Nghị Quyết Đại Hội Của Đảng / TOP #10 Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 8/2022 # Top View | Bac.edu.vn

Nghị Quyết Đại Hội 12 Của Đảng

--- Bài mới hơn ---

  • Quán Triệt Nghị Quyết Đại Hội Xii Công Đoàn Việt Nam
  • Bài Thu Hoạch Học Tập Nghị Quyết Đại Hội Công Đoàn Lần Thứ 12
  • Đưa Nghị Quyết Đại Hội Công Đoàn Việt Nam Lần Thứ Xii Đến Với Các Cấp Công Đoàn
  • Hội Nghị Trực Tuyến Học Tập, Quán Triệt Nghị Quyết Đại Hội Công Đoàn Việt Nam Lần Thứ Xii
  • Vấn Đề Xây Dựng, Phát Triển Văn Hóa, Con Người Việt Nam Trong Văn Kiện Đại Hội Xii
  • Nghị Quyết Đại Hội Xii Của Đảng, Gắn Với Việc Thực Hiện Nghị Quyết Trung ương 4 Khóa Xii Và Các Chỉ, Một Số Nội Dung Về Nghị Quyết Và Chế Độ Ra Nghị Quyết Lânhx Đạo Của Các Cấp Uỷ Chi Bộ Trong Đảng Bộ, Mẫu Nghị Quyết Miễn Sinh Hoạt Đảng Của Đảng ủy, 3 Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ 5 Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa 12, Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ 4 Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii, Nghị Quyết Đề Nghị Công Nhận Đảng Viên Chính Thức, Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Năm Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii, Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Tư Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii, Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ 5 Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii, Nghị Quyết Số 18-nq/tw Hội Nghị Lần Thứ 6 Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii , Bài Thu Hoạch Qua Học Tập Quán Triệt Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Tư Bch Trung ương Đảng (khóa Xii), ỷ Xxi, Hội Nghị Lần Thứ Tư Ban Chấp Hành Trung ương Đảng (khoá X) Đã Thông Qua Nghị Quyết Số 09-nq/t, Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Năm Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Viii, Bài Thu Hoạch Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ 5 Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii, Bài Thu Hoạch Học Tập Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Tư Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii, Bài Thu Hoạch Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Năm Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii, Nghị Quyết Kết Luận Hội Nghị Lần Thứ Tư Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii, Nghi Quyet So 28 Ngay 25/10/2013 Cua Hoi Nghi Lan Thu 8 Ban Chap Hanh Trung Uong Dang Khoa Xi, Nghị Quyết Số 33-nq/tw, Ngày 9/6/2014, Hội Nghị Lần Thứ 9 Ban Chấp Hành Trung ương Đảng (khóa Xi) Về, Nghị Quyết Số 33-nq/tw, Ngày 9/6/2014, Hội Nghị Lần Thứ 9 Ban Chấp Hành Trung ương Đảng (khóa Xi) Về, Nghị Quyết Đề Nghị Chuyển Đảng Chính Thức Của Chi Bộ, Bài Thu Hoạch Học Tập Quán Triệt Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ 5 Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa 12, Bài Thu Hoạch Quán Triệt Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Năm Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii, Nghị Quyết Xóa Tên Đảng Viên Của Đảng ủy, Vận Động Nhân Dân Giám Sát Thực Hiện Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Sáu Ban Chấp Hành Trung ương Đảng K, Vận Động Nhân Dân Giám Sát Thực Hiện Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Sáu Ban Chấp Hành Trung ương Đảng K, Nghị Quyết Đảng Bộ Về Đề Nghị Kiện Toan, Nghị Quyết Đề Nghị Kết Nạp Đảng Viên, Nghị Quyết 4 Của Đảng, Nghị Quyết Lần Thứ 12 Của Đảng, Nghị Quyết Đại Hội Ix Của Đảng, Nghị Quyết Đại Hội Xii Của Đảng, Nghị Quyết Kết Nạp Đảng, Nghị Quyết Dại Hội Đảng Lần Thứ 11, Nghị Quyết Đảng ủy Xã, Nghị Quyết Của Đảng, Nghị Quyết Đại Hội Đảng Bộ, Nghị Quyết Đh 12 Của Đảng, Chỉ Thị Nghị Quyết Của Đảng, Mẫu Văn Bản Nghị Quyết Của Đảng, Nghị Quyết Dân Vận Của Đảng, Nghị Quyết 12 Của Đảng, Nghị Quyết Xii Của Đảng, Nghị Quyết Xi Của Đảng, Nghị Quyết Đại Hội 12 Của Đảng, Nghị Quyết Đảng ủy, Nghị Quyết X Của Đảng, Nghị Quyết Đại Hội Đảng, Nghị Quyết Đại Hội Đảng 9, Nghị Quyết 6 Của Đảng, Nghị Quyết Đại Hội Đảng Bộ Xã, Nghị Quyết Đại Hội Đảng Lần Thứ 10, Nghị Quyết Đại Hội Đảng Lần Thứ 12, Nghị Quyết Đại Hội Đảng V, Nghị Quyết Mới Của Đảng, Nghị Quyết Ra Khỏi Đảng, Chỉ Thị Nghị Quyết Của Đảng Năm 2022, Nghị Quyết Cho Ra Khỏi Đảng, Nghị Quyết Xây Dựng Đảng, Nghị Quyết Xii Của Đảng Về Giáo Dục, Bài Thi Tìm Hiểu Nghị Quyết 12 Của Đảng, Nghị Quyết Xin Ra Khỏi Đảng, Nghị Quyết Khóa Xii Của Đảng, Mẫu Nghị Quyết Chuyên Đề Của Đảng ủy Xã, Mẫu Nghị Quyết Chuyên Đề Của Đảng ủy, Mẫu Nghị Quyết Chuyên Đề Của Đảng, Nghị Quyết Mới Nhất Của Đảng, Nghị Quyết 9 Của Đảng Bộ Tphcm, Nghị Quyết Kết Nạp Đảng Viên, Nghị Quyết Mới Nhất Của Đảng Về Văn Hóa, Nghị Quyết Năm 2022 Của Đảng, Nghị Quyết 9 Bch Tw Đảng Khóa Xi, Mẫu Dự Thảo Nghị Quyết Đại Hội Đảng Bộ, Nội Dung Nghị Quyết Số 11 Của Đảng, Nghị Quyết Xóa Tên Đảng Viên Dự Bị, Mẫu Bìa Bài Dự Thi Tìm Hiểu Nghị Quyết Đại Hội Đảng, Nghị Quyết Xóa Tên Đảng Viên, Mẫu Bài Thu Hoach Học Tập Nghị Quyết 12 Của Đảng, Dự Thảo Nghị Quyết Đại Hội Đảng, Nghị Quyết Đại Hội Đảng Bộ Thị Xã Hương Trà, Nghị Quyết Đại Hội Đảng Bộ Thành Phố Hà Nội, Dự Thảo Nghị Quyết Đại Hội Đảng Bộ Xã, Dự Thảo Nghị Quyết Đại Hội Đảng Bộ, Dự Thảo Nghị Quyết Đại Hội Đảng 13, 3 Chuyên Đề Nghị Quyết Đại Hội 12 Của Đảng, Viết Bản Thu Học Nghị Quyết Khóa 6 Lần Thứ 12 Của Đảng, Nghị Quyết Đại Hội Đảng Toàn Quốc Lần Thứ 11, Nghị Quyết Kết Nạp Đảng Viên Của Chi Đoàn, Nghị Quyết 9 Của Đảng Cộng Sản Việt Nam, Nghị Quyết Xây Dựng Chỉnh Đốn Đảng, Chấp Hành Nghị Quyết Của Đảng, Nghi Quyet Phat Trien Dang, Nghị Quyết Nhận Xét Đảng Viên Dự Bị, Nghị Quyết Xvi Của Đảng Bộ Tỉnh Hà Giang, Nghị Quyết Đại Hội Đảng Toàn Quốc Lần Thứ 13, Nghị Quyết Đại Hội Đảng Toàn Quốc Lần Thứ 12, Nghị Quyết 35 Về Bảo Vệ Nền Tảng Tư Tưởng Của Đảng, Nghị Quyết Đại Hội Đảng Bộ Tỉnh Đăk Nông, Nghị Quyết Trung Uong Dang Xii, Nghị Quyết Trung ương Số 29-nq/tw Của Đảng,

    Nghị Quyết Đại Hội Xii Của Đảng, Gắn Với Việc Thực Hiện Nghị Quyết Trung ương 4 Khóa Xii Và Các Chỉ, Một Số Nội Dung Về Nghị Quyết Và Chế Độ Ra Nghị Quyết Lânhx Đạo Của Các Cấp Uỷ Chi Bộ Trong Đảng Bộ, Mẫu Nghị Quyết Miễn Sinh Hoạt Đảng Của Đảng ủy, 3 Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ 5 Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa 12, Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ 4 Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii, Nghị Quyết Đề Nghị Công Nhận Đảng Viên Chính Thức, Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Năm Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii, Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Tư Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii, Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ 5 Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii, Nghị Quyết Số 18-nq/tw Hội Nghị Lần Thứ 6 Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii , Bài Thu Hoạch Qua Học Tập Quán Triệt Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Tư Bch Trung ương Đảng (khóa Xii), ỷ Xxi, Hội Nghị Lần Thứ Tư Ban Chấp Hành Trung ương Đảng (khoá X) Đã Thông Qua Nghị Quyết Số 09-nq/t, Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Năm Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Viii, Bài Thu Hoạch Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ 5 Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii, Bài Thu Hoạch Học Tập Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Tư Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii, Bài Thu Hoạch Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Năm Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii, Nghị Quyết Kết Luận Hội Nghị Lần Thứ Tư Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii, Nghi Quyet So 28 Ngay 25/10/2013 Cua Hoi Nghi Lan Thu 8 Ban Chap Hanh Trung Uong Dang Khoa Xi, Nghị Quyết Số 33-nq/tw, Ngày 9/6/2014, Hội Nghị Lần Thứ 9 Ban Chấp Hành Trung ương Đảng (khóa Xi) Về, Nghị Quyết Số 33-nq/tw, Ngày 9/6/2014, Hội Nghị Lần Thứ 9 Ban Chấp Hành Trung ương Đảng (khóa Xi) Về, Nghị Quyết Đề Nghị Chuyển Đảng Chính Thức Của Chi Bộ, Bài Thu Hoạch Học Tập Quán Triệt Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ 5 Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa 12, Bài Thu Hoạch Quán Triệt Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Năm Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii, Nghị Quyết Xóa Tên Đảng Viên Của Đảng ủy, Vận Động Nhân Dân Giám Sát Thực Hiện Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Sáu Ban Chấp Hành Trung ương Đảng K, Vận Động Nhân Dân Giám Sát Thực Hiện Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Sáu Ban Chấp Hành Trung ương Đảng K, Nghị Quyết Đảng Bộ Về Đề Nghị Kiện Toan, Nghị Quyết Đề Nghị Kết Nạp Đảng Viên, Nghị Quyết 4 Của Đảng, Nghị Quyết Lần Thứ 12 Của Đảng, Nghị Quyết Đại Hội Ix Của Đảng, Nghị Quyết Đại Hội Xii Của Đảng, Nghị Quyết Kết Nạp Đảng, Nghị Quyết Dại Hội Đảng Lần Thứ 11, Nghị Quyết Đảng ủy Xã, Nghị Quyết Của Đảng, Nghị Quyết Đại Hội Đảng Bộ, Nghị Quyết Đh 12 Của Đảng, Chỉ Thị Nghị Quyết Của Đảng, Mẫu Văn Bản Nghị Quyết Của Đảng, Nghị Quyết Dân Vận Của Đảng, Nghị Quyết 12 Của Đảng, Nghị Quyết Xii Của Đảng, Nghị Quyết Xi Của Đảng, Nghị Quyết Đại Hội 12 Của Đảng, Nghị Quyết Đảng ủy, Nghị Quyết X Của Đảng, Nghị Quyết Đại Hội Đảng, Nghị Quyết Đại Hội Đảng 9, Nghị Quyết 6 Của Đảng,

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nghị Quyết 6 Đại Hội 12
  • Nghị Quyết Đại Hội 12
  • Công Tác Dân Vận Góp Phần Thành Công Đại Hội Đảng Các Cấp
  • Ban Dân Vận Trung Ương Ban Hành Chương Trình Hành Động Thực Hiện Nghị Quyết Đại Hội Toàn Quốc Lần Thứ Xii Của Đảng Về Công Tác Dân Vận
  • Chương Trình Số 31 Của Ban Dân Vận Tw Về Chương Trình Hành Động Thực Hiện Nghị Quyết Đại Hội Toàn Quốc Lần Thứ Xii Của Đảng Về Công Tác Dân Vận
  • Nghị Quyết Đại Hội Ix Của Đảng

    --- Bài mới hơn ---

  • Đại Hội Đại Biểu Toàn Quốc Lần Thứ Ix Của Đảng
  • Cán Bộ Chủ Chốt Tp Nghiên Cứu, Quán Triệt Nghị Quyết Đại Hội Xi Của Đảng Và Nghị Quyết Đại Hội Ix Của Đảng Bộ Thành Phố
  • Nghị Quyết Của Đại Hội Đại Biểu Toàn Quốc Lần Thứ Iii Của Đảng Lao Động Việt Nam Về Nhiệm Vụ Và Đường Lối Của Đảng Trong Giai Đoạn Mới
  • Đại Hội Đại Biểu Toàn Quốc Lần Thứ Iii Của Đảng
  • Kết Quả Thực Hiện Nghị Quyết Đại Hội Đảng Bộ Lần Ii, Nhiệm Kỳ 2022
  • Nghị Quyết Đại Hội Xii Của Đảng, Gắn Với Việc Thực Hiện Nghị Quyết Trung ương 4 Khóa Xii Và Các Chỉ, Một Số Nội Dung Về Nghị Quyết Và Chế Độ Ra Nghị Quyết Lânhx Đạo Của Các Cấp Uỷ Chi Bộ Trong Đảng Bộ, Mẫu Nghị Quyết Miễn Sinh Hoạt Đảng Của Đảng ủy, 3 Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ 5 Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa 12, Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ 4 Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii, Nghị Quyết Đề Nghị Công Nhận Đảng Viên Chính Thức, Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Năm Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii, Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Tư Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii, Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ 5 Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii, Nghị Quyết Số 18-nq/tw Hội Nghị Lần Thứ 6 Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii , Bài Thu Hoạch Qua Học Tập Quán Triệt Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Tư Bch Trung ương Đảng (khóa Xii), ỷ Xxi, Hội Nghị Lần Thứ Tư Ban Chấp Hành Trung ương Đảng (khoá X) Đã Thông Qua Nghị Quyết Số 09-nq/t, Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Năm Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Viii, Bài Thu Hoạch Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ 5 Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii, Bài Thu Hoạch Học Tập Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Tư Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii, Bài Thu Hoạch Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Năm Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii, Nghị Quyết Kết Luận Hội Nghị Lần Thứ Tư Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii, Nghi Quyet So 28 Ngay 25/10/2013 Cua Hoi Nghi Lan Thu 8 Ban Chap Hanh Trung Uong Dang Khoa Xi, Nghị Quyết Số 33-nq/tw, Ngày 9/6/2014, Hội Nghị Lần Thứ 9 Ban Chấp Hành Trung ương Đảng (khóa Xi) Về, Nghị Quyết Số 33-nq/tw, Ngày 9/6/2014, Hội Nghị Lần Thứ 9 Ban Chấp Hành Trung ương Đảng (khóa Xi) Về, Nghị Quyết Đề Nghị Chuyển Đảng Chính Thức Của Chi Bộ, Bài Thu Hoạch Học Tập Quán Triệt Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ 5 Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa 12, Bài Thu Hoạch Quán Triệt Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Năm Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii, Nghị Quyết Xóa Tên Đảng Viên Của Đảng ủy, Vận Động Nhân Dân Giám Sát Thực Hiện Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Sáu Ban Chấp Hành Trung ương Đảng K, Vận Động Nhân Dân Giám Sát Thực Hiện Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Sáu Ban Chấp Hành Trung ương Đảng K, Nghị Quyết Đảng Bộ Về Đề Nghị Kiện Toan, Nghị Quyết Đề Nghị Kết Nạp Đảng Viên, Nghị Quyết 4 Của Đảng, Nghị Quyết Lần Thứ 12 Của Đảng, Nghị Quyết Đại Hội Ix Của Đảng, Nghị Quyết Đại Hội Xii Của Đảng, Nghị Quyết Kết Nạp Đảng, Nghị Quyết Dại Hội Đảng Lần Thứ 11, Nghị Quyết Đảng ủy Xã, Nghị Quyết Của Đảng, Nghị Quyết Đại Hội Đảng Bộ, Nghị Quyết Đh 12 Của Đảng, Chỉ Thị Nghị Quyết Của Đảng, Mẫu Văn Bản Nghị Quyết Của Đảng, Nghị Quyết Dân Vận Của Đảng, Nghị Quyết 12 Của Đảng, Nghị Quyết Xii Của Đảng, Nghị Quyết Xi Của Đảng, Nghị Quyết Đại Hội 12 Của Đảng, Nghị Quyết Đảng ủy, Nghị Quyết X Của Đảng, Nghị Quyết Đại Hội Đảng, Nghị Quyết Đại Hội Đảng 9, Nghị Quyết 6 Của Đảng, Nghị Quyết Đại Hội Đảng Bộ Xã, Nghị Quyết Đại Hội Đảng Lần Thứ 10, Nghị Quyết Đại Hội Đảng Lần Thứ 12, Nghị Quyết Đại Hội Đảng V, Nghị Quyết Mới Của Đảng, Nghị Quyết Ra Khỏi Đảng, Chỉ Thị Nghị Quyết Của Đảng Năm 2022, Nghị Quyết Cho Ra Khỏi Đảng, Nghị Quyết Xây Dựng Đảng, Nghị Quyết Xii Của Đảng Về Giáo Dục, Bài Thi Tìm Hiểu Nghị Quyết 12 Của Đảng, Nghị Quyết Xin Ra Khỏi Đảng, Nghị Quyết Khóa Xii Của Đảng, Mẫu Nghị Quyết Chuyên Đề Của Đảng ủy Xã, Mẫu Nghị Quyết Chuyên Đề Của Đảng ủy, Mẫu Nghị Quyết Chuyên Đề Của Đảng, Nghị Quyết Mới Nhất Của Đảng, Nghị Quyết 9 Của Đảng Bộ Tphcm, Nghị Quyết Kết Nạp Đảng Viên, Nghị Quyết Mới Nhất Của Đảng Về Văn Hóa, Nghị Quyết Năm 2022 Của Đảng, Nghị Quyết 9 Bch Tw Đảng Khóa Xi, Mẫu Dự Thảo Nghị Quyết Đại Hội Đảng Bộ, Nội Dung Nghị Quyết Số 11 Của Đảng, Nghị Quyết Xóa Tên Đảng Viên Dự Bị, Mẫu Bìa Bài Dự Thi Tìm Hiểu Nghị Quyết Đại Hội Đảng, Nghị Quyết Xóa Tên Đảng Viên, Mẫu Bài Thu Hoach Học Tập Nghị Quyết 12 Của Đảng, Dự Thảo Nghị Quyết Đại Hội Đảng, Nghị Quyết Đại Hội Đảng Bộ Thị Xã Hương Trà, Nghị Quyết Đại Hội Đảng Bộ Thành Phố Hà Nội, Dự Thảo Nghị Quyết Đại Hội Đảng Bộ Xã, Dự Thảo Nghị Quyết Đại Hội Đảng Bộ, Dự Thảo Nghị Quyết Đại Hội Đảng 13, 3 Chuyên Đề Nghị Quyết Đại Hội 12 Của Đảng, Viết Bản Thu Học Nghị Quyết Khóa 6 Lần Thứ 12 Của Đảng, Nghị Quyết Đại Hội Đảng Toàn Quốc Lần Thứ 11, Nghị Quyết Kết Nạp Đảng Viên Của Chi Đoàn, Nghị Quyết 9 Của Đảng Cộng Sản Việt Nam, Nghị Quyết Xây Dựng Chỉnh Đốn Đảng, Chấp Hành Nghị Quyết Của Đảng, Nghi Quyet Phat Trien Dang, Nghị Quyết Nhận Xét Đảng Viên Dự Bị, Nghị Quyết Xvi Của Đảng Bộ Tỉnh Hà Giang, Nghị Quyết Đại Hội Đảng Toàn Quốc Lần Thứ 13, Nghị Quyết Đại Hội Đảng Toàn Quốc Lần Thứ 12, Nghị Quyết 35 Về Bảo Vệ Nền Tảng Tư Tưởng Của Đảng, Nghị Quyết Đại Hội Đảng Bộ Tỉnh Đăk Nông, Nghị Quyết Trung Uong Dang Xii, Nghị Quyết Trung ương Số 29-nq/tw Của Đảng,

    Nghị Quyết Đại Hội Xii Của Đảng, Gắn Với Việc Thực Hiện Nghị Quyết Trung ương 4 Khóa Xii Và Các Chỉ, Một Số Nội Dung Về Nghị Quyết Và Chế Độ Ra Nghị Quyết Lânhx Đạo Của Các Cấp Uỷ Chi Bộ Trong Đảng Bộ, Mẫu Nghị Quyết Miễn Sinh Hoạt Đảng Của Đảng ủy, 3 Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ 5 Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa 12, Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ 4 Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii, Nghị Quyết Đề Nghị Công Nhận Đảng Viên Chính Thức, Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Năm Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii, Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Tư Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii, Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ 5 Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii, Nghị Quyết Số 18-nq/tw Hội Nghị Lần Thứ 6 Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii , Bài Thu Hoạch Qua Học Tập Quán Triệt Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Tư Bch Trung ương Đảng (khóa Xii), ỷ Xxi, Hội Nghị Lần Thứ Tư Ban Chấp Hành Trung ương Đảng (khoá X) Đã Thông Qua Nghị Quyết Số 09-nq/t, Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Năm Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Viii, Bài Thu Hoạch Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ 5 Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii, Bài Thu Hoạch Học Tập Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Tư Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii, Bài Thu Hoạch Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Năm Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii, Nghị Quyết Kết Luận Hội Nghị Lần Thứ Tư Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii, Nghi Quyet So 28 Ngay 25/10/2013 Cua Hoi Nghi Lan Thu 8 Ban Chap Hanh Trung Uong Dang Khoa Xi, Nghị Quyết Số 33-nq/tw, Ngày 9/6/2014, Hội Nghị Lần Thứ 9 Ban Chấp Hành Trung ương Đảng (khóa Xi) Về, Nghị Quyết Số 33-nq/tw, Ngày 9/6/2014, Hội Nghị Lần Thứ 9 Ban Chấp Hành Trung ương Đảng (khóa Xi) Về, Nghị Quyết Đề Nghị Chuyển Đảng Chính Thức Của Chi Bộ, Bài Thu Hoạch Học Tập Quán Triệt Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ 5 Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa 12, Bài Thu Hoạch Quán Triệt Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Năm Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii, Nghị Quyết Xóa Tên Đảng Viên Của Đảng ủy, Vận Động Nhân Dân Giám Sát Thực Hiện Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Sáu Ban Chấp Hành Trung ương Đảng K, Vận Động Nhân Dân Giám Sát Thực Hiện Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Sáu Ban Chấp Hành Trung ương Đảng K, Nghị Quyết Đảng Bộ Về Đề Nghị Kiện Toan, Nghị Quyết Đề Nghị Kết Nạp Đảng Viên, Nghị Quyết 4 Của Đảng, Nghị Quyết Lần Thứ 12 Của Đảng, Nghị Quyết Đại Hội Ix Của Đảng, Nghị Quyết Đại Hội Xii Của Đảng, Nghị Quyết Kết Nạp Đảng, Nghị Quyết Dại Hội Đảng Lần Thứ 11, Nghị Quyết Đảng ủy Xã, Nghị Quyết Của Đảng, Nghị Quyết Đại Hội Đảng Bộ, Nghị Quyết Đh 12 Của Đảng, Chỉ Thị Nghị Quyết Của Đảng, Mẫu Văn Bản Nghị Quyết Của Đảng, Nghị Quyết Dân Vận Của Đảng, Nghị Quyết 12 Của Đảng, Nghị Quyết Xii Của Đảng, Nghị Quyết Xi Của Đảng, Nghị Quyết Đại Hội 12 Của Đảng, Nghị Quyết Đảng ủy, Nghị Quyết X Của Đảng, Nghị Quyết Đại Hội Đảng, Nghị Quyết Đại Hội Đảng 9, Nghị Quyết 6 Của Đảng,

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nhiều Kết Quả Quan Trọng Sau 05 Năm Thực Hiện Nghị Quyết Của Đảng Về Bhxh, Bhyt
  • Nhiều Kết Quả Tuyên Truyền Nghị Quyết Của Đảng Về Bhxh, Bhyt
  • Đảng Bộ Bộ Khoa Học Và Công Nghệ Học Tập, Quán Triệt Nghị Quyết Đại Hội Đại Biểu Toàn Quốc Lần Thứ Xii Của Đảng
  • Nghị Quyết Tư 6 Khóa Xi Về Khoa Học Và Công Nghệ: Động Lực Giúp Evn Chuyển Đổi Số Mạnh Mẽ
  • Kết Quả Thực Hiện Nghị Quyết Đại Hội Đảng Bộ Sở Khoa Học Và Công Nghệ, Nhiệm Kỳ 2022
  • Toàn Văn Nghị Quyết Đại Hội Xii Của Đảng

    --- Bài mới hơn ---

  • Toàn Văn Nghị Quyết Đại Hội Lần Thứ Xii Của Đảng Cộng Sản Việt Nam
  • Các Văn Bản Hướng Dẫn Thực Hiện Nghị Quyết Về Xử Lý Nợ Xấu Phải Ban Hành Trước 15/8/2017
  • Nghị Quyết Về Thí Điểm Xử Lý Nợ Xấu Có Hiệu Lực Từ Ngày 15/8/2017 ” Tin Tuc Onlie
  • Hơn 138 Nghìn Tỷ Đồng Nợ Xấu Đã Được Xử Lý Theo Nghị Quyết 42
  • Dự Thảo Nghị Quyết Xử Lý Nợ Xấu Chuẩn Bị Trình Quốc Hội
  • QUYẾT NGHỊ I- Tán thành những nội dung cơ bản về đánh giá tình hình 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội XI (2011 – 2022) và phương hướng, nhiệm vụ 5 năm 2022 – 2022 nêu trong Báo cáo chính trị, Báo cáo kinh tế – xã hội của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XI trình Đại hội: 1- Đánh giá tổng quát kết quả thực hiện Nghị quyết Đại hội XI và nhìn lại 30 năm đổi mới

    Năm năm qua (2011 – 2022), bên cạnh những thời cơ, thuận lợi, tình hình thế giới, khu vực có nhiều diễn biến rất phức tạp; kinh tế thế giới phục hồi chậm; khủng hoảng chính trị ở nhiều nơi, nhiều nước; cạnh tranh về nhiều mặt ngày càng quyết liệt giữa các nước lớn tại khu vực; diễn biến phức tạp trên Biển Đông,… đã tác động bất lợi đến nước ta. Trong nước, ngay từ đầu nhiệm kỳ, cùng với những ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu, những hạn chế, khiếm khuyết vốn có của nền kinh tế, những hạn chế, yếu kém trong lãnh đạo, quản lý và những vấn đề mới phát sinh đã làm cho lạm phát tăng cao, ảnh hưởng nghiêm trọng đến ổn định kinh tế vĩ mô, tốc độ tăng trưởng và đời sống nhân dân. Thiên tai, dịch bệnh, biến đổi khí hậu gây thiệt hại nặng nề. Nhu cầu bảo đảm an sinh xã hội, phúc lợi xã hội ngày càng cao. Đồng thời, chúng ta phải dành nhiều nguồn lực để bảo đảm quốc phòng, an ninh và bảo vệ chủ quyền đất nước trước những diễn biến mới, phức tạp của tình hình khu vực và quốc tế. Trong bối cảnh đó, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đã nỗ lực phấn đấu thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ XI của Đảng và đạt được những thành quả quan trọng.

    Nền kinh tế vượt qua nhiều khó khăn, thách thức, quy mô và tiềm lực được nâng lên; kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định, lạm phát được kiểm soát; tăng trưởng kinh tế được duy trì ở mức hợp lý, từ năm 2013 dần phục hồi, năm sau cao hơn năm trước. Đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế và thực hiện ba đột phá chiến lược được tập trung thực hiện, bước đầu đạt kết quả tích cực. Giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, văn hoá, xã hội, y tế có bước phát triển. An sinh xã hội được quan tâm nhiều hơn và cơ bản được bảo đảm, đời sống của nhân dân tiếp tục được cải thiện. Chính trị – xã hội ổn định; quốc phòng, an ninh được tăng cường; kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, giữ vững hoà bình, ổn định. Quan hệ đối ngoại, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, hiệu quả. Vị thế, uy tín quốc tế của nước ta tiếp tục được nâng cao. Dân chủ xã hội chủ nghĩa và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc tiếp tục được phát huy. Công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị được chú trọng và đạt kết quả quan trọng.

    Tuy nhiên, đổi mới chưa đồng bộ và toàn diện. Một số chỉ tiêu kinh tế – xã hội chưa đạt kế hoạch; nhiều chỉ tiêu, tiêu chí trong mục tiêu phấn đấu để đến năm 2022 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại chưa đạt được. Nhiều hạn chế, yếu kém trong các lĩnh vực giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, văn hoá, xã hội, y tế chậm được khắc phục. Đời sống của một bộ phận nhân dân, nhất là ở vùng sâu, vùng xa còn nhiều khó khăn. Bốn nguy cơ mà Đảng ta chỉ ra vẫn còn tồn tại, có mặt diễn biến phức tạp. Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên và tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí chưa bị đẩy lùi. Một số mặt công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị chuyển biến chậm.

    Ba mươi năm đổi mới là một giai đoạn lịch sử quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước, đánh dấu sự trưởng thành về mọi mặt của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta. Đổi mới mang tầm vóc và ý nghĩa cách mạng, là quá trình cải biến sâu sắc, toàn diện, triệt để, là sự nghiệp cách mạng to lớn của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

    Nhìn tổng thể, qua 30 năm đổi mới, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử; đồng thời cũng còn nhiều vấn đề lớn, phức tạp, nhiều hạn chế, yếu kém cần phải tập trung giải quyết, khắc phục để tiếp tục đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững hơn.

    Những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử qua 30 năm đổi mới khẳng định đường lối đổi mới của Đảng ta là đúng đắn, sáng tạo; con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta là phù hợp với thực tiễn của Việt Nam và xu thế phát triển của lịch sử. Thành tựu và những kinh nghiệm bài học đúc kết từ thực tiễn đã tạo tiền đề, nền tảng quan trọng để đất nước ta tiếp tục đổi mới và phát triển mạnh mẽ trong những năm tới.

    2- Mục tiêu tổng quát, các chỉ tiêu quan trọng và nhiệm vụ trọng tâm trong 5 năm 2022 – 2022

    Năm năm tới, tình hình thế giới và khu vực sẽ còn nhiều diễn biến rất phức tạp, tác động trực tiếp đến nước ta, tạo ra cả thời cơ và thách thức. Hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn. Toàn cầu hoá, hội nhập quốc tế, cách mạng khoa học – công nghệ, kinh tế tri thức tiếp tục được đẩy mạnh. Châu Á – Thái Bình Dương, trong đó có khu vực Đông Nam Á đã trở thành một cộng đồng, tiếp tục là trung tâm phát triển năng động, có vị trí địa – kinh tế – chính trị chiến lược ngày càng quan trọng; đồng thời, đây cũng là khu vực cạnh tranh chiến lược giữa một số nước lớn, có nhiều nhân tố bất ổn; tranh chấp lãnh thổ, chủ quyền biển, đảo trong khu vực và trên Biển Đông còn diễn ra gay gắt.

    Ở trong nước, thế và lực, sức mạnh tổng hợp của đất nước tăng lên, uy tín quốc tế của đất nước ngày càng được nâng cao. Nước ta sẽ thực hiện đầy đủ các cam kết trong cộng đồng ASEAN và WTO, tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, hội nhập quốc tế với tầm mức sâu rộng hơn nhiều so với giai đoạn trước. Thời cơ, vận hội phát triển mở ra rộng lớn. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều khó khăn, thách thức. Bốn nguy cơ mà Đảng ta đã chỉ ra vẫn tồn tại, nhất là nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với các nước trong khu vực và trên thế giới; nguy cơ “diễn biến hoà bình” của thế lực thù địch nhằm chống phá nước ta; tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong một bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức; sự tồn tại và những diễn biến phức tạp của tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí,…

    Để tận dụng, phát huy tốt nhất thời cơ, thuận lợi, vượt qua khó khăn, thách thức, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta cần đoàn kết một lòng, quyết tâm thực hiện thắng lợi mục tiêu, các chỉ tiêu và nhiệm vụ sau:

    Mục tiêu tổng quát:

    Tăng cường xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh. Phát huy sức mạnh toàn dân tộc và dân chủ xã hội chủ nghĩa. Đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới; phát triển kinh tế nhanh, bền vững, phấn đấu sớm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa. Giữ gìn hoà bình, ổn định, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế để phát triển đất nước; nâng cao vị thế và uy tín của Việt Nam trong khu vực và trên thế giới.

    Các chỉ tiêu quan trọng:

    – Về kinh tế: Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân 5 năm đạt 6,5 – 7%/năm. Đến năm 2022, GDP bình quân đầu người khoảng 3.200 – 3.500 USD; tỉ trọng công nghiệp và dịch vụ trong GDP khoảng 85%; tổng vốn đầu tư toàn xã hội bình quân 5 năm bằng khoảng 32 – 34% GDP; bội chi ngân sách nhà nước còn khoảng 4% GDP. Năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) đóng góp vào tăng trưởng khoảng 30 – 35%; năng suất lao động xã hội bình quân tăng khoảng 5%/năm; tiêu hao năng lượng tính trên GDP bình quân giảm 1 – 1,5%/năm. Tỉ lệ đô thị hoá đến năm 2022 đạt 38 – 40%.

    – Về xã hội: Đến năm 2022, tỉ lệ lao động nông nghiệp trong tổng lao động xã hội khoảng 40%; tỉ lệ lao động qua đào tạo đạt khoảng 65 – 70%, trong đó có bằng cấp, chứng chỉ đạt 25%; tỉ lệ thất nghiệp ở khu vực thành thị dưới 4%; có 9 – 10 bác sĩ và trên 26,5 giường bệnh trên 1 vạn dân; tỉ lệ bao phủ bảo hiểm y tế đạt trên 80% dân số; tỉ lệ hộ nghèo giảm bình quân khoảng 1,0 – 1,5%/năm.

    – Về môi trường : Đến năm 2022, 95% dân cư thành thị, 90% dân cư nông thôn được sử dụng nước sạch, hợp vệ sinh và 85% chất thải nguy hại, 95 – 100% chất thải y tế được xử lý; tỉ lệ che phủ rừng đạt 42%.

    Các nhiệm vụ trọng tâm:

    Trong nhiệm kỳ Đại hội XII, trên cơ sở quán triệt và lãnh đạo, chỉ đạo toàn diện việc thực hiện các quan điểm, nhiệm vụ trên tất cả các lĩnh vực đã nêu trong Báo cáo chính trị và Báo cáo kinh tế – xã hội, cần đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, phát huy mọi nguồn lực và động lực để phát triển đất nước nhanh, bền vững; đặc biệt chú trọng tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện có kết quả các nhiệm vụ trọng tâm sau:

    (1) Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ. Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược, đủ năng lực, phẩm chất và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ.

    (2) Xây dựng tổ chức bộ máy của toàn hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu.

    (3) Tập trung thực hiện các giải pháp nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Tiếp tục thực hiện có hiệu quả ba đột phá chiến lược (hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, đào tạo; phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao; xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ), cơ cấu lại tổng thể và đồng bộ nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng; đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, chú trọng công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn gắn với xây dựng nông thôn mới. Chú trọng giải quyết tốt vấn đề cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước, cơ cấu lại ngân sách nhà nước, xử lý nợ xấu và bảo đảm an toàn nợ công.

    (4) Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; giữ vững môi trường hoà bình, ổn định để phát triển đất nước; bảo đảm an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội. Mở rộng và đưa vào chiều sâu các quan hệ đối ngoại; tận dụng thời cơ, vượt qua thách thức, thực hiện hiệu quả hội nhập quốc tế trong điều kiện mới, tiếp tục nâng cao vị thế và uy tín của đất nước trên trường quốc tế.

    (5) Thu hút, phát huy mạnh mẽ mọi nguồn lực và sức sáng tạo của nhân dân. Chăm lo nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, giải quyết tốt những vấn đề bức thiết; tăng cường quản lý phát triển xã hội, bảo đảm an ninh xã hội, an ninh con người; bảo đảm an sinh xã hội, nâng cao phúc lợi xã hội và giảm nghèo bền vững. Phát huy quyền làm chủ của nhân dân, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc.

    (6) Phát huy nhân tố con người trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội; tập trung xây dựng con người về đạo đức, nhân cách, lối sống, trí tuệ và năng lực làm việc; xây dựng môi trường văn hoá lành mạnh.

    II- Thông qua Báo cáo kiểm điểm sự lãnh đạo, chỉ đạo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XI trình Đại hội XII.

    Giao Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XII tiếp thu ý kiến của Đại hội, phát huy ưu điểm, khắc phục khuyết điểm, nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác lãnh đạo, chỉ đạo trong nhiệm kỳ tới.

    III- Thông qua Báo cáo tổng kết việc thi hành Điều lệ Đảng khoá XI; đồng ý không sửa đổi, bổ sung Điều lệ Đảng hiện hành.

    Giao Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XII hướng dẫn, quy định cụ thể và tăng cường kiểm tra, giám sát, bảo đảm thi hành nghiêm, thống nhất Điều lệ trong toàn Đảng.

    IV- Thông qua Báo cáo tổng kết thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khoá XI “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”. Giao Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XII kiên quyết, kiên trì với quyết tâm chính trị cao lãnh đạo, chỉ đạo tiếp tục thực hiện toàn diện Nghị quyết Trung ương 4 khoá XI “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” gắn với việc thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng.

    V- Thông qua kết quả bầu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XII gồm 200 đồng chí, trong đó 180 đồng chí Uỷ viên Trung ương chính thức, 20 đồng chí Uỷ viên Trung ương dự khuyết. VI- Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XII và các cấp uỷ, tổ chức đảng lãnh đạo, chỉ đạo cụ thể hoá và tổ chức thực hiện thắng lợi đường lối và những chủ trương nêu trong các văn kiện Đại hội XII.

    Đại hội kêu gọi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, đồng bào ta ở nước ngoài phát huy cao độ tinh thần yêu nước, ý chí tự lực tự cường, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, ra sức thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội, mở ra thời kỳ phát triển mới, vẻ vang, tốt đẹp của đất nước, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội./.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cam Kết Thực Hiện Nghị Quyết Tw4 (Khóa Xii) Và Các Nghị Quyết Quy Định Của Đảng
  • Nét Mới Nghị Quyết Tw4 (Khóa Xii) Của Đảng
  • Không Thể Xuyên Tạc Nghị Quyết Tw4, Khóa Xii Của Đảng
  • Hội Nghị Học Tập, Quán Triệt Nghị Quyết Hội Nghị Trung Ương 5, Khóa Xii Của Đảng
  • Lđlđ Tỉnh Bình Dương: Học Tập, Quán Triệt Nghị Quyết Hội Nghị Trung Ương 5 Khóa Xii Của Đảng
  • Học Tập Nghị Quyết Đại Hội Xiii Của Đảng

    --- Bài mới hơn ---

  • Quy Định Mới Về Chức Danh Ở Cấp Xã; Mức Phụ Cấp Của Từng Chức Danh Đối Với Người Hoạt Động Không Chuyên Trách Ở Cấp Xã, Ở Thôn, Tổ Dân Phố
  • Kỳ Họp 22, Hđnd Tỉnh Quảng Ngãi Thông Qua Một Số Nội Dung Ubnd Tỉnh Trình
  • Tìm Hiểu Về Các Kỳ Đại Hội Của Công Đoàn Việt Nam
  • Triển Khai Thực Hiện Nghị Quyết Số 102/nq
  • Hỗ Trợ Hộ Kinh Doanh Theo Nghị Quyết 42/nq
  • Sáng 27-3, Ban Bí thư Trung ương Đảng tổ chức hội nghị trực tuyến toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt, tuyên truyền Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng.

    Đồng chí Lê Anh Xuân, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Bí thư Thành ủy TP Thanh Hóa chủ trì điểm cầu phòng họp trực tuyến Thành ủy.

    Tại tỉnh Thanh Hóa, hội nghị kết nối tại 448 điểm cầu từ cấp tỉnh đến cấp huyện, cấp xã và các sở, ban, ngành.

    Học tập, quán triệt, tuyên truyền Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của năm 2022, là đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng để mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ chủ chốt các cấp đều quán triệt, nắm vững và thực hiện đúng đắn, sáng tạo Nghị quyết của Đảng.

    Trước giờ khai mạc hội nghị trực tuyến, tại Hội trường lớn Huyện ủy Đông Sơn đã kín chỗ. Đông đảo cán bộ, đảng viên ai cũng phấn khởi, hồ hởi, chia sẻ về những kết quả nổi bật của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII. Hội nghị trực tuyến được Ban Thường vụ Huyện ủy Đông Sơn tổ chức tại 2 điểm cầu, gồm: Phòng họp trực tuyến Huyện ủy và Hội trường lớn Huyện ủy với sự tham gia của 145 đồng chí Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ huyện; Trưởng, phó các ban xây dựng Đảng, MTTQ và các tổ chức chính trị – xã hội; trưởng, phó các phòng, ngành UBND huyện; Bí thư, Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy, Chủ tịch UBND các xã, thị trấn…

    Cán bộ, đảng viên huyện Đông Sơn học tập nghị quyết tại phòng họp trực tuyến Huyện ủy Đông Sơn.

    Đồng chí Lê Khắc Hiệp, Bí thư Đảng ủy xã Đông Ninh cho biết: Tham gia hội nghị trực tuyến, cán bộ, đảng viên được lĩnh hội trực tiếp từ các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước các nội dung cốt lõi, những điểm mới trong các văn kiện Đại hội XIII của Đảng. Do vậy, các nội dung của hội nghị được cán bộ, đảng viên tiếp thu và triển khai thực hiện ngay, góp phần hỗ trợ đắc lực cho việc nâng cao hiệu quả lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của cấp ủy, chính quyền các cấp. Bên cạnh đó, việc học tập, nghiên cứu, quán triệt, tuyên truyền Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng có có ý nghĩa rất quan trọng và có ý nghĩa quyết định đối với việc thực hiện nghị quyết vì chỉ có hiểu sâu từng nội dung nghị quyết mới có thể cụ thể hóa thành các chương trình, kế hoạch, đề án để thực hiện đúng.

    Tại TP Thanh Hóa, không khí học tập, quán triệt Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng diễn ra nghiêm túc với sự tham gia của đầy đủ của các đồng chí lãnh đạo Thành ủy, HĐND, UBND, Ủy ban MTTQ, các tổ chức đoàn thể từ thành phố đến các phường, xã. Để hội nghị học tập, quán triệt Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đạt hiệu quả cao, thành phố có 55 điểm cầu học trực tuyến, trong đó có 2 điểm cầu trực tuyến kết nối từ điểm cầu Tỉnh ủy, 34 điểm cầu trực tuyến kết nối từ điểm cầu Thành ủy đến các phường, xã và 19 điểm cầu của 19 phố ở phường Đông Thọ với tổng số 3.500 đảng viên tham dự. Tại điểm cầu 34 phường, xã, tùy theo số lượng đảng viên và cơ sở vật chất của từng đảng bộ, các phường, xã có thể mở rộng thành phần tham dự cho phù hợp.

    Các đảng viên Phố Đội Cung 1, phường Đông Thọ tham dự hội nghị trực tuyến.

    Phường Đông Thọ là địa phương duy nhất của thành phố kết nối học tập, quán triệt nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đến tất cả 19 phố.

    Tại phố Đội Cung 1, bác Trịnh Đình Phương, Bí thư chi bộ kiêm trưởng phố cho biết: “Khi có kế hoạch của Đảng ủy phường về triển khai học tập trực tuyến, phố Đội Cung 1 là phố đầu tiên của phường mua sắm trang thiết bị để phục vụ việc học tập được hiệu quả. Việc học trực tuyến rất thuận lợi, tạo điều kiện cho cán bộ, đảng viên tiếp thu nội dung của nghị quyết một cách đầy đủ nhất. Sau hội nghị, chi bộ phố Đội Cung 1 sẽ xây dựng kế hoạch hành động cụ thể, sát với tình hình thực tế của phố và tổ chức triển khai thực hiện hiệu quả nghị quyết Đại hội XIII của Đảng”.

    Cán bộ, đảng viên Đảng ủy Khối Cơ quan và Doanh nghiệp tỉnh theo dõi trực tuyến tại điểm cầu Báo Thanh Hoá.

    Ban Thường vụ Đảng ủy Khối Cơ quan và Doanh nghiệp tỉnh đã triển khai học tập, quán triệt Nghị quyết Đại hội XIII tại các điểm cầu của các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp và 3 điểm cầu do Ban Thường vụ Đảng ủy Khối trực tiếp chủ trì gồm điểm cầu tại Báo Thanh Hóa, điểm cầu tại Viễn thông Thanh Hóa và điểm cầu Đài Phát thanh-Truyền hình tỉnh. Trong đó, tại điểm cầu Báo Thanh Hóa có khoảng 200 cán bộ, đảng viên tham gia học tập Nghị quyết với tinh thần tiếp thu nghiêm túc. Số điểm cầu trực tuyến cơ sở kết nối với điểm cầu Đảng ủy Khối Cơ quan và Doanh nghiệp tỉnh gồm 44 điểm với hơn 5.000 cán bộ, đảng viên tham dự.

    Điểm cầu trực tuyến tại Công ty TNHH Mai Linh Thanh Hoá.

    Tại điểm cầu Công ty TNHH Mai Linh Thanh Hóa, đồng chí Hồ Hữu Thiết, Bí thư Đảng ủy, Giám đốc Công ty TNHH Mai Linh Thanh Hóa, cho biết: Lần đầu tiên trong Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đã đề cập đến cụm từ “khát vọng hùng cường”. Đây cũng đang là cụm từ được nhắc nhiều lần trong thời gian gần đây, để nói về khao khát, mong mỏi xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường. Với khát vọng Việt Nam hùng cường và các mục tiêu cụ thể được nêu trong Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XIII bằng các cột mốc cụ thể vào năm 2030, 2045, nhận thức rõ vai trò của kinh tế tư nhân đối với sự đóng góp vào sự phát triển kinh tế, xã hội, đội ngũ doanh nghiệp, doanh nhân sẽ đem hết tinh thần, của cải, sức lực để kinh doanh, vừa phát huy năng lực, phẩm chất của mỗi cá nhân, vừa góp phần hiện thực hóa khát vọng dân tộc hùng cường cùng đất nước.

    Cán bộ, đảng viên huyện Hà Trung học tập Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng.

    Ban Thường vụ huyện ủy Hà Trung tổ chức hội nghị trực tuyến toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt, tuyên truyền Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng tại 2 phòng họp trực tuyến tại Huyện ủy và Trung tâm Chính trị huyện. Tham gia hội nghị trực tuyến có 200 cán bộ, đảng viên, gồm các đồng chí ủy viên ban chấp hành Đảng bộ huyện; lãnh đạo Huyện ủy, HĐND, UBND, ủy ban MTTQ, các đoàn thể – chính trị – xã hội cấp huyện; lãnh đạo các phòng, ban, đơn vị trực thuộc UBND huyện; chủ nhiệm Câu lạc bộ hưu trí Đò Lèn; chủ tịch hội người cao tuổi huyện; bí thư, chủ tịch UBND các xã, thị trấn; thủ trưởng các cơ quan, đơn vị cấp huyện.

    Đồng chí Vũ Ngọc Dương, Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Huyện ủy Hà Trung, cho biết: Việc tổ chức nghiên cứu, học tập, quán triệt Nghị quyết Đại hội Đảng bằng hình thức trực tuyến trên quy mô toàn quốc, vừa mở rộng được đối tượng, tiết kiệm thời gian, kinh phí và an toàn trong bối cảnh dịch bệnh COVID-19. Việc được nghe các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị trực tiếp triển khai, quán triệt 5 chuyên đề, sẽ giúp cán bộ, đảng viên nắm vững những vấn đề cốt lõi, nhận thức mới, tư duy mới trong các văn kiện Đại hội XIII của Đảng. Trên cơ sở đó, cấp ủy các cấp lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng chương trình hành động để tổ chức thực hiện Nghị quyết, sớm đưa nghị quyết vào cuộc sống.

    Cán bộ, đảng viên huyện Lang Chánh học tập nghị quyết tại điểm cầu Huyện ủy Lang Chánh.

    Để hội nghị nghiên cứu, học tập, quán triệt, tuyên truyền Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng đạt hiệu quả cao nhất, Huyện ủy Lang Chánh đã tổ chức, bố trí 11 điểm cầu tại Huyện ủy và 10 các xã, thị trấn. Với tinh thần nghiêm túc, hơn 640 cán bộ, đảng viên là các đồng chí Ủy viên Ban Thường vụ, Ban Chấp hành Huyện ủy; lãnh đạo các xã, thị trấn; thủ trưởng các cơ quan, đơn vị; trưởng, phó các phòng, ban, MTTQ và các đoàn thể chính trị – xã hội từ huyện đến cơ sở; bí thư, trưởng các thôn, bản, đã có mặt đông đủ tại các điểm cầu để tiếp thu Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng.

    Đồng chí Lữ Đức Chính, Bí thư đảng ủy xã Tam Văn, cho biết: Tam Văn là xã khó khăn nhất của huyện Lang Chánh, với cơ sở hạ tầng ở các thôn, bản chưa được đầu tư đồng bộ, đời sống Nhân dân còn nhiều khó khăn. Trên tinh thần của Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng, Đảng bộ xã Tam Văn sẽ lựa chọn những nội dung phù hợp, sát với tình hình kinh tế – xã hội của địa phương để lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện. Bên cạnh đẩy mạnh công tác truyên truyền nhằm đưa nhanh Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng vào cuộc sống, Đảng bộ xã sẽ tập trung lãnh đạo, chỉ đạo đẩy mạnh phát triển kinh tế nông, lâm nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa có giá trị kinh tế cao, có sản phẩm chủ lực. Đồng thời, quan tâm hơn nữa đến công tác đào tạo nghề, giải quyết việc làm cho lao động nông thôn, gắn với xuất khẩu lao động. Xã phấn đấu đến năm 2025, thu nhập bình quân đầu người của xã đạt trên 36 triệu đồng; tỷ lệ hộ nghèo giảm bình quân hàng năm khoảng 0,66%. Cùng với đó, Đảng bộ xã tiếp tục quan tâm nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các tổ chức cơ sở đảng; xây dựng Đảng bộ trong sạch, vững mạnh; chăm lo công tác phát triển đảng viên. Đặc biệt là Đảng bộ xã tiếp tục phát huy tinh thần đoàn kết, khơi dậy nội lực trong Nhân dân để sớm đưa xã Tam Văn “về đích” nông thôn mới.

    Cán bộ, đảng viên học tập Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng tại điểm cầu Công an tỉnh.

    Tại điểm cầu Công an tỉnh, gần 1.000 cán bộ, chiến sĩ đã tham gia nghiên cứu, học tập, quán triệt tuyên truyền Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng. Ngoài ra, 27 điểm cầu Công an các huyện, thị xã, thành phố cũng thu hút trên 1.000 cán bộ, chiến sĩ tham gia nghiên cứu, học tập Nghị quyết. Được biết, để việc tham gia nghiên cứu, học tập, quán triệt tuyên tuyền Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đạt kết quả cao nhất, lãnh đạo Công an tỉnh và công an các huyện, thị xã, thành phố đã tuyên truyền sâu rộng để cán bộ, chiến sĩ hiểu rõ về mục đích, tầm quan trọng của Nghị quyết; đồng thời chuẩn bị tốt mọi điều kiện cho việc học tập, quán triệt Nghị quyết.

    Hội nghị trực tuyến hội nghị trực tuyến toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt, tuyên truyền Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng được triển khai nghiêm túc, bài bản, khoa học tại tất cả các điểm cầu trên địa bàn tỉnh. Các bộ, đảng viên tin tưởng những chủ trương, quyết sách lớn của Đại hội sẽ sớm lan tỏa, sẽ được toàn Đảng, toàn dân, toàn quân nỗ lực phấn đấu triển khai thực hiện và đạt được những thành tựu mới như mục tiêu, phương hướng đã xác định theo các văn kiện.

    Sinh thời, Bác Hồ luôn đánh giá cao vai trò của việc học tập nghị quyết của Đảng. Người cho rằng: “Cần nghiên cứu sâu để thấm nhuần tinh thần nghị quyết; nghiên cứu càng sâu thì càng thêm phấn khởi, hoàn thành nhiệm vụ càng tốt. Nhưng cán bộ thấm nhuần chưa đủ. Phải làm cho tinh thần nghị quyết thấm nhuần trong toàn Đảng, toàn dân, làm cho mọi người thấy hết thắng lợi, khả năng và khó khăn của ta, thấy rõ khả năng của ta to lớn hơn khó khăn nhiều, làm sao cho mọi người vui vẻ, hăng hái làm tròn nhiệm vụ, vì khi nhân dân vui vẻ, hăng hái thì mọi khó khăn sẽ vượt được”. Do vậy, nghiên cứu, học tập, quán triệt, tuyên truyền Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng là một trong những nhiệm vụ quan trọng, then chốt nhằm tạo sự thống nhất nhận thức và hành động của cả hệ thống chính trị, sự đồng thuận trong Nhân dân, là tiền đề cho sự thành công trong tổ chức thực hiện nghị quyết, đảm bảo nghị quyết đi vào cuộc sống.

    Nhóm PV XDĐ-NC

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thông Qua 31 Nghị Quyết Quan Trọng
  • Một Số Vấn Đề Về “Tổng Hợp Hình Phạt Tù Với Án Treo”
  • Kết Quả Và Kinh Nghiệm Qua Hơn 2 Năm Thực Hiện Các Nghị Quyết Trung Ương Về Tổ Chức Bộ Máy Và Nâng Cao Năng Lực, Hiệu Quả Hoạt Động Của Hệ Thống Chính Trị Và Các Cơ Quan, Đơn Vị Sự Nghiệp Công Lập
  • Nghị Quyết Quy Định Nội Dung Và Mức Chi Thực Hiện Đề Án “Hỗ Trợ Hệ Sinh Thái Khởi Nghiệp Đổi Mới Sáng Tạo Quốc Gia Đến Năm 2025” Trên Địa Bàn Tỉnh Sơn La
  • Quyết Liệt Hành Động, Đổi Mới Sáng Tạo Với Khát Vọng Phát Triển
  • 3 Chuyên Đề Nghị Quyết Đại Hội 12 Của Đảng

    --- Bài mới hơn ---

  • Đảng Ủy Khối Các Cơ Quan Tỉnh Góp Ý Thực Hiện Nghị Quyết Đại Hội 12 Của Đảng
  • Chương Trình Hành Động Thực Hiện Nghị Quyết Đại Hội Đại Biểu Toàn Quốc Lần Thứ Xii Của Đảng
  • Quan Điểm Và Những Giải Pháp Mới Về Xây Dựng Đảng Trong Văn Kiện Đại Hội Xii
  • Xây Dựng Đảng Cộng Sản Việt Nam Về Đạo Đức Theo Tinh Thần Nghị Quyết Đại Hội Xii Của Đảng
  • Những Điểm Mới Trong Nghị Quyết Đại Hội Xii Của Đảng
  • Nghị Quyết Đề Nghị Chuyển Đảng Chính Thức Của Chi Bộ, Mẫu Nghị Quyết Chuyên Đề Của Đảng, Mẫu Nghị Quyết Chuyên Đề Của Đảng ủy, Mẫu Nghị Quyết Chuyên Đề Của Đảng ủy Xã, 3 Chuyên Đề Nghị Quyết Đại Hội 12 Của Đảng, Nghị Quyết Chuyên Đề Về Tăng Cường Sự Lãnh Đạo Của Đảng Về Công Tác Quản Lý Đất Đai , Nghị Quyết Chuyên Đề Về Chuyển Trạng Thái Sẵn Sàng Chiến Đấu, Nghị Quyết Đại Hội Xii Của Đảng, Gắn Với Việc Thực Hiện Nghị Quyết Trung ương 4 Khóa Xii Và Các Chỉ, Một Số Nội Dung Về Nghị Quyết Và Chế Độ Ra Nghị Quyết Lânhx Đạo Của Các Cấp Uỷ Chi Bộ Trong Đảng Bộ, Thời Gian Hội Nghị Chi Bộ Ra Nghị Quyết Chuyển Trạng Thái, Thời Gian Hội Nghị Chi Bộ Ra Nghị Quyết Chuyển Trang Thái Sscd Từ Thường Xuyên Lên Cao, 3 Nghị Quyết Chuyên Đề Của Hội Nghị Lần Thứ 5 Khóa Xii, 3 Nghị Quyết Chuyên Đề Hội Nghị Lần Thứ 5 Khóa Xii, Mẫu Nghị Quyết Miễn Sinh Hoạt Đảng Của Đảng ủy, Mẫu Nghị Quyết Chuyên Đề Chi Bộ, Nghi Quyet Chuyen De Ve Xu Ly Va Thu Hoi No Qua Han, Nghị Quyết Chuyên Đề, Nghị Quyết Chuyên Đề Của Chi Bộ, 5 Nghị Quyết Chuyên Đề, Ra Nghị Quyết Chuyên Đề Về Học Tập, Nghị Quyết Chuyên Đề Là Gì, Mẫu Nghị Quyết Chuyên Đề, Mẫu Nghị Quyết Chuyên Đề Của Chi Bộ, Nghị Quyết Số 18-nq/tw Hội Nghị Lần Thứ 6 Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii , Nghị Quyết Đề Nghị Công Nhận Đảng Viên Chính Thức, 3 Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ 5 Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa 12, Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ 5 Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii, Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ 4 Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii, Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Năm Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii, Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Tư Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii, ỷ Xxi, Hội Nghị Lần Thứ Tư Ban Chấp Hành Trung ương Đảng (khoá X) Đã Thông Qua Nghị Quyết Số 09-nq/t, Nghị Quyết Kết Luận Hội Nghị Lần Thứ Tư Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii, Bài Thu Hoạch Học Tập Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Tư Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii, Bài Thu Hoạch Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ 5 Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii, Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Năm Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Viii, Bài Thu Hoạch Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Năm Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii, Bài Thu Hoạch Qua Học Tập Quán Triệt Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Tư Bch Trung ương Đảng (khóa Xii), Nghị Quyết Chuyên Đề Năm 2022, Nghị Quyết Chuyên Đề Về Quản Lý Đất Đai, Nghị Quyết Chuyên Đề Của Chi Bộ Quân Sự, Nghị Quyết Chuyên Đề Của Chi Bộ Năm 2022, Nghị Quyết Chuyên Đề 2022, Nghị Quyết Chuyên Đề Về Giáo Dục, Nghị Quyết Chuyên Đề Của Chi Bộ Năm 2022, Nghị Quyết Chuyên Đề Vè Sáp Nhập Xóm, Phố, Nghị Quyết Số 11 Về Luân Chuyển Cán Bộ, Nghị Quyết Giám Sát Chuyên Đề, Nghị Quyết Chuyên Đề Về Môi Trường, Nghị Quyết Chuyên Đề Của Chi Bộ Năm 2022, Nghị Quyết Số 33-nq/tw, Ngày 9/6/2014, Hội Nghị Lần Thứ 9 Ban Chấp Hành Trung ương Đảng (khóa Xi) Về, Nghi Quyet So 28 Ngay 25/10/2013 Cua Hoi Nghi Lan Thu 8 Ban Chap Hanh Trung Uong Dang Khoa Xi, Nghị Quyết Số 33-nq/tw, Ngày 9/6/2014, Hội Nghị Lần Thứ 9 Ban Chấp Hành Trung ương Đảng (khóa Xi) Về, Bài Thu Hoạch Quán Triệt Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Năm Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii, Bài Thu Hoạch Học Tập Quán Triệt Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ 5 Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa 12, Quyết Định Về Việc Thay Đổi Đăng Ký Kinh Doanh Chuyển Trụ Sở, 4 Chuyên Đề Nghị Quyết Trung ương 8, Nghị Quyết Sinh Hoạt Chuyên Đề Của Chi Bộ, 3 Chuyên Đề Nghị Quyết Trung ương 8, Nghị Quyết Chuyên Đề Về Quy Hoạch Xây Dựng, Nghị Quyết Chuyên Đề Về Vệ Sinh Môi Trường, Mẫu Nghị Quyết Chuyên Đè Huấn Luyện Cấp Xã, Nghị Quyết Chuyên Đề Xây Dựng Đô Thị Loại V, Nghị Quyết Chuyên Đề Về Nông Thôn Mới, Nghị Quyết Chuyên Đề Giáo Dục Đào Tạo Năm 2011, 5 Chuyên Đề Nghị Quyết Trung ương 6, Chuyên Đề 1 Nghị Quyết Trung ương 8, Nghị Quyết Xóa Tên Đảng Viên Của Đảng ủy, Vận Động Nhân Dân Giám Sát Thực Hiện Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Sáu Ban Chấp Hành Trung ương Đảng K, Vận Động Nhân Dân Giám Sát Thực Hiện Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Sáu Ban Chấp Hành Trung ương Đảng K, Nghị Quyết Đảng Bộ Về Đề Nghị Kiện Toan, Nghi Quyet Chuyen Đề Về Tăng Cương Quan Ly Đat Đai, 5 Chuyên Đề Nghị Quyết Trung ương 6 Khóa 11, Mẫu Nghị Quyết Di Chuyển Mồ Mả Nhỏ Lẻ Về Nghĩa Trang Tập Trung, Nghị Quyết Chuyên Đề Xây Dựng Nông Thôn Mới, Nghị Quyết Chuyên Đề Về Phát Triển Kinh Tế, Nghi Quyết Chuyên Đề Về Xây Dựng Xã Nồng Thôn Mới, Nghi Quyết Chuyên Đề Về Trật Tự Đô Thi – Vệ Sinh Môi Trường, Nghị Quyết Chuyên Đề Về Giải Phóng Mặt Bằng, Nghị Quyết Chuyên Đề Về Công Tác Giảm Nghèo, Chuyên Đề 2 Nghị Quyết Trung ương 8 Khóa 12, Chuyên Đề 3 Nghị Quyết Trung ương 8 Khóa 12, 3 Chuyên Đề Nghị Quyết Trung ương 8 Khóa 12, Nghi Quyet Chuyen De Ve Nâng Cao Giao Duc ở Địa Phương, Nghị Quyết Đề Nghị Kết Nạp Đảng Viên, Nghị Quyết Chuyên Đề Phòng Chống Dịch Covid-19, Nghị Quyết Chuyên Đề Về Xây Dựng Nông Thôn Mới Kiểu Mẫu, Nghị Quyết Chuyên Đềriển Khai Xây Dựng Độ Thị Loại 5, Nghị Quyết Chuyên Đề Về Xây Dựng Hệ Thống Chính Trị Cơ Sở Vững Mạnh, Nghi Quyet Chuyên Đe Nâng Cao Chât Lương Sinh Hoạt Chi Bo, Nghị Quyết Chuyên Đề Về Huấn Luyện Dự Bị Động Viên Năm 2022, Nghị Quyết Chuyên Đề Về Nâng Cao Chất Lượng Sinh Hoạt Chi Bộ Cao Công Tác, Nghị Quyết Chuyên Đề Phát Triển Giáo Dục Đào Tạo Huyện Kim Bảng Năm 2010, Nghi Quyet Chuyen De Cua Chi Bo Ve Nang Cao Chat Luong Thuc Hien Nhiem Vu, Nghị Quyết Đảng ủy Xã, Nghị Quyết Đại Hội Đảng Lần Thứ 12, Nghị Quyết 6 Của Đảng, Nghị Quyết Xii Của Đảng, Nghị Quyết Đại Hội Đảng, Chỉ Thị Nghị Quyết Của Đảng, Nghị Quyết Của Đảng,

    Nghị Quyết Đề Nghị Chuyển Đảng Chính Thức Của Chi Bộ, Mẫu Nghị Quyết Chuyên Đề Của Đảng, Mẫu Nghị Quyết Chuyên Đề Của Đảng ủy, Mẫu Nghị Quyết Chuyên Đề Của Đảng ủy Xã, 3 Chuyên Đề Nghị Quyết Đại Hội 12 Của Đảng, Nghị Quyết Chuyên Đề Về Tăng Cường Sự Lãnh Đạo Của Đảng Về Công Tác Quản Lý Đất Đai , Nghị Quyết Chuyên Đề Về Chuyển Trạng Thái Sẵn Sàng Chiến Đấu, Nghị Quyết Đại Hội Xii Của Đảng, Gắn Với Việc Thực Hiện Nghị Quyết Trung ương 4 Khóa Xii Và Các Chỉ, Một Số Nội Dung Về Nghị Quyết Và Chế Độ Ra Nghị Quyết Lânhx Đạo Của Các Cấp Uỷ Chi Bộ Trong Đảng Bộ, Thời Gian Hội Nghị Chi Bộ Ra Nghị Quyết Chuyển Trạng Thái, Thời Gian Hội Nghị Chi Bộ Ra Nghị Quyết Chuyển Trang Thái Sscd Từ Thường Xuyên Lên Cao, 3 Nghị Quyết Chuyên Đề Của Hội Nghị Lần Thứ 5 Khóa Xii, 3 Nghị Quyết Chuyên Đề Hội Nghị Lần Thứ 5 Khóa Xii, Mẫu Nghị Quyết Miễn Sinh Hoạt Đảng Của Đảng ủy, Mẫu Nghị Quyết Chuyên Đề Chi Bộ, Nghi Quyet Chuyen De Ve Xu Ly Va Thu Hoi No Qua Han, Nghị Quyết Chuyên Đề, Nghị Quyết Chuyên Đề Của Chi Bộ, 5 Nghị Quyết Chuyên Đề, Ra Nghị Quyết Chuyên Đề Về Học Tập, Nghị Quyết Chuyên Đề Là Gì, Mẫu Nghị Quyết Chuyên Đề, Mẫu Nghị Quyết Chuyên Đề Của Chi Bộ, Nghị Quyết Số 18-nq/tw Hội Nghị Lần Thứ 6 Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii , Nghị Quyết Đề Nghị Công Nhận Đảng Viên Chính Thức, 3 Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ 5 Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa 12, Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ 5 Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii, Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ 4 Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii, Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Năm Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii, Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Tư Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii, ỷ Xxi, Hội Nghị Lần Thứ Tư Ban Chấp Hành Trung ương Đảng (khoá X) Đã Thông Qua Nghị Quyết Số 09-nq/t, Nghị Quyết Kết Luận Hội Nghị Lần Thứ Tư Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii, Bài Thu Hoạch Học Tập Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Tư Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii, Bài Thu Hoạch Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ 5 Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii, Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Năm Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Viii, Bài Thu Hoạch Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Năm Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii, Bài Thu Hoạch Qua Học Tập Quán Triệt Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Tư Bch Trung ương Đảng (khóa Xii), Nghị Quyết Chuyên Đề Năm 2022, Nghị Quyết Chuyên Đề Về Quản Lý Đất Đai, Nghị Quyết Chuyên Đề Của Chi Bộ Quân Sự, Nghị Quyết Chuyên Đề Của Chi Bộ Năm 2022, Nghị Quyết Chuyên Đề 2022, Nghị Quyết Chuyên Đề Về Giáo Dục, Nghị Quyết Chuyên Đề Của Chi Bộ Năm 2022, Nghị Quyết Chuyên Đề Vè Sáp Nhập Xóm, Phố, Nghị Quyết Số 11 Về Luân Chuyển Cán Bộ, Nghị Quyết Giám Sát Chuyên Đề, Nghị Quyết Chuyên Đề Về Môi Trường, Nghị Quyết Chuyên Đề Của Chi Bộ Năm 2022, Nghị Quyết Số 33-nq/tw, Ngày 9/6/2014, Hội Nghị Lần Thứ 9 Ban Chấp Hành Trung ương Đảng (khóa Xi) Về,

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đại Hội Đại Biểu Phụ Nữ Toàn Quốc Lần Thứ Xii (Cập Nhật)
  • Tài Liệu Sinh Hoạt Hội Viên Về Nghị Quyết Đại Hội Đại Biểu Phụ Nữ Toàn Quốc Lần Thứ Xii, Nhiệm Kỳ 2022
  • Tài Liệu Học Tập Nghị Quyết Đại Hội Đại Biểu Phụ Nữ Toàn Quốc Lần Thứ Xi (Dành Cho Hội Viên Và Phụ Nữ)
  • Nghị Quyết Đại Hội Đại Biểu Toàn Quốc Lần Thứ 12
  • Nghị Quyết Đại Hội Phụ Nữ Toàn Quốc Lần Thứ 12
  • Nghị Quyết Đại Hội Đảng 9

    --- Bài mới hơn ---

  • Kịch Bản Chương Trình Đại Hội Hợp Tác Xã
  • Đại Hội Hội Cựu Giáo Chức Tỉnh Bắc Ninh Lần Thứ 4, Nhiệm Kỳ 2022
  • Đại Hội Đại Biểu Hội Cựu Giáo Chức Tỉnh Lần Thứ Ii, Nhiệm Kỳ 2022
  • Đại Hội Hội Cựu Giáo Chức Việt Nam Lần Thứ Iv, Nhiệm Kỳ 2022
  • Đại Hội Hội Cựu Giáo Chức Huyện Nhiệm Kỳ 2022
  • Nghị Quyết Đại Hội Xii Của Đảng, Gắn Với Việc Thực Hiện Nghị Quyết Trung ương 4 Khóa Xii Và Các Chỉ, Một Số Nội Dung Về Nghị Quyết Và Chế Độ Ra Nghị Quyết Lânhx Đạo Của Các Cấp Uỷ Chi Bộ Trong Đảng Bộ, Mẫu Nghị Quyết Miễn Sinh Hoạt Đảng Của Đảng ủy, Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ 5 Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii, Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ 4 Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii, 3 Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ 5 Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa 12, Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Tư Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii, Nghị Quyết Số 18-nq/tw Hội Nghị Lần Thứ 6 Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii , Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Năm Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii, Nghị Quyết Đề Nghị Công Nhận Đảng Viên Chính Thức, Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Năm Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Viii, Bài Thu Hoạch Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Năm Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii, Bài Thu Hoạch Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ 5 Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii, ỷ Xxi, Hội Nghị Lần Thứ Tư Ban Chấp Hành Trung ương Đảng (khoá X) Đã Thông Qua Nghị Quyết Số 09-nq/t, Bài Thu Hoạch Qua Học Tập Quán Triệt Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Tư Bch Trung ương Đảng (khóa Xii), Bài Thu Hoạch Học Tập Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Tư Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii, Nghị Quyết Kết Luận Hội Nghị Lần Thứ Tư Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii, Nghị Quyết Số 33-nq/tw, Ngày 9/6/2014, Hội Nghị Lần Thứ 9 Ban Chấp Hành Trung ương Đảng (khóa Xi) Về, Nghị Quyết Số 33-nq/tw, Ngày 9/6/2014, Hội Nghị Lần Thứ 9 Ban Chấp Hành Trung ương Đảng (khóa Xi) Về, Nghi Quyet So 28 Ngay 25/10/2013 Cua Hoi Nghi Lan Thu 8 Ban Chap Hanh Trung Uong Dang Khoa Xi, Nghị Quyết Đề Nghị Chuyển Đảng Chính Thức Của Chi Bộ, Bài Thu Hoạch Quán Triệt Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Năm Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii, Bài Thu Hoạch Học Tập Quán Triệt Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ 5 Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa 12, Nghị Quyết Xóa Tên Đảng Viên Của Đảng ủy, Vận Động Nhân Dân Giám Sát Thực Hiện Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Sáu Ban Chấp Hành Trung ương Đảng K, Vận Động Nhân Dân Giám Sát Thực Hiện Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Sáu Ban Chấp Hành Trung ương Đảng K, Nghị Quyết Đảng Bộ Về Đề Nghị Kiện Toan, Nghị Quyết Đề Nghị Kết Nạp Đảng Viên, Nghị Quyết 6 Của Đảng, Nghị Quyết Dại Hội Đảng Lần Thứ 11, Nghị Quyết Dân Vận Của Đảng, Mẫu Văn Bản Nghị Quyết Của Đảng, Nghị Quyết Đại Hội Đảng Lần Thứ 10, Nghị Quyết Đại Hội Xii Của Đảng, Nghị Quyết Xii Của Đảng, Nghị Quyết Đại Hội 12 Của Đảng, Nghị Quyết Đảng ủy, Nghị Quyết Đại Hội Đảng Lần Thứ 12, Nghị Quyết Đh 12 Của Đảng, Nghị Quyết X Của Đảng, Nghị Quyết Đại Hội Ix Của Đảng, Nghị Quyết Xi Của Đảng, Nghị Quyết Đại Hội Đảng V, Nghị Quyết Của Đảng, Nghị Quyết Mới Của Đảng, Nghị Quyết Đại Hội Đảng Bộ Xã, Nghị Quyết 12 Của Đảng, Nghị Quyết Đảng ủy Xã, Chỉ Thị Nghị Quyết Của Đảng, Nghị Quyết Đại Hội Đảng Bộ, Nghị Quyết Đại Hội Đảng 9, Nghị Quyết Kết Nạp Đảng, Nghị Quyết 4 Của Đảng, Nghị Quyết Lần Thứ 12 Của Đảng, Nghị Quyết Đại Hội Đảng, Mẫu Nghị Quyết Chuyên Đề Của Đảng, Nghị Quyết 9 Của Đảng Bộ Tphcm, Nội Dung Nghị Quyết Số 11 Của Đảng, Nghị Quyết Cho Ra Khỏi Đảng, Bài Thi Tìm Hiểu Nghị Quyết 12 Của Đảng, Nghị Quyết Mới Nhất Của Đảng Về Văn Hóa, Nghị Quyết Mới Nhất Của Đảng, Nghị Quyết Năm 2022 Của Đảng, Nghị Quyết 9 Bch Tw Đảng Khóa Xi, Nghị Quyết Đại Hội Đảng Bộ Thị Xã Hương Trà, Nghị Quyết Khóa Xii Của Đảng, Nghị Quyết Đại Hội Đảng Bộ Thành Phố Hà Nội, Mẫu Bìa Bài Dự Thi Tìm Hiểu Nghị Quyết Đại Hội Đảng, Mẫu Dự Thảo Nghị Quyết Đại Hội Đảng Bộ, Dự Thảo Nghị Quyết Đại Hội Đảng 13, Dự Thảo Nghị Quyết Đại Hội Đảng, Mẫu Nghị Quyết Chuyên Đề Của Đảng ủy Xã, Mẫu Nghị Quyết Chuyên Đề Của Đảng ủy, Dự Thảo Nghị Quyết Đại Hội Đảng Bộ Xã, Mẫu Bài Thu Hoach Học Tập Nghị Quyết 12 Của Đảng, 3 Chuyên Đề Nghị Quyết Đại Hội 12 Của Đảng, Nghị Quyết Xóa Tên Đảng Viên, Nghị Quyết Kết Nạp Đảng Viên, Nghị Quyết Xây Dựng Đảng, Nghị Quyết Xii Của Đảng Về Giáo Dục, Dự Thảo Nghị Quyết Đại Hội Đảng Bộ, Chỉ Thị Nghị Quyết Của Đảng Năm 2022, Nghị Quyết Ra Khỏi Đảng, Nghị Quyết Xin Ra Khỏi Đảng, Nghị Quyết Xóa Tên Đảng Viên Dự Bị, Nghị Quyết 4 Trung ương Đảng, Nghị Quyết 4 Về Xây Dựng Chỉnh Đốn Đảng, Nghị Quyết Đại Hội Đảng Bộ Tỉnh Đăk Nông, Nghị Quyết Đại Hội Đảng Toàn Quốc Lần Thứ 12, Nghị Quyết Nhận Xét Đảng Viên Dự Bị, Nghị Quyết Đại Hội Đảng Toàn Quốc Lần Thứ 13, Nghi Quyet Phat Trien Dang, Nghị Quyết Xvi Của Đảng Bộ Tỉnh Hà Giang, Nghị Quyết Trung Uong Dang Xii, Chấp Hành Nghị Quyết Của Đảng, Viết Bản Thu Học Nghị Quyết Khóa 6 Lần Thứ 12 Của Đảng, Nghị Quyết Mới Nhất Của Đảng Về Giáo Dục, Nghị Quyết Xây Dựng Chỉnh Đốn Đảng, Nghị Quyết Đại Hội Đảng Toàn Quốc Lần Thứ 11, Nghị Quyết Kết Nạp Đảng Viên Của Chi Đoàn,

    Nghị Quyết Đại Hội Xii Của Đảng, Gắn Với Việc Thực Hiện Nghị Quyết Trung ương 4 Khóa Xii Và Các Chỉ, Một Số Nội Dung Về Nghị Quyết Và Chế Độ Ra Nghị Quyết Lânhx Đạo Của Các Cấp Uỷ Chi Bộ Trong Đảng Bộ, Mẫu Nghị Quyết Miễn Sinh Hoạt Đảng Của Đảng ủy, Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ 5 Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii, Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ 4 Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii, 3 Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ 5 Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa 12, Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Tư Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii, Nghị Quyết Số 18-nq/tw Hội Nghị Lần Thứ 6 Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii , Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Năm Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii, Nghị Quyết Đề Nghị Công Nhận Đảng Viên Chính Thức, Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Năm Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Viii, Bài Thu Hoạch Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Năm Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii, Bài Thu Hoạch Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ 5 Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii, ỷ Xxi, Hội Nghị Lần Thứ Tư Ban Chấp Hành Trung ương Đảng (khoá X) Đã Thông Qua Nghị Quyết Số 09-nq/t, Bài Thu Hoạch Qua Học Tập Quán Triệt Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Tư Bch Trung ương Đảng (khóa Xii), Bài Thu Hoạch Học Tập Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Tư Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii, Nghị Quyết Kết Luận Hội Nghị Lần Thứ Tư Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii, Nghị Quyết Số 33-nq/tw, Ngày 9/6/2014, Hội Nghị Lần Thứ 9 Ban Chấp Hành Trung ương Đảng (khóa Xi) Về, Nghị Quyết Số 33-nq/tw, Ngày 9/6/2014, Hội Nghị Lần Thứ 9 Ban Chấp Hành Trung ương Đảng (khóa Xi) Về, Nghi Quyet So 28 Ngay 25/10/2013 Cua Hoi Nghi Lan Thu 8 Ban Chap Hanh Trung Uong Dang Khoa Xi, Nghị Quyết Đề Nghị Chuyển Đảng Chính Thức Của Chi Bộ, Bài Thu Hoạch Quán Triệt Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Năm Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii, Bài Thu Hoạch Học Tập Quán Triệt Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ 5 Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa 12, Nghị Quyết Xóa Tên Đảng Viên Của Đảng ủy, Vận Động Nhân Dân Giám Sát Thực Hiện Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Sáu Ban Chấp Hành Trung ương Đảng K, Vận Động Nhân Dân Giám Sát Thực Hiện Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Sáu Ban Chấp Hành Trung ương Đảng K, Nghị Quyết Đảng Bộ Về Đề Nghị Kiện Toan, Nghị Quyết Đề Nghị Kết Nạp Đảng Viên, Nghị Quyết 6 Của Đảng, Nghị Quyết Dại Hội Đảng Lần Thứ 11, Nghị Quyết Dân Vận Của Đảng, Mẫu Văn Bản Nghị Quyết Của Đảng, Nghị Quyết Đại Hội Đảng Lần Thứ 10, Nghị Quyết Đại Hội Xii Của Đảng, Nghị Quyết Xii Của Đảng, Nghị Quyết Đại Hội 12 Của Đảng, Nghị Quyết Đảng ủy, Nghị Quyết Đại Hội Đảng Lần Thứ 12, Nghị Quyết Đh 12 Của Đảng, Nghị Quyết X Của Đảng, Nghị Quyết Đại Hội Ix Của Đảng, Nghị Quyết Xi Của Đảng, Nghị Quyết Đại Hội Đảng V, Nghị Quyết Của Đảng, Nghị Quyết Mới Của Đảng, Nghị Quyết Đại Hội Đảng Bộ Xã, Nghị Quyết 12 Của Đảng, Nghị Quyết Đảng ủy Xã, Chỉ Thị Nghị Quyết Của Đảng, Nghị Quyết Đại Hội Đảng Bộ,

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đại Hội Đại Biểu Toàn Quốc Lần Thứ Iii, Năm 1960
  • Đại Hội Đại Biểu Toàn Quốc Lần Thứ Iii Đảng Lao Động Việt Nam, 9/1960
  • Chi Bộ Cục Thads Tỉnh Tuyên Quang Quán Triệt Nghị Quyết Đại Hội Xii Của Đảng
  • Quán Triệt Nghị Quyết Đại Hội Xii Của Đảng Cho Cán Bộ Khối Báo Chí, Xuất Bản
  • Hội Nghị Học Tập Nghị Quyết Đại Hội Xiv Công Đoàn Giáo Dục Việt Nam Và Tập Huấn Cán Bộ Công Đoàn
  • Đảng Ủy Tập Đoàn Hóa Chất Việt Nam Triển Khai Nghị Quyết Đại Hội Xii Của Đảng Và Nghị Quyết Đại Hội Đảng Các Cấp

    --- Bài mới hơn ---

  • Ngành Dầu Khí Hành Động Và Vận Dụng Sáng Tạo Nghị Quyết Đại Hội Xii Của Đảng
  • Văn Bản Quản Lý Hành Chính Nhà Nước
  • Bài Tập Luật: Nghị Quyết Của Quốc Hội Là Văn Bản Luật Hay Văn Bản Dưới Luật
  • Tổng Hợp Nhận Định Đúng Sai Môn Kỹ Thuật Soạn Thảo Văn Bản Năm 2022
  • Nghị Quyết Số 55 Qn Tw, Ngày 14
  • Ngày 13/7, tại Hà Nội, Đảng ủy Tập đoàn Hóa chất Việt Nam tổ chức Hội nghị học tập, quán triệt, tuyên truyền và triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Khối Doanh nghiệp Trung ương lần thứ II, nhiệm kỳ 2022 – 2022 cho toàn thể cán bộ, đảng viên trong Đảng bộ Tập đoàn.

    Phát biểu khai mạc Hội nghị, đồng chí Nguyễn Anh Dũng – Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch HĐTV Tập đoàn Hóa chất Việt Nam khẳng định: Việc học tập, quán triệt, tuyên truyền, triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ XII của Đảng là một nhiệm vụ trọng tâm trong năm 2022. Đây là đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng, có ý nghĩa và tầm quan trọng đặc biệt nhằm tạo sự chuyển biến về nhận thức, thống nhất về ý chí và hành động trong Đảng, tạo sự đồng thuận cao trong nhân dân, cổ vũ và động viên toàn Đảng, toàn dân và toàn quân phát huy tinh thần yêu nước, ý chí tự lực, tự cường và sức mạnh toàn dân tộc, thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XII của Đảng.

    Các đại biểu tham dự Hội nghị

    Ban Thường vụ Đảng ủy Tập đoàn Hóa chất yêu cầu các cấp ủy, tổ chức đảng các cấp cũng như toàn thể cán bộ, đảng viên trong Đảng bộ, đặc biệt là cán bộ chủ chốt các cấp và người đứng đầu, có trách nhiệm học tập, quán triệt Nghị quyết Đại hội XII của Đảng và chịu trách nhiệm chỉ đạo, chủ trì việc tổ chức học tập, quán triệt, xây dựng chương trình hành động của cấp ủy, tổ chức Đảng, kế hoạch hành động của cá nhân thực hiện Nghị quyết Đại hội.

    Công tác tuyên truyền về Nghị quyết lần thứ XII của Đảng cần được tiến hành sâu rộng, thường xuyên với nhiều hình thức đa dạng, phong phú, phù hợp từng đối tượng; đảm bảo 100% CBCNVC-NLĐ ở đơn vị đều được phổ biến, tuyên truyền về Nghị quyết Đại hội.

    Đồng chí Nguyễn Anh Dũng – Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch HĐTV Tập đoàn Hóa chất Việt Nam phát biểu khai mạc Hội nghị

    Đồng chí Nguyễn Anh Dũng đề nghị, tất cả đại biểu tham gia Hội nghị nêu cao tinh thần trách nhiệm, tập trung nghe báo cáo viên truyền đạt những nội dung cơ bản nhất để từ đó vận dụng với thực tiễn, xây dựng chương trình hành động triển khai thực hiện tại đơn vị, vận dụng vào tình hình thực tiễn, góp phần xây dựng đơn vị, Tập đoàn ngày càng phát triển bền vững; chi, đảng bộ thực sự trong sạch, vững mạnh.

    Tại Hội nghị, các đại biểu đã được nghe báo cáo viên Trung ương và Đảng ủy Khối Doanh nghiệp Trung ương giới thiệu các chuyên đề: Những nội dung cơ bản của Báo cáo Chính trị tại Đại hội XII của Đảng; đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội 5 năm 2010 – 2022 và phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội 5 năm 2022 – 2022; nội dung cơ bản của báo cáo tổng kết thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng đảng hiện nay”.

    Toàn cảnh Hội nghị

    Theo đó, Đảng bộ Tập đoàn Hóa chất xác định tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo, nâng cao sức chiến đấu của tổ chức Đảng, xây dựng Đảng bộ trong sạch, vững mạnh; chủ động hội nhập quốc tế; đẩy nhanh sắp xếp, đổi mới, nâng cao năng suất, hiệu quả sản xuất kinh doanh, sức cạnh tranh của Tập đoàn và các doanh nghiệp thành viên; tăng cường hiệu lực quản lý doanh nghiệp; nâng cao đời sống người lao động; phát huy vai trò nòng cốt của Tập đoàn trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đóng góp tích cực vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

    P.V

    --- Bài cũ hơn ---

  • Quy Định Hồ Sơ Sổ Sách Nhà Trường Qui Dinh Ho So So Sach Docx
  • Hệ Thống Hồ Sơ Sổ Sách Nhà Trường
  • Quy Định Về Hồ Sơ Sổ Sách Trong Nhà Trường
  • Một Số Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Hoạt Động Giám Sát Việc Thực Hiện Nghị Quyết Của Hội Đồng Nhân Dân Cấp Tỉnh
  • Để Những Nghị Quyết Của Đảng Sớm Đi Vào Cuộc Sống
  • Nghị Quyết Đại Hội Đại Biểu Toàn Quốc Lần Thứ Xii Của Đảng

    --- Bài mới hơn ---

  • Chính Thức Công Bố Toàn Văn Nghị Quyết Đại Hội Xii
  • Toàn Văn Nghị Quyết Đại Hội Công Đoàn Việt Nam Lần Thứ Xii
  • 100% Đại Biểu Quốc Hội Tán Thành Thông Qua Nghị Quyết Phê Chuẩn Evfta
  • Quốc Hội Thông Qua Nghị Quyết Phê Chuẩn Hiệp Định Evfta Và Evipa
  • Quốc Hội Chính Thức Phê Chuẩn Evfta Và Evipa
  • Các đại biểu biểu quyết thông qua Nghị quyết Đại hội. Ảnh: ĐCSVN

    QUYẾT NGHỊ

    I- Tán thành những nội dung cơ bản về đánh giá tình hình 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội XI (2011 – 2022) và phương hướng, nhiệm vụ 5 năm 2022 – 2022 nêu trong Báo cáo chính trị, Báo cáo kinh tế – xã hội của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XI trình Đại hội :

    1- Đánh giá tổng quát kết quả thực hiện Nghị quyết Đại hội XI và nhìn lại 30 năm đổi mới

    Năm năm qua (2011 – 2022), bên cạnh những thời cơ, thuận lợi, tình hình thế giới, khu vực có nhiều diễn biến rất phức tạp; kinh tế thế giới phục hồi chậm; khủng hoảng chính trị ở nhiều nơi, nhiều nước; cạnh tranh về nhiều mặt ngày càng quyết liệt giữa các nước lớn tại khu vực; diễn biến phức tạp trên Biển Đông,… đã tác động bất lợi đến nước ta. Trong nước, ngay từ đầu nhiệm kỳ, cùng với những ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu, những hạn chế, khiếm khuyết vốn có của nền kinh tế, những hạn chế, yếu kém trong lãnh đạo, quản lý và những vấn đề mới phát sinh đã làm cho lạm phát tăng cao, ảnh hưởng nghiêm trọng đến ổn định kinh tế vĩ mô, tốc độ tăng trưởng và đời sống nhân dân. Thiên tai, dịch bệnh, biến đổi khí hậu gây thiệt hại nặng nề. Nhu cầu bảo đảm an sinh xã hội, phúc lợi xã hội ngày càng cao. Đồng thời, chúng ta phải dành nhiều nguồn lực để bảo đảm quốc phòng, an ninh và bảo vệ chủ quyền đất nước trước những diễn biến mới, phức tạp của tình hình khu vực và quốc tế. Trong bối cảnh đó, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đã nỗ lực phấn đấu thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ XI của Đảng và đạt được những thành quả quan trọng.

    Nền kinh tế vượt qua nhiều khó khăn, thách thức, quy mô và tiềm lực được nâng lên; kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định, lạm phát được kiểm soát; tăng trưởng kinh tế được duy trì ở mức hợp lý, từ năm 2013 dần phục hồi, năm sau cao hơn năm trước. Đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế và thực hiện ba đột phá chiến lược được tập trung thực hiện, bước đầu đạt kết quả tích cực. Giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, văn hoá, xã hội, y tế có bước phát triển. An sinh xã hội được quan tâm nhiều hơn và cơ bản được bảo đảm, đời sống của nhân dân tiếp tục được cải thiện. Chính trị – xã hội ổn định; quốc phòng, an ninh được tăng cường; kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, giữ vững hoà bình, ổn định. Quan hệ đối ngoại, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, hiệu quả. Vị thế, uy tín quốc tế của nước ta tiếp tục được nâng cao. Dân chủ xã hội chủ nghĩa và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc tiếp tục được phát huy. Công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị được chú trọng và đạt kết quả quan trọng.

    đổi mới chưa đồng bộ và toàn diện. Một số chỉ tiêu kinh tế – xã hội chưa đạt kế hoạch; nhiều chỉ tiêu, tiêu chí trong mục tiêu phấn đấu để đến năm 2022 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại chưa đạt được. Nhiều hạn chế, yếu kém trong các lĩnh vực giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, văn hoá, xã hội, y tế chậm được khắc phục. Đời sống của một bộ phận nhân dân, nhất là ở vùng sâu, vùng xa còn nhiều khó khăn. Bốn nguy cơ mà Đảng ta chỉ ra vẫn còn tồn tại, có mặt diễn biến phức tạp. Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên và tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí chưa bị đẩy lùi. Một số mặt công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị chuyển biến chậm.

    Ba mươi năm đổi mới là một giai đoạn lịch sử quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước, đánh dấu sự trưởng thành về mọi mặt của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta. Đổi mới mang tầm vóc và ý nghĩa cách mạng, là quá trình cải biến sâu sắc, toàn diện, triệt để, là sự nghiệp cách mạng to lớn của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

    Nhìn tổng thể, qua 30 năm đổi mới, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử;đồng thời cũng còn nhiều vấn đề lớn, phức tạp, nhiều hạn chế, yếu kém cần phải tập trung giải quyết, khắc phục để tiếp tục đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững hơn.

    Những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử qua 30 năm đổi mới khẳng định đường lối đổi mới của Đảng ta là đúng đắn, sáng tạo; con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta là phù hợp với thực tiễn của Việt Nam và xu thế phát triển của lịch sử. Thành tựu và những kinh nghiệm bài học đúc kết từ thực tiễn đã tạo tiền đề, nền tảng quan trọng để đất nước ta tiếp tục đổi mới và phát triển mạnh mẽ trong những năm tới.

    2- Mục tiêu tổng quát, các chỉ tiêu quan trọng và nhiệm vụ trọng tâm trong 5 năm 2022 – 2022

    Năm năm tới, tình hình thế giới và khu vực sẽ còn nhiều diễn biến rất phức tạp, tác động trực tiếp đến nước ta, tạo ra cả thời cơ và thách thức. Hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn. Toàn cầu hoá, hội nhập quốc tế, cách mạng khoa học – công nghệ, kinh tế tri thức tiếp tục được đẩy mạnh. Châu Á – Thái Bình Dương, trong đó có khu vực Đông Nam Á đã trở thành một cộng đồng, tiếp tục là trung tâm phát triển năng động, có vị trí địa – kinh tế – chính trị chiến lược ngày càng quan trọng; đồng thời, đây cũng là khu vực cạnh tranh chiến lược giữa một số nước lớn, có nhiều nhân tố bất ổn; tranh chấp lãnh thổ, chủ quyền biển, đảo trong khu vực và trên Biển Đông còn diễn ra gay gắt.

    Ở trong nước, thế và lực, sức mạnh tổng hợp của đất nước tăng lên, uy tín quốc tế của đất nước ngày càng được nâng cao. Nước ta sẽ thực hiện đầy đủ các cam kết trong cộng đồng ASEAN và WTO, tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, hội nhập quốc tế với tầm mức sâu rộng hơn nhiều so với giai đoạn trước. Thời cơ, vận hội phát triển mở ra rộng lớn. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều khó khăn, thách thức. Bốn nguy cơ mà Đảng ta đã chỉ ra vẫn tồn tại, nhất là nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với các nước trong khu vực và trên thế giới; nguy cơ “diễn biến hoà bình” của thế lực thù địch nhằm chống phá nước ta; tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong một bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức; sự tồn tại và những diễn biến phức tạp của tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí,…

    Để tận dụng, phát huy tốt nhất thời cơ, thuận lợi, vượt qua khó khăn, thách thức, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta cần đoàn kết một lòng, quyết tâm thực hiện thắng lợi mục tiêu, các chỉ tiêu và nhiệm vụ sau :

    Mục tiêu tổng quát :

    Tăng cường xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh. Phát huy sức mạnh toàn dân tộc và dân chủ xã hội chủ nghĩa. Đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới; phát triển kinh tế nhanh, bền vững, phấn đấu sớm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa. Giữ gìn hoà bình, ổn định, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế để phát triển đất nước; nâng cao vị thế và uy tín của Việt Nam trong khu vực và trên thế giới.

    Các chỉ tiêu quan trọng :

    – Về kinh tế: Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân 5 năm đạt 6,5 – 7%/năm. Đến năm 2022, GDP bình quân đầu người khoảng 3.200 – 3.500 USD; tỉ trọng công nghiệp và dịch vụ trong GDP khoảng 85%; tổng vốn đầu tư toàn xã hội bình quân 5 năm bằng khoảng 32 – 34% GDP; bội chi ngân sách nhà nước còn khoảng 4% GDP. Năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) đóng góp vào tăng trưởng khoảng 30 – 35%; năng suất lao động xã hội bình quân tăng khoảng 5%/năm; tiêu hao năng lượng tính trên GDP bình quân giảm 1 – 1,5%/năm. Tỉ lệ đô thị hoá đến năm 2022 đạt 38 – 40%.

    – Về xã hội : Đến năm 2022, tỉ lệ lao động nông nghiệp trong tổng lao động xã hội khoảng 40%; tỉ lệ lao động qua đào tạo đạt khoảng 65 – 70%, trong đó có bằng cấp, chứng chỉ đạt 25%; tỉ lệ thất nghiệp ở khu vực thành thị dưới 4%; có 9 – 10 bác sĩ và trên 26,5 giường bệnh trên 1 vạn dân; tỉ lệ bao phủ bảo hiểm y tế đạt trên 80% dân số; tỉ lệ hộ nghèo giảm bình quân khoảng 1,0 – 1,5%/năm.

    – Về môi trường : Đến năm 2022, 95% dân cư thành thị, 90% dân cư nông thôn được sử dụng nước sạch, hợp vệ sinh và 85% chất thải nguy hại, 95 – 100% chất thải y tế được xử lý; tỉ lệ che phủ rừng đạt 42%.

    Các nhiệm vụ trọng tâm :

    Trong nhiệm kỳ Đại hội XII, trên cơ sở quán triệt và lãnh đạo, chỉ đạo toàn diện việc thực hiện các quan điểm, nhiệm vụ trên tất cả các lĩnh vực đã nêu trong Báo cáo chính trị và Báo cáo kinh tế – xã hội, cần đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, phát huy mọi nguồn lực và động lực để phát triển đất nước nhanh, bền vững; đặc biệt chú trọng tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện có kết quả các nhiệm vụ trọng tâm sau :

    (1) Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ. Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược, đủ năng lực, phẩm chất và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ.

    (2) Xây dựng tổ chức bộ máy của toàn hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu.

    (3) Tập trung thực hiện các giải pháp nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Tiếp tục thực hiện có hiệu quả ba đột phá chiến lược (hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, đào tạo; phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao; xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ), cơ cấu lại tổng thể và đồng bộ nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng; đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, chú trọng công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn gắn với xây dựng nông thôn mới. Chú trọng giải quyết tốt vấn đề cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước, cơ cấu lại ngân sách nhà nước, xử lý nợ xấu và bảo đảm an toàn nợ công.

    (4) Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; giữ vững môi trường hoà bình, ổn định để phát triển đất nước; bảo đảm an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội. Mở rộng và đưa vào chiều sâu các quan hệ đối ngoại; tận dụng thời cơ, vượt qua thách thức, thực hiện hiệu quả hội nhập quốc tế trong điều kiện mới, tiếp tục nâng cao vị thế và uy tín của đất nước trên trường quốc tế.

    (5) Thu hút, phát huy mạnh mẽ mọi nguồn lực và sức sáng tạo của nhân dân. Chăm lo nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, giải quyết tốt những vấn đề bức thiết; tăng cường quản lý phát triển xã hội, bảo đảm an ninh xã hội, an ninh con người; bảo đảm an sinh xã hội, nâng cao phúc lợi xã hội và giảm nghèo bền vững. Phát huy quyền làm chủ của nhân dân, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc.

    (6) Phát huy nhân tố con người trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội; tập trung xây dựng con người về đạo đức, nhân cách, lối sống, trí tuệ và năng lực làm việc; xây dựng môi trường văn hoá lành mạnh.

    IIThông qua Báo cáo kiểm điểm sự lãnh đạo, chỉ đạo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XI trình Đại hội XII.

    Giao Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XII tiếp thu ý kiến của Đại hội, phát huy ưu điểm, khắc phục khuyết điểm, nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác lãnh đạo, chỉ đạo trong nhiệm kỳ tới.

    III- Thông qua Báo cáo tổng kết việc thi hành Điều lệ Đảng khoá XI; đồng ý không sửa đổi, bổ sung Điều lệ Đảng hiện hành.

    Giao Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XII hướng dẫn, quy định cụ thể và tăng cường kiểm tra, giám sát, bảo đảm thi hành nghiêm, thống nhất Điều lệ trong toàn Đảng.

    IV- Thông qua Báo cáo tổng kết thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khoá XI “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”. Giao Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XII kiên quyết, kiên trì với quyết tâm chính trị cao lãnh đạo, chỉ đạo tiếp tục thực hiện toàn diện Nghị quyết Trung ương 4 khoá XI “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” gắn với việc thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng.

    VThông qua kết quả bầu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XII gồm 200 đồng chí, trong đó 180 đồng chí Uỷ viên Trung ương chính thức, 20 đồng chí Uỷ viên Trung ương dự khuyết.

    VIBan Chấp hành Trung ương Đảng khoá XII và các cấp uỷ, tổ chức đảng lãnh đạo, chỉ đạo cụ thể hoá và tổ chức thực hiện thắng lợi đường lối và những chủ trương nêu trong các văn kiện Đại hội XII.

    Đại hội kêu gọi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, đồng bào ta ở nước ngoài phát huy cao độ tinh thần yêu nước, ý chí tự lực tự cường, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, ra sức thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội, mở ra thời kỳ phát triển mới, vẻ vang, tốt đẹp của đất nước, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.

    ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU TOÀN QUỐCLẦN THỨ XII

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tổng Hợp Mẫu Nghị Quyết Đề Nghị Kết Nạp Đảng Viên 2022
  • Nghị Quyết Kết Nạp Đảng Viên Của Chi Đoàn
  • Nghị Quyết 128/2020/qh14 Dự Toán Ngân Sách Nhà Nước Năm 2022
  • Thông Qua Nghị Quyết Về Dự Toán Ngân Sách Nhà Nước Năm 2022
  • Quốc Hội Thông Qua Nghị Quyết Về Dự Toán Ngân Sách Nhà Nước Năm 2022
  • Nghị Quyết Của Đại Hội Đại Biểu Toàn Quốc Lần Thứ Iv Của Đảng

    --- Bài mới hơn ---

  • Nghị Quyết Đại Hội Đại Biểu Lần Thứ Iv Đảng Bộ Quận 9
  • Toàn Văn Nghị Quyết Trung Ương 5 Khóa Xii Của Đảng Về Phát Triển Kinh Tế Tư Nhân
  • Sự Phát Triển Lý Luận Của Đảng Cộng Sản Việt Nam Về Phát Triển Kinh Tế Tư Nhân Trong Thời Kỳ Đổi Mới
  • Một Số Điểm Mới Của Nghị Quyết Về “phát Triển Kinh Tế Tư Nhân Trở Thành Một Động Lực Quan Trọng Của Nền Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa”
  • Quan Điểm Đại Hội Xii Của Đảng Về Phát Triển Kinh Tế Tư Nhân Ở Nước Ta
  • Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng Cộng sản Việt Nam họp từ ngày 14 đến ngày 20 tháng 12 năm 1976 nhất trí và hoàn toàn tán thành Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương do đồng chí Lê Duẩn trình bày.

    Đại hội nhất trí nhận định rằng, trong 16 năm qua, Ban Chấp hành Trung ương và Bộ Chính trị đã lãnh đạo toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta thực hiện thắng lợi cùng một lúc hai nhiệm vụ chiến lược do Đại hội lần thứ III của Đảng đề ra là “tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam, thực hiện thống nhất nước nhà, hoàn thành độc lập và dân chủ trong cả nước”. Giương cao hai ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, Đảng đã kết hợp sức mạnh chiến đấu của tiền tuyến lớn với tiềm lực của hậu phương lớn, đã động viên đến mức cao nhất lực lượng của toàn dân vào cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, đã phát huy đến cao độ những truyền thống cách mạng của Đảng ta và nhân dân ta.

    Thắng lợi của nhân dân ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước là một trong những trang chói lọi nhất của lịch sử dân tộc và là một sự kiện có tầm quan trọng quốc tế to lớn và có tính chất thời đại sâu sắc.

    1. Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, tình hình quốc tế biến đổi sâu sắc. Hệ thống thế giới của chủ nghĩa xã hội ra đời; phong trào độc lập dân tộc và phong trào công nhân dâng lên mạnh mẽ. Lực lượng của chủ nghĩa đế quốc suy yếu nghiêm trọng. Đế quốc Mỹ trở thành tên sen đầm quốc tế, ra sức thực hiện chiến lược toàn cầu phản cách mạng.

    Tiến hành chiến tranh xâm lược Việt Nam, đế quốc Mỹ mưu toan áp đặt chủ nghĩa thực dân mới trên đất nước ta, phá hoại sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa của nhân dân ta, đẩy lùi chủ nghĩa xã hội và bao vây, uy hiếp các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Nam châu á. Đế quốc Mỹ muốn chứng tỏ rằng lực lượng quân sự và kinh tế khổng lồ của chúng có thể đè bẹp mọi phong trào giải phóng dân tộc và chặn đứng bước tiến của chủ nghĩa xã hội ở bất cứ nơi nào trên thế giới. Để thực hiện âm mưu ấy, Mỹ đã huy động một lực lượng quân sự to lớn, thực hiện nhiều chiến lược, chiến thuật, sử dụng nhiều vũ khí hiện đại đi đôi với những thủ đoạn ngoại giao xảo quyệt.

    Dưới sự lãnh đạo của Đảng, vượt qua muôn vàn khó khăn, đồng bào và chiến sĩ cả nước ta đã đoàn kết chiến đấu vô cùng anh dũng, trải qua phong trào “đồng khởi” cuối năm 1959 đầu năm 1960, đến cuộc Tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt Tết Mậu Thân đầu năm 1968, cuộc tiến công chiến lược năm 1972 và cuộc chiến đấu đập tan trận tập kích chiến lược bằng B.52 vào Hà Nội, Hải Phòng, đã lần lượt làm thất bại các chiến lược chiến tranh của Mỹ, đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

    Với cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 mà đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đã toàn thắng.

    Thắng lợi oanh liệt của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước mở ra một bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử dân tộc. Nó kết thúc vẻ vang quá trình 30 năm chiến tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc bắt đầu từ Cách mạng Tháng Tám, chấm dứt vĩnh viễn ách thống trị hơn một thế kỷ của chủ nghĩa đế quốc trên đất nước ta, làm cho Tổ quốc ta vĩnh viễn độc lập, thống nhất và đưa cả nước ta tiến lên chủ nghĩa xã hội.

    Thắng lợi ấy làm thất bại cuộc chiến tranh xâm lược thực dân mới quy mô lớn nhất và dài ngày nhất từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai, làm đảo lộn chiến lược toàn cầu của tên đế quốc đầu sỏ, đẩy Mỹ vào tình thế khó khăn chưa từng thấy, thu hẹp và làm suy yếu hơn nữa hệ thống đế quốc chủ nghĩa, củng cố tiền đồn của chủ nghĩa xã hội ở Đông Nam châu á, mở rộng và tăng cường hệ thống xã hội chủ nghĩa, tăng thêm sức mạnh và thế tiến công của các lực lượng cách mạng trên thế giới.

    Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước là thắng lợi của sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng ta, đội tiền phong dày dạn của giai cấp công nhân Việt Nam, người đại biểu trung thành và đầy đủ những lợi ích sống còn, những nguyện vọng sâu xa và chính đáng của nhân dân Việt Nam, của cả dân tộc Việt Nam, người kết hợp nhuần nhuyễn và thành công khoa học cách mạng của giai cấp công nhân là chủ nghĩa Mác – Lênin với nghị lực chiến đấu phi thường và sức sáng tạo vô tận của nhân dân ta, với những tinh hoa trong truyền thống bốn ngàn năm của dân tộc Việt Nam ta.

    Đó là thắng lợi của cuộc chiến đấu đầy gian khổ, hy sinh, ngoan cường và bền bỉ, anh dũng và thông minh của nhân dân và quân đội cả nước, đặc biệt là của các đảng bộ miền Nam, các cán bộ, chiến sĩ công tác và chiến đấu ở miền Nam, và hàng chục triệu đồng bào yêu nước trên tuyến đầu Tổ quốc đã nêu cao tấm gương kiên cường, bất khuất hơn ba mươi năm dưới ách quân xâm lược. Đó là thắng lợi của chế độ xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, thắng lợi của đồng bào miền Bắc vừa xây dựng, vừa chiến đấu để bảo vệ căn cứ địa chung của cả nước, đồng thời động viên ngày càng nhiều sức người, sức của để đánh Mỹ, cứu nước ở miền Nam, một lòng một dạ vì miền Nam ruột thịt.

    Đại hội nhiệt liệt biểu dương lòng yêu nước nồng nàn và chủ nghĩa anh hùng cách mạng tuyệt vời của đồng bào, chiến sĩ, cán bộ, đảng viên thuộc tất cả các dân tộc anh em từ Nam đến Bắc đã đoàn kết chiến đấu không mệt mỏi vì sự nghiệp giải phóng dân tộc và thống nhất Tổ quốc!

    Đại hội nhiệt liệt biểu dương cán bộ, chiến sĩ các lực lượng vũ trang nhân dân anh hùng, suốt mấy chục năm ròng đã chiến đấu cực kỳ anh dũng, lập được những chiến công oanh liệt từ trận Điện Biên Phủ đến Chiến dịch Hồ Chí Minh, làm rạng rỡ truyền thống vẻ vang của quân đội ta, cùng với toàn dân viết nên bản anh hùng ca kỳ diệu của chiến tranh cách mạng Việt Nam.

    Đại hội ghi nhớ công ơn các liệt sĩ đã anh dũng hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản, vì nghĩa vụ thiêng liêng đối với dân tộc và nghĩa vụ quốc tế cao cả. Nhân dân ta tự hào về những người con trung hiếu mẫu mực đã đem máu đào tô thắm lá cờ quang vinh của Tổ quốc.

    Thắng lợi to lớn của sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước cũng như những trang sử chói lọi của cách mạng Việt Nam ngót nửa thế kỷ nay mãi mãi gắn liền với tên tuổi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, người sáng lập và rèn luyện Đảng ta, người khai sinh nền Cộng hoà Dân chủ Việt Nam, người vun trồng khối đại đoàn kết dân tộc và xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng, vị lãnh tụ thiên tài của giai cấp công nhân và nhân dân ta, người anh hùng dân tộc vĩ đại, người chiến sĩ lỗi lạc của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Đại biểu tình cảm sâu sắc nhất của đồng bào và chiến sĩ cả nước, Đại hội kính dâng lên Chủ tịch Hồ Chí Minh chiến công thắng Mỹ, bày tỏ lòng biết ơn vô hạn đối với Bác, Người đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp giải phóng nhân dân, thống nhất Tổ quốc, cho sự nghiệp của Đảng và của dân tộc, làm rạng rỡ non sông đất nước ta, để lại cho chúng ta và các thế hệ mai sau những di sản bất diệt!

    Thắng lợi của chúng ta là thắng lợi của tình đoàn kết chiến đấu không gì lay chuyển nổi của nhân dân ba nước Việt Nam, Lào và Campuchia. Đại hội nhiệt liệt chào mừng thắng lợi lịch sử vĩ đại của nhân dân Lào và nhân dân Campuchia anh em, coi đó như thắng lợi của chính mình, và xin gửi đến các bạn chiến đấu cùng chiến hào lòng biết ơn vô hạn và tình đoàn kết trước sau như một của nhân dân Việt Nam ta.

    Nhân tố quyết định thắng lợi quan trọng nhất là sự lãnh đạo của Đảng ta với đường lối chính trị, đường lối quân sự độc lập, tự chủ, đúng đắn và sáng tạo. Đó là đường lối giương cao hai ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, tiến hành đồng thời hai nhiệm vụ cách mạng quan hệ chặt chẽ với nhau: cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam và cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, nhằm mục tiêu chung là hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước, hoàn thành thống nhất nước nhà, tạo điều kiện để đưa cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội. Với đường lối ấy, Đảng ta đã động viên được đến mức cao nhất lực lượng nhân dân hùng hậu cả nước, kết hợp tiền tuyến lớn với hậu phương lớn, kết hợp sức mạnh nhân dân ta với sức mạnh ba dòng thác cách mạng của thời đại, tạo thành sức mạnh tổng hợp đánh Mỹ và thắng Mỹ.

    Đó là thắng lợi của chiến lược tiến công; luôn luôn giữ vững thế tiến công, đồng thời biết kéo địch xuống thang từng bước, thắng địch từng bước, tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn.

    Đó là thắng lợi của phương pháp cách mạng: sử dụng bạo lực cách mạng tổng hợp bao gồm lực lượng chính trị quần chúng và lực lượng vũ trang nhân dân; tiến hành khởi nghĩa từng phần ở nông thôn và từ khởi nghĩa phát triển thành chiến tranh cách mạng; kết hợp đấu tranh quân sự với đấu tranh chính trị và đấu tranh ngoại giao; kết hợp khởi nghĩa của quần chúng với chiến tranh cách mạng, nổi dậy và tiến công, tiến công và nổi dậy; đánh địch trên cả ba vùng chiến lược: rừng núi, nông thôn đồng bằng và thành thị; đánh địch bằng ba mũi giáp công: quân sự, chính trị, binh vận; kết hợp ba thứ quân: bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân du kích; kết hợp chiến tranh du kích với chiến tranh chính quy; kết hợp đánh lớn, đánh vừa, đánh nhỏ; thực hiện làm chủ để tiêu diệt địch, tiêu diệt địch để làm chủ; nắm vững phương châm chiến lược đánh lâu dài, đồng thời biết tạo thời cơ và nắm vững thời cơ mở những cuộc tiến công chiến lược làm thay đổi cục diện chiến tranh, tiến lên thực hiện tổng tiến công và nổi dậy đè bẹp quân địch giành thắng lợi cuối cùng.

    Đó là thắng lợi của sự chỉ đạo chiến lược sắc bén của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, của Bộ Chính trị, là thắng lợi của nghệ thuật tổ chức chiến đấu của đảng bộ các cấp và các cấp chỉ huy quân đội.

    Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước là một kho kinh nghiệm rất phong phú và quý báu. Cần tổ chức tốt việc tổng kết kinh nghiệm chiến tranh để củng cố quốc phòng, bảo vệ vững chắc chế độ xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn cách mạng mới.

    2. Nhân dân cả nước ta rất tự hào về những thành quả cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc hơn hai mươi năm qua.

    Thắng lợi có ý nghĩa lịch sử là đã xoá bỏ các giai cấp bóc lột và chế độ người bóc lột người, đã xây dựng chế độ sở hữu xã hội chủ nghĩa dưới hai hình thức sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể. Giai cấp công nhân lớn lên cả về số lượng và chất lượng. Nông dân đã trở thành giai cấp nông dân tập thể. Đội ngũ trí thức xã hội chủ nghĩa hình thành và ngày càng phát triển. Quyền nam nữ bình đẳng và quyền dân tộc bình đẳng được thực hiện. Miền Bắc trở thành xã hội của những người lao động làm chủ tập thể, ngày càng đoàn kết và nhất trí về chính trị và tinh thần.

    Cơ sở vật chất – kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội được xây dựng một bước. Đã có những cơ sở đầu tiên của công nghiệp nặng. Năng lực các ngành công nghiệp, giao thông, xây dựng đều tăng so với trước chiến tranh. Trong nông nghiệp, có cố gắng lớn về phát triển thuỷ lợi, về tăng vụ, tăng năng suất trồng trọt và chăn nuôi, về áp dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật tiên tiến. Sự nghiệp giáo dục, y tế, văn hoá, nghệ thuật, thể dục thể thao đều phát triển nhanh. An ninh chính trị và trật tự xã hội được giữ vững. Đời sống vật chất và văn hoá của nhân dân ổn định và có nhiều mặt được cải thiện.

    Những thành tựu to lớn ấy đã đạt được trong hoàn cảnh miền Bắc phải đánh trả hai lần chiến tranh phá hoại ác liệt, phải tập trung sức người, sức của cho sự nghiệp giải phóng miền Nam và gánh vác nghĩa vụ quốc tế. Điều đó chứng tỏ tính ưu việt và sức mạnh vô địch của chủ nghĩa xã hội, khẳng định đường lối cách mạng xã hội chủ nghĩa do Đại hội toàn quốc lần thứ III đề ra và được các hội nghị Ban Chấp hành Trung ương cụ thể hoá và phát triển là hoàn toàn đúng đắn.

    3. Với thắng lợi hoàn toàn của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, cách mạng Việt Nam chuyển sang giai đoạn mới, giai đoạn cả nước độc lập, thống nhất và làm nhiệm vụ chiến lược duy nhất là tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa, tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội.

    Ngày nay, nước nhà đã hoàn toàn độc lập thì Tổ quốc và chủ nghĩa xã hội là một. Chỉ có chủ nghĩa xã hội mới làm cho nhân dân ta vĩnh viễn thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu, có cuộc sống văn minh, hạnh phúc. Chỉ có chủ nghĩa xã hội mới đem lại cho nhân dân ta quyền làm chủ đầy đủ, mới làm cho Tổ quốc ta độc lập, tự do vững chắc và ngày càng giàu mạnh.

    Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thành quả vĩ đại của cuộc đấu tranh lâu dài, gian khổ của nhân dân ta, có lịch sử hết sức vẻ vang, có tiềm lực dồi dào, có tiền đồ xán lạn, là một tiền đồn bất khả xâm phạm của hệ thống xã hội chủ nghĩa, là nhân tố quan trọng của hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội ở Đông Nam châu á và trên thế giới.

    1. Bước sang giai đoạn mới, cách mạng nước ta phát triển với những đặc điểm lớn như sau:

    2. Để đưa cách mạng xã hội chủ nghĩa đến toàn thắng, điều kiện quyết định trước tiên là phải thiết lập và không ngừng tăng cường chuyên chính vô sản, thực hiện và không ngừng phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động.

    Nội dung làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa bao gồm nhiều mặt: làm chủ về chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội; làm chủ xã hội, làm chủ thiên nhiên, làm chủ bản thân, làm chủ trong phạm vi cả nước, trong mỗi địa phương, mỗi cơ sở. Quyền làm chủ tập thể bao gồm quyền tự do chân chính của cá nhân.

    Xây dựng chế độ làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa là một quá trình phát triển không ngừng từ thấp đến cao, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện.

    Phải thông qua hoạt động của Nhà nước và của các đoàn thể quần chúng dưới sự lãnh đạo của Đảng mà phát huy vai trò chủ động và óc sáng tạo của nhân dân, dấy lên những phong trào thi đua lao động, sản xuất, cần kiệm xây dựng chủ nghĩa xã hội, khiến mọi hoạt động của quần chúng đều trở thành hoạt động có tổ chức trên quy mô lớn, phù hợp với quy luật khách quan, kết hợp chặt chẽ tính cách mạng với tính khoa học, tạo nên sức mạnh tổng hợp to lớn, xoá bỏ cái cũ, sáng tạo cái mới.

    Sau khi lật đổ ách thống trị của bọn áp bức, bóc lột, xây dựng chế độ làm chủ tập thể về chính trị là thiết lập quyền lực của nhân dân lao động lấy liên minh công nông làm nòng cốt và do giai cấp công nhân lãnh đạo, là xây dựng các mối quan hệ đúng đắn giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân để bảo đảm cho nhân dân lao động thật sự làm chủ xã hội, hiểu rõ và biết sử dụng quyền lực chính trị của mình.

    Làm chủ tập thể về chính trị đòi hỏi phải bảo vệ vững chắc chủ nghĩa xã hội, bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa đi đôi với xây dựng chủ nghĩa xã hội. Phải luôn luôn đề cao cảnh giác, sẵn sàng đập tan mọi âm mưu và hành động phá hoại và xâm lược của bất cứ kẻ thù nào.

    Làm chủ tập thể về chính trị bao gồm cả nghĩa vụ và quyền lợi; nghĩa vụ đi đôi với quyền lợi. Mỗi công dân có nghĩa vụ lao động, nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc, nghĩa vụ bảo vệ an ninh chính trị và trật tự xã hội, nghĩa vụ bảo vệ tài sản xã hội chủ nghĩa, nghĩa vụ tôn trọng và thi hành pháp luật của Nhà nước, các quy tắc của đời sống tập thể, v.v.. Phải bảo đảm quyền bình đẳng giữa nam và nữ, quyền bình đẳng giữa các dân tộc. Mọi công dân đều được hưởng đầy đủ các quyền tự do dân chủ xã hội chủ nghĩa.

    Để xây dựng quyền làm chủ tập thể về kinh tế, phải xoá bỏ chế độ sở hữu tư bản chủ nghĩa và cải tạo chế độ sở hữu cá thể, xác lập chế độ sở hữu xã hội chủ nghĩa dưới hai hình thức: sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể, bằng những phương pháp và bước đi thích hợp.

    Mọi tư liệu sản xuất chủ yếu trong xã hội phải được sử dụng theo phương hướng và nhiệm vụ của kế hoạch nhà nước, nhằm phục vụ lợi ích của toàn xã hội.

    Đối với các nguồn lao động xã hội, phải có kế hoạch và biện pháp tổ chức, phân công và bố trí hợp lý, để sử dụng với hiệu quả cao nhất trên quy mô cả nước, cũng như trong từng địa phương, từng cơ sở.

    Cần tổ chức lại nền sản xuất xã hội, xây dựng một hệ thống quản lý và kế hoạch hoá có hiệu lực nhằm sử dụng hợp lý và phát huy tốt mọi năng lực sản xuất, làm cho sản xuất và tái sản xuất được thực hiện một cách có kế hoạch, với năng suất ngày càng cao, chất lượng ngày càng tốt, hiệu quả ngày càng lớn.

    Phải xây dựng một chế độ phân phối công bằng, hợp lý, có tổ chức, có kế hoạch và ngày càng đầy đủ, phù hợp với trình độ phát triển sản xuất, nhằm thoả mãn các nhu cầu vật chất và văn hoá của toàn xã hội. Chế độ phân phối phải thực hiện đúng nguyên tắc: “Làm theo năng lực, hưởng theo lao động, có sức lao động mà không làm thì không hưởng”. Đồng thời, tuỳ theo trình độ phát triển sản xuất mà tăng phúc lợi xã hội. Đặc biệt chú ý mở rộng dần việc xã hội đảm nhiệm chăm sóc, nuôi dạy trẻ em.

    Muốn thế, điều có ý nghĩa quyết định là phải thực hiện công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa, tạo ra một cơ cấu kinh tế công – nông nghiệp hiện đại. Con đường cơ bản để tạo ra cơ cấu ấy là ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý trên cơ sở phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ, làm cho công nghiệp và nông nghiệp kết hợp chặt chẽ thành một thể thống nhất, cùng phát triển nhịp nhàng lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa và luôn luôn gắn bó với nhau, thúc đẩy lẫn nhau, phục vụ cho nhau; công nghiệp là nền tảng chủ yếu của nền kinh tế quốc dân, đóng vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân, và nông nghiệp là cơ sở để phát triển công nghiệp.

    Cơ cấu kinh tế ấy là cơ cấu thống nhất cả nước bao gồm kinh tế trung ương và kinh tế địa phương. Phải tập trung cao độ năng lực của cả nước để xây dựng kinh tế trung ương bao gồm những ngành và những cơ sở kinh tế then chốt có tác dụng quyết định nhất đối với sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế quốc dân; đồng thời, phát triển mạnh kinh tế địa phương; làm cho mỗi tỉnh, thành phố có một cơ cấu kinh tế hợp lý, một bộ phận cấu thành của nền kinh tế quốc dân, từng bước xây dựng huyện thành đơn vị kinh tế nông – công nghiệp (ở miền núi và miền biển thì huyện có cơ cấu kinh tế phù hợp với điều kiện của địa phương) theo quy hoạch của cả nước và của tỉnh.

    Phải kết hợp đúng đắn kinh tế với quốc phòng. Xây dựng đất nước phải đi đôi với bảo vệ đất nước. Đi đôi với việc xây dựng đất nước về mọi mặt, phải ra sức xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, xây dựng công nghiệp quốc phòng, bảo đảm cho đất nước sẵn sàng đánh bại mọi cuộc tiến công của bọn xâm lược. Phải kết hợp chặt chẽ nghĩa vụ lao động với nghĩa vụ quân sự để vừa đẩy mạnh xây dựng kinh tế, vừa bảo đảm củng cố quốc phòng một cách vững chắc.

    Nâng cao không ngừng năng suất lao động xã hội, chất lượng sản phẩm, sản xuất và kinh doanh. Có kế hoạch và biện pháp thích hợp để phát động phong trào thi đua lao động sản xuất, cần kiệm xây dựng chủ nghĩa xã hội. Coi trọng công tác tổ chức và quản lý lao động, nhất là khi phần lớn lao động còn là thủ công.

    Nền là nền văn hoá có nội dung xã hội chủ nghĩa và tính chất dân tộc. Đó là nền văn hoá có tính Đảng và tính nhân dân sâu sắc. Nền văn hoá ấy được xây dựng trên cơ sở chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa, vừa kết tinh truyền thống tốt đẹp của dân tộc, vừa hấp thụ có chọn lọc những thành quả của văn minh loài người. Nền văn hoá ấy là sự kết hợp hài hoà những tinh hoa và phong cách riêng của các dân tộc anh em trong đại gia đình dân tộc Việt Nam. Xây dựng nền văn hoá mới là quá trình bồi đắp tư tưởng của giai cấp công nhân, những tình cảm lành mạnh, những phong tục, tập quán tốt đẹp đồng thời đấu tranh quét sạch ảnh hưởng của văn hoá thực dân, phong kiến, tư sản và những nhân tố lạc hậu trong xã hội.

    Chế độ làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa đòi hỏi có những con người mới phù hợp với nó. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, trước hết cần có những con người xã hội chủ nghĩa”. Hoàn cảnh nước ta đòi hỏi và cho phép xây dựng sớm, xây dựng từng bước con người mới, không phải chờ đến sau khi đã có sự phát triển cao của nền sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa.

    Con người mới xã hội chủ nghĩa Việt Nam có những đặc trưng nổi bật là: làm chủ tập thể, lao động, yêu nước xã hội chủ nghĩa và có tinh thần quốc tế vô sản.

    Con người mới là con người có tư tưởng đúng và tình cảm đẹp, có tri thức, có thể lực để làm chủ xã hội, làm chủ thiên nhiên, làm chủ bản thân.

    Con người mới là con người lao động với tinh thần tự giác cao, với đầy đủ nhiệt tình cách mạng, trung thực, thật thà, quý trọng và bảo vệ của công, lao động có kỷ luật, có kỹ thuật, có sáng tạo và đạt năng suất cao.

    Con người mới là con người có lòng yêu nước xã hội chủ nghĩa nồng nàn kết hợp nhuần nhuyễn với tinh thần quốc tế vô sản trong sáng.

    Con người mới là con người có tình thương yêu sâu sắc đối với nhân dân lao động, biết đoàn kết, hợp tác, giúp đỡ nhau trong lao động, chiến đấu và xây dựng cuộc sống mới.

    Con người mới Việt Nam là con người phát triển toàn diện, có cuộc sống tập thể và cuộc sống cá nhân hài hoà, phong phú.

    Phải xây dựng con người mới từ lúc mới lọt lòng và ở mọi lứa tuổi, trong tất cả các tổ chức quần chúng, các cơ sở kinh tế, văn hóa, các hoạt động xã hội, ở mọi ngành, mọi cấp, trong từng khu phố, thôn xóm và gia đình. Phải xây dựng con người mới từ những con người ra đời trong chế độ mới và những con người do chế độ cũ để lại.

    3. Đường lối chung của cách mạng xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn mới ở nước ta là:

    Nắm vững chuyên chính vô sản, phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động, tiến hành đồng thời ba cuộc cách mạng: cách mạng về quan hệ sản xuất, cách mạng khoa học – kỹ thuật, cách mạng tư tưởng và văn hoá, trong đó cách mạng khoa học – kỹ thuật là then chốt; đẩy mạnh công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ trung tâm của cả thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội; xây dựng chế độ làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa, xây dựng nền sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa, xây dựng nền văn hoá mới, xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa; xoá bỏ chế độ người bóc lột người, xoá bỏ nghèo nàn và lạc hậu; không ngừng đề cao cảnh giác, thường xuyên củng cố quốc phòng, giữ gìn an ninh chính trị và trật tự xã hội; xây dựng thành công Tổ quốc Việt Nam hoà bình, độc lập, thống nhất và xã hội chủ nghĩa; góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh của nhân dân thế giới vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội.

    Đường lối xây dựng nền kinh tế xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn mới ở nước ta là:

    Đẩy mạnh công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa nước nhà, xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, đưa nền kinh tế nước ta từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa. Ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý trên cơ sở phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ, kết hợp xây dựng công nghiệp và nông nghiệp cả nước thành một cơ cấu công – nông nghiệp; vừa xây dựng kinh tế trung ương vừa phát triển kinh tế địa phương, kết hợp kinh tế trung ương với kinh tế địa phương trong một cơ cấu kinh tế quốc dân thống nhất; kết hợp phát triển lực lượng sản xuất với xác lập và hoàn thiện quan hệ sản xuất mới; kết hợp kinh tế với quốc phòng; tăng cường quan hệ hợp tác, tương trợ với các nước xã hội chủ nghĩa anh em trên cơ sở chủ nghĩa quốc tế xã hội chủ nghĩa, đồng thời phát triển quan hệ kinh tế với các nước khác trên cơ sở giữ vững độc lập, chủ quyền và các bên cùng có lợi; làm cho nước Việt Nam trở thành một nước xã hội chủ nghĩa có kinh tế công – nông nghiệp hiện đại, văn hoá và khoa học, kỹ thuật tiên tiến, quốc phòng vững mạnh, có đời sống văn minh và hạnh phúc.

    Phấn đấu hoàn thành về cơ bản quá trình đưa nền kinh tế nước ta từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa trong khoảng 20 năm.

    Đó là nội dung cơ bản của cuộc đấu tranh giai cấp gay go và phức tạp nhằm giải quyết vấn đề “ai thắng ai” giữa giai cấp công nhân và giai cấp tư sản, giữa con đường xã hội chủ nghĩa và con đường tư bản chủ nghĩa ở nước ta, để giành thắng lợi hoàn toàn cho chủ nghĩa xã hội.

    Kế hoạch 5 năm 1976 – 1980 phát triển và cải tạo kinh tế, văn hoá, phát triển khoa học, kỹ thuật nhằm cùng một lúc hai mục tiêu vừa cơ bản, vừa cấp bách: xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, cải thiện một bước đời sống vật chất và văn hoá của nhân dân.

    Chúng ta có nhiều thuận lợi rất cơ bản: lực lượng lao động dồi dào, trong đó có lực lượng đáng kể của quân đội nhân dân làm nhiệm vụ xây dựng kinh tế, đội ngũ công nhân và cán bộ khoa học – kỹ thuật khá đông đảo; tiềm lực to lớn của nền nông nghiệp và lâm nghiệp nhiệt đới, của ngư nghiệp và tài nguyên thiên nhiên phong phú, những cơ sở hiện có về công nghiệp nặng, công nghiệp nhẹ và công nghiệp thực phẩm; sự giúp đỡ quý báu và hợp tác to lớn về kinh tế và kỹ thuật của các nước xã hội chủ nghĩa anh em và các nước khác. Với những thuận lợi ấy, chúng ta phải động viên toàn Đảng, toàn dân, toàn quân nêu cao tinh thần làm chủ tập thể, ý chí tự lực tự cường, hăng hái vươn lên, khắc phục khó khăn, hoàn thành nhiệm vụ trước mắt.

    Nhiệm vụ cơ bản của kế hoạch 5 năm 1976 – 1980 là:

    – Tập trung cao độ lực lượng của cả nước, của các ngành, các cấp, tạo ra một bước phát triển vượt bậc về nông nghiệp; ra sức đẩy mạnh lâm nghiệp, ngư nghiệp; phát triển công nghiệp nhẹ và công nghiệp thực phẩm (bao gồm cả thủ công nghiệp và tiểu công nghiệp), nhằm giải quyết vững chắc nhu cầu của cả nước về lương thực, thực phẩm và một phần quan trọng hàng tiêu dùng thông thường; cải thiện một bước đời sống vật chất và văn hoá của nhân dân, tạo tích luỹ cho công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa.

    – Phát huy năng lực sẵn có và xây dựng thêm nhiều cơ sở mới về công nghiệp nặng, đặc biệt là cơ khí, nhằm phục vụ trước hết cho nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp và công nghiệp nhẹ, chuẩn bị cho bước trang bị kỹ thuật trong thời kỳ tiếp theo; tích cực mở mang giao thông vận tải; tăng nhanh năng lực xây dựng cơ bản; đẩy mạnh công tác khoa học – kỹ thuật. Chuẩn bị về mọi mặt để triển khai xây dựng lớn trong những kế hoạch dài hạn sau này.

    – Sử dụng hết lực lượng lao động xã hội; tổ chức và quản lý tốt lao động; phân bố lại lao động giữa các vùng và các ngành trong cả nước nhằm tăng rõ rệt năng suất lao động xã hội. Hình thành bước đầu cơ cấu kinh tế mới công – nông nghiệp, kết hợp kinh tế trung ương với kinh tế địa phương, từng bước xây dựng huyện thành đơn vị kinh tế nông – công nghiệp (đối với miền núi là đơn vị lâm – nông – công nghiệp); kết hợp kinh tế với quốc phòng, tăng cường nền quốc phòng toàn dân.

    – Ra sức phát triển sự nghiệp giáo dục, văn hoá, xã hội, tiến hành cải cách giáo dục, đẩy mạnh đào tạo cán bộ và công nhân kỹ thuật, thanh toán hậu quả của chiến tranh và ảnh hưởng của chủ nghĩa thực dân mới.

    – Thực hiện một sự chuyển biến sâu sắc trong tổ chức và quản lý kinh tế, xây dựng hệ thống mới về quản lý kinh tế trong cả nước.

    A- Phương hướng phát triển của các ngành kinh tế quốc dân

    1. Nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp

    Phát triển toàn diện cả trồng trọt và chăn nuôi, đẩy mạnh lâm nghiệp, ngư nghiệp theo hướng sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa, nhằm sớm bảo đảm đủ lương thực, thực phẩm cho toàn xã hội và có lương thực dự trữ; cung ứng nguyên liệu cho công nghiệp, tăng nhanh nguồn hàng xuất khẩu. Tiến hành phân vùng, quy hoạch sản xuất để phát triển tất cả các vùng: đồng bằng, trung du, miền núi và miền biển, sớm hình thành những khu vực lớn sản xuất tập trung và chuyên môn hoá. Coi trọng cả ba mặt: thâm canh, tăng vụ và mở rộng diện tích. Tập trung đầu tư lớn và phát động phong trào quần chúng để đẩy mạnh thuỷ lợi; đẩy mạnh việc sản xuất các loại phân bón ruộng và chú trọng cải tạo đất; xây dựng hệ thống giống quốc gia cung ứng các loại giống mới có năng suất cao; mở rộng địa bàn cơ khí hoá.

    Về lương thực, đẩy mạnh thâm canh đi đôi với mở rộng diện tích trồng lúa bằng tăng vụ và khai hoang, xây dựng những vùng lúa trọng điểm lớn; phát triển mạnh màu (ngô, khoai, sắn, khoai tây, cao lương), hình thành những vùng màu tập trung thâm canh, sản xuất đi đôi với chế biến. Phát triển cây thực phẩm, sản xuất tập trung thành những vùng chuyên môn hoá, những vành đai quanh thành phố, khu công nghiệp, đồng thời phát triển rộng trong các gia đình. Xây dựng những vùng cây công nghiệp tập trung, đặc biệt là ở trung du và miền núi. Phát triển trên quy mô lớn các loại cây có sợi (bông, đay, gai, dâu tằm), các loại cây có dầu (lạc, đậu tương, dừa, sở…), mía, các cây cao su, chè, thuốc lá, cà phê, dứa, chuối, v.v. các loại cây làm thuốc.

    Phát triển mạnh công nghiệp chế biến lương thực, thực phẩm ở khắp các địa phương, gắn chặt với sản xuất nông nghiệp.

    2. Công nghiệp nhẹ, thủ công nghiệp và tiểu công nghiệp

    Tận dụng mọi năng lực sản xuất, mọi hình thức tổ chức để sản xuất ngày càng nhiều hàng tiêu dùng, sớm chấm dứt tình trạng thiếu hàng tiêu dùng thông thường. Tập trung sức phát triển những ngành thuộc nhu cầu thiết yếu của đời sống vật chất và văn hoá của nhân dân; coi trọng việc làm thêm nhiều mặt hàng bảo hộ lao động. Phải chủ động giải quyết vấn đề nguyên liệu, thiết bị và kỹ thuật; nâng cao chất lượng sản phẩm, mỹ thuật công nghiệp và hạ giá thành sản phẩm. Trang bị hiện đại cho những cơ sở sản xuất hàng xuất khẩu, bảo đảm làm ra sản phẩm đạt trình độ quốc tế. Nhanh chóng nắm chắc và sử dụng tốt lực lượng công nghiệp nhẹ trong cả nước của quốc doanh trung ương và địa phương, của hợp tác xã và nghề phụ gia đình; mở rộng năng lực sản xuất của những cơ sở cũ, xây dựng thêm một số cơ sở mới cần thiết. Thủ công nghiệp và tiểu công nghiệp có vị trí quan trọng lâu dài trong nền kinh tế quốc dân, cần được đặc biệt chú ý phục hồi và phát triển mạnh, nhất là những nghề thủ công cổ truyền và mỹ nghệ ở các địa phương.

    3. Công nghiệp nặng

    Trong kế hoạch 5 năm 1976-1980, công nghiệp nặng phải phát huy vai trò chủ yếu trong việc phục vụ và thúc đẩy nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp và công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng.

    Ngành cơ khí phải được nhanh chóng xây dựng lớn mạnh. Hoàn thành sớm việc quy hoạch xây dựng và sản xuất cơ khí trong cả nước; đẩy mạnh chuyên môn hoá và hiệp tác hoá sản xuất giữa cơ khí của các ngành và các địa phương. Sắp xếp, cải tạo và mở rộng những xí nghiệp hiện có; tập trung sức xây dựng một số xí nghiệp mới quan trọng. Cung ứng đủ công cụ thường và công cụ cải tiến với chất lượng tốt; bảo đảm phần lớn nhu cầu sửa chữa máy móc, thiết bị và nhu cầu phụ tùng của các ngành kinh tế; sản xuất nhiều máy công cụ, động cơ, máy kéo, bơm, máy móc nông nghiệp; lắp ráp xe vận tải, đóng tàu vận tải biển, tàu đánh cá, tàu hút bùn, tuốcbin thuỷ điện cỡ nhỏ; sản xuất hàng loạt thiết bị toàn bộ cỡ vừa và nhỏ cho các nhà máy gạch, ngói, xi măng, đường, chè, xay xát gạo…; cung ứng một phần thiết bị lạnh, thiết bị mỏ, thiết bị điện, máy móc xây dựng. Bắt đầu xây dựng công nghiệp điện tử.

    Về năng lượng, kết hợp thuỷ điện với nhiệt điện; xây dựng lưới điện cân đối với nguồn điện; mở rộng một số nhà máy điện cũ và xây dựng một số nhà máy mới; xây dựng nhiều trạm thuỷ điện nhỏ ở trung du và miền núi. Triệt để phát huy các mỏ than cũ, xây dựng nhanh nhiều mỏ mới. Bảo đảm các khâu vận chuyển, sàng rửa, bến cảng cân đối với nhịp độ khai thác. Phát triển công nghiệp chế biến than. Đẩy mạnh tìm kiếm, thăm dò để sớm khai thác dầu mỏ và khí thiên nhiên, chuẩn bị xây dựng cơ sở lọc dầu và hoá dầu; xúc tiến nghiên cứu để khai thác và sử dụng các dạng năng lượng khác.

    Phát triển luyện kim từng bước, cân đối với sản xuất cơ khí và quy mô xây dựng cơ bản. Hoàn thành xây dựng và mở rộng các cơ sở luyện thép hiện có; xây dựng nhiều lò thép điện trong các nhà máy cơ khí; chuẩn bị khởi công xây dựng cơ sở luyện thép cỡ lớn. Mở rộng sản xuất cờrômít, thiếc; chuẩn bị xây dựng các cơ sở luyện chì, kẽm, v.v. tìm kiếm những nguồn quặng mới.

    Đẩy mạnh công nghiệp hoá chất phát triển toàn diện, bao gồm hoá chất vô cơ và hữu cơ. Phát triển phân bón hoá học và các hoá chất khác để phục vụ nông nghiệp; sớm khởi công xây dựng cơ sở sợi nhân tạo, các nhà máy xút và một số nhà máy hoá chất cơ bản; phát triển hoá dược; chế biến các sản phẩm từ cao su, hương liệu, tinh dầu, v.v..

    Đẩy mạnh điều tra cơ bản, nghiên cứu địa chất và tìm kiếm, thăm dò tài nguyên. Tăng cường cán bộ và cơ sở vật chất – kỹ thuật cho ngành địa chất và các công tác điều tra cơ bản khác.

    4. Xây dựng

    Phải nhanh chóng phát triển ngành xây dựng cả về số lượng và chất lượng. Nâng cao năng lực của ngành xây dựng; trang bị đủ công cụ cho công nhân, phấn đấu để cơ khí hoá các khâu nặng nhọc, có khối lượng lớn, thực hiện một bước công xưởng hoá xây dựng. áp dụng các phương pháp xây dựng tiên tiến; tiết kiệm đất đai, vật liệu và thời gian xây dựng; quản lý chặt chẽ các định mức kinh tế – kỹ thuật.

    Phát triển mạnh công nghiệp vật liệu xây dựng, vừa xây dựng những xí nghiệp lớn hiện đại, vừa phát triển rộng rãi những xí nghiệp quy mô vừa và nhỏ ở các địa phương. Tích cực phát triển xi măng, gạch, ngói và các vật liệu cơ bản khác; tăng nhanh vật liệu trang trí, chống ẩm, cách nhiệt… Tiến tới bảo đảm đủ các loại vật liệu xây dựng.

    Hết sức coi trọng việc tăng cường công tác chuẩn bị đầu tư và chuẩn bị xây dựng. Đẩy mạnh công tác xây dựng quy hoạch và tăng nhanh năng lực khảo sát, thiết kế. Phát triển nghệ thuật kiến trúc xã hội chủ nghĩa có tính hiện đại và tính dân tộc.

    Tăng cường lực lượng của Bộ Xây dựng, bao gồm cả lực lượng của trung ương và lực lượng của địa phương, thành lực lượng trụ cột của toàn ngành xây dựng; phát triển đúng mức lực lượng xây dựng chuyên môn hoá của các ngành; phát triển các đội xây dựng của hợp tác xã, các đội bảo quản và sửa chữa nhà cửa. Sử dụng tốt lực lượng bộ đội trong việc xây dựng cơ bản. Cải tạo và sử dụng hợp lý các hãng thầu xây dựng tư nhân ở miền Nam.

    5. Giao thông vận tải và bưu điện

    Phát triển toàn diện giao thông vận tải, bảo đảm một tỷ lệ hợp lý giữa xây dựng đường sá, bến cảng, kho tàng… với sản xuất và sửa chữa phương tiện bốc xếp và vận tải. Tăng cường cơ khí chế tạo và sửa chữa các phương tiện bốc xếp và vận tải.

    Phát triển nhanh đội tàu biển, xây dựng, mở rộng và quản lý tốt hệ thống cảng biển; phát triển công nghiệp đóng tàu và toa xe. Cơ khí hoá vận tải đường sông; xây dựng các cảng sông có trình độ cơ khí hoá cao, có mức bốc xếp lớn. Hiện đại hoá một bước đường sắt Hà Nội – Thành phố Hồ Chí Minh; mở thêm một số tuyến đường sắt mới. Bảo dưỡng, nâng cấp và xây dựng mới đường bộ; đẩy mạnh sản xuất phương tiện và phụ tùng. Tổ chức lại giao thông vận tải thành phố; phát triển giao thông vận tải ở nông thôn đồng bằng, trung du, miền núi và các vùng kinh tế mới. Mở rộng hệ thống đường ống. Xây dựng hàng không dân dụng.

    Phát triển công nghiệp thông tin; hiện đại hoá từng bước mạng lưới thông tin bưu điện, bảo đảm thông tin liên lạc thông suốt, nhanh chóng, bí mật, an toàn.

    6. Lưu thông, phân phối, xuất khẩu và nhập khẩu

    Chính sách giá cả phải có tác dụng bảo đảm thực hiện các nhiệm vụ của kế hoạch nhà nước, thúc đẩy sản xuất và phân công lao động, khuyến khích tăng năng suất lao động, đẩy mạnh tiến bộ khoa học – kỹ thuật, bảo đảm và nâng cao dần thu nhập thực tế của người lao động, điều tiết cung cầu, tham gia phân phối và phân phối lại thu nhập quốc dân một cách đúng đắn. Trong việc xác định giá cả, cần tính toán đúng mức và chặt chẽ, sát với thực tế, bảo đảm cho giá cả bù đắp được chi phí sản xuất và có lợi nhuận cho cơ sở sản xuất để tái sản xuất mở rộng và cải thiện đời sống của người lao động. Cần nghiên cứu xây dựng một hệ thống giá hợp lý hơn, nhất là giá thu mua nông, lâm, hải sản và giá bán hàng tiêu dùng và tư liệu sản xuất cho khu vực kinh tế tập thể. Nhanh chóng xây dựng hệ thống giá thành, giá bán buôn xí nghiệp và giá bán buôn công nghiệp để thực hiện chế độ hạch toán kinh tế. Quản lý tốt thị trường, ổn định giá cả, tiến tới giảm giá một số hàng trên cơ sở phát triển sản xuất và nâng cao năng suất lao động. Đấu tranh để ổn định giá cả ở miền Nam, tiến hành khẩn trương việc thống nhất giá cả trong cả nước.

    Nhiệm vụ cơ bản về tài chính là làm chủ các nguồn vốn, để bảo đảm thực hiện đường lối và kế hoạch phát triển kinh tế; xây dựng một quan hệ hợp lý giữa quỹ tiêu dùng và quỹ tích luỹ. Tài chính phải làm tốt vai trò kiểm tra mọi hoạt động sản xuất và kinh doanh, phát huy tác dụng tích cực của tài chính thúc đẩy phát triển sản xuất, tăng năng suất lao động xã hội. Xây dựng một ngân sách tích cực, nhằm bảo đảm tốt kế hoạch phát triển kinh tế, mở mang các hoạt động văn hoá, xã hội, bảo đảm quốc phòng và giữ gìn an ninh. Quản lý chặt chẽ việc thu, chi tài chính thống nhất trong các cấp ngân sách, đồng thời xác định đúng đắn quyền hạn về thu, chi tài chính của các cấp chính quyền địa phương, tương ứng với nhiệm vụ về quản lý kinh tế, quản lý nhà nước của mỗi cấp.

    Nhiệm vụ cơ bản về ngân hàng là thông qua hoạt động tín dụng, tiền tệ mà tham gia xây dựng và thúc đẩy thực hiện kế hoạch kinh tế, cung ứng vốn tín dụng, kiểm soát bằng đồng tiền các hoạt động sản xuất, kinh doanh, nhằm thúc đẩy sản xuất và tăng cường chế độ hạch toán kinh tế. Phát triển mạnh tín dụng, bảo đảm vốn sản xuất kinh doanh đối với khu vực kinh tế quốc doanh; mở rộng việc cho vay đối với kinh tế tập thể để phát triển sản xuất theo kế hoạch nhà nước. Thu hút tiền tiết kiệm và vốn nhàn rỗi trong xã hội. Xây dựng ngân hàng thành trung tâm thanh toán có hiệu lực. Quản lý chặt chẽ tiền mặt và lưu thông tiền tệ.

    7. Lao động, tiền lương

    Phải tổ chức và phân công lại lao động trong phạm vi cả nước, trong từng ngành, từng địa phương và từng cơ sở. Chuyển một khối lượng lớn lao động nông nghiệp từ những vùng đông dân tới những vùng thưa dân để tạo thêm đất canh tác. Mở mang sản xuất để thanh toán nạn thất nghiệp ở các vùng mới giải phóng, bảo đảm cho mọi người đến tuổi lao động đều có việc làm. Chủ động dùng mọi hình thức tổ chức, mọi phương pháp lao động để sử dụng hết các nguồn lao động. Thi hành chế độ nghĩa vụ lao động, buộc mọi người có sức lao động đều phải lao động. Sử dụng tốt lực lượng quân đội nhân dân trong công cuộc xây dựng kinh tế. Làm tốt công tác tiêu chuẩn hoá và công tác định mức kinh tế – kỹ thuật, nghiên cứu áp dụng khoa học tổ chức lao động, áp dụng những phương pháp tiên tiến về tổ chức và quản lý lao động. Đẩy mạnh giáo dục tư tưởng, thi hành đúng đắn chính sách tiền lương, tiền thưởng, phúc lợi; đề cao kỷ luật lao động. Sớm ban hành luật lao động, coi trọng việc cải thiện điều kiện lao động, bảo đảm an toàn lao động, tích cực chống tai nạn lao động, chú ý vệ sinh lao động và bảo vệ sức khoẻ của người lao động. Trang bị đủ công cụ cho lao động, đẩy mạnh cơ khí hoá lao động, trước hết ở những khâu nặng nhọc. Đào tạo công nhân kỹ thuật, nâng cao tay nghề của người lao động một cách có hệ thống.

    Cải tiến chế độ tiền lương nhằm thực hiện đầy đủ hơn nguyên tắc phân phối theo lao động. Tiền lương cùng với phúc lợi tập thể phải bảo đảm tái sản xuất sức lao động, bảo đảm đời sống của người lao động và gia đình họ. Lao động có kỹ thuật, lao động ở những ngành, nghề nặng nhọc, tiếp xúc với môi trường độc hại, ở những vùng có nhiều khó khăn cần được đãi ngộ thích đáng.

    8. Cải thiện một bước đời sống của nhân dân

    Ra sức phấn đấu để giảm dần những khó khăn trong đời sống của nhân dân lao động thành thị và nông thôn, đặc biệt chú trọng các vùng bị chiến tranh tàn phá, các vùng dân tộc ít người, các vùng xa xôi, hẻo lánh, vùng biên giới. Ra sức phát triển sản xuất, bảo đảm cho xã hội có đủ mọi nhu yếu phẩm. Coi trọng công tác tổ chức đời sống. Trong 5 năm tới, phải bảo đảm cho mọi người có đủ lương thực, rau đậu, có thêm cá, thịt, nước chấm, đường, trứng, trái cây… Bảo đảm mặc lành, đủ ấm. Giảm bớt khó khăn về nhà ở tại các thành phố và khu công nghiệp, làm thêm nhiều nhà ở, giếng nước, nhà tắm, nhà vệ sinh tại nông thôn; tăng nhanh vật liệu và lực lượng xây dựng nhà ở; xây dựng các khu dân cư theo quy hoạch và thiết kế mẫu, cung ứng hàng tiêu dùng thông dụng. Bảo đảm nhu cầu đi lại của nhân dân thông suốt trong cả nước, giữa miền xuôi, miền núi và các vùng kinh tế mới, giữa thành thị và nông thôn. Chú ý tăng cường các cơ sở phúc lợi tập thể. Coi trọng việc tổ chức đời sống văn hoá tươi vui và lành mạnh của nhân dân. Săn sóc gia đình thương binh, liệt sĩ, gia đình có công với cách mạng gặp khó khăn. Chú ý thích đáng đời sống của những người già không con cháu và những người tàn tật. Chăm sóc, nuôi dạy tốt trẻ mồ côi.

    B- Phát triển khoa học, kỹ thuật

    Phát triển khoa học và kỹ thuật nhằm phục vụ sản xuất, đời sống và quốc phòng. Phát huy tinh thần cách mạng tiến công, tự lực tự cường, chủ động, sáng tạo, đồng thời ra sức vận dụng những thành tựu khoa học, kỹ thuật hiện đại trên thế giới. Tập trung lực lượng và phương tiện để giải quyết dứt điểm những vấn đề quan trọng nhất. Đề cao tinh thần hợp tác xã hội chủ nghĩa. Kết hợp tốt việc giảng dạy, nghiên cứu khoa học với hoạt động sản xuất. Đẩy mạnh phong trào quần chúng tiến quân vào khoa học, kỹ thuật. Xây dựng chế độ quản lý khoa học đúng đắn.

    Về khoa học tự nhiên và kỹ thuật, phấn đấu để sau ba – bốn kế hoạch 5 năm, tạo được một nền khoa học, kỹ thuật hiện đại cho đất nước. Trước mắt, phải giải quyết những vấn đề đặt ra trong sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, công nghiệp, xây dựng, giao thông vận tải. Phải làm cho khoa học, kỹ thuật trở thành căn cứ của kế hoạch và hoạt động kinh tế. Kế hoạch phát triển và ứng dụng khoa học kỹ thuật là một bộ phận hợp thành của kế hoạch nhà nước.

    Đưa công tác quản lý kỹ thuật vào nền nếp, bổ sung hệ thống tiêu chuẩn, định mức kinh tế – kỹ thuật, làm tốt công tác đo lường, kiểm tra kỹ thuật, kiểm tra chất lượng sản phẩm, quản lý sáng chế, phát minh.

    Các ngành khoa học xã hội, trước hết là triết học, chính trị kinh tế học, chủ nghĩa xã hội khoa học, phải tiếp tục làm sáng tỏ những vấn đề lớn trong đường lối, chính sách của Đảng, tập trung chủ yếu vào các vấn đề sau đây: các quy luật của chủ nghĩa xã hội; con đường từ sản xuất nhỏ tiến lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa; chuyên chính vô sản và quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động; ba cuộc cách mạng; xây dựng chế độ mới, nền kinh tế mới, nền văn hoá mới và con người mới; công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa; tổ chức và quản lý kinh tế; xây dựng Đảng trong điều kiện Đảng lãnh đạo chính quyền, v.v.. Tuyên truyền, giáo dục chủ nghĩa Mác – Lênin, làm cho chủ nghĩa Mác – Lênin chiếm địa vị thống trị trong đời sống tinh thần của xã hội; đấu tranh chống mọi quan điểm sai lầm và thù địch. Mở rộng và nâng cao chất lượng công tác nghiên cứu trên các lĩnh vực luật học, xã hội học, sử học, khảo cổ học, dân tộc học, ngôn ngữ học, văn học, nghệ thuật,…

    C- Cải tạo quan hệ sản xuất cũ, củng cố và hoàn thiện quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa

    miền Bắc, trên cơ sở đẩy mạnh công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa, tiếp tục củng cố và hoàn thiện quan hệ sản xuất mới, xây dựng và cải tiến chế độ quản lý và chế độ phân phối. Mở rộng thành phần quốc doanh, củng cố các cơ sở quốc doanh về mọi mặt. Làm tốt cuộc vận động tổ chức lại sản xuất và cải tiến quản lý trong nông nghiệp. Đưa kỹ sư, kỹ thuật viên và cán bộ về tăng cường cho bộ máy quản lý của huyện và hợp tác xã. Củng cố và tăng cường hợp tác xã tiểu công nghiệp, thủ công nghiệp, làm cho sản xuất tiểu công nghiệp, thủ công nghiệp phát triển mạnh mẽ và phù hợp với phương hướng của kế hoạch nhà nước. Đối với kinh tế cá thể, cần hướng dẫn và quản lý phát triển đúng hướng.

    miền Nam, xoá bỏ triệt để quyền chiếm hữu phong kiến về ruộng đất và những tàn tích bóc lột phong kiến; quốc hữu hoá những cơ sở công thương nghiệp của tư sản mại bản, bọn phản quốc và bọn tư sản chạy ra nước ngoài; tiến hành cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với tư bản tư doanh; hợp tác hoá nông nghiệp, tổ chức lại thủ công nghiệp và thương nghiệp nhỏ. Kết hợp cách mạng về quan hệ sản xuất với cách mạng khoa học – kỹ thuật và cách mạng tư tưởng và văn hoá, gắn chặt với quá trình tổ chức lại sản xuất và lưu thông trong cả nước, đưa miền Nam tiến lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở phát triển thành phần kinh tế xã hội chủ nghĩa, cần tận dụng mọi khả năng của các thành phần kinh tế khác để phát triển sản xuất, bảo đảm cung ứng tốt nhu cầu của xã hội.

    Xây dựng kinh tế quốc doanh lớn mạnh nhanh chóng, chiếm ưu thế trong sản xuất và lưu thông, phân phối. Đối với xí nghiệp tư bản tư doanh, phải cải tạo xã hội chủ nghĩa chủ yếu bằng con đường công tư hợp doanh. Đi đôi với cải tạo quan hệ sản xuất, cần sắp xếp lại lực lượng sản xuất cho hợp lý trong phạm vi toàn ngành; tăng cường quản lý, bổ sung thiết bị để mở rộng sản xuất.

    Đối với nông nghiệp, tiến hành hợp tác hoá đi đôi với thuỷ lợi hoá và cơ giới hoá; coi trọng cả xây dựng hợp tác xã và xây dựng nông trường quốc doanh; gắn liền xây dựng hợp tác xã với xây dựng huyện. Trước mắt, phải quy hoạch, phân vùng sản xuất, củng cố nông hội, phát triển tổ đổi công, tổ đoàn kết sản xuất, xây dựng hợp tác xã thí điểm; kiện toàn ngay cấp huyện để đủ sức lãnh đạo ba cuộc cách mạng ở nông thôn, chuẩn bị những điều kiện cần thiết để mở rộng hợp tác hoá.

    Trong ngư nghiệp, phát triển thành phần quốc doanh; xác lập mối liên hệ trực tiếp giữa Nhà nước với ngư dân, giúp đỡ ngư dân thoát khỏi mọi sự bóc lột và tiến dần lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa bằng những hình thức thích hợp.

    Đối với tiểu công nghiệp, thủ công nghiệp và những ngành dịch vụ cần thiết cho xã hội, phải sắp xếp lại theo ngành dưới sự quản lý của Nhà nước. Tuỳ theo đặc điểm của từng ngành, nghề mà áp dụng những hình thức tổ chức và cải tạo thích hợp. Việc cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với tiểu công nghiệp và thủ công nghiệp phải đưa đến kết quả phát triển sản xuất, giữ gìn và nâng cao kỹ thuật sản xuất, làm phong phú mặt hàng và bảo đảm chất lượng sản phẩm.

    Xoá bỏ ngay thương nghiệp tư bản chủ nghĩa. Chuyển phần lớn tiểu thương sang sản xuất. Đối với số còn được phép kinh doanh, phải tăng cường quản lý bằng những chính sách và biện pháp thích hợp.

    Nhiệm vụ trung tâm của cách mạng tư tưởng và văn hoá là xây dựng nền văn hoá mới và con người mới xã hội chủ nghĩa; tuyên truyền, giáo dục sâu rộng chủ nghĩa Mác – Lênin và đường lối chính sách của Đảng; đấu tranh chống tư tưởng và văn hoá phản động, lạc hậu của các giai cấp bóc lột. Trước mắt, cần phổ biến sâu rộng các nghị quyết của Đại hội lần thứ IV của Đảng; tiến hành cải cách giáo dục, phát triển văn học, nghệ thuật; giáo dục tư tưởng xã hội chủ nghĩa, chống tư tưởng tư sản và tàn dư tư tưởng phong kiến, phê phán tư tưởng tiểu tư sản, quét sạch ảnh hưởng của tư tưởng và văn hoá thực dân mới ở miền Nam.

    Trong công tác văn hoá, phải luôn luôn bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng, phải nhằm phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân, phục vụ công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội; kế thừa có chọn lọc, có phê phán và có sáng tạo những giá trị tinh thần và văn hoá của dân tộc cũng như của nền văn minh loài người; kết hợp xây dựng với cải tạo, áp dụng phương pháp phê bình và tự phê bình.

    Tiến hành cải cách giáo dục trong cả nước, làm cho hệ thống giáo dục quốc dân gắn chặt hơn nữa với sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa. Mục tiêu của cải cách giáo dục là đào tạo có chất lượng tốt những người lao động mới; trên cơ sở đó, đào tạo và bồi dưỡng với quy mô ngày càng lớn đội ngũ công nhân kỹ thuật và cán bộ quản lý, cán bộ khoa học, kỹ thuật và nghiệp vụ. Cải cách giáo dục phải làm cho giáo dục thấu suốt hơn nữa nguyên lý học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, nhà trường gắn liền với xã hội. Nâng cao chất lượng toàn diện của nội dung giáo dục: hiện đại hoá chương trình học tập khoa học và kỹ thuật, mở rộng kiến thức quản lý kinh tế; tăng cường giáo dục chủ nghĩa Mác – Lênin, đường lối, chính sách của Đảng và đạo đức cách mạng; bồi dưỡng kỹ năng lao động sản xuất và năng lực nghiên cứu khoa học, kỹ thuật; coi trọng đúng mức giáo dục thẩm mỹ, thể dục thể thao và luyện tập quân sự. Để triển khai và bảo đảm cuộc cải cách này, cần cải cách hệ thống sư phạm, đẩy mạnh đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng hợp lý đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục, biên soạn sách giáo khoa, xây dựng trường sở, sản xuất đủ thiết bị giảng dạy và nghiên cứu khoa học.

    Phát triển giáo dục phổ thông; sớm thanh toán nạn mù chữ; bảo đảm cho tất cả thanh niên, thiếu niên được học đầy đủ bậc phổ thông cơ sở và từng bước đạt bậc phổ thông trung học; mở các loại trường vừa học, vừa làm; tăng cường công tác bổ túc văn hoá cho những người lao động lớn tuổi, nhất là những cán bộ và thanh niên ở miền Nam đã trải qua đấu tranh cách mạng, ở các vùng dân tộc, vùng cao.

    Phát triển mạng lưới mẫu giáo, nâng cao chất lượng mẫu giáo.

    Phát triển rộng rãi các trường dạy nghề. Xây dựng quy hoạch dài hạn về đào tạo công nhân, nâng cao chất lượng đào tạo. Mở rộng việc đào tạo và bồi dưỡng giáo viên dạy nghề, tăng cường cơ sở vật chất – kỹ thuật cho các trường dạy nghề.

    Đẩy mạnh phong trào thi đua “dạy tốt, học tốt” theo gương các điển hình tiên tiến; cải tiến bộ máy quản lý và công tác quản lý từ cấp Bộ đến trường học, phát động và tổ chức giáo viên và học sinh làm chủ tập thể sự nghiệp giáo dục, tạo điều kiện cho các đoàn thể quần chúng thật sự tham gia quản lý nhà trường.

    Các ngành báo chí, thông tấn, xuất bản, thông tin, truyền thanh, truyền hình, điện ảnh, nhiếp ảnh, v.v. phải kịp thời làm sáng tỏ quan điểm của Đảng về những sự kiện quan trọng trong nước và trên thế giới, góp phần nâng cao tinh thần yêu nước xã hội chủ nghĩa, ý thức tôn trọng và chấp hành nghiêm chỉnh các chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, các quy tắc, thể lệ về trật tự, an ninh, nâng cao nhiệt tình lao động của quần chúng, hướng dẫn kịp thời và đúng đắn dư luận xã hội, làm phong phú đời sống văn hoá và tinh thần của nhân dân. Mở rộng và nâng cao hơn nữa nội dung và phương pháp thể hiện của các báo, đài, phim ảnh và các xuất bản phẩm. Tăng cường cán bộ và cung ứng đủ những phương tiện và vật tư cần thiết cho các ngành đó.

    Phát triển văn hoá tốt đẹp của tất cả các dân tộc trong nước, đẩy mạnh phong trào văn hoá, văn nghệ quần chúng. Nâng cao không ngừng trình độ thưởng thức và năng lực sáng tạo nghệ thuật của quần chúng; thoả mãn ngày càng đầy đủ nhu cầu thưởng thức và hoạt động văn hoá của nhân dân trên khắp mọi miền đất nước.

    Văn nghệ sĩ phải được bồi dưỡng về thế giới quan Mác – Lênin, về đường lối, chính sách của Đảng, về kiến thức văn hoá; phải luôn luôn gắn bó với quần chúng lao động, đi sâu vào phong trào cách mạng của quần chúng. Giúp đỡ văn nghệ sĩ vùng mới giải phóng tiến bộ về chính trị và tư tưởng, gắn bó với cách mạng, đem tài năng phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân.

    Xây dựng nếp sống mới văn minh, trật tự, tươi vui, lành mạnh trong xã hội, đưa cái đẹp vào đời sống hàng ngày, vào lao động sản xuất. Xây dựng nhiều công viên, cung văn hoá, cung thiếu nhi, câu lạc bộ, nhà văn hoá. Chú ý tổ chức tốt đời sống văn hoá ở các vùng kinh tế mới, ở các nông trường, công trường, lâm trường, ở các vùng dân tộc, ở miền núi và hải đảo.

    Kiên trì phương hướng y học dự phòng, phối hợp chặt chẽ vệ sinh phòng bệnh với thể dục thể thao. Làm sạch môi trường sống, thực hiện nghiêm ngặt vệ sinh thực phẩm, vệ sinh lao động, vệ sinh trường học và tổ chức tốt việc tiêm phòng; ngăn ngừa và kịp thời dập tắt các bệnh dịch. Thanh toán các bệnh xã hội, trước hết là sốt rét, lao… Giải quyết tốt các di chứng vết thương chiến tranh. Chủ động đề phòng nạn ô nhiễm môi trường trong quá trình phát triển công nghiệp; phòng và chống có hiệu quả những bệnh nghề nghiệp.

    Nâng cao chất lượng khám bệnh và chữa bệnh; coi trọng việc chăm sóc sức khoẻ của trẻ em, phụ nữ, đồng bào dân tộc ít người và người già. Vận động nhân dân bỏ những tập quán lạc hậu, mê tín dị đoan, có hại đến sức khoẻ, xây dựng nếp sống vệ sinh, lành mạnh.

    Kết hợp chặt chẽ y học hiện đại với y học cổ truyền của dân tộc, xây dựng nền y học Việt Nam. Phát triển nguồn dược liệu phong phú trong nước, nhanh chóng xây dựng ngành công nghiệp dược phẩm, đẩy mạnh việc sản xuất thiết bị và dụng cụ y tế.

    Củng cố và hoàn thiện mạng lưới y tế nhân dân, nhất là y tế cơ sở và y tế huyện, chú ý miền núi và vùng kinh tế mới. Tăng cường các cơ sở nghiên cứu y học và dược học, đẩy mạnh công tác đào tạo và bồi dưỡng cán bộ y và dược thấm nhuần lời dạy của Hồ Chủ tịch: “Thầy thuốc như mẹ hiền”.

    Phát triển mạnh mẽ phong trào thể dục thể thao quần chúng. Mở rộng công tác đào tạo và bồi dưỡng hướng dẫn viên, huấn luyện viên, vận động viên và cán bộ quản lý. Xúc tiến công tác nghiên cứu khoa học thể dục thể thao, tăng cường cơ sở vật chất, kỹ thuật của thể dục thể thao.

    Làm tốt công tác bảo vệ bà mẹ và trẻ em. Đẩy mạnh hơn nữa cuộc vận động sinh đẻ có kế hoạch, ra sức phòng và chống các bệnh phụ khoa và các bệnh nghề nghiệp của phụ nữ. Tổ chức tốt việc nuôi dạy trẻ, phát triển rộng khắp mạng lưới nhà trẻ, sản xuất và cung ứng đủ những phương tiện phục vụ và đồ chơi cho trẻ em; đào tạo tốt và đãi ngộ thích đáng đội ngũ cô nuôi trẻ, dạy trẻ.

    Thực hiện tốt các chính sách đối với cán bộ, công nhân viên chức về hưu, nhất là đối với cán bộ đã đóng góp nhiều cho cách mạng.

    Những trẻ mồ côi, những người già neo đơn, những người tàn tật gặp nhiều khó khăn và những nạn nhân khác của chiến tranh xâm lược và của chủ nghĩa thực dân mới cần được quan tâm đầy đủ, làm cho ai nấy đều có cuộc sống ổn định, lành mạnh, yên vui.

    1. Để thực hiện quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động, phải kiện toàn Nhà nước xã hội chủ nghĩa của cả nước, tăng cường hiệu lực của Nhà nước về mặt tổ chức và quản lý kinh tế, văn hoá và xã hội, nhanh chóng xây dựng và kiện toàn bộ máy chính quyền nhà nước các cấp ở miền Nam, tiếp tục hoàn thiện bộ máy chính quyền Nhà nước các cấp ở miền Bắc. Nhà nước chuyên chính vô sản của ta phải là Nhà nước của dân, do dân và vì dân, một tổ chức đủ năng lực tiến hành ba cuộc cách mạng, xây dựng chế độ mới, nền kinh tế mới, nền văn hoá mới và con người mới, bảo vệ lợi ích của tập thể và lợi ích chính đáng của cá nhân, đủ sức giữ vững an ninh chính trị và trật tự xã hội, bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa và những thành quả của cách mạng.

    Phải tiếp tục xây dựng và từng bước hoàn thiện hệ thống quản lý kinh tế, nhằm vào những vấn đề quan trọng nhất là tổ chức lại nền sản xuất xã hội trong phạm vi cả nước; cải tiến phương thức quản lý kinh tế lấy kế hoạch hoá làm chính; kiện toàn bộ máy quản lý kinh tế.

    Tổ chức lại tất cả các ngành sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, giao thông vận tải, xây dựng… trong cả nước theo hướng sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa, xoá bỏ tình trạng phân tán, cục bộ, hình thành những ngành kinh tế – kỹ thuật thống nhất và phát triển trên phạm vi cả nước, những vùng kinh tế và những cơ cấu kinh tế địa phương thích hợp với điều kiện tự nhiên ở địa phương và yêu cầu của cả nước. Tổ chức lại các ngành cung ứng vật tư và lưu thông phân phối nhằm phục vụ tốt hơn nữa sản xuất và đời sống nhân dân trong cả nước.

    Công tác kế hoạch hoá cần được cải tiến theo phương hướng sau đây: cải tiến kế hoạch hoá thống nhất của Nhà nước trên cơ sở đề cao trách nhiệm và phát huy sáng tạo của các ngành, các địa phương và các cơ sở; kế hoạch của các ngành, các địa phương và các cơ sở phải kết hợp chặt chẽ nhiệm vụ chung với điều kiện và khả năng cụ thể của mình; coi trọng việc tăng năng suất lao động, chất lượng và hiệu quả kinh tế; quan tâm đầy đủ cả sản xuất lẫn lưu thông, phân phối.

    Trong công tác quản lý kinh tế, phải coi trọng giá trị sử dụng, đồng thời coi trọng quy luật giá trị; phải thực hiện chế độ hạch toán kinh tế, sử dụng tốt thị trường và những đòn bẩy kinh tế: giá cả, tín dụng, tiền lương, lợi nhuận, v.v..

    Bộ máy quản lý kinh tế cần được tổ chức theo nguyên tắc tập trung dân chủ và nguyên tắc kết hợp quản lý theo ngành với quản lý theo địa phương và theo vùng lãnh thổ; thi hành chế độ thủ trưởng ở tất cả các cơ quan quản lý.

    Quy định cụ thể và thực hiện đầy đủ hơn nữa chức năng, nhiệm vụ của các bộ quản lý ngành kinh tế – kỹ thuật, trong đó có trách nhiệm và quyền hạn của bộ trưởng; làm rõ hơn nữa mối quan hệ giữa bộ quản lý ngành với Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước, các bộ tổng hợp và Hội đồng Chính phủ.

    Tổ chức những chuyên ngành kinh tế – kỹ thuật mà trình độ tích tụ, chuyên môn hóa và liên hiệp hoá sản xuất đã chín muồi; tiến hành gấp việc phân cấp quản lý kinh tế giữa trung ương và địa phương, phân định trách nhiệm quản lý cụ thể giữa các bộ, tổng cục với các cấp chính quyền địa phương; xúc tiến công tác phân vùng kinh tế.

    Xây dựng mỗi tỉnh, thành phố thành một đơn vị kinh tế công – nông nghiệp phát triển phù hợp với thế mạnh từng địa phương và với yêu cầu chung của cả nền kinh tế quốc dân.

    Xây dựng huyện vững mạnh, thật sự trở thành đơn vị kinh tế nông – công nghiệp; lấy huyện làm địa bàn tổ chức lại sản xuất, tổ chức và phân công lại lao động một cách cụ thể và kết hợp công nghiệp với nông nghiệp, kinh tế toàn dân với kinh tế tập thể, công nhân với nông dân. Xây dựng chính quyền cấp huyện thành một cấp Nhà nước quản lý kế hoạch toàn diện và có ngân sách, một cấp quản lý sản xuất, quản lý lưu thông và đời sống ở huyện.

    Đối với cấp cần quy định rõ quyền hạn, trách nhiệm quản lý hành chính ở xã.

    Để tổ chức và quản lý tốt các đơn vị cơ sở, phải xác định đúng đắn phương hướng sản xuất; kiện toàn bộ máy quản lý; làm tốt kế hoạch kinh tế – kỹ thuật, tổ chức và sử dụng lao động một cách hợp lý, chặt chẽ, cung ứng kịp thời vật tư cho sản xuất; tăng cường quản lý sản xuất, lao động, tài chính, vật tư; thực hiện hạch toán kinh tế; bảo đảm chất lượng sản phẩm; cải tiến quan hệ giữa các đơn vị cơ sở với nhau và với cấp trên của đơn vị cơ sở. Đẩy mạnh chuyên môn hoá, tổ chức tốt việc hợp tác hoá và liên hiệp hoá trong sản xuất, tạo điều kiện để tổ chức các nhóm sản phẩm, công ty, xí nghiệp liên hợp, liên hiệp các xí nghiệp.

    Trong nông nghiệp, ta đã tích luỹ được nhiều kinh nghiệm về quản lý hợp tác xã, phải căn cứ vào những kinh nghiệm ấy để cải tiến quản lý các hợp tác xã nông nghiệp, đi đôi với phát triển kinh tế trên địa bàn huyện và tăng cường cấp huyện.

    Phải tăng cường tổ chức và cải tiến lưu thông, phân phối, nhằm phục vụ tốt việc mở rộng phân công lao động, phát triển lực lượng sản xuất, cải tạo quan hệ sản xuất và phục vụ đời sống nhân dân.

    Thi hành nghiêm chỉnh chế độ trách nhiệm cá nhân; gắn chặt trách nhiệm với quyền lợi, kỷ luật của tổ chức với tinh thần tự giác của từng người thành một cơ chế có hiệu lực buộc mọi người phải làm tròn trách nhiệm, khuyến khích người lao động nhiều hơn và tốt hơn. Trách nhiệm và quyền hạn của từng người phải được quy định rõ ràng; mỗi nhiệm vụ, mỗi loại công việc phải có tiêu chuẩn, định mức cụ thể. Phải quy định rõ thưởng và phạt về vật chất và tinh thần. Thưởng, phạt phải công minh.

    Tăng cường hiệu lực của Nhà nước về mặt tổ chức và quản lý văn hoá, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của nhân dân về văn hoá, giáo dục, y tế, v.v.; bảo đảm quyền làm chủ tập thể về văn hoá của nhân dân, thúc đẩy cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa về tư tưởng và văn hoá.

    Luôn luôn coi trọng nhiệm vụ củng cố quốc phòng, giữ gìn an ninh chính trị và trật tự xã hội, bảo đảm cho đất nước luôn luôn sẵn sàng và đủ sức đập tan mọi hành động xâm lược và mọi hoạt động phản cách mạng.

    Xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh. Nhiệm vụ xây dựng và củng cố quốc phòng là nhiệm vụ của toàn dân, toàn quân, của cả hệ thống chuyên chính vô sản dưới sự lãnh đạo của Đảng. Lực lượng vũ trang nhân dân hùng mạnh của chúng ta có lực lượng thường trực mạnh và lực lượng hậu bị rộng rãi được huấn luyện tốt; có quân đội nhân dân chính quy, hiện đại gồm các quân chủng, binh chủng cần thiết; có bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, có lực lượng dân quân du kích và dân quân tự vệ hùng hậu. Chừng nào còn chủ nghĩa đế quốc trên thế giới thì chúng ta còn phải chú ý đầy đủ hiện đại hoá lực lượng quốc phòng và khả năng phòng thủ của đất nước. Trong giai đoạn mới, các lực lượng vũ trang có hai nhiệm vụ: luôn luôn sẵn sàng chiến đấu bảo vệ Tổ quốc và tích cực làm nhiệm vụ xây dựng kinh tế. Trên tinh thần đó, phải thực hiện chế độ nghĩa vụ quân sự và chế độ quân đội làm nghĩa vụ xây dựng kinh tế; phải ra sức phát triển công nghiệp quốc phòng.

    Bảo vệ an ninh chính trị và trật tự xã hội là nhiệm vụ cực kỳ quan trọng của Nhà nước, là một trong những công tác lớn ở vùng mới giải phóng miền Nam.Chủ động phòng ngừa, kiên quyết đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu hoạt động của bọn gián điệp đế quốc, tư bản; kịp thời và kiên quyết trấn áp bọn phá hoại hiện hành; đập tan mọi mưu mô ngóc đầu dậy của các giai cấp bóc lột và của bọn phản động; ra sức đấu tranh chống các tội phạm khác; tích cực bài trừ các tệ nạn xã hội; ngăn ngừa và làm giảm tới mức thấp nhất các tai nạn xã hội. Xây dựng công an nhân dân thành một lực lượng vũ trang sắc bén, tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc, với nhân dân, có lực lượng chuyên trách chính quy, hiện đại, vững về chính trị, giỏi về nghiệp vụ, có trình độ khoa học, kỹ thuật khá, được trang bị chuyên môn cần thiết, có lực lượng bán chuyên trách vững mạnh, có cơ sở quần chúng rộng khắp. Giáo dục nhằm nâng cao tinh thần cảnh giác cách mạng cho quần chúng nhân dân, phát động phong trào quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc và trật tự, an toàn xã hội. Củng cố, tăng cường các cơ quan kiểm sát, toà án và tư pháp; cải tiến và phối hợp tốt các hoạt động giữa các ngành công an nhân dân, kiểm sát nhân dân và toà án nhân dân.

    Phải tổ chức kiểm tra chặt chẽ sự hoạt động của các cơ quan nhà nước. Củng cố và hoàn thiện cơ cấu kiểm tra bao gồm hệ thống tự kiểm tra trong bộ máy nhà nước và sự kiểm tra của các tổ chức quần chúng. Tất cả các cơ quan nhà nước, từ trung ương đến cơ sở, phải trả lời kịp thời và đầy đủ những vấn đề do quần chúng nhân dân nêu ra.

    Xây dựng Hiến pháp của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thể chế hoá bằng đạo luật cơ bản của Nhà nước, quyền làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa của nhân dân lao động, dựa trên cơ sở liên minh công nông, dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân.

    Tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, làm cho mọi hoạt động của các cơ quan nhà nước đi vào quy chế chặt chẽ, thật sự tôn trọng quyền làm chủ tập thể và bảo đảm quyền lợi của nhân dân, đồng thời đòi hỏi mọi công dân làm tròn nghĩa vụ và tuân theo pháp luật.

    Cán bộ, nhân viên nhà nước phải nêu cao tinh thần phục vụ nhân dân không điều kiện. Chống tham ô, lãng phí, hách dịch, cửa quyền, vô trách nhiệm; ngăn ngừa một số cán bộ và nhân viên nhà nước biến thành một lớp người có đặc quyền đặc lợi.

    Cần phải tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước. Đảng lãnh đạo Nhà nước một cách toàn diện, quyết định đường lối, chính sách, phương hướng hoạt động của Nhà nước; quyết định những vấn đề quan trọng về hệ thống quản lý, về bộ máy tổ chức và cán bộ; chăm lo xây dựng và kiện toàn bộ máy nhà nước vững mạnh, xây dựng lực lượng cán bộ của Đảng có năng lực làm nòng cốt trong các cơ quan nhà nước. Đảng dựa vào các tổ chức Đảng và các đoàn thể quần chúng để kiểm tra hoạt động của các cơ quan nhà nước trên tất cả các lĩnh vực. Tất cả những việc đó là nhằm bảo đảm cho đường lối, chính sách của Đảng, quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động được thực hiện triệt để. Thông qua Nhà nước, đường lối, chính sách của Đảng biến thành quyết định của bản thân quần chúng, thành hành động hàng ngày của quần chúng, Đảng bắt buộc tất cả các tổ chức, các cán bộ, đảng viên của Đảng tôn trọng quyền lực của cơ quan nhà nước, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật và các quyết định, chỉ thị của cơ quan nhà nước, coi đó là kỷ luật của Đảng.

    2. Công tác cách mạng phải được tiến hành bằng phong trào cách mạng.

    Để tạo ra phong trào cách mạng sâu rộng và liên tục của quần chúng, phải khéo kết hợp các biện pháp chính trị và kinh tế, giáo dục và hành chính, tư tưởng và tổ chức, phối hợp chặt chẽ, nhịp nhàng hoạt động của các tổ chức Đảng, các tổ chức kinh tế và xã hội. Phát huy và không ngừng mở rộng đội ngũ tiên tiến trong phong trào quần chúng, thu hẹp diện những người lạc hậu.

    Cùng với việc thực hiện quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động chủ yếu bằng Nhà nước, phải thực hiện quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động bằng các đoàn thể quần chúng.

    Các đoàn thể có nhiệm vụ chung là bảo đảm cho quần chúng tham gia và kiểm tra công việc của Nhà nước, đồng thời là trường học về chủ nghĩa xã hội của quần chúng.

    Ra sức xây dựng giai cấp công nhân không ngừng lớn mạnh về số lượng và chất lượng, xứng đáng với vai trò giai cấp tiên phong lãnh đạo cách mạng. Hoàn thiện và thực hiện đầy đủ các quy chế nhà nước, tạo những hình thức thích hợp để bảo đảm cho công nhân tham gia tích cực và có hiệu quả vào việc quản lý xí nghiệp, quản lý kinh tế, quản lý xã hội.

    Công tác vận động nông dân ở miền Bắc phải tập trung vào việc tổ chức lại sản xuất nông nghiệp theo hướng sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa, xây dựng chế độ mới và con người mới ở nông thôn. Hợp tác xã là tổ chức sản xuất và cũng là tổ chức quần chúng rộng rãi của nông dân tập thể, có nhiệm vụ đoàn kết, giáo dục, nâng cao ý thức và năng lực làm chủ tập thể của nông dân, không ngừng nâng cao trình độ giác ngộ xã hội chủ nghĩa của giai cấp nông dân tập thể.

    Ở nông thôn miền Nam hiện nay, phải xây dựng và củng cố nông hội ở ấp, xã để thu hút đông đảo nông dân lao động; giáo dục, nâng cao lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, vận động nông dân khôi phục và phát triển sản xuất, xây dựng lại làng xóm, tăng cường đoàn kết, giúp nhau trong sản xuất và đời sống, xoá bỏ các tàn dư phong kiến, đấu tranh chống các thủ đoạn bóc lột, đầu cơ trong nông thôn, đưa nông thôn tiến nhanh và tiến vững chắc vào con đường hợp tác hoá nông nghiệp và sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa.

    Xây dựng một đội ngũ trí thức đông đảo, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc và chủ nghĩa xã hội, đủ sức làm chủ và vận dụng sáng tạo những thành tựu văn hoá, khoa học, kỹ thuật hiện đại để giải quyết những vấn đề cụ thể của đất nước. Bố trí, sử dụng trí thức một cách hợp lý, tạo cho trí thức những điều kiện vật chất và tinh thần thuận lợi, trước hết là phương tiện làm việc, phương tiện nghiên cứu. Sử dụng tốt những cán bộ khoa học, kỹ thuật đã làm việc dưới chế độ cũ ở miền Nam, giúp anh chị em đó mau chóng trở thành những người trí thức xã hội chủ nghĩa.

    Tích cực đào tạo, bồi dưỡng thanh niên về văn hoá, khoa học và kỹ thuật, về quản lý, về nghề nghiệp. Quan tâm đến quyền lợi của tuổi trẻ, điều kiện lao động, học tập, hoạt động văn hoá, thể dục thể thao, v.v. của thanh niên; hướng dẫn thanh niên giải quyết đúng các vấn đề về lối sống, về tình bạn, tình yêu, hôn nhân và gia đình.

    Hình thức và phương pháp giáo dục thanh niên phải sinh động, thích hợp với đặc điểm của tuổi trẻ. Cần có những hình thức tổ chức rộng rãi để thu hút đông đảo thanh niên ngoài Đoàn vào các hoạt động xã hội.

    Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh có trách nhiệm phụ trách Đội Thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh và Đội Nhi đồng Hồ Chí Minh, chăm lo giáo dục thiếu niên, nhi đồng theo 5 điều Bác Hồ dạy. Các cơ quan nhà nước cần dành những phương tiện tốt cho nhu cầu hoạt động, luyện tập của thiếu niên, nhi đồng.

    Chúng ta cần đấu tranh nhằm xoá bỏ những quan điểm lạc hậu về vai trò và khả năng của phụ nữ, nhất là xoá bỏ những tàn dư tư tưởng phong kiến trọng nam khinh nữ; nâng cao trình độ văn hoá, khoa học, kỹ thuật, nghề nghiệp của phụ nữ, tích cực đào tạo và bồi dưỡng cán bộ nữ; cải thiện điều kiện lao động, chăm lo sức khoẻ và đời sống của phụ nữ. Phải có những biện pháp và những hình thức vận động thích hợp với phụ nữ ở các lứa tuổi, các ngành nghề, các khu vực cư trú và hoạt động khác nhau.

    Chính sách của Đảng về vấn đề tôn giáo là tôn trọng tự do tín ngưỡng và tự do không tín ngưỡng của nhân dân, đoàn kết tất cả những người yêu nước và tiến bộ trong các tôn giáo, đoàn kết đồng bào có đạo và không có đạo, để cùng nhau xây dựng và bảo vệ đất nước, xây dựng cuộc sống mới ấm no, hạnh phục, chống những hoạt động làm hại đến lợi ích của Tổ quốc và chủ nghĩa xã hội.

    Giải quyết đúng đắn vấn đề dân tộc là một trong những nhiệm vụ có tính chất chiến lược của cách mạng Việt Nam.

    Phải tăng cường khối đoàn kết không gì lay chuyển nổi giữa các dân tộc trong cả nước, phát huy tinh thần cách mạng và năng lực sáng tạo của các dân tộc ít người trong sự nghiệp xây dựng Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Chính sách dân tộc của Đảng là thực hiện triệt để quyền bình đẳng về mọi mặt giữa các dân tộc, tạo những điều kiện cần thiết để xoá bỏ tận gốc sự chênh lệch về trình độ kinh tế, văn hoá giữa dân tộc ít người và dân tộc đông người; đưa miền núi tiến kịp miền xuôi, vùng cao tiến kịp vùng thấp; làm cho tất cả các dân tộc đều có cuộc sống ấm no, văn minh và hạnh phúc, đoàn kết, giúp nhau tiến bộ, cùng làm chủ tập thể Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

    Để thực hiện chính sách dân tộc của Đảng, vấn đề mấu chốt là đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế và văn hoá ở các vùng dân tộc, nâng cao đời sống của đồng bào các dân tộc. Tích cực đào tạo và bồi dưỡng cán bộ dân tộc ít người.

    Phải làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục, làm cho đồng bào các dân tộc, đông người cũng như ít người, hiểu rõ rằng cuộc sống ấm no, văn minh, hạnh phúc của tất cả các dân tộc gắn liền với sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, tất cả các dân tộc đều có khả năng và có nghĩa vụ đem hết sức mình đóng góp vào sự nghiệp vẻ vang ấy. Khắc phục những tư tưởng có hại cho việc đoàn kết dân tộc, trái với chính sách dân tộc của Đảng. Giữ gìn và phát huy những phong tục, tập quán, những truyền thống văn hoá tốt đẹp, tiến bộ của các dân tộc ít người; lãnh đạo, hướng dẫn đồng bào các dân tộc xây dựng nếp sống mới.

    Ngày nay, Mặt trận Dân tộc thống nhất trong cả nước bao gồm nhiều chính đảng, đoàn thể, giai cấp, tầng lớp khác nhau, lấy liên minh công nông làm cơ sở, do Đảng ta lãnh đạo, mang tính chất yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội; mục tiêu chung của mọi thành viên trong Mặt trận là xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, độc lập, thống nhất và xã hội chủ nghĩa. Mặt trận có nhiệm vụ củng cố khối đoàn kết toàn dân, đoàn kết các dân tộc anh em, tăng cường sự nhất trí về chính trị và tinh thần trong xã hội, phát huy nhiệt tình cách mạng và tinh thần làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa của nhân dân, động viên toàn dân thi đua xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội ở nước ta.

    1. Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười thắng lợi là bước nhảy vọt vĩ đại đầu tiên mở ra thời đại mới, thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới.

    Chiến thắng oanh liệt của Liên Xô cùng các lực lượng cách mạng và tiến bộ khác trong Chiến tranh thế giới thứ hai mở ra một thời kỳ phát triển mới của cách mạng thế giới. Sau khi chủ nghĩa phát xít Hítle bị đánh bại, một loạt nước dân chủ nhân dân ra đời. Thắng lợi to lớn của cách mạng Trung Quốc làm cho cán cân lực lượng nghiêng hẳn về phía cách mạng. Chủ nghĩa xã hội vượt ra khỏi phạm vi một nước, trở thành hệ thống thế giới. Với những thành tựu to lớn về mọi mặt, hệ thống xã hội chủ nghĩa ngày nay đã có một sức mạnh tổng hợp hơn hẳn lực lượng của chủ nghĩa đế quốc. Cuộc sống chứng tỏ rằng hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới ngày càng phát huy tác dụng là nhân tố quyết định sự phát triển của xã hội loài người. Đó là thành trì kiên cố của cách mạng vô sản thế giới, là chỗ dựa vững chắc của phong trào đấu tranh cách mạng của nhân dân các nước.

    Bão táp cách mạng của phong trào giải phóng dân tộc làm rung chuyển châu á, châu Phi và Mỹ latinh, lôi cuốn hơn hai nghìn triệu người ở hầu khắp các nước vốn là thuộc địa và phụ thuộc, đó là sự kiện lớn thứ hai của thời đại chúng ta sau sự hình thành hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới. Phong trào độc lập dân tộc có xu thế ngày càng gắn liền với chủ nghĩa xã hội, đóng vai trò rất quan trọng trong việc đưa thế giới quá độ lên chủ nghĩa xã hội.

    Phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân ở các nước tư bản chủ nghĩa ngày càng phát triển với quy mô rộng lớn và tính tổ chức cao, làm nổi bật năng lực cách mạng vô cùng to lớn của giai cấp công nhân đang cùng với các lực lượng dân chủ khác giáng những đòn tiến công mãnh liệt vào chủ nghĩa tư bản lũng đoạn nhà nước. Nhất định giai cấp công nhân sẽ đánh bại mọi thế lực phản động và sớm muộn sẽ vĩnh viễn loại trừ chủ nghĩa tư bản ra khỏi đời sống xã hội.

    Để đối phó lại, chủ nghĩa đế quốc do Mỹ cầm đầu ra sức chuẩn bị chiến tranh thế giới mới, thi hành chủ nghĩa thực dân mới, tìm mọi cách phản kích phong trào cách mạng. Chúng hòng giành lại những vị trí đã mất, đè bẹp phong trào giải phóng dân tộc và ngăn chặn sự phát triển của chủ nghĩa xã hội, kìm giữ các nước mới trỗi dậy trong quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản, giành giật lại thị trường, nguồn nguyên liệu, nhiên liệu và khu vực đầu tư. Đó là chính sách cơ bản của đế quốc Mỹ nhằm thực hiện âm mưu làm bá chủ thế giới.

    Đế quốc Mỹ mưu toan đẩy lùi cách mạng Việt Nam hòng đảo ngược cục diện chung của thế giới. Nhưng sau hai mươi năm dính líu vào Việt Nam và sau gần mười năm đế quốc Mỹ và chư hầu đã đưa hàng chục vạn quân trực tiếp xâm lược nước ta, chúng đã bị đánh bại và phải rút quân về nước. Thất bại hoàn toàn của Mỹ trong chiến tranh xâm lược Việt Nam đánh dấu một bước ngoặt đi xuống của đế quốc Mỹ. Suy yếu nhiều về quân sự, chính trị và kinh tế, chúng đã kéo cả thế giới tư bản chủ nghĩa lún sâu vào tổng khủng hoảng toàn diện, không phương cứu chữa.

    Ba mươi năm sau Chiến tranh thế giới thứ hai, nhất là sau thắng lợi của cách mạng ba nước Việt Nam, Lào, Campuchia, trên thế giới đã xuất hiện một biến đổi mới trong sự so sánh lực lượng có lợi cho cách mạng, một bước phát triển mới trong cuộc đấu tranh của nhân dân thế giới vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội.

    Cuộc đấu tranh đó đòi hỏi phải xây dựng và phát triển một mặt trận thống nhất của nhân dân thế giới chống chủ nghĩa đế quốc, mặt trận hết sức rộng lớn, chĩa mũi nhọn đấu tranh vào tên đế quốc đầu sỏ là Mỹ. Trong cuộc đấu tranh nhằm giải quyết vấn đề “ai thắng ai” giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản trên phạm vi toàn thế giới, việc khôi phục và củng cố sự đoàn kết trong hệ thống xã hội chủ nghĩa, trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, trên cơ sở chủ nghĩa Mác – Lênin và chủ nghĩa quốc tế vô sản, là vấn đề có ý nghĩa cực kỳ quan trọng.

    Trong giai đoạn mới, Đảng, Nhà nước và nhân dân ta cần ra sức tranh thủ những điều kiện quốc tế thuận lợi để nhanh chóng hàn gắn những vết thương chiến tranh, xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, củng cố quốc phòng; tiếp tục kề vai sát cánh với các nước xã hội chủ nghĩa anh em và tất cả các dân tộc trên thế giới đấu tranh vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội chống chủ nghĩa đế quốc đứng đầu là đế quốc Mỹ.

    b) Ra sức bảo vệ và phát triển mối quan hệ đặc biệt giữa nhân dân Việt Nam với nhân dân Lào và nhân dân Campuchia, tăng cường tình đoàn kết chiến đấu, lòng tin cậy, sự hợp tác lâu dài và giúp đỡ lẫn nhau về mọi mặt giữa nước ta với hai nước anh em trên nguyên tắc hoàn toàn bình đẳng, tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau, tôn trọng lợi ích chính đáng của nhau; làm cho ba nước vốn đã gắn bó với nhau trong công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc sẽ mãi mãi gắn bó với nhau trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước, vì độc lập và phồn vinh của mỗi nước.

    e) Thiết lập và mở rộng quan hệ bình thường giữa nước ta với tất cả các nước khác trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, bình đẳng và cùng có lợi.

    g) Kiên quyết cùng các nước anh em và nhân dân tiến bộ trên thế giới tiếp tục chung sức đấu tranh chống chính sách xâm lược và gây chiến của bọn đế quốc đứng đầu là đế quốc Mỹ, góp phần tích cực vào sự nghiệp gìn giữ và củng cố hoà bình trên thế giới.

    Trung thành với chủ nghĩa Mác – Lênin, Đảng ta không ngừng giáo dục đảng viên và nhân dân ta thấm nhuần những tình cảm cách mạng trong sáng của Hồ Chủ tịch, tiếp tục giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, kết hợp nhuần nhuyễn chủ nghĩa yêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế vô sản, chống mọi khuynh hướng cơ hội chủ nghĩa và mọi biểu hiện của chủ nghĩa dân tộc tư sản và tiểu tư sản, giữ vững độc lập, tự chủ, ra sức làm tròn nhiệm vụ đối với dân tộc và làm tốt nghĩa vụ quốc tế đối với nhân dân các nước.

    1. Đảng ta lãnh đạo nhân dân làm nên sự nghiệp cách mạng vĩ đại, trước hết là nhờ nắm vững chủ nghĩa Mác – Lênin, tuyệt đối trung thành với chủ nghĩa Mác – Lênin, Đảng ta luôn luôn thấu suốt thực chất cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác – Lênin trong đường lối và phương pháp cách mạng, trong toàn bộ cuộc đấu tranh của Đảng ở tất cả các thời kỳ.

    Nhiệm vụ lịch sử xây dựng nước ta thành một nước xã hội chủ nghĩa giàu mạnh và cuộc đấu tranh để thực hiện thắng lợi các nghị quyết của Đại hội, đặt Đảng ta trước những trách nhiệm mới hết sức nặng nề, đòi hỏi Đảng ta phải vững mạnh hơn nữa. Đảng ta, toàn thể cán bộ, đảng viên chẳng những phải có đạo đức, phẩm chất và trình độ nhận thức ngày càng cao hơn, đặc biệt là về lý luận và phương pháp luận, về các quy luật kinh tế và quy luật đấu tranh giai cấp trong điều kiện Đảng lãnh đạo chính quyền, mà còn phải có năng lực mới trong lĩnh vực tổ chức cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa, lĩnh vực mà hiện nay Đảng ta còn nhiều nhược điểm.

    Nhiệm vụ chung của công tác xây dựng Đảng trong giai đoạn hiện nay là phải nắm vững hơn nữa học thuyết Mác – Lênin về xây dựng Đảng và thực tiễn xây dựng Đảng ta, quán triệt sâu sắc đường lối, nhiệm vụ chính trị do Đại hội vạch ra, vận dụng và phát triển những bài học kinh nghiệm đã được tổng kết; làm cho công tác xây dựng Đảng vừa bám chắc hơn nữa những nhiệm vụ chính trị trước mắt của Đảng, vừa sẵn sàng đáp ứng những yêu cầu của nhiệm vụ lâu dài. Nâng cao tính giai cấp công nhân và chất lượng lãnh đạo toàn diện của Đảng, kết hợp tính cách mạng và tính khoa học, bảo đảm cho đường lối của Đảng luôn luôn đúng đắn, sáng tạo và được tổ chức thực hiện thắng lợi; bảo đảm cho Đảng luôn luôn đoàn kết nhất trí, gắn bó chặt chẽ với quần chúng để trong bất cứ tình huống nào Đảng cũng có thể làm tròn nhiệm vụ lịch sử của mình.

    Phải tiến hành công tác xây dựng Đảng theo những phương châm sau đây:

    2. Tăng cường các tổ chức cơ sở của Đảng là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng trong công tác xây dựng Đảng. Chi bộ, đảng bộ cơ sở là những đơn vị chiến đấu cơ bản, là những tế bào của Đảng.

    Trên cơ sở những nguyên tắc chung thống nhất của Đảng, các tổ chức cơ sở Đảng ở các lĩnh vực hoạt động khác nhau phải có những hình thức tổ chức, nội dung và phương pháp lãnh đạo khác nhau, phù hợp với tính chất và phạm vi công tác của từng đơn vị.

    Để cải tiến phương thức hoạt động của đảng bộ cơ sở, cần giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và quần chúng ở cơ sở; phát huy quyền lực của các cơ quan chính quyền, tôn trọng chế độ quản lý của Nhà nước, tôn trọng và phát huy tác dụng của các đoàn thể trong việc tổ chức thực hiện các nhiệm vụ cụ thể. Cải tiến sinh hoạt của các chi bộ và đảng bộ cơ sở, làm cho các cuộc hội nghị của chi bộ và đảng bộ cơ sở có nội dung chính trị cụ thể và phong phú.

    Kiện toàn đảng uỷ các cấp. Các cấp uỷ Đảng ở tỉnh, thành phải mạnh, có khả năng vận dụng đúng đắn và sáng tạo đường lối, chính sách của Đảng và có năng lực góp phần với Trung ương xây dựng đường lối, chính sách. Các huyện uỷ phải đủ sức lãnh đạo xây dựng và phát triển kinh tế, văn hoá, đưa nông nghiệp lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa, nâng cao đời sống nhân dân trong huyện.

    Thực hiện triệt để nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách trong cấp uỷ. Tạo điều kiện để mỗi cấp uỷ viên có thể tham gia đầy đủ vào việc bàn bạc, quyết định các chủ trương; định rõ nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm cụ thể của từng người. Chống tệ cá nhân độc đoán, chuyên quyền; đồng thời, tránh ỷ lại vào tập thể, sợ trách nhiệm, không dám quyết đoán. Các cấp uỷ cần cải tiến phương pháp công tác, khắc phục lối làm việc thủ công nghiệp; xây dựng và ngày càng hoàn thiện hệ thống thông tin nội bộ, làm tốt công tác điều tra, nghiên cứu, làm thử, xây dựng điển hình, tổng kết kinh nghiệm, thường xuyên kiểm tra việc thực hiện đường lối, chính sách.

    Đảng viên phải là người có giác ngộ lý tưởng cộng sản chủ nghĩa, tuyệt đối trung thành với cách mạng, tự nguyện suốt đời hy sinh, phấn đấu vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản.

    Đảng viên phải có hiểu biết nhất định về chủ nghĩa Mác – Lênin, nắm được đường lối, chính sách của Đảng, có năng lực đảm nhiệm công việc được giao, có năng lực lãnh đạo quần chúng và góp phần vào công tác lãnh đạo của tổ chức Đảng. Vì vậy, đảng viên phải không ngừng học tập và tích cực rèn luyện về mọi mặt.

    Đảng viên phải tôn trọng và ra sức góp phần xây dựng chế độ làm chủ tập thể của nhân dân lao động, liên hệ chặt chẽ với quần chúng, làm tốt công tác tuyên truyền, vận động, tổ chức quần chúng.

    Đảng viên phải chăm lo xây dựng Đảng, có ý thức tổ chức và kỷ luật, có tinh thần tự phê bình và phê bình, bảo vệ Đảng, bảo vệ sự đoàn kết, thống nhất của Đảng.

    Đảng viên phải nêu cao tinh thần quốc tế vô sản, góp phần làm tròn nghĩa vụ quốc tế của Đảng.

    Cần chỉ đạo chặt chẽ công tác phát triển Đảng. Qua phong trào cách mạng của quần chúng, phát hiện những người ưu tú; giáo dục, bồi dưỡng để kết nạp vào Đảng những người đủ tiêu chuẩn. Trước hết phải nhằm vào những người ưu tú trong giai cấp công nhân, nhất là công nhân công nghiệp. Đồng thời, lựa chọn những người ưu tú trong nông dân lao động, trong các lực lượng vũ trang nhân dân, và những người trí thức ưu tú đã được rèn luyện, thử thách trong thực tiễn cách mạng. Tránh hẹp hòi, nhưng tỉnh táo đề phòng những phần tử cơ hội và những phần tử phản cách mạng chui vào Đảng. Việc kết nạp đảng viên nhất thiết phải theo đúng thủ tục được quy định trong Điều lệ.

    Kiên quyết và kịp thời loại ra khỏi Đảng những phần tử thoái hoá, biến chất và những người không đủ tư cách đảng viên.

    Xây dựng và thực hiện kế hoạch đào tạo cán bộ. Cải tiến công tác lựa chọn, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng và cất nhắc cán bộ, nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ của Đảng, Nhà nước và các đoàn thể quần chúng, mạnh cả về chất lượng và số lượng, đủ sức hoàn thành mọi nhiệm vụ của Đảng và Nhà nước giao cho.

    Chất lượng của người cán bộ là sự thống nhất giữa phẩm chất chính trị và năng lực công tác, thể hiện ở kết quả hoàn thành nhiệm vụ.

    Tổ chức việc giáo dục lý luận và chính trị, nâng cao nhanh chóng trình độ và năng lực công tác của các loại cán bộ, trước hết là cán bộ lãnh đạo, cán bộ quản lý và những cán bộ đã hoạt động cách mạng nhiều năm mà chưa có điều kiện học tập.

    Gấp rút đào tạo, bổ sung cán bộ mới, trẻ, xuất thân từ công nhân, nông dân lao động và trí thức xã hội chủ nghĩa. Tăng thành phần công nhân trong đội ngũ cán bộ lãnh đạo, cán bộ quản lý. Coi trọng việc đào tạo, bồi dưỡng, cất nhắc cán bộ dân tộc ít người, cán bộ nữ.

    Những cán bộ mà phẩm chất chính trị hoặc năng lực công tác không tương xứng với trách nhiệm cần được sắp xếp lại cho hợp lý.

    Kiện toàn bộ máy giúp việc cấp uỷ và cơ quan chính quyền về công tác cán bộ; nâng cao tính khoa học, tính kế hoạch trong công tác cán bộ. Cần có những hình thức thích hợp để thu thập ý kiến của cán bộ, đảng viên và quần chúng về công tác cán bộ; khắc phục tư tưởng bảo thủ, hẹp hòi, cục bộ, bè phái, tránh thành kiến hoặc cảm tình riêng.

    Tiếp tục phát huy truyền thống đoàn kết, thống nhất trong Đảng; thực hiện lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “giữ gìn sự thống nhất của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình”.

    Về mặt tư tưởng, sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng dựa trên cơ sở chủ nghĩa Mác – Lênin thể hiện trong đường lối của Đảng, trên cơ sở sự giác ngộ của toàn thể đảng viên về lý tưởng của Đảng. Sự thống nhất về tư tưởng phải được bảo đảm bằng sự thống nhất về tổ chức. Nhờ đó mới có được sự thống nhất trong hành động. Phải nghiêm chỉnh thực hiện chế độ tập trung dân chủ, bảo đảm vững chắc về mặt tổ chức sự thống nhất của Đảng.

    Song, dân chủ phải dưới sự chỉ đạo tập trung; dân chủ đầy đủ nhất phải kết hợp với tập trung cao nhất. Vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ là phá hoại kỷ luật của Đảng, phá hoại sự thống nhất của Đảng.

    Phải giữ vững kỷ luật nghiêm minh của Đảng.

    Luôn luôn tăng cường sự liên hệ giữa Đảng và quần chúng. Cán bộ và đảng viên phải lắng nghe ý kiến và nguyện vọng của quần chúng, kiên quyết chống bệnh quan liêu.

    Mọi đảng bộ, mọi cấp uỷ, mọi đảng viên đều phải thường xuyên tự phê bình và phê bình. Đó là một quy luật phát triển và tiến bộ của Đảng, là một phương pháp cơ bản để tăng cường đoàn kết, thống nhất trong Đảng.

    Để giữ gìn và phát huy truyền thống đoàn kết, thống nhất của Đảng, mỗi cán bộ, đảng viên phải chân thành và cởi mở, thương yêu và tôn trọng lẫn nhau, hết lòng giúp nhau hoàn thành nhiệm vụ.

    Cải tiến và tăng cường công tác tư tưởng trong Đảng.

    Phải làm cho cán bộ, đảng viên thấu suốt các nghị quyết của Đại hội Đảng, nâng cao một cách cơ bản trình độ chính trị và phát huy tính tự giác trong hoạt động của cán bộ, đảng viên. Cải tiến các hình thức và phương pháp giáo dục trong Đảng: nâng cao chất lượng sinh hoạt chính trị; tổ chức tốt hệ thống thông báo thời sự, chính sách; định kỳ mở những lớp bồi dưỡng ngắn ngày về đường lối và chính sách của Đảng; cải tiến công tác giáo dục lý luận và chính trị,…

    Đẩy mạnh công tác nghiên cứu lý luận nhằm làm sáng tỏ hơn nữa những vấn đề về đường lối cách mạng xã hội chủ nghĩa, đồng thời tổng kết những kinh nghiệm phong phú của cách mạng Việt Nam.

    Phương hướng công tác tư tưởng trong Đảng là: giáo dục sâu sắc tư tưởng xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa, làm thấu suốt tính cách mạng và tính khoa học, tinh thần độc lập, tự chủ và sáng tạo của Đảng ta. Kiên quyết khắc phục tư tưởng tiểu tư sản, chống mọi ảnh hưởng của tư tưởng tư sản và những tàn dư tư tưởng phong kiến trong cán bộ, đảng viên.

    Giai đoạn mới của cách mạng đòi hỏi toàn thể cán bộ, đảng viên phải luôn luôn ghi nhớ và quyết tâm làm đúng lời dạy của Hồ Chủ tịch: “Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”.

    Đất nước ta bước vào một kỷ nguyên mới của lịch sử dân tộc. Đó là kỷ nguyên một nước Việt Nam độc lập, thống nhất hoàn toàn và vĩnh viễn, một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa đang tiến tới giàu mạnh, văn minh, góp phần quan trọng vào sự nghiệp hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội ở Đông Nam châu á và trên thế giới.

    Nhân dân ta bắt đầu một cuộc tiến quân vĩ đại trong thời kỳ hoà bình xây dựng chủ nghĩa xã hội. Chúng ta quyết “xây dựng lại đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn” như Hồ Chủ tịch hằng mong ước. Chúng ta sẽ biến đất nước ta thành một nước có nền kinh tế công – nông nghiệp hiện đại, có quốc phòng vững mạnh, có văn hoá, khoa học kỹ thuật tiên tiến, có cuộc sống văn minh và hạnh phúc, có vị trí xứng đáng trên thế giới.

    Chúng ta biết rõ con đường đi tới không chỉ có thuận lợi mà còn nhiều khó khăn, trong đó có cả những thiếu sót và sự non kém của chúng ta nữa. Nhưng nhìn về tương lai với lòng tin mãnh liệt và nghị lực tràn đầy, nhất định chúng ta vượt qua được mọi khó khăn và giành được thắng lợi ngày càng to lớn hơn.

    Những nghị quyết của Đại hội toàn quốc lần thứ IV này mở ra chân trời rộng lớn cho sự phát triển toàn diện của đất nước ta, cho sự nảy nở của trí tuệ và tài năng của mọi người Việt Nam ta.

    Thực hiện những nghị quyết của Đại hội là nghĩa vụ, danh dự và lợi ích của những người cộng sản Việt Nam và của tất cả nhân dân Việt Nam.

    Mỗi cán bộ, đảng viên của Đảng, mỗi cấp đảng bộ, mỗi đơn vị tổ chức của Đảng phải nhận rõ trách nhiệm và vinh dự của mình trong giai đoạn mới, ra sức thực hiện Nghị quyết của Đại hội, tăng cường liên hệ với quần chúng và xây dựng Đảng ngày càng vững mạnh.

    Toàn thể nhân dân ta: công nhân, nông dân, quân đội, thanh niên, phụ nữ, trí thức, tất cả các tầng lớp và các dân tộc anh em trong đại gia đình Việt Nam hãy chuyển chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong chiến đấu cứu nước thành chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong lao động sáng tạo xây dựng Tổ quốc! Cách mạng xã hội chủ nghĩa là ngày hội của chúng ta. Hãy biến cả nước ta và mỗi địa phương, mỗi đơn vị thành những công trường xây dựng vĩ đại, tràn ngập khí thế cách mạng tiến công, tràn ngập chủ nghĩa anh hùng cách mạng!

    Vì Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân hãy hăng hái tiến lên! – Đảng Cộng sản Việt Nam, người tổ chức mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam muôn năm! – Nhân dân Việt Nam anh hùng muôn năm! – Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam quang vinh muôn năm! – Chủ nghĩa Mác – Lênin vô địch muôn năm! – Vô sản tất cả các nước và các dân tộc bị áp bức đoàn kết lại! – Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta!

    Đảng Cộng sản Việt Nam:

    Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng Cộng sản Việt Nam,

    Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1977

    --- Bài cũ hơn ---

  • Công Đoàn Vnsteel Tổ Chức Quán Triệt Nghị Quyết Đại Hội Iii Của Đảng Bộ Tct Và Tập Huấn Hướng Dẫn Thi Hành Điều Lệ Cđvn Khóa Xii Và Bộ Luật Lao Động 2022 Tại Kv Phía Nam
  • Nghị Quyết Đại Hội Đại Biểu Toàn Quốc Lần Thứ Iii Của Đảng (9/1960) Đề Ra Mấy Nhiệm Vụ Chiến Lược Của Cách Mạng Việt Nam Câu Hỏi 204273
  • Đại Hội Đại Biểu Toàn Quốc Lần Thứ Iii Của Đảng (Tháng 9
  • Kết Quả Thực Hiện Nghị Quyết Đại Hội Đảng Bộ Lần Ii, Nhiệm Kỳ 2022
  • Đại Hội Đại Biểu Toàn Quốc Lần Thứ Iii Của Đảng
  • Mẫu Nghị Quyết Đại Hội Đảng Bộ

    --- Bài mới hơn ---

  • Quán Triệt Nghị Quyết Đại Hội Hội Người Cao Tuổi Việt Nam Lần Thứ V
  • Triển Khai Nghị Quyết Đại Hội V Hội Người Cao Tuổi Việt Nam
  • Đại Hội Lần Thứ V Hội Người Cao Tuổi Việt Nam
  • Hội Nghị Ban Chấp Hành Trung Ương Hội Người Cao Tuổi Việt Nam Khóa V
  • Hội Người Cao Tuổi Phường Thanh Sơn Sơ Kết Giữa Nhiệm Kỳ Thực Hiện Nghị Quyết Đại Hội Người Cao Tuổi Các Cấp
  • Thực hiện quy định của điều lệ đảng (khoá x), Chỉ thị số 37-CT/TW của Bộ chính trị, thụng tri số 14-TT/TU của ban thường vụ thành uỷ và kế hoạch số 25-kh/đuk của đảng uỷ Khối cơ quan Dân Chính Đảng ………. về tổ chức đại hội đảng bộ các cấp, ngày ….. tháng …. năm 2010, đảng bộ cơ quan ……… tổ chức đại hội toàn thể đảng viên nhiệm kỳ 2010 – 2022 nhằm kiểm điểm việc thực hiện nghị quyết đại hội đảng bộ cơ quan …… nhiệm kỳ 2005 – 2010, phương hướng, nhiệm vụ nhiệm kỳ 2010 – 2022.

    Đại hội đảng bộ ……… nhiệm kỳ 2010-2015 được tiến hành ngày 2 th áng 6 năm 2010 với sự tham gia của ………đại biểu.

    I- Nhất trí với báo cáo chính trị của BCH đảng bộ trình đại hội đảng bộ nhiệm kỳ 2010- 2022, báo cáo kiểm điểm sự lãnh đạo của đảng uỷ cơ quan …….. nhiệm kỳ 2005-2010. đại hội nhấn mạnh một số vấn đề sau đây:

    * Về đánh giá tình hình thực hiện nghị quyết đại hội nhiệm kỳ 2005-2010 và khẳng định: (Căn cứ vào báo cáo chính trị và các ý kiến tham luận tại đại hội để biên tập)

    …………………………………………………………………………..

    …………………………………………………………………………..

    …………………………………………………………………………..

    …………………………………………………………………………..

    …………………………………………………………………………..

    …………………………………………………………………………..

    II- Về phương hướng, mục tiêu chủ yếu, những nhiệm vụ giải pháp lớn trong 5 năm tới (2010-2015).

    Đại hội nhất trí các mục tiêu chủ yếu, quan trọng đến năm 2022 phải đạt được như sau:

    ……………………………………………………………………

    …………………………………………………………………………..

    …………………………………………………………………………..

    Đại hội nhất trí những nhiệm vụ và các biện pháp lớn đó nêu trong báo cáo chính trị trình đại hội của BCH đảng bộ. (có thể nêu một số biện pháp cơ bản nhất).

    ……………………………………………………………………

    …………………………………………………………………………..

    …………………………………………………………………………..

    – Đại hội giao cho BCH khoá…….nhiệm kỳ 2010- 2022 căn cứ nghị quyết của đại hội, tổ chức lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện thắng lợi nghị quyết đại hội……đã đề ra. tiếp tục phát huy trí tuệ của toàn đảng bộ, động viên cán bộ, đảng viên khắc phục mọi khó khăn, sửa chữa những thiếu sót khuyết điểm, nêu cao tinh thần tự lực cánh sinh, đồng thời tranh thủ sự giúp đỡ của cấp trên, khai thác tiềm năng mọi mặt phấn đấu đạt và vượt các mục tiêu do đại hội đảng bộ lần thứ……….đề ra.

    – Tuyên truyền, quán triệt Nghị quyết đến đảng viên, cán bộ, công chức cơ quan.

    – Giao nhiệm vụ cho Ban chấp hành Đảng bộ cơ quan khó mới lãnh đạo và tổ chức thực hiện Nghị quyết (xây dựng chương trình công tác toàn khoá, chương triìn hành động thực hiện nghị quyết, Quy chế làm việc của Đảng uỷ…)

    – Chế độ kiểm tra, giám sát thực hiện Nghị quyết.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đổi Mới Hình Thức Tuyên Truyền Nghị Quyết Đại Hội Đoàn Các Cấp
  • Đổi Mới Mạnh Mẽ Trong Học Tập, Quán Triệt Nghị Quyết Đại Hội Xii
  • Bình Thuận: Đại Hội Điểm Mttq Huyện Đức Linh
  • Hướng Tới Đại Hội Mttq Việt Nam Các Cấp, Nhiệm Kỳ 2022
  • Chương Mỹ: Tuyên Truyền, Quán Triệt, Triển Khai Nghị Quyết Đại Hội Đại Biểu Mttq Việt Nam Thành Phố Hà Nội Nhiệm Kỳ 2022
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100