Nghị Quyết 42 Xử Lý Tài Sản / TOP #10 ❤️ Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 8/2022 ❣️ Top View | Bac.edu.vn

Xử Lý Nợ Xấu Theo Nghị Quyết 42: Nút Thắt Là Tài Sản Đảm Bảo

Nghị Quyết 42/2017/qh14: Nền Tảng Tạo Cú Hích Xử Lý Nợ Xấu Của Agribank

Nghị Quyết Sửa Đổi, Bổ Sung Một Số Điều Của Nghị Quyết Số 30C/nq

Căn Cứ Nghị Quyết Số 30C/nq

Huyện Ea Kar:tổng Kết 10 Năm Thực Hiện Chương Trình Tổng Thể Cải Cách Hành Chính Nhà Nước

Kết Quả Thực Hiện Chương Trình Tổng Thể Cải Cách Hành Chính Nhà Nước Giai Đoạn 2011

Các chuyên gia cho rằng, để quá trình xử lý nợ xấu mang lại hiệu quả cao hơn, chính quyền địa phương và các cơ quan quản lý cần nhanh chóng, chủ động, tích cực tháo gỡ các vướng mắc.

Đến nay, Nghị quyết 42/2017/QH14 của Quốc hội về thí điểm xử lý nợ xấu (Nghị quyết 42) đã đi được hơn 1/3 chặng đường thực hiện. Dù kết quả đã đạt được là khá rõ nét, nhưng theo các chuyên gia và những người thực hiện xử lý nợ trực tiếp thì vẫn còn một số vướng mắc cần được tháo gỡ để Nghị quyết 42 phát huy hiệu quả cao hơn…

Đi vào thực chất

Chuyên gia tài chính ngân hàng Cấn Văn Lực đánh giá cách thức quản lý, theo dõi, đánh giá nợ xấu có bước tiến rõ nét làm động lực thúc đẩy xử lý nợ xấu theo hướng chủ động và thực chất hơn. Theo đó, tại Đề án 1058 về “Cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng gắn với xử lý nợ xấu giai đoạn 2022-2020,” mục tiêu đưa tỷ lệ nợ xấu gộp (gồm nợ xấu nội bảng, nợ bán cho VAMC chưa được xử lý và nợ xấu tiềm ẩn) về mức 3% đến năm 2022 đã được đưa ra thay cho chỉ tiêu tỷ lệ nợ xấu thường thấy trước đây.

Cũng theo ông Lực, việc đưa ra mục tiêu tỷ lệ nợ xấu gộp đã giúp cho công tác quản lý nợ xấu tại các cơ quan quản lý cũng như tổ chức tín dụng đi vào thực chất hơn, tạo động lực và cả áp lực đối với hệ thống các tổ chức tín dụng trong việc tích cực, chủ động xử lý nợ xấu.

Chính vì vậy, tính đến cuối năm 2022, tỷ lệ nợ xấu nội bảng của các tổ chức tín dụng đã giảm xuống mức 1,89% (so với mức 1,99% cuối năm 2022 và 2,46% cuối năm 2022) và tỷ lệ nợ xấu gộp khoảng 6,67% tổng dư nợ, giảm mạnh so với mức 10,08% vào cuối năm 2022 và 7,36% cuối năm 2022.

Tại buổi công bố kết quả hoạt động quý 1, bà Nguyễn Thị Hồng, Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước cho biết, tính đến cuối tháng Một, ước tính toàn hệ thống các tổ chức tín dụng đã xử lý được 204.400 tỷ đồng nợ xấu, ước đạt trên 40,1% tổng số nợ xấu được xác định theo Nghị quyết 42. Riêng năm 2022 đã xử lý được 113.400 tỷ đồng, trong đó xử lý nợ xấu nội bảng ước đạt 117.200 tỷ đồng.

Bà Hồng cho biết, kết quả xử lý nợ xấu như vậy là rất khả quan. Tỷ lệ nợ xấu nội bảng đang được duy trì dưới 2%.

Các giải pháp xử lý nợ xấu được triển khai đồng bộ cùng với các biện pháp kiểm soát, phòng ngừa nợ xấu mới phát sinh, đã góp phần nâng cao chất lượng tín dụng và giảm tỷ lệ nợ xấu của hệ thống các tổ chức tín dụng.

Còn nhiều vướng mắc

Chủ tịch Hội đồng quản trị VAMC Nguyễn Tiến Đông cho biết, hiện tại, VAMC cũng như tổ chức tín dụng đang gặp một số vướng mắc trong quá trình triển khai theo Nghị quyết 42.

Đơn cử, việc giải quyết tranh chấp theo thủ tục rút gọn rất hạn chế, thứ tự ưu tiên xử lý trong vụ việc có nhiều tài sản thi hành án được hiểu và áp dụng khác nhau. Trong chuyển nhượng dự án bất động sản cũng gặp vướng mắc. Sự hỗ trợ từ chính quyền địa phương vẫn chưa đồng đều do cách hiểu khác nhau, nên có nơi hỗ trợ rất tốt, nhưng có nơi vẫn chưa tích cực…

Ông Đông nhấn mạnh, giải quyết những vấn đề lớn này cần sự vào cuộc chung của toàn hệ thống để chỉnh sửa kịp thời các quy định được đặt ra như Bộ Tài chính có quy định cụ thể về nghĩa vụ thuế như thế nào, Bộ Tài nguyên và Môi trường có hướng dẫn chuyển nhượng dự án bất động sản ra sao…

Theo Nghị quyết 42, quyền thu giữ tài sản bảo đảm đi kèm với điều kiện hồ sơ thế chấp phải có thỏa thuận về điều khoản thu giữ tài sản bảo đảm, trong khi đó tính đến thời điểm Nghị quyết 42 có hiệu lực, nhiều hợp đồng thế chấp chưa có điều khoản này. Vì vậy, các tổ chức tín dụng cần đàm phán với bên vay để điều chỉnh hợp đồng.

Ngoài ra, ngay cả với những khoản vay đáp ứng được điều kiện này thì việc thực hiện quyền thu giữ tài sản bảo đảm của các tổ chức tín dụng vẫn cần đến sự hỗ trợ của cơ quan công an các cấp. Tuy nhiên, đến nay Bộ Công an vẫn chưa có văn bản hướng dẫn về cơ chế, cách thức thực hiện cưỡng chế đối với các trường hợp bên bảo đảm chống đối, không hợp tác. Do đó, việc thu giữ tài sản bảo đảm thành công hay không hiện nay phụ thuộc khá nhiều vào thiện chí của bên vay (bên bảo đảm).

Các chuyên gia cho rằng, để quá trình xử lý nợ xấu và thực hiện Nghị quyết 42 mang lại hiệu quả cao hơn, đáp ứng yêu cầu đề ra, chính quyền địa phương và các cơ quan quản lý cần nhanh chóng, chủ động, tích cực tháo gỡ các vướng mắc nêu trên. Đồng thời, cần nghiêm túc thực hiện đánh giá kết quả thực hiện giữa kỳ vào thời điểm cuối năm 2022…

Hướng Dẫn Viết Bài Thu Hoạch Nghị Quyết 12

Đổi Mới, Nâng Cao Chất Lượng Học Tập, Quán Triệt Nghị Quyết, Chỉ Thị Của Đảng

Nâng Cao Chất Lượng, Hiệu Quả Công Tác Học Tập, Quán Triệt Các Nghị Quyết, Chỉ Thị Của Đảng

Chỉ Thị Là Gì? Thẩm Quyền Ban Hành Chỉ Thị?

Bí Quyết Học Tiếng Trung

Xử Lý Nợ Xấu Theo Nghị Quyết 42 Vẫn Vướng Việc Thu Giữ Tài Sản Đảm Bảo

Ngân Hàng Có Được Thu Giữ Tài Sản Thế Chấp Không?

Những Vướng Mắc Trong Thu Giữ Tài Sản Bảo Đảm Theo Nghị Quyết 42 Của Quốc Hội Và Giải Pháp Xử Lý

Vamc Bắt Đầu Xử Lý Nợ Theo Nghị Quyết 42: Sài Gòn One Tower Bị Thu Giữ Tài Sản Đảm Bảo

Thu Giữ Tài Sản Thế Chấp Của Ngân Hàng Theo Nghị Quyết 42/2017/qh14

Ubnd Xã Quế Long Long Trọng Tổ Chức Lễ Công Bố Nghị Quyết 42/nq

Mới đây, tại Hội nghị tiếp xúc cử tri về kết quả thực hiện Nghị quyết 42/2017/QH14 ngày 21/6/2017 của Quốc hội về thí điểm xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng (Nghị quyết 42) và đề xuất kiến nghị trong thời gian tới, những kết quả đạt được cũng như những khó khăn về tình hình xử lý nợ xấu đã được các đại biểu tham dự phân tích, mổ xẻ.

Thống kê của ngành ngân hàng cho thấy, lũy kế đến 30/6/2019, hệ thống các tổ chức tín dụng (TCTD) đã xử lý được trên 263,51 nghìn tỷ đồng nợ xấu xác định theo Nghị quyết 42. Trong đó, trong 6 tháng đầu năm 2022, đã xử lý được 64,97 nghìn tỷ đồng. Xử lý nợ xấu nội bảng xác định theo Nghị quyết 42 chủ yếu thông qua hình thức khách hàng trả nợ.

Xử lý nợ xấu theo Nghị quyết 42 vẫn vướng việc thu giữ tài sản đảm bảo

Điều này phản ánh ý thức trả nợ của khách hàng đã cải thiện khi TCTD, Công ty quản lý tài sản các TCTD Việt Nam (VAMC) có quyền thu giữ tài sản bảo đảm (TSBĐ) theo Nghị quyết 42. Đây là dấu hiệu tích cực cho thấy Nghị quyết 42 đã và đang phát huy hiệu quả, góp phần tháo gỡ khó khăn, vướng mắc và đẩy mạnh công tác xử lý nợ xấu của hệ thống các TCTD.

Riêng trên địa bàn TP. Hà Nội, lũy kế từ 15/8/2017 đến nay, nợ xấu đã xử lý theo Nghị quyết 42 của các TCTD trên địa bàn là trên 46 nghìn tỷ đồng. Trong đó, xử lý nợ xấu nội bảng là 16,38 nghìn tỷ đồng (chiếm 35,2%); xử lý các khoản nợ xấu đang hạch toán ngoài bảng cân đối kế toán là 8,42 nghìn tỷ đồng (chiếm 18,1%); Nợ xấu đã bán cho VAMC được thanh toán bằng trái phiếu đặc biệt là 21,68 nghìn tỷ đồng (chiếm 46,7%).

Ngoài ra, đến thời điểm 30/6/2019 các TCTD trên địa bàn đã sử dụng 26,45 nghìn tỷ đồng dự phòng rủi ro để xử lý nợ xấu nội bảng theo Nghị quyết 42.

Ông Nguyễn Minh Tuấn – Giám đốc NHNN Chi nhánh TP. Hà Nội cho biết, sau hai năm Nghị quyết 42 đi vào thực tiễn, tỷ lệ nợ xấu có những bước chuyển biến rõ nét, góp phần giảm tỷ lệ nợ xấu trên địa bàn thành phố Hà Nội. Cụ thể, tại thời điểm 31/7/2017 tỷ lệ nợ xấu là 2,8%/ tổng dư nợ; đến 30/6/2019 tỷ lệ nợ xấu giảm xuống còn 2,02%/tổng dư nợ.

Tuy nhiên, theo các TCTD trên địa bàn, mặc dù Nghị quyết 42 đã triển khai gần hai năm nhưng vẫn gặp những khó khăn, vướng mắc trong thu giữ tài sản bảo đảm (TSBĐ); các cơ quan thực thi nhiệm vụ chưa vào cuộc quyết liệt.

Một khó khăn nữa là việc áp dụng thủ tục rút gọn trong giải quyết tranh chấp về nghĩa vụ giao TSBĐ và xử lý TSBĐ đang rất khó khăn; hay việc nhiều văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất tại Hà Nội chưa áp dụng thực hiện đối với trường hợp TSBĐ phát mại được tạm thời chưa thu thuế…

M.T

“có Nghị Quyết 42 Vẫn Khó Thu Giữ Tài Sản Đảm Bảo”

Quy Định Của Nghị Quyết 42/2017 Về Quyền Thu Giữ Tài Sản Đảm Bảo

Đánh Giá Kết Quả Thực Hiện Nghị Quyết 42

Ninh Bình Tổng Kết Nghị Quyết Số 42 Và Nghị Quyết Số 11 Của Bộ Chính Trị

Tổng Kết Nghị Quyết 42 Và Nghị Quyết 11 Của Bộ Chính Trị (Khóa Ix)

Xử Lý Tài Sản Bảo Đảm Theo Nghị Quyết 42: Ách Tắc Khâu Kê Khai Thuế Và Nộp Thuế

Xử Lý Tài Sản Bảo Đảm Theo Nghị Quyết Về Xử Lý Nợ Xấu: Vẫn Còn Những Điểm Trừ

Quy Định Của Pháp Luật Hiện Hành Về Xử Lý Tài Sản Thế Chấp

Tiếp Tục Xử Lý Nợ Xấu Theo Nghị Quyết 42

Kiến Nghị Vướng Mắc Nghị Quyết 42

11 Khó Khăn, Vướng Mắc Trong Quá Trình Xử Lý Nợ Xấu Theo Nghị Quyết 42

Xử lý tài sản bảo đảm theo Nghị quyết 42: Ách tắc khâu kê khai thuế và nộp thuế

Luật sư Trần Quang Vinh

(TBKTSG) – Nghị quyết số 42 của Quốc hội về thí điểm xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng (TCTD) có hiệu lực thi hành từ ngày 15-8-2017. Một số TCTD đã thực hiện việc xử lý tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu theo quy định của Nghị quyết 42 như áp dụng biện pháp thu giữ tài sản bảo đảm và xử lý thu hồi nợ.

Các bước thông báo thu giữ tài sản bảo đảm, bán tài sản, công chứng hợp đồng mua bán tài sản, nộp hồ sơ đăng bộ sang tên tại các văn phòng và chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai đang diễn ra thuận lợi. Tuy nhiên, khi đến khâu kê khai thuế thì các hồ sơ đều gặp vướng mắc. Hiện nay, cơ quan thuế, mà cụ thể là các chi cục thuế, không nhận hồ sơ hoặc nhận nhưng cho biết còn phải chờ hướng dẫn của Tổng cục Thuế, cục thuế về việc kê khai thuế và nộp thuế. Một số cơ quan thuế còn khuyên khách hàng là cứ đồng ý nộp thuế thu nhập đi để cơ quan thuế giải quyết cho nhanh.

Tinh thần Nghị quyết 42 là khá rõ ràng trong việc ưu tiên cho việc thu hồi nợ xấu.

Ngoài ra, điều 12 của Nghị quyết 42 còn quy định về thứ tự ưu tiên thanh toán khi xử lý tài sản bảo đảm như sau: “Số tiền thu được từ xử lý tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu, sau khi trừ chi phí bảo quản, thu giữ và chi phí xử lý tài sản bảo đảm được ưu tiên thanh toán cho nghĩa vụ nợ được bảo đảm cho TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức mua bán, xử lý nợ xấu trước khi thực hiện nghĩa vụ thuế, nghĩa vụ khác không có bảo đảm của bên bảo đảm. Trường hợp một tài sản được dùng để bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ thì thứ tự ưu tiên thanh toán giữa các bên cùng nhận bảo đảm thực hiện theo quy định của pháp luật”.

Như vậy, tinh thần Nghị quyết 42 là khá rõ ràng trong việc ưu tiên cho việc thu hồi nợ xấu. Tuy nhiên, hiện nay đa số các cơ quan thuế đều chọn giải pháp thận trọng là chờ có hướng dẫn cụ thể của Tổng cục Thuế rồi mới giải quyết hồ sơ. Trong khi, trên thực tế, có những trường hợp người mua tài sản bảo đảm phải đi vay tiền, họ phải trả lãi vay trong khi tài sản chưa sang tên được thì không thể đưa vào khai thác và sử dụng.

Ngoài ra, vì điều 12 của nghị quyết có nói ưu tiên thu nợ xấu trước khi thực hiện nghĩa vụ thuế, nghĩa vụ khác không có bảo đảm… nên có thể hiểu tinh thần của điều này là sau khi TCTD thu nợ từ xử lý tài sản bảo đảm mà vẫn còn dư thì sẽ ưu tiên thu thuế cho ngân sách rồi mới đến thực hiện các nghĩa vụ không có bảo đảm khác. Do đó, nghị định cần quy định vẫn phải thực hiện việc kê khai thuế trên các tờ khai thuế theo biểu mẫu tờ khai hiện hành, đồng thời cho phép bên nhận bảo đảm là TCTD được quyền kê khai thay cho bên bảo đảm và TCTD được ký tên, đóng dấu trên các tờ khai này. Ngoài ra, cho phép bên nhận bảo đảm được quyền chủ động trích từ tiền bán tài sản bảo đảm còn dư (sau khi thu hồi nợ xấu) để nộp thuế, phí, lệ phí. Sau đó số tiền còn lại (nếu có) mới được hoàn trả cho bên bảo đảm.

Về các loại hồ sơ, giấy tờ cần nộp khi thực hiện đăng bộ, sang tên, kê khai thuế và nộp thuế, nghị định cần có hướng dẫn cụ thể theo hướng đơn giản hóa hơn so với thủ tục mua bán thông thường để đảm bảo áp dụng thống nhất trong cả nước nhằm tránh trường hợp mỗi cơ quan, ban ngành địa phương khác nhau lại yêu cầu những loại giấy tờ khác nhau. Đồng thời, quy định về thời gian giải quyết hồ sơ cũng cần được rút ngắn hơn so với thủ tục thông thường nhằm phát huy tính mục tiêu/hiệu quả của Nghị quyết 42 là hỗ trợ công tác xử lý nợ xấu được nhanh chóng và triệt để hơn.

Nho Quan Tổng Kết Nghị Quyết Số 42 Nq Tw Và Nghị Quyết Số 11 Nq Tw Của Bộ Chính Trị

Tháo Gỡ Khó Khăn, Vướng Mắc Trong Triển Khai Nghị Quyết Số 42

Đẩy Mạnh Tuyên Truyền Triển Khai Nghị Quyết Số 42 Nq

Cơ Quan Nào Kê Khai, Chi Trả Hỗ Trợ Các Đối Tượng Của Nghị Quyết 42/nq

Rà Soát Nhóm Lao Động Tự Do Theo Nghị Quyết Số 42/nq

Vamc Bắt Đầu Xử Lý Nợ Theo Nghị Quyết 42: Sài Gòn One Tower Bị Thu Giữ Tài Sản Đảm Bảo

Thu Giữ Tài Sản Thế Chấp Của Ngân Hàng Theo Nghị Quyết 42/2017/qh14

Ubnd Xã Quế Long Long Trọng Tổ Chức Lễ Công Bố Nghị Quyết 42/nq

Hà Nội Triển Khai Gói Hỗ Trợ An Sinh Xã Hội: Kịp Thời, Đúng Đối Tượng!

Triển Khai Gói An Sinh Xã Hội Cần Linh Hoạt, Phù Hợp Với Đặc Thù Địa Phương

Triển Khai Gói Hỗ Trợ An Sinh Xã Hội Theo Nghị Quyết 42 Của Chính Phủ: Chặt Chẽ, Chính Xác, Kịp Thời

VAMC bắt đầu khởi động thu giữ tài sản đảm bảo để xử lý nợ xấu theo NQ42

Theo VAMC, việc thu giữ được thực hiện Nghị quyết số 42/2017/QH14 của Quốc hội về thí điểm xử lý nợ xấu của các Tổ chức tín dụng; Chỉ thị số 32/CT-TTg ngày 19/7/2017 của Thủ tướng Chính phủ; Chỉ thị số 06/CT-NHNN ngày 20/7/2017 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về việc thực hiện Nghị quyết số 42, ngày 21/8/2017.

Trước đó, VAMC đã ký Hợp đồng mua nợ với một số tổ chức tín dụng đối với khoản nợ của nhóm khách hàng bao gồm: Công ty CP Sài Gòn One Tower (trước đây là Công ty CP Địa Ốc Sài Gòn M&C); Công ty CP Đầu tư Liên Phát; Công ty CP TVĐT và XD Minh Quân; Công ty CP Tân Superdeck M&C với tổng dư nợ (gốc và lãi) đến thời điểm hiện nay đã lên trên 7.000 tỷ đồng. Mặc dù VAMC đã nhiều lần có văn bản đôn đốc, làm việc và yêu cầu nhóm khách hàng nêu trên thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Tuy nhiên khách hàng không thực hiện và cũng không có phương án trả nợ khả thi.

VAMC đã yêu cầu Công ty CP Sài Gòn One Tower bàn giao tài sản bảo đảm để thực hiện nghĩa vụ bảo đảm đối với toàn bộ nghĩa vụ của các khách hàng gồm Công ty Cổ phần Sài gòn One Tower, Công ty CP Đầu tư Liên Phát, Công ty CP TV ĐT và XD Minh Quân, Công ty CP Tân Superdeck M&C. Đến nay, Công ty CP Sài Gòn One Tower vẫn không thực hiện bàn giao tài sản.

Vì vậy, VAMC đã triển khai thu giữ tài sản bảo đảm là Dự án đầu tư Cao ốc phức hợp Sài Gòn M&C tại địa chỉ 34 Tôn Đức Thắng, Quận 1, TP. Hồ Chí Minh để xử lý nhằm thu hồi nợ. Quá trình thu giữ đã tuân thủ theo đúng trình tự quy định tại Điều 7 Nghị quyết 42 của Quốc hội về thí điểm xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng.

Trong quá trình thu giữ, VAMC đã nhận được sự phối hợp tích cực của các cơ quan chức năng cũng như chính quyền địa phương. Quá trình thu giữ tài sản bảo đảm đã diễn ra thuận lợi và đúng theo quy định của pháp luật.

Xác định đây là khoản nợ lớn, việc VAMC thực hiện thu giữ tài sản bảo đảm sẽ góp phần triển khai có hiệu quả Nghị quyết số 42 để xử lý nhanh, dứt điểm nợ xấu và tài sản bảo đảm của nợ xấu thuộc phạm vi điều chỉnh của Nghị quyết 42, đồng thời mang tính cảnh báo đến các khách hàng có nợ xấu nhằm nâng cao ý thức trả nợ của khách hàng cho VAMC cũng như TCTD.

Những Vướng Mắc Trong Thu Giữ Tài Sản Bảo Đảm Theo Nghị Quyết 42 Của Quốc Hội Và Giải Pháp Xử Lý

Ngân Hàng Có Được Thu Giữ Tài Sản Thế Chấp Không?

Xử Lý Nợ Xấu Theo Nghị Quyết 42 Vẫn Vướng Việc Thu Giữ Tài Sản Đảm Bảo

“có Nghị Quyết 42 Vẫn Khó Thu Giữ Tài Sản Đảm Bảo”

Quy Định Của Nghị Quyết 42/2017 Về Quyền Thu Giữ Tài Sản Đảm Bảo

Nghị Quyết 42 Về Xử Lý Nợ Xấu

Nghị Quyết Của Bộ Chính Trị Về Xây Dựng Và Phát Triển Tỉnh Thanh Hoá Đến Năm 2030, Tầm Nhìn Đến Năm 2045

Triển Khai, Thực Hiện Nghị Quyết Số 58

Nghị Quyết 58 Của Bộ Chính Trị: Thời Cơ, Vận Hội Mới Đến Với Thanh Hoá

Đưa ‘nghị Quyết Thanh Hóa’ Của Bộ Chính Trị Vào Cuộc Sống

6 Lý Do Để Bộ Chính Trị Ban Hành Nghị Quyết Số 58 “về Xây Dựng Và Phát Triển Tỉnh Thanh Hóa Đến Năm 2030, Tầm Nhìn Đến Năm 2045”

Ngoài ra, không sử dụng ngân sách nhà nước để xử lý nợ xấu. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật để xảy ra nợ xấu và trong quá trình xử lý nợ xấu phải chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật.

Nghị quyết sẽ có hiệu lực trong vòng 5 năm, áp dụng đối với toàn bộ nợ xấu tính đến thời điểm trước khi Nghị quyết có hiệu lực (trước ngày 15/08). Bên cạnh những ưu điểm, một số quy định của Nghị quyết vẫn gây nhiều quan ngại về khả năng thực thi và cần có Thông tư hướng dẫn thực hiện chi tiết. Do vậy, mặc dù đánh giá cao sự cần thiết của Nghị quyết đối với mục tiêu giảm lãi suất của Thủ tướng Chính phủ nói chung và tháo gỡ phần nào khó khăn trong việc xử lý nợ cho các ngân hàng nói riêng, nhiều chuyên gia cho rằng vẫn cần bổ sung thêm các văn bản nhằm hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cho việc xử lý nợ.

Theo Chuyên gia tài chính, TS. Cấn Văn Lực, có rất nhiều vấn đề sẽ được giải quyết nhờ Nghị quyết về xử lý nợ xấu. Ví dụ như các khoản nợ xấu phải được mua bán theo cơ chế thị trường, đặc biệt cho phép các công ty định giá độc lập định giá nợ và tài sản thế chấp, cho phép phần chênh lệch so với sổ sách được phân bổ trong 10 năm, đặc biệt là phần tài sản đảm bảo được xử lý khá tích cực.

“Có 2 việc cần hết sức khẩn trương. Thứ nhất là rất nhiều văn bản sẽ phải được ban hành, thứ hai là phải xác định được quy mô chính xác hơn về nợ xấu,” TS. Cấn Văn Lực nói.

“Bởi vì trong Nghị quyết của Quốc hội cũng có một số tiêu chuẩn về nợ xấu rõ ràng, cụ thể hơn. Như vậy, rõ ràng đó là tín hiệu tích cực đối với hệ thống ngân hàng. Tôi tin tưởng rằng khi các bộ ngành vào cuộc xử lý rất quyết liệt thì sẽ có những kết quả tích cực, bản thân các ngân hàng cũng đang tiến hành rà soát phân loại nợ xấu.

“Điều thứ hai là đã tái lập những công ty mua bán nợ của ngân hàng. Những công ty này trước đây đã có nhưng hiện nay đã tái hoạt động. Các công ty này sẽ tham gia vào quá trình mua bán nợ. Lượng nợ xấu chiếm 10% dư nợ tín dụng sẽ tốn khoảng vài năm nữa để giải quyết xong và đưa nợ xấu xuống còn 3%”.

Nghị quyết có thể không chỉ giúp các ngân hàng giải quyết các tài sản tồn đọng không sinh lãi mà còn có thể mang lại các khoản lợi nhuận bất thường thông qua hoàn nhập dự phòng một khi khoản nợ xấu được xử lý. Do đó, theo Chuyên gia kinh tế, TS. Nguyễn Minh Phong, Nghị quyết xử lý nợ xấu chỉ có tác dụng đối với các khoản nợ xấu đến ngày 15/8, nên các nhà đầu tư chứng khoán phải chọn những ngân hàng nào có nhiều bất động sản có giải chấp trước 15/8.

Cũng theo ông Phong, để đảm bảo an toàn cho thị trường từ nay đến cuối năm, Nhà nước phải quản lý chặt nợ vay dưới chuẩn. Bên cạnh đó, cần nâng trách nhiệm của các ngân hàng có vấn đề.

Theo Ngân Giang

Nghị Quyết 42/2017/qh14 Thí Điểm Xử Lý Nợ Xấu Các Tổ Chức Tín Dụng

Nghị Quyết Số 326/2016/ubtvqh14 Ngày 30

Nghị Quyết 326: 7 Lưu Ý Quan Trọng Về Án Phí, Lệ Phí Toà Án

Nghị Quyết 326/2016/ubtvqh14 Quản Lý Và Sử Dụng Án Phí Và Lệ Phí Tòa Án

Nghị Quyết 326 Về Án Phí Là Gì ?

Xử Lý Nợ Xấu Theo Nghị Quyết 42/2017/qh14: Tắc Thu Hồi Tài Sản Đảm Bảo, Tái Xuất Tâm Lý Chây Ỳ

Tập Huấn Triển Khai Kế Hoạch Thực Hiện Nghị Quyết Số 42/nq

Nghị Quyết Số 42 Về Quy Hoạch Cán Bộ

Nghị Quyết Của Đảng Ủy Trường Về Công Tác Quy Hoạch Cán Bộ

Tổng Kết Nghị Quyết 42 Và Nghị Quyết 11 Của Bộ Chính Trị (Khóa Ix)

Ninh Bình Tổng Kết Nghị Quyết Số 42 Và Nghị Quyết Số 11 Của Bộ Chính Trị

Những khó khăn trong xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng và VAMC đã được tập hợp để báo cáo Thủ tướng.

TS. Cấn Văn lực, Chuyên gia kinh tế trưởng Ngân hàng BIDV cho biết, tính từ khi Nghị quyết 42/2017/QH14 về thí điểm xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng có hiệu lực (ngày 15/8/2017) đến cuối tháng 6/2019, toàn hệ thống tổ chức tín dụng đã xử lý được khoảng 264.000 tỷ đồng nợ xấu xác định theo Nghị quyết 42, tương đương 52% tổng nợ xấu theo Nghị quyết này. Việc xử lý số nợ xấu này đã kéo tỷ lệ nợ xấu từ gần 7,4% cuối năm 2022 xuống khoảng 5% hiện nay.

“Đơn cử như quyền thu giữ tài sản đảm bảo, dù Nghị quyết 42 cho phép ngân hàng được thu giữ tài sản đảm bảo, song thực tế, nếu không có sự chấp thuận của con nợ, ngân hàng không thể thu giữ để xử lý. Thời gian đầu thực hiện Nghị quyết 42, nhiều con nợ hợp tác bàn giao tài sản cho ngân hàng, song gần đây, khi thấy công an, chính quyền, tòa án chậm vào cuộc, các con nợ có xu hướng chây ỳ trở lại, thậm chí còn rủ nhau chây ỳ trả nợ”, lãnh đạo một ngân hàng TMCP lo lắng.

Bên cạnh đó, trách nhiệm của lực lượng công an tham gia quá trình thu giữ tài sản đảm bảo chưa được quy định rõ, nên ở nhiều nơi, công an chưa phối hợp với các tổ chức tín dụng khi thu hồi tài sản đảm bảo.

Được biết, những khó khăn trên của các tổ chức tín dụng và VAMC đã được tập hợp để báo cáo Thủ tướng, các bộ, ngành và tới đây là các đại biểu quốc hội. TS. Cấn Văn Lực cho rằng, nếu không sớm được Quốc hội tháo gỡ, việc xử lý nợ xấu theo Nghị Quyết 42 thời gian tới khó có được đột phá.

Từ đầu năm đến nay, các ngân hàng liên tục chào bán các khối tài sản nợ xấu có giá trị hàng trăm, hàng chục ngàn tỷ đồng. Song có ngân hàng đấu giá 5-7 lần chưa thành công, do “chợ” nợ xấu chưa hình thành. Hiện mới chỉ có thị trường mua bán nợ xấu sơ cấp, số lượng giao dịch ít, hoạt động mua bán nợ diễn ra đơn lẻ, thiếu sự liên kết, chia sẻ thông tin.

Được biết, VAMC đang xây dựng Đề án Thành lập Sàn giao dịch nợ xấu, trước mắt đã thống nhất thành lập Câu lạc bộ AMC (gồm VAMC, các công ty mua bán nợ trực thuộc ngân hàng).

Theo kế hoạch, năm 2022-2021, VAMC sẽ chính thức vận hành sàn giao dịch nợ xấu; đẩy mạnh hoạt động của sàn giao dịch mua bán nợ xấu và thị trường mua bán nợ xấu tập trung, trong đó VAMC là trung tâm của thị trường. Tuy nhiên, để có thể làm tốt vai trò này, VAMC cần phải được nâng cao năng lực tài chính. Với vốn điều lệ 2.000 tỷ đồng hiện nay, việc mua hàng chục ngàn tỷ đồng nợ xấu theo giá thị trường – theo kế hoạch đề ra của công ty – là rất khó khăn.

“Khi Nghị quyết 42 mới ra đời, ý thức trả nợ của người vay rất tốt. Tuy nhiên, sau 2 năm triển khai, thời gian gần đây, người vay lại có dấu hiệu rủ nhau chây ỳ. Nhiều con nợ cố tình cản trở ngân hàng thu hồi tài sản bằng cách liên tục đơn thư đi kiện. Nếu cơ quan chức năng nhận được đơn thư mà làm theo quy trình cũ thì sẽ rất khó ngăn chặn tâm lý: cứ gửi đơn kiện thì việc thu giữ tài sản hoặc đấu giá sẽ bị dừng lại.

– Bà Phạm Thị Trung Hà, Phó tổng giám đốc Ngân hàng MB

Xử Lý Nợ Xấu Theo Nghị Quyết 42 Còn Vướng Ở Đâu?

Triển Khai Nghị Quyết 42: Ngân Hàng ‘mạnh Dạn’ Xử Lý Nợ Xấu

Nghị Quyết 42 Góp Phần Không Nhỏ Vào Kết Quả Xử Lý Nợ Xấu

Sơ Kết 2 Năm Triển Khai Nghị Quyết 42 Về Xử Lý Nợ Xấu Và Quyết Định 1058 Về Cơ Cấu Lại Các Tctd

Những Vướng Mắc Trong Xử Lý Nợ Xấu Theo Nghị Quyết 42 Và Đề Xuất Tháo Gỡ

Những Vướng Mắc Trong Thu Giữ Tài Sản Bảo Đảm Theo Nghị Quyết 42 Của Quốc Hội Và Giải Pháp Xử Lý

Vamc Bắt Đầu Xử Lý Nợ Theo Nghị Quyết 42: Sài Gòn One Tower Bị Thu Giữ Tài Sản Đảm Bảo

Thu Giữ Tài Sản Thế Chấp Của Ngân Hàng Theo Nghị Quyết 42/2017/qh14

Ubnd Xã Quế Long Long Trọng Tổ Chức Lễ Công Bố Nghị Quyết 42/nq

Hà Nội Triển Khai Gói Hỗ Trợ An Sinh Xã Hội: Kịp Thời, Đúng Đối Tượng!

Triển Khai Gói An Sinh Xã Hội Cần Linh Hoạt, Phù Hợp Với Đặc Thù Địa Phương

Nghị quyết 42 của Quốc hội về thí điểm xử lý nợ xấu của cá Tổ chức tín dụng ra đời đã tạo thuận lợi cho việc xử lý các khoản nợ xấu của các Tổ chức tín dụng. Nhiều Tổ chức tín dụng đã áp dụng triệt để các quy định của Nghị quyết 42 về thu giữ tài sản bảo đảm, mua bán các khoản nợ xấu, cơ cấu lại thời hạn trả nợ, bán tài sản bảo đảm là các dự án bất động sản…để giảm tỷ lệ nợ xấu và tăng tỷ lệ an toàn vốn cho Tổ chức tín dụng. Bên cạnh những thuận lợi thì Nghị quyết 42 cũng bộc lộ một số bất cập cần được sửa đổi. Trong phạm vi của bài viết này chúng tôi muốn đề cập đến vướng mắc trong thu giữ tài sản theo Nghị quyết 42 của Quốc hội và kiến nghị để xử lý các vướng mắc này.

Tổ chức tín dụng được quyền thu giữ tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu khi đáp ứng các điều kiện quy định tại Điều 7 của Nghị quyết 42 của Quốc hội. Trong các điều kiện có quy định tại Hợp đồng bảo đảm có thỏa thuận khi khoản nợ quá hạn và khách hàng vay vốn không trả được nợ thì bên bảo đảm đồng ý để Tổ chức tín dụng được quyền thu giữ tài sản bảo đảm để xử lý thu hồi nợ.Tuy nhiên thực tế thu giữ tài sản bảo đảm phát sinh vướng mắc như sau:

1.1.Hợp đồng bảo đảm không có thỏa thuận về việc thu giữ tài sản bảo đảm nhưng Tổ chức tín dụng và khách hàng vay vốn, bên bảo đảm có thỏa thuận tại Biên bản làm việc về việc cho khách hàng kéo dài thời hạn trả nợ nếu hết thời gian này khách hàng không trả được nợ thì Tổ chức tín dụng sẽ tiến hành thu giữ tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu.

1.2. Hợp đồng bảo đảm chỉ quy định khi khoản nợ quá hạn và khách hang vay vốn không trả được nợ thì Tổ chức tín dụng có quyền áp dụng tất cả các biện pháp xử lý theo quy địnhpháp luật để xử lý tài sản bảo đảm thu hồi nợ.

Hiện nay có hai quan điểm về việc xử lý vướng mắc nêu trên cụ thể:

Quan điểm 1: Không đồng ý thu giữ tài sản bảo đảm vì không tuân thủ điều kiện thu giữ theo Nghị quyết 42 của Quốc hội. Mặc dù khách hàng vay vốn, bên bảo đảm có thỏa thuận về việc thu giữ tài sản nhưng thỏa thuận này không được ghi trong Hợp đồng bảo đảm nên không đủ điều kiện thu giữ. Đối với trường hợp 1.2 do không ghi cụ thể hình thức xử lý là thu giữ tài sản bảo đảm nên cũng không đủ điều kiện thu giữ theo Nghị quyết 42 của Quốc hội.

Quan điểm 2: Đối với mục 1.1 nêu trên đồng ý thu giữ tài sản bảo đảm theo Nghị quyết 42 của Quốc hội. Đối với mục 1.2 thì không đồng ý vì thỏa thuận ghi trong hợp đồng bảo đảm không rõ ràng nên không có căn cứ xác định đủ điều kiện thu giữ theo Nghị quyết 42.

Chúng tôi đồng ý với quan điểm 2 với các lý do sau: bản chất thỏa thuận ghi trong hợp đồng bảo đảm hay ghi trong Biên bản làm việc giữa Tổ chức tín dụng, khách hàng vay vốn và bên bảo đảm đều thể hiện ý chí của bên bảo đảm về việc đồng ý để Tổ chức tín dụng thực hiện quyền thu giữ tài sản bảo đảm khi khách hàng vay vốn không trả được nợ theo thỏa thuận. Sự thỏa thuận này là hoàn toàn tự nguyện, không bị ép buộc, cưỡng ép. Bên cạnh đó bên bảo đảm và Tổ chức tín dụng đã giao kết Hợp đồng bảo đảm và Hợp đồng này được công chứng và đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định pháp luật. Vì vậy, Tổ chức tín dụng được quyền thu giữ tài sản bảo đảm theo Nghị quyết 42 của Quốc hội.

Đối với mục 1.2 không đồng ý thu giữ theo Nghị quyết 42 vì thỏa thuận không chỉ rõ các biện pháp theo quy định của pháp luật gồm biện pháp thu giữ tài sản nên không có căn cứ để thu giữ tài sản bảo đảm theo Nghị quyết 42 của Quốc hội.

2.Về sự phối hợp của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn trong công tác thu giữ tài sản bảo đảm theo Nghị quyết 42 của Quốc hội.

Khoản 5 Điều 7 Nghị quyết 42 quy định như sau:

Chính quyền địa phương các cấp và cơ quan Công an nơi tiến hành thu giữ tài sản bảo đảm, trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình thực hiện việc bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội trong quá trình thu giữ tài sản bảo đảm theo đề nghị của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức mua bán, xử lý nợ xấu. Trường hợp bên bảo đảm không hợp tác hoặc không có mặt theo thông báo của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức mua bán, xử lý nợ xấu, đại diện Ủy ban nhân dân cấp xã nơi tiến hành thu giữ tài sản bảo đảm tham gia chứng kiến và ký biên bản thu giữ tài sản bảo đảm “.

Tuy nhiên thực tế vẫn còn một số Ủy ban nhân dân nơi có tài sản thu giữ chưa thật sự phối hợp, tạo điều kiện cho Tổ chức tín dụng thực hiện quyền thu giữ tài sản bảo đảm theo Nghị quyết 42 của Quốc hội. Biểu hiện của sự không hợp tác, gây khó khăn thể hiện dưới các hình thức sau:

3.Về việc chiếm giữ tài sản bảo đảm khi thu giữ

Bên bảo đảm luôn tìm mọi cách để cản trở Tổ chức tín dụng trong việc thu giữ tài sản, biểu hiện của sự chống đối thể hiện dưới các hành vi sau:

– Sử dụng người già, trẻ em, người có công với cách mạng chiếm giữ tài sản bảo đảm, không ra khỏi tài sản bảo đảm theo yêu cầu của Tổ chức tín dụng;

Theo quy định của Nghị quyết 42 thì lực lượng Công an chỉ có trách nhiệm đảm bảo an ninh trât tự trong khi thu giữ tài sản. Như vậy đối với trường hợp bên bảo đảm không gây mất trật tự, an ninh thì lực lượng Công an cũng không thể buộc bên bảo đảm hay các đôi tượng bên bảo đảm sử dụng để chiếm giữ tài sản phải ra khỏi tài sản theo yêu cầu của Tổ chức tín dụng.

Trong trường hợp này các Tổ chức tín dụng có cách xử lý khác nhau: Có Tổ chức tín dụng dừng việc thu giữ vì đánh giá là không thu được tài sản và chuyển biện pháp khởi kiện khách hàng vay vốn, bên bảo đảm ra Tòa án để phát mại tài sản bảo đảm. Ngược lại có Tổ chức tín dụng thực hiện quyền của bên nhận thế chấp tài sản theo thỏa thuận tại Hợp đồng bảo đảm ‘ yêu cầu bên bảo đảm giao tài sản để xử lý vì bên bảo đảm không thực hiện đúng nghĩa vụ của mình như thoả thuận tại Hợp đồng bảo đảm”. Tổ chức tín dụng thuê lực lượng bảo vệ chiếm giữ tài sản theo hình thức đưa người vào cùng ăn, cùng ở với bên bảo đảm, dùng lời nói, hành vi gây áp lực với bên bảo đảm buộc họ phải ra khỏi tài sản hoặc nộp tiền trả nợ. Tuy nhiên hình thưc này có thể gây rủi ro cho Tổ chức tín dụng khi lực lượng bảo vệ có hành vi trái quy định pháp luật (khóa cửa, nhốt bên bảo đảm không cho ra khỏi tài sản, gây mất trật tự trị an…). Những hành vi này có dấu hiệu tội ” Xâm phạm chỗ ở của người khác” và ” Bắt giữ người trái pháp luật ” và có thể bị xử lý hình sự.

Theo quan điểm của chúng tôi việc Tổ chức tín dụng sử dụng lực lượng bảo vệ thực hiện quyền chiếm giữ tài sản bảo đảm chỉ có thể thực hiện dược khi bên bảo đảm đồng ý bàn giao tài sản cho Tổ chức tín dụng. Trường hợp Tổ chức tín dụng đã yêu cầu bên bảo đảm bàn giao tài sản (theo quy định tại Điều 301 Bộ luật Dân sự năm 2022 và thỏa thuận tại Hợp đồng bảo đảm) mà bên bảo đảm không thực hiện và Tổ chức tín dụng đã thực hiện việc thu giữ tài sản theo Nghị quyết 42 của Quốc hội nhưng chưa chiếm giữ được tài sản thì Tổ chức tín dụng buộc phải khởi kiện ra Tòa án theo quy định tại Điều 301 Bộ luật Dân sự năm 2022 bởi lẽ:

+ Nghị quyết 42 của Quốc hội cho phép các Tổ chức tín dụng được quyền thu giữ tài sản bảo đảm, nhưng không có quy định nào cho phép Tổ chức tín dụng được quyền cưỡng chế buộc bên bảo đảm bàn giao tài sản bảo đảm đối với trường hợp bên bảo đảm không ra khỏi tài sản khi được yêu cầu.

Đối chiếu với quy định nêu trên thì mọi hành vi đưa người vào chiếm giữ tài sản bảo đảm bằng hình thức khóa cửa, hành hung chủ tài sản, gây mất trật tự tại tài sản với mục đích ép chủ tài sản phải ra khỏi tài sản bảo đảm đều là hành vi vi phạm quy định của Bộ luật Hình sự và sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật.

3.Về việc di chuyển tài sản của bên bảo đảm sau khi thu giữ

Thực tế thu giữ tài sản cho thấy có một số trường hợp tài sản trống (bên bảo đảm bỏ tài sản) nhưng bên trong tài sản bảo đảm có nhiều tài sản của bên bảo đảm nhưng không thuộc tài sản thế chấp (giường, tủ, két sắt, bàn làm việc, bàn thờ…) khi Tổ chức tín dụng tiến hành thu giữ tài sản cần phải xử lý đối với các tài sản này để đảm bảo việc bàn giao tài sản cho người trúng đấu giá.

Hầu hết các Tổ chức tín dụng đều thuê Thừa phát lại và chính quyền kiểm đếm và chứng kiến kiểm đếm niêm phong các tài sản của bên bảo đảm, sau đó thông báo cho bên bảo đảm về việc di chuyển tài sản này ra khỏi tài sản bảo đảm trong thời gian nhất định (ví dụ 30 ngày kể từ ngày Tổ chức tín dụng thông báo). Sau thời hạn nêu trên nếu bên bảo đảm không di dời tài sản thì Tổ chức tín dụng sẽ thuê địa điểm và tiến hành di chuyển tài sản về địa điểm trông giữ mà Tổ chức tín dụng đã chuẩn bị. Việc di chuyển tài sản của bên bảo đảm trong nhiều trường hợp mất rất nhiều chi phí đặc biệt bảo quản các tài sản là chất lỏng, chất dễ cháy…

Để việc thu giữ tài sản bảo đảm theo Nghị quyết 42 của Quốc hội được hiệu quả đẩy nhanh quá trình xử lý thu hồi các khoản nợ xấu chúng tôi kiến nghị cần sửa đổi, bổ sung Nghị quyết 42 như sau:

Đối với điều kiện thu giữ tài sản: Nghị quyết 42 cần sửa đổi quy định tại điểm b khoản 1 Điều 7 theo hướng Tổ chức tín dụngđược quyền thu giữ tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu khi đáp ứng các quy định tại Điều 7 của Nghị quyết này, tuy nhiên sửa đổi cụm từ ” tại Hợp đồng bảo đảm có thỏa thuận về thu giữ tài sản bảo đảm” thành “có thỏa thuận về việc thu giữ tài sản bảo đảm bằng văn bản ” giữa Tổ chức tín dụng với Bên bảo đảm.

Về tổ chức thu giữ tài sản: Nghị quyết 42 cần quy định rõ Tổ chức tín dụng sau khi tiến hành đầy đủ thủ tục thu giữ tài sản bảo đảm và đã tiến hành thu giữ nhưng chưa chiếm giữ và quản lý tài sản bảo đảm do bên bảo đảm không ra khỏi tài sản bảo đảm thì phải khởi kiện ra Tòa án có thẩm quyền để phát mại tài sản bảo đảm thu hồi nợ cho Tổ chức tín dụng.

Ngân Hàng Có Được Thu Giữ Tài Sản Thế Chấp Không?

Xử Lý Nợ Xấu Theo Nghị Quyết 42 Vẫn Vướng Việc Thu Giữ Tài Sản Đảm Bảo

“có Nghị Quyết 42 Vẫn Khó Thu Giữ Tài Sản Đảm Bảo”

Quy Định Của Nghị Quyết 42/2017 Về Quyền Thu Giữ Tài Sản Đảm Bảo

Đánh Giá Kết Quả Thực Hiện Nghị Quyết 42

Có Nghị Quyết 42 Vẫn Khó Thu Giữ Tài Sản Đảm Bảo”

Quyền Thu Giữ Tài Sản Bảo Đảm Là Nợ Xấu Được Quy Định Như Thế Nào?

Thu Giữ Tài Sản Bảo Đảm Theo Nghị Quyết 42/2017: Còn Không Ít Vướng Mắc

Thông Báo Kết Quả Kỳ Họp Thứ 9, Hđnd Tỉnh Quảng Nam Khóa Ix, Nhiệm Kỳ 2022

Nghị Quyết An Sinh Xã Hội

Hướng Dẫn Thủ Tục Xin Trợ Cấp Khó Khăn Do Covid

Phó thống đốc Nguyễn Thị Hồng cho biết bên cạnh những kết quả đạt được, quá trình triển khai xử lý nợ xấu theo Nghị quyết 42 của Quốc hội cũng còn một số khó khăn nhất định. Một số bộ, ngành chưa ban hành kịp thời các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn Nghị quyết 42 nên chưa có sự triển khai đồng bộ cũng như phối hợp từ các ngành, các cấp.

Các ngân hàng vẫn đang gặp khó khăn trong việc thu giữ tài sản do khách hàng thiếu hợp tác hoặc sự phản kháng của bên bảo đảm, bên vay. Một số cơ quan chức năng ở nhiều nơi chưa phối hợp, chưa tham gia cùng ngân hàng vì chưa có hướng dẫn để phân công trách nhiệm”, Phó thống đốc Nguyễn Thị Hồng cho biết.

Bà Nguyễn Thị Hồng, Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (Ảnh: Minh Huệ)

Ngay cả, nợ xấu cho vay trong lĩnh vực Bất động sản khó xử lý do việc trả nợ phụ thuộc vào việc xử lý tài sản bảo đảm. Hiện nay, mặc dù đã có Nghị quyết 42 nhưng việc xử lý tài sản bảo đảm tại ngân hàng vẫn còn gặp nhiều khó khăn.

Ví dụ, khách hàng thế chấp quyền tài sản phát sinh từ hợp đồng hợp tác đầu tư với chủ đầu tư để thực hiện dự án bất động sản không phải trực tiếp là chủ dự án.

„Trong khi đó, dự án lại chưa được hoàn thiện nên ngân hàng không thể áp dụng biện pháp thu giữ tài sản để xử lý. Việc xử lý phải thông qua biện pháp khởi kiện, trong trường hợp có bản án thì việc thi hành án để phát mại tài sản là quyền tài sản cũng khó khăn”, bà Hồng cho phân tích.

Một ví dụ khác, khách hàng thế chấp dự án đầu tư, tuy nhiên các dự án đầu tư chưa đầy đủ hồ sơ pháp lý, không đủ điều kiện để áp dụng Điều 10 của Nghị quyết 42 về xử lý tài sản bảo đảm là dự án bất động sản.

Đối với các tài sản bảo đảm không đủ điều kiện áp dụng biện pháp thu giữ, bán nợ hoặc áp dụng thủ tục rút gọn thì ngân hàng buộc phải khởi kiện theo trình tự thông thường. Tuy nhiên, việc này mất rất nhiều thời gian.

„Việc xử lý vụ án, xử lý tài sản thường mất nhiều thời gian, đặc biệt khi các vụ án có nhiều tính tiết phát sinh mới hoặc một trong các bên tuyên bố phá sản… Do đó, các tổ chức tín dụng khó dự báo được kế hoạch, tiến độ xử lý các khoản nợ xấu để đưa vào phương án cơ cấu lại và xử lý nợ xấu”, bà Hồng cho biết thêm.

Bên cạnh đó, điều kiện tài sản đảm bảo được xử lý phải không là tài sản tranh chấp nhưng cho đến nay chưa có hướng dẫn thế nào là tài sản đang tranh chấp. Điều này dẫn đến cách hiểu về tài sản tranh chấp giữa các cơ quan tố tụng tại nhiều nơi, nhiều cấp khác nhau, gây khó khăn khi xử lý tài sản theo Nghị quyết 42.

Để đẩy nhanh tiến trình xử lý nợ xấu, Thống đốc NHNN Lê Minh Hưng đã yêu cầu các đơn vị thuộc NHNN tập trung chỉ đạo các tổ chức tín dụng triển khai hiệu quả Đề án “Cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng gắn với xử lý nợ xấu giai đoạn 2022-2020”.

Theo dõi, giám sát chặt chẽ tiến độ, kết quả thực hiện phương án cơ cấu lại gắn với xử lý nợ xấu đến năm 2022 của các tổ chức tín dụng; đặc biệt là việc thực hiện các giải pháp về nâng cao năng lực tài chính, chất lượng tín dụng, chuyển đổi mô hình kinh doanh, quản trị, điều hành, nâng cao năng lực cạnh tranh và các giải pháp về xử lý nợ xấu, nhất là các giải pháp theo Nghị quyết 42.

Các TCTD tổ chức triển khai quyết liệt, có hiệu quả các nội dung, giải pháp tại phương án cơ cấu lại gắn với xử lý nợ xấu đến năm 2022 đã được phê duyệt, đảm bảo theo đúng lộ trình đề ra.

Xây dựng kế hoạch và đẩy mạnh việc triển khai áp dụng chuẩn mực vốn Basel II, các nguyên tắc quản trị rủi ro theo thông lệ, chuẩn mực quốc tế đi đôi với việc đẩy mạnh triển khai ứng dụng công nghệ thông tin; tăng cường tính minh bạch, công khai trong hoạt động.

Tổ chức triển khai áp dụng toàn diện các biện pháp quy định tại Nghị quyết số 42 để đẩy nhanh tiến độ xử lý nợ xấu, tài sản bảo đảm của các khoản nợ xấu, bảo đảm thực hiện mục tiêu xử lý nợ xấu theo phương án đã được phê duyệt.

Kết Luận Của Chủ Tịch Ubnd Tỉnh Về Triển Khai Thực Hiện Nghị Quyết 42/nq

Hướng Dẫn Triển Khai Thực Hiện Hỗ Trợ Theo Nq 42/nq

Các Nghị Quyết Của Hội Đồng Thẩm Phán Tòa Án Nhân Dân Tối Cao,về Hình Sự ,dân Sự

Sách Các Nghị Quyết Của Hội Đồng Thẩm Phán Tòa Án Nhân Dân Tối Cao

Các Nghị Quyết Của Hội Đồng Thẩm Phán

Xử Lý Tài Sản Bảo Đảm Theo Nghị Quyết Về Xử Lý Nợ Xấu: Vẫn Còn Những Điểm Trừ

Quy Định Của Pháp Luật Hiện Hành Về Xử Lý Tài Sản Thế Chấp

Tiếp Tục Xử Lý Nợ Xấu Theo Nghị Quyết 42

Kiến Nghị Vướng Mắc Nghị Quyết 42

11 Khó Khăn, Vướng Mắc Trong Quá Trình Xử Lý Nợ Xấu Theo Nghị Quyết 42

Những Điểm Nhấn Của Nghị Quyết 42/2017/qh14 Về Xử Lý Nợ Xấu Của Tổ Chức Tín Dụng

Bùi Đức Giang (*)

Một số quy định mới

Điều 10, Nghị quyết 42 đề cập đến việc xử lý tài sản bảo đảm (TSBĐ) là dự án bất động sản. Do điều luật này không quy định dự án Bất động sản thế chấp bắt buộc phải là dự án đầu tư xây dựng nhà ở nên có vẻ gián tiếp thừa nhận giá trị pháp lý của việc nhận thế chấp dự án bất động sản khác như dự án xây dựng khách sạn, khu nghỉ dưỡng, nhà máy, công trình thủy điện… – vốn vẫn là một điểm chưa rõ trong Pháp luật hiện hành. Thực ra dưới góc độ khoa học pháp lý đơn thuần, rất khó có thể coi dự án là một loại tài sản để đưa vào giao dịch và theo thông lệ Quốc tế thì TSBĐ thường là quyền phát sinh từ các hợp đồng thuộc dự án!

Khi xử lý thế chấp dự án bất động sản, tổ chức tín dụng (TCTD) phải chuyển nhượng (bán) dự án này cho một bên thứ ba. Về điểm này, điều 10, Nghị quyết 42 quy định “bên nhận chuyển nhượng dự án phải đáp ứng điều kiện theo quy định của pháp luật về Kinh doanh bất động sản; kế thừa các quyền, nghĩa vụ của chủ đầu tư dự án và tiến hành các thủ tục để tiếp tục thực hiện dự án theo quy định của pháp luật về đầu tư, pháp luật về xây dựng”.

So với quy định của Luật Nhà ở thì quy định này có vẻ linh hoạt và tạo thuận lợi hơn cho việc xử lý dự án được thế chấp. Bởi vì, theo Luật Nhà ở, bên nhận chuyển nhượng dự án ngoài việc phải có đủ điều kiện làm chủ đầu tư dự án nhà ở, còn phải đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao dự án – vốn thường được hiểu là bước bắt buộc trước khi ký hợp đồng chuyển nhượng dự án.

Một điểm đáng chú ý khác là điều 7, Nghị quyết 42 công nhận quyền thu giữ TSBĐ của bên nhận bảo đảm là TCTD. Theo đó, TCTD được thực hiện quyền này nếu: (i) xảy ra trường hợp xử lý TSBĐ (được hiểu là phát sinh căn cứ xử lý TSBĐ); (ii) trong hợp đồng bảo đảm có thỏa thuận về việc bên bảo đảm đồng ý cho TCTD có quyền thu giữ TSBĐ khi xử lý; (iii) giao dịch bảo đảm đã được đăng ký hợp lệ; (iv) TSBĐ không phải là tài sản tranh chấp trong vụ án đã được thụ lý nhưng chưa được giải quyết hoặc đang được giải quyết tại tòa án có thẩm quyền; không đang bị tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời; không đang bị kê biên hoặc áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án theo quy định của pháp luật; và (v) TCTD đã hoàn thành việc công khai thông tin về việc thu giữ TSBĐ.

TCTD có hay không có quyền thu giữ TSBĐ là một vấn đề gây tranh cãi từ thời điểm Bộ luật Dân sự 2022 có hiệu lực (ngày 1-1-2017) bởi cách tiếp cận còn khá “mập mờ” của bộ luật này.

Trong số các điều kiện để thực hiện quyền thu giữ TSBĐ nêu trên thì điều kiện về việc phải có điều khoản hợp đồng theo đó bên bảo đảm đồng ý cho TCTD có quyền thu giữ TSBĐ khi xử lý có thể ít nhiều “làm khó” một số TCTD mà mẫu hợp đồng bảo đảm không có điều khoản dạng này.

Cũng cần lưu ý là điều 7, Nghị quyết 42 đã chính thức quy định: (i) nghĩa vụ của UBND cấp xã nơi tiến hành thu giữ TSBĐ tham gia chứng kiến và ký biên bản thu giữ TSBĐ trong trường hợp bên bảo đảm không hợp tác hoặc không có mặt theo thông báo của TCTD, và (ii) trách nhiệm giữ gìn an ninh, trật tự của cơ quan công an các cấp khi TCTD thực hiện quyền thu giữ TSBĐ.

Còn những điểm trừ?

Thông thường TCTD sẽ thực hiện việc xử lý TSBĐ khi bên vay không trả được nợ gốc và/hoặc lãi (thường ít gặp hơn), tức là khi đã phát sinh nợ quá hạn, bao gồm cả các khoản nợ thuộc nhóm 1 (nợ đủ tiêu chuẩn) và nhóm 2 (nợ cần chú ý). Việc tồn tại song song hai cơ chế pháp lý để xử lý nợ quá hạn là chưa thực sự hợp lý bởi suy cho cùng nợ quá hạn dù thuộc nhóm nào thì việc thu hồi thông qua việc xử lý được một cách hiệu quả TSBĐ cũng cần thiết và đấy chính là khi mà biện pháp bảo đảm phát huy tác dụng.

Nhìn một cách tổng thể, mặc dù còn một số hạn chế song có thể thấy các quy định về giao dịch bảo đảm trong Nghị quyết 42 được thiết kế theo hướng chi tiết hơn, thông thoáng hơn và ít nhiều tạo điều kiện thuận lợi hơn cho TCTD so với quy định hiện hành về giao dịch bảo đảm. Liệu có thể suy nghĩ một cách lạc quan rằng quy định về xử lý TSBĐ trong Nghị quyết 42 sẽ truyền cảm hứng cho việc soạn thảo các văn bản hướng dẫn thi hành Bộ luật Dân sự 2022 hay sửa đổi các hạn chế trong chính các quy định về giao dịch bảo đảm của bộ luật này?

(*) Tiến sĩ Đại học Paris 2, Pháp

Xử Lý Tài Sản Bảo Đảm Theo Nghị Quyết 42: Ách Tắc Khâu Kê Khai Thuế Và Nộp Thuế

Nho Quan Tổng Kết Nghị Quyết Số 42 Nq Tw Và Nghị Quyết Số 11 Nq Tw Của Bộ Chính Trị

Tháo Gỡ Khó Khăn, Vướng Mắc Trong Triển Khai Nghị Quyết Số 42

Đẩy Mạnh Tuyên Truyền Triển Khai Nghị Quyết Số 42 Nq

Cơ Quan Nào Kê Khai, Chi Trả Hỗ Trợ Các Đối Tượng Của Nghị Quyết 42/nq

“có Nghị Quyết 42 Vẫn Khó Thu Giữ Tài Sản Đảm Bảo”

Xử Lý Nợ Xấu Theo Nghị Quyết 42 Vẫn Vướng Việc Thu Giữ Tài Sản Đảm Bảo

Ngân Hàng Có Được Thu Giữ Tài Sản Thế Chấp Không?

Những Vướng Mắc Trong Thu Giữ Tài Sản Bảo Đảm Theo Nghị Quyết 42 Của Quốc Hội Và Giải Pháp Xử Lý

Vamc Bắt Đầu Xử Lý Nợ Theo Nghị Quyết 42: Sài Gòn One Tower Bị Thu Giữ Tài Sản Đảm Bảo

Thu Giữ Tài Sản Thế Chấp Của Ngân Hàng Theo Nghị Quyết 42/2017/qh14

Phó Thống đốc Nguyễn Thị Hồng cho biết bên cạnh những kết quả đạt được, quá trình triển khai xử lý nợ xấu theo Nghị quyết 42 của Quốc hội cũng còn một số khó khăn nhất định. Một số bộ, ngành chưa ban hành kịp thời các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn Nghị quyết 42 nên chưa có sự triển khai đồng bộ cũng như phối hợp từ các ngành, các cấp.

Các ngân hàng vẫn đang gặp khó khăn trong việc thu giữ tài sản do khách hàng thiếu hợp tác hoặc sự phản kháng của bên bảo đảm, bên vay. Một số cơ quan chức năng ở nhiều nơi chưa phối hợp, chưa tham gia cùng ngân hàng vì chưa có hướng dẫn để phân công trách nhiệm”, Phó thống đốc Nguyễn Thị Hồng cho biết.

Bà Nguyễn Thị Hồng, Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (Ảnh: Minh Huệ)

Ngay cả, nợ xấu cho vay trong lĩnh vực bất động sản khó xử lý do việc trả nợ phụ thuộc vào việc xử lý tài sản bảo đảm. Hiện nay, mặc dù đã có Nghị quyết 42 nhưng việc xử lý tài sản bảo đảm tại ngân hàng vẫn còn gặp nhiều khó khăn.

Ví dụ, khách hàng thế chấp quyền tài sản phát sinh từ hợp đồng hợp tác đầu tư với chủ đầu tư để thực hiện dự án bất động sản không phải trực tiếp là chủ dự án.

„Trong khi đó, dự án lại chưa được hoàn thiện nên ngân hàng không thể áp dụng biện pháp thu giữ tài sản để xử lý. Việc xử lý phải thông qua biện pháp khởi kiện, trong trường hợp có bản án thì việc thi hành án để phát mại tài sản là quyền tài sản cũng khó khăn”, bà Hồng cho phân tích.

Một ví dụ khác, khách hàng thế chấp dự án đầu tư, tuy nhiên các dự án đầu tư chưa đầy đủ hồ sơ pháp lý, không đủ điều kiện để áp dụng Điều 10 của Nghị quyết 42 về xử lý tài sản bảo đảm là dự án bất động sản.

Đối với các tài sản bảo đảm không đủ điều kiện áp dụng biện pháp thu giữ, bán nợ hoặc áp dụng thủ tục rút gọn thì ngân hàng buộc phải khởi kiện theo trình tự thông thường. Tuy nhiên, việc này mất rất nhiều thời gian.

„Việc xử lý vụ án, xử lý tài sản thường mất nhiều thời gian, đặc biệt khi các vụ án có nhiều tính tiết phát sinh mới hoặc một trong các bên tuyên bố phá sản… Do đó, các tổ chức tín dụng khó dự báo được kế hoạch, tiến độ xử lý các khoản nợ xấu để đưa vào phương án cơ cấu lại và xử lý nợ xấu”, bà Hồng cho biết thêm.

Bên cạnh đó, điều kiện tài sản đảm bảo được xử lý phải không là tài sản tranh chấp nhưng cho đến nay chưa có hướng dẫn thế nào là tài sản đang tranh chấp. Điều này dẫn đến cách hiểu về tài sản tranh chấp giữa các cơ quan tố tụng tại nhiều nơi, nhiều cấp khác nhau, gây khó khăn khi xử lý tài sản theo Nghị quyết 42.

Để đẩy nhanh tiến trình xử lý nợ xấu, Thống đốc NHNN Lê Minh Hưng đã yêu cầu các đơn vị thuộc NHNN tập trung chỉ đạo các tổ chức tín dụng triển khai hiệu quả Đề án “Cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng gắn với xử lý nợ xấu giai đoạn 2022-2020”.

Theo dõi, giám sát chặt chẽ tiến độ, kết quả thực hiện phương án cơ cấu lại gắn với xử lý nợ xấu đến năm 2022 của các tổ chức tín dụng; đặc biệt là việc thực hiện các giải pháp về nâng cao năng lực tài chính, chất lượng tín dụng, chuyển đổi mô hình kinh doanh, quản trị, điều hành, nâng cao năng lực cạnh tranh và các giải pháp về xử lý nợ xấu, nhất là các giải pháp theo Nghị quyết 42.

Các TCTD tổ chức triển khai quyết liệt, có hiệu quả các nội dung, giải pháp tại phương án cơ cấu lại gắn với xử lý nợ xấu đến năm 2022 đã được phê duyệt, đảm bảo theo đúng lộ trình đề ra.

Xây dựng kế hoạch và đẩy mạnh việc triển khai áp dụng chuẩn mực vốn Basel II, các nguyên tắc quản trị rủi ro theo thông lệ, chuẩn mực quốc tế đi đôi với việc đẩy mạnh triển khai ứng dụng công nghệ thông tin; tăng cường tính minh bạch, công khai trong hoạt động.

Tổ chức triển khai áp dụng toàn diện các biện pháp quy định tại Nghị quyết số 42 để đẩy nhanh tiến độ xử lý nợ xấu, tài sản bảo đảm của các khoản nợ xấu, bảo đảm thực hiện mục tiêu xử lý nợ xấu theo phương án đã được phê duyệt.

Theo báo cáo đánh giá sơ bộ bước đầu của NHNN, ước tính đến ngày 31.12/.2017 xử lý được khoảng trên 50 nghìn tỷ đồng nợ xấu xác định theo Nghị quyết 42. Trong đó, riêng 6 tổ chức tín dụng được lựa chọn tập trung chỉ đạo xử lý nợ xấu, gồm Agribank, BIDV, VietinBank, ACB, Sacombank, Techcombank tính đến 30.11.2017 đã được xử lý là 20,44 nghìn tỷ đồng, bằng 51,3% nợ xấu được xử lý toàn hệ thống.​

Quy Định Của Nghị Quyết 42/2017 Về Quyền Thu Giữ Tài Sản Đảm Bảo

Đánh Giá Kết Quả Thực Hiện Nghị Quyết 42

Ninh Bình Tổng Kết Nghị Quyết Số 42 Và Nghị Quyết Số 11 Của Bộ Chính Trị

Tổng Kết Nghị Quyết 42 Và Nghị Quyết 11 Của Bộ Chính Trị (Khóa Ix)

Nghị Quyết Của Đảng Ủy Trường Về Công Tác Quy Hoạch Cán Bộ