụ Quân Sự, ý Nghĩa Nghị Quyết Trung ương 9, Định Nghĩa 3 Que, Định Nghĩa Ete, 8/3 Định Nghĩa, Định Nghĩa Mặt Cầu, Định Nghĩa E Hóa Trị, Định Nghĩa 3, Định Nghĩa L/c, Định Nghĩa Giá Trị Bản Thân, Định Nghĩa 6s, Định Nghĩa Giá Trị, Định Nghĩa Lim, Định Nghĩa Là Gì, Định Nghĩa 3pl, Định Nghĩa Eq, Quy Định Quỹ Đền ơn Đáp Nghĩa, Định Nghĩa Erp, Định Nghĩa Esd Là Gì, Định Nghĩa 3p, Định Nghĩa 3g, Định Nghĩa 3d, Định Nghĩa 2 Từ Bạn Thân, Định Nghĩa Góc, Định Nghĩa Góc Lớp 6, Định Nghĩa Utf-8, Định Nghĩa Irr, Định Nghĩa It, Định Nghĩa I, Định Nghĩa, ăn Định Nghĩa, Định Nghĩa ước Mơ,

Nghị Định Có Nghĩa Là Gì, ý Nghĩa Của Nghị Định, Nghị Định Về Quỹ Đền ơn Đáp Nghĩa, ý Nghĩa Của Nghị Định 100, ý Nghĩa Của Nghị Định Là Gì, Định Nghĩa Câu Nghi Vấn, Nghị Định 45 Đền ơn Đáp Nghĩa, Nghị Định Số 45 Về Quỹ Đền ơn Đáp Nghĩa, Từ Nghị Định Có Nghĩa Là Gì, Nghị Định 45 Quỹ Đền ơn Đáp Nghĩa, ý Nghĩa Nghị Định 72, ý Nghĩa Nghị Định Thư Kyoto, ý Nghĩa Của Nghị Định Thư Kyoto, Nghị Quyết Về Hoàn Thiện Thể Chế Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa, Nghị Quyết Số 11-nq/tw Về Hoàn Thiện Thể Chế Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa, ý Nghĩa Phương Pháp Luận Của Định Nghĩa Vật Chất Của Lênin, Định Nghĩa âm Tiết Và Định Nghĩa Hình Vị, Định Nghĩa Nhân Nghĩa, Định Nghĩa Và ý Nghĩa Của Đạo Hàm Tiết 2, Tại Sao Việc Xác Định Động Cơ Vào Đảng Đúng Đắn Được Đặt Lên Hàng Đầu Và Có ý Nghĩa Quyết Định, Định Nghĩa 4 Kiểu Dinh Dưỡng ở Vi Sinh Vật, Nghị Định 40/2019/nĐ-cp Về Sửa Đổi Bổ Sung Một Số Điều Của Các Nghị Định Chi Tiết, Hướng Dẫn Thi Hàn, Nghị Định 40/2019/nĐ-cp Về Sửa Đổi Bổ Sung Một Số Điều Của Các Nghị Định Chi Tiết, Hướng Dẫn Thi Hàn, Định Nghĩa Xã Hội Chủ Nghĩa, Định Nghĩa Và ý Nghĩa Của Đạo Hàm, Định Nghĩa Và ý Nghĩa Đạo Hàm, ý Nghĩa Của Đơn Đề Nghị, Cô Đơn ơi Tên Mi Có Nghĩa Là Nghị Lực, Đơn Xin Nghỉ Tranh Thủ Cho Bộ Đội Nghĩa Vụ, Nghị Quyết Có ý Nghĩa Gì, Từ Quyết Nghị Nghĩa Là Gì, ý Nghĩa Nghị Quyết 15, ý Nghĩa Nghị Quyết 18, ý Nghĩa Nghị Quyết 26, Nghị Quyết Có Nghĩa Là Gì, ý Nghĩa Nghị Quyết 27, Đơn Xin Nghỉ Tranh Thủ Cho Bộ Đội Đi Nghĩa Vụ, ý Nghĩa Nghị Quyết 36, Từ Quyết Nghị Có Nghĩa Là Gì, Đơn Xin Nghỉ Tranh Thu Của Bộ Đội Đi Nghĩa Vụ, ý Nghĩa Nghị Quyết 35, Đơn Xin Nghỉ Việc ý Nghĩa, ý Nghĩa Của Giấy Đề Nghị Vay Vốn, ý Nghĩa Nghị Quyết, Dự Thảo Nghị Định Sửa Đổi Các Nghị Định Thi Hành Luật Đất Đai, Dự Thảo Nghị Định Thay Thế Nghị Định 30/2015/nĐ-cp, Nghị Định 10/2020/nĐ-cp Thay Thế Nghị Định 86/2014/nĐ-cp, Dự Thảo Nghị Định Thay Thế Nghị Định Số 24/2014/nĐ-cp, Đơn Xin Nghỉ Tranh Thu Của Bộ Đội Đi Nghĩa Vụ Quân Sự, Đơn Xin Nghỉ Việc Để Đi Nghĩa Vụ Quân Sự,

Nghị Định Thư Kyoto (The Kyoto Protocol) Là Gì? Hiệu Quả Nửa Vời Của Nghị Định Thư / 2023

Nghị định thư Kyoto

Khái niệm

Nghị định thư Kyoto trong tiếng Anh là The Kyoto Protocol.

Nghị định thư Kyoto là một thỏa thuận quốc tế nhằm giảm lượng khí thải carbon dioxide (CO2) và sự xuất hiện của khí nhà kính (GHG) trong khí quyển. Nguyên lí cơ bản của Nghị định thư Kyoto là các quốc gia công nghiệp hóa cần giảm lượng khí thải CO2.

Nội dung về Nghị định thư Kyoto

Khái quát

Nghị định thư Kyoto yêu cầu các quốc gia công nghiệp cắt giảm khí thải nhà kính vào thời điểm mối đe dọa nóng lên toàn cầu đang gia tăng nhanh chóng. Nghị định thư được liên kết với Công ước khung của Liên Hiệp Quốc về Biến đổi Khí hậu (UNFCCC). Nó được thông qua tại Kyoto, Nhật Bản vào ngày 11/12/1997 và trở thành luật quốc tế vào ngày 16/2/2005.

Các quốc gia thông qua Nghị định thư Kyoto được chỉ định mức phát thải carbon tối đa trong các giai đoạn cụ thể và tham gia giao dịch tín chỉ carbon. Nếu một quốc gia phát thải nhiều hơn giới hạn được chỉ định, thì quốc gia đó sẽ bị phạt bằng việc nhận giới hạn phát thải thấp hơn trong giai đoạn sau.

Nguyên tắc chính

Các nước phát triển, công nghiệp hóa đã hứa hẹn trong Nghị định thư Kyoto sẽ giảm trung bình 5,5% lượng khí thải hydrocarbon hàng năm vào năm 2012. Con số này sẽ chiếm khoảng 29% tổng lượng phát thải khí nhà kính trên thế giới. Mặc dù mục tiêu phụ thuộc vào từng quốc gia.

Điều này có nghĩa là mỗi quốc gia có một mục tiêu khác nhau để đáp ứng vào năm đó. Các thành viên của Liên minh châu Âu (EU) cam kết cắt giảm 8% lượng khí thải, còn Mỹ và Canada hứa sẽ giảm lượng khí thải lần lượt là 7% và 6% vào 2012.

Trách nhiệm của các nước phát triển so với các nước đang phát triển

Nghị định thư Kyoto công nhận rằng các nước phát triển chịu trách nhiệm chính cho mức độ phát thải GHG cao trong khí quyển hiện nay, và là do kết quả của hơn 150 năm hoạt động công nghiệp của các nước này. Do đó, Nghị định thư đặt gánh nặng lên các quốc gia phát triển nhiều hơn các quốc gia kém phát triển.

Nghị định thư Kyoto yêu cầu 39 quốc gia công nghiệp hóa và EU cắt giảm khí thải GHG. Các nước đang phát triển được yêu cầu tuân thủ một cách tự nguyện và hơn 100 nước đang phát triển, gồm Trung Quốc và Ấn Độ, đã được miễn trừ hoàn toàn khỏi thỏa thuận Kyoto.

Nghị định thư Kyoto kết thúc vào năm 2012 với hiệu quả nửa vời

Phát thải toàn cầu vẫn tăng lên vào năm 2005, năm mà Nghị định thư Kyoto trở thành luật quốc tế. Mọi thứ dường dường như ổn thỏa đối với nhiều nước, bao gồm các nước EU. Họ đã lên kế hoạch để đáp ứng hoặc vượt qua mục tiêu của họ theo thỏa thuận vào năm 2011.

Nhưng những nước khác thì vẫn không thể đáp ứng mục tiêu, thậm chí lượng phát thải của họ không những giảm mà còn tăng. Lấy Mỹ và Trung Quốc là ví dụ, đó là hai trong số những nước phát thải lớn nhất thế giới. Lượng khí nhà kính mà họ thải ra đã khiến nỗ lực giảm thải toàn cầu của các nước khác trở thành vô nghĩa. Trên thực tế, đã có sự gia tăng khoảng 40% lượng khí thải trên toàn cầu vào năm 2009.

Sửa đổi mở rộng Nghị định thư Kyoto tại Doha năm 2020

Vào tháng 12/2012, sau khi thời hạn cam kết đầu tiên của Nghị định thư kết thúc, các bên tham gia Nghị định thư Kyoto đã họp tại Doha, Qatar để thông qua một sửa đổi đối với thỏa thuận ban đầu của Kyoto. Sửa đổi Doha này đã bổ sung các mục tiêu giảm phát thải mới cho giai đoạn cam kết thứ hai, 2012-2020, cho các nước tham gia.

Sửa đổi Doha đã có một giai đoạn tồn tại ngắn ngủi. Năm 2015, tại hội nghị thượng đỉnh phát triển bền vững được tổ chức tại Paris, tất cả những người tham gia UNFCCC đã kí một hiệp ước khác, Hiệp ước Paris về khí hậu, thay thế cho Nghị định thư Kyoto một cách hiệu quả hơn.

Nghị định thư Kyoto ngày nay

Vào năm 2016, khi Hiệp định Khí hậu Paris có hiệu lực, Mỹ là một trong những động lực chính của thỏa thuận và Tổng thống Obama đã ca ngợi nó như là “một sự tôn vinh đối với lãnh đạo Mỹ”. Là một ứng cử viên cho tổng thống vào thời điểm đó, Donald Trump chỉ trích thỏa thuận này là một thỏa thuận tồi tệ đối với người dân Mỹ và cam kết sẽ để Mỹ rút khỏi Hiệp định nếu ông trúng cử.

Hầu như tất cả các nhà khoa học nghiên cứu về bầu khí quyền hiện nay đều tin rằng, sự nóng lên toàn cầu chủ yếu là kết quả do hành động của con người. Sau đó, theo logic, những gì con người gây ra bởi hành vi của họ sẽ có thể được khắc phục bằng cách thay đổi hành vi của chính họ. Nhưng là một điều nản lòng đối với nhiều người, rằng hành động gắn kết để đối phó với cuộc khủng hoảng khí hậu toàn cầu do người người gây ra vẫn chưa thực sự diễn ra.

(Theo Investopedia)

Ích Y

Luật Sharia Thực Sự Có Nghĩa Là Gì / 2023

Luật Sharia là gì?

Sharia trong tiếng Ả Rập có nghĩa là cách thức của người Jamaica, và không đề cập đến một cơ quan pháp luật. Sharia được hiểu chính xác hơn là đề cập đến các nguyên tắc đạo đức rộng rãi và rộng rãi được rút ra từ Kinh Qur’an và các thực hành và câu nói (hadith) của Tiên tri Muhammad. Những nguyên tắc rộng rãi này được các luật sư giải thích để đưa ra các phán quyết pháp lý cụ thể và các quy định đạo đức. Cơ quan của các phán quyết pháp lý xuất hiện từ việc giải thích luật Sharia thường được gọi là luật Hồi giáo, hay còn gọi là Luật fiqh Hồi trong tiếng Ả Rập. Nó là kết quả của hoạt động trí tuệ của con người và do đó, theo định nghĩa, dễ đọc và thay đổi.

Có đúng là Sharia quy định hình phạt khắc nghiệt cho các hành vi như ngoại tình?

Tôi muốn thận trọng chống lại việc giảm Sharia xuống chỉ một hoặc hai nguyên tắc pháp lý và chọn ra một số hình phạt nhất định là đặc trưng của Sharia. Sẽ tốt hơn nhiều khi bắt đầu với các mục tiêu cơ bản của Sharia.

Sharia cung cấp hướng dẫn về cách sống một cuộc sống đạo đức. Nó đưa ra các hướng dẫn về cách cầu nguyện và cách đối xử với các thành viên trong gia đình, hàng xóm và những người có nhu cầu. Nó đòi hỏi người Hồi giáo phải công bằng và công bằng trong giao dịch với mọi người, không được nói dối và buôn chuyện, v.v., và luôn luôn để thúc đẩy những gì là tốt và ngăn chặn những gì sai.

Các học giả Hồi giáo phản ánh về các mục tiêu lớn hơn của Sharia đã nói rằng luật bắt nguồn từ nó phải luôn bảo vệ những điều sau đây: cuộc sống, trí tuệ, gia đình, tài sản và danh dự của con người. Năm mục tiêu này tạo ra những gì chúng ta có thể coi là một Đạo luật Quyền Hồi giáo tiền phương, cung cấp sự bảo vệ cho các quyền tự do dân sự.

Danumurthi Mahendra, CC BY-NC-SA

Về câu hỏi cụ thể về ngoại tình, Hồi giáo, giống như một số tôn giáo khác, có một vị trí mạnh mẽ, vì nó tìm cách thúc đẩy sự tôn nghiêm và ổn định của gia đình. Những người bị kết tội ngoại tình được cho là bị trừng phạt bằng cách đả kích (dựa trên Kinh Qur’an) hoặc ném đá (dựa trên hadith).

Nhưng có một loạt bằng chứng phải được đáp ứng trước khi hình phạt này có thể được đưa ra: Bốn nhân chứng phải quan sát hành động xâm nhập thực tế. Ngay cả trong thời đại mãn nhãn này, sẽ không thể đáp ứng tiêu chí này. Do đó, hình phạt theo quy định cho ngoại tình là hầu như không bao giờ được thực hiện trong thế giới tiền hiện đại.

Tình trạng này trái ngược với những vụ ném đá tàn bạo đã được thực hiện trong thời kỳ hậu thuộc địa hiện đại ở một số ít các quốc gia đa số Hồi giáo, như Nigeria và Pakistan. Từ quan điểm của tôi, các đề cập ở trên quy tắc chứng cứ đã không được quan tâm đúng mức. Trong nhiều trường hợp như vậy, các luật sư hiện đại, những người có thể được đào tạo rất ít về luật Hồi giáo cổ điển và không hiểu các nguyên tắc của Sharia đang được yêu cầu thực hiện Hình phạt Hồi giáo Hồi giáo bởi các chính trị gia muốn xuất hiện đạo Hồi. Việc ném đá dường như là một cách kịch tính để khẳng định một bản sắc Hồi giáo Hồi giáo nông cạn, thường đối lập với phương Tây. Có những luật sư khác người đã chỉ trích những ví dụ theo chủ nghĩa giật gân về việc ném đá là vi phạm các nguyên tắc đạo đức và pháp lý cơ bản trong Hồi giáo.

Là Sharia chống phụ nữ?

Chắc chắn là không. Kinh Qur’an công nhận sự bình đẳng tuyệt đối của đàn ông và phụ nữ là con người và tuyên bố rằng họ là đối tác của nhau trong việc thúc đẩy lợi ích chung.

Sharia cung cấp cho phụ nữ một số quyền mà thực tế chưa từng thấy trong thế giới tiền hiện đại. Nó đòi hỏi cả nam và nữ đều có quyền truy cập kiến ​​thức như nhau; nó đòi hỏi phải có sự đồng ý của phụ nữ trước khi kết hôn; và nó cho phép cô ấy có quyền bắt đầu ly hôn trong những điều kiện nhất định. Luật sư Hồi giáo cho phép phá thai trong ba tháng đầu của thai kỳ, đặc biệt là nếu sức khỏe của người mẹ lâm nguy.

Trên hết, Sharia cho phép một người phụ nữ thừa kế tài sản từ người thân nam của cô ấy và để giữ tài sản này cho riêng mình, ngay cả sau khi kết hôn – chồng cô ấy không thể đưa ra bất kỳ yêu cầu nào với nó. Ngược lại, phụ nữ Kitô giáo châu Âu là không được phép giữ tài sản của họ sau khi kết hôn cho đến thế kỷ 19. Các nhà nữ quyền Hồi giáo vận động cho các quyền hợp pháp bình đẳng trong các xã hội đa số Hồi giáo ngày nay rút ra lập luận và sức mạnh của họ từ Sharia.

Giết người và cắt xén bộ phận sinh dục nữ, thường được giới truyền thông mô tả là Hồi giáo, trên thực tế là các tập tục của bộ lạc phi Hồi giáo không có cơ sở ở Sharia. Cắt bỏ bộ phận sinh dục nữ được thực hành bởi người không theo đạo Hồi là tốt.

Ít nhất chín tiểu bang ở Mỹ đã thông qua Luật pháp nước ngoài cấm Sharia tại tòa án Mỹ. Điều gì đằng sau nỗi sợ hãi? Là luật Sharia đang được thực hiện bất cứ nơi nào ở Mỹ?

Như tôi thấy, nỗi sợ hãi và căm thù Hồi giáo và Hồi giáo hay Hồi giáo đang thúc đẩy một chiến dịch chống Sharia. Hiến pháp Hoa Kỳ vẫn là luật đất đai. Sharia dù sao cũng không áp dụng cho những người không theo đạo Hồi nên sự cuồng loạn hiện đang bị kích động bởi một số nhóm nhất định, tôi tin rằng, dựa trên sự thiếu hiểu biết và cố chấp hoàn toàn. Sự cố chấp này nằm dưới chiến dịch chống Sharia đã được Hiệp hội luật sư Hoa Kỳ công nhận khi thông qua nghị quyết trong 2011 chống lại các biện pháp chống Sharia khác nhau. Như nghị quyết đã nêu:

Các sáng kiến ​​của mục tiêu nhắm vào toàn bộ tôn giáo hoặc bêu xấu cả một cộng đồng tôn giáo, chẳng hạn như những sáng kiến ​​nhắm vào ‘luật Sharia’, không nhất quán với một số nguyên tắc và lý tưởng cốt lõi của luật học Mỹ.

Để thiết lập kỷ lục thẳng, người ta cần lưu ý rằng luật chống Sharia đã bị đánh bại ở Florida, Missouri và Oklahoma và cuộc chiến tiếp tục trong các tiểu bang như Michigan.

Sharia có phải là luật đất đai ở các quốc gia Hồi giáo? Làm thế nào để thực hiện khác nhau?

Theo truyền thống, các quốc gia Hồi giáo thuộc về một trong bốn trường luật lớn phát triển trong thế kỷ 10th. Các trường hợp pháp này giải thích Sharia hơi khác nhau về các vấn đề khác nhau nhưng chúng được hiểu là chính thống và hợp lệ như nhau. Ngày nay, các phán quyết pháp lý Hồi giáo được áp dụng chủ yếu trong lĩnh vực luật cá nhân và gia đình, chi phối các vấn đề về hôn nhân, ly hôn và thừa kế, trong số những người khác.

Luật dân sự ở hầu hết các quốc gia đa số Hồi giáo được dựa trên các hệ thống pháp luật hiện đại của phương Tây, một di sản của thời kỳ thuộc địa châu Âu của phần lớn thế giới Hồi giáo bắt đầu từ thế kỷ 19th. Do đó, Ai Cập đã mượn bộ luật dân sự của Pháp, trong khi Thổ Nhĩ Kỳ thông qua luật dân sự Thụy Sĩ và Indonesia Hà Lan. Những ngoại lệ đáng chú ý là Ả Rập Saudi và Iran, trong đó áp dụng luật Hồi giáo trong lĩnh vực dân sự và công cộng là tốt. Ở các quốc gia đa số Hồi giáo ở Pakistan và Afghanistan, luật bộ lạc được gọi là luật jirga đôi khi được ưu tiên về luật Hồi giáo.

Asma Afsaruddin, Giáo sư Nghiên cứu Hồi giáo và cựu Chủ tịch, Khoa Ngôn ngữ và Văn hóa Cận Đông, Đại học Indiana

Bài viết này ban đầu được xuất bản vào Conversation. Đọc ban đầu bài viết.

{amazonWS: searchindex = Books; Keywords = Sharia Law; maxresults = 3}

Nghị Định Là Gì? Nghị Định Tiếng Anh Là Gì? Nghị Định Dùng Để Làm Gì? / 2023

Nghị định là văn bản do chính phủ ban hành dùng để hướng dẫn luật hoặc quy định những việc phát sinh mà chưa có luật hoặc pháp lệnh nào điều chỉnh. Mặt khác, nghị định do Chính phủ ban hành để quy định những quyền lợi và nghĩa vụ của người dân theo Hiến pháp và Luật do Quốc hội ban hành.

Nghị định tiếng anh là Decree

Nghị quyết tiếng anh là Resolution

Hiến pháp tiếng anh là Constitution

Thông tư tiếng anh là Circular

Nghị định được Chính phủ ban hành để quy định:

Chi tiết điều, khoản, điểm được giao trong luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết củaỦy ban thường vụ Quốc hội, lệnh, quyết định của Chủ tịch nước.

Vấn đề cần thiết thuộc thẩm quyền của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội nhưng chưa đủ điều kiện xây dựng thành luật hoặc pháp lệnh để đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước, quản lý kinh, tế, quản lý xã hội. Trước khi ban hành nghị định này phải được sự đồng ý của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Nghị định của Chính phủ có giá trị pháp lý thấp hơn so với Hiến pháp, luật và pháp lệnh, nhưng cao hơn so với những văn bản quy phạm pháp luật khác do cơ quan nhà nước từ cấp Bộ đến Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân các cấp ban hành.

Sự khác nhau giữa Nghị định – Luật – Nghị quyết – Thông tư

Trong hệ thống pháp luật Việt Nam có rất nhiều loại văn bản quy phạm pháp luật khác nhau bao gồm Luật, Nghị định, Nghị quyết, Thông tư, Thông tư liên tịch,…

Văn bản luật ( do Quốc Hội ban hành) bao gồm Hiến pháp, Bộ luật, Luật, Pháp lệnh, Nghị quyết Quốc Hội.

Văn bản dưới luật ( do chính phủ và các bộ, cơ quan ngang bộ ban hành) bao gồm :

Quyết định (của thủ tướng chính phủ về các vấn đề cụ thể)

Nghị định (của chính phủ hướng dẫn thi hành văn bản luật, pháp lênh)

Thông tư (của các bộ, ngành)

Công văn

Trong đó Hiến pháp được xem là văn bản quy phạm pháp luật có giá trị cao nhất. Hiến pháp là một đạo luật quy định những vấn đề cơ bản nhất của Nhà nước như chế độ chính trị, chế độ kinh tế, chế độ văn hóa – xã hội, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, nguyên tắc tổ chức và hoạt động của hệ thống các cơ quan trong bộ máy nhà nước.

Phân biệt Nghị định – Luật – Nghị quyết – Thông tư

Luật là văn bản có giá trị cao sau Hiến Pháp và do Quốc hội ban hành. Bộ luật, luật của Quốc hội quy định các vấn đề cơ bản thuộc lĩnh vực kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh, tài chính, tiền tệ, ngân sách, thuế, dân tộc, tôn giáo, văn hoá, giáo dục, y tế, khoa học, công nghệ, môi trường, đối ngoại, tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, chế độ công vụ, cán bộ, công chức, quyền và nghĩa vụ của công dân. Nói cách khác, bộ luật, luật dùng để điều chỉnh các quan hệ xã hội cơ bản thuộc các lĩnh vực về đối nội và đối ngoại của quốc gia.

Bộ luật, luật có tính chất cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp theo những ngành luật hoặc các lĩnh vực pháp luật chuyên biệt, ví dụ: Bộ luật Hình sự, Bộ luật Dân sự, Luật Hôn nhân và gia đình,…

Trong khoa học pháp lý, bộ luật và luật đều được gọi là đạo luật; sự khác nhau giữa bộ luật và luật thường không nhiều. Tuy nhiên, bộ luật thường điều chỉnh các nhóm quan hệ xã hội rộng lớn và có tính bao quát; bộ luật là “xương sống” của một ngành luật.

Ngoài ra, các bộ luật lớn còn chứa đựng những nguyên tắc chi phối các ngành luật lân cận. Ví dụ: các quy định của Bộ luật Dân sự có thể được viện dẫn trong khi giải quyết các quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình, quan hệ pháp luật thương mại…

Luật được Quốc hội ban hành để quy định về :

Tổ chức và hoạt động của Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, Hội đồng bầu cử quốc gia, Kiểm toán nhà nước, chính quyền địa phương, đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt và cơ quan khác do Quốc hội thành lập;

Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân mà theo Hiến pháp phải do luật định, việc hạn chế quyền con người, quyền công dân; tội phạm và hình phạt;

Chính sách cơ bản về tài chính, tiền tệ quốc gia, ngân sách nhà nước; quy định, sửa đổi hoặc bãi bỏ các thứ thuế;

Chính sách cơ bản về văn hóa, giáo dục, y tế, khoa học, công nghệ, môi trường;

Quốc phòng, an ninh quốc gia;

Chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo của Nhà nước;

Hàm, cấp trong lực lượng vũ trang nhân dân; hàm, cấp ngoại giao; hàm, cấp nhà nước khác; huân chương, huy chương và danh hiệu vinh dự nhà nước;

Chính sách cơ bản về đối ngoại;

Trưng cầu ý dân;

Cơ chế bảo vệ Hiến pháp;

Vấn đề khác thuộc thẩm quyền của Quốc hội.

Nghị quyết là Hình thức văn bản quyết định về những vấn đề cơ bản sau khi được hội nghị bàn bạc, thông qua bằng biểu quyết theo đa số, biểu thị ý kiến hay ý định của một cơ quan, tổ chức về một vấn đề nhất định.

Hiến pháp đã quy định nghị quyết là hình thức văn bản của Quốc hội, Ủy ban thường vụ quốc hội, Chính phủ, Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân các cấp.

Nghị quyết được Quốc Hội ban hành để quy định về :

Tỷ lệ phân chia các khoản thu và nhiệm vụ chi giữa ngân sách trung ương và ngân sách địa phương;

Thực hiện thí điểm một số chính sách mới thuộc thẩm quyền quyết định của Quốc hội nhưng chưa có luật điều chỉnh hoặc khác với quy định của luật hiện hành;

Tạm ngưng hoặc kéo dài thời hạn áp dụng toàn bộ hoặc một phần luật, nghị quyết của Quốc hội đáp ứng các yêu cầu cấp bách về phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm quyền con người, quyền công dân;

Quy định về tình trạng khẩn cấp, các biện pháp đặc biệt khác bảo đảm quốc phòng, an ninh quốc gia;

Đại xá;

Vấn đề khác thuộc thẩm quyền của Quốc hội.

Ủy ban thường vụ Quốc hội cũng ban hành pháp lệnh để quy định những vấn đề được Quốc hội giao. Họ thường ban hành nghị quyết để quy định:

Giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh;

Tạm ngưng hoặc kéo dài thời hạn áp dụng toàn bộ hoặc một phần pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội đáp ứng các yêu cầu cấp bách về phát triển kinh tế – xã hội;

Bãi bỏ pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội; trường hợp bãi bỏ pháp lệnh thì Ủy ban thường vụ Quốc hội có trách nhiệm báo cáo Quốc hội tại kỳ hợp gần nhất;

Tổng động viên hoặc động viên cục bộ; ban bố, bãi bỏ tình trạng khẩn cấp trong cả nước hoặc ở từng địa phương;

Hướng dẫn hoạt động của Hội đồng nhân dân;

Vấn đề khác thuộc thẩm quyền của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Thông tư là văn bản giải thích, hướng dẫn thực hiện những văn bản của nhà nước ban hành, thuộc phạm vi quản lí của một ngành nhất định.

Đơn giản hơn, có thể nói thông tư dùng để hướng dẫn nghị định, do cấp bộ, bộ trưởng ký ban hành.