Nghị Quyết 30C Năm 2011 Của Chính Phủ / TOP #10 Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 8/2022 # Top View | Bac.edu.vn

Thực Hiện Nghị Quyết 30C Của Chính Phủ: Nhiều Chuyển Biến Trong Cải Cách Hành Chính

--- Bài mới hơn ---

  • Cải Cách Hành Chính Tạo Thuận Lợi Để Dịch Chuyển Sang Phát Triển Chính Phủ Số
  • Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam Tổng Kết 10 Năm Cải Cách Hành Chính
  • Kết Quả Tổng Kết 4 Năm Thực Hiện Nghị Quyết Số 759/2014/nq
  • Nghị Quyết 759/2014/ubtvqh13: Quy Định Chi Tiết Về Hoạt Động Tiếp Công Dân Của Các Cơ Quan Của Quốc Hội, Đại Biểu Quốc Hội, Hội Đồng Nhân Dân Và Đại Biểu Hội Đồng Nhân Dân Các Cấp
  • Sau 4 Năm Thực Hiện Nghị Quyết 32: Còn Không Ít Việc Phải Làm
  • – Được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo kịp thời, sâu sát của Tỉnh ủy, UBND tỉnh; hướng dẫn về công tác CCHC của Bộ Nội vụ, Văn phòng Chính phủ và các bộ, ngành trung ương và sự phối hợp của các sở, ban ngành, địa phương, việc triển khai thực hiện Chương trình tổng thể CCHC nhà nước giai đoạn 2011-2020 của Chính phủ trên địa bàn tỉnh đạt nhiều kết quả, cơ bản hoàn thành các nhiệm vụ.

    * Xin đồng chí cho biết cụ thể hơn về những kết quả nổi bật trong thực hiện CCHC của tỉnh giai đoạn này? 

    – Thực hiện Nghị quyết 30c của Chính phủ, UBND tỉnh đã xây dựng kế hoạch và triển khai thực hiện trên toàn tỉnh và đạt được nhiều kết quả đáng khích lệ. Đó là, công tác xây dựng, kiểm tra, rà soát văn bản quy phạm pháp luật, theo dõi thi hành pháp luật được thực hiện nghiêm túc. Chất lượng văn bản quy phạm pháp luật được ban hành theo đúng trình tự, thủ tục, thẩm quyền quy định. Công tác kiểm soát thủ tục hành chính (TTHC) được thực hiện thường xuyên; kịp thời sửa đổi, bổ sung TTHC theo hướng đơn giản, dễ hiểu, dễ thực hiện đối với nhân dân và doanh nghiệp. Việc giải quyết TTHC theo cơ chế “một cửa”, “một cửa liên thông” được đảm bảo theo quy định, chất lượng giải quyết được nâng cao. Việc đưa Trung tâm Phục vụ hành chính công tỉnh đi vào hoạt động đã tạo chuyển biến tích cực trong việc đẩy mạnh cải cách TTHC. Mở rộng hình thức, phạm vi công khai, minh bạch hóa TTHC và các thông tin quản lý nhà nước, tập trung cải thiện môi trường kinh doanh, thu hút đầu tư. Mở rộng hình thức, nâng cao chất lượng của việc đánh giá mức độ hài lòng của công dân, tổ chức, lấy kết quả đánh giá làm thước đo về chất lượng phục vụ dịch vụ hành chính công. 

    Sắp xếp tổ chức bộ máy theo hướng tinh gọn; công tác đào tạo, bồi dưỡng được chú trọng; thực hiện cơ chế tự chủ đã tạo quyền chủ động cho các cơ quan, đơn vị. Ứng dụng công nghệ thông tin được triển khai một cách đồng bộ từ cấp tỉnh đến cơ sở, từng bước xây dựng chính quyền điện tử. Nổi bật là, hệ thống một cửa điện tử hiện đại tỉnh giúp cho việc điều hành, xử lý công việc của các cơ quan được nhanh chóng, tiết kiệm được thời gian, chi phí tiến tới xóa bỏ việc lạm dụng giấy tờ trong hoạt động hành chính. 

    * Qua thực tế 10 năm triển khai thực hiện Chương trình tổng thể CCHC nhà nước theo Nghị quyết 30c của Chính phủ, tỉnh đã rút ra những bài học kinh nghiệm gì, thưa đồng chí? 

    – Có 6 bài học kinh nghiệm được rút ra trong quá trình triển khai công tác CCHC của tỉnh giai đoạn này. 

    Công chức Trung tâm Hành chính công của tỉnh, ứng dụng công nghệ thông tin trong giải quyết công việc cho công dân. Ảnh: NGUYỄN HƯNG

    Một là, CCHC nhà nước phải có sự quan tâm, cùng chung tay của cả hệ thống chính trị và sự chỉ đạo, điều hành, đôn đốc kiểm tra thường xuyên của lãnh đạo các cấp. Đây là động lực lớn thúc đẩy các giải pháp về CCHC được triển khai hiệu quả trên thực tế.

    Hai là, để đạt được hiệu quả cao trong CCHC nhà nước, nhận thức của người đứng đầu các cấp, ngành về mục tiêu, ý nghĩa, tầm quan trọng của CCHC và quá trình CCHC cần được tiến hành một cách kiên trì, liên tục, lâu dài và toàn diện. Thực tế cho thấy, nơi nào thủ trưởng cơ quan, đơn vị quan tâm chỉ đạo tốt thì hiệu quả triển khai rất tốt. 

    Ba là, từng cơ quan, đơn vị phải chủ động xây dựng chương trình, kế hoạch thực hiện công tác CCHC của đơn vị, địa phương mình với mục tiêu, hoạt động, phân công, phân nhiệm cụ thể, rõ ràng, gắn với thực hiện nhiệm vụ chuyên môn, phù hợp với tình hình thực tiễn. 

    Bốn là, CCHC phải gắn liền với Quy chế thực hiện dân chủ tại cơ quan, đơn vị, địa phương; phát huy được sức mạnh tập thể, tạo sự đồng thuận cao của nhân dân cùng thực hiện, giám sát, kiểm tra, góp ý xây dựng nền hành chính hoàn thiện hơn. 

    Cán bộ ngành công an làm chứng minh nhân dân cho người dân tại Trung tâm Phục vụ hành chính công của tỉnh. Ảnh: NGUYỄN HƯNG

    Năm là, phải quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức “vừa hồng vừa chuyên”; thực hiện tuyển dụng, bố trí, đào tạo đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước có đủ năng lực, có khả năng đáp ứng được các yêu cầu CCHC ngày càng cao trong giai đoạn hiện nay. 

    Sáu là, CCHC trong giai đoạn hiện nay, giai đoạn hội nhập quốc tế sâu rộng và cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 phải gắn với thực hiện chính quyền điện tử và công nghệ thông tin là công cụ để thực hiện mục tiêu cải cách.

    Thực hiện Nghị quyết 30c của Chính phủ, việc giải quyết TTHC theo cơ chế “một cửa”, “một cửa liên thông” được đảm bảo theo quy định, chất lượng giải quyết được nâng cao. Trung tâm Phục vụ hành chính công tỉnh đi vào hoạt động đã tạo chuyển biến tích cực trong việc đẩy mạnh cải cách TTHC.

    – UBND tỉnh kiến nghị Chính phủ sớm ban hành văn bản sửa đổi Nghị định 85 về cơ chế hoạt động, tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp y tế công lập và giá dịch vụ khám, chữa bệnh của các cơ sở khám, chữa bệnh công lập; sớm ban hành các nghị định quy định cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập trong từng lĩnh vực. Kiến nghị Bộ Tài chính sớm ban hành các định mức kinh tế – kỹ thuật áp dụng trong các lĩnh vực dịch vụ sự nghiệp công và các tiêu chí, tiêu chuẩn chất lượng dịch vụ sự nghiệp công; Bộ Nội vụ ban hành quy định, hướng dẫn về thành lập các phòng chuyên môn, nghiệp vụ thuộc các sở, ngành nhằm giảm bớt đầu mối trung gian. 

    Đồng thời đề xuất Chính phủ mở rộng các chính sách ưu đãi hiện hành để khuyến khích xã hội hóa; có chủ trương đổi mới cơ cấu đầu tư, phương thức đầu tư từ ngân sách nhà nước đối với các đơn vị sự nghiệp công lập theo hướng xác định giá trị tài sản để giao cho đơn vị quản lý theo cơ chế giao vốn như doanh nghiệp. Đề nghị Bộ TT-TT sớm ban hành đề án Chuyển giao một số nhiệm vụ, dịch vụ hành chính công; có cơ chế giảm chi phí cấp và phí sử dụng chứng thư số cho người dân, doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ của tỉnh để khuyến khích người dân, doanh nghiệp sử dụng chữ ký số trong các giao dịch điện tử. 

    Các cấp, ngành tiếp tục đẩy mạnh hơn nữa công tác kiểm tra, giám sát quá trình cấp phép đầu tư và triển khai dự án nhằm tạo sự phối hợp đồng bộ và kịp thời tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc cho nhà đầu tư khi triển khai dự án, đảm bảo các dự án được cấp phép phù hợp với quy hoạch chung và theo đúng trình tự quy định…

     * Xin cảm ơn đồng chí! 

    – Thực hiện Nghị quyết 30c của Chính phủ, UBND tỉnh đã xây dựng kế hoạch và triển khai thực hiện trên toàn tỉnh và đạt được nhiều kết quả đáng khích lệ. Đó là, công tác xây dựng, kiểm tra, rà soát văn bản quy phạm pháp luật, theo dõi thi hành pháp luật được thực hiện nghiêm túc. Chất lượng văn bản quy phạm pháp luật được ban hành theo đúng trình tự, thủ tục, thẩm quyền quy định. Công tác kiểm soát thủ tục hành chính (TTHC) được thực hiện thường xuyên; kịp thời sửa đổi, bổ sung TTHC theo hướng đơn giản, dễ hiểu, dễ thực hiện đối với nhân dân và doanh nghiệp. Việc giải quyết TTHC theo cơ chế “một cửa”, “một cửa liên thông” được đảm bảo theo quy định, chất lượng giải quyết được nâng cao. Việc đưa Trung tâm Phục vụ hành chính công tỉnh đi vào hoạt động đã tạo chuyển biến tích cực trong việc đẩy mạnh cải cách TTHC. Mở rộng hình thức, phạm vi công khai, minh bạch hóa TTHC và các thông tin quản lý nhà nước, tập trung cải thiện môi trường kinh doanh, thu hút đầu tư. Mở rộng hình thức, nâng cao chất lượng của việc đánh giá mức độ hài lòng của công dân, tổ chức, lấy kết quả đánh giá làm thước đo về chất lượng phục vụ dịch vụ hành chính công.Sắp xếp tổ chức bộ máy theo hướng tinh gọn; công tác đào tạo, bồi dưỡng được chú trọng; thực hiện cơ chế tự chủ đã tạo quyền chủ động cho các cơ quan, đơn vị. Ứng dụng công nghệ thông tin được triển khai một cách đồng bộ từ cấp tỉnh đến cơ sở, từng bước xây dựng chính quyền điện tử. Nổi bật là, hệ thống một cửa điện tử hiện đại tỉnh giúp cho việc điều hành, xử lý công việc của các cơ quan được nhanh chóng, tiết kiệm được thời gian, chi phí tiến tới xóa bỏ việc lạm dụng giấy tờ trong hoạt động hành chính.- Có 6 bài học kinh nghiệm được rút ra trong quá trình triển khai công tác CCHC của tỉnh giai đoạn này.Một là, CCHC nhà nước phải có sự quan tâm, cùng chung tay của cả hệ thống chính trị và sự chỉ đạo, điều hành, đôn đốc kiểm tra thường xuyên của lãnh đạo các cấp. Đây là động lực lớn thúc đẩy các giải pháp về CCHC được triển khai hiệu quả trên thực tế.Hai là, để đạt được hiệu quả cao trong CCHC nhà nước, nhận thức của người đứng đầu các cấp, ngành về mục tiêu, ý nghĩa, tầm quan trọng của CCHC và quá trình CCHC cần được tiến hành một cách kiên trì, liên tục, lâu dài và toàn diện. Thực tế cho thấy, nơi nào thủ trưởng cơ quan, đơn vị quan tâm chỉ đạo tốt thì hiệu quả triển khai rất tốt.Ba là, từng cơ quan, đơn vị phải chủ động xây dựng chương trình, kế hoạch thực hiện công tác CCHC của đơn vị, địa phương mình với mục tiêu, hoạt động, phân công, phân nhiệm cụ thể, rõ ràng, gắn với thực hiện nhiệm vụ chuyên môn, phù hợp với tình hình thực tiễn.Bốn là, CCHC phải gắn liền với Quy chế thực hiện dân chủ tại cơ quan, đơn vị, địa phương; phát huy được sức mạnh tập thể, tạo sự đồng thuận cao của nhân dân cùng thực hiện, giám sát, kiểm tra, góp ý xây dựng nền hành chính hoàn thiện hơn.Năm là, phải quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức “vừa hồng vừa chuyên”; thực hiện tuyển dụng, bố trí, đào tạo đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước có đủ năng lực, có khả năng đáp ứng được các yêu cầu CCHC ngày càng cao trong giai đoạn hiện nay.Sáu là, CCHC trong giai đoạn hiện nay, giai đoạn hội nhập quốc tế sâu rộng và cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 phải gắn với thực hiện chính quyền điện tử và công nghệ thông tin là công cụ để thực hiện mục tiêu cải cách.- UBND tỉnh kiến nghị Chính phủ sớm ban hành văn bản sửa đổi Nghị định 85 về cơ chế hoạt động, tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp y tế công lập và giá dịch vụ khám, chữa bệnh của các cơ sở khám, chữa bệnh công lập; sớm ban hành các nghị định quy định cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập trong từng lĩnh vực. Kiến nghị Bộ Tài chính sớm ban hành các định mức kinh tế – kỹ thuật áp dụng trong các lĩnh vực dịch vụ sự nghiệp công và các tiêu chí, tiêu chuẩn chất lượng dịch vụ sự nghiệp công; Bộ Nội vụ ban hành quy định, hướng dẫn về thành lập các phòng chuyên môn, nghiệp vụ thuộc các sở, ngành nhằm giảm bớt đầu mối trung gian.Đồng thời đề xuất Chính phủ mở rộng các chính sách ưu đãi hiện hành để khuyến khích xã hội hóa; có chủ trương đổi mới cơ cấu đầu tư, phương thức đầu tư từ ngân sách nhà nước đối với các đơn vị sự nghiệp công lập theo hướng xác định giá trị tài sản để giao cho đơn vị quản lý theo cơ chế giao vốn như doanh nghiệp. Đề nghị Bộ TT-TT sớm ban hành đề án Chuyển giao một số nhiệm vụ, dịch vụ hành chính công; có cơ chế giảm chi phí cấp và phí sử dụng chứng thư số cho người dân, doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ của tỉnh để khuyến khích người dân, doanh nghiệp sử dụng chữ ký số trong các giao dịch điện tử.Các cấp, ngành tiếp tục đẩy mạnh hơn nữa công tác kiểm tra, giám sát quá trình cấp phép đầu tư và triển khai dự án nhằm tạo sự phối hợp đồng bộ và kịp thời tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc cho nhà đầu tư khi triển khai dự án, đảm bảo các dự án được cấp phép phù hợp với quy hoạch chung và theo đúng trình tự quy định…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nhìn Lại 10 Năm Thực Hiện Cải Cách Hành Chính Nhà Nước Giai Đoạn 2011
  • Từ Vựng Tiếng Trung Chủ Đề Từ Ghép
  • Hội Đồng Quản Trị Là Gì? Các Quy Định Về Chủ Tịch Hội Đồng Quản Trị
  • Nghị Quyết, Quyết Định Của Hội Đồng Thành Viên Công Ty Tnhh
  • Thể Chế Hóa Nghị Quyết Của Đảng Thành Văn Bản Pháp Luật
  • Thành Phố Cần Thơ Tổ Chức Hội Nghị Tổng Kết Công Tác Cchc Năm 2011 Và Triển Khai Nghị Quyết 30C/nq

    --- Bài mới hơn ---

  • Nghị Quyết Số 30/2016/qh14 Về Thực Hiện Thí Điểm Cấp Thị Thực Điện Tử Cho Người Nước Ngoài Nhập Cảnh Việt Nam
  • Nghị Quyết 28/2016/qh14 Sửa Đổi Về Miễn, Giảm Thuế Sử Dụng Đất Nông Nghiệp
  • Nghị Quyết 30/2012/qh13 Chất Vấn Trả Lời Chất Vấn Tại Kỳ Họp Thứ 3 Quốc Hội
  • Nghị Quyết 30/2012/qh13 Về Chất Vấn Và Trả Lời Chất Vấn Tại Kỳ Họp Thứ 3, Quốc Hội Khóa Xiii
  • Nghị Quyết 30/2012/qh13 Của Quốc Hội Về Việc Chất Vấn Và Trả Lời Chất Vấn Tại Kỳ Họp Thứ 3, Quốc Hội Khóa Xiii
  • Hội nghị do Ông Nguyễn Thanh Sơn Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố chủ trì.

    Hội nghị báo cáo kết quả thực hiện công tác cải cách hành chính năm 2011 và tiến hành triển khai các văn bản như: Chương trình tổng thể cải cách hành chính giai đoạn 2011 – 2022, Kế hoạch công tác cải cách hành chính năm 2012, kế hoạch kiểm tra công tác cải cách hành chính và Kế hoạch tuyên truyền cải cách hành chính; Kế hoạch ISO năm 2012, Kế hoạch rà soát thủ tục hành chính năm 2012 và trao Huân chương lao động hạng III của Chủ tịch nước khen tặng cho Ủy ban nhân dân thành phố về công tác cải cách hành chính.Ủy ban nhân dân thành phố thống nhất với kết quả thực hiện công tác cải cách hành chính năm 2011. Cụ thể như sau:- 100% các quận, huyện đã ra mắt mô hình Ứng dụng công nghệ thông tin vào Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả cấp huyện; Ở cấp xã cũng đã thí điểm Ứng dụng công nghệ thông tin vào tiếp nhận hồ sơ để phục vụ người dân tại xã Mỹ Khánh của huyện Phong Điền và xã Trung An của huyện Cờ Đỏ, 03 phường của quận Ô Môn. – Các sở, ban ngành, Ủy ban nhân dân quận, huyện đã tích cực trong việc triển khai và đẩy mạnh việc thực hiện công tác CCHC tại cơ quan, đơn vị; – Toàn thành phố có: 22/22 Sở, ban ngành, 9/9 quận, huyện, 85/85 xã, phường thị trấn thực hiện cơ chế “một cửa” đạt 100%;- Về công tác rà soát thủ tục hành chính: đã thực hiện tốt việc rà soát, đánh giá và thực hiện các quy định về đơn giản hóa thủ tục hành chính. Đến nay toàn thành phố có 1.488 TTHC được công bố ở 3 cấp;

    – Công tác đào tạo bồi dưỡng được thành phố đặc biệt quan tâm trong năm 2011, đã cử đi đào tạo mới 2.260 trường hợp, trong đó:

    + Đào tạo trong nước: 2.245 trường hợp;

    + Đào tạo nước ngoài: 15 trường hợp

    – Công tác kiểm tra cải cách hành chính được xem là nhiệm vụ trọng tâm. Trong năm 2011, Ủy ban nhân dân thành phố đã thành lập 01 đoàn Kiểm tra, kiểm tra tại 07 đơn vị; chỉ đạo kiểm tra 03 đợt về thủ tục hành chính tại 114 đơn vị; tham gia cùng Đoàn kiểm tra của Thành ủy tại 02 đơn vị.

    1. Giám đốc Sở, Thủ tưởng các cơ quan, ban ngành thành phố; Chủ tịch UBND quận, huyện và Chủ tịch UBND xã, phường thị trấn phải xem công tác CCHC là nhiệm vụ trọng tâm của đơn vị mình và của cả hệ thống chính trị. Kế hoạch CCHC năm 2012 có nhiều chỉ tiêu cần phải thực hiện, do đó yêu cầu lãnh đạo từng cơ quan, đơn vị phải cố gắng phấn đấu hết mình để hoàn thành nhiệm vụ của thành phố.

    2. Các cơ quan chủ trì trong thực hiện Chương trình tổng thể cải cách hành chính giai đoạn 2011 – 2022 của thành phố (gồm: Sở Nội vụ, Sở Tư pháp, Văn phòng UBND thành phố, Sở Tài chính, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Thông tin và Truyền thông, Sở Y tế, Sở Giáo dục và Đào tạo, Sở Khoa học và Công nghệ, Sở Văn hóa – Thể thao và Du lịch, Báo Cần Thơ, Đài Phát thanh và Truyền hình Cần Thơ) có trách nhiệm xây dựng chương trình cụ thể hóa, hoàn thành trước 13 tháng 04 năm 2012 để gửi về Sở Nội vụ tổng hợp. Đối với các đơn vị không có phân công công việc cụ thể cũng phải xây dựng kế hoạch thực hiện cho đơn vị mình.

    3. Các cơ quan, đơn vị xem lại tổ chức bộ máy của từng đơn vị và đẩy mạnh việc phân cấp cho cơ quan cấp dưới, đồng thời phải thường xuyên kiểm tra việc thực hiện phân cấp của cơ quan cấp dưới; tăng cường bồi dưỡng kỹ năng, trình độ, thái độ phục vụ của cán bộ, công chức; công khai thủ tục hành chính, chống nhũng nhiễu, phiền hà; từng cơ quan đơn vị phải tổ chức, phân công nhiệm vụ rõ ràng cho từng cán bộ, công chức, làm cơ sở đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ;

    4. Thủ trưởng từng đơn vị phải tăng cường chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc, hướng dẫn thủ tục hành chính.

    5. Việc đưa công nghệ thông tin vào Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả cấp xã là mục tiêu trong năm 2012, thực hiện 50% Ủy ban nhân dân cấp xã ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động của bộ phận tiếp nhận và trả kết quả là khá lớn, UBND thành phố sẽ bàn bạc trao đổi với Sở Tài chính trong việc phân bổ kinh phí thực hiện;

    6. Giao Sở Thông tin và Truyền thông nghiên cứu xây dựng cơ sở dữ liệu dùng chung trong cơ quan hành chính nhà nước;

    7. Giao Sở Khoa học và Công nghệ tiếp tục hướng dẫn các cơ quan, đơn vị trong việc chuyển hệ thống quản lý chất lượng từ ISO 9001- 2000 sang ISO 9001 – 2008.

    8. Cơ quan thông tin, truyên truyền cần cải tiến hình thức tuyên truyền về CCHC một cách đa dạng, phong phú để cán bộ, công chức và người dân hiểu cùng thực hiện;

    9. Giao Sở Nội vụ kiểm tra, đôn đốc việc tổ chức thực hiện, tổng hợp báo cáo trình Ủy ban nhân dân thành phố.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tiến Độ Thực Hiện Nghị Quyết 30A/2008/nq
  • Nhìn Lại 8 Năm Thực Hiện Nghị Quyết 30A Của Chính Phủ
  • Kết Quả Thực Hiện Chương Trình Phát Triển Nông Nghiệp Công Nghệ Cao Và Chương Trình Cho Vay Theo Nghị Quyết Số 30/nq
  • Trao Đổi Triển Khai Nghị Quyết Số 30/nq
  • Làm Tại Xã Không Khó Khăn Thuộc Huyện Nghèo Có Được Ưu Đãi?
  • Nhìn Lại 8 Năm Thực Hiện Nghị Quyết 30A Của Chính Phủ

    --- Bài mới hơn ---

  • Tiến Độ Thực Hiện Nghị Quyết 30A/2008/nq
  • Thành Phố Cần Thơ Tổ Chức Hội Nghị Tổng Kết Công Tác Cchc Năm 2011 Và Triển Khai Nghị Quyết 30C/nq
  • Nghị Quyết Số 30/2016/qh14 Về Thực Hiện Thí Điểm Cấp Thị Thực Điện Tử Cho Người Nước Ngoài Nhập Cảnh Việt Nam
  • Nghị Quyết 28/2016/qh14 Sửa Đổi Về Miễn, Giảm Thuế Sử Dụng Đất Nông Nghiệp
  • Nghị Quyết 30/2012/qh13 Chất Vấn Trả Lời Chất Vấn Tại Kỳ Họp Thứ 3 Quốc Hội
  • Thực hiện Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP ngày 27 tháng 12 năm 2008 của Chính phủ về Chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 61 huyện nghèo (gọi tắt là Nghị quyết 30a), Bắc Kạn có 2 huyện được thụ hưởng Chương trình. Sau 8 năm thực hiện, bộ mặt nông thôn các địa phương đã có nhiều chuyển biến tích cực.

    Hỗ trợ chuyển đổi cơ cấu cây trồng, một trong những đóng góp tạo việc làm, tăng thu nhập cho hộ nghèo ở huyện nghèo 30a những năm qua. (ảnh: Cán bộ tri thức trẻ huyện Ba Bể hướng dẫn người dân chăm sóc cây ăn quả).

    Tăng cường công tác chỉ đạo

    Nhằm triển khai thực hiện có hiệu quả Nghị quyết 30a, tỉnh Bắc Kạn đã tổ chức hội nghị phổ biến, quán triệt các quan điểm, nội dung Nghị quyết đến lãnh đạo các sở, ban, ngành và Thường trực Huyện ủy, UBND hai huyện Ba Bể, Pác Nặm; ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện Nghị quyết 30a của Chính phủ trên địa bàn tỉnh; ban hành quyết định thành lập Ban Chỉ đạo thực hiện Nghị quyết, với 21 người là đại diện các sở, ban, ngành tham gia; thành lập hai tổ công tác liên ngành giúp việc Ban Chỉ đạo thực hiện Nghị quyết tại huyện Ba Bể và Pác Nặm với 14 thành viên.

    Từ năm 2022, Bắc Kạn đã hợp nhất Ban Chỉ đạo thực hiện Nghị quyết 30a và Ban Chỉ đạo Chương trình giảm nghèo thành Ban Chỉ đạo thực hiện Chương trình giảm nghèo bền vững tỉnh Bắc Kạn. Tỉnh đã tổ chức hội thảo nghiệm thu đề án, ban hành quyết định phê duyệt Đề án giảm nghèo nhanh và bền vững của huyện Ba Bể và Pác Nặm giai đoạn từ năm 2009 đến 2022; bố trí tăng cường cán bộ thực hiện Nghị quyết 30a; tăng cường đội ngũ cán bộ và đội ngũ tri thức trẻ giúp các xã tổ chức thực hiện có hiệu quả Nghị quyết và khuyến khích, thu hút tri thức trẻ, cán bộ chuyên môn kỹ thuật về tham gia tổ công tác tại các xã thuộc hai huyện nghèo; trong đó, Ba Bể 60 người, Pác Nặm 40 người. Song song với đó, tỉnh đã chú trọng phân bổ kinh phí hàng năm cho các địa phương kịp thời, sau khi được giao vốn, các huyện được thụ hưởng đã xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện.

    Kết quả thực hiện ở huyện nghèo 30a

    Có thể nói, các chính sách đầu tư của Đảng và Nhà nước đã đến được với người dân. Người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số đã được tiếp cận với các dịch vụ xã hội y tế, giáo dục, tín dụng ưu đãi, hỗ trợ sản xuất, dạy nghề, tạo việc làm, điều kiện sống, thông tin… Việc đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng tại các huyện nghèo (Chương trình 30a), xã nghèo (Chương trình 135), Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới cùng với việc huy động, lồng ghép có hiệu quả nguồn lực của các chương trình phát triển kinh tế – xã hội, các dự án ODA, FDI, các nguồn vốn hỗ trợ của các doanh nghiệp, tập đoàn đã đem lại bộ mặt mới cho nông thôn miền núi.

    Từ năm 2009 đến năm 2022, riêng đầu tư cho giáo dục, Tập đoàn Bảo Việt đã hỗ trợ huyện Pác Nặm 18 công trình (ảnh: Phân trường vùng cao Lủng Mít, xã Bằng Thành (Pác Nặm) được đầu tư, đáp ứng nhu cầu sự nghiệp giáo dục cho con em địa phương)

    Nguồn vốn Tập đoàn Bảo Việt hỗ trợ huyện Pác Nặm từ năm 2009 đến năm 2022 với số kinh phí 49,77 tỷ đồng hỗ trợ đầu tư 25 công trình: Xây dựng mới và sửa chữa, nâng cấp 7 trạm y tế; xây dựng 18 công trình giáo dục (xây trường lớp học, làm nhà ở, bếp ăn, mua sắm bàn ghế, giường cho học sinh bán trú); hỗ trợ 410 hộ gia đình làm nhà theo Quyết định 167. Nguồn vốn Tập đoàn Than khoáng sản Việt Nam hỗ trợ huyện Ba Bể từ năm 2009 đến năm 2022 số tiền 66,765 tỷ đồng, đầu tư 43 công trình trạm y tế xã, trường lớp học…

    Các chính sách hỗ trợ về y tế, giáo dục, nhà ở, tín dụng ưu đãi, trợ giúp pháp lý được thực hiện đúng quy định. Mua và cấp 582.034 thẻ bảo hiểm y tế cho người nghèo, người dân tộc thiểu số, trẻ em dưới 6 tuổi trên địa bàn hai huyện nghèo; hỗ trợ cho trên 140.000 trẻ được thụ hưởng chính sách hỗ trợ về giáo dục; hơn 1.000 nhà ở cho hộ nghèo; hỗ trợ khoán chăm sóc, bảo vệ rừng, giao rừng và giao đất để trồng rừng sản xuất, trồng rừng phòng hộ với diện tích 54.824ha, hỗ trợ cho 587 hộ, với 82,145 tấn gạo; hỗ trợ 1.904 hộ khai hoang, phục hóa, tạo ruộng bậc thang với diện tích 228.61ha; hỗ trợ chuyển đổi cơ cấu cây trồng; 11.781 hộ mua giống vật nuôi; tổ chức hàng trăm lớp đào tạo nghề…

    Giai đoạn 2009 – 2010, mỗi năm huyện nghèo giảm bình quân 5,21%, đạt so với mục tiêu đề ra. Giai đoạn 2011 – 2022, mỗi năm bình quân giảm 5,85% tỷ lệ hộ nghèo, đạt mục tiêu đề ra. Góp phần nâng tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân toàn tỉnh giai đoạn 2011 – 2022 (theo giá cố định năm 1994) đạt 13,5%/năm và tăng 6,4% (theo giá so sánh năm 2010). Thu nhập bình quân đầu người so với đầu giai đoạn tăng 1,75 lần.

    Những khó khăn cần tháo gỡ

    Có thể nói, Nghị quyết 30a đã giúp kinh tế – xã hội huyện nghèo có những chuyển biến rõ rệt. huyện nghèo, xã nghèo và người nghèo tại vùng đặc biệt khó khăn được ổn định cuộc sống, vươn lên thoát nghèo. Tuy nhiên do nội dung hỗ trợ rộng, nhu cầu nguồn vốn để thực hiện các hạng mục lớn vốn đầu tư được giao thấp, Bắc Kạn cần được tăng mức đầu tư hàng năm cho các huyện nghèo 30a, đặc biệt là nguồn vốn đầu tư phát triển. Hiện nay, trên địa bàn các huyện, cơ sở hạ tầng còn nhiều khó khăn nhất là các công trình đường giao thông nông thôn trong nội bộ các xã, thôn và các công trình thuỷ lợi…

    Bên cạnh đó, việc giao vốn hàng năm để thực hiện các hạng mục còn chậm, đầu tư còn dàn trải; trình độ, ý thức của người lao động chưa cao, nên việc áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất hiệu quả chưa được như mong muốn; hoạt động chế biến, bảo quản, tiêu thụ sản phẩm còn khó khăn, khó tiếp cận thị trường; văn bản hướng dẫn còn chồng chéo, dẫn đến việc triển khai ở địa phương gặp khó khăn; cần có chính sách khuyến khích, ưu tiên cho các doanh nghiệp khai thác tiềm năng đầu tư xây dựng cơ sở sản xuất, dịch vụ ở các huyện nghèo; sử dụng lực lượng lao động tại chỗ, giải quyết việc làm cho con em người dân tộc thiểu số; việc phân bổ vốn hàng năm các thủ tục mất nhiều thời gian, làm chậm tính chủ động của địa phương. Theo Thông tư số 15/2017/TT BTC ngày 15 tháng 02 năm 2022 của Bộ Tài chính, các nội dung và định mức chi hỗ trợ phát triển sản xuất các địa phương xây dựng thông qua Hội đồng nhân dân cùng cấp quyết định, vì vậy các địa phương đang lúng túng và khó khăn trong việc tổ chức thực hiện./.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Kết Quả Thực Hiện Chương Trình Phát Triển Nông Nghiệp Công Nghệ Cao Và Chương Trình Cho Vay Theo Nghị Quyết Số 30/nq
  • Trao Đổi Triển Khai Nghị Quyết Số 30/nq
  • Làm Tại Xã Không Khó Khăn Thuộc Huyện Nghèo Có Được Ưu Đãi?
  • Nghị Quyết Về Chương Trình Giám Sát Năm 2022
  • Bình Thuận: Chuyển Biến Tích Cực Trong Công Tác Kiểm Tra, Giám Sát
  • Căn Cứ Nghị Quyết Số 30C/nq

    --- Bài mới hơn ---

  • Huyện Ea Kar:tổng Kết 10 Năm Thực Hiện Chương Trình Tổng Thể Cải Cách Hành Chính Nhà Nước
  • Kết Quả Thực Hiện Chương Trình Tổng Thể Cải Cách Hành Chính Nhà Nước Giai Đoạn 2011
  • Thanh Tra Chính Phủ: Ban Hành Kế Hoạch Tổng Kết Thực Hiện Chương Trình Tổng Thể Cải Cách Hành Chính Nhà Nước Giai Đoạn 2011
  • Triển Khai Tổng Kết Cải Cách Hành Chính Giai Đoạn 2011
  • Lđlđ Tỉnh Gia Lai: Tổ Chức Tổng Kết 4 Năm Thực Hiện Nghị Quyết 9C/nq
  • PHÊ DUYỆT ĐỀ ÁN “ĐẨY MẠNH CẢI CÁCH CHẾ ĐỘ CÔNG VỤ, CÔNG CHỨC”

    THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ

    Căn cứ Luật tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;

    Căn cứ Nghị quyết số 30c/NQ-CP ngày 08 tháng 11 năm 2011 của Chính phủ ban hành Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011 – 2022; Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 03 tháng 01 năm 2012 của Chính phủ về những giải pháp chủ yếu chỉ đạo điều hành thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2012 và Nghị quyết số 06/NQ-CP ngày 07 tháng 3 năm 2012 của Chính phủ ban hành Chương trình hành động của Chính phủ nhiệm kỳ 2011 – 2022;

    Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Nội vụ,

    Điều 1. Phê duyệt Đề án “Đẩy mạnh cải cách chế độ công vụ, công chức” với các nội dung sau:

    I. MỤC TIÊU, QUAN ĐIỂM VÀ NỘI DUNG ĐẨY MẠNH CẢI CÁCH CHẾ ĐỘ CÔNG VỤ, CÔNG CHỨC

    1. Mục tiêu

    a) Mục tiêu chung: Xây dựng một nền công vụ “Chuyên nghiệp, trách nhiệm, năng động, minh bạch, hiệu quả”.

    b) Mục tiêu cụ thể đến 2022:

    – Tiến hành sửa đổi, bổ sung và xây dựng được 100% các chức danh và tiêu chuẩn công chức;

    – Nâng cao chất lượng tuyển dụng công chức; thi nâng ngạch công chức. 100% các cơ quan ở Trung ương và 70% các cơ quan ở địa phương thực hiện ứng dụng công nghệ tin học vào thi tuyển, thi nâng ngạch công chức;

    – Thực hiện thí điểm đổi mới việc tuyển chọn lãnh đạo, quản lý cấp vụ và tương đương trở xuống;

    – Đổi mới công tác đánh giá công chức theo hướng đề cao trách nhiệm người đứng đầu và gắn với kết quả công vụ;

    – Xây dựng và thực hiện cơ chế đào thải, giải quyết cho thôi việc và miễn nhiệm công chức không hoàn thành nhiệm vụ, vi phạm kỷ luật,….

    – Quy định và thực hiện chính sách thu hút, tiến cử, phát hiện, trọng dụng và đãi ngộ người có tài năng trong hoạt động công vụ;

    – Đổi mới cơ chế quản lý và chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức cấp xã và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã.

    2. Quan điểm

    – Quán triệt chủ trương, đường lối của Đảng về tiếp tục cải cách chế độ công vụ, công chức. Thống nhất về nhận thức coi đây là nhiệm vụ thường xuyên, liên tục và then chốt của cải cách nền hành chính hiện nay;

    – Đẩy mạnh cải cách chế độ công vụ, công chức phải gắn với quá trình thực hiện Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011 – 2022, phù hợp với đổi mới hệ thống chính trị, đổi mới tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, góp phần xây dựng một nền hành chính thống nhất, trong sạch, hiện đại, hiệu lực, hiệu quả và phục vụ nhân dân;

    – Đẩy mạnh cải cách chế độ công vụ, công chức phải có lộ trình, bước đi thích hợp và phải phù hợp với đặc điểm của hệ thống chính trị nước ta.

    3. Các nội dung đẩy mạnh cải cách chế độ công vụ, công chức

    a) Đẩy mạnh phân cấp quản lý và hoàn thiện việc tổ chức công vụ gọn, nhẹ: Đẩy mạnh phân cấp, phân quyền trong quản lý công chức. Từng bước gắn thẩm quyền tuyển dụng với thẩm quyền sử dụng. Giảm quy mô công vụ, sắp xếp tổ chức bộ máy gọn nhẹ, tránh chồng chéo, tiếp tục tinh giản biên chế, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức.

    c) Hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn, chức danh công chức: Tổ chức việc nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung hệ thống tiêu chuẩn, chức danh ngạch công chức và tiêu chuẩn, chức vụ lãnh đạo, quản lý từ cấp phòng trở lên để trình cấp có thẩm quyền ban hành.

    d) Nâng cao chất lượng thi tuyển, thi nâng ngạch công chức và từng bước đổi mới chế độ công vụ, công chức theo hướng năng động, linh hoạt:

    – Nâng cao chất lượng thi tuyển và thi nâng ngạch công chức, lựa chọn đúng người có phẩm chất, trình độ và năng lực để tuyển dụng vào công vụ hoặc bổ nhiệm vào các ngạch cao hơn;

    – Từng bước đổi mới chế độ công vụ, công chức theo hướng năng động, linh hoạt. Trước mắt, nghiên cứu quy định cho phép các cơ quan hành chính được ký hợp đồng lao động có thời hạn tối đa là 1 năm đối với một số vị trí để đáp ứng ngay yêu cầu của hoạt động công vụ, về lâu dài, cần nghiên cứu sửa Luật cán bộ, công chức theo hướng có chế độ công chức hợp đồng.

    đ) Ban hành các quy định của Chính phủ đề cao trách nhiệm trong hoạt động thực thi công vụ của cán bộ, công chức và gắn chế độ trách nhiệm cùng kết quả thực thi công vụ với các chế tài về khen thưởng, kỷ luật, thăng tiến, đãi ngộ. Đặc biệt là đề cao trách nhiệm và thẩm quyền của người đứng đầu.

    e) Tiếp tục đổi mới công tác đánh giá cán bộ, đánh giá công chức. Việc đánh giá phải căn cứ vào kết quả, hiệu quả công tác của cán bộ, công chức; thẩm quyền đánh giá thuộc về trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan sử dụng cán bộ, công chức. Chú trọng thành tích, công trạng, kết quả công tác của cán bộ, công chức. Coi đó là thước đo chính để đánh giá phẩm chất, trình độ, năng lực của cán bộ, công chức. Sửa đổi, bổ sung và ban hành mới quy trình đánh giá công chức, đảm bảo dân chủ, công bằng, công khai, chính xác và trách nhiệm đối với việc đánh giá công chức.

    h) Đổi mới công tác bổ nhiệm công chức lãnh đạo, quản lý: Đổi mới phương thức tuyển chọn lãnh đạo cấp vụ, cấp sở, cấp phòng. Quy định chế độ thực tập, tập sự lãnh đạo, quản lý.

    i) Nghiên cứu sửa đổi các quy định về chức danh, số lượng và chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã.

    k) Tiếp tục nghiên cứu để đổi mới và kiên quyết thực hiện chính sách tinh giản biên chế gắn với công tác đánh giá để nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức.

    Ngoài các nội dung chính nêu trên, để việc đẩy mạnh cải cách chế độ công vụ, công chức đạt được kết quả tốt, cần thiết phải có một số các giải pháp hỗ trợ như thực hiện ứng dụng mạnh mẽ công nghệ tin học vào các hoạt động thực thi công vụ và quản lý cán bộ, công chức: Thực hiện nhiệm vụ, tổ chức tuyển dụng, thi nâng ngạch, thống kê tổng hợp, quản lý cơ sở dữ liệu cán bộ, công chức…; đưa công tác thống kê báo cáo vào nề nếp để thống kê trở thành một công cụ quan trọng trong xây dựng và phát triển đội ngũ công chức.

    II. CÁC NHIỆM VỤ TRỌNG TÂM ĐẨY MẠNH CẢI CÁCH CHẾ ĐỘ CÔNG VỤ, CÔNG CHỨC

    1. Tiếp tục hoàn thiện các quy định về vị trí việc làm, về tuyển dụng, thi nâng ngạch và tiêu chuẩn công chức

    a) Sửa đổi, bổ sung Thông tư hướng dẫn việc tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức.

    b) Ban hành Nghị định của Chính phủ quy định về vị trí việc làm và cơ cấu công chức (kể cả Thông tư hướng dẫn).

    c) Hoàn thiện các quy định về tổ chức thi nâng ngạch công chức theo nguyên tắc cạnh tranh, quy chế tổ chức kỳ thi nâng ngạch theo nguyên tắc cạnh tranh và nội quy thi nâng ngạch theo nguyên tắc cạnh tranh.

    d) Ban hành các quy định về tiêu chuẩn chức danh lãnh đạo, quản lý và tiêu chuẩn ngạch công chức.

    đ) Ban hành các quy định về chế độ đánh giá công chức gắn với vị trí việc làm, tiêu chuẩn chức danh công chức và kết quả thực hiện nhiệm vụ.

    2. Triển khai xác định vị trí việc làm, cơ cấu công chức theo ngạch trong các cơ quan, tổ chức từ Trung ương đến địa phương

    a) Tổ chức tuyên truyền, thống nhất về nhận thức và hành động để triển khai thực hiện nhiệm vụ xác định vị trí việc làm và cơ cấu công chức theo ngạch trong các cơ quan, tổ chức.

    b) Tổ chức tập huấn nghiệp vụ xác định vị trí việc làm, cơ cấu công chức theo ngạch trong các cơ quan, tổ chức.

    c) Triển khai thực hiện việc xác định vị trí việc làm, cơ cấu công chức theo ngạch trong các cơ quan, tổ chức của các Bộ, ngành và địa phương.

    3. Đưa chế độ báo cáo thống kê vào nề nếp. Xây dựng và duy trì cơ sở dữ liệu đội ngũ công chức

    a) Ban hành quy định chế độ báo cáo thống kê về công tác quản lý đội ngũ cán bộ, công chức.

    b) Xây dựng và đưa vào sử dụng thống nhất phần mềm cơ sở dữ liệu và các ứng dụng, các tài liệu thiết kế, mô tả kỹ thuật, quy trình quản lý kỹ thuật, tài liệu hướng dẫn sử dụng trong các cơ quan quản lý cán bộ, công chức.

    c) Ban hành và thực hiện việc quản lý thống nhất các thông tin của hồ sơ cán bộ, công chức trong cả nước và hệ thống các biểu mẫu, báo cáo thống kê.

    d) Lưu giữ đầy đủ và thường xuyên cập nhật các thông tin hồ sơ đội ngũ cán bộ, công chức; hình thành hệ thống thông tin quản lý cán bộ, công chức trên phạm vi toàn quốc.

    4. Đổi mới và nâng cao chất lượng thi tuyển, thi nâng ngạch công chức

    a) Xây dựng bộ các câu hỏi và đáp án thi tuyển công chức đối với từng môn thi theo hướng gắn với yêu cầu về trình độ và năng lực của cơ quan, tổ chức, đơn vị cần tuyển dụng.

    b) Ứng dụng công nghệ thông tin, đổi mới phương thức thi tuyển và thi nâng ngạch công chức để đảm bảo nguyên tắc khách quan, công bằng, chất lượng, thực tài.

    5. Đổi mới phương thức tuyển chọn lãnh đạo cấp vụ, cấp sở, cấp phòng. Quy định chế độ thực tập, tập sự lãnh đạo, quản lý

    a) Đổi mới tuyển chọn lãnh đạo cấp vụ, cấp sở, cấp phòng theo hướng chú trọng nguyên tắc thực tài, đề cao trách nhiệm của người đứng đầu, đổi mới phương thức và nội dung lấy phiếu tín nhiệm.

    b) Hoàn thiện các quy định về điều kiện, tiêu chuẩn bổ nhiệm, bổ nhiệm lại lãnh đạo cấp vụ, cấp phòng ở Trung ương và cấp phòng, cấp sở ở địa phương.

    c) Thí điểm thực hiện chế độ tập sự, thực tập lãnh đạo, quản lý.

    6. Quy định chế độ tiến cử và chính sách thu hút, phát hiện, trọng dụng và đãi ngộ người có tài năng trong hoạt động công vụ

    a) Quy định chế độ tiến cử, giới thiệu những người có tài năng để tuyển dụng, bổ nhiệm vào các vị trí trong hoạt động công vụ.

    b) Ban hành các chính sách thu hút, phát hiện, bồi dưỡng, trọng dụng và đãi ngộ người có tài năng trong hoạt động công vụ.

    7. Chú trọng và nâng cao chế độ kỷ luật trong hoạt động công vụ để duy trì trật tự kỷ cương và phát huy tinh thần trách nhiệm trong hoạt động công vụ

    a) Xây dựng chế độ sát hạch bắt buộc đối với công chức lãnh đạo, quản lý và công chức chuyên môn, nghiệp vụ.

    b) Quy định chế độ trách nhiệm gắn với chế độ khen thưởng, kỷ luật đối với cán bộ, công chức trong hoạt động công vụ….

    c) Ban hành chế độ miễn nhiệm, từ chức đối với công chức lãnh đạo, quản lý.

    d) Xây dựng đội ngũ công chức thanh tra công vụ đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính.

    8. Đổi mới cơ chế quản lý và chế độ, chính sách đối với đội ngũ cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã

    a) Sửa đổi các quy định về chức danh, số lượng và chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn.

    b) Sửa đổi các quy định về chế độ, chính sách đối với những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã.

    c) Nghiên cứu hoàn thiện chế độ, chính sách đãi ngộ đối với cán bộ, công chức về công tác tại các xã có địa bàn khó khăn.

    d) Nghiên cứu xây dựng và ban hành các quy định về việc khoán kinh phí đối với các chức danh không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố theo nguyên tắc: Người kiêm nhiều chức danh thì hưởng phụ cấp cao hơn, tránh tăng thêm số lượng cán bộ không chuyên trách.

    9. Tiếp tục thực hiện chính sách tinh giản biên chế để nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức.

    III. TỔ CHỨC THỰC HIỆN

    1. Thời gian thực hiện: Từ tháng 10 năm 2012 đến tháng 10 năm 2022.

    2. Phân công trách nhiệm thực hiện

    a) Bộ Nội vụ:

    b) Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính: Cân đối, bố trí nguồn lực và hướng dẫn sử dụng kinh phí từ nguồn ngân sách nhà nước để thực hiện các nội dung của Đề án theo kế hoạch được phê duyệt. Đồng thời, khai thác các nguồn lực khác từ các dự án (nếu có) để hỗ trợ cho quá trình tổ chức thực hiện.

    c) Văn phòng Chính phủ và Bộ Tư pháp: Phối hợp với Bộ Nội vụ và các Bộ, ngành, địa phương để đôn đốc, giám sát và hoàn thiện hệ thống thể chế quản lý công vụ, công chức.

    d) Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Thông tin và Truyền thông: Hỗ trợ, phối hợp với Bộ Nội vụ để triển khai các hoạt động nghiên cứu khoa học và ứng dụng công nghệ tin học vào việc thực hiện các nhiệm vụ của Đề án (kể cả các nguồn lực khác – nếu có).

    đ) Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có trách nhiệm tuyên truyền, phổ biến, đề xuất, tổ chức thực hiện các nhiệm vụ được Ban Chỉ đạo Trung ương phân công phù hợp với kế hoạch được giao trên cơ sở mục tiêu, nhiệm vụ của Đề án này. Hàng năm, tiến hành tổng kết đánh giá kết quả thực hiện và gửi Bộ Nội vụ để tổng hợp, báo cáo Thủ tướng Chính phủ.

    Thành viên các Ban Chỉ đạo thực hiện chế độ kiêm nhiệm, không tổ chức bộ máy và biên chế riêng.

    3. Nguồn kinh phí thực hiện

    Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký ban hành.

    Điều 3. Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này./.

    Nơi nhận:

    – Ban Bí thư Trung ương Đảng;

    – Thủ tướng, các Phó Thủ tướng Chính phủ;

    – Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc CP;

    – VP BCĐ TW về phòng, chống tham nhũng;

    – HĐND, UBND các tỉnh, TP trực thuộc TW;

    – Văn phòng Trung ương và các Ban của Đảng;

    – Văn phòng Tổng Bí thư;

    – Văn phòng Chủ tịch nước;

    – Hội đồng Dân tộc và các UB của Quốc hội;

    – Văn phòng Quốc hội;

    – Tòa án nhân đân tối cao;

    – Viện kiểm sát nhân dân tối cao;

    – Kiểm toán Nhà nước;

    – UB Giám sát tài chính QG;

    – Ủy ban TW Mặt trận Tổ quốc Việt Nam;

    – Cơ quan trung ương của các đoàn thể;

    – VPCP: BTCN, các PCN, Trợ lý TTCP; Cổng TTĐT, các Vụ, Cục, đơn vị trực thuộc, Công báo;

    – Lưu: Văn thư, TCCV (3).

    PHỤ LỤC

    KẾ HOẠCH THỰC HIỆN ĐỀ ÁN

    (Ban hành kèm theo Quyết định số 1557/QĐ-TTg ngày 18 tháng 10 năm 2012 của Thủ tướng Chính phủ)

    .

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nghị Quyết Sửa Đổi, Bổ Sung Một Số Điều Của Nghị Quyết Số 30C/nq
  • Nghị Quyết 42/2017/qh14: Nền Tảng Tạo Cú Hích Xử Lý Nợ Xấu Của Agribank
  • Xử Lý Nợ Xấu Theo Nghị Quyết 42: Nút Thắt Là Tài Sản Đảm Bảo
  • Hướng Dẫn Viết Bài Thu Hoạch Nghị Quyết 12
  • Đổi Mới, Nâng Cao Chất Lượng Học Tập, Quán Triệt Nghị Quyết, Chỉ Thị Của Đảng
  • Hà Giang: Kết Quả Sau 10 Năm Thực Hiện Nghị Quyết 30A Của Chính Phủ

    --- Bài mới hơn ---

  • Báo Cáo Tình Hình Thực Hiện Nghị Quyết 36A
  • Nghị Quyết 36A: Xây Dựng Chính Phủ Điện Tử Tại Việt Nam Dần Đi Vào Thực Chất
  • Báo Cáo Tình Hình Thực Hiện Nghị Quyết 36A Của Tỉnh Bình Phước
  • Nghị Quyết Ban Đại Diện Cha Mẹ Học Sinh
  • Nghị Quyết Của Ban Đại Diện Cha Mẹ Học Sinh Trường Thpt Lê Quý Đôn Năm Học 2022
  • Ngày 27/12/2008, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 30A về Chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 61 huyện nghèo của 20 tỉnh trong cả nước có số hộ nghèo trên 50%. Bắt đầu từ năm 2009, chương trình được triển khai, đi vào cuộc sống và đến nay là tròn 10 năm với những kết quả, hiệu quả rõ rệt, làm thay đổi đáng kể cơ sở hạ tầng, kinh tế xã hội và đời sống người dân tại các huyện nghèo, tỉnh nghèo.

    Lễ cắt băng khánh thành công trình trường học tại xã Lũng Cú huyện Đồng Văn

    Đồng Văn là một trong 6 huyện nghèo của tỉnh Hà Giang thuộc diện đặc biệt khó khăn theo Nghị quyết 30A của Chính phủ. Trong giai đoạn 2009 – 2022, từ các chủ trương, chính sách ưu tiên và những nguồn lực hỗ trợ của Đảng, Nhà nước, Chính phủ, huyện Đồng Văn đã được đầu tư cơ sở hạ tầng thiết yếu, các chương trình an sinh xã hội, đầu tư hỗ trợ sản xuất, phát triển kinh tế xã hội. Nhờ đó, đời sống của đồng bào từng bước được cải thiện, diện mạo nông thôn miền núi ngày một khởi sắc hơn.

    Cùng với sự hỗ trợ kinh phí hàng nghìn tỷ đồng từ ngân sách nhà nước thì sự tham gia, đồng hành, hỗ trợ mạnh mẽ nguồn lực vật chất của các Tập đoàn kinh tế, Tổng Công ty, các Doanh nghiệp đối với 6 huyện nghèo của tỉnh Hà Giang cũng rất lớn. Nhiều đơn vị đã hỗ trợ hàng trăm tỷ đồng để xóa nhà tạm, hỗ trợ về giáo dục, y tế, an sinh xã hội, chăm lo đời sống cho người dân.

    Hà Giang sẽ tiếp tục thực hiện đồng bộ các giải pháp để thúc đẩy công tác giảm nghèo nhanh và bền vững

    Đến nay, tỷ lệ hộ nghèo của tỉnh Hà Giang giảm từ 43,65% xuống còn 31,17%; trong đó, các huyện nghèo giảm từ 64,03% xuống còn 46,25%. Thu nhập bình quân đầu người đạt 19,09 triệu đồng/năm; tỷ lệ người dân có thẻ bảo hiểm y tế đạt 98,5%; 100% xã đạt Bộ tiêu chí Quốc gia về y tế; 81,5% dân số nông thôn được sử dụng nước hợp vệ sinh; trên 57% hộ nghèo được tiếp cận thông tin. Nhiều công trình hạ tầng được đầu tư xây dựng, duy tu, bảo dưỡng; nhiều mô hình giảm nghèo, hỗ trợ giảm nghèo được nhân rộng.

    Thời gian tới, tỉnh Hà Giang sẽ tiếp tục thực hiện đồng bộ các giải pháp, tập trung mọi nguồn lực để thúc đẩy công tác giảm nghèo nhanh và bền vững, nhất là đối với các huyện đặc biệt khó khăn theo Nghị quyết 30A của Chính phủ. Qua đó, giảm mạnh tỷ lệ hộ nghèo tại các huyện nghèo và từng bước đưa tỉnh thoát khỏi tình trạng tỉnh đặc biệt khó khăn.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hướng Dẫn Thực Hiện Nghị Quyết 30A/2008/nq
  • Dự Thảo Nghị Quyết Tiếng Anh Là Gì
  • Nghị Quyết Tiếng Anh Là Gì
  • Nghị Quyết Chi Bộ Về Xd Trt]Ờng Học An Toàn Về Antt
  • Nghị Quyết Về Công Tác Đảm Bảo An Ninh Trật Tự
  • Hội Nghị Trực Tuyến Sơ Kết 6 Năm Thực Hiện Nghị Quyết 30A Của Chính Phủ

    --- Bài mới hơn ---

  • Hội Nghị Trực Tuyến Toàn Quốc Sơ Kết 3 Năm Thực Hiện Nghị Quyết 30A/2008/nq
  • Hội Nghị Tổng Kết 5 Năm Thực Hiện Nghị Quyết 05 Ngày 30/6/2016 Của Hđnd Tỉnh Về Bảo Tồn, Phát Huy Văn Hóa Cồng Chiêng Tỉnh Đắk Lắk
  • Hđnd Tỉnh Phú Yên Họp Bất Thường Bàn Về Nghị Quyết Thông Qua Các Dự Án Đầu Tư Công
  • Nghị Quyết Của Hđnd Tỉnh Đắk Lắk
  • Huyện Đam Rông: Nhìn Lại 10 Năm Thực Hiện Nghị Quyết 30A Của Chính Phủ Về Chương Trình Hỗ Trợ Giảm Nghèo Nhanh Và Bền Vững
  • (kontumtv.vn) – Sáng 8/5, Chính phủ đã tổ chức Hội nghị trực tuyến với các địa phương sơ kết 6 năm về triển khai thực hiện Nghị quyết số 30a của Chính phủ giai đoạn 2009-2014. Chủ trì Hội nghị có Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng, Phó Thủ tướng Chính phủ, Trưởng Ban Chỉ đạo giảm nghèo Trung ương Vũ Văn Ninh.

    Tham gia tại điểm cầu tỉnh Kon Tum có Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lại Xuân Lâm, thành viên Ban Chỉ đạo đề án giảm nghèo tỉnh và lãnh đạo các huyện Kon Plông, Tu Mơ Rông, Đăk Glei, Sa Thầy và Kon Rẫy.

    Qua 6 năm thực hiện, Nghị quyết 30a đã tập trung vào các chính sách hỗ trợ sản xuất, tạo việc làm, tăng thu nhập cho các hộ nghèo; hỗ trợ trong giáo dục, đào tạo, dạy nghề, nâng cao dân trí; thu hút, tăng cường cán bộ cho các xã nghèo, huyện nghèo; chính sách và cơ chế đầu tư cơ sở hạ tầng đối với huyện nghèo và các xã, thôn đặc biệt khó khăn; ban hành các cơ chế, chính sách đặc thù; huy động sự tham gia của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội, với tổng nguồn vốn huy động và phân bổ hỗ trợ các huyện nghèo là 22.189 tỷ đồng.

    Đến nay, 64 huyện nghèo được thụ hưởng từ Nghị quyết 30a đã có sự chuyển biến về kinh tế, xã hội rõ rệt, thu nhập bình quân đầu người năm 2006 là 2,5 – 3 triệu đồng/ năm tăng lên 12 – 13 triệu đồng/ năm vào cuối năm 2014; tỷ lệ hộ nghèo giảm bình quân 6% mỗi năm; các công trình hạ tầng được đầu tư đồng bộ, đời sống vật chất và tinh thần của người dân dần được nâng lên.

    Tuy nhiên đến cuối năm 2014, tỷ lệ hộ nghèo bình quân của 64 huyện nghèo vẫn cao gấp 5,5 lần so với tỷ lệ bình quân cả nước, kết quả giảm nghèo chưa thực sự bền vững.

    Phát biểu tại Hội nghị, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Lại Xuân Lâm đã báo cáo kết quả giảm nghèo tại 2 huyện Kon Plông và Tu Mơ Rông thời gian qua, đồng thời kiến nghị với Trung ương cần bổ sung huyện Ia H’Drai được hưởng theo Quyết định 293 của Thủ tướng Chính phủ, tăng mức hỗ trợ lên 120 tỷ đồng/ năm để đáp ứng nhu cầu đầu tư các huyện nghèo, bố trí kinh phí để xây dựng dự án nhân rộng mô hình khuyến nông – lâm – ngư từ 500 triệu đến 1 tỷ đồng/ 1xã và phân công từ 1-2 doanh nghiệp giúp đỡ các huyện nghèo của Kon Tum.

    Phát biểu kết luận Hội nghị, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đề nghị các thành viên Chính phủ, Ban Chỉ đạo giảm nghèo Trung ương và lãnh đạo các địa phương cần phát huy tinh thần trách nhiệm, đưa ra các giải pháp giảm nghèo hiệu quả để nhân rộng trong đông đảo người dân, phát triển thế mạnh, tiềm lực của địa phương để có chính sách hỗ trợ người dân về cây trồng, vật nuôi, vốn sản xuất, đồng thời khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào vùng khó khăn gắn với tiêu thụ sản phẩm.

    Tấn Thành – Công Luận

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thực Hiện Nghị Quyết 30A Của Chính Phủ Tại Khu Vực Tây Nguyên
  • Viettel Bàn Giao Nhiều Công Trình Theo Nghị Quyết 30A Của Chính Phủ
  • Gõ Cửa Ngày Mới: Bảo Tồn Và Phát Huy Giá Trị Nghệ Thuật Đờn Ca Tài Tử Trên Địa Bàn Tỉnh Brvt
  • Nghị Quyết 30/2017 Của Hdnd Tỉnh Bình Thuận Về Quy Định Mức Chi Chế Độ Công Tác Phí
  • Đẩy Mạnh Triển Khai Thực Hiện Nghị Quyết 30
  • Nghị Quyết Sửa Đổi, Bổ Sung Một Số Điều Của Nghị Quyết Số 30C/nq

    --- Bài mới hơn ---

  • Căn Cứ Nghị Quyết Số 30C/nq
  • Huyện Ea Kar:tổng Kết 10 Năm Thực Hiện Chương Trình Tổng Thể Cải Cách Hành Chính Nhà Nước
  • Kết Quả Thực Hiện Chương Trình Tổng Thể Cải Cách Hành Chính Nhà Nước Giai Đoạn 2011
  • Thanh Tra Chính Phủ: Ban Hành Kế Hoạch Tổng Kết Thực Hiện Chương Trình Tổng Thể Cải Cách Hành Chính Nhà Nước Giai Đoạn 2011
  • Triển Khai Tổng Kết Cải Cách Hành Chính Giai Đoạn 2011
  • Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 30c/NQ-CP ngày 08 tháng 11 năm 2011 của Chính phủ ban hành Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011 – 2022 (sau đây gọi tắt là Nghị quyết số 30c/NQ-CP) như sau:

    NGHỊ QUYẾT SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA NGHỊ QUYẾT SỐ 30C/NQ-CP NGÀY 08 THÁNG 11 NĂM 2011 CỦA CHÍNH PHỦ BAN HÀNH CHƯƠNG TRÌNH TỔNG THỂ CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC GIAI ĐOẠN 2011 – 2022

    Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 30c/NQ-CP ngày 08 tháng 11 năm 2011 của Chính phủ ban hành Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011 – 2022 (sau đây gọi tắt là Nghị quyết số 30c/NQ-CP) như sau:

    1. Khoản 3 Điều 7 được sửa đổi, bổ sung như sau:

    “3. Bộ Nội vụ:

    a) Là cơ quan thường trực tổ chức triển khai thực hiện Chương trình;

    b) Chủ trì triển khai các nội dung cải cách tổ chức bộ máy hành chính, cải cách công chức, công vụ và cải cách chính sách tiền lương cho cán bộ, công chức, viên chức; phối hợp với Bộ Quốc phòng, Bộ Công an cải cách chính sách tiền lương cho lực lượng vũ trang nhân dân;

    c) Trình Thủ tướng Chính phủ quyết định các giải pháp tăng cường công tác chỉ đạo và kiểm tra việc thực hiện cải cách hành chính;

    d) Hướng dẫn các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương xây dựng kế hoạch cải cách hành chính và dự toán ngân sách hàng năm;

    đ) Thẩm tra các nhiệm vụ trong dự toán ngân sách hàng năm về cải cách hành chính của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương về mục tiêu, nội dung để gửi Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính tổng hợp, trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chung trong dự toán ngân sách nhà nước hàng năm của các cơ quan;

    e) Hướng dẫn các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương xây dựng báo cáo cải cách hành chính hàng quý, 6 tháng và hàng năm hoặc đột xuất về tình hình thực hiện Chương trình;

    g) Kiểm tra và tổng hợp việc thực hiện Chương trình; báo cáo Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ hàng quý, 6 tháng và hàng năm hoặc đột xuất;

    h) Xây dựng, ban hành và hướng dẫn việc triển khai xác định Chỉ số cải cách hành chính hàng năm của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương;

    i) Chủ trì việc xây dựng và hướng dẫn thực hiện phương pháp đo lường mức độ hài lòng của cá nhân, tổ chức đối với dịch vụ hành chính do cơ quan hành chính nhà nước thực hiện;

    k) Tổ chức bồi dưỡng, tập huấn cho cán bộ, công chức chuyên trách thực hiện công tác cải cách hành chính ở các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;

    l) Chủ trì triển khai công tác tuyên truyền về cải cách hành chính;

    2. Khoản 4 Điều 7 được sửa đổi, bổ sung như sau:

    “4. Bộ Tư pháp:

    a) Theo dõi, tổng hợp việc triển khai thực hiện nhiệm vụ cải cách thể chế;

    b) Chủ trì triển khai nhiệm vụ đổi mới và nâng cao chất lượng công tác xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật;

    c) Chủ trì triển khai nội dung cải cách thủ tục hành chính;

    d) Chủ trì xây dựng và hướng dẫn thực hiện phương pháp tính chi phí thực hiện thủ tục hành chính;

    đ) Chủ trì việc hợp tác với các tổ chức quốc tế trong việc cải cách quy định hành chính”.

    3. Khoản 5 Điều 7 được sửa đổi như sau:

    “5. Văn phòng Chính phủ:

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nghị Quyết 42/2017/qh14: Nền Tảng Tạo Cú Hích Xử Lý Nợ Xấu Của Agribank
  • Xử Lý Nợ Xấu Theo Nghị Quyết 42: Nút Thắt Là Tài Sản Đảm Bảo
  • Hướng Dẫn Viết Bài Thu Hoạch Nghị Quyết 12
  • Đổi Mới, Nâng Cao Chất Lượng Học Tập, Quán Triệt Nghị Quyết, Chỉ Thị Của Đảng
  • Nâng Cao Chất Lượng, Hiệu Quả Công Tác Học Tập, Quán Triệt Các Nghị Quyết, Chỉ Thị Của Đảng
  • Hiệu Quả Giảm Nghèo Từ Nghị Quyết 30A Của Chính Phủ

    --- Bài mới hơn ---

  • Điện Biên Đông Giảm Nghèo Theo Nghị Quyết 30A
  • Sơn La: Thực Hiện Hiệu Quả Chính Sách Giảm Nghèo Theo Nghị Quyết 30A
  • Bác Ái: Qua 3 Năm Thực Hiện Chương Trình Giảm Nghèo Theo Nghị Quyết 30A
  • Thủ Tướng Chủ Trì Hội Nghị Sơ Kết 5 Năm Thực Hiện Nghị Quyết 30
  • Nghị Quyết 30/2018 Của Bộ Chính Trị
  • Nghị quyết 30a được triển khai ở huyện Đakrông được đánh giá là ” Cơ hội vàng” giúp địa phương có những bước phát triển trên con đường xóa đói giảm nghèo. Sau 10 năm( 2009-2018) thực hiện Chương trình giảm nghèo bền vững theo Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP, ngày 27/12/2008 của Chính phủ, công tác giảm nghèo ở huyện Đakrông đã có nhiều chuyển biến tích cực. Nhiều công trình phúc lợi được xây dựng, hệ thống trường học, đường sá ngày càng được hoàn thiện, khang trang hơn, đáp ứng nhu cầu thiết yếu của người dân. Cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động đã có thay đổi tích cực, đời sống vật chất, tinh thần của người dân được nâng lên.

    Xác định tầm quan trọng của Nghị quyết nên từ những ngày đầu thực hiện, huyện Đakrông đã huy động sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, tập trung lãnh, chỉ đạo, kiểm tra, giám sát, xây dựng kế hoạch, lộ trình cụ thể để triển khai thực hiện. Các xã trong huyện nhận thức rõ ý nghĩa, tầm quan trọng của nghị quyết nên đã quyết liệt triển khai các giải pháp để thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững của địa phương mình, từ đó, cân đối các nguồn lực đầu tư của Nhà nước; đồng thời tổ chức lồng ghép, phối hợp thực hiện có hiệu quả các chương trình dự án, chính sách trên địa bàn. Sau 10 năm (2009-2018) thực hiện, Nghị quyết 30a đã thực sự đi vào cuộc sống, từng bước đưa Đakrông thoát nghèo. Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân tăng từ 17-18% qua các năm ; chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực, tổng sản phẩm bình quân đầu người năm 2022 đạt 20,9 triệu đồng/người/năm; tỷ lệ hộ nghèo bình quân giảm 5-6%/năm.

    Từ nguồn vốn Trung ương hỗ trợ để thực hiện các chính sách, chương trình, dự án giảm nghèo theo Nghị quyết 30a,hiện nay huyện Đakrông 100% số xã có đường giao thông đến trung tâm xã; 100% xã dùng điện lưới quốc gia; trên 85% số hộ gia đình được dùng nước sạch và nước hợp vệ sinh; 14/14 số trạm y tế đạt chuẩn quốc gia, bưu chính viễn thông, các di tích lịch sữ và các kết cấu hạ tầng khác được tăng cường đáng kể góp phần quan trọng nâng cao năng lực phát triển kinh tế- xã hội của huyện nhà. Sự nghiệp giáo dục- đào tạo đạt được những kết quả đáng trân trọng , quy mô giáo dục được phát triển qua từng năm, đảm bảo số lượng và chất lượng. chương trình giạy và học từng bước được đổi mới . Công tác phổ cập giáo dục tiểu học, trung học cơ sở, chống mù chữ được duy trì bền vững. 14/14 xã, thị trấn đạt chuẫn quốc gia về phổ cập giáo dục , mặt bằng dân trí được nâng cao. Hệ thống đường liên thôn, các công trình thủy lợi, cấp nước sinh hoạt được đầu tư xây dựng đáp ứng ngày càng tốt hơn cho yêu cầu phát triển sản xuất và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi góp phần phát triển kinh tế, cải tạo môi trường sinh thái.Viêc đầu tư cơ sở hạ tầng đã từng bước làm thay đổi bộ mặt nông thôn miền núi, tạo điều kiện cho người dân có cuộc sống ổn định, yên tâm đầu tư phát triển sản xuất, vươn lên thoát nghèo…

    Có thể khẳng định, sau 10 năm triển khai thực hiện Nghị quyết 30a trên địa bàn huyện Đakrông đã tạo ra động lực thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội, từng bước xóa đói, giảm nghèo bền vững cho đồng bào các dân tộc trong huyện. Những chính sách hỗ trợ của Nghị quyết 30a đã và đang mang lại sự no ấm, hạnh phúc cho những hộ nghèo. Với những gì mà Nghị quyết 30a/CP và các dự án, chương trình giảm nghèo đã và đang được triển khai, nhân dân các dân tộc ở huyện miền núi Đakrông đã nhận thức rõ hơn trách nhiệm của mình và chủ động trong việc tiếp nhận các chính sách và nguồn lực hỗ trợ của nhà nước, của cộng đồng, góp phần ổn định xã hội, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và phát triển bền vững, an sinh xã hội tại địa phương./.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chuyên Đề Một Số Giải Pháp Nhằm Nâng Cao Hiệu Quả Sử Dụng Vốn Đầu Tư Hỗ Trợ Giảm Nghèo
  • Nghị Quyết 30A: Nguồn Lực Thúc Đẩy Kinh Tế
  • Một Số Giải Pháp Thực Hiện Nghị Quyết 30A Giai Đoạn 2010
  • Phê Duyệt Danh Sách Huyện Nghèo Và Huyện Thoát Nghèo Giai Đoạn 2022
  • Viettel Đầu Tư Hơn 200 Tỷ Đồng Cho 3 Huyện Nghèo Theo Nghị Quyết 30A
  • Viettel Bàn Giao Nhiều Công Trình Theo Nghị Quyết 30A Của Chính Phủ

    --- Bài mới hơn ---

  • Thực Hiện Nghị Quyết 30A Của Chính Phủ Tại Khu Vực Tây Nguyên
  • Hội Nghị Trực Tuyến Sơ Kết 6 Năm Thực Hiện Nghị Quyết 30A Của Chính Phủ
  • Hội Nghị Trực Tuyến Toàn Quốc Sơ Kết 3 Năm Thực Hiện Nghị Quyết 30A/2008/nq
  • Hội Nghị Tổng Kết 5 Năm Thực Hiện Nghị Quyết 05 Ngày 30/6/2016 Của Hđnd Tỉnh Về Bảo Tồn, Phát Huy Văn Hóa Cồng Chiêng Tỉnh Đắk Lắk
  • Hđnd Tỉnh Phú Yên Họp Bất Thường Bàn Về Nghị Quyết Thông Qua Các Dự Án Đầu Tư Công
  • Sáng 21-12, tại xã Tam Chung (huyện Mường Lát, Thanh Hóa), Tập đoàn Công nghiệp- Viễn thông Quân đội tổ chức Lễ trao tặng thiết bị giáo dục cho 3 trường học trên địa bàn huyện Mường Lát. Công trình này là một trong những hạng mục do Viettel hỗ trợ trong khuôn khổ chương trình xóa nghèo bền vững theo Nghị quyết 30A của Chính phủ.

    Tại buổi lễ, 3 phòng máy tính và 6 máy chiếu (có tổng mức đầu tư gần 700 triệu đồng), đã được bàn giao cho các Trường THCS Bán trú Tam Chung; Trường THCS xã Pù Nhi và Trường THCS xã Nhi Sơn (cũng là 3 điểm trường bị thiệt hại nặng nề nhất trong đợt mưa lũ cuối tháng 8, đầu tháng 9 vừa qua).

    Tập đoàn Công nghiệp-Viễn thông Quân đội bàn giao 3 phòng máy tính và trang thiết bị cho các điểm trường ở huyện Bá Thước, Thanh Hóa

    Trước đó, từ ngày 28-8-2018 đến ngày 4-9-2018 trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa đã xảy ra mưa lớn trên diện rộng gây thiệt hại nghiêm trọng về người và tài sản. Đặc biệt, huyện Mường Lát là nơi bị thiệt hại nặng nề nhất với 5 người chết và 2 người mất tích, 123 ngôi nhà bị sập,

    541 ngôi nhà phải di dời, 13 điểm trường bị ảnh hưởng, giao thông cô lập trong một thời gian dài. Với việc bàn giao đưa vào sử dụng các phòng máy tính và máy chiếu sẽ giúp các điểm trường nhanh chóng khắc phục hậu quả thiên tai, khôi phục công tác dạy và học.

    Các vị đại biểu tham quan phòng máy tính mới do Viettel trao tặng trong khuôn khổ chương trình hỗ trợ các huyện nghèo theo NQ 30A của Chính phủ

    Được biết, vào ngày 24-12 tới, một công trình an sinh quan trọng khác sẽ được Viettel trao tặng cho bà con xã Kỳ Tân, huyện Bá Thước (Thanh Hóa).

    Khởi công từ tháng 9-2017, trạm xá xã Kỳ Tân có tổng mức đầu tư gần 3,9 tỷ đồng, được xây dựng kiên cố với 2 tầng, 13 phòng (trong đó có 5 phòng lưu trú bệnh nhân) và đầy đủ các phòng chức năng quan trọng, được trang bị thiết bị hiện đại phục vụ khám chữa bệnh tuyến đầu. Tổng diện tích xây dựng công trình là gần 500 mét vuông.

    Xã Kỳ Tân – nơi xây dựng trạm xá -là một trong những xã nghèo của huyện Bá Thước. Khi được đưa vào sử dụng, công trình sẽ làm thay đổi đáng kể điều kiện dân sinh trong vùng, phục vụ nhu cầu khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe cho 5000 người dân xã Kỳ Tân và các xã lân cận.

    Trước đó, cũng trong khuôn khổ chương trình hỗ trợ huyện nghèo theo Nghị quyết 30a giai đoạn năm 2022-2018, ngày 2-12-2018, Tập đoàn Viettel đã tổ chức khánh thành và đưa vào sử dụng công trình trạm y tế xã Mò Ó (huyện Đăkrông, Quảng Trị).

    Thầy và trò trường THCS Bán trú Tam Chung (Mường Lát, Thanh Hóa)

    hào hứng trải nghiệm phòng máy mới

    Với tổng kinh phí 3,5 tỷ đồng, trạm y tế Mò Ó được xây kiên cố với 2 tầng và 13 phòng chức năng, có thể đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh cơ bản của 5 thôn thuộc xã Mò Ó và 2 thôn lân cận.

    Đồng chí Lê Ngọc Vinh, Phó Chủ nhiệm Chính trị Tập đoàn Công nghiệp- Viễn thông Quân đội (Viettel) khẳng định, giáo dục và y tế là 2 lĩnh vực trọng điểm mà Viettel đầu tư trong chương trình giảm nghèo bền vững theo Nghị quyết 30a của Chính phủ.

    Với quan điểm “hỗ trợ người dân cần câu, không hỗ trợ con cá”, Viettel sẽ cùng với chính quyền địa phương tìm hiểu nhu cầu thực sự của người dân để hỗ trợ một cách thiết thực, đảm bảo thoát nghèo nhanh và bền vững.

    Việc trao tặng trang thiết bị giáo dục cho huyện Mường Lát và trạm y tế cho huyện Bá Thước (Thanh Hóa), Đăkrông (Quảng Trị) dịp này là dựa trên đề xuất của chính quyền địa phương và khảo sát thực tế nhu cầu của người dân nơi đây. Do đó, các công trình khi đưa vào sử dụng sẽ nhanh chóng phát huy hiệu quả, đem lại lợi ích thiết thực cho bà con các huyện nghèo”.

    Tập đoàn Công nghiệp- Viễn thông Quân đội Viettel là một trong những đơn vị đầu tiên tham gia Chương trình hỗ trợ 30A của Chính phủ từ năm 2009, trực tiếp hỗ trợ 3 huyện: Mường Lát, Bá Thước (Thanh Hóa) và Đắkrông (Quảng Trị). Tính đến nay, tổng mức kinh phí Viettel hỗ trợ cho 3 huyện đã lên tới hơn 200 tỷ đồng. Trong đó, huyện Bá Thước (65 tỷ đồng), Mường Lát (gần 60 tỷ đồng), Đắkrông (hơn 76 tỷ đồng).

    Để đạt hiệu quả giảm nghèo cao nhất, Viettel cũng đưa những chương trình an sinh xã hội lớn khác của Tập đoàn vào các huyện này như Internet trường học, Trái tim cho em, Vì em hiếu học, bò giống giúp người nghèo biên giới,….

    --- Bài cũ hơn ---

  • Gõ Cửa Ngày Mới: Bảo Tồn Và Phát Huy Giá Trị Nghệ Thuật Đờn Ca Tài Tử Trên Địa Bàn Tỉnh Brvt
  • Nghị Quyết 30/2017 Của Hdnd Tỉnh Bình Thuận Về Quy Định Mức Chi Chế Độ Công Tác Phí
  • Đẩy Mạnh Triển Khai Thực Hiện Nghị Quyết 30
  • Gia Lai Tập Trung Hoàn Thành Các Chỉ Tiêu Kt
  • Nghị Quyết 30/2018 Của Bộ Chính Trị
  • Thực Hiện Nghị Quyết 30A Của Chính Phủ Tại Khu Vực Tây Nguyên

    --- Bài mới hơn ---

  • Hội Nghị Trực Tuyến Sơ Kết 6 Năm Thực Hiện Nghị Quyết 30A Của Chính Phủ
  • Hội Nghị Trực Tuyến Toàn Quốc Sơ Kết 3 Năm Thực Hiện Nghị Quyết 30A/2008/nq
  • Hội Nghị Tổng Kết 5 Năm Thực Hiện Nghị Quyết 05 Ngày 30/6/2016 Của Hđnd Tỉnh Về Bảo Tồn, Phát Huy Văn Hóa Cồng Chiêng Tỉnh Đắk Lắk
  • Hđnd Tỉnh Phú Yên Họp Bất Thường Bàn Về Nghị Quyết Thông Qua Các Dự Án Đầu Tư Công
  • Nghị Quyết Của Hđnd Tỉnh Đắk Lắk
  • Thực hiện Nghị quyết 30a của Chính phủ tại khu vực Tây Nguyên

    Khu vực Tây Nguyên có 3 huyện nằm trong danh sách 62 huyện nghèo nhất trong cả nước được đầu tư theo Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP của Chính phủ, gồm các huyện: Đam Rông (của tỉnh Lâm Đồng), TuMơ Rông và Kon Plong (của tỉnh Kon Tum). Năm 2011, huyện Đăk Glong của tỉnh Đăk Nông được Thủ tướng Chính phủ quyết định cho áp dụng cơ chế, chính sách đầu tư cơ sở hạ tầng theo quy định của Nghị quyết 30a.

    Sau 3 năm triển khai thực hiện, tỉ lệ hộ nghèo tại các địa phương này giảm nhanh từ 55,04% năm 2008 xuống còn 38,11% năm 2010, giảm 16,93% so với năm 2008 (theo tiêu chí cũ 2006-2010); theo tiêu chí mới (2011-2015) tỷ lệ hộ nghèo năm 2010 từ 65,25% giảm xuống còn 51,44% năm 2011, giảm 13,81% so với đầu năm 2011.

    Với tổng nguồn vốn bố trí theo Đề án 30a trong 3 năm (2009-2011) là 310.160 triệu đồng (trong đó, huyện Đăk Glong, tỉnh Đăk Nông, từ ngày ban hành quyết định cho đến ngày 31/12/2011, do chưa được bố trí nguồn vốn nên trong năm 2011 huyện chưa triển khai thực hiện được), được chia làm hai nguồn: Vốn đầu tư 279.000 triệu đồng và vốn sự nghiệp 31.160 triệu đồng; cộng với kinh phí các doanh nghiệp giúp đỡ 7 2 .520 triệu đồng.

    Trong 3 năm, các địa phương đã đầu tư xây dựng 85 công trình các loại với tổng vốn: 238,63 tỷ đồng, gồm: 27 công trình giao thông, 24 công trình thủy lợi, 07 công trình điện, 02 công trình nước sinh hoạt, 02 trạm ươm cây giống, 01 trung tâm dạy nghề và 01 nhà văn hóa xã.

    Bằng nhiều nguồn vốn đã huy động, các huyện đã làm được 3.046 căn nhà hỗ trợ cho các hộ nghèo, hộ gia đình chính sách theo Quyết định 167/2008/QĐ-TTg. Hằng năm, các huyện đều thực hiện lồng ghép các chương trình, dự án để giao khoán và đã giao khoán cho 3.899 hộ nghèo, cận nghèo, hộ đồng bào DTTS quản lý bảo vệ với tổng số tiền hỗ trợ 8.737 tỷ đồng, hộ nghèo có thêm thu nhập bình quân 200.000đồng/tháng, phần nào đã giải quyết được những khó khăn trước mắt để người dân tập trung lao động sản xuất.

    Đối với việc trồng rừng, trong 3 huyện thì chỉ có huyện Đam Rông của tỉnh Lâm Đồng đã giao đất trồng rừng được 2.448,81 ha với số tiền 11,3 tỷ đồng. Loài cây trồng k eo lai hiện đang sinh trưởng tốt, góp phần đáng kể vào việc phủ xanh đồi núi trọc, tăng tỷ lệ che phủ của rừng lên 72%.

    Thực hiện Chương trình hỗ trợ sản xuất theo Đề án 30a với tổng kinh phí bố trí 19,94 tỷ, trong đó: Hỗ trợ khai hoang cho 1.433 hộ với kinh phí 3,5 tỷ đồng; Hỗ trợ phục hoá đồng ruộng cho 1.003 hộ với kinh phí 2,1 tỷ đồng; Hỗ trợ làm chuồng chăn nuôi gia súc cho 1.067 chuồng/1.607 hộ, mức hỗ trợ mỗi chuồng 1 triệu đồng (1,61 tỷ đồng); Hỗ trợ tiền mua giống, phân bón, chuyển đổi cây trồng cho 7.558 hộ với kinh phí 7,99 tỷ đồng; Hỗ trợ ưu đãi hoạt động khuyến nông, lâm ngư nghiệp cho 2.159 hộ với kinh phí 4,63 tỷ đồng và Hỗ trợ trợ cấp bố trí cán bộ khuyến nông, lâm nghiệp cho 89 đối tượng với 133 triệu đồng.

    Trong 3 năm, các huyện đã tổ chức dạy nghề cho 3.495 học viên với tổng kinh phí 2,67 tỷ đồng và đào tạo các ngành nghề như: trồng, chăm sóc rừng và cà phê, xây dựng, sữa chữa xe máy, mộc dân dụng, đan len…; Huyện Đam Rông đã xuất khẩu được 62 lao động chủ yếu thị trường Malaysia ( riêng năm 2011 xuất khẩu được 30 lao động) có việc làm và thu nhập ổn định. Nhiều hộ gia đình có con em đi xuất khẩu lao động đã có nguồn vốn để đầu tư sản xuất và trở thành những mô hình điểm trong phong trào thi đua sản xuất, vươn lên thoát nghèo của huyện.

    Công tác cán bộ cũng đã được quan tâm, đã tuyển chọn được 33 trí thức trẻ tình nguyện trình độ cao đẳng, đại học, bố trí về công tác tại các xã và tăng cường, luân chuyển 36 cán bộ chủ chốt cho cơ sở xã để hỗ trợ thực hiện Chương trình giảm nghèo nhanh và bền vững. Qua thời gian công tác, đội ngũ cán bộ này đã tiếp cận, hòa nhập với điều kiện môi trường công tác tại cơ sở, phát huy được trình độ, kiến thức, tham mưu cho các xã thực hiện tốt hơn nhiệm vụ chuyên môn, chính trị của địa phương.

    Ngoài ra, các huyện còn được Trung ương bố trí kinh phí thực hiện các chính sách vay vốn, trong 03 năm được bố trí 30,09 tỷ đồng (trong đó: vay để phát triển ngành nghề, đi xuất khẩu lao động, làm nhà theo QĐ 167…), cho 4.607 hộ thụ hưởng. Nhìn chung, nguồn vốn cho người dân vay đặc biệt là hộ nghèo đồng bào dân tộc trên địa bàn huyện đã được bà con sử dụng đúng mục đích vào sản xuất phát triển kinh tế gia đình, giải quyết khó khăn về nhà ở góp phần mang lại hiệu quả kinh tế xóa nghèo bền vững.

    Bên cạnh nguồn vốn của Trung ương đầu tư, các địa phương còn được các doanh nghiệp quan tâm hỗ trợ. Huyện Đam Rông, tỉnh Lâm Đồng thường xuyên, chủ động liên hệ với các đơn vị giúp huyện để tranh thủ ý kiến đóng góp và nguồn vốn đầu tư hỗ trợ. Qua 3 năm, các đơn vị đã hỗ trợ cho huyện 67,52 tỷ đồng (trong đó Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam hỗ trợ 29,42 tỷ đồng, Tập đoàn Công nghiệp Than và Khoáng sản Việt Nam hỗ trợ 24,5 tỷ đồng, Tổng Công ty Thương mại Sài Gòn hỗ trợ 3,6 tỷ đồng, Công ty Xổ số kiến thiết Lâm Đồng hỗ trợ 10 tỷ đồng), huyện đã đầu tư xây và nâng cấp 12 công trình trường học, 03 trạm y tế, 01 nhà công vụ, 02 nhà văn hóa xã và 01 công trình chợ, tổ chức xây dựng nhà cho 60 hộ dân tại TK 212 xã Phi Liêng.

    Ngoài kinh phí của Trung ương đầu tư hỗ trợ, các tỉnh trong khu vực đã cân đối, sử dụng nguồn ngân sách của tỉnh để đầu tư hỗ trợ các xã nghèo theo cơ chế NQ 30a, cụ thể: Tỉnh Lâm đồng có 29 xã nghèo, có tỷ lệ hộ nghèo trên 30%. Địa phương cân đối Ngân sách hỗ trợ cho 29 xã nghèo, với tổng kinh phí là 23.488,6 triệu đồng. Ước đến cuối năm 2011 các địa phương thực hiện giải ngân được 20,5 tỷ đồng, đạt 85% so kế hoạch, trong đó các huyện có tỷ lệ giải ngân cao là: Lạc Dương (97%), Đạ Tẻh (85%), Đức Trọng (95%); Tỉnh Kon Tum có 8 xã trọng điểm đặc biệt khó khăn thuộc 6 huyện (Đăk Glei, Đăk Tô, Đăk Hà, Ngọc Hồi, Kon Rẫy và Sa Thầy) có tỷ lệ hộ nghèo trên 50% được đầu tư hỗ trợ từ ngân sách tỉnh, với tổng kinh phí 32.900 triệu đồng cho 8 xã, 52 thôn, làng; Tỉnh Gia Lai đã xây dựng Đề án đầu tư theo cơ chế 30a cho 4 huyện (K’bang, Ia Pa, Krông Chro, Krông Pa) gửi các Bộ, ngành Trung ương nhưng đến nay chưa được phê duyệt.

    Qua 3 năm triển khai thực hiện Chương trình giảm nghèo nhanh và bền vững theo Nghị quyết 30a của Chính phủ, các huyện của khu vực Tây Nguyên luôn nhận được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo và giúp đỡ về nhiều mặt của Chính phủ, các Bộ ngành Trung ương, các đơn vị nhận đỡ đầu. Đặc biệt là sự chỉ đạo sát sao của Tỉnh uỷ, HĐND, UBND và các sở ban ngành của tỉnh. Vì vậy, kinh tế – xã hội của các huyện trong 03 năm qua 2009-2011 có bước phát triển đáng kể, quốc phòng – an ninh, trật tự an toàn xã hội được giữ vững.

    Mặc dù đạt kết quả như trên song việc triển khai thực hiện Nghị quyết 30a trên địa bàn Tây Nguyên vẫn còn một số khó khăn, tồn tại như: tỷ lệ nghèo một số huyện còn cao; sự phối hợp giữa các đơn vị với các huyện về hướng dẫn của các cấp, ngành chưa thống nhất, chưa đồng bộ nên việc triển khai thực hiện còn lúng túng, chậm tiến độ; lực lượng xây dựng đề án chưa có thời gian nghiên cứu sâu, chưa nắm đầy đủ nội dung để xây dựng và triển khai tốt kế hoạch do đó trong quá trình thực hiện đã phải điều chỉnh nhiều lần. Nguồn vốn bổ sung, hỗ trợ có mục tiêu theo Nghị quyết 30a của Trung ương hằng năm còn thấp, chưa đảm bảo nhu cầu đầu tư của địa phương, khó khăn cho tỉnh trong việc đầu tư cơ sở hạ tầng cho các huyện nghèo. Do x uất phát điểm nền kinh tế thấp, trình độ văn hoá, mặt bằng dân trí thấp, một số tập tục lạc hậu, tính trông chờ ỷ lại, thiếu ý chí phấn đấu làm giàu còn tồn tại trong một bộ phận nhân dân gây khó khăn trong việc tiếp thu và ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất, đời sống. Năng lực điều hành của một số cán bộ còn hạn chế, nhất là ở cơ sở đội ngũ cán bộ còn thiếu và yếu về chuyên môn nghiệp vụ, đa phần là người dân tộc thiểu số chưa được đào tạo chuyên môn nghiệp vụ… đã ảnh hưởng đến kết quả, hiệu quả của Chương trình trong 3 năm qua.

    Nhằm giúp các địa phương trong khu vực thực hiện tốt hơn Nghị quyết 30ª trong thời gian tới, Chính phủ và các Bộ ngành cần có cơ chế bố trí vốn hợp lý (tăng mức vốn hằng năm để xây dựng hoàn thành các công trình thiết yếu) và bố trí nguồn vốn sự nghiệp sớm ngay từ đầu năm để các huyện chủ động triển khai các chương trình, dự án theo đúng kế hoạch, lộ trình. Bên cạnh đó, nên có cơ chế hỗ trợ thêm bằng trợ cấp hoặc cho vay ưu đãi đối với các hộ nghèo trồng rừng (do định mức hỗ trợ trồng rừng 5 triệu đồng/ ha là thấp so với chi phí cần phải đầu tư hiện nay khoảng 10 triệu đồng/ha) giúp các hộ nghèo thuận lợi trong việc triển khai trồng rừng. Đồng thời cho cơ chế đối với các hộ mới thoát nghèo tiếp tục được hưởng các chính sách hỗ trợ như hộ nghèo trong 02 năm kế tiếp đ ể các hộ vừa thoát nghèo vừa có điều kiện phát triển bền vững và hạn chế tái nghèo. Phân công thêm các doanh nghiệp giúp đỡ các huyện nghèo và đôn đốc các đơn vị được phân công quan tâm hỗ trợ đối với các huyện này.

    Đối với các địa phương, cần tăng cường công tác chỉ đạo thực hiện NQ 30a tới các Sở, ngành và các huyện nghèo. Chú trọng đến công tác tuyên truyền nhằm chuyển biến về nhận thức, tư tưởng trong nhân dân, xoá bỏ dần tư tưởng không muốn thoát nghèo, thói quen sinh hoạt, canh tác lạc hậu đồng thời phát huy khả năng sáng tạo, ý chí nỗ lực tự vươn lên, hướng dẫn giúp hộ nghèo cách làm ăn, tiêu dùng tiết kiệm, biết tích luỹ để tái đầu tư. Thực hiện tốt việc rà soát, quản lý hộ nghèo, đánh giá đúng nguyên nhân để có cơ sở hỗ trợ đầu tư giúp họ nhanh chóng thoát nghèo bền vững. Mặt khác, đẩy mạnh công tác tạo công ăn việc làm và lựa chọn một số ngành nghề phù hợp đặc biệt là những ngành phát huy được thế mạnh của địa phương. Lồng ghép có hiệu quả các nguồn vốn thuộc các chương trình mục tiêu quốc gia và các nguồn vốn khác, ưu tiên đầu tư các công trình có yêu cầu cấp thiết, công trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh, đầu tư dứt điểm từng công trình, tránh đầu tư dàn trải. Có chính sách kêu gọi, thu hút đầu tư, nhất là đầu tư vào lĩnh vực sản xuất, chế biến sản phẩm nông-lâm nghiệp. Sơ kết đánh giá kết quả triển khai thực hiện Nghị quyết 30a theo quí để rút kinh nghiệm triển khai thực hiện tốt trong giai đoạn tiếp theo…/.

    Phước An

    --- Bài cũ hơn ---

  • Viettel Bàn Giao Nhiều Công Trình Theo Nghị Quyết 30A Của Chính Phủ
  • Gõ Cửa Ngày Mới: Bảo Tồn Và Phát Huy Giá Trị Nghệ Thuật Đờn Ca Tài Tử Trên Địa Bàn Tỉnh Brvt
  • Nghị Quyết 30/2017 Của Hdnd Tỉnh Bình Thuận Về Quy Định Mức Chi Chế Độ Công Tác Phí
  • Đẩy Mạnh Triển Khai Thực Hiện Nghị Quyết 30
  • Gia Lai Tập Trung Hoàn Thành Các Chỉ Tiêu Kt
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100