Nghị Quyết 42 Thư Viện Pháp Luật / TOP #10 Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 8/2022 # Top View | Bac.edu.vn

Thư Viện Văn Bản Pháp Luật

--- Bài mới hơn ---

  • Có Bao Nhiêu Văn Bản Pháp Luật
  • Dịch Văn Bản Hành Chính Sang Tiếng Anh
  • Văn Bản Pháp Luật Hình Sự
  • Nghị Định Thông Tư Hướng Dẫn Luật Thi Hành Án Hình Sự
  • Mang Gương Mặt Buồn Bã Là Phạm Pháp Ở Mỹ
  • Pháp Luật Về Tuyển Dụng Viên Chức ở Vn Hiện Nay Trạg Và Giải Pháp, Luật Phòng Chống Bệnh Truyền Nhiễm Thư Viện Pháp Luật, Hiểu Biết Của Đồng Chí Về Vi Phạm Pháp Luật, Kỷ Luật Và Trách Nhiệm Pháp Lý? Các Giải Pháp Phòng, Ch, Hiểu Biết Của Đồng Chí Về Vi Phạm Pháp Luật, Kỷ Luật Và Trách Nhiệm Pháp Lý? Các Giải Pháp Phòng, Ch, Hiểu Biết Của Đồng Chí Về Vi Phạm Pháp Luật, Kỷ Luật Và Trách Nhiệm Pháp Lý? Các Giải Pháp Phòng, Ch, Thư Viện Văn Bản Pháp Luật, ư Viện Pháp Luật, Thư Viện Pháp Luật, Pháp Luật Kinh Tế Học Viện Tài Chính, Pháp Luật Các Nước Viễn Đông, Giáo Trình Pháp Luật Kinh Tế Học Viện Tài Chính, Các Quy Định Pháp Luật Về Đạo Đức Nghề Nghiệp Của Người Giáo Viên Mầm Non, Quy Định Pháp Luật Về Đạo Đức Nghề Nghiệp Của Người Giáo Viên Mầm Non, Hoạt Động Của Luật Sư, Trợ Giúp Viên Pháp Lý Trong Các Vụ Việc Hình Sự, Pháp Luật Về Bảo Vệ Quyền Lợi Người Tiêu Dùng Với Pháp Luật Thương Mại, Pháp Luật Và Thực Hiện Pháp Luật Trong Nhà Nước Xhcnvn, Tiểu Luận Pháp Luật Và Hệ Thống Pháp Luật Xhcn Việt Nam, Pháp Luật Quốc Tế, Pháp Luật Nước Ngoài Về Bảo Vệ Quyền Trẻ Em, Văn Bản Pháp Luật Môn Học Lý Luận Nhà Nước Và Pháp Luật, Báo Cáo Kết Quả Qua Giám Sát Việc Tuân Thủ Hiến Pháp Và Pháp Luật Của Hội Đồng Nhân Dân Xã, Quy Định Pháp Luật Về Khiếu Nại Là Cơ Sở Pháp Lý Để Công Dân Thực Hiện Qu, Giải Thích Câu Tục Ngiải Pháp Chủ Yêu Đường Lối, Chính Sách, Pháp Luật Của Đẩng, Nhà Nươc…, Sống Và Làm Việc Theo Hiến Pháp Và Pháp Luật, Một Số Giải Pháp Hoàn Thiện Pháp Luật Về Hoạt Động Thu Thập Chứng Cứ Của Người Bào Chữa Trong Tố Tụn, Một Số Giải Pháp Hoàn Thiện Pháp Luật Về Hoạt Động Thu Thập Chứng Cứ Của Người Bào Chữa Trong Tố Tụn, Văn Bản Pháp Luật Nào Dưới Đây Có Hiệu Lực Pháp Lý Cao Nhất, Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học Pháp Luật, Biện Pháp Xử Lý Văn Bản Pháp Luật Khiếm Khuyết, Khái Niệm Chính Sách Pháp Luật Và Hệ Thống Chính Sách Pháp Luật, Văn Bản Pháp Luật Là Gì Có Mấy Loại Văn Bản Pháp Luật, Nghị Định Kiểm Tra Xử Lý Kỷ Luật Trong Thi Hành Pháp Luật Về Xử Lý Vi Phạm , Dự Thảo Luật Sửa Đổi Bổ Sung Một Số Điều Của Luật Giám Định Tư Pháp, Giáo Trình Luật Hiến Pháp Khoa Luật Đhqghn, Phòng Chống Vi Phạm Kỷ Luật,pháp Luật Trong Quân Đội, Chương Trình Khung Pháp Luật Đại Cương Đại Học Luật Hà Nội, Bộ Luật Hình Sự Việt Nam Đang Có Hiệu Lực Pháp Luật Là, Quản Trị Công Ty Luật Theo Pháp Luật Việt Nam, Luật Ban Hành Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật Số 80/2015/qh13, Văn Bản Pháp Luật Dành Cho Học Phần Luật Kinh Doanh, Văn Bản Pháp Luật Hiến Pháp, Văn Bản Pháp Luật Có Giá Trị Pháp Lý Cao Nhất, Lý Luận Nhà Nước Và Pháp Luật Luật Lao Động, Dự Thảo Luật Ban Hành Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật, Điều 4 Luật Ban Hành Văn Bản Pháp Luật 2022, Giáo Trình Luật Hiến Pháp Đại Học Luật Hà Nội, Luật Ban Hành Văn Bản Pháp Luật 1996, Luật Ban Hành Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật, Điều 4 Luật Ban Hành Văn Bản Pháp Luật, Lý Luận Nhà Nước Và Pháp Luật Đại Học Luật Hà Nội, Đề Thi Môn Xây Dựng Văn Bản Pháp Luật Trường Đại Học Luật Hà Nội, Vai Trò Của Luật Sư:luật Sư Bảo Vệ Quyền Và Lợi ích Hợp Pháp Cho Nguyên Đơn, Luật Phổ Biến Giáo Dục Pháp Luật, Thư Viện Trường Học Và Các Quy Định Trong Dự Thảo Luật Thư Viện, Tăng Cường Quản Lý, Giáo Dục Chấp Hành Kỷ Luật; Phòng Ngừa, Ngăn Chặn Vi Phạm Pháp Luật Và Vi Phạm K, Tăng Cường Quản Lý, Giáo Dục Chấp Hành Kỷ Luật; Phòng Ngừa, Ngăn Chặn Vi Phạm Pháp Luật Và Vi Phạm K, Bài Tham Luận Về Quản Lý Rèn Luyện Kỷ Luật , Chấp Hành Pháp Luật Trong Quân Đội, Quyết Định Kỷ Luật Đảng Viên Vi Phạm Luật Giao Thông, Tình Hình Tệ Nạn Xã Hội, Vi Phạm Kỷ Luật, Pháp Luật Có Liên Quan Đến Quân Đội, De Thi Mon Tu Van Cua Hoc Vien Tu Phap, De Thi Mon Dan Su Cua Hoc Vien Tu Phap, Học Viện Tư Pháp, Đề Thi Môn Dân Sự Học Viện Tư Pháp, Luật Sửa Đổi Bô Sung Của Luật Cán Bộ, Công Chức Và Luật Viên Chức 25/11/2019, Luật Sửa Đổi Bổ Sung Một Số Điều Của Luật Cán Bộ Công Chức Và Luật Viên Chức, Báo Cáo Thực Tập Học Viện Tư Pháp, Lịch Học Học Viện Tư Pháp, Đề Thi Dân Sự Chuyên Sâu Học Viện Tư Pháp, Kế Hoạch Thực Tập Học Viện Tư Pháp, Giáo Trình Học Viện Tư Pháp, Thủ Tục Thu Hồi Thẻ Cộng Tác Viên Trợ Giúp Pháp Lý, Văn Bản Pháp Luật Là, Văn Bản Pháp Luật Là Gì, Văn Bản Pháp Luật Hà Nội, Văn Bản Pháp Luật Sở Hữu Trí Tuệ, Luật Pháp, Văn Bản Pháp Luật Dân Sự, 5 Văn Bản Pháp Luật, Văn Bản Pháp Luật Gia Lai, Văn Bản Pháp Luật Gov, Văn Bản Pháp Luật Doc, Văn Bản Pháp Luật Gồm, Tư Duy Pháp Lý Của Luật Sư Pdf, Văn Bản Pháp Luật Đất Đai, Văn Bản Pháp Luật Về Đầu Tư, Mẫu Văn Bản Pháp Luật, Sự Tồn Tại Của Pháp Luật, Tin Pháp Luật, Đề Thi Xã Hội Học Pháp Luật, Đề Thi Xã Hội Học Pháp Luật Hlu, Bộ Luật Dân Sự Pháp Pdf, Các Yêu Cầu Đối Với Văn Bản Pháp Luật, Văn Bản Pháp Luật Mới, Mua Văn Bản Pháp Luật ở Đâu, Căn Cứ Pháp Luật, Văn Bản Pháp Luật Bộ Y Tế, Bộ Luật Dân Sự Pháp, Mẫu Văn Bản Tư Vấn Pháp Luật, Các Văn Bản Pháp Luật Về Trẻ Em, Bộ Luật Dân Sự Pháp Và Đức, Văn Bản Pháp Luật Bao Gồm,

    Pháp Luật Về Tuyển Dụng Viên Chức ở Vn Hiện Nay Trạg Và Giải Pháp, Luật Phòng Chống Bệnh Truyền Nhiễm Thư Viện Pháp Luật, Hiểu Biết Của Đồng Chí Về Vi Phạm Pháp Luật, Kỷ Luật Và Trách Nhiệm Pháp Lý? Các Giải Pháp Phòng, Ch, Hiểu Biết Của Đồng Chí Về Vi Phạm Pháp Luật, Kỷ Luật Và Trách Nhiệm Pháp Lý? Các Giải Pháp Phòng, Ch, Hiểu Biết Của Đồng Chí Về Vi Phạm Pháp Luật, Kỷ Luật Và Trách Nhiệm Pháp Lý? Các Giải Pháp Phòng, Ch, Thư Viện Văn Bản Pháp Luật, ư Viện Pháp Luật, Thư Viện Pháp Luật, Pháp Luật Kinh Tế Học Viện Tài Chính, Pháp Luật Các Nước Viễn Đông, Giáo Trình Pháp Luật Kinh Tế Học Viện Tài Chính, Các Quy Định Pháp Luật Về Đạo Đức Nghề Nghiệp Của Người Giáo Viên Mầm Non, Quy Định Pháp Luật Về Đạo Đức Nghề Nghiệp Của Người Giáo Viên Mầm Non, Hoạt Động Của Luật Sư, Trợ Giúp Viên Pháp Lý Trong Các Vụ Việc Hình Sự, Pháp Luật Về Bảo Vệ Quyền Lợi Người Tiêu Dùng Với Pháp Luật Thương Mại, Pháp Luật Và Thực Hiện Pháp Luật Trong Nhà Nước Xhcnvn, Tiểu Luận Pháp Luật Và Hệ Thống Pháp Luật Xhcn Việt Nam, Pháp Luật Quốc Tế, Pháp Luật Nước Ngoài Về Bảo Vệ Quyền Trẻ Em, Văn Bản Pháp Luật Môn Học Lý Luận Nhà Nước Và Pháp Luật, Báo Cáo Kết Quả Qua Giám Sát Việc Tuân Thủ Hiến Pháp Và Pháp Luật Của Hội Đồng Nhân Dân Xã, Quy Định Pháp Luật Về Khiếu Nại Là Cơ Sở Pháp Lý Để Công Dân Thực Hiện Qu, Giải Thích Câu Tục Ngiải Pháp Chủ Yêu Đường Lối, Chính Sách, Pháp Luật Của Đẩng, Nhà Nươc…, Sống Và Làm Việc Theo Hiến Pháp Và Pháp Luật, Một Số Giải Pháp Hoàn Thiện Pháp Luật Về Hoạt Động Thu Thập Chứng Cứ Của Người Bào Chữa Trong Tố Tụn, Một Số Giải Pháp Hoàn Thiện Pháp Luật Về Hoạt Động Thu Thập Chứng Cứ Của Người Bào Chữa Trong Tố Tụn, Văn Bản Pháp Luật Nào Dưới Đây Có Hiệu Lực Pháp Lý Cao Nhất, Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học Pháp Luật, Biện Pháp Xử Lý Văn Bản Pháp Luật Khiếm Khuyết, Khái Niệm Chính Sách Pháp Luật Và Hệ Thống Chính Sách Pháp Luật, Văn Bản Pháp Luật Là Gì Có Mấy Loại Văn Bản Pháp Luật, Nghị Định Kiểm Tra Xử Lý Kỷ Luật Trong Thi Hành Pháp Luật Về Xử Lý Vi Phạm , Dự Thảo Luật Sửa Đổi Bổ Sung Một Số Điều Của Luật Giám Định Tư Pháp, Giáo Trình Luật Hiến Pháp Khoa Luật Đhqghn, Phòng Chống Vi Phạm Kỷ Luật,pháp Luật Trong Quân Đội, Chương Trình Khung Pháp Luật Đại Cương Đại Học Luật Hà Nội, Bộ Luật Hình Sự Việt Nam Đang Có Hiệu Lực Pháp Luật Là, Quản Trị Công Ty Luật Theo Pháp Luật Việt Nam, Luật Ban Hành Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật Số 80/2015/qh13, Văn Bản Pháp Luật Dành Cho Học Phần Luật Kinh Doanh, Văn Bản Pháp Luật Hiến Pháp, Văn Bản Pháp Luật Có Giá Trị Pháp Lý Cao Nhất, Lý Luận Nhà Nước Và Pháp Luật Luật Lao Động, Dự Thảo Luật Ban Hành Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật, Điều 4 Luật Ban Hành Văn Bản Pháp Luật 2022, Giáo Trình Luật Hiến Pháp Đại Học Luật Hà Nội, Luật Ban Hành Văn Bản Pháp Luật 1996, Luật Ban Hành Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật, Điều 4 Luật Ban Hành Văn Bản Pháp Luật, Lý Luận Nhà Nước Và Pháp Luật Đại Học Luật Hà Nội, Đề Thi Môn Xây Dựng Văn Bản Pháp Luật Trường Đại Học Luật Hà Nội,

    --- Bài cũ hơn ---

  • Các Văn Bản Pháp Luật Có Hiệu Lực Vào Tháng 11/2016
  • Một Loạt Văn Bản Luật Đáng Chú Ý Sắp Có Hiệu Lực Thi Hành
  • Văn Bản Pháp Luật Sắp Có Hiệu Lực
  • Thế Nào Là Giấy Tờ, Văn Bản Song Ngữ
  • Văn Bản Pháp Luật Song Ngữ
  • Thư Viện Pháp Luật Đạt 100 Triệu Lượt Xem

    --- Bài mới hơn ---

  • Luật Hôn Nhân Và Gia Đình 2000 22/2000/qh10
  • Luật Hôn Nhân Và Gia Đình 2000
  • So Sánh Luật Hôn Nhân Và Gia Đình Năm 2000
  • Luật Hôn Nhân Và Gia Đình 2000 Thay Thế Luật Hôn Nhân Và Gia Đình 1987
  • Luật Hôn Nhân Và Gia Đình Số 22/2000/qh10
  • 25/12/2012 14:13 PM

    Với đội ngũ xử lý và phân tích văn bản chuyên nghiệp, đến nay TVPL đã có hơn văn bản pháp luật và thủ tục hành chính với độ chính xác cao, được sắp xếp trong hệ thống để người dùng có thể tìm kiếm dễ dàng nhất.

    Trong năm 2012 trang Tin tức Pháp luật – TVPL đã đăng tải hơn 2000 bài viết, trong đó có hơn 400 bài viết thông báo văn bản mới do Ban Thư ký Luật tóm tắt từ các văn bản mới ban hành để cập nhật cho hơn 1 triệu bạn đọc.

    Với tiêu chí cập nhật những chính sách pháp luật, những vấn đề thời sự mới và được nhiều người quan tâm, trang Tin tức pháp luật đã trở thành một nguồn đáng tin cậy, nơi cung cấp những thông tin mang tính chính thống cho độc giả cả nước.

    – Tiếp tục cung cấp gói dịch vụ Tra cứu và Tải văn bản pháp luật miễn phí đến hết năm 2013

    – Triển khai một số tiện ích mới cho khách hàng Basic và Pro

    : giúp quý khách hàng có thể nắm bắt được nội dung cũng như duyệt văn bản nhanh chóng nhất

    đối với những điều khoản bị sửa đổi, bổ sung, thay thế bởi một văn bản khác sẽ được đánh dấu màu khác, và hiển thị nội dung thay thế như thế nào

    giúp những khách hàng Pro có thể đối chiếu nội dung văn bản tiếng Anh và tiếng Việt dễ dàng hơn.

    THƯ VIỆN PHÁP LUẬT cũng sẽ sớm cung cấp gói dịch vụ tra cứu và tải Tiêu chuẩn Việt Nam với mức giá phù hợp trong năm 2013

    Đình Phước THƯ VIỆN PHÁP LUẬT

    Số lượng câu hỏi gửi cho các Luật sư tư vấn là hơn 6.000, và số lượng câu trả lời là 18.000

    Thực hiện sứ mệnh kết nối cộng đồng Dân luật, trong năm 2013 Cộng đồng Dân Luật sẽ triển khai chương trình mời Luật sư đến tại trụ sở THƯ VIỆN PHÁP LUẬT để tư vấn pháp luật miễn phí cho tất cả người dân có nhu cầu.

    5,010

    --- Bài cũ hơn ---

  • Luật Quảng Cáo Số 16/2012/qh13
  • Luật Ngân Sách Nhà Nước 2022, Luật Số 83/2015/qh13 2022
  • Luật Sư Tư Vấn Xử Lý Hành Vi Găm Hàng, Đầu Cơ, Tăng Giá Sản Phẩm
  • Usga Và R&a Lên Kế Hoạch Cập Nhật Luật Golf Về Tình Trạng Nghiệp Dư
  • Tin Hot: Quá Nhiều Thay Đổi Có Lợi Cho Người Chơi Trong Luật Golf 2022 Của Usga Và R&a
  • Những Điểm Mới Đáng Chú Ý Nhất Của Luật Thư Viện Năm 2022 So Với Pháp Lệnh Thư Viện Năm 2000

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài Thi Thử Trắc Nghiệm Luật Giáo Dục Ôn Thi Công Chức, Viên Chức
  • Bộ Câu Hỏi Trắc Nghiệm Thi Viên Chức Ngành Giáo Dục Năm 2022
  • Câu Hỏi Trắc Nghiệm Luật Giáo Dục
  • Môn Bóng Chuyền Ra Đời Vào Năm Nào Và Xuất Phát Từ Đâu?
  • Một Số Giải Pháp Cơ Bản Nâng Cao Chất Lượng Công Tác Quản Lý, Giáo Dục, Rèn Luyện Kỷ Luật Đối Với Cán Bộ, Đảng Viên Ở Học Viện Lục Quân Hiện Nay
  • Sau gần 20 năm thi hành Pháp lệnh Thư viện năm 2000 đã bộc lộ nhiều bất cập, nên Luật Thư viện số 46/2019/QH14 đã được Quốc hội thông qua vào chiều ngày 21/11/2019 và chính thức có hiệu lực thi hành vào ngày 01/7/2020. Luật Thư viện gồm 06 Chương, 52 Điều. Vậy so với Pháp lệnh Thư viện năm 2000 thì Luật Thư viện có những điểm gì mới? Thư viện tỉnh Ninh Thuận giới thiệu tới các nhà quản lý thư viện và bạn đọc 6 điểm mới đáng chú ý nhất của Luật Thư viện cụ thể như sau:

    1. Bổ sung loại hình thư viện ngoài công lập

    Nếu Pháp lệnh Thư viện số 31/2000/PL-UBTVQH10 quy định thư viện bao gồm 02 loại hình: Thư viện công cộng và Thư viện chuyên ngành, đa ngành, thì Luật Thư viện số 46/2019/QH14 quy định thư viện được tổ chức theo 02 mô hình: Thư viện công lập và Thư viện ngoài công lập. Trong khoản 2, Điều 9 của Luật thư viện quy định rõ:

    a) Thư viện công lập do Nhà nước đầu tư, bảo đảm điều kiện hoạt động và đại diện chủ sở hữu được tổ chức theo mô hình đơn vị sự nghiệp công lập hoặc phù hợp với mô hình của cơ quan chủ quản;

    b) Thư viện ngoài công lập sẽ do tổ chức, cá nhân Việt Nam hoặc tổ chức, cá nhân nước ngoài, cộng đồng dân cư đầu tư và bảo đảm điều kiện hoạt động được tổ chức theo mô hình doanh nghiệp, tổ chức sự nghiệp hoặc mô hình khác.

    Cụ thể, khoản 1, Điều 9 của Luật quy định thư viện gồm các loại sau đây:

    a) Thư viện Quốc gia Việt Nam;

    b) Thư viện công cộng;

    c) Thư viện chuyên ngành;

    d) Thư viện lực lượng vũ trang;

    đ) Thư viện cơ sở giáo dục đại học (thư viện đại học);

    e) Thư viện cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông, cơ sở giáo dục nghề nghiệp và cơ sở giáo dục khác;

    g) Thư viện cộng đồng và thư viện tư nhân có phục vụ cộng đồng;

    h) Thư viện của tổ chức, cá nhân nước ngoài có phục vụ người Việt Nam.

    2. Lấy ngày 21/4 là Ngày Sách và Văn hóa đọc Việt Nam

    Ngày 25/02/2014, Thủ tướng Chính phủ đã quyết định lấy ngày 21/4 hàng năm là Ngày Sách Việt Nam tại Quyết định 284/QĐ-TTg.

    Trong khoản 1, Điều 30 của Luật Thư viện quy định ngày 21/4 là ngày Sách và Văn hóa đọc hàng năm. Như vậy lần đầu tiên, ngày 21/4 hàng năm được đưa vào Luật Thư viện năm 2022 và chính thức trở thành Ngày Sách và Văn hóa đọc Việt Nam nhằm phát triển một xã hội có thói quen đọc sách và phát triển văn hóa đọc.

    Theo khoản 2 Điều 30 Luật này, việc phát triển văn hóa đọc được thực hiện thông qua các hoạt động sau:

    a) Tổ chức các hoạt động nhằm hình thành thói quen đọc sách trong gia đình, trường học, cơ quan, tổ chức trên phạm vi toàn quốc;

    b) Hướng dẫn phương pháp, kỹ năng đọc sách, khai thác thông tin cho trẻ em tại các thư viện trường học và thư viện công cộng;

    c) Phát triển kỹ năng thông tin cho người sử dụng thư viện trong tìm kiếm, đánh giá, khai thác và sáng tạo thông tin, tri thức;

    d) Đẩy mạnh liên thông giữa thư viện công cộng với các thư viện khác trên địa bàn; truy cập và khai thác thông tin, kiến thức từ các thư viện số dùng chung qua thiết bị điện tử di động; sử dụng các dịch vụ thư viện lưu động và luân chuyển tài nguyên thông tin thư viện.

    3. Mở rộng đối tượng được thành lập thư viện

    Trước kia theo Pháp lệnh Thư viện năm 2000 thì chỉ có tổ chức của Việt Nam có quyền thành lập thư viện, còn các tổ chức, cá nhân trong nước, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài sinh sống và làm việc tại Việt Nam chỉ có quyền tham gia vào các hoạt động do thư viện tổ chức.

    Hiện nay theo Luật Thư viện năm 2022 đã mở rộng, xã hội hóa hoạt động thành lập thư viện. Theo đó, không chỉ dừng lại ở các tổ chức của Việt Nam mà mọi tổ chức, cá nhân, cộng đồng dân cư đều có quyền thành lập thư viện ngoài công lập.Khoản 1, Điều 18 Luật Thư viện năm 2022 quy định Đièu kiện thành lập thư viện khi đáp ứng đủ các điều kiện sau:

    a) Mục tiêu, đối tượng phục vụ xác định;

    b) Tài nguyên thông tin phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, đối tượng phục vụ của thư viện;

    c) Cơ sở vật chất, trang thiết bị bảo đảm phục vụ hoạt động thư viện;

    d) Người làm công tác thư viện có chuyên môn phù hợp với hoạt động của thư viện;

    đ) Người đại diện theo pháp luật của thư viện phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ.

    4. Xây dựng và cung cấp dịch vụ thư viện số

    Khoản 2, Điều 3 Luật Thư viện năm 2022 quy định: Thư viện số là thư viện hoặc bộ phận của thư viện có tài nguyên thông tin được xử lý, lưu giữ dưới dạng số mà người sử dụng truy cập và khai thác thông qua thiết bị điện tử và không gian mạng.

    Xây dựng cơ sở dữ liệu, thư viện số là chức năng, nhiệm vụ của tất cả các loại hình thư viện.

    Việc phát triển tài nguyên thông tin số được dựa trên cơ sở thu thập tài liệu số hoặc số hóa tài liệu của thư viện. Người sử dụng được cung cấp quyền truy cập trực tiếp tới tài nguyên thông tin số và các dạng khác.

    5. Đẩy mạnh liên thông giữa các thư viện

    Liên thông thư viện là một trong những điểm mới của Luật Thư viện năm 2022, được quy định tại Điều 29. Liên thông thư viện là hoạt động liên kết, hợp tác giữa các thư viện nhằm sử dụng hợp lý, có hiệu quả tài nguyên, tiện ích, kết quả xử lý và các sản phẩm, dịch vụ thư viện.

    Thực hiện liên thông là nguyên tắc hoạt động chung của cả thư viện công lập và thư viện ngoài công lập (khoản 4 Điều 24). Tài nguyên thông tin được xây dựng từ ngân sách Nhà nước phải được liên thông, chia sẻ giữa các thư viện với nhau.

    Đặc biệt, Luật Thư viện nhấn mạnh liên thông giữa các thư viện phải phù hợp với quy mô và đối tượng phục vụ nhằm bảo đảm sự liên thông trong tra cứu thông tin thay vì quy định chung chung như trước.

    Khoản 1, Điều 29 của Luật quy định rõ về Liên thông thư viện bao gồm các nội dung sau:

    b) Chia sẻ, sử dụng chung tài nguyên thông tin giữa các thư viện; chia sẻ kết quả xử lý tài nguyên thông tin và sản phẩm thông tin thư viện;

    c) Liên kết tổ chức dịch vụ thư viện phục vụ người sử dụng thư viện.

    Khoản 2, Điều 29 của Luật quy định về phương thức liên thông bao gồm:

    a) Liên thông theo khu vực địa lý;

    b) Liên thông theo nhóm thư viện có chức năng, nhiệm vụ, đối tượng phục vụ tương đồng;

    c) Liên thông theo lĩnh vực, nội dung tài nguyên thông tin;

    d) Liên thông giữa các loại thư viện.

    Khoản 3, Điều 29 của Luật quy định về cơ chế liên thông như sau:

    a) Thư viện được Nhà nước ưu tiên đầu tư làm nòng cốt trong xây dựng, chia sẻ và khai thác tài nguyên thông tin dùng chung giữa các thư viện;

    b) Hợp tác trong việc bổ sung, mua quyền truy cập và chia sẻ tài nguyên thông tin nước ngoài, sử dụng hiệu quả nguồn kinh phí của Nhà nước và xã hội;

    c) Tài nguyên thông tin được xây dựng từ ngân sách nhà nước phải được liên thông, chia sẻ giữa các thư viện.

    6. Định kỳ hàng năm đánh giá hoạt động thư viện

    Đây là quy định hoàn toàn mới so với Pháp lệnh Thư viện năm 2000. Đánh giá hoạt động thư viện được quy định tại Điều 37 của Luật Thư viện năm 2022. Theo đó, việc đánh giá hoạt động thư viện được thực hiện đối với tất cả các loại thư viện nhằm mục đích phục vụ công tác quản lý Nhà nước về thư viện và nâng cao hoạt động thư viện ( khoản 1, Điều 37)

    Khoản 2, Đièu 37 quy định về nguyên tắc đánh giá hoạt động thư viện được thực hiện như sau:

    a) Khách quan, chính xác, đúng quy định;

    b) Trung thực, công khai, minh bạch, bình đẳng;

    c) Theo định kỳ hàng năm.

    Như vậy, định kỳ hàng năm tất cả các thư viện đều phải đánh giá hoạt động theo Tiêu chuẩn quốc gia về Bộ chỉ số văn hóa hoạt động thư viện TCVN 11774:2016 ISO 11620:2014 .

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tổng Hợp Toàn Bộ 6 Điểm Mới Của Luật Thư Viện 2022
  • Đề Cương Tuyên Truyền Luật Thư Viện Năm 2022
  • Luật Thư Viện 2022, Luật Thư Viện Số 46/2019/qh14 2022
  • Luật Giáo Dục Số 11/1998/qh10 Ngày 02 Tháng 12 Năm 1998
  • Luật Giáo Dục Nghề Nghiệp, Đừng Để Mất Thêm 5 Năm Nữa
  • Luật Thư Viện 2022, Luật Thư Viện Mới Nhất Số 46/2019/qh14 Mới Nhất 2022

    --- Bài mới hơn ---

  • Đề Cương Tuyên Truyền Luật Thư Viện Năm 2022
  • Tổng Hợp Toàn Bộ 6 Điểm Mới Của Luật Thư Viện 2022
  • Những Điểm Mới Đáng Chú Ý Nhất Của Luật Thư Viện Năm 2022 So Với Pháp Lệnh Thư Viện Năm 2000
  • Bài Thi Thử Trắc Nghiệm Luật Giáo Dục Ôn Thi Công Chức, Viên Chức
  • Bộ Câu Hỏi Trắc Nghiệm Thi Viên Chức Ngành Giáo Dục Năm 2022
  • Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; Quốc hội ban hành Luật Thư viện. Chương I

    NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

    Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

    Luật này quy định về thành lập, hoạt động thư viện; quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm, của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động thư viện; quản lý nhà nước về thư viện.

    1. Thư viện là thiết chế văn hóa, thông tin, giáo dục, khoa học thực hiện việc xây dựng, xử lý, lưu giữ, bảo quản, cung cấp tài nguyên thông tin phục vụ nhu cầu của người sử dụng.

    2. Thư viện số là thư viện hoặc bộ phận của thư viện có tài nguyên thông tin được xử lý, lưu giữ dưới dạng số mà người sử dụng thư viện truy cập, khai thác thông qua thiết bị điện tử và không gian mạng.

    3. Tài nguyên thông tin là tập hợp các loạị hình tài liệu, dữ liệu gồm tài liệu in, tài liệu viết tay, tài liệu nghe, nhìn, tài liệu số, tài liệu vi dạng gồm vi phim, vi phiếu, tài liệu đặc biệt cho người khuyết tật và tài liệu, dữ liệu khác.

    4. Tài nguyên thông tin mở là tài nguyên thông tin mà người sử dụng thư viện có thể tiếp cận không có rào cản về tài chính, pháp lý hoặc kỹ thuật.

    5. Tiện ích thư viện là trang thiết bị phục vụ nhu cầu của người sử dụng, người làm công tác thư viện trong việc thu thập, xử lý, lưu giữ, bảo quản, khai thác tài nguyên thông tin và phát huy giá trị của thư viện.

    6. Dịch vụ thư viện là hoạt động do thư viện tổ chức hoặc phối hợp tổ chức nhằm phục vụ nhu cầu của người sử dụng thư viện.

    7. Liên thông thư viện là hoạt động liên kết, hợp tác giữa các thư viện nhằm sử dụng hợp lý, hiệu quả tài nguyên thông tin, tiện ích thư viện, kết quả xử lý tài nguyên thông tin, sản phẩm thông tin thư viện và dịch vụ thư viện.

    Điều 4. Chức năng, nhiệm vụ của thư viện

    1. Xây dựng, xử lý, lưu giữ, bảo quản, kết nối và phát triển tài nguyên thông tin phù hợp với người sử dụng thư viện.

    2. Tổ chức sử dụng chung tài nguyên thông tin, sản phẩm thông tin và dịch vụ thư viện; truyền bá tri thức, giá trị văn hóa của dân tộc và nhân loại; phục vụ nhu cầu nghiên cứu, học tập, giải trí; góp phần hình thành và phát triển kiến thức, kỹ năng, phẩm chất, năng lực của người sử dụng thư viện.

    3. Ứng dụng thành tựu khoa học và công nghệ, hiện đại hóa thư viện.

    4. Phát triển văn hóa đọc và góp phần tạo môi trường học tập suốt đời cho Nhân dân, xây dựng xã hội học tập, nâng cao dân trí, xây dựng con người Việt Nam toàn diện.

    Điều 5. Chính sách của Nhà nước về phát triển sự nghiệp thư viện

    1. Nhà nước đầu tư cho thư viện công lập các nội dung sau đây:

    a) Ưu tiên đầu tư cho Thư viện Quốc gia Việt Nam, thư viện công cộng tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi là thư viện cấp tỉnh) và thư viện có vai trò quan trọng;

    b) Hiện đại hóa thư viện; xây dựng thư viện số, tài nguyên thông tin dùng chung, tài nguyên thông tin mở; liên thông thư viện trong nước và nước ngoài;

    c) Sưu tầm, bảo quản và phát huy giá trị tài liệu cổ, quý hiếm, các bộ sưu tập tài liệu có giá trị đặc biệt về lịch sử, văn hóa, khoa học;

    d) Tổ chức dịch vụ thư viện lưu động, luân chuyển tài nguyên thông tin phục vụ khu vực biên giới, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn;

    đ) Đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực và phát triển nguồn nhân lực thư viện;

    e) Nghiên cứu, ứng dụng thành tựu khoa học và công nghệ tiên tiến trong hoạt động thư viện.

    2. Nhà nước hỗ trợ đầu tư các nội dung sau đây:

    a) Cung cấp dịch vụ sự nghiệp công trong lĩnh vực thư viện, phát triển văn hóa đọc;

    b) Duy trì và phát triển thư viện cộng đồng, thư viện tư nhân có phục vụ cộng đồng không vì mục tiêu lợi nhuận;

    c) Cước vận chuyển tài liệu thư viện phục vụ nhiệm vụ chính trị, khu vực biên giới, hải đảo, vùng có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn;

    d) Hợp tác quốc tế về thư viện.

    3. Nhà nước có chính sách khuyến khích tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này.

    4. Chính phủ quy định chi tiết về thư viện có vai trò quan trọng được ưu tiên đầu tư quy định tại điểm a khoản 1 Điều này và tài liệu cổ, quý hiếm, các bộ sưu tập tài liệu có giá trị đặc biệt về lịch sử, văn hóa, khoa học quy định tại điểm c khoản 1 Điều này.

    2. Cộng đồng dân cư, tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động thư viện được hưởng ưu đãi theo quy định của pháp luật.

    4. Chính phủ quy định chi tiết về không gian đọc, phòng đọc cơ sở quy định tại khoản 1 Điều này.

    Điều 7. Tài nguyên thông tin hạn chế sử dụng trong thư viện

    1. Tài nguyên thông tin hạn chế sử dụng trong thư viện bao gồm:

    a) Tài nguyên thông tin có nội dung thông tin nếu sử dụng rộng rãi có thể ảnh hưởng đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân;

    b) Tài nguyên thông tin thuộc bí mật nhà nước, hạn chế sử dụng, tiếp cận có điều kiện, hạn chế quyền tiếp cận theo quy định của pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước, tiếp cận thông tin, lưu trữ;

    c) Bản gốc tài liệu cổ, quý hiếm, tài nguyên thông tin là di sản văn hóa đang lưu giữ trong thư viện;

    d) Bản gốc tài liệu bị hư hỏng.

    2. Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quy định chi tiết về tài nguyên thông tin hạn chế sử dụng trong thư viện quy định tại điểm a khoản 1 Điều này; quy định nguyên tắc sử dụng tài nguyên thông tin hạn chế sử dụng trong thư viện.

    Điều 8. Các hành vi bị nghiêm cấm trong hoạt động thư viện

    1. Lợi dụng hoạt động thư viện để xuyên tạc chủ trương, chính sách, pháp luật của Nhà nước, chống lại Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc; kích động bạo lực, gây thù hằn giữa các dân tộc, tôn giáo; tuyên truyền chiến tranh xâm lược; phá hoại thuần phong mỹ tục; truyền bá mê tín; lôi kéo người sử dụng thư viện vào tệ nạn xã hội.

    2. Cung cấp tài nguyên thông tin thuộc bí mật nhà nước, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

    3. Hạn chế quyền tiếp cận và sử dụng tài nguyên thông tin của người sử dụng thư viện trái với quy định của pháp luật.

    4. Cung cấp thông tin về người sử dụng thư viện, trừ trường hợp theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

    5. Chiếm dụng, đánh tráo, hủy hoại, làm hư hỏng tài nguyên thông tin.

    6. Xâm nhập trái phép vào hệ thống thông tin thư viện, cơ sở dữ liệu thư viện; làm sai lệch, gián đoạn hoặc phá hoại hệ thống thông tin thư viện, cơ sở dữ liệu thư viện.

    Chương II

    THÀNH LẬP THƯ VIỆN Điều 9. Các loại thư viện

    1. Thư viện bao gồm các loại sau đây:

    a) Thư viện Quốc gia Việt Nam;

    c) Thư viện chuyên ngành;

    d) Thư viện lực lượng vũ trang nhân dân;

    đ) Thư viện cơ sở giáo dục đại học (sau đây gọi là thư viện đại học);

    e) Thư viện cơ sở giáo dục mầm non, cơ sở giáo dục phổ thông, cơ sở giáo dục nghề nghiệp và cơ sở giáo dục khác;

    g) Thư viện cộng đồng và thư viện tư nhân có phục vụ cộng đồng;

    h) Thư viện của tổ chức, cá nhân nước ngoài có phục vụ người Việt Nam.

    2. Thư viện được tổ chức theo các mô hình sau đây:

    a) Thư viện công lập do Nhà nước đầu tư, bảo đảm điều kiện hoạt động và đại diện chủ sở hữu được tổ chức theo mô hình đơn vị sự nghiệp công lập hoặc phù hợp với mô hình của cơ quan, tổ chức chủ quản;

    b) Thư viện ngoài công lập do tổ chức, cá nhân Việt Nam hoặc tổ chức, cá nhân nước ngoài, cộng đồng dân cư đầu tư, bảo đảm điều kiện hoạt động và được tổ chức theo mô hình doanh nghiệp, tổ chức sự nghiệp ngoài công lập hoặc mô hình khác.

    Điều 10. Thư viện Quốc gia Việt Nam

    1. Thư viện Quốc gia Việt Nam là thư viện trung tâm của cả nước.

    2. Thư viện Quốc gia Việt Nam thực hiện chức năng, nhiệm vụ quy định tại Điều 4 của Luật này và các chức năng, nhiệm vụ sau đây:

    a) Tiếp nhận, bảo quản, lưu giữ vĩnh viễn xuất bản phẩm, ấn phẩm báo chí được xuất bản tại Việt Nam theo quy định của pháp luật; luận án tiến sĩ của công dân Việt Nam bảo vệ ở trong nước và nước ngoài; luận án tiến sĩ của người nước ngoài bảo vệ tại Việt Nam;

    b) Bổ sung và phổ biển tài liệu về Việt Nam, tài liệu tiêu biểu của nước ngoài;

    d) Nghiên cứu khoa học thông tin thư viện;

    đ) Thực hiện biên mục tập trung; chủ trì, phối hợp với các thư viện xây dựng và phát triển cơ sở dữ liệu toàn văn, thư viện số;

    e) Hợp tác, trao đổi tài nguyên thông tin với thư viện trong nước và nước ngoài; tham gia diễn đàn, tổ chức xã hội – nghề nghiệp về thư viện theo quy định của pháp luật;

    g) Hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ cho các thư viện trong cả nước theo phân công và thực hiện nhiệm vụ khác do Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch giao.

    Điều 11. Thư viện công cộng

    1. Thư viện công cộng là thư viện có tài nguyên thông tin tổng hợp phục vụ Nhân dân.

    2. Thư viện cấp tỉnh là thư viện trung tâm của tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, thực hiện chức năng, nhiệm vụ quy định tại Điều 4 của Luật này và các chức năng, nhiệm vụ sau đây:

    a) Thu thập tài liệu cổ, quý hiếm; tài nguyên thông tin về tiếng nói, chữ viết của người dân tộc thiểu số; tài nguyên thông tin của địa phương và về địa phương;

    b) Xây dựng cơ sở dữ liệu, thư viện số về địa phương; phổ biến tài nguyên thông tin phục vụ phát triển kinh tế – xã hội địa phương;

    c) Hỗ trợ, hướng dẫn, trang bị kỹ năng tìm kiếm, khai thác và sử dụng thông tin cho người sử dụng thư viện;

    d) Tổ chức khu vực đọc phục vụ trẻ em, người khuyết tật;

    đ) Tham gia xây dựng thư viện công cộng huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi là thư viện cấp huyện), thư viện công cộng xã, phường, thị trấn (sau đây gọi là thư viện cấp xã);

    e) Tổ chức thư viện lưu động, luân chuyển tài nguyên thông tin, tiện ích thư viện;

    g) Tổ chức triển lãm và hoạt động khác nhằm phát triển văn hóa đọc;

    h) Thực hiện liên thông với thư viện trong nước và nước ngoài;

    i) Hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ cho thư viện trên địa bàn theo phân công và thực hiện nhiệm vụ khác do cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao.

    3. Thư viện cấp huyện thực hiện chức năng, nhiệm vụ quy định tại Điều 4 của Luật này và các chức năng, nhiệm vụ sau đây:

    a) Tiếp nhận tài nguyên thông tin, tiện ích thư viện từ thư viện cấp tỉnh;

    b) Luân chuyển tài nguyên thông tin đến thư viện trên địa bàn;

    c) Tổ chức hoạt động phục vụ nhu cầu học tập suốt đời của Nhân dân trên địa bàn;

    d) Thực hiện nhiệm vụ khác do cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao.

    4. Thư viện cấp xã thực hiện chức năng, nhiệm vụ quy định tại Điều 4 của Luật này và các chức năng, nhiệm vụ sau đây:

    a) Tiếp nhận tài nguyên thông tin, tiện ích thư viện từ thư viện cấp tỉnh, thư viện cấp huyện và các nguồn hợp pháp khác;

    b) Luân chuyển tài nguyên thông tin đến thư viện cộng đồng, thư viện tư nhân có phục vụ cộng đồng trên địa bàn;

    c) Tham gia xây dựng văn hóa đọc, hình thành thói quen đọc cho Nhân dân trên địa bàn;

    d) Thực hiện nhiệm vụ khác do cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao.

    Điều 12. Thư viện chuyên ngành

    1. Thư viện chuyên ngành là thư viện có tài nguyên thông tin chuyên sâu về một ngành, lĩnh vực hoặc nhiều ngành, lĩnh vực phục vụ cán bộ, công chức, viên chức, người lao động của cơ quan, tổ chức chủ quản.

    Thư viện chuyên ngành gồm thư viện của cơ quan nhà nước; thư viện của tổ chức khoa học và công nghệ; thư viện của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp; thư viện của tổ chức kinh tế.

    2. Thư viện chuyên ngành thực hiện chức năng, nhiệm vụ quy định tại Điều 4 của Luật này và các chức năng, nhiệm vụ sau đây:

    a) Phát triển tài nguyên thông tin phù hợp với chuyên ngành phục vụ; tiếp nhận, bổ sung và tổ chức khai thác tài nguyên thông tin từ hoạt động nghiên cứu, công bố khoa học, tài liệu hội nghị, hội thảo, báo cáo nghiên cứu, khảo sát của cán bộ nghiên cứu, cơ quan, tổ chức chủ quản và đề án, dự án, tạp chí chuyên ngành của cơ quan, tổ chức chủ quản;

    b) Xây dựng cơ sở dữ liệu, thư viện số chuyên ngành nội sinh; bổ sung và mua quyền truy cập tài nguyên thông tin chuyên ngành nước ngoài;

    c) Thực hiện liên thông với thư viện trong nước và nước ngoài;

    d) Thực hiện nhiệm vụ khác do cơ quan, tổ chức chủ quản giao.

    Điều 13. Thư viện lực lượng vũ trang nhân dân

    1. Thư viện lực lượng vũ trang nhân dân là thư viện của các đơn vị Quân đội nhân dân và Công an nhân dân, có tài nguyên thông tin tổng hợp, chuyên ngành quốc phòng, an ninh phục vụ cán bộ, chiến sĩ và Nhân dân trên địa bàn, người đang chấp hành hình phạt tù, học tập, cải tạo trong cơ sở giam giữ, trường giáo dưỡng.

    2. Thư viện lực lượng vũ trang nhân dân thực hiện chức năng, nhiệm vụ quy định tại Điều 4 của Luật này và các chức năng, nhiệm vụ sau đây:

    a) Phát triển tài nguyên thông tin phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ được giao; tiếp nhận, bổ sung và tổ chức khai thác tài nguyên thông tin chuyên ngành quốc phòng, an ninh trong nước và nước ngoài; tài liệu hội nghị, hội thảo, báo cáo nghiên cứu, khảo sát và đề án, dự án, tạp chí chuyên ngành của lực lượng vũ trang nhân dân theo quy định;

    b) Xây dựng cơ sở dữ liệu, thư viện số chuyên ngành nội sinh; bổ sung và mua quyền truy cập tài nguyên thông tin chuyên ngành quốc phòng, an ninh;

    c) Thực hiện liên thông giữa các thư viện trong cùng hệ thống, chia sẻ tài nguyên thông tin với thư viện trong nước và nước ngoài;

    d) Thực hiện nhiệm vụ khác do cơ quan chủ quản giao.

    Điều 14. Thư viện đại học

    1. Thư viện đại học là thư viện có tài nguyên thông tin phục vụ người học và người dạy trong cơ sở giáo dục đại học.

    2. Thư viện đại học thực hiện chức năng, nhiệm vụ quy định tại Điều 4 của Luật này và các chức năng, nhiệm vụ sau đây:

    a) Phát triển tài nguyên thông tin phù hợp với mục tiêu, nội dung, chương trình, lĩnh vực, ngành đào tạo, nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ của cơ sở giáo dục đại học;

    b) Tiếp nhận, bổ sung và tổ chức khai thác khóa luận, đề án, luận văn, luận án, kết quả nghiên cứu khoa học của người học và người dạy trong cơ sở giáo dục đại học; xây dụng tài liệu nội sinh, cơ sở dữ liệu học liệu, tài nguyên học liệu mở;

    c) Tổ chức không gian đọc; hướng dẫn sử dụng sản phẩm thư viện và dịch vụ thư viện; hoàn thiện kỹ năng tìm kiếm, khai thác và sử dụng thông tin; củng cố, mở rộng kiến thức cho người học, người dạy và cán bộ quản lý;

    d) Thực hiện liên thông với thư viện trong nước và nước ngoài;

    đ) Thực hiện nhiệm vụ khác do cơ sở giáo dục đại học giao.

    Điều 15. Thư viện cơ sở giáo dục mầm non, cơ sở giáo dục phổ thông, cơ sở giáo dục nghề nghiệp và cơ sở giáo dục khác

    1. Thư viện cơ sở giáo dục mầm non, cơ sở giáo dục phổ thông, cơ sở giáo dục nghề nghiệp và cơ sở giáo dục khác là thư viện có tài nguyên thông tin

    2. Thư viện cơ sở giáo dục mầm non thực hiện chức năng, nhiệm vụ quy định tại Điều 4 của Luật này và các chức năng, nhiệm vụ sau đây:

    a) Phát triển tài nguyên thông tin phù hợp với độ tuổi, tâm lý của trẻ em mầm non; nhu cầu thông tin, tài liệu của người dạy, cán bộ quản lý và chương trình giáo dục của cơ sở giáo dục;

    b) Tổ chức hoạt động làm quen với sách và hình thành thói quen đọc của trẻ em mầm non; hướng dẫn sử dụng thư viện, trang bị kỹ năng tìm kiếm, khai thác, sử dụng thông tin cho người dạy và cán bộ quản lý;

    c) Thực hiện nhiệm vụ khác do cơ sở giáo dục giao.

    3. Thư viện cơ sở giáo dục phổ thông thực hiện chức năng, nhiệm vụ quy định tại Điều 4 của Luật này và các chức năng, nhiệm vụ sau đây:

    a) Phát triển tài nguyên thông tin phù hợp với nhu cầu học tập, nghiên cứu của người học, người dạy, cán bộ quản lý và mục tiêu, nội dung, chương trình học tập, giảng dạy của từng cấp học, chương trình học;

    b) Tổ chức hoạt động khuyến đọc, hình thành thói quen, kỹ năng đọc của người học; hướng dẫn sử đụng thư viện, trang bị kỹ năng tìm kiếm, khai thác, sử dụng thông tin cho người học, người dạy và cán bộ quản lý;

    c) Hỗ trợ việc học tập, giảng dạy, nghiên cứu và tổ chức các hoạt động giáo dục khác;

    d) Thực hiện nhiệm vụ khác do cơ sở giáo dục giao.

    4. Thư viện cơ sở giáo dục nghề nghiệp và cơ sở giáo dục khác thực hiện chức năng, nhiệm vụ quy định tại Điều 4 của Luật này và các chức năng, nhiệm vụ sau đây:

    a) Phát triển tài nguyên thông tin phù hợp với nhu cầu học tập, nghiên cứu của người học, người dạy, cán bộ quản lý và mục tiêu, nội dung, chương trình đào tạo của cơ sở giáo dục;

    b) Tổ chức hoạt động khuyến đọc; hướng dẫn sử dụng thư viện, trang bị kỹ năng tìm kiếm, khai thác, sử dụng thông tin cho người học, người dạy và cán bộ quản lý;

    c) Thực hiện nhiệm vụ khác do cơ sở giáo dục giao.

    Điều 16. Thư viện cộng đồng và thư viện tư nhân có phục vụ cộng đồng

    1. Thư viện cộng đồng là thư viện, có tài nguyên thông tin tổng hợp do cộng đồng dân cư thành lập tại trung tâm học tập cộng đồng, trung tâm văn hóa, thể thao xã, phường, thị trấn; điểm bưu điện văn hóa xã; nhà yăn hóa thôn, ấp, bản, làng, buôn, phum, sóc; khu chung cư; nơi sinh hoạt chung của cộng đồng.

    2. Thư viện tư nhân có phục vụ cộng đồng là thư viện có tài nguyên thông tin tổng hợp hoặc chuyên ngành do tổ chức, cá nhân Việt Nam thành lập, tự bảo đảm kinh phí hoạt động.

    3. Thư viện cộng đồng và thư viện tư nhân có phục vụ cộng đồng thực hiện chức năng, nhiệm vụ quy định tại Điều 4 của Luật này và các chức năng, nhiệm vụ sau đây:

    a) Cung cấp tài nguyên thông tin cho Nhân dân trên địa bàn; tiếp nhận tài nguyên thông tin luân chuyển từ thư viện công cộng các cấp để phục vụ Nhân dân;

    b) Tổ chức hoạt động thư viện theo nội dung đã thông báo cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền;

    c) Xây dựng và tham gia phát triển văn hóa đọc cho Nhân dân trên địa bàn.

    Điều 17. Thư viện của tổ chức, cá nhân nước ngoài có phục vụ người Việt Nam

    1. Thư viện của tổ chức, cá nhân nước ngoài có phục vụ người Việt Nam là thư viện có tài nguyên thông tin tổng hợp, chuyên ngành do tổ chức, cá nhân nước ngoài thành lập tại Việt Nam; tự bảo đảm kinh phí hoạt động; hoạt động theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liền quan.

    2. Thư viện của tổ chức, cá nhân nước ngoài có phục vụ người Việt Nam thực hiện chức năng, nhiệm vụ quy định tại Điều 4 của Luật này và các chức năng, nhiệm vụ sau đây:

    a) Tổ chức hoạt động thư viện theo nội dung đã thông báo cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền;

    b) Tham gia phát triển văn hóa đọc.

    Mục 2

    THÀNH LẬP, SÁP NHẬP, HỢP NHẤT, CHIA, TÁCH, GIẢI THỂ THƯ VIỆN Điều 18. Điều kiện thành lập thư viện

    1. Thư viện được thành lập khi có đủ các điều kiện sau đây:

    a) Mục tiêu, đối tượng phục vụ xác định;

    b) Tài nguyên thông tin phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, đối tượng phục vụ của thư viện;

    c) Cơ sở vật chất, trang thiết bị bảo đảm phục vụ hoạt động thư viện;

    d) Người làm công tác thư viện có chuyên môn, nghiệp vụ phù hợp với hoạt động thư viện;

    đ) Người đại diện theo pháp luật của thư viện có năng lực hành vi dân sự đầy đủ.

    2. Chính phủ quy định chi tiết các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này.

    Điều 19. Thành lập thư viện công lập

    1. Đối với thư viện là đơn vị sự nghiệp công lập, thẩm quyền, trình tự, thủ tục thành lập thư viện thực hiện theo quy định của pháp luật ve đơn vị sự nghiệp công lập.

    2. Đối với thư viện không thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, thẩm quyền, trình tự, thủ tục thành lập thư viện thực hiện theo quy định của pháp luật điều chỉnh việc thành lập cơ quan, tổ chức chủ quản của thư viện.

    2. Cơ quan, tổ chức, cá nhân thành lập thư viện có quyền quyết định sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, giải thể thư viện theo trình tự, thủ tục của pháp luật về đơn vị sự nghiệp công lập, doanh nghiệp hoặc pháp luật điều chỉnh cơ quan, tổ chức chủ quản của thư viện.

    Điều 22. Đình chỉ, chấm dứt hoạt động thư viện

    1. Thư viện bị đình chỉ hoạt động có thời hạn trong trường hợp sau đây:

    a) Vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 8 của Luật này;

    b) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hoạt động thư viện mà không chấm dứt hành vi vi phạm.

    2. Thư viện chấm dứt hoạt động trong trường hợp sau đây:

    a) Tự chấm dứt hoạt động;

    b) Bị buộc chấm dứt hoạt động do hết thời hạn bị đình chỉ hoạt động quy định tại khoản 1 Điều này mà không khắc phục hành vi vi phạm.

    3. Thẩm quyền đình chỉ, chấm dứt hoạt động thư viện, được quy định như sau:

    a) Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền thành lập thư viện có quyền chấm dứt hoạt động thư viện đối với trường hợp quy định tại điểm a khoản 2 Điều này;

    b) Tổ chức, cá nhân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính có thẩm quyền đình chỉ hoạt động thư viện theo quy định của pháp luật, có quyền buộc chấm dứt hoạt động thư viện đối với trường hợp quy định tại điểm b khoản 2 Điều này.

    4. Quyết định đình chỉ, chấm dứt hoạt động thư viện phải nêu rõ lý do và công bố công khai tại trụ sở thư viện. Quyết định đình chỉ hoạt động phải nêu rõ thời hạn đình chỉ. Trong thời hạn bị đình chỉ hoạt động, nếu thư viện khắc phục được vi phạm nêu tại quyết định đình chỉ hoạt động, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền đình chỉ hoạt động thư viện quyết định cho phép thư viện hoạt động trở lại.

    5. Chính phủ quy định trình tự, thủ tục đình chỉ, chấm dứt hoạt động thư viện.

    Điều 23. Thông báo việc thành lập, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, giải thể, chấm dứt hoạt động thư viện

    1. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền thành lập, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, giải thể, chấm dứt hoạt động thư viện phải thông báo cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định tại khoản 5 Điều này.

    2. Hồ sơ thông báo bao gồm:

    a) Bản sao quyết định của cơ quan có thẩm quyền hoặc văn bản thông báo thành lập, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, giải thể, chấm dứt hoạt động thư viện theo quy định của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch;

    b) Tài liệu chứng minh đủ điều kiện thành lập quy định tại khoản 1 Điều 18 của Luật này đối với thư viện cộng đồng, thư viện tư nhân có phục vụ cộng đồng, thư viện của tổ chức, cá nhân nước ngoài có phục vụ người Việt Nam.

    3. Thời hạn thông báo được quy định như sau:

    a) Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày ban hành quyết định thành lập, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, giải thể, chấm dứt hoạt động đối với thư viện công lập;

    b) Trước 30 ngày, tính đến ngày thư viện thực hiện việc mở cửa hoạt động, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, giải thể, chấm dứt hoạt động đối với thư viện ngoài công lập.

    4. Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ thông báo hợp lệ quy định tại khoản 2 Điều này, cơ quan có thẩm quyền phải trả lời bằng văn bản; trường hợp không đồng ý phải nêu rõ lý do. Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày tiếp nhận thông báo, nếu hồ sơ thông báo không đủ tài liệu quy định tại khoản 2 Điều này, cơ quan có thẩm quyền có trách nhiệm gửi văn bản yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân bổ sung hoặc điều chỉnh hồ sơ.

    5. Thẩm quyền tiếp nhận hồ sơ thông báo được quy định như sau:

    a) Bộ Văn hóa, Thể thao và -Du lịch tiẹp nhẫn hồ sơ thông báo đối với thư viện chuyên ngành ờ trung ương, thư viện cấp tinh;

    b) Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tiếp nhận hồ sơ thông báo đối với thư viện chuyên ngành ở cấp tỉnh, thư viện cấp huyện, thư viện đại học, thư viện của tổ chức, cá nhân nước ngoài có phục vụ người Việt Nam có trụ sở trên địa bàn;

    c) Ủy ban nhân dân cấp huyện tiếp nhận hồ sơ thông báo đối với thư viện cấp xã; thư viện cơ sở giáo dục mầm non, cơ sở giáo dục phổ thông, cơ sở giáo dục nghề nghiệp và cơ sở giáo dục khác; thư viện tư nhân có phục vụ cộng đồng có trụ sở trên địa bàn;

    d) Ủy ban nhân dân cấp xã tiếp nhận hồ sơ thông báo đối với thư viện cộng đồng có trụ sở trên địa bàn.

    Chương III

    HOẠT ĐỘNG THƯ VIỆN Điều 24. Nguyên tắc hoạt động thư viện

    1. Lấy người sử dụng thư viện làm trung tâm; tạo lập môi trường thân thiện, bình đẳng; bảo đảm quyền tiếp cận và sử dụng thư viện của tổ chức, cá nhân.

    3. Thường xuyên đổi mới sáng tạo về quy trình, sản phẩm thông tin, dịch vụ thư viện trên cơ sở ứng dụng thành tựu khoa học và công nghệ tiên tiến.

    4. Thực hiện liên thông thư viện.

    Điều 25. Xây dựng tài nguyên thông tin

    1. Xây dựng tài nguyên thông tin gồm phát triển và thanh lọc tài nguyên thông tin.

    2. Phát triển tài nguyên thông tin được quy định như sau:

    a) Xác định phương thức và nguồn bổ sung tài nguyên thông tin phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, đối tượng phục vụ của thư viện; tiếp nhận xuất bản phẩm, ấn phẩm báo chí theo quy định của pháp luật về xuất bản, báo chí và theo chức năng, nhiệm vụ của thư viện được quy định tại Luật này;

    b) Bổ sung, mua tài nguyên thông tin và quyền truy cập cơ sở dữ liệu, tài nguyên thông tin số;

    c) Thu thập tài nguyên thông tin mở, tài nguyên thông tin thuộc về công chúng, tài nguyên thông tin trực tuyến có giá trị khác;

    d) Liên thông trao đổi tài nguyên thông tin giữa các thư viện trong nước và nước ngoài; hợp tác trong việc bổ sung, chia sẻ, dùng chung cơ sở dữ liệu hoặc quyền truy cập tài nguyên thông tin số;

    3. Thanh lọc tài nguyên thông tin được thực hiện theo quy định của Bộ trưởng Bộ Văn hỏa, Thể thao và Du lịch.

    Điều 26. Xử lý tài nguyên thông tin và tổ chức hệ thống tra cứu thông tin

    1. Xử lý tài nguyên thông tin được quy định như sau:

    a) Tài nguyên thông tin sau khi bổ sung vào thư viện phải được xử lý theo quy trình nghiệp vụ; xây dựng hệ thống tra cứu thông tin để phục vụ việc quản lý, tra cứu và sử dụng;

    b) Thực hiện biên mục sao chép, áp dụng kết quả xử lý tài nguyên thông tin có vai trò quan trọng để bảo đảm chính xác, thống nhất và tiết kiệm.

    2. Tổ chức hệ thống tra cứu thông tin được quy định như sau:

    b) Bảo đảm lưu trữ an toàn kết quả xử lý tài nguyên thông tin;

    c) Bảo đảm cập nhật, dễ sử dụng;

    d) Bảo đảm liên thông trong tra cứu thông tin giữa các thư viện.

    Điều 27. Bảo quản tài nguyên thông tin

    1. Bảo quản tài nguyên thông tin được quy định như sau:

    a) Thực hiện đối với toàn bộ tài nguyên thông tin trong quá trình lưu giữ, phục vụ;

    b) Bảo đảm an toàn thông tin phục vụ cho việc quản lý, tra cứu và sử dụng;

    c) Thực hiện các hình thức bảo quản dự phòng, phục chế hoặc chuyển dạng tài liệu phù hợp với điều kiện của thư viện;

    d) Tài nguyên thông tin số phải được sao lưu định kỳ và có cơ chế khôi phục dữ liệu khi cần thiết; phải được bảo quản bảo đảm tương thích về mặt công nghệ cho định dạng dữ liệu;

    2. Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quy định chi tiết Điều này.

    Điều 28. Tạo lập, cung cấp sản phẩm thông tin thư viện và dịch vụ thư viện

    1. Tạo lập, cung cấp sản phẩm thông tin thư viện và dịch vụ thư viện được quy định như sau:

    a) Bảo đảm khoa học, hiện đại, hiệu quả, phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của thư viện và nhu cầu của người sử dụng thư viện;

    b) Bảo đảm sự đa dạng về hình thức, phương thức cung cấp sản phẩm thông tin thư viện và dịch vụ thư viện.

    2. Sản phẩm thông tin thư viện bao gồm:

    a) Hệ thống tra cứu thông tin, cơ sở dữ liệu thư mục, dữ kiện và toàn văn;

    b) Thư mục, thông tin chuyên đề;

    c) Cổng thông tin điện tử, trang thông tin điện tử;

    đ) Sản phẩm thông tin thư viện khác được hình thành trong quá trình xử lý tài nguyên thông tin của thư viện.

    3. Dịch vụ thư viện bao gồm:

    a) Cung cấp tài nguyên thông tin tại thư viện, ngoài thư viện gồm dịch vụ thư viện lưu động, luân chuyển tài nguyên thông tin hoặc trên không gian mạng;

    b) Cung cấp thông tin thư mục, chỉ dẫn thông tin;

    c) Tư vấn, bồi dưỡng cho tổ chức, cá nhân về chuyên môn, nghiệp vụ thư viện và hỗ trợ học tập, nghiên cứu;

    d) Tổ chức hội nghị, hội thảo, triển lãm, truyền thông, phổ biến tài nguyên thông tin;

    đ) Hỗ trợ các tiện ích khai thác thư viện số;

    e) Hình thức dịch vụ thư viện khác.

    Điều 29. Liên thông thư viện

    1. Liên thông thư viện bao gồm các nội dung sau đây:

    b) Chia sẻ, sử dụng chung tài nguyên thông tin giữa các thư viện; chia sẻ kết quả xử lý tài nguyên thông tin và sản phẩm thông tin thư viện;

    c) Liên kết tổ chức dịch vụ thư viện phục vụ người sử dụng thư viện.

    2. Liên thông thư viện thực hiện theo các phương thức sau đây:

    a) Liên thông theo khu vực địa lý;

    b) Liên thông theo nhóm thư viện có chức năng, nhiệm vụ, đối tượng phục vụ tương đồng;

    c) Liên thông theo lĩnh vực, nội dung tài nguyên thông tin;

    d) Liên thông giữa các loại thư viện.

    3. Liên thông thư viện thực hiện theo cơ chế sau đây:

    a) Thư viện được Nhà nước ưu tiên đầu tư làm nòng cốt trong xây dựng, chia sẻ và khai thác tài nguyên thông tin dùng chung giữa các thư viện;

    b) Hợp tác trong việc bổ sung, mua quyền truy cập và chia sẻ tài nguyên thông tin nước ngoài, sử dụng hiệu quả nguồn kinh phí của Nhà nước và xã hội;

    c) Tài nguyên thông tin được xây dựng từ ngân sách nhà nước phải được liên thông, chia sẻ giữa các thư viện.

    4. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.

    Điều 30. Phát triển văn hóa đọc

    1. Ngày 21 tháng 4 hằng năm là Ngày Sách và Văn hóa đọc Việt Nam.

    2. Phát triển văn hóa đọc thông qua các hoạt động sau đây:

    a) Tổ chức hoạt động hình thành thói quen đọc trong gia đình, trường học, cơ quan, tổ chức trong phạm vi cả nước;

    b) Hướng dẫn phương pháp, kỹ năng đọc, khai thác tài nguyên thông tin cho trẻ em tại thư viện cơ sở giáo dục mầm non, thư viện cơ sở giáo dục phổ thông;

    c) Phát triển kỹ năng tìm kiếm, khai thác và sử dụng thông tin, mở rộng tri thức cho người sử dụng thư viện;

    d) Đẩy mạnh liên thông giữa thư viện công cộng với thư viện khác trên địa bàn; truy cập và khai thác thông tin, tri thức từ thư viện số dùng chung thông qua thiết bị điện từ; sử dụng dịch vụ thư viện lưu động và luân chuyển tài nguyên thông tin.

    Điều 31. Phát triển thư viện số

    1. Xây dựng tài nguyên thông tin số trên cơ sở thu thập tài liệu số, số hóa tài liệu của thư viện.

    2. Xử lý, lưu giữ, bảo quản tài nguyên thông tin số phải tuân thủ tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về công nghệ thông tin, chuyên môn, nghiệp vụ thư viện.

    3. Sử dụng phần mềm tiên tiến trong quản trị thư viện số, thiết kế giao diện thông minh; bảo đảm tính mở, liên thông trong tra cứu, khai thác và chuyển đổi dữ liệu giữa các hệ thống lưu trữ dữ liệu; hỗ trợ cấp quyền truy cập, khai thác tài nguyên thông tin số cho người sử dụng thư viện.

    Điều 32. Hiện đại hóa thư viện

    1. Xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật hiện đại bảo đảm triển khai, vận hành thư viện số và tự động hóa thư viện.

    2. Triển khai phòng đọc kho mở, hệ thống cung cấp tài liệu tự động; hệ thống tự mượn, tự trả tài liệu; hệ thống giám sát, an ninh thư viện tiên tiến; không gian sáng tạo cho người sử dụng thư viện; khu vực phục vụ trẻ em, người khuyết tật.

    3. Nghiên cứu, ứng dụng hệ thống trí tuệ nhân tạo, Internet vạn vật, hệ thống dữ liệu lớn, điện toán đám mây, truy cập mở, thành tựu khoa học và công nghệ tiên tiến, hiện đại khác phù hợp với xu thế phát triển của thế giới trong hoạt động thư viện.

    4. Xây dựng mạng thông tin thư viện tiên tiến, kết nối các thư viện trong nước và nước ngoài.

    5. Tạo lập, cung cấp sản phẩm thông tin thư viện và dịch vụ thư viện hiện đại đáp ứng nhu cầu của người sử dụng thư viện; xây dựng cơ sở dữ liệu, phát triển và khai thác thư viện số; triển khai trang thông tin điện tử, cổng thông tin điện tử và các dịch vụ thư viện trên không gian mạng.

    Điều 33. Truyền thông thư viện

    1. Thư viện thực hiện truyền thông các nội dung sau đây:

    b) Sản phẩm thông tin thư viện và dịch vụ thư viện;

    2. Hình thức truyền thông thư viện bao gồm:

    b) Xây dựng quan hệ công chúng, hình ảnh của thư viện;

    c) Hình thức khác phù hợp với quy định của pháp luật.

    Điều 34. Phối hợp giữa thư viện với cơ quan, tổ chức

    1. Thư viện phối hợp với cơ quan, tổ chức trong các hoạt động sau đây:

    a) Bảo quản tài nguyên thông tin, cơ sở dữ liệu;

    b) Khai thác, chia sẻ, phát huy hiệu quả sử dụng tài nguyên thông tin của thư viện và tư liệu, cơ sở dữ liệu của các cơ quan, tổ chức phối hợp;

    c) Tổ chức các hình thức dịch vụ thư viện phục vụ người sử dụng thư viện và công chúng.

    2. Thư viện phối hợp với cơ quan, tổ chức về thông tin khoa học và công nghệ, lưu trữ nhằm bảo đảm việc sử dụng và bảo quản hiệu quả tài nguyên thông tin, ngân hàng dữ liệu của Nhà nước, doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức khác theo chương trình hợp tác, hợp đồng và quy định của pháp luật.

    3. Thư viện phối hợp với cơ quan, tổ chức về văn hóa, du lịch và cơ quan, tổ chức khác nhằm đa dạng hình thức phục vụ và dịch vụ thư viện.

    Điều 35. Nguồn tài chính của thư viện

    1. Nguồn ngân sách nhà nước.

    2. Nguồn thu từ dịch vụ thư viện.

    4. Nguồn thu hợp pháp khác.

    Điều 36. Hợp tác quốc tế về thư viện

    1. Xây dựng và triển khai chương trình, đề án, dự án hợp tác quốc tế.

    2. Tham gia các tổ chức, hội, diễn đàn nghề nghiệp, liên thông với thư viện trong nước và nước ngoài.

    3. Tham gia xây dựng, thực hiện, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật và thông lệ quốc tế về thư viện.

    4. Nghiên cứu khoa học, trao đổi tài nguyên thông tin, kinh nghiệm, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực; ứng dụng và chuyển giao công nghệ; quảng bá, xúc tiến, tạo điều kiện cho tổ chức, cá nhân nước ngoài tham gia, hỗ trợ hoạt động thư viên.

    5. Hoạt động hợp tác quốc tế khác phù hợp với quy định của pháp luật.

    Điều 37. Đánh giá hoạt động thư viện

    1. Việc đánh giá hoạt động thư viện được thực hiện đối với các loại thư viện nhằm phục vụ công tác quản lý nhà nước về thư viện và nâng cao hiệu quả hoạt động thư viện.

    2. Nguyên tắc đánh giá hoạt động thư viện được thực hiện như sau:

    a) Khách quan, chính xác, đúng quy định của pháp luật;

    b) Trung thực, công khai, minh bạch, bình đẳng;

    c) Theo định kỳ hằng năm.

    3. Tiêu chí, phương pháp, thủ tục đánh giá hoạt động thư viện được thực hiện theo tiêu chuẩn quốc gia.

    4. Tổ chức thực hiện đánh giá hoạt động thư viện bao gồm:

    b) Cơ quan, tổ chức, cá nhân thành lập thư viện đánh giá;

    c) Cơ quan quản lý nhà nước về thư viện đánh giá.

    5. Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quy định chi tiết Điều này.

    Chương IV

    QUYỀN, NGHĨA VỤ VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA CƠ QUAN, TỔ CHỨC, CÁ NHÂN TRONG HOẠT ĐỘNG THƯ VIỆN Mục 1

    QUYỀN, NGHĨA VỤ VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA THƯ VIỆN, NGƯỜI LÀM CÔNG TÁC THƯ VIỆN, NGƯỜI SỬ DỤNG THƯ VIỆN Điều 38. Quyền của thư viện

    1. Xác định nội dung và hình thức hoạt động phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của thư viện.

    2. Trao đổi tài nguyên thông tin, tham gia hệ thống thông tin thư viện trong nước và nước ngoài theo quy định của pháp luật.

    3. Từ chối yêu cầu sử dụng tài nguyên thông tin trái với quy định của pháp luật, quy chế, nội quy thư viện.

    4. Thu phí, giá từ việc cung cấp dịch vụ thư viện theo quy định của pháp luật

    5. Nghiên cứu, ứng dụng thành tựu khoa học và công nghệ tiên tiến, thiết lập cơ sở hạ tầng kỹ thuật đáp ứng yêu cầu hiện đại hóa thư viện.

    7. Mở rộng phục vụ đối tượng người sử dụng thư viện phù hợp với quy định của pháp luật và quy chế thư viện.

    8. Hợp tác quốc tế về thư viện.

    9. Xác định hình thức và giá trị bồi thường thiệt hại do người sử dụng thư viện gây ra theo quy định của pháp luật và nội quy thư viện.

    10. Thư viện Quốc gia Việt Nam, thư viện chuyên ngành của Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Văn phòng Quốc hội, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và thư viện cấp tỉnh được lưu giữ tài nguyên thông tin quy định tại điểm a khoản 1 Điều 7 của Luật này để phục vụ hoạt động nghiên cứu.

    2. Sử dụng hiệu quả nguồn lực trong thư viện.

    3. Tổ chức hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ thư viện theo quy định tại Luật này và hoạt động khác phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của thư viện.

    4. Tổ chức dịch vụ thư viện; bố trí thời gian phục vụ phù hợp với điều kiện sinh hoạt, làm việc, học tập của người sử dụng thư viện.

    5. Công bố nội quy, hướng dẫn sử dụng thư viện.

    6. Công khai, minh bạch về tài nguyên thông tin và hoạt động của thư viện.

    7. Thực hiện chế độ báo cáo định kỳ hằng năm và khi được yêu cầu.

    Điều 40. Quyền của người làm công tác thư viện

    1. Được học tập, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, kiến thức quản lý thư viện và kỹ năng sử dụng trang thiết bị, phương tiện, kỹ thuật hiện đại ứng dụng trong hoạt động thư viện.

    2. Được tham gia nghiên cứu khoa học, sinh hoạt chuyên môn, nghiệp vụ; tham gia tổ chức xã hội – nghề nghiệp về thư viện.

    3. Được hưởng lương; chế độ, chính sách ưu đãi về nghề nghiệp theo quy định của pháp luật.

    2. Tạo điều kiện để người sử dụng thư viện tiếp cận, sử dụng tài nguyên thông tin và tiện ích thư viện; bảo đảm quyền bình đẳng và các quyền khác của người sử dụng thư viện được quy định tại Luật này.

    3. Hỗ trợ, hướng dẫn, trang bị kỹ năng tìm kiếm, khai thác và sử dụng thông tin cho người sử dụng thư viện.

    4. Học tập để nâng cao năng lực chuyên môn, nghiệp vụ.

    5. Thực hiện quy tắc ứng xử nghề nghiệp thư viện.

    2. Được miễn phí tại thư viện công lập đối với các hoạt động sau đây:

    a) Sử dụng tài nguyên thông tin tại thư viện, mượn theo thời hạn quy định trong nội quy thư viện;

    b) Tra cứu thông tin trên không gian mạng; tiếp nhận thông tin về tài nguyên thông tin thông qua hệ thống tra cứu hoặc hình thức tiếp nhận thông tin, tra cứu khác;

    c) Được giúp đỡ, tư vấn về tìm kiếm, lựa chọn tài nguyên thông tin phù hợp với yêu cầu;

    d) Hoạt động khác theo quy định.

    3. Được hướng dẫn sử dụng thư viện, hỗ trợ, trang bị kỹ năng tìm kiếm, khai thác và sử dụng thông tin.

    4. Được tham gia các hoạt động dành cho người sử dụng thư viện do thư viện tổ chức.

    5. Được lựa chọn thư viện phù hợp với nhu cầu và quy chế, nội quy thư viện.

    6. Được khiếu nại, tố cáo về hành vi hạn chế quyền sử dụng thư viện.

    Điều 43. Nghĩa vụ của người sử dụng thư viện

    1. Chấp hành quy định của pháp luật và nội quy thư viện.

    2. Thanh toán đầy đủ chi phí làm thẻ và sử dụng dịch vụ thư viện theo quy định.

    3. Bảo quản tài nguyên thông tin và tài sản khác của thư viện.

    4. Bồi thường thiệt hại theo quy định.

    Điều 44. Quyền của người sử dụng thư viện đặc thù

    1. Người dân tộc thiểu số được tạo điều kiện sử dụng tài nguyên thông tin bằng tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình phù hợp với điều kiện của thư viện.

    2. Người sử dụng thư viện là người cao tuổi hoặc người khuyết tật mà không thể tới thư viện được tạo điều kiện sử dụng tài nguyên thông tin tại nhà thông qua dịch vụ thư viện lưu động hoặc gửi qua bưu chính, không gian mạng khi có yêu cầu phù hợp với hoạt động của thư viện.

    3. Người khiếm thị, người khiếm thính có quyền sử dụng tài nguyên thông tin theo quy định tại khoản 2 Điều này và được tạo điều kiện sử dụng tài liệu in chữ nổi Braille, tài liệu nghe, nhìn, tài liệu ngôn ngữ ký hiệu hoặc tài liệu đặc biệt khác.

    4. Trẻ em được tạo điều kiện sử dụng tài nguyên thông tin phù hợp với lứa tuổi, cấp học tại thư viện cơ sở giáo dục và thư viện công cộng.

    5. Trẻ em, người cao tuổi, thương binh, người khuyết tật, người thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo được miễn các khoản chi phí làm thẻ thư viện.

    6. Người đang chấp hành hình phạt tù, học tập, cải tạo tại trại giam, cơ sở giáo dục bắt buộc, trường giáo dưỡng, cơ sở cai nghiện bắt buộc được tạo điều kiện sử dụng tài nguyên thông tin của thư viện tại nơi giam giữ, học tập và chữa bệnh.

    Mục 2

    TRÁCH NHIỆM CỦA CƠ QUAN, TỔ CHỨC, CÁ NHÂN CÓ LIÊN QUAN Điều 45. Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân thành lập thư viện

    1. Bảo đảm cơ sở vật chất, kỹ thuật, kinh phí, nhân sự cho thư viện hoạt động và phát triển theo quy định của pháp luật.

    2. Quản lý tổ chức và nhân sự thư viện.

    3. Ban hành quy chế về tổ chức và hoạt động của thư viện theo quy định của pháp luật.

    4. Thực hiện chế độ, chính sách ưu đãi về nghề nghiệp cho người làm công tác thư viện.

    5. Khuyến khích tổ chức, cá nhân nộp tài liệu học tập, bài giảng, tài liệu tham khảo, khóa luận, đề án, luận văn, luận án, kết quả nghiên cứu khoa học cho thư viện thuộc cơ sở giáo dục, thư viện thuộc cơ quan, tổ chức nơi học tập, nghiên cứu, công tác.

    6. Vận động cơ quan nhà nước, chính quyền địa phương cung cấp miễn phí cho thư viện tài liệu, xuất bản phẩm, ấn phẩm do cơ quan nhà nước, chính quyền địa phương xuất bản.

    7. Có phương án chuyển giao tài nguyên thông tin và tiện ích thư viện theo quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản công trong trường hợp sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, giải thể, chấm dứt hoạt động của thư viện công lập.

    8. Kiểm tra, phát hiện, xử lý kịp thời các hành vi vi phạm trong hoạt động thư viện theo quy định của pháp luật.

    9. Thông báo bằng văn bản đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định tại Điều 23 của Luật này khi thành lập, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, giải thể, chấm dứt hoạt động thư viện.

    10. Bảo đảm điều kiện về phòng cháy và chữa cháy; bảo vệ môi trường và phòng, chống thiên tai theo quy định của pháp luật.

    11. Bảo đảm thư viện trong cơ sở giáo dục có nguồn tài nguyên thông tin phát triển; gắn hoạt động thư viện với chương trình học phù hợp với chương trình đào tạo của cơ sở giáo dục; phân công lãnh đạo trực tiếp phụ trách thư viện và bố trí người làm công tác thư viện có chuyên môn, nghiệp vụ phù hợp với hoạt động thư viện.

    12. Tổ chức, cá nhân nước ngoài thành lập thư viện có trách nhiệm tạo điều kiện cho người lao động Việt Nam làm việc tại thư viện được tham gia các tổ chức, đoàn thể và hưởng các quyền khác theo quy định của pháp luật Việt Nam.

    Điều 46. Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân trực tiếp quản lý thư viện

    1. Xây dựng, tổ chức thực hiện kế hoạch hoạt động thư viện, phát triển tài nguyên thông tin và phát triển văn hóa đọc.

    2. Sử dụng hiệu quả nguồn lực đầu tư cho thư viện.

    3. Tạo điều kiện cho người làm công tác thư viện được bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ.

    4. Thực hiện chế độ thống kê, thông tin, báo cáo hoạt động thư viện với cơ quan, tổ chức thành lập thư viện và cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

    5. Tổ chức thực hiện liên thông thư viện với phương thức thích hợp.

    3. Người dạy trong cơ sở giáo dục phối hợp với người làm công tác thư viện hướng dẫn người học sử dụng tài nguyên thông tin và tiện ích thư viện trong học tập, nghiên cứu.

    4. Tổ chức xã hội – nghề nghiệp về thư viện được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật về hội có trách nhiệm sau đây:

    a) Tham gia phát triển sự nghiệp thư viện;

    a) Phối hợp với cơ quan quản lý nhà nước tuyên truyền, phổ biến quy định của pháp luật, chính sách, thành tựu về khoa học thư viện trong nước và nước ngoài;

    b) Tư vấn xây dựng tiêu chuẩn về thư viện, chất lượng dịch vụ thư viện và phát triển văn hóa đọc;

    c) Tham gia xây dựng và vận động hội viên thực hiện quy tắc ứng xử nghề nghiệp thư viện.

    Chương V

    TRÁCH NHIỆM QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ THƯ VIỆN Điều 48. Trách nhiệm quản lý nhà nước về thư viện của Chính phủ

    1. Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về thư viện.

    2. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch là cơ quan đầu mối giúp Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về thư viện trong phạm vi cả nước và có trách nhiệm sau đây:

    a) Ban hành hoặc trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành và tổ chức thực hiện chính sách, văn bản quy phạm pháp luật, chiến lược, kế hoạch phát hiển thư viện;

    b) Ban hành hoặc trình cơ quan có thẩm quyền ban hành tiêu chuẩn quốc gia, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia trong hoạt động thư viện; ban hành quy tắc ứng xử nghề nghiệp thư viện;

    c) Chỉ đạo thực hiện liên thông thư viện; chỉ đạo chuyên môn, nghiệp vụ thư viện, bồi dưỡng phát triển nguồn nhân lực thư viện, nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ trong hoạt động thư viện;

    d) Thông tin, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về thư viện;

    đ) Xây dựng và hướng dẫn hoạt động phát triển văn hóa đọc;

    e) Kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm, giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động thư viện theo thẩm quyền;

    g) Hợp tác quốc tế về thư viện.

    Điều 49. Trách nhiệm quản lý nhà nước về thư viện của Bộ, cơ quan ngang Bộ

    1. Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, chủ trì, phối hợp với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quản lý tổ chức và hoạt động thư viện lực lượng vũ trang nhân dân.

    2. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, chủ trì, phối hợp với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch tổ chức hoạt động, xây dựng tiêu chuẩn đối với thư viện cơ sở giáo dục; phát triển văn hóa đọc học đường; quản lý công tác đào tạo nhân lực thư viện; quản lý thư viện tại cơ sở cai nghiện bắt buộc.

    4. Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì, phối hợp với Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch thẩm định, công bố tiêu chuẩn quốc gia, thẩm định quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về hoạt động thư viện; chỉ đạo việc phát triển, chia sẻ tài nguyên thông tin về khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo trong nước và nước ngoài.

    5. Bộ, cơ quan ngang Bộ, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, có trách nhiệm phối hợp với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch thực hiện quản lý nhà nước về thư viện.

    Điều 50. Trách nhiệm quản lý nhà nước về thư viện của Ủy ban nhân dân các cấp

    1. Ủy ban nhân dận các cấp, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, thực hiện quản lý nhà hước về thư viện tại địa phương; tổ chức xây dựng, ban hành, thực hiện chính sách, chiến lược, kế hoạch phát triển thư viện, văn hóa đọc tại địa phương.

    2. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, có trách nhiệm sau đây:

    a) Ban hành theo thẩm quyền hoặc trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành chính sách hỗ trợ, thu hút xây dựng và phát triển mạng lưới thư viện tại địa phương đáp ứng nhu cầu tiếp cận thông tin, tri thức của Nhân dân địa phương;

    b) Đầu tư phát triển thư viện cấp tỉnh; xây dựng, kiện toàn và củng cố hệ thống thư viện công cộng trên địa bàn; khuyến khích tổ chức, cá nhân thành lập, duy trì thư viện cộng đồng, thư viện tư nhân có phục vụ cộng đồng tại địa phương; quy định việc thư viện cấp tỉnh được tiếp nhận xuất bản phẩm xuất bản tại địa phương phù hợp với quy định của pháp luật;

    c) Chỉ đạo việc hiện đại hóa thư viện, xây dựng cơ chế phối hợp giữa thư viện với cơ quan, tổ chức để phát triển thư viện và văn hóa đọc trên địa bàn;

    d) Chỉ đạo Ủy ban nhân dân cấp huyện, Ủy ban nhân dân cấp xã quản lý thư viện công cộng và mạng lưới thư viện trên địa bàn.

    Chương VI

    ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH Điều 51. Hiệu lực thi hành

    1. Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2022.

    2. Pháp lệnh Thư viện số 31/2000/PL-UBTVQH10 hết hiệu lực kể từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành.

    Điều 52. Điều khoản chuyển tiếp

    Thư viện thành lập, đăng ký hoạt động trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành được tiếp tục hoạt động mà không phải thực hiện thủ tục thông báo hoạt động theo quy định của Luật này.

    CHỦ TỊCH QUỐC HỘI

    --- Bài cũ hơn ---

  • Luật Giáo Dục Số 11/1998/qh10 Ngày 02 Tháng 12 Năm 1998
  • Luật Giáo Dục Nghề Nghiệp, Đừng Để Mất Thêm 5 Năm Nữa
  • Từ 01/7/2020, Lương Giáo Viên Sẽ Có Những Điểm Mới Nào?
  • 228 Luật, Bộ Luật Của Việt Nam Đang Có Hiệu Lực
  • Luật Sắp Có Hiệu Lực, Giáo Dục Nghề Nghiệp Vẫn Chưa Chốt Cơ Quan Quản Lý
  • Một Số Ý Kiến Về Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật Về Thư Viện Và Hoạt Động Quản Lý Nhà Nước Về Thư Viện Ở Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Văn Bản Pháp Luật Về Thẩm Định Giá
  • Chứng Từ Điện Tử Là Gì? Tổng Hợp Quy Định Về Chứng Từ Điện Tử Theo Nghị Định 123/2020/nđ
  • Văn Bản Pháp Quy Về Thuế – Hỗ Trợ Doanh Nghiệp Khởi Nghiệp
  • Hệ Thống Các Văn Bản Về Thuế Gtgt
  • Triển Khai Văn Bản Pháp Luật Mới Ban Hành
  • Hoạt động thư viện (TV) ở Việt Nam trong thời gian qua, mặc dù có sự phát triển, tăng cường về số lượng, cải thiện về chất lượng nhưng vẫn còn nhiều hạn chế và chưa thoả mãn được nhu cầu đọc, sử dụng thông tin và khai thác tri thức của nhân dân. Các TV ở Việt Nam luôn phải đối mặt với nguy cơ và thách thức do nhiều vấn đề nảy sinh từ thực tiễn, trong đó có sự chưa hoàn thiện của pháp luật về TV và những bất cập trong hoạt động quản lý nhà nước (QLNN) về TV. Do đó, việc nhận thức sâu sắc, nhận xét và đánh giá đúng về thực trạng của văn bản quy phạm pháp luật và hoạt động QLNN về TV là một bước quan trọng trong quá trình hoàn thiện pháp luật nhà nước về TV ở Việt Nam, góp phần cải cách QLNN về văn hoá, một trong những nhiệm vụ quan trọng của nhà nước Việt Nam trong giai đoạn đổi mới đất nước.

    1. Thực trạng văn bản pháp luật nhà nước về thư viện

    Hoạt động TV ở nước ta đã có bước phát triển đáng kể sau gần 15 năm thực hiện Pháp lệnh Thư viện và các văn bản quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh Thư viện. Mạng lưới TV đã được hình thành bao gồm: Thư viện Quốc gia Việt Nam (TVQG), TV do UBND các cấp thành lập gồm 63 TV tỉnh/ thành, 626 TV cấp huyện, gần 4.000 TV cấp xã và hàng nghìn phòng đọc sách cấp xã và cơ sở; gần 400 TV trực thuộc các trường đại học hoặc tương đương; khoảng 26.000 TV trường phổ thông các cấp; trên 100 TV trực thuộc các cơ quan nhà nước, các viện nghiên cứu… và gần 50 TV tư nhân có phục vụ cộng đồng. Song song đó, tổng số sách có trong các thư viện công cộng (TVCC) vào khoảng 27.404.060 bản (bình quân 180.000 bản sách/ TV cấp tỉnh, 8.000 bản sách/ TV cấp huyện); số lượt sách luân chuyển hàng năm trong các TVCC ước tính gần 50 triệu lượt/ năm. Trong thập niên vừa qua, việc ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động TV đã từng bước được đẩy mạnh, TV điện tử được xây dựng nhằm cung cấp thông tin cho người sử dụng được dễ dàng. Nhờ vào hệ thống TV, việc nâng cao nhận thức, tri thức của các tầng lớp nhân dân đã được cải thiện, góp phần duy trì truyền thống đạo đức, thuần phong mỹ tục của dân tộc, ổn định và phát triển kinh tế – xã hội.

    Tuy nhiên, so với yêu cầu phát triển của TV nhằm đáp ứng nhu cầu của các đối tượng sử dụng TV và nhu cầu xây dựng xã hội đọc, xã hội học tập với việc xây dựng môi trường học tập suốt đời cho mọi người dân thì hệ thống pháp luật hiện hành về TV đã bộc lộ nhiều hạn chế, cụ thể như sau:

    1.1. Về phạm vi điều chỉnh của Pháp lệnh Thư viện

    Hiện nay ở Việt Nam, nhiều cá nhân có vốn tài liệu đáp ứng yêu cầu của một TV, trong đó có nhiều tài liệu quý hiếm. Mặc dù, xã hội có nhu cầu khai thác vốn tài liệu, người sở hữu có mong muốn được phục vụ nhu cầu của xã hội và có điều kiện tổ chức phục vụ, nhưng Pháp lệnh Thư viện chưa thừa nhận thì chưa có căn cứ pháp lý để quản lý và khai thác. Lý do quan trọng là vì Pháp lệnh Thư viện chỉ điều chỉnh hệ thống TV công lập, chưa điều chỉnh TV tư nhân và TV của tổ chức, cá nhân nước ngoài thành lập và hoạt động tại Việt Nam.

    1.2. Về nội dung điều chỉnh của Pháp lệnh Thư viện

    Quyền và trách nhiệm của các TV và của tổ chức, cá nhân chưa được quy định cụ thể trong Pháp lệnh Thư viện làm cho TV không chủ động hoặc lơ là trong việc tổ chức các hoạt động nhằm đáp ứng nhu cầu của người sử dụng. Trong thực tế, các TV đều tổ chức các hoạt động để đáp ứng nhu cầu của người sử dụng nhưng không thống nhất, vì vậy, hiệu quả hoạt động của toàn hệ thống TV bị hạn chế. Nghiên cứu Pháp lệnh Thư viện cho thấy trong đó có 7 chương, 31 điều quy định các vấn đề: Quyền và trách nhiệm của tổ chức, cá nhân trong hoạt động TV, chính sách của Nhà nước đối với TV, QLNN về TV, tổ chức và hoạt động của TV, song vẫn chưa có những quy định cụ thể về hoạt động chuyên môn nghiệp vụ của TV. Bên cạnh đó, việc cần thiết phải liên thông giữa các TV để đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của người sử dụng cũng chưa được quy định đã hạn chế việc khai thác nguồn lực thông tin của các TV. Tình cảnh này tạo ra những bất cập trong khi việc ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động TV trở thành xu thế phát triển tất yếu trong lĩnh vực TV, hoạt động TV trên mạng thông tin máy tính đã xuất hiện và ngày càng phát triển.

    1.3. Về chính sách phát triển thư viện

    Trong Pháp lệnh Thư viện chưa có quy định cụ thể về chiến lược, hoạch định chính sách phát triển TV, vì vậy, việc áp dụng vào thực tế rất khó khăn, việc quan tâm đầu tư cho TV còn nhiều hạn chế. TV là đơn vị sự nghiệp công lập, các TV chủ yếu vẫn do cơ quan nhà nước thành lập và hoạt động bằng ngân sách nhà nước. Vì thế, các TV chưa chủ động tìm kiếm các nguồn lực khác, một phần do sự thiếu hụt các quy định về việc hoạch định chiến lược phát triển cụ thể cho TVCC Việt Nam. Hoạt động xuất bản vẫn phát triển, lượng sách xuất bản và nhập khẩu hàng năm tăng mà không đáp ứng về số lượng sách được mua bổ sung cho TV, việc bổ sung không tương xứng với sách được xuất bản hoặc nhập khẩu, cụ thể là TV không có đủ nguồn lực để đáp ứng nhu cầu tìm hiểu, học tập, nghiên cứu của số đông những người cần nâng cao kiến thức qua nguồn sách của TV.

    1.4. Về hiệu lực của văn bản

    Lĩnh vực TV – một bộ phận không thể thiếu của lĩnh vực văn hoá, đến nay chưa có Luật Thư viện để điều chỉnh, trong khi các lĩnh vực văn hoá khác như điện ảnh, di sản văn hoá, sở hữu trí tuệ, báo chí, xuất bản đều có luật để điều chỉnh. Pháp lệnh Thư viện được ban hành từ năm 2000 đến nay đã phát sinh nhiều bất cập, làm cho việc thực hiện mục tiêu phát triển của TV gặp nhiều khó khăn, vì thế hoạt động TV phát triển ngày càng chậm hơn so với các lĩnh vực văn hoá khác. Do chưa ban hành Luật Thư viện thay thế Pháp lệnh Thư viện, nên có sự hạn hẹp về phạm vi điều chỉnh, bổ sung những quy định cụ thể về nội dung hoạt động chuyên môn nghiệp vụ, quy định cụ thể các chính sách phát triển TV. Để đảm bảo tầm hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật về TV ngang với văn bản điều chỉnh các lĩnh vực khác, Quốc hội đã xác định từ Nghị quyết số 11/2007/QH12 và Nghị quyết số 07/2011/QH13 là xây dựng Luật Thư viện rất cần thiết, phù hợp với chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2022 của Bộ Chính trị. Trong những năm qua, các cơ quan có trách nhiệm đã soạn thảo để trình Quốc hội ban hành nhiều đạo luật để tạo cơ sở pháp lý quản lý và phát triển các hoạt động trong từng lĩnh vực.

    2. Thực trạng công tác quản lý nhà nước về thư viện

    2.1. Tổ chức và hoạt động thư viện

    Hạng TV được xếp trên cơ sở phân hạng mà không phải xếp hạng là một trong những bất cập lớn nhất theo các nhà chuyên môn. Hạng TV thể hiện quy mô tổ chức, chất lượng hiệu quả hoạt động của TV, là căn cứ để xây dựng chính sách đầu tư cho từng hạng. Do vậy, hạng TV cần phải được xét xếp hạng theo các tiêu chí, tiêu chuẩn nhất định dựa trên chất lượng hiệu quả hoạt động của TV. Một hạn chế nữa là mô hình tổ chức của TV cấp huyện chưa thống nhất: Có nơi TV là một thiết chế độc lập trực thuộc UBND cấp huyện hoặc Phòng Văn hoá – Thông tin, có nơi TV là một bộ phận trực thuộc Nhà Văn hoá, Trung tâm Văn hoá, điều này đã dẫn tới sự quan tâm đầu tư không đúng mức hoặc chênh lệch khá lớn trong cùng một thiết chế TV cấp huyện.

    2.2. Nguồn nhân lực của hệ thống thư viện công cộng

    Các TVCC ngày càng quan tâm làm tốt các khâu tuyển chọn, đào tạo bồi dưỡng, sử dụng và duy trì nguồn nhân lực. Một số TV có đội ngũ người làm thư viện (NLTV) có chất lượng khá cao, thể hiện qua trình độ nghiệp vụ, ngoại ngữ, tin học như: TVQG, Thư viện Khoa học Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh (TVHCM), Thư viện thành phố Cần Thơ… Nhiều TV đã tăng cường đầu tư cho công tác phát triển nguồn nhân lực sau khi nhận thức rõ vai trò và tầm quan trọng của nó đối với việc nâng cao chất lượng hoạt động và vai trò xã hội như Thư viện thành phố Hải Phòng, Thư viện tỉnh Bình Định. Công tác hợp tác quốc tế về phát triển nguồn nhân lực cũng được tăng cường.

    Tuy nhiên, chất lượng đội ngũ NLTV còn thấp và còn nhiều hạn chế, vẫn đang rất thiếu NLTV được đào tạo cơ bản về chuyên môn nghiệp vụ, ngoại ngữ, tin học… nhưng lại thừa NLTV không có chuyên môn hoặc chuyên môn không phù hợp với TV. Nếu tính trên tổng số NLTV của hệ thống TVCC thì số tiến sỹ chỉ chiếm 0,01%, thạc sỹ 0,23% và cử nhân là 4,91%. Về trình độ ngoại ngữ, tin học, có rất ít NLTV có thể sử dụng ngoại ngữ trong việc đọc tài liệu, giao tiếp với khách nước ngoài hay có thể dùng những kiến thức tin học viết phần mềm ứng dụng cho các hoạt động nghiệp vụ hoặc khắc phục một số lỗi trong hệ thống mạng máy tính của TV. Ngoài ra, có sự chênh lệch khá lớn về trình độ chuyên môn nghiệp vụ, ngoại ngữ, tác phong làm việc chuyên nghiệp giữa đội ngũ NLTV ở TVQG, TV tỉnh, thành phố lớn với các TV ở các vùng miền núi hoặc biên giới.

    Có xu hướng ngày càng gia tăng tỷ lệ NLTV có năng lực, trình độ chuyên môn chuyển sang các đơn vị trong ngành văn hoá hoặc ra khỏi ngành TV. Một thực tế là gần 90% nhân viên TV xã, phường, thị trấn, phòng đọc sách xã và cơ sở đều làm việc dưới dạng tình nguyện hoặc kiêm nhiệm, thời gian làm việc cho TV không ổn định và thường xuyên có sự thay đổi. Chế độ tiền lương, tiền thưởng, nhất là ở TV cơ sở còn quá thấp hoặc không có nên khó có thể đòi hỏi NLTV thực hiện tốt nhiệm vụ được giao.

    2.3. Công tác đào tạo, bồi dưỡng người làm thư viện

    Đến nay công tác đào tạo NLTV ở Việt Nam đã phát triển cả về quy mô và trình độ đào tạo. Lần đầu tiên khoa Thư viện – Thông tin (TVTT) – trường Đại học Văn hoá Hà Nội mở ngành đào tạo TV năm 1961. Đến năm học 2008 – 2009, 54 trường đã tham gia đào tạo nguồn nhân lực TVTT từ bậc cao đẳng trở lên. Trong đó 09 cơ sở đào tạo NLTV ở trình độ đại học, 03 cơ sở đào tạo ở trình độ thạc sỹ và duy nhất trường Đại học Văn hoá Hà Nội đào tạo cả bốn bậc từ cao đẳng, đại học, thạc sỹ đến tiến sỹ.

    Bên cạnh việc phát triển số lượng các cơ sở đào tạo, nhiều chương trình đào tạo mới cũng được biên soạn như chương trình của Trung tâm Học liệu – Đại học Cần Thơ, khoa TVTT – trường Đại học Sài Gòn. Hơn nữa, nhiều chương trình đào tạo cũ cũng được phát triển trên cơ sở bổ sung các môn học mới và nâng cấp các môn học cũ. Trong quá trình đổi mới nội dung và phương pháp giảng dạy, khoa TVTT – trường Đại học Văn hoá Hà Nội là một trong các cơ sở đi đầu. Cho đến nay Khoa đã ba lần đổi mới chương trình vào các năm 1992, 1997 và 2003. Đặc biệt năm 2008, Khoa lại một lần nữa xem xét bổ sung thêm một số môn học mới như: TV số, Xuất bản điện tử, Thiết kế và quản trị web, Phân tích hệ thống và Quan hệ với công chúng. Ngoài ra, Khoa cũng đang tiến hành xây dựng môn Dịch vụ TVTT trên cơ sở môn Công tác người đọc với các nội dung mới như: Phỏng vấn người dùng tin, kiến thức thông tin, kỹ năng đánh giá các nguồn tin trên mạng Internet, ứng dụng ICT để marketing sản phẩm và dịch vụ TVTT.

    2.4. Đầu tư, quản lý, sử dụng vốn bảo đảm hoạt động của thư viện

    Hàng năm, các TV được ngân sách Nhà nước (trung ương và địa phương) cấp tiền mua sách, báo theo định mức đầu sách, số bản trong giới hạn tối thiểu và tối đa theo loại TV: TV cấp tỉnh, thành phố; TV cấp huyện, thị xã. Định mức được áp dụng cho những TV có kho tàng thiết bị chuyên dùng cần thiết để bảo quản, xử lý kỹ thuật, cũng như tổ chức phục vụ người đọc có hiệu quả.

    TV các tỉnh, huyện biên giới, miền núi, hải đảo, các TV thiếu nhi ưu tiên đầu tư trang thiết bị chuyên dùng, vốn sách, báo và trụ sở làm việc. Để đưa công tác phục vụ bạn đọc vào nền nếp, các TV phải lập kế hoạch hoạt động hàng năm có phân ra các quý và dự toán chi phí kèm theo. Sau khi kế hoạch được duyệt, cơ quan tài chính có trách nhiệm cấp phát kinh phí đảm bảo hoạt động bình thường của các TV. Việc chi tiêu của các TV phải đảm bảo đúng mục đích và kế hoạch đã được duyệt.

    Mức cấp phát kinh phí thường xuyên = vốn mua sách, báo + chi phí hoạt động thường xuyên hợp lý.

    Vốn mua sách, báo gồm: Ấn phẩm và tài liệu ghi trên giấy (sách, báo, tạp chí, bản đồ, tranh phiên bản, ảnh chụp…), tài liệu bằng vi phim, băng từ, đĩa ghi âm và các vật mang tin khác.

    Chi phí hoạt động thường xuyên gồm:

    – Tiền lương và các khoản phụ cấp lương theo chế độ hiện hành.

    – Chi phí cho các hoạt động nghiệp vụ TV.

    – Mua những phương tiện phục vụ do vốn sách và lượng bạn đọc tăng hàng năm.

    – Chi phí quản lý hành chính.

     Việc xác định mức vốn mua sách, báo và chi phí hoạt động thường xuyên hợp lý do cơ quan chủ quản và cơ quan tài chính cùng cấp xem xét theo từng loại hình TV, theo kế hoạch hoạt động hàng năm hoặc ổn định một số năm trên cơ sở các chế độ hiện hành và giá cả tại địa phương.

    2.5. Kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm, giải quyết khiếu nại, tố cáo trong quản lý nhà nước về thư viện

    Điều 3 Luật Thanh tra (2010) đã xác định “Hoạt động xem xét, đánh giá, xử lý theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định của cơ quan, nhà nước có thẩm quyền đối với việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức, cá nhân”. Trên thực tế, hiện tượng vi phạm chính sách TV vẫn còn nhiều như chế độ độc hại chưa được lãnh đạo đơn vị thực thi do ảnh hưởng đến nguồn kinh phí được ổn định trong 3 năm theo Nghị định 43 của Thủ tướng chính phủ, một số TV vẫn không được cấp kinh phí cho các hoạt động thường xuyên, tình trạng vi phạm bản quyền tác giả tại các TVCC rất phổ biến như: Sao chụp tài liệu, số hoá toàn văn tài liệu và chuyển lên mạng với mục đích rao bán mà không có ý kiến đồng ý của tác giả. Nguồn sách bổ sung vào TV chưa được quy định chặt chẽ, có hiện tượng nhiều nơi thiếu sự quản lý của Nhà nước, các nhà xuất bản bắt tay với tư nhân tham gia vào hoạt động xuất bản, in, phát hành và đã cho ra đời nhiều loại “sách đen”, sách “đầu nậu” như: Chúa trời ngủ gật; Chân dung nhà văn; Nổi loạn; Ly thân; Chuyện kể năm 2000; Chuyến xe ma quái… Thông qua việc đọc của bạn đọc ở TV phát hiện, báo cáo cho thanh tra Bộ, Sở và các cơ quan chức năng.

    Lưu chiểu là quy định bắt buộc đối với các nhà xuất bản tham gia vào hoạt động sản xuất và phổ biến xuất bản phẩm. Chế độ nộp lưu chiểu do các nhà xuất bản thực hiện chưa đầy đủ về thời gian quy định và thiếu về số lượng. 

    Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch (VHTTDL) đã chỉ đạo thanh tra Bộ VHTTDL phối hợp với ban ngành chức năng và thanh tra các Sở VHTTDL tiến hành kiểm tra thường xuyên hàng năm và kiểm tra đột xuất để nhắc nhở, chấn chỉnh kịp thời những đơn vị vi phạm, tuy nhiên vẫn còn hình thức “Giơ cao đánh khẽ” chỉ mang tính nhắc nhở, răn đe nhằm giúp cho hoạt động TV phát triển đúng định hướng, đáp ứng đời sống tinh thần của nhân dân, nâng cao dân trí, góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

    2.6. Hợp tác quốc tế về thư viện

    Mặc dù gặp nhiều khó khăn do những biến động kinh tế trong nước và thế giới, nhưng 5 năm qua (2010 – 2022), hợp tác quốc tế về TV đã đạt nhiều thành tích xuất sắc, góp phần nâng cao vị thế TV Việt Nam trên phạm vi khu vực và thế giới. Hoạt động này đã diễn ra trên nhiều lĩnh vực, ở nhiều TV thuộc các hệ thống trong cả nước, mang lại những lợi ích to lớn về tinh thần và vật chất.

    3. Đánh giá hoạt động quản lý nhà nước về thư viện

    3.1. Mặt được

    Cho đến nay, Pháp lệnh Thư viện là văn bản quy phạm pháp luật cao nhất trong lĩnh vực TV, tạo ra động lực mạnh cho sự phát triển của sự nghiệp TV, đáp ứng những yêu cầu trước mắt trong ngành TV. Để triển khai, hướng dẫn thi hành Pháp lệnh Thư viện, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 72/2002/NĐ-CP ngày 06/08/2002 Quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh Thư viện. Pháp lệnh Thư viện được Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khoá X ban hành ngày 28/12/2000, gần 15 năm được triển khai thực hiện đã có những đóng góp đáng kể cho hệ thống TV gồm: TVQG, khoảng 4.689 TV do UBND các cấp thành lập, khoảng 26.400 TV trực thuộc các trường của ngành Giáo dục – Đào tạo và trên 100 TV trực thuộc các cơ quan nhà nước… chỉ tính vốn tài liệu hệ thống TVCC đến nay là 27.404.060 bản với tổng số sách luân chuyển là 50.403.268 lượt/ năm. Nhìn chung, TV cả nước đã giữ gìn di sản văn hoá thành văn của dân tộc, đáp ứng nhu cầu học tập, nghiên cứu, thông tin và hưởng thụ văn hoá của mọi tầng lớp nhân dân, góp phần nâng cao dân trí, phục vụ đắc lực nhiệm vụ kinh tế – xã hội của đất nước.

    Một hành lang pháp lý quan trọng đã được kiến tạo nhằm phát triển sự nghiệp TV Việt Nam. Đó là hệ thống các văn bản pháp quy từ các nghị quyết, chỉ thị, quyết định, thông tư, nghị định của Đảng và Chính phủ… tới Pháp lệnh Thư viện của Nhà nước. Có những văn bản đã trở thành cứu cánh cho hàng trăm TV đứng vững trong những ngày đầu của cơ chế thị trường. Đó là quyết định 359 của Hội đồng Bộ trưởng về “Ngân sách Nhà nước cấp 100% cho sự nghiệp Đào tạo, Bảo tồn, Bảo tàng, Thư viện…”, Thông tư liên bộ Văn hoá – Thông tin – Tài chính số 97/TTLB về “Định mức kinh phí cho hoạt động thư viện” (1990). Nghị quyết 4, 5 của Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VII, VIII xác định: “Văn hoá là nền tảng tinh thần, là mục tiêu và động lực của sự phát triển”. Đặc biệt, sự ra đời của Pháp lệnh Thư viện (năm 2001) đã tạo thế và lực cho ngành TV Việt Nam phát triển và hội nhập với TV thế giới.

    Bên cạnh đó, công tác chỉ đạo, hướng dẫn kiểm tra việc thực hiện các quy định của Nhà nước cũng như tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật trong lĩnh vực TV được quan tâm thông qua các hình thức: gửi văn bản, đưa nội dung giới thiệu văn bản mới là một chuyên đề của các lớp tập huấn hàng năm cho NLTV công cộng các cấp; thường xuyên tổ chức đi kiểm tra, khảo sát thực tế để nắm bắt tình hình thực hiện các văn bản cũng như hoạt động của các TV. Đã hình thành và có sự phối hợp khá nhịp nhàng giữa bộ máy QLNN ngành từ Trung ương tới địa phương. Ở Trung ương, Bộ VHTTDL có Vụ TV là cơ quan giúp Bộ trưởng QLNN trong lĩnh vực TV. Ở địa phương, Sở VHTTDL có phòng nghiệp vụ Văn hoá và TV tỉnh.

    Cùng với xu thế hội nhập, ngành TV Việt Nam đã phát huy tốt kinh nghiệm và truyền thống, đưa hợp tác quốc tế dần trở thành một trong những mũi nhọn của hoạt động TV Việt Nam.

    3.2. Mặt hạn chế

    Pháp luật về TV Việt Nam thiếu văn bản có giá trị pháp lý cao nhất – Luật Thư viện, dẫn tới việc thực thi các quy định của pháp luật trong lĩnh vực TV chưa cao. Việt Nam có một di sản thư tịch khá phong phú, phát triển dựa trên nền văn hiến lâu đời, dân tộc ta có truyền thống hiếu học, sự nghiệp TV ra đời, phát triển gắn liền với tiến trình xây dựng và phát triển của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà và sau này là Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, song cho đến nay Việt Nam mới có văn bản quy phạm pháp luật có giá trị pháp lý cao nhất là Pháp lệnh Thư viện và chủ yếu vẫn là các văn bản pháp luật.

    Văn bản quy phạm pháp luật còn nhiều bất cập, chưa thống nhất, còn chồng chéo về nội dung và không kịp thời cập nhật bổ sung, chưa được bãi bỏ hoặc sửa chữa kịp thời những quy định không còn phù hợp. Nhiều quy định mới để đáp ứng với yêu cầu của thực tiễn chậm ban hành.

    Bộ máy QLNN về TV từ trung ương tới địa phương chưa đảm bảo hiệu lực, hiệu quả. Ở Trung ương, cơ quan tham mưu QLNN chỉ ở cấp Vụ thay vì phải là Cục; tại các địa phương nguồn nhân lực cho công tác này ở cơ quan QLNN cấp tỉnh (Sở VHTTDL) hầu như không có biên chế chuyên môn cho lĩnh vực TV. Ngoài một Phó Giám đốc Sở có phụ trách lĩnh vực TV, thì đơn vị tham mưu giúp Sở trong công tác này lại là các TV cấp tỉnh – một đơn vị sự nghiệp không có chức năng QLNN và ở tại Phòng Văn hoá – Thông tin cấp huyện hoàn toàn chưa có biên chế QLNN về TV.

    Mặt khác, hiện nay tổ chức TV cấp huyện trong cả nước chưa thống nhất, đó là TV cấp huyện trực thuộc 3 cơ quan, đơn vị khác nhau; có địa phương trực thuộc UBND cấp huyện (tỷ lệ 0,5%); có địa phương trực thuộc Phòng Văn hoá – Thông tin (tỷ lệ 45%); còn lại trực thuộc Trung tâm Văn hoá, đây thực sự là một bất cập rất lớn, làm cản trở sự phát triển ngành TV nói chung. Bên cạnh đó, mô hình TV xã cũng chưa rõ nét, hoạt động TV cơ sở tuy có xuất phát từ nhu cầu của nhân dân, nhưng phát triển chỉ mang tính tự phát.

    Sự hạn chế về năng lực của đội ngũ cán bộ của cơ quan tham mưu giúp cơ quan QLNN ngành ở Trung ương cũng như địa phương cũng là một trong hạn chế lớn của thể chế TV Việt Nam đã dẫn tới hệ quả việc thực thi chức năng, nhiệm vụ chưa thực sự đạt được kết quả như mong muốn. Ngoài ra, còn những khiếm khuyết trên là do ngành TV chưa có chiến lược phát triển nguồn nhân lực, chưa thực hiện đúng quy trình tuyển chọn, đào tạo bồi dưỡng nguồn nhân lực, chưa quan tâm giải quyết tốt mối quan hệ giữa sử dụng và bồi dưỡng NLTV… Vẫn còn tồn tại khoảng cách giữa chất lượng đào tạo với nhu cầu sử dụng NLTV của các TV.

    Việc đầu tư cơ sở vật chất, hiện đại hoá trang thiết bị chuyên dùng, ứng dụng tiến bộ khoa học, công nghệ trong hoạt động TV cũng ít được quan tâm, nhất là TV cấp huyện và xã, phần lớn vẫn phải dùng chung trụ sở với các cơ quan khác, ít được đầu tư nâng cấp, trang thiết bị cũ và lạc hậu. Ngân sách cấp cho TV để bổ sung vốn tài liệu còn rất ít và hạn hẹp. Vốn tài liệu còn quá ít để đáp ứng nhu cầu ngày một cao của nhân dân, đặc biệt đối với nhân dân vùng sâu, vùng xa.   

    Pháp lệnh Thư viện chỉ điều chỉnh hệ thống TV công lập, chưa điều chỉnh TV tư nhân và TV của tổ chức, cá nhân nước ngoài thành lập và hoạt động tại Việt Nam. Trong khi thực tế ở nước ta nhiều người có vốn tài liệu đáp ứng yêu cầu của một TV, đặc biệt có rất nhiều tài liệu quý hiếm đang được bảo tồn trong nhân dân. Thực tế, xã hội có nhu cầu chia sẻ vốn tài liệu đó, người sở hữu có mong muốn được phục vụ nhu cầu của xã hội và mong muốn có điều kiện tổ chức phục vụ cộng đồng.

    Trong những năm qua, hệ thống TVCC Việt Nam dù đã có sự cố gắng nỗ lực rất nhiều của bản thân hệ thống cũng như sự quan tâm, đầu tư của Nhà nước, song nhìn chung vẫn trong tình trạng lạc hậu so với trình độ phát triển của sự nghiệp TV các nước tiên tiến trong khu vực và thế giới, đặc biệt là trên phương diện ứng dụng công nghệ thông tin. Sự hạn chế này là một rào cản trên con đường hội nhập quốc tế về lĩnh vực TV.

    Còn tuỳ tiện thực hiện chính sách, còn thiếu những chính sách đầu tư hợp lý cho công tác phục vụ người đọc, chính sách phát triển các dịch vụ TV, chính sách phát triển vốn tài liệu… Vì vậy,  các TV nói chung và TVCC nói riêng phát triển chậm hơn so với những thiết chế văn hoá khác… Còn tồn tại chính sách chưa được cụ thể hoá, mới chỉ được quy định trên các văn bản mà chưa thể đi vào thực tế cuộc sống.

    Có thể khẳng định, TV là một trong những thiết chế văn hoá quan trọng không chỉ với Việt Nam mà với với bất kỳ quốc gia, dân tộc nào. Trong nền kinh tế thông tin – tri thức, mỗi quốc gia luôn có chiến lược phát triển sự nghiệp TV dựa trên sự hoàn thiện về pháp luật để điều chỉnh lĩnh vực TV, thông qua hoạt động QLNN giúp định hướng cho lĩnh vực này hoàn thành nhiệm vụ lưu thông và khai mở tri thức cho người dân. Ở Việt Nam, do điều kiện khách quan và những lý do chủ quan mà Luật Thư viện vẫn còn đang trong “thời kỳ thai nghén” nên vẫn còn những tình trạng bất cập như đã nêu trên. Hy vọng trong tương lai không xa, với nỗ lực chung của cả nước, mà đại diện là cơ quan Quốc hội sẽ ban hành văn bản Luật có giá trị cho hoạt động TV, cũng như cơ quan tham mưu cho Chính phủ là Bộ VHTTDL sẽ đổi mới hoạt động QLNN về lĩnh vực TV bằng pháp luật, nhằm hướng tới nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động TV Việt Nam ngang tầm với sứ mệnh lịch sử của nó.

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    1. Nghị định 02/2009/NĐ-CP của Chính phủ ngày 06/01/2009 quy định về tổ chức và hoạt động của thư viện tư nhân có phục vụ cộng đồng.

    2. Nghị định 72/2002/NĐ-CP của Chính phủ ngày 06/8/2002 quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh Thư viện.

    3. Quyết định số 10/2007/QĐ-BVHTT ngày 04/5/2007 của Bộ Văn hoá – Thông tin về Phê duyệt Quy hoạch phát triển ngành Thư viện Việt Nam đến năm 2010 và định hướng đến năm 2022.

    4. Quyết định số 334/TC-QĐ ngày 8/11/1995 của Bộ trưởng Bộ Văn hoá – Thông tin về chức năng, nhiệm vụ và tổ chức bộ máy của Thư viện Quốc gia Việt Nam.

    5. Pháp lệnh Thư viện: Được Uỷ ban Thường vụ Quốc hội thông qua ngày 28/12/2000 và được Chủ tịch nước ký sắc lệnh số 01/2001/L-CTN ngày 11/1/2001. – H: Chính trị Quốc gia, 2001.

    ThS. Bùi Xuân Đức

    Thư viện Khoa học Tổng hợp Tp. Hồ Chí Minh

    Nguồn: Tạp chí Thư viện Việt Nam. – 2022. – Số 4. – Tr. 3-10.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hội Đồng Nhân Dân Hà Nội Triển Khai Kế Hoạch Xây Dựng Nghị Quyết Quy Phạm Pháp Luật
  • Cổng Điện Tử Sở Y Tế Tỉnh Hòa Bình
  • Hướng Dẫn Làm Cách Nào Di Chuyển/ Sao Chép Các Trang Sang Một File Văn Bản Khác Trong Word
  • Cách Copy Paste Văn Bản Tránh Lỗi Định Dạng Trong WordPress
  • Tìm Hiểu Văn Bản: Ôn Dịch, Thuốc Lá – Nguyễn Khắc Viện
  • Phổ Biến Các Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật Mới Trong Lĩnh Vực Thư Viện

    --- Bài mới hơn ---

  • Tổng Hợp Các Văn Bản Pháp Luật Về Thuế Hiện Nay
  • Luận Án: Quyền Trẻ Em Trong Xây Dựng Nhà Nước Pháp Quyền Việt Nam
  • Tổ Chức Lập Quy Và Các Văn Bản Pháp Lý Hiện Hành Kế Toán
  • Thế Nào Là Gia Đình Có Công Với Cách Mạng?
  • Như Thế Nào Là Người Có Công Với Cách Mạng?
  • Mục đích nhằm phổ biến, tuyên truyền và hướng dẫn triển khai thực hiện Luật Thư viện số 46/2019/QH14 và các văn bản hướng dẫn Luật Thư viện đến các cán bộ quản lý, lãnh đạo và viên chức thư viện trong cả nước qua đó tăng cường việc thực thi các quy định của nhà nước mới ban hành trong lĩnh vực thư viện, nâng cao nhận thức và trách nhiệm triển khai thi hành Luật Thư viện.

    Nội dung tập huấn phổ biến và hướng dẫn thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật mới trong lĩnh vực thư viện gồm: Luật Thư viện số 46/2019/QH14; Nghị định quy định chi tiết một số điều của Luật Thư viện; Thông tư quy định về việc bảo quản, thanh lọc tài nguyên thông tin và tiêu chí, nguyên tắc sử dụng tài nguyên thông tin hạn chế sử dụng trong thư viện; Thông tư quy định mẫu văn bản thông báo thành lập, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, giải thể, chấm dứt hoạt động thư viện; Thông tư quy định về đánh giá hoạt động thư viện.

    Thời gian và địa điểm tổ chức 02 lớp tập huấn cho cán bộ thư viện trong hệ thống thư viện công cộng và thư viện các trường đại học, cao đẳng tại 02 miền, cụ thể:

    01 lớp khu vực miền Nam (gồm các tỉnh từ Đà Nẵng trở vào). Thời gian: 01 ngày (dự kiến trung tuần tháng 7), tại Thành phố Cần Thơ.

    01 lớp khu vực miền Bắc (gồm các tỉnh từ Thừa Thiên Huế trở ra). Thời gian: 01 ngày (dự kiến cuối tháng 7), tại Thị xã Cửa Lò, tỉnh Nghệ An.

    Học viên tham dự lớp tập huấn là Lãnh đạo Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch/Sở Văn hóa và Thể thao/Sở Văn hóa, Thông tin, Thể thao và Du lịch phụ trách lĩnh vực thư viện hoặc chuyên viên theo dõi công tác thư viện; Giám đốc/Phó giám đốc thư viện công cộng, thư viện các trường đại học; Trưởng phòng/Phó trưởng phòng và viên chức phòng nghiệp vụ của thư viện công cộng, thư viện các trường đại học.

    Lan Anh

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đồng Tháp: Triển Khai Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật Mới
  • Hội Nghị Triển Khai Các Văn Bản Pháp Luật Mới
  • 13 Điểm Mới Quan Trọng Tại Thông Tư 04/2020/tt
  • Quy Định Về Bổ Nhiệm Công Chứng Viên Theo Pháp Luật
  • Luật Ban Hành Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật 2022 Số 80/2015/qh13
  • Đề Cương Tuyên Truyền Luật Thư Viện Năm 2022

    --- Bài mới hơn ---

  • Tổng Hợp Toàn Bộ 6 Điểm Mới Của Luật Thư Viện 2022
  • Những Điểm Mới Đáng Chú Ý Nhất Của Luật Thư Viện Năm 2022 So Với Pháp Lệnh Thư Viện Năm 2000
  • Bài Thi Thử Trắc Nghiệm Luật Giáo Dục Ôn Thi Công Chức, Viên Chức
  • Bộ Câu Hỏi Trắc Nghiệm Thi Viên Chức Ngành Giáo Dục Năm 2022
  • Câu Hỏi Trắc Nghiệm Luật Giáo Dục
  • Decuongtuyentruyen.com biên soạn, giới thiệu tới bạn đọc đề cương tuyên truyền Luật Thư viện năm 2022, có hiệu lực 01/7/2020.

    I. SỰ CẦN THIẾT BAN HÀNH LUẬT THƯ VIỆN

    Thư viện là thiết chế đã xuất hiện ở Việt Nam và trên thế giới từ lâu đời, gắn với lịch sử phát triển, tiến bộ của nhân loại. Là nơi thu thập, lưu giữ, xử lý, bảo quản tài liệu để bảo tồn và phổ biến tài liệu đáp ứng nhu cầu học tập, nghiên cứu, thông tin và hưởng thụ văn hóa của người dân, góp phần nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, phát triển khoa học, công nghệ, kinh tế, văn hoá, xã hội của đất nước.

    Pháp lệnh Thư viện được Ủy ban Thường vụ Quốc hội thông qua ngày 28 tháng 12 năm 2000, có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 4 năm 2001 (sau đây gọi là Pháp lệnh) đã mở ra một thời kỳ phát triển mới của sự nghiệp thư viện Việt Nam. Triển khai thi hành Pháp lệnh, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các bộ, ngành đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật, Luật Báo chí (2016), Luật Quản lý và sử dụng tài sản công (2017), Luật An ninh mạng (2018)…. Các Văn bản pháp lý này đã tác động không nhỏ đến hoạt động thư viện và quản lý nhà nước về thư viện, dẫn tới việc không đồng bộ của hệ thống văn bản pháp luật và hạn chế hiệu lực thi hành của Pháp lệnh. Một số điểm về thẩm quyền, thủ tục hành chính quy định trong Pháp lệnh không phù hợp với chủ trương cải cách hành chính hiện nay[6]; việc thực hiện quy định các Bộ, ngành phối hợp với Bộ Văn hóa-Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) trong quản lý nhà nước về thư viện chưa thực sự hiệu quả.

    Bên cạnh đó, Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 09 tháng 6 năm 2014 của Hội nghị lần thứ 9 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước; Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 05 tháng 10 năm 2022 của Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về tiếp tục đổi mới hệ thống tổ chức và quản lý nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập đã chỉ ra mục tiêu, nhiệm vụ mới về lĩnh vực thư viện là: “hoàn thiện thể chế và các cơ chế, chính sách”, ” kiện toàn, củng cố thư viện công cộng cấp huyện với các mô hình, thiết chế đã có; việc thành lập mới chỉ được thực hiện tại các địa phương có nhu cầu và điều kiện cho phép”.

    II. MỤC ĐÍCH, QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO XÂY DỰNG DỰ ÁN LUẬT

    Để thực hiện triệt để tinh thần các Nghị quyết của Đảng, khắc phục những bất cập trên, điều chỉnh những vấn đề mới phát sinh và hoàn thiện thế chế, tăng cường pháp chế về thư viện, việc xây dựng dự án Luật Thư viện là hết sức cần thiết.

    Luật Thư viện được ban hành sẽ góp phần tạo hành lang pháp lý, điều kiện phát triển sự nghiệp thư viện; thiết lập cơ chế pháp lý bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài hoạt động thư viện; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về thư viện; tạo hành lang pháp lý nâng cao năng lực, phát huy đầy đủ các chức năng của thư viện trong bảo đảm quyền tiếp cận thông tin, hưởng thụ văn hóa và học tập suốt đời của công dân, góp phần truyền bá tri thức nhân loại, giữ gìn bản sắc văn hóa của dân tộc.

    Luật Thư viện được ban hành sẽ mở rộng và khuyến khích xã hội hóa, góp phần làm tăng số lượng thư viện, nâng cao chất lượng phục vụ; tạo được sự kết nối, liên thông đồng bộ giữa các thư viện, người dân có nhiều cơ hội tiếp cận thông tin, thu hút số lượng người đến với thư viện nhiều hơn, góp phần xây dựng xã hội học tập.

    Thứ nhất, Luật Thư viện tiếp tục thể chế hóa quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, quy định về quyền con người, quyền, nghĩa vụ cơ bản của công dân trong lĩnh vực văn hoá, kinh tế, xã hội được quy định tại Hiến pháp năm 2013.

    Thứ hai, Luật Thư viện xây dựng trên cơ sở luận cứ khoa học và tổng kết thực tiễn thi hành; tham khảo có chọn lọc kinh nghiệm của một số nước trong khu vực và trên thế giới, vận dụng phù hợp với thông lệ và cam kết quốc tế mà Việt Nam đã ký kết hoặc tham gia; kế thừa các quy định còn phù hợp của Pháp lệnh và các văn bản hướng dẫn thi hành đã được kiểm nghiệm qua thực tiễn.

    Thứ ba, Luật Thư viện khẳng định vai trò của thư viện đối với sự phát triển văn hóa, con người góp phần nâng cao dân trí, xây dựng xã hội học tập ở Việt Nam; mở rộng chức năng và hoạt động của thư viện nhằm tăng cường năng lực cung ứng dịch vụ công song hành với tăng cường tính tự chủ của thư viện.

    Thứ tư, Luật Thư viện thúc đẩy việc đa dạng hóa các loại hình thư viện, khuyến khích các tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động thư viện, đẩy mạnh xã hội hóa để phát huy các nguồn lực trong xã hội, tạo điều kiện cho người dân có thêm cơ hội tiếp cận thông tin, tri thức phục vụ học tập suốt đời.

    Thứ năm, Luật Thư viện đảm bảo điều chỉnh kịp thời các quan hệ mới phát sinh, đồng thời đơn giản hóa các thủ tục hành chính, điều kiện, thủ tục thành lập thư viện phải thông thoáng nhằm thúc đẩy sự phát triển của sự nghiệp thư viện.

    Phạm vi điều chỉnh (Điều 1)

    Luật Thư viện gồm 06 chương, 52 Điều với những nội dung chính như sau:

    Chính sách của Nhà nước về phát triển sự nghiệp thư viện (Điều 5) và xã hội hóa hoạt động thư viện (Điều 6)

    Luật Thư viện quy định về thành lập, hoạt động thư viện; quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động thư viện; quản lý nhà nước về thư viện.

    Luật Thư viện xác định chính sách của Nhà nước về phát triển sự nghiệp thư viện ở 03 cấp độ, cụ thể là:

    Thứ nhất, Nhà nước đầu tư cho thư viện công lập như sau (1) Đầu tư trọng điểm cho Thư viện Quốc gia Việt Nam, thư viện cấp tỉnh và một số thư viện có vai trò quan trọng. (2) Đầu tư cho một số hoạt động thư viện như: hiện đại hóa, xây dựng thư viện số, liên thông thư viện và hợp tác quốc tế để bảo đảm việc tiếp cận thông tin ở mọi dạng thức trong xu thế phát triển khoa học, công nghệ và thư viện số.

    Thứ hai, Nhà nước hỗ trợ: cung cấp dịch vụ công trong lĩnh vực thư viện, phát triển văn hóa đọc; duy trì và phát triển thư viện cộng đồng, thư viện tư nhân có phục vụ cộng đồng; cước vận chuyển tài liệu thư viện phục vụ nhiệm vụ chính trị, vùng có điều kiện kinh tế-xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn, biên giới, hải đảo.

    Luật đã xác định các loại thư viện và quy định cụ thể về vị trí, chức năng, nhiệm vụ của từng loại thư viện ở Việt Nam bao gồm: Thư viện Quốc gia Việt Nam (Điều 10), Thư viện công cộng (Điều 11), Thư viện chuyên ngành (Điều 12), Thư viện lực lượng vũ trang nhân dân (Điều 13), Thư viện đại học (Điều 14), Thư viện cơ sở giáo dục mầm non, cơ sở giáo dục phổ thông, cơ sở giáo dục nghề nghiệp và cơ sở giáo dục khác (Điều 15), Thư viện cộng đồng và thư viện tư nhân có phục vụ cộng đồng (Điều 16) và Thư viện của tổ chức, cá nhân nước ngoài có phục vụ người Việt Nam (Điều 17).

    Hoạt động thư viện (Điều 24 đến Điều 37)

    Trên cơ sở xác định các loại thư viện, Luật đã quy định về thành lập, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, giải thể thư viện với các nội dung về điều kiện thành lập thư viện (Điều 18), thành lập thư viện công lập (Điều 19), thành lập thư viện ngoài công lập (Điều 20), sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, giải thể thư viện (Điều 21), đình chỉ, chấm dứt hoạt động thư viện (Điều 22) và thông báo việc thành lập, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, giải thể, chấm dứt hoạt động thư viện (Điều 23). Điểm mới so với quy định hiện hành là các thư viện ngoài công lập không phải đăng ký hoạt động mà chỉ thực hiện thủ tục thông báo. Theo quy định của Luật Thư viện: Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tiếp nhận hồ sơ thông báo đối thư viện của tổ chức, cá nhân nước ngoài có phục vụ người Việt Nam có trụ sở trên địa bàn; Ủy ban nhân dân cấp huyện tiếp nhận hồ sơ thông báo đối với thư viện tư nhân có phục vụ cộng đồng có trụ sở trên địa bàn và Ủy ban nhân dân cấp xã tiếp nhận hồ sơ thông báo đối với thư viện cộng đồng có trụ sở trên địa bàn.

    Điểm mới của Luật Thư viện so với Pháp lệnh Thư viện trước đây là đã có một chương với 14 điều quy định về hoạt động thư viện. Luật Thư viện đã quy định các nguyên tắc hoạt động thư viện, bao gồm:

    – Lấy người sử dụng thư viện làm trung tâm; tạo lập môi trường thân thiện, bình đẳng; bảo đảm quyền tiếp cận và sử dụng thư viện của tổ chức, cá nhân.

    – Thường xuyên đổi mới sáng tạo về quy trình, sản phẩm thông tin, dịch vụ thư viện trên cơ sở ứng dụng thành tựu khoa học và công nghệ tiên tiến.

    – Thực hiện liên thông thư viện.

    Luật hóa quy trình hoạt động chuyên môn nghiệp vụ mà các thư viện cần triển khai thực hiện, bổ sung một số các hoạt động nhằm thúc đẩy việc ứng dụng công nghệ thông tin, liên thông thư viện, tăng cường liên kết, chia sẻ, phát triển văn hóa đọc và hợp tác quốc tế về thư viện. Từ đó tạo ra sự thống nhất, chuẩn hóa trong hoạt động thư viện, tạo hành lang pháp lý để các thư viện đổi mới hoạt động, đáp ứng nhu cầu tiếp cận thông tin, hưởng thụ các giá trị văn hóa và học tập suốt đời của người dân.

    Để các thư viện quan tâm nhiều hơn đến việc liên kết, chia sẻ với nhau trong hoạt động thư viện, Luật Thư viện đã đặt ra những quy định cụ thể hơn về liên thông thư viện. Liên thông thư viện là là hoạt động liên kết, hợp tác giữa các thư viện nhằm sử dụng hợp lý, có hiệu quả tài nguyên, tiện ích, kết quả xử lý và các sản phẩm, dịch vụ thư viện.Thực hiện liên thông là nguyên tắc hoạt động chung của cả thư viện công lập và thư viện ngoài công lập (khoản 4 Điều 24). Tài nguyên thông tin được xây dựng từ ngân sách Nhà nước phải được liên thông, chia sẻ giữa các thư viện.

    Quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động thư viện (Điều 38 đến Điều 44)

    Theo đó, việc liên thông thư viện được thực hiện theo các phương thức: Liên thông theo khu vực địa lý; theo nhóm thư viện có chức năng, nhiệm vụ, đối tượng phục vụ tương đồng; theo nội dung, lĩnh vực tài nguyên thông tin thư viện và liên thông giữa các loại thư viện.

    Luật đã cụ thể hóa quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động thư viện, trong đó:

    Mở rộng quyền của thư viện nhằm tăng cường năng lực, tính chủ động, bảo đảm điều kiện cho thư viện nâng cao chất lượng phục vụ người sử dụng (quy định tại Điều 38 và Điều 39 về quyền và trách nhiệm của thư viện);

    Bảo đảm quyền, nghĩa vụ của người làm công tác thư viện, tạo điều kiện để thu hút nguồn nhân lực thư viện (quy định tại các Điều 40 và 41 về quyền và nghĩa vụ của người làm công tác thư viện);

    Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin, hưởng thụ các giá trị văn hóa và học tập suốt đời trong thư viện của người sử dụng thư viện (quy định tại các Điều 42, 43 và 44 về quyền và nghĩa vụ của người sử dụng thư viện);

    --- Bài cũ hơn ---

  • Luật Thư Viện 2022, Luật Thư Viện Số 46/2019/qh14 2022
  • Luật Giáo Dục Số 11/1998/qh10 Ngày 02 Tháng 12 Năm 1998
  • Luật Giáo Dục Nghề Nghiệp, Đừng Để Mất Thêm 5 Năm Nữa
  • Từ 01/7/2020, Lương Giáo Viên Sẽ Có Những Điểm Mới Nào?
  • 228 Luật, Bộ Luật Của Việt Nam Đang Có Hiệu Lực
  • Lịch Sử Các Văn Bản Pháp Quy Về Thư Viện Ở Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Lịch Sử Các Văn Bản Pháp Quy Về Thư Viện Ở Việt Nam Craziers Ppt
  • Cập Nhật Các Văn Bản Pháp Quy Liên Quan Đến Hoạt Động Cảnh Giác Dược
  • Luật Giáo Dục Và Văn Bản Pháp Quy Về Luật Giáo Dục
  • Trung Tâm Y Tế Dự Phòng Huyện Lương Sơn: Chủ Động Phòng Chống Dịch Bệnh Sốt Xuất Huyết
  • Công Ty Điện Lực Hòa Bình
  • CRAZIERS

    Presents

    Team Leader : Đặng Duy Điệp

    Notes Staff : Nguyễn Thu Trang

    Member : Phan Văn Khởi

    Member : Nguyễn Thị Thùy Linh

    Member : Nguyễn Thị Ánh Sao

    Member : Đinh Thị Thu Trang

    LỊCH SỬ VĂN BẢN PHÁP QUY VỀ THƯ VIỆN Ở VIỆT NAM

    1. Trong chế độ phong kiến

    Năm 1007, vua Lê Ngọa Triều sai em trai là Minh Xưởng cùng Trưởng Thư Ký Hoàng Thành Nhã dâng tê ngưu trắng cho nhà Tống để xin kinh Đại Tạng.

    Năm 1011, Lý Công Uẩn cho thành lập Tàng Kinh Trần Phúc để lưu giữ kinh Đại Tạng do Minh Xưởng mang về.

    Tháng 6 năm 1018, Lý Công Uẩn sai Viên ngoại lang Nguyễn Đạo Thanh và Phạm Hạc sang nước Tống xin kinh Tam Tạng.

    Năm 1021 cho làm nhà Bát giác chứa kinh.

    Năm 1023 cho chiếu chép kinh Tam Tạng để ở kho Đại Hưng.

    Tháng 8 – 1034, vua Lý Thái Tông sai dựng kho Trùng Hưng và đến Tháng 2 – 1036 xuống chiếu chép Kinh Đại Tạng cất giữ tại nơi này.

    Năm 1078 vua Trần Nhân Tông cho xây dựng Bí Thư các bên cạnh Quốc Tử Giám

    Năm 1384 – dưới thời vua Dụ Tông – thư viện Lạn Kha được thành lập trên núi Phật Tích ( Bắc Ninh).

    Năm 1416 nhà Minh sang thu lấy các loại sách ghi chép những sự tích xưa nay của ta.

    Năm 1789, Vua Quang Trung đã lập Sùng Chính viện, là nơi lưu trữ sách vở và dịch thuật.

    Năm 1821 nhà Nguyễn thành lập Quốc sử quán và sau này cũng cho xây dựng 1 số thư viện nhà nước như Tàng thư lâu, Tụ Khê thư viện, Tân thư viện,…

    2. Thời Pháp Thuộc

    Năm 1898 thực dân Pháp ra quyết định thành lập thư viện thuộc Trường Viễn Đông Bác Cổ.

    Ngày 29/11/1917, Pháp cho thành lập Thư viện TW thuộc nha lưu trữ và Thư viện Đông Dương tại Tràng Thi, Hà Nội.

    Ngày 31/01/1922, Sở lưu chiếu thuộc Thư Viện TW Đông Dương được thành lập.

    Ngày 9/7/1953, Thư viện TW Hà Nội được sáp nhập vào Viện Đại học HN, đổi tên là Tổng TV HN và trở thành 1 cơ quan văn hóa hỗn hợp Pháp-Việt.

    Năm 1954, trước khi rút chạy khỏi miền Bắc, Pháp đã ra lệnh di chuyển Tổng TV vào miền Nam. Tuy nhiên chúng chỉ kịp chuyển đi gần 1000 hòm với khoảng 50 – 60 ngàn bản sách và báo chí.

    3.Trong chế độ XHCN

    A. Thời kì từ tháng 9-1945 đến tháng 10-1954

    8/9/1945 Bộ trưởng Bộ Nội Vụ Võ Nguyên

    Giáp đã kí sắc lệnh giao cho Bộ Trưởng Bộ

    Quốc Gia giáo dục quản lí các thư viện công

    (trừ những thư viện phụ thuộc các công

    sở) đồng thời chính phủ cũng ra Sắc

    lệnh số 21 bổ nhiệm Ngô Đình Nhu làm

    Giám đốc Nha Lưu trữ công văn và TV

    toàn quốc, sau đó thì ngày 21/09/1945

    các TV công được giao cho Giám đốc ĐH

    vụ quản lý.

    20/10/1945, Bộ trưởng Bộ QGGD ra quyết định đổi tên Thư Viện TW Đông Dương thành Quốc Gia TV.

    31/1/1946 Hồ Chủ Tịch ký sắc lệnh 18-SL đặt thể lệ nộp lưu chiểu văn hóa phẩm của các nhà xuất bản, nhà in (10 bản) cho TVQG để lưu trữ lâu dài.

    Trong 9 năm kháng chiến chống Pháp, nhà nước ta ít ban hành các VBPQ về công tác thư viện.

    B. Từ tháng 10-1954 đến 1965

    Ngày 28-1-1955 Phó Thủ Tướng chính phủ Phạm Văn Đồng ký nghị định số 446 – TTg chuyển việc quản lý TVTW thuộc Bộ GD sang Bộ Tuyên Truyền.

    Ngày 20-9-1955 Quốc Hội ra quyết định đổi tên Bộ Tuyên Truyền thành Bộ Văn Hóa.

    Ngày 11-6-1957 Bộ Văn Hóa ra chỉ thị số 599 về việc lưu chiểu văn hóa phẩm.

    Năm 1959 Bộ Văn Hóa ra chỉ thị cho các sở VH xây dựng các thư viện kết nghĩa.

    Sau 30-4-1975 thì các TV này được chuyển vào miền Nam.

    Ngày 29-5-1958 Bộ Văn Hóa ra Chỉ thị số 8 CT/VH về vấn đề chấn chỉnh phương châm, nhiệm vụ và tính chất của mạng lưới TV.

    Ngày 12-5-1960 ra chỉ thị số 802 VH/VP về việc tăng cường lãnh đạo công tác thư viện.

    Ngày 13-6-1961 Thủ Tướng Chính Phủ ra Chỉ thị số 242 về việc đẩy mạnh công tác văn hóa quần chúng trong các xí nghiệp, công trường, nông trường.

    Ngày 9-4-1962 ra chỉ thị số 45-TTg về công tác tổ chức văn hóa ở nông thôn.

    C. Từ 1965 đến 1975

    – Các VBPQ hiện hành đều nêu lên nội dung hoạt động của TV trong thời chiến và các biện pháp thực hiện để không ngừng nâng cao chất lượng công tác phục vụ của TV nhằm đáp ứng yêu cầu phục vụ sản xuất, chiến đấu trước mắt và đặt cơ sở phát triển mạnh mẽ sự nghiệp TV trong tương lai.

    – Đáng chú ý trong giai đoạn này có QĐ số 178-CP ban hành ngày 16-9-1970 về công tác TV, theo đó chia TV ở nước ta thành 2 loại chính : Khoa học và Phổ thông.

    Ngày 17-3-1971, Bộ Văn Hóa

    ra Thông tư số 30-VH/TT hướng

    dẫn thi hành Quyết định 178-CP

    về công tác thư viện. Thông tư

    nêu lên tầm quan trọng của

    hoạt động công tác, đề ra

    phương hướng phát triển

    sự nghiệp TV trong thời

    gian tới. Và quá trình này

    sẽ được tiến hành theo 3

    bước cụ thể.

    D. Từ năm 1976 đến năm 1985

    1 trong những VBPQ quan trọng thời kỳ này là QĐ 401-TTg ngày 9-10-1976 của Thủ tướng Chính phủ “Về chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của TVQGVN”

    Ngày 23-7-1977 Bộ VH ra Chỉ thị số 123 CT/VH về việc phát triển hệ thống TV công cộng ở các tỉnh phía Nam

    Ngày 5-11-1977 ra QĐ số 172 VH/QĐ : Quy chế tổ chức và hoạt động của TV tỉnh, thành phố trực thuộc TW.

    – Ngày 29-8-1979 ban hành

    QĐ số 115 VH/QĐ “Quy chế

    tổ chức và hoạt động của

    TV huyện”.

    – Ngày 31-7-1979 Bộ

    Giáo Dục ban hành QĐ

    947-QĐ “Quy chế tổ

    chức và hoạt động của

    TV trường Phổ thông”‘

    D. Từ năm 1986 đến nay

    Ngày 15-7-1987 Bộ VH ra

    Chỉ thị 1499 VH/CT về việc nâng

    cao chất lượng hoạt động hệ

    thống TV công cộng nhằm phục

    vụ đắc lực cho nghị quyết

    đại hội VI.

    Ngày 30-7-1987 ra Thông

    tư số 147/VH-TT về việc

    hướng dẫn thực hiện quy

    chế tổ chức và hoạt động

    của TV cấp huyện.

    Ngày 9-5-1989, Bộ VHTT đã ban hành Thông tư số 20/VH-TT hướng dẫn xếp hạng TV các ngành, các cấp, trong đó đưa ra các tiêu chuẩn cụ thể và cách xếp hạng TV.

    Ngày 17-1-1989 Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng ra chỉ thị 321-CP về việc ngân sách Nhà nước (cả TW và địa phương) cấp 100% chi phí cho sự nghiệp đào tạo, bảo tàng, thư viện…

    Ngày 14-9-1989 Bộ VH ra chỉ

    Thị số 44/VH-TT về việc đảm

    bảo sự hoạt động bình

    thường của các TV.

    Ngày 8-5-1989 Bộ VH

    ra công văn 625/VH-TT

    về việc thu lệ phí và

    hoạt động dịch vụ của

    các TV tỉnh, thành; công

    văn 626 về việc chỉ đạo kết

    hợp TV xã với TV trường

    PTCS.

    Ngày 15-6-1990 Bộ

    VHTTTTDL cùng Bộ Tài

    chính ra Thông tư liên bộ

    số 97 về chính sách đầu

    tư của nhà nước đối với

    TV công cộng.

    Ngày 12-12-1991, Bộ

    VHTT ra Chỉ thị số 2159

    về việc tổ chức phục vụ

    sách báo cho thiếu nhi.

    Ngày 19-1-1993 Thủ tướng

    Chính phủ đã ra quyết định số

    25/TTg về 1 số chính sách nhằm

    xây dựng và đổi mới sự nghiệp

    văn hóa, văn nghệ.

    Ngày 6-11-1993 Chính

    Phủ ban hành Nghị định

    77-CP quy định chi tiết

    Luật Xuất bản được

    QH thông qua ngày

    7-7-1993.

    Ngày 4-8-1993

    Chính Phủ ra Nghị

    Quyết 49/CP về

    phát triển CNTT

    Trong những năm

    1990.

    Ngày 7-4-1995 Thủ

    Tướng phê duyệt QĐ

    211/TTg Chương trình

    quốc gia về CNTT.

    Ngày 23/5/1997 ra QĐ số 343-TTg về việc xây dựng Chiến lược Phát triển KH-CN Việt Nam đến năm 2022, phục vụ CNH-HĐH đất nước.

    Ngày 28-11-1995 Bộ VHTT đã ra QĐ số 3347 về việc quy định chức năng nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Vụ TV.

    Ngày 14-2-1997, Chính phủ ra thông tư số 49/TCCP-TT hướng dẫn bổ sung chế độ phụ cấp trách nhiệm với bảo tàng và TV thuộc ngành Văn hóa-Thông tin, sau đó ra công văn số 2621 về phụ cấp độc hại nguy hiểm

    Ngày 17-6-1997, Bộ VH ra thông tư 46 TT/VHTT về việc thực hiện chế độ phụ cấp nặng nhọc, độc hại và nguy hiểm của Ngành VH – TT.

    Ngày 11-7-1997 ra công văn số 2241/TC-CV về việc hướng dẫn bồi thường bằng hiện vật cho lao động ngành VH-TT trong môi trường độc hại.

    Tiếp tục kiện toàn bộ máy nhà nước, ngày 17-3-1997 Bộ VH ra QĐ 579 /TC-QĐ về chức năng, nhiệm vụ và tổ chức bộ máy của TVQGVN.

    Ngày 11-1-2001 công bố Pháp lệnh TV.

    Ngày 6-8-2002, Chính phủ ban hành NĐ số 72/2002/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành PLTV.

    Ngày 4-3-2002 Bộ VH và Bộ TC ra Thông tư liên tịch số 04/2002/TTLT/BVHTT-BTC sửa đổi bổ sung 1 số QĐ tại thông tư số 97 TTLT/VHTTTTDL-TC ngày 15-6-1990 “Hướng dẫn chế độ quản lý tài chính và chính sách đầu tư của Nhà nước đối với TV công cộng.

    Ngày 1-6-2001, Bộ trưởng Bộ VH-TT ra Chỉ thị số 57/2001/CT-BVHTT về tăng cường

    công tác TV trong các TV,

    Trường Đại Học, Cao Đẳng trực

    thuộc Bộ VH-TT.

    Đối với các loại hình TV khác

    Trước kia TV trường học được Chính phủ giao cho Bộ VH quản lý, nhưng đến năm 1967 thì sự quản lý này được giao cho Bộ GD.

    Năm 1968, Cục Xuất bản được thành lập với nhiều nhiệm vụ quan trọng.

    Năm 1969, Bộ GD đã chỉ đạo xây dựng tủ SGK dùng chung.

    Ngày 4-3-1978 ra quyết định số 288/QĐ về tiêu chuẩn TV trường học.

    Ngày 27-2-1990 Thông tư số 07/TTLB được ban hành hướng dẫn định mức chi ngân sách cho sự nghiệp GDPT.

    Ngày 7-12-1992, Bộ GD-ĐT và Ban Tổ chức – Cán bộ Chính phủ ra thông tư 27/TT-LB quy định giảm biên chế cán bộ TV 1 cách mạnh mẽ.

    QĐ 21/TTg ngày 16/1/1993 và QĐ 25/TTg ngày 19/1/1993 của Thủ tướng đề cập tới việc cấp phát sách báo cho các TV Trường học ở vùng sâu vùng xa, trường gặp khó khăn về công tác GD.

    Ngày 6-1-1998 Bộ GD&ĐT ra QĐ số 61/1998/QĐ-BGDĐT về quy chế tổ chức, hoạt động của TV ở trường Phổ Thông.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Qđ Ban Hành Về Quy Chế Thi Đua Khen Thưởng
  • Trả Lời Của Bộ Tư Pháp Về Thế Nào Là Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật, Văn Bản Quy Định Chi Tiết
  • Đề Tài: Hệ Thống Văn Bản Pháp Quy Trong Lĩnh Vực Chất Thải Rắn, 9Đ
  • 2 Văn Bản Pháp Quy Của Bộ Tài Chính Có Hiệu Lực Từ Tháng 8
  • Thẩm Quyền, Hình Thức, Nội Dung Của Văn Bản Pháp Luật
  • Không Chi Trả Tiền Sử Dụng Tài Khoản Thư Viện Pháp Luật Có Bị Truy Cứu Trách Nhiệm ?

    --- Bài mới hơn ---

  • Cấu Thành Tội Phạm: Tội Hủy Hoại Hoặc Cố Ý Làm Hư Hỏng Tài Sản
  • Quy Định Về Tội Hủy Hoại Hoặc Cố Ý Làm Hư Hỏng Tài Sản
  • Tội Huỷ Hoại Hoặc Cố Ý Làm Hư Hỏng Tài Sản Tại Bộ Luật Hình Sự 2022
  • Tội Hủy Hoại, Cố Ý Làm Hư Hỏng Tài Sản Theo Điều 178 Bộ Luật Hình Sự 2022
  • Tội Hủy Hoại Tài Sản Của Người Khác
  • Em lỡ đăng kí thành viên trên trang web thư viện pháp luật, nhân viên ở đó gọi điện thuyết phục làm em đăng kí theo gói sinh viên là 79 ngàn/tháng trong vòng 6 tháng em phải chi trả 474 ngàn. Em đã đồng ý nhưng em không có khả năng chi trả, không biết với số tiền trên em có bị truy cứu về mặt gì không. em cũng chưa bị xử phạt gì bao giờ. Nhờ các anh chị tư vấn giúp em. Em cảm ơn nhiều.

    Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật Hình sự của Công ty luật Minh Khuê

    Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009

    Trường hợp của bạn là đã giao kết hợp đồng bằng lời nói nhưng sau đó bạn vẫn chưa thanh toán với số tiền là 497.000 vnđ. Bạn không nói về thời gian phải trả số tiền này là bao lâu. Tuy nhiên, nếu bạn vừa mới đăng ký dịch vụ mà thấy không có khả năng thanh toán thì có thể báo lại ngay với trang web thư viện pháp luật để hủy dịch vụ. Trong trường hợp bạn đã sử dụng xong dịch vụ mà vẫn không thanh toán được thì với số tiền không trả là 497.000 vnđ và việc bạn chưa từng bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt, chưa bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản thì chưa đủ yếu tố cấu thành tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

    Điều 140. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009

    1. Người nào có một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ bốn triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới bốn triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm:

    a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó;

    b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

    Tuy nhiên, bạn có thể bị khởi kiện dân sự về hành vi này hoặc bị tố cáo và bị xử phạt hành chính theo quy định của Nghị định 167/2013/NĐ-CP

    Điều 15. Vi phạm quy định về gây thiệt hại đến tài sản của người khác

    1. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

    a) Trộm cắp tài sản;

    b) Công nhiên chiếm đoạt tài sản của người khác;

    c) Dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản của người khác;

    d) Sử dụng trái phép tài sản của người khác.

    Rất mong nhận được sự hợp tác!

    Bộ phận tư vấn pháp luật Hình sự – Công ty luật Minh Khuê

    --- Bài cũ hơn ---

  • Luật Mới Về Tội Đánh Bạc 2022? Mức Hình Phạt Khi Đánh Bạc?
  • Cho Mượn Nhà Chơi Đánh Bài Có Phạm Tội Tổ Chức Đánh Bạc
  • Phạm Tội Đánh Bạc Lần Đầu? Mức Phạt Tù Tối Đa Với Tội Đánh Bạc?
  • Mức Xử Phạt Hành Chính Về Hành Vi Đánh Bạc, Gá Bạc
  • Theo Quy Định Tại Điều 26 Nghị Định Số 167/2013, Hành Vi Đánh Bạc, Tội Đánh Bạc, Thuê Luật Sư, Luật Sư Tư Vấn …
  • Tiền Lương – Thư Viện Quản Trị Nhân Sự

    --- Bài mới hơn ---

  • Hạn Mức Rút Tiền Tại Atm Bao Nhiêu 1 Ngày?
  • Tìm Hiểu Về Luật Thi Đấu Của Trò Chơi Csgo
  • Thỏa Thuận Đặt Cọc Tiền Giữ Chỗ Mua Bất Động Sản Có Trái Pháp Luật Không? Bản Chất Như Thế Nào? – Olympic Law
  • Quy Định Chuyển Tiền Ra Nước Ngoài Theo Quy Định
  • Các Giao Dịch Vãng Lai
  •  

    Điều 55

    Tiền lương của người lao động do hai bên thoả thuận trong hợp đồng lao động và được trả theo năng suất lao động, chất lượng và hiệu quả công việc. Mức lương của người lao động không được thấp hơn mức lương tối thiểu do Nhà nước quy định.

    Điều 56

    Mức lương tối thiểu được ấn định theo giá sinh hoạt, bảo đảm cho người lao động làm công việc giản đơn nhất trong điều kiện lao động bình thường bù đắp sức lao động giản đơn và một phần tích luỹ tái sản xuất sức lao động mở rộng và được dùng làm căn cứ để tính các mức lương cho các loại lao động khác.

    Chính phủ quyết định và công bố mức lương tối thiểu chung, mức lương tối thiểu vùng, mức lương tối thiểu ngành cho từng thời kỳ sau khi lấy ý kiến Tổng liên đoàn lao động Việt Nam và đại diện của người sử dụng lao động.

    Khi chỉ số giá sinh hoạt tăng lên làm cho tiền lương thực tế của người lao động bị giảm sút, thì Chính phủ điều chỉnh mức lương tối thiểu để bảo đảm tiền lương thực tế.

    Điều 57

    Chính phủ công bố thang lương, bảng lương để làm cơ sở tính các chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, tiền lương khi làm thêm giờ, làm đêm, ngừng việc, nghỉ hàng năm và các trường hợp nghỉ việc khác của người lao động sau khi lấy ý kiến Tổng liên đoàn lao động Việt Nam và đại diện của người sử dụng lao động.

    Điều 58

    1- Người sử dụng lao động có quyền chọn các hình thức trả lương theo thời gian (giờ, ngày, tuần, tháng), theo sản phẩm, theo khoán nhưng phải duy trì hình thức trả lương đã chọn trong một thời gian nhất định và phải thông báo cho người lao động biết.

    2- Người lao động hưởng lương giờ, ngày, tuần được trả lương sau giờ, ngày, tuần làm việc ấy hoặc được trả gộp do hai bên thoả thuận, nhưng ít nhất 15 ngày phải được trả gộp một lần.

    3- Người lao động hưởng lương tháng được trả lương cả tháng một lần hoặc nửa tháng một lần.

    4- Người lao động hưởng lương theo sản phẩm, theo khoán, được trả lương theo thoả thuận của hai bên; nếu công việc phải làm trong nhiều tháng thì hàng tháng được tạm ứng lương theo khối lượng công việc đã làm trong tháng.

    Điều 59

    1- Người lao động được trả lương trực tiếp, đầy đủ, đúng thời hạn và tại nơi làm việc.

    Trong trường hợp đặc biệt phải trả lương chậm, thì không được chậm quá một tháng và người sử dụng lao động phải đền bù cho người lao động một khoản tiền ít nhất bằng lãi suất tiền gửi tiết kiệm do ngân hàng Nhà nước công bố tại thời điểm trả lương.

    2- Lương được trả bằng tiền mặt. Việc trả lương một phần bằng séc hoặc ngân phiếu do Nhà nước phát hành, do hai bên thoả thuận với điều kiện không gây thiệt hại, phiền hà cho người lao động.

    Điều 60

    2- Người sử dụng lao động không được áp dụng việc xử phạt bằng hình thức cúp lương của người lao động.

    Điều 61

    1- Người lao động làm thêm giờ được trả lương như sau:

    a) Vào ngày thường, được trả lương ít nhất bằng 150% của tiền lương giờ của ngày làm việc bình thường;

    b) Vào ngày nghỉ hàng tuần hoặc ngày lễ, được trả lương ít nhất bằng 200% của tiền lương giờ của ngày làm việc bình thường.

    Nếu làm thêm giờ vào ban đêm thì còn được trả thêm theo quy định tại khoản 2 Điều này.

    Nếu người lao động được nghỉ bù những giờ làm thêm, thì người sử dụng lao động chỉ phải trả phần tiền chênh lệch so với tiền lương giờ của ngày làm việc bình thường.

    2- Người lao động làm việc vào ban đêm quy định tại Điều 70 của Bộ luật này, thì được trả thêm ít nhất bằng 30% của tiền lương làm việc vào ban ngày.

    Điều 62

    Trong trường hợp phải ngừng việc, người lao động được trả lương như sau:

    1- Nếu do lỗi của người sử dụng lao động, thì người lao động được trả đủ tiền lương;

    2- Nếu do lỗi của người lao động thì người đó không được trả lương; những người lao động khác trong cùng đơn vị phải ngừng việc được trả lương theo mức do hai bên thoả thuận nhưng không được thấp hơn mức lương tối thiểu;

    3- Nếu vì sự cố về điện, nước mà không do lỗi của người sử dụng lao động hoặc vì những nguyên nhân bất khả kháng, thì tiền lương do hai bên thoả thuận, nhưng không được thấp hơn mức lương tối thiểu.

    Điều 63

    Các chế độ phụ cấp, tiền thưởng, nâng bậc lương, các chế độ khuyến khích khác có thể được thoả thuận trong hợp đồng lao động, thoả ước tập thể hoặc quy định trong quy chế của doanh nghiệp.

    Điều 64

    Người sử dụng lao động có trách nhiệm trích từ lợi nhuận hàng năm để thưởng cho người lao động đã làm việc tại doanh nghiệp từ một năm trở lên, theo quy định của Chính phủ phù hợp với đặc điểm của từng loại doanh nghiệp.

    Điều 65

    1- Nơi nào sử dụng người cai thầu hoặc người có vai trò trung gian tương tự thì người sử dụng lao động là chủ chính phải có danh sách và địa chỉ của những người ấy kèm theo danh sách những người lao động làm việc với họ và phải bảo đảm việc họ tuân theo quy định của pháp luật về trả công lao động, an toàn lao động và vệ sinh lao động.

    2- Nếu người cai thầu hoặc người có vai trò trung gian tương tự trả thiếu hoặc không trả lương và không bảo đảm các quyền lợi khác cho người lao động, thì người sử dụng lao động là chủ chính phải chịu trách nhiệm trả lương và bảo đảm các quyền lợi đó cho người lao động. Trong trường hợp này, người sử dụng lao động là chủ chính có quyền yêu cầu người cai thầu hoặc người có vai trò trung gian tương tự đền bù hoặc yêu cầu cơ quan Nhà nước có thẩm quyền giải quyết tranh chấp theo quy định của pháp luật.

    Điều 66

    Trong trường hợp sáp nhập, phân chia doanh nghiệp, chuyển quyền sở hữu, quyền quản lý hoặc quyền sử dụng tài sản của doanh nghiệp thì người sử dụng lao động kế tiếp phải chịu trách nhiệm trả lương và các quyền lợi khác cho người lao động. Trong trường hợp doanh nghiệp bị phá sản thì tiền lương, trợ cấp thôi việc, bảo hiểm xã hội và các quyền lợi khác của người lao động theo thoả ước tập thể và hợp đồng lao động đã ký kết là khoản nợ trước hết trong thứ tự ưu tiên thanh toán.

    Điều 67

    1- Khi bản thân hoặc gia đình gặp khó khăn, người lao động được tạm ứng tiền lương theo điều kiện do hai bên thoả thuận.

    2- Người sử dụng lao động tạm ứng tiền lương cho người lao động phải tạm thời nghỉ việc để làm các nghĩa vụ công dân.

    3- Việc tạm ứng tiền lương cho người lao động bị tạm giữ, tạm giam theo quy định của Chính phủ.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Các Quy Định Của Pháp Luật Về Mức Lương Cơ Bản, Mức Lương Tối Thiểu Vùng, Xây Dựng Thang Bản Lương
  • Các Loại Tiền Lương Và Cách Tính Tiền Lương
  • Làm Việc Và Tiền Lương
  • Bộ Tài Chính Nghiên Cứu Cách Quản Lý Tiền Ảo, Tài Sản Ảo
  • Tuyên Bố Tầm Nhìn Chung Việt Nam
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100