Nghị Quyết 36 Ngày 1/7/2014 / Top 2 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 1/2023 # Top View | Bac.edu.vn

Quy Định Về Giao Đất Trái Thẩm Quyền Từ Ngày 1/7/2004 Đến Ngày 1/7/2014

Thư tư vấn bằng văn bản vụ việc: Giao đất trái thẩm quyền từ ngày 1/7/2014 đến ngày 1/7/2014 I/ CÁC TÀI LIỆU LUẬT SƯ ĐƯỢC CUNG CẤP

Biên bản làm việc của UBND xã A ngày 08/6/2010

Đơn đề nghị ông Cao Vũ Bảo ngày 10/6/2010

Đơn xin chuyển quyền sử dụng đất của Ông Cao Vũ Bảo

Giấy biên nhận tiền từ năm 2010 đến năm 2013

II/ TÓM TẮT HỒ SƠ VỤ VIỆC VỀ ĐẤT GIAO TRÁI THẨM QUYỀN SAY 2004 1.1 Về giao dịch dân sự

Ngày 10/6/2010, ông Trần Công Thanh và ông Cao Vũ Bảo thực hiện một giao dịch dân sự với nội dung “chuyển quyền sử dụng toàn bộ diện tích đất theo bản đồ tờ số 28, thửa 17” thuộc xã A, huyện B tỉnh C với giá trị thửa đất là 500.000.000 (năm trăm triệu đồng), diện tích sử dụng 180m 2.

Cùng ngày, ông Trần Công Thanh đã thanh toán trước cho ông cao Vũ Bảo số tiền là 200.000.000 (hai trăm triệu đồng chẵn) thể hiện qua giấy nhận tiền được xác lập bởi 2 bên.

Số tiền còn lại là 300.000.000 (ba trăm triệu đồng) các bên đã thống nhất để ông Trần Công Thanh nợ lại và có tính lãi suất là 1% trên một tháng.

Ngày 30/8/2013 ông Trần Công Thanh đã thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho đợt cuối cùng. Tổng số tiền thanh toán qua các đợt là 360.000.000 (ba trăm sáu mươi triệu đồng) cả gốc và lãi (số tiền gốc là ba trăm triệu đồng, lãi suất là sáu mươi triệu đồng). Ông Thanh đã thực hiện đúng toàn bộ nghĩa vụ của mình đối với giao dịch dân sự trên.

2.2 Về nguồn gốc đất

Thửa đất “theo bản đồ tờ số 28, thửa 17” thuộc xã A, huyện B, tỉnh C có nguồn gốc theo đơn đề nghị của ông Cao Vũ Bảo ngày 10/6/2010. Theo đơn đề nghị gửi UBND xã A của ông Bảo, khi mở đường giao thông mới 492 gia đình ông đã bị thu hồi phần diện tích 180m 2 đất tại địa chỉ xã A, huyện B, tỉnh C, vì vậy gia đình ông Bảo có đề nghị Hội đồng giải phóng mặt bằng huyện A, UBND xã A giao đất mới có cùng mục đích sử dụng sang phía bắc đường 492 vào phần ao mà ông Bảo đã sử dụng từ năm 1963.

Ngày 10/6/2010 UBND xã A đã xác nhận và đóng dấu vào đơn đề nghị của ông Cao Vũ Bảo với nội dung “Nhất trí: Giao diện tích đất ao 180m 2 tại tờ bản đồ 28, thửa 17 cho gia đình (không thu tiền sử dụng đất). Bổ xung quy hoạch, làm thủ tục đề nghị các cấp hợp pháp quyền sử dụng đất cho gia đình theo quy định của pháp luật”

Ngày 23/7/2010 UBND xã A, huyện B, tỉnh C đã xác nhận và đồng ý cho ông Cao Vũ Bảo thực hiện giao dịch dân sự chuyển giao cho ông Trần Công Thanh theo “Đơn xin chuyển quyền sử dụng đất” của ông Bảo tại thửa đất tờ bản đồ 28, thửa 17 tại xã A, huyện B, tỉnh C.

Hiện trạng thửa đất ao 180m 2 tờ bản đồ 28, thửa 17 tại xã A, huyện B, tỉnh C hiện nay gia đình ông Vũ Công Thanh vẫn đang là người trực tiếp quản và sử dụng, có đóng tiền thuê đất hàng năm với tổng diện tích đất thuê là 650m 2. Với UBND xã A.

2.3 Về việc xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho 180m2 tờ bản đồ 28, thửa 17 tại xã A, huyện B, tỉnh C.

Gia đình ông Trần Công Thanh đã thanh toán cho ông Cao Vũ Bảo tổng toàn bộ số tiền 560.000.000 (năm trăm sáu mươi triệu đồng với số tiền gốc là năm trăm triệu đồng chẵn và lãi là sáu mươi triệu đồng chẵn) để mua lại thửa đất tờ bản đồ 28, thửa 17, với diện tích 180m 2 tại xã A, huyện B tỉnh C vào ngày 30/8/2013. Tuy nhiên, việc thực hiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho thửa đất kể trên vẫn chưa thực hiện được theo đúng thỏa thuận và cam kết giữa các bên do những vướng mắc từ nguồn gốc đất, thủ tục pháp lý cũng như chính sách pháp luật của thửa đất trên.

III/ NỘI DUNG YÊU CẦU TƯ VẤN VỀ VIỆC XỬ LÝ ĐẤT GIAO TRÁI THẨM QUYỀN

Ngày 12/4/2017, luật sư công ty TNHH tư vấn PHAMLAW có nhận được yêu cầu tư vấn hỗ trợ của ông Trần Công Thanh với các nội dung sau:

” Điều 37 Thẩm quyền giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất

1. Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quyết định giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất đối với tổ chức; giao đất đối với cơ sở tôn giáo; giao đất, cho thuê đất đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài; cho thuê đất đối với tổ chức, cá nhân nước ngoài. 2. Uỷ ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh quyết định giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất đối với hộ gia đình, cá nhân; giao đất đối với cộng đồng dân cư. 3. Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn cho thuê đất thuộc quỹ đất nông nghiệp sử dụng vào mục đích công ích của xã, phường, thị trấn.

4. Cơ quan có thẩm quyền quyết định giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều này không được ủy quyền “.

Như vậy, theo Điều 37 Khoản 3 Luật Đất đai 2003 thì UBND cấp xã, phường, thị trấn chỉ được cho thuê đất thuộc quỹ đất nông nghiệp sử dụng vào mục đích công ích của xã, phường, thị trấn chứ không có thẩm quyền giao đất.

Kết luận rằng, việc UBND xã A giao diện tích đất ao bản đồ 28, thửa 17, với diện tích 180m2 tại xã A, huyện B, tỉnh C là trái thẩm quyền. 4.1.2 Quy định của pháp luật việc giao đất không đúng thẩm quyền

Theo quy định tại Điều 23 Nghị định 43/2014/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Luật Đất đai 2013 thì:

” 1. Đất giao không đúng thẩm quyền cho hộ gia đình, cá nhân quy định tại Điều này bao gồm các trường hợp người đứng đầu điểm dân cư giao đất hoặc Ủy ban nhân dân cấp xã giao đất không đúng thẩm quyền theo quy định của pháp luật về đất đai qua các thời kỳ; tổ chức được Nhà nước giao đất, cho thuê đất để sử dụng nhưng đã tự phân phối, bố trí cho cán bộ, công nhân viên, xã viên để sử dụng làm nhà ở và các mục đích khác.

2. Trường hợp đất được giao không đúng thẩm quyền đã được sử dụng ổn định trước ngày 15 tháng 10 năm 1993, không có tranh chấp, phù hợp với quy hoạch thì người đang sử dụng đất được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với diện tích đất đã được giao theo quy định tại Khoản 1 Điều 20 của Nghị định này. 3. Trường hợp đất được giao không đúng thẩm quyền đã được sử dụng ổn định từ ngày 15 tháng 10 năm 1993 đến trước ngày 01 tháng 7 năm 2014, không có tranh chấp, phù hợp với quy hoạch thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định tại Khoản 2 Điều 20 của Nghị định này. Trường hợp thửa đất có vườn, ao gắn liền với nhà ở hoặc công trình xây dựng khác thì diện tích còn lại không có nhà ở, công trình xây dựng được xác định là đất nông nghiệp theo hiện trạng đang sử dụng, nếu người sử dụng đất đề nghị được chuyển sang sử dụng vào mục đích phi nông nghiệp thì phải làm thủ tục chuyển mục đích sử dụng đất. 4. Người sử dụng đất được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất quy định tại Khoản 2 và Khoản 3 Điều này phải thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật. 5. Nhà nước không cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất và thu hồi toàn bộ diện tích đất đã giao, cho thuê không đúng thẩm quyền kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2014 trở về sau”.

Căn cứ theo Thông tư số 23/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 quy định về Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất ở tại Điều 24 Khoản 5 thì:

” 5. Việc cấp Giấy chứng nhận đối với trường hợp được giao đất không đúng thẩm quyền quy định tại Điều 23 của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP được xem xét, quyết định đối với từng trường hợp cụ thể sau khi đã làm rõ và xử lý trách nhiệm đối với người giao đất không đúng thẩm quyền theo quy định của pháp luật. Chỉ cấp Giấy chứng nhận đối với trường hợp đã sử dụng đất ổn định, không tranh chấp, phù hợp với quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị hoặc quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn, quy hoạch xây dựng nông thôn mới đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt và phải thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật; trường hợp giao đất làm nhà ở thì chỉ cấp Giấy chứng nhận đối với hộ gia đình, cá nhân đã làm nhà ở và không có chỗ ở nào khác “.

Tuy nhiên, Thông tư số 02/2015/TT-BTNMT (có hiệu lực thi hành từ ngày 12/3/2015) quy định chi tiết một số điều của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP và Nghị định số 44/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ. Tại Điểm 2, Điều 18, Thông tư 02/2015/TT-BTNMT đã sửa đổi, bổ sung một số nội dung của Thông tư số 23/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 quy định về Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất ở. Cụ thể nội dung của Điều 18 Thông tư 02 như sau:

“2. Sửa đổi, bổ sung Khoản 5 Điều 24 của Thông tư số 23/2014/TT-BTNMT như sau:

” 5. Việc cấp Giấy chứng nhận đối với trường hợp được giao đất không đúng thẩm quyền từ ngày 1/7/2004 đến trước ngày 1/7/2014 theo quy định tại Điều 23 của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP được thực hiện như sau:

a) Làm rõ và xử lý trách nhiệm đối với người giao đất không đúng thẩm quyền theo quy định của pháp luật; b) Xem xét, quyết định đối với từng trường hợp cụ thể và chỉ cấp Giấy chứng nhận đối với trường hợp đã sử dụng đất ổn định, không có tranh chấp, phù hợp với quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị hoặc quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn, quy hoạch xây dựng nông thôn mới đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt và phải thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật; trường hợp giao đất làm nhà ở thì chỉ cấp Giấy chứng nhận đối với hộ gia đình, cá nhân không có đất ở, nhà ở nào khác trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất ở được giao không đúng thẩm quyền“.

Từ những căn cứ nêu trên, xét theo những tài liệu, thông tin mà ông Trần Công Thanh cung cấp thì sẽ chỉ cấp Giấy chứng nhận đối với đất đã sử dụng ổn định, không có tranh chấp, phù hợp với quy hoạch sử dụng đất, quy hoặc chi tiết xây dựng đô thị hoặc quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn, quy hoạch xây dựng nông thôn mới đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt và phải thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật. Chỉ được giao đất để làm nhà ở đối với hộ gia đình, cá nhân không có đất ở, nhà ở nào khác trong cùng địa bàn.

Thứ hai: Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phải được nhà nước xem xét và quyết định đối với mỗi trường hợp cụ thể, phải phù hợp với quy hoạch và điều kiện thực tế tại mỗi địa phương. Thời điểm hiện tại, ông Cao Vũ Bảo không phải là người đang sử dụng đất, mà là ông Trần Công Thanh đang trực tiếp quản lý và sử dụng (đang thuê lại của UBND xã A cả phần diện tích 650m 2 của Thửa đất tờ bản đồ 28, thửa 17) vì vậy, chưa có cơ sở pháp lý để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng của Thửa đất nói trên.

4.2.2 Phương án tham khảo

Từ những căn cứ pháp lý để đưa ra kết luận nêu trên, phương án tối ưu cho ông Trần Công Thanh trường hợp trên là tiến hành đàm phán, thương lượng, yêu cầu kết thúc giao dịch dân sự trên và thanh toán lại toàn bộ số tiền 560.000.000 (năm trăm sáu mươi triệu đồng) để gia đình có những kế hoạch mới, sớm ổn định cuộc sống.

Tăng Lương Cơ Sở Từ Ngày 1/7/2019

Nghị định này quy định mức lương cơ sở áp dụng đối với cán bộ, công chức, viên chức, người hưởng lương, phụ cấp và người lao động (người hưởng lương, phụ cấp) làm việc trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị sự nghiệp của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội và hội được ngân sách nhà nước hỗ trợ kinh phí hoạt động ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương (cấp huyện), ở xã, phường, thị trấn (cấp xã), ở đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt và lực lượng vũ trang.

Theo Nghị định, từ ngày 1/7/2019, mức lương cơ sở là 1.490.000 đồng/tháng thay cho mức lương cũ là 1.390.000 đồng/tháng. Mức lương cơ sở này dùng để làm căn cứ cho việc tính mức lương trong các bảng lương, mức phụ cấp và thực hiện các chế độ khác theo quy định của pháp luật đối với các đối tượng quy định tại Điều 2 Nghị định 38/2019/NĐ-CP; tính mức hoạt động phí, sinh hoạt phí theo quy định của pháp luật; tính các khoản trích và các chế độ được hưởng theo mức lương cơ sở.

Người hưởng lương, phụ cấp trên gồm:

Cán bộ, công chức từ trung ương đến cấp huyện quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 4 Luật cán bộ, công chức năm 2008.

Cán bộ, công chức cấp xã quy định tại khoản 3 Điều 4 Luật cán bộ, công chức năm 2008.

Viên chức trong các đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định tại Luật viên chức năm 2010.

Người làm việc theo chế độ hợp đồng lao động xếp lương theo Nghị định số 204/2004/NĐ-CP ngày 14/12/2004 của Chính phủ về chế độ tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang, gồm: Người làm việc theo chế độ hợp đồng lao động trong các cơ quan, đơn vị của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội quy định tại Nghị định số 68/2000/NĐ-CP ngày 17 tháng 11 năm 2000 của Chính phủ về thực hiện chế độ hợp đồng một số loại công việc trong cơ quan hành chính nhà nước, đơn vị sự nghiệp và Nghị định số 161/2018/NĐ-CP ngày 29/11/2018 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số quy định về tuyển dụng công chức, viên chức, nâng ngạch công chức, thặng hạng viên chức và thực hiện chế độ hợp đồng một số loại công việc trong cơ quan hành chính nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập.

Người làm việc trong chỉ tiêu biên chế trong các hội được ngân sách nhà nước hỗ trợ kinh phí hoạt động quy định tại Nghị định số 45/2010/NĐ-CP ngày 21/4/2010 của Chính phủ quy định về tổ chức, hoạt động và quản lý hội.

Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan, binh sĩ và công nhân, viên chức quốc phòng, lao động hợp đồng thuộc Quân đội nhân dân Việt Nam.

Sĩ quan, hạ sĩ quan hưởng lương, hạ sĩ quan, chiến sĩ nghĩa vụ, công nhân công an và lao động hợp đồng thuộc Công an nhân dân.

Người làm việc trong tổ chức cơ yếu.

Người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, ở thôn và tổ dân phố.

Kinh phí thực hiện tăng lương đối với các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan khác ở TW: Sử dụng nguồn tiết kiệm 10% chi thường xuyên (không kể các khoản chi tiền lương, phụ cấp theo lương, các khoản có tính chất lượng và các khoản chi cho con người theo chế độ) dự toán năm 2019 tăng thêm so với dự toán năm 2018 được cấp có thẩm quyền giao; một phần nguồn thu được để lại theo chế độ của cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp công lập; sử dụng nguồn thực hiện cải cách tiền lương năm 2018 chưa sử dụng hết chuyển sang (nếu có).

Các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương sử dụng nguồn tiết kiệm 10% chi thường xuyên; sử dụng 50% tăng thu ngân sách địa phương (không kể thu tiền SDĐ, sổ xố) thực hiện so với dự toán năm 2018; sử dụng 50% phần NSNN giảm chi hỗ trợ hoạt động thường xuyên trong lĩnh vực hành chính và các đơn vị sự nghiệp công lập; sử dụng nguồn thực hiện cải cách tiền lương năm 2018 chưa sử dụng hết chuyển sang (nếu có); sử dụng nguồn còn dư (nếu có) sau khi bảo đảm nhu cầu điều chỉnh tiền lương đến mức lương cơ sở 1.390.000 đồng/tháng.

Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2019 và thay thế cho Nghị định 72/2018/NĐ-CP quy định mức lương cơ sở đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang.

Theo chúng tôi

Luật Doanh Nghiệp 2014 Được Áp Dụng 1/7/2015

Chủ tịch nước vừa công bố Luật Doanh nghiệp số 68/2014/QH13 sẽ có hiệu lực thi hành từ ngày 1-7-2015.

Theo đó, công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần có thể có một hoặc nhiều người đại diện theo pháp luật; trong đó, có ít nhất một người cư trú tại Việt Nam.

Trường hợp doanh nghiệp chỉ có một người đại diện theo pháp luật thì người đó phải cư trú ở Việt Nam và phải ủy quyền bằng văn bản cho người khác thực hiện quyền, nghĩa vụ của người đại diện khi xuất cảnh khỏi Việt Nam.

Theo Luật Doanh nghiệp mới, doanh nghiệp được tự quyết định về hình thức, số lượng, nội dung con dấu của mình và phải thông báo mẫu con dấu với cơ quan đăng ký kinh doanh để đăng tải công khai trên Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp trước khi sử dụng.

Ngoài ra, bỏ quy định về ngành nghề kinh doanh trong Giấy chứng nhận đăng ký DN, nội dung Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp chỉ bao gồm tên, mã số, địa chỉ trụ sở chính; vốn điều lệ và thông tin người đại diện theo pháp luật; thông tin các thành viên hợp danh (đối với công ty hợp danh) hoặc chủ DN (đối với DN tư nhân).

Khi có thay đổi trong nội dung Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp phải đăng ký với cơ quan đăng ký kinh doanh trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày có thay đổi; đồng thời phải thông báo công khai trên Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp trong thời hạn 30 ngày

NHỮNG ĐIỂM MỚI CỦA CÁC VĂN BẢN LUẬT CÓ HIỆU LỰC VÀO THÁNG 7. 2015

Đối với Luật Nhà ở (sửa đổi), Luật Kinh doanh BĐS (sửa đổi) có ý nghĩa quan trọng đối với lĩnh vực bất động sản đã được Quốc hội thông qua. Những luật này có điểm mới sau đây:

1.Chủ đầu tư phải được tổ chức tín dụng bảo lãnh bán, cho thuê nhà ở hình thành trong tương lai: Điều 56 Luật kinh doanh BĐS quy định: Chủ đầu tư dự án bất động sản trước khi bán, cho thuê mua nhà ở hình thành trong tương lai phải được tổ chức tài chính hoặc tổ chức tín dụng được phép hoạt động tại Việt Nam thực hiện bảo lãnh việc bán, cho thuê mua nhà ở hình thành trong tương lai.

Bổ sung quy định, bên mua, bên thuê mua có quyền yêu cầu bên bán, bên cho thuê mua cung cấp thông tin về tiến độ đầu tư xây dựng dự án, việc sử dụng tiền ứng trước và kiểm tra thực tế tại công trình (Điều 58).

2.Người nước ngoài được mua và sở hữu nhà ở tại Việt Nam: Quy định này đã được thí điểm trong 5 năm trở lại đây, tuy nhiên, các điều kiện thì rất khắt khe. Với sự thay đổi trong Luật Nhà ở, người nước ngoài mua và sở hữu nhà ở tại Việt Nam sẽ được nới lỏng hơn.

3.Muốn kinh doanh BĐS phải thành lập doanh nghiệp: Điều 10 của Luật, tổ chức, cá nhân kinh doanh bất động sản phải thành lập doanh nghiệp hoặc hợp tác xã (sau đây gọi chung là doanh nghiệp). Cá nhân, hộ gia đình, tổ chức chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê mua bất động sản có quy mô nhỏ thì không phải lập doanh nghiệp nhưng phải kê khai nộp thuế. (Thuế chuyển nhượng BĐS hiện hành được tính 2% trên giá trị hợp đồng-PV). 4. Vốn pháp định không thấp hơn 20 tỷ đồng: Quy định về vốn pháp định của doanh nghiệp kinh doanh BĐS trước đây là 6 tỷ đồng. Nay, theo Điều 10 của Luật kinh doanh BĐS mới thì vốn pháp định không được thấp hơn 20 tỷ đồng.

5.Vốn tự có khi thực hiện đầu tư dự án của chủ đầu tư không thấp hơn 20% tổng mức đầu tư đối với dự án có quy mô sử dụng đất dưới 20 ha và không thấp hơn 15% tổng mức đầu tư đối với dự án có quy mô sử dụng đất từ 20 ha trở lên theo quy định của pháp luật về đất đai.

6.Về thời điểm chuyển quyền sở hữu nhà ở (Điều 12), kể từ thời điểm bên mua, bên thuê mua đã thanh toán đủ tiền mua, tiền thuê mua nhà ở; nhận bàn giao nhà từ chủ đầu tư: đa số ý kiến tán thành với quy định về thời điểm chuyển quyền sở hữu nhà ở như dự thảo Luật. Tuy nhiên cũng có ý kiến cho rằng, quy định tại khoản 3 về trường hợp mua bán nhà ở giữa chủ đầu tư với người mua nhà là chưa phù hợp.

Đối với Luật Doanh nghiệp vàLuật đầu tư, một số điểm mới đáng chú ý như sau:

Qui định mới về nội dung Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp:

1. Theo Điều 29 Luật Doanh nghiệp 2014 thì Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp được rút gọn chỉ còn 04 nội dung chính (trước đây theo Luật Doanh nghiệp 2005 là 10 nội dung chính) bao gồm:

– Tên doanh nghiệp và mã số doanh nghiệp; – Địa chỉ trụ sở chính của doanh nghiệp; – Thông tin người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp; – Vốn điều lệ doanh nghiệp. Đây là một điểm mới đặc biệt khi không ghi nhận ngành nghề kinh doanh trên giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Ngoài ra, bỏ việc xác định vốn pháp định, chứng chỉ hành nghề khi đăng ký ngành nghề kinh doanh. Đây thực sự là bước đột phá của luật doanh nghiệp 2014 nó thực sự ghi nhận quyền tự do kinh doanh tất cả ngành nghề mà pháp luật không cấm theo quy định tại Hiến pháp.

2. Qui định mới về con dấu pháp nhân của doanh nghiệp:

Theo Điều 44 Luật Doanh nghiệp 2014 thì doanh nghiệp có quyền quyết định về hình thức, số lượng và nội dung con dấu của doanh nghiệp theo quy định của pháp luật. Thay vì trước ngày 01/07/2015 doanh nghiệp phải đăng ký với cơ quan Công an thì kể ngày Luật Doanh nghiệp 2014 có hiệu lực doanh nghiệp chỉ cần thông báo mẫu dấu với cơ quan đăng ký kinh doanh để đăng tải công khai trên Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp. Qui định này là một “cuộc cách mạng” về con dấu pháp nhân của doanh nghiệp. Nó mang tính tự chủ, tự quản lý và tự chịu trách nhiệm về dấu pháp nhân của doanh nghiệp.

3. Qui định mới về cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp cho nhà đầu tư nước ngoài:

Cùng với Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp 2014 đã qui định về vấn đề nhà đầu tư nước ngoài sau khi được cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư phải thực hiện đăng ký và nộp hồ sơ thành lập doanh nghiệp theo qui định của Luật Doanh nghiệp 2014. Khác với trước đây Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư đồng thời là Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp của nhà đầu tư nước ngoài.

4. Qui định về người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp:

Điều 13 Luật Doanh nghiệp 2014 qui định hoàn toàn mới về người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp doanh nghiệp được có quyền có nhiều người đại diện theo pháp luật. “Công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần có thể có một hoặc nhiều người đại diện theo pháp luật. Điều lệ công ty quy định cụ thể số lượng, chức danh quản lý và quyền, nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp.Doanh nghiệp phải bảo đảm luôn có ít nhất một người đại diện theo pháp luật cư trú tại Việt Nam. Trường hợp doanh nghiệp chỉ có một người đại diện theo pháp luật thì người đó phải cư trú ở Việt Nam và phải ủy quyền bằng văn bản cho người khác thực hiện quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật khi xuất cảnh khỏi Việt Nam. Trường hợp này, người đại diện theo pháp luật vẫn phải chịu trách nhiệm về việc thực hiện quyền và nghĩa vụ đã ủy quyền”.

5. Qui định về việc giảm vốn của Công ty TNHH một thành viên:

Theo qui định của Luật Doanh nghiệp 2014 Công ty TNHH một thành viên được phép giảm vốn điều lệ.

6. Qui định về tỷ lệ họp Đại hội đồng cổ đông Công ty cổ phần:

Luật Doanh nghiệp 2014 chính thức thay đổi theo đúng thông lệ quốc tế khi giảm tỷ lệ dự họp từ 65% (Luật doanh nghiệp 2005 xuống còn 51%. Khi có số cổ đông dự họp đại diện ít nhất 51% tổng số phiếu biểu quyết là cuộc họp Đại hội đồng cổ đông được tiến hành. Đồng thời, Luật quy định về thành viên hội đồng quản trị độc lập, không tham gia điều hành trực tiếp doanh nghiệp; Bãi bỏ việc Đại hội đồng cổ đông bầu trực tiếp Chủ tịch hội đồng quản trị.

Nghị Quyết 36/2012/Qh13 Của Quốc Hội Ban Hành Ngày 23/11/2012

VỀ VIỆC TIẾP TỤC THỰC HIỆN THÍ ĐIỂM CHẾ ĐỊNH THỪA PHÁT LẠI

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 51/2001/QH10; Trên cơ sở xem xét Báo cáo số 299/BC-CP ngày 23/10/2012 của Chính phủ tổng kết thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại theo Nghị quyết số 24/2008/QH12 ngày 14/11/2006 của Quốc hội về thi hành Luật thi hành án dân sự và Tờ trình số 298/TTr-CP ngày 23/10/2012 của Chính phủ về tiếp tục thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại; Báo cáo thẩm tra số 928/BC-UBTP13 ngày 25/10/2012 của Ủy ban tư pháp của Quốc hội và ý kiến của các vị đại biểu Quốc hội; QUYẾT NGHỊ:

Điều 1 Giao Chính phủ tiếp tục tổ chức thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại tại một số tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương theo Nghị quyết số 24/2008/QH12 đến hết ngày 31 tháng 12 năm 2015 và tiến hành tổng kết, đánh giá kết quả thực hiện thí điểm để báo cáo Quốc hội tại kỳ họp cuối năm 2015.

Điều 2 Chính phủ quy định cụ thể và tổ chức thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại. Các tổ chức Thừa phát lại đã được thành lập và hoạt động theo Nghị quyết số 24/2008/QH12 được tiếp tục hoạt động từ ngày 01 tháng 7 năm 2012 cho đến khi Quốc hội có quyết định mới.

Điều 3

Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm thực hiện và hướng dẫn thi hành Nghị quyết này. Nghị quyết này đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XIII, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 23 tháng 11 năm 2012.

CHỦ TỊCH QUỐC HỘI (đã ký) Nguyễn Sinh Hùng