Nghị Quyết Đại Hội Đảng Bộ Tỉnh Cà Mau / Top 15 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 6/2023 # Top View | Bac.edu.vn

Khai Mạc Đại Hội Đại Biểu Đảng Bộ Tỉnh Cà Mau

Cùng dự đại hội có đại diện lãnh đạo các ban, bộ, ngành Trung ương; lãnh đạo các tỉnh, thành khu vực ĐBSCL; các đồng chí nguyên là lãnh đạo tỉnh qua các thời kỳ; Mẹ VNAH, Anh hùng LLVTND, cùng 351 đại biểu đại diện gần 50.000 đảng viên toàn tỉnh.

Phát biểu khai mạc, đồng chí Nguyễn Tiến Hải, Bí thư Tỉnh ủy Cà Mau nhấn mạnh, Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Cà Mau lần thứ XVI, nhiệm kỳ 2020-2025 là sự kiện chính trị quan trọng của Đảng bộ và nhân dân tỉnh. Tại Đại hội, các đại biểu đóng góp văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, Báo cáo Chính trị Đại hội đại biểu Đảng bộ Cà Mau, bầu Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Cà Mau nhiệm kỳ mới.

Trình bày tóm tắt báo cáo Chính trị tại Đại hội, đồng chí Lê Quân – Phó Bí thư, Chủ tịch UBND tỉnh Cà Mau cho biết, nhiệm kỳ qua tổng sản phẩm (GRDP theo giá so sánh) tăng bình quân gần 7%/năm; quy mô nền kinh tế tăng hơn 1,3 lần so với năm 2015; GRDP bình quân đầu người đạt gần 51 triệu đồng/người, tăng gần 1,3 lần so năm 2015.

Cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng sản xuất ngư, nông, lâm nghiệp tiếp tục phát triển, tốc độ tăng trưởng bình quân hơn 5%, cao hơn mức bình quân chung cả nước (2,7%) và kinh tế thuỷ sản tiếp tục khẳng định ngành kinh tế mũi nhọn, đi đầu cả nước về nuôi tôm, hàng năm đóng góp khoảng 55% GRDP.

Hạ tầng kinh tế – xã hội được đầu tư, có 82/82 xã có đường ô tô đến trung tâm, có 42/82 xã được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới, thu ngân sách nhà nước 5 năm hơn 26 ngàn tỷ đồng. Văn hóa, giáo dục, y tế, xã hội được quan tâm chỉ đạo phát triển rõ nét về sắp xếp trường, lớp học, tinh gọn biên chế, nâng cao chất lượng dạy và học.

Công tác xoá đói giảm nghèo bền vững, hộ nghèo giảm còn 1,87%, hộ cận nghèo giảm còn 1,7%. Năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng được nâng lên, hệ thống chính trị được kiện toàn, nội bộ đoàn kết, nhất trí, uy tín của Đảng bộ, đặt biệt đội ngũ cán bộ chủ chốt với nhân dân ngày càng cao. Phương thức lãnh đạo của các cấp ủy đảng được đổi mới, nâng cao hiệu quả lãnh đạo, chỉ đạo…

Tuy nhiên, còn 7 chỉ tiêu Nghị quyết đề ra không đạt là thực hiện cơ cấu lại nền kinh tế một số lĩnh vực còn chậm, chất lượng giáo dục và đào tạo chưa đồng đều, phản biện xã hội chưa cao, qui hoạch xây dựng, đất đai, môi trường, kỷ cương hành chính chưa nghiêm…

Phát biểu chỉ đạo tại đại hội, Đại tướng Tô Lâm biểu dương và chúc mừng những thành tựu mà Đảng bộ tỉnh Cà Mau đã đạt được trong nhiệm kỳ qua; đồng thời thống nhất cao với những nội dung của các văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh Cà Mau lần thứ XVI, nhiệm kỳ 2020 – 2025.

Đại tướng Tô Lâm nhấn mạnh, nhiệm kỳ tới, tỉnh Cà Mau cần tập trung xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị thật sự trong sạch, vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức; tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo, phương pháp công tác của các cấp ủy đảng; đồng thời đẩy mạnh cải cách hành chính, trọng tâm là cải cách thủ tục hành chính, công vụ và hiện đại hóa hành chính; nâng cao năng lực quản trị và hành chính công cấp tỉnh.

Tiếp tục xây dựng và tăng cường khối đại đoàn kết của nhân dân các dân tộc trong tỉnh trên cơ sở thực hiện có hiệu quả công tác dân tộc và tôn giáo, đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục, vận động đồng bào thực hiện tốt chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước; phát huy vai trò người có uy tín trong truyên truyền, vận động nhân dân thực hiện các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, góp phần bảo vệ vững chắc chủ quyền biển đảo quốc gia.

Đại tướng Tô Lâm đồng tình, thống nhất cao với các nội dung nêu trong Báo cáo chính trị, hoan nghênh tinh thần kiểm điểm nghiêm túc, thẳng thắn và tinh thần cầu thị, rất trách nhiệm của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa XV trước Đảng bộ và nhân dân trong tỉnh. Đáng lưu ý, so với các chỉ tiêu Nghị quyết Đại hội đề ra từ đầu nhiệm kỳ, còn 7 chỉ tiêu chưa đạt, mà hầu hết các chỉ tiêu đó là những chỉ tiêu có tính chất chi phối đến phát triển kinh tế – xã hội…

Đại tướng Tô Lâm cho biết, về cơ bản, Bộ Chính trị đã góp ý kiến và tán thành với mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp trong Báo cáo chính trị và các báo cáo khác của tỉnh trình Đại hội.

Theo Đại tướng Tô Lâm, Cà Mau cần tiếp tục tập trung cho công tác xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ; kiên định nguyên tắc độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội và đường lối đổi mới của Đảng; nâng cao năng lực cầm quyền, sức chiến đấu, đoàn kết, thống nhất trong Đảng; kiên quyết, kiên trì đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Tiếp tục sắp xếp, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của tổ chức bộ máy và xây dựng đội ngũ cán bộ đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, ngang tầm nhiệm vụ và gắn bó mật thiết với Nhân dân; phát huy tính tiên phong, nêu cao tinh thần gương mẫu, trách nhiệm với nhân dân của cán bộ, đảng viên, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng.

Thứ hai, Cà Mau cần tiếp tục xác định vị trí, vai trò trong vùng Tây Nam Bộ, chủ động thúc đẩy liên kết vùng trong quá trình chuyển đổi mô hình tăng trưởng phù hợp với điều kiện, thế mạnh của Cà Mau. Tiếp tục cơ cấu lại nông nghiệp, hướng mạnh vào ứng dụng công nghệ cao, gắn với đặc điểm sinh thái, thích ứng được với biến đổi khí hậu, có giải pháp chuyển sản xuất nông nghiệp thuần túy sang phát triển kinh tế nông nghiệp đa dạng gắn với thị trường, từ số lượng sang chất lượng, từ sản xuất nhỏ lẻ, phân tán sang sản xuất hàng hóa lớn, có tính cạnh tranh cao, xây dựng thương hiệu cho sản phẩm nông nghiệp, từng bước tham gia vào chuỗi giá trị khu vực, toàn cầu.

Đặc biệt, với lợi thế của một tỉnh ven biển, Cà Mau có điều kiện thuận lợi trong nuôi trồng thủy sản, nhất là nuôi tôm công nghệ cao với nhiều mô hình có hiệu quả, cần tiếp tục, nghiên cứu phát triển mạnh mô hình nuôi tôm siêu thâm canh, công nghệ cao. Khẩn trương hoàn thành các dự án, đưa vào sử dụng, tạo bước đột phá cho tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đưa Cà Mau rở thành một trong những trung tâm năng lượng sạch, năng lượng tái tạo của quốc gia.

Quan tâm quản lý có hiệu quả đất đai, tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường; tiếp tục xây dựng kết cấu hạ tầng đồng bộ, nhất là hạ tầng giao thông, thủy lợi, điện… từng bước chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu. Đồng thời, cải thiện môi trường đầu tư, thu hút được các nhà đầu tư chiến lược trong vào ngoài nước, sử dụng có hiệu quả nguồn lực của mọi thành phần kinh tế và nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh.

Thứ ba, gắn kết chặt chẽ, hài hòa giữa phát triển kinh tế với phát triển văn hóa, xã hội, nâng cao đời sống nhân dân. Phát triển các ngành dịch vụ phục vụ sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông, lâm, ngư nghiệp. Phát huy hiệu quả tiềm năng, thế mạnh du lịch Đất Mũi; đẩy mạnh quảng bá, thu hút khách du lịch đến Vườn Quốc gia Mũi Cà Mau, Vườn Quốc gia U Minh Hạ, Khu di tích Hòn Đá Bạc…

Chú trọng bảo vệ môi trường sinh thái, ứng phó, thích nghi với biến đổi khí hậu và nước biển dâng. Nâng cao năng lực dự báo, cảnh báo, chủ động có các phương án thích ứng với biến đổi khí hậu, phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai; quy hoạch, bố trí lại dân cư khu vực sạt lở nguy hiểm, bảo đảm an toàn cho người dân. Nghiên cứu, đề xuất các giải pháp phù hợp để đầu tư khắc phục tình trạng sạt lở tại các bờ biển Tây và bờ biển Đông nhằm hạn chế tác động của biến đổi khí hậu.

Thực hiện tốt công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng, nhất là tạo điều kiện các doanh nghiệp trồng rừng, chế biến các sản phẩm gỗ, nâng cao hơn giá trị kinh tế rừng. Tăng cường trồng rừng ngập mặn ven biển để phòng, chống xói mòn, sạt lở đất; có giải pháp hữu hiệu thúc đẩy sự bồi đắp tự nhiên khu vực Mũi Cà Mau.

“Đề nghị Đại hội phát huy dân chủ, nêu cao tinh thần trách nhiệm để lựa chọn những đồng chí đảm bảo tiêu chuẩn, tiêu biểu về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, gương mẫu, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, được cán bộ, đảng viên và nhân dân tín nhiệm để bầu vào Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI với cơ cấu hợp lý. Đồng thời, lựa chọn được các đại biểu tiêu biểu, thay mặt cho Đảng bộ tỉnh dự Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, đóng góp vào thành công của Đại hội. Sau Đại hội, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa XVI cần nhanh chóng cụ thể hóa Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh, sớm đưa Nghị quyết vào cuộc sống”, Đại tướng Tô Lâm chỉ đạo.

Khai Mạc Đại Hội Đại Biểu Đảng Bộ Tỉnh Cà Mau Lần Thứ Xvi

Tham dự Đại hội có đồng chí Phan Đình Trạc – Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Nội chính Trung ương; Đại diện các Ban Đảng Trung ương; Đại diện lãnh đạo các tỉnh Cần Thơ, Hậu Giang, Kiên Giang, Bạc Liêu,…Các vị lão thành cách mạng, Mẹ Việt Nam anh hùng, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, cùng 351 đại biểu chính thức đại diện cho 49.000 đảng viên của toàn Đảng bộ về dự Đại hội.

Phấn đấu trở thành tỉnh khá của cả nước vào năm 2030

Phát biểu Khai mạc Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Cà Mau lần thứ XVI, nhiệm kỳ 2020 – 2025, Bí thư Tỉnh ủy Cà Mau Nguyễn Tiến Hải, nhấn mạnh: Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI, nhiệm kỳ 2020 – 2025 là sự kiện đặc biệt quan trọng trong đời sống chính trị của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân tỉnh nhà.

Với tinh thần “Đoàn kết – Dân chủ – Kỷ cương – Sáng tạo – Phát triển”, Đại hội thể hiện ý chí, khát vọng và quyết tâm của toàn Đảng bộ, quân và dân trong tỉnh xây dựng Cà Mau phát triển lên tầm cao mới. Phấn đấu đưa Cà Mau trở thành tỉnh khá của cả nước vào năm 2030.

Bí thư Tỉnh ủy Cà Mau Nguyễn Tiến Hải đề nghị Đại hội phát huy cao nhất tinh thần trách nhiệm, tập trung trí tuệ để đánh giá đúng thực trạng tình hình thực hiện Nghị quyết Đại hội nhiệm kỳ qua; làm rõ những thành tựu đạt được, chỉ rõ những hạn chế, khuyết điểm và nguyên nhân, rút ra những kinh nghiệm sâu sắc trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị của Đảng bộ; đi sâu phân tích một cách thấu đáo những tiềm năng, lợi thế của tỉnh và dự báo đầy đủ những thuận lợi, khó khăn, thách thức trong 5 năm tới.

Trình bày Báo cáo chính trị của BCH Đảng bộ tỉnh khóa XV trình Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI, nhiệm kỳ 2020 – 2025 tại Đại hội, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh Cà Mau Lê Quân cho biết: Trong 5 năm qua, vượt qua nhiều khó khăn, thách thức, Đảng bộ, dân và quân tỉnh Cà Mau đã nỗ lực phấn đấu thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XV, nhiệm kỳ 2015 – 2020 đạt được kết quả khá toàn diện trên hầu hết các lĩnh vực…

Đến cuối nhiệm kỳ có 13/20 chỉ tiêu chủ yếu đạt và vượt; đa số các chỉ tiêu chủ yếu về tăng trưởng kinh tế, xã hội đạt ở mức khá trong khu vực; diện mạo đô thị, nông thôn thay đổi rõ nét, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng lên…

Phát huy vai trò gương mẫu của cán bộ, Đảng viên

Phát biểu chỉ đạo Đại hội, Đại tướng Tô Lâm – Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Công an đánh giá cao, biểu dương và chúc mừng những thành tựu mà Đảng bộ, chính quyền và nhân dân tỉnh Cà Mau đã đạt được.

“Đây là tiền đề quan trọng, tạo nền tảng vững chắc để tỉnh Cà Mau vươn lên hoàn thành các chỉ tiêu, nhiệm vụ mà Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI, nhiệm kỳ 2020 – 2025 đề ra, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng và sự phát triển chung của đất nước” – Bộ trưởng Bộ Công an nhận xét.

Đại tướng Tô Lâm nhấn mạnh: Trong nhiệm kỳ tới, tỉnh Cà Mau phát huy vai trò gương mẫu trong rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng, lối sống, phong cách, công tác của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo các cấp, người đứng đầu cấp ủy, các địa phương, cơ quan, đơn vị.

Thực hiện nghiêm túc Quy định của Bộ Chính trị về kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ, chống chạy chức, chạy quyền; tiếp tục quán triệt sâu sắc các chỉ thị, nghị quyết, chiến lược, chủ trương của Đảng, Nhà nước về tăng cường quốc phòng, an ninh đối với cán bộ, đảng viên, cấp ủy, chính quyền các cấp trong hệ thống chính trị trên địa bàn tỉnh.

Đồng thời, củng cố, xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh, huyện và tuyến phòng thủ ven biển vững chắc.

Đại tướng Tô Lâm mong muốn Đại hội sẽ sáng suốt lựa chọn nhân sự trong Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI đúng quy định của Đảng, đủ sức lãnh đạo thực hiện thắng lợi nghị quyết Đại hội đề ra.

Bộ trưởng Bộ Công an lưu ý, việc bầu Đoàn đại biểu đi dự Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, cần xem xét lựa chọn những đồng chí có đủ phẩm chất, năng lực đại diện cho trí tuệ của Đảng bộ, có khả năng đóng góp vào sự thành công Đại hội XIII của Đảng./.

Dự Thảo Nghị Quyết Hđnd Tỉnh Cà Mau

Dự Thảo Nghị Quyết HĐnd Tỉnh Cà Mau, Dự Thảo Nghị Quyết HĐnd Tỉnh Phú Yên, Dự Thảo Nghị Quyết HĐnd Tỉnh Khánh Hòa, Dự Thảo Nghị Quyết HĐnd Tỉnh Tiền Giang, Dự Thảo Nghị Quyết HĐnd Tỉnh Quảng Ngãi, Nghị Quyết Số 20/2020/nq-hĐnd Ngày 10/12/2020 Của HĐnd Tỉnh, Nghi Quyết Số 02/nq-hĐnd Tỉnh Sơn La, Nghị Quyết HĐnd Tỉnh Yên Bái, Nghị Quyết Số 152 Của HĐnd Tỉnh Phú Yên, Nghị Quyết Số 75 Của HĐnd Tỉnh Phú Yên, Nghị Quyết 61 HĐnd Tỉnh Sơn La, Nghị Quyết 66 Của HĐnd Tỉnh Kon Tum, Nghị Quyết 72 HĐnd Tỉnh Sơn La, Nghị Quyết Số 349 Của HĐnd Tỉnh Sơn La, Nghị Quyết HĐnd Tỉnh Phú Yên, Nghị Quyết HĐnd Tỉnh Gia Lai, Nghị Quyết HĐnd Tỉnh, Nghị Quyết Số 41 Của HĐnd Tỉnh Sơn La, Nghị Quyết 82 HĐnd Tỉnh Sơn La, Nghị Quyết Số 27 HĐnd Tỉnh Đăk Lăk, Nghị Quyết Kỳ Họp Thứ 12 Cua HĐnd Tỉnh Gia Lai, Nghị Quyết Số 20 Của HĐnd Tỉnh Yên Bái, Nghị Quyết Số 17 HĐnd Tỉnh Cà Mau, Nghị Quyết Số 53 HĐnd Tỉnh Phú Yên, Nghị Quyết Số 370/nq-hĐnd Tỉnh Sơn La, Nghị Quyết HĐnd Tỉnh Nghệ An, Nghị Quyết 70/nd-hĐnd Tình Thanh Hóa, Nghị Quyết 47 HĐnd Tỉnh Hà Giang, Nghị Quyết 209 Của HĐnd Tỉnh Hà Giang, Nghị Quyết 12 Của HĐnd Tỉnh Quảng Nam, Nghị Quyết 60 Của HĐnd Tỉnh Hà Giang, Nghị Quyết 60 HĐnd Tỉnh Hà Giang, Nghị Quyết Kỳ Họp Thứ 9 HĐnd Tỉnh Thanh Hóa, Nghị Quyết 77 HĐnd Tỉnh Đồng Nai, Nghị Quyết 12 HĐnd Tỉnh Quảng Nam, Nghị Quyết 12/2018/nq-hĐnd Tỉnh Lào Cai, Nghị Quyết 86 HĐnd Tỉnh Hà Giang, Nghị Quyết HĐnd Tỉnh Phú Yên Kỳ Họp 17 Năm 2020, Nghị Quyết Số 60 HĐnd Tỉnh Hà Giang, Nghi Quyet Hdnd Lan Thu 17 Tinh Phu Yen Nam 2020, Nghị Quyết HĐnd Tỉnh Bắc Giang, Nghị Quyết Kỳ Họp Thứ 9 HĐnd Tỉnh Bắc Giang, Nghị Quyết Kỳ Họp Thứ 12 HĐnd Tỉnh Nghệ An, Nghị Quyết 12/2019 Của HĐnd Tỉnh Quảng Nam, Nghị Quyết 38 HĐnd Tỉnh Vĩnh Phúc, Nghị Quyết 04 HĐnd Tỉnh Bắc Giang 2018, Nghị Quyết 04/2018 Của HĐnd Tỉnh Bắc Giang, Nghị Quyết Kỳ Họp Thứ 5 HĐnd Tỉnh Vĩnh Phúc, Nghị Quyết Số 56/2016/nq-hĐnd Tỉnh Vĩnh Phúc, Nghị Quyết Số 55/2016 Của HĐnd Tỉnh Quảng Ninh, Nghị Quyết HĐnd Tỉnh Gia Lai Về Thực Hiện Thông Tư 65 Của, Nghị Quyết HĐnd Tỉnh Gia Lai Về Thực Hiện Thông Tư 65 Củ, Nghị Quyết HĐnd Tỉnh Quảng Ninh Tháng 7 Năm 2018, Nghị Quyết HĐnd Tỉnh Gia Lai Về Thực Hiện Luật Dân Quân Tự Vệ, Nghị Quyết HĐnd Tỉnh Gia Lai Về Thực Hiện Thông Tư 65 Của Bộ Quốc Phòng Lai, Nghị Quyết Số 28/2013/nq-hĐnd Của HĐnd Tp. Hà Nội, Dự Thảo Nghị Quyết Hội Đồng Nhân Dân Tỉnh Kiên Giang, Nghị Quyết 20/2016/nq-hĐnd, Nghị Quyết Số 04 2013 Nq HĐnd, Nghị Quyết 02/2020/nq-hĐnd, Nghị Quyết Số 56/2016/nq-hĐnd Tỉn Vĩn Húc, Nghị Quyết Số 04/2009/nq-hĐnd, Nghị Quyết Số 12/2013/nq-hĐnd, Nghị Quyết Phê Chuẩn Kết Quả Bầu Cử HĐnd, Nghị Quyết Số 70/2017/nq-hĐnd, Nghị Quyết HĐnd Thành Phố Hà Nội, Nghị Quyết Miễn Nhiệm Chủ Tịch HĐnd, Mẫu Nghi Quyết Miên Nhiệm Trưởng Ban HĐnd Xã, Nghị Quyết Miễn Nhiệm Chủ Tịch HĐnd Xã, Nghị Quyết Miễn Nhiệm Đại Biểu HĐnd, Nghị Quyết Miễn Nhiệm Phó Chủ Tịch HĐnd, Dự Thảo Quyết Định Của Ubnd Tỉnh, Tỉnh ủy Quảng Ninh- Kế Hoạch Thực Hiện Nghị Quyết 18, Nghị Quyết 19, Dự Thảo Nghị Quyết Hội Nghị Cán Bộ Công Chức, Nghị Định Dự Thảo Tinh Giản Biên Chế, Báo Cáo Tình Hình Thực Hiện Nghị Quyết 36a Của Tỉnh Bình Phước, Mẫu Dự Thảo Nghị Quyết Đại Hội, Mẫu Dự Thảo Nghị Quyết Đại Hội Chi Bộ, Mẫu Dự Thảo Nghị Quyết, Dự Thảo Nghị Quyết Của Chi Bộ, Dự Thảo Nghị Quyết Chi Bộ, Dự Thảo Nghị Quyết 02, Dự Thảo Nghị Quyết 01, Dự Thảo Nghị Quyết, Sổ Dự Thảo Nghị Quyết Chi Bộ, Mẫu Dự Thảo Nghị Quyết Chi Bộ, Dự Thảo Nghị Quyết Đại Hội, Mẫu Dự Thảo Nghị Quyết Của Chi Bộ, Dự Thảo Nghị Quyết Đại Hội Chi Đội, Dự Thảo Nghị Quyết Xóa Nợ, Dự Thảo Nghị Quyết Họp Chi Bộ, Dự Thảo Nghị Quyết Là Gì, Dự Thảo Nghị Quyết Đại Hội 13, Bản Dự Thảo Nghị Quyết, Dự Thảo Nghị Quyết Đại Hội Chi Bộ, Nghị Quyết 09/2020/nq-hĐnd Ngày 09/11/2020, Nghị Quyết 12/2020/nq-hĐnd Ngày 09/11/2020, Nghị Quyết 11/2020/nq-hĐnd Ngày 09/11/2020, Nghị Quyết 13/2020/nq-hĐnd Ngày 09/11/2020, Nghị Quyết 14/2020/nq-hĐnd Ngày 04/09/2020,

Dự Thảo Nghị Quyết HĐnd Tỉnh Cà Mau, Dự Thảo Nghị Quyết HĐnd Tỉnh Phú Yên, Dự Thảo Nghị Quyết HĐnd Tỉnh Khánh Hòa, Dự Thảo Nghị Quyết HĐnd Tỉnh Tiền Giang, Dự Thảo Nghị Quyết HĐnd Tỉnh Quảng Ngãi, Nghị Quyết Số 20/2020/nq-hĐnd Ngày 10/12/2020 Của HĐnd Tỉnh, Nghi Quyết Số 02/nq-hĐnd Tỉnh Sơn La, Nghị Quyết HĐnd Tỉnh Yên Bái, Nghị Quyết Số 152 Của HĐnd Tỉnh Phú Yên, Nghị Quyết Số 75 Của HĐnd Tỉnh Phú Yên, Nghị Quyết 61 HĐnd Tỉnh Sơn La, Nghị Quyết 66 Của HĐnd Tỉnh Kon Tum, Nghị Quyết 72 HĐnd Tỉnh Sơn La, Nghị Quyết Số 349 Của HĐnd Tỉnh Sơn La, Nghị Quyết HĐnd Tỉnh Phú Yên, Nghị Quyết HĐnd Tỉnh Gia Lai, Nghị Quyết HĐnd Tỉnh, Nghị Quyết Số 41 Của HĐnd Tỉnh Sơn La, Nghị Quyết 82 HĐnd Tỉnh Sơn La, Nghị Quyết Số 27 HĐnd Tỉnh Đăk Lăk, Nghị Quyết Kỳ Họp Thứ 12 Cua HĐnd Tỉnh Gia Lai, Nghị Quyết Số 20 Của HĐnd Tỉnh Yên Bái, Nghị Quyết Số 17 HĐnd Tỉnh Cà Mau, Nghị Quyết Số 53 HĐnd Tỉnh Phú Yên, Nghị Quyết Số 370/nq-hĐnd Tỉnh Sơn La, Nghị Quyết HĐnd Tỉnh Nghệ An, Nghị Quyết 70/nd-hĐnd Tình Thanh Hóa, Nghị Quyết 47 HĐnd Tỉnh Hà Giang, Nghị Quyết 209 Của HĐnd Tỉnh Hà Giang, Nghị Quyết 12 Của HĐnd Tỉnh Quảng Nam, Nghị Quyết 60 Của HĐnd Tỉnh Hà Giang, Nghị Quyết 60 HĐnd Tỉnh Hà Giang, Nghị Quyết Kỳ Họp Thứ 9 HĐnd Tỉnh Thanh Hóa, Nghị Quyết 77 HĐnd Tỉnh Đồng Nai, Nghị Quyết 12 HĐnd Tỉnh Quảng Nam, Nghị Quyết 12/2018/nq-hĐnd Tỉnh Lào Cai, Nghị Quyết 86 HĐnd Tỉnh Hà Giang, Nghị Quyết HĐnd Tỉnh Phú Yên Kỳ Họp 17 Năm 2020, Nghị Quyết Số 60 HĐnd Tỉnh Hà Giang, Nghi Quyet Hdnd Lan Thu 17 Tinh Phu Yen Nam 2020, Nghị Quyết HĐnd Tỉnh Bắc Giang, Nghị Quyết Kỳ Họp Thứ 9 HĐnd Tỉnh Bắc Giang, Nghị Quyết Kỳ Họp Thứ 12 HĐnd Tỉnh Nghệ An, Nghị Quyết 12/2019 Của HĐnd Tỉnh Quảng Nam, Nghị Quyết 38 HĐnd Tỉnh Vĩnh Phúc, Nghị Quyết 04 HĐnd Tỉnh Bắc Giang 2018, Nghị Quyết 04/2018 Của HĐnd Tỉnh Bắc Giang, Nghị Quyết Kỳ Họp Thứ 5 HĐnd Tỉnh Vĩnh Phúc, Nghị Quyết Số 56/2016/nq-hĐnd Tỉnh Vĩnh Phúc, Nghị Quyết Số 55/2016 Của HĐnd Tỉnh Quảng Ninh,

Cổng Thông Tin Điện Tử Ban Chấp Hành Đảng Bộ Tỉnh Cà Mau

Tại Hội nghị lần thứ sáu, khóa XII của Đảng, Ban Chấp hành Trung ương đã ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25-10-2017 “Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả”. Qua hơn 1 năm thực hiện Nghị quyết đã đạt kết quả khá rõ ràng và đáng trân trọng.

Thứ nhất, về tổ chức, bộ máy của hệ thống chính trị

Tính tại thời điểm tháng 6 năm 2017, cả nước có 42 tổng cục, tăng 2 lần so với năm 2011; có 826 cục, vụ thuộc tổng cục, tăng 4,7% và có 7.280 phòng trong tổng cục, tăng 4,7% so 2011; có 750 vụ, cục và tương đương trực thuộc bộ, tăng 13,6% và 3.970 phòng trong cục, vụ và tương đương thuộc bộ, tăng 13% so với năm 2011 – Chưa tính Quân đội và Công an.

Riêng các cơ quan tham mưu, giúp việc của Trung ương tăng 23 đầu mối cấp vụ (21,9%) và 40 đầu mối cấp phòng (37,4%). Các cơ quan tham mưu giúp việc các tỉnh, thành ủy tăng 162 đầu mối cấp phòng (9,32%) và tăng 1.265 biên chế (12,12%) so với năm 2011).

Vậy mà chỉ hơn 1 năm thực hiện, tính đến cuối năm 2018, toàn hệ thống chính trị đã giảm được 3 ban chỉ đạo; 7 tổng cục và tương đương; khoảng 200 cục, vụ và tương đương; 65 sở, ban, ngành cấp tỉnh; giảm 50 lãnh đạo cấp tổng cục; trên 300 lãnh đạo cấp cục, vụ; gần 200 lãnh đạo ban, sở, ngành cấp tỉnh và tương đương, gần 10.000 lãnh đạo cấp phòng.

Cách đây hơn 20 năm, khi Đảng ta lần đầu tiên ban hành “Chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đạị hóa đất nước theo Nghị quyết Trung ương 3 khóa VIII, năm 1997, cả nước có 1.351.900 cán bộ, công chức. Nghị quyết số 13-NQ/TW ngày 16-8-1999 của Ban Chấp hành Trung ương lần thứ bảy khóa VIII “Một số vấn đề về tổ chức, bộ máy của hệ thống chính trị và tiền lương, trợ cấp xã hội thuộc ngân sách nhà nước” đã đề ra mục tiêu tinh giản biên chế: “Tích cực chỉ đạo việc giảm biên chế hành chính các cơ quan đảng, nhà nước, đoàn thể, biên chế gián tiếp trong các đơn vị sự nghiệp, doanh nghiệp nhà nước với mức phấn đấu giảm khoảng 15% “[1]. Vậy mà 10 năm sau – năm 2007, cả nước có 1.976.976 cán bộ, công chức, (tăng gấp rưỡi so với năm 1997), trong đó có sự tăng lên do bổ sung cán bộ cấp cơ sở là 216.247 người, chiếm 10,9%.

Liên tục những năm sau đó, nhiều nghị quyết, kết luận… của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị đặt ra nhiệm vụ tinh giản biên chế nhưng biên chế không những không giảm mà vẫn ngày càng tăng, thậm chí tăng rất nhanh.

Theo báo cáo của Ban Chỉ đạo Trung ương về quản lý biên chế: Tính đến ngày 1-3-2017, số người hưởng lương và phụ cấp từ ngân sách nhà nước là 3.958.760 người. Trong đó, số cán bộ, công chức là 437.067 người; số người hưởng lương, phụ cấp từ ngân sách trong đơn vị sự nghiệp công là 2.294.251 người (chưa tính 150.246 người do các đơn vị sự nghiệp tự quyết theo cơ chế tự chủ); số hưởng lương, phụ cấp ở cấp xã và thôn, tổ dân phố 1.227.442 người, chiếm 31,01% tổng số người hưởng lương, phụ cấp từ ngân sách nhà nước; chiếm khoảng 15,9% tổng chi thường xuyên ngân sách địa phương.

Cán bộ, công chức, viên chức ở Trung ương là 279.143 người; ở cấp tỉnh, cấp huyện là 2.080.280 người; ở cấp xã là 235.627 người; ngoài ra số hợp đồng theo Nghị định 68 là 131.867 người; hợp đồng khác là 239.342 người; còn lại người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã là 991.815 người; hội đặc thù là 686 người (chưa tính Quân đội, Công an). Như vậy, năm 2017 đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức là 2.956.669 người (tăng gấp đôi so 1997) trong khi dân số chỉ tăng 20%.

Tại thời điểm ban hành Nghị quyết Trung ương 6 (khóa XII), tỷ lệ cán bộ, công chức trên 1.000 dân ở nước ta còn quá cao so với các nước xung quanh: Philipin 13; Ấn Độ 16; Indonexia: 17; Đông Ti Mo 18; Xingapore : 25; Malayxia : 26; Nhật Bản 35; Trung Quốc 48; Thái Lan 51; Việt Nam là 43 (chưa kể Quân đội, công an)[2]

Vậy mà mới chỉ sau 3 năm, chủ yếu năm 2018, cả nước đã giảm hơn 132.000 người (giảm 3,54%) so với trước khi thực hiện Nghị quyết. Trong số biên chế trên, công chức, viên chức, người lao động ở Trung ương và địa phương là 81.000 người (giảm khoảng 3,3%), người hưởng lương và phụ cấp ở cấp xã là hơn 51.000 (giảm khoảng 4,02%)[3].

Nhìn lại những chặng đường gian nan của việc sắp xếp tổ chức bộ máy tinh gọn và tinh giản biên chế những năm qua và kết quả cụ thể nêu trên mới thấy hết được những nỗ lực đáng trân trọng của các cấp ủy đảng trong “cuộc chiến” tinh giản biên chế. Có thể nói, đây là lần đầu tiên sau hơn 20 năm chủ trương tinh giản biên chế của Đảng mới được thực hiện có kết quả cụ thể: giảm được 3,54% và chắc chắn sẽ giảm được tối thiểu 10% đến năm 2021 theo mục tiêu của Nghị quyết số 39 – NQ/TW ngày 17- 4 – 2015 của Bộ Chính trị về “Tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức”.

Nhiều địa phương, đơn vị có những chuyển biến tích cực trong sắp xếp tổ chức bộ máy tinh gọn, như Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tài chính, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Quảng Ninh, Hà Giang, Lào Cai, Yên Bái, Hòa Bình, Thanh Hóa, Hà Tĩnh, Quảng Nam, Đà Nẵng, Quảng Trị, Quảng Ngãi, Phú Yên, Lâm Đồng, Long An, Bình Thuận, Đồng Tháp, Ninh Thuận, Bến Tre…

Riêng Bộ Công an đã giảm 8 tổng cục và tương đương; 55 cục, vụ và tương đương; 20 sở cảnh sát phòng cháy chữa cháy; 819 phòng và gần 1.000 đơn vị cấp đội. Bộ Quốc phòng cổ phần hóa 88 doanh nghiệp có 100% vốn nhà nước, chỉ còn 17 doanh nghiệp có 100% vốn nhà nước. Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh cũng hợp nhất 3 đơn vị cấp vụ; sáp nhập, điều chuyển về các vụ, viện 6 đơn vị dưới cấp vụ; giảm hơn 100 phòng, ban tại Học viện trung tâm.

Tuy vậy, cũng còn nhiều nơi, việc đổi mới, kiện toàn, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị còn chuyển biến chậm. Một mặt, do quyết tâm chính trị chưa cao, còn cầu toàn, ngại va chạm. Mặt khác, do lúng túng trong quá trình thực hiện, chưa đầu tư thỏa đáng cho công tác quan trọng này. Có những cơ quan sau khi sắp xếp lại, nhất là khi sáp nhập đã bộc lộ những bất cập về cơ chế hoạt động, phân công nhiệm vụ và sự thiếu chuẩn bị về tâm thế cũng như những điều kiện khác nên hiệu quả chưa rõ nét. Không gian, môi trường làm việc chưa thực sự đáp ứng yêu cầu đổi mới, sáng tạo. Một bộ phận cán bộ ngại đổi mới, thiếu tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung. Công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu khoa học, phát triển lý luận mới về tổ chức xây dựng đảng chưa theo kịp với thực tiễn.

Cũng có nguyên nhân chủ quan cần khắc phục như việc rà soát, bổ sung, sửa đổi, ban hành một số văn bản hướng dẫn còn chậm và lúng túng, nội dung chưa sát với thực tiễn, thiếu tính đồng bộ, liên thông.

Thứ nhất, phải hoàn thiện các thể chế về công tác tổ chức xây dựng đảng; coi trọng công tác tuyên truyền, tạo sự đồng thuận trong cả hệ thống chính trị và trong nhân dân.

Trên cơ sở Cương lĩnh, Điều lệ, Nghị quyết Đại hội XII của Đảng, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã cụ thể hóa bằng việc ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị, kết luận về công tác tổ chức xây dựng đảng. Cấp ủy các cấp đã chủ động cụ thể hóa thành những chương trình, nhiệm vụ cụ thể và tổ chức thực hiện. Ban Tổ chức Trung ương cũng đã kịp thời ban hành nhiều văn bản hướng dẫn thực hiện chủ trương, nghị quyết của Đảng về công tác tổ chức xây dựng đảng.

Các cấp ủy đã tích cực tuyên truyền bằng nhiều hình thức, đa dạng, phong phú trong địa phương, đơn vị, tạo sự đồng thuận của đội ngũ cán bộ, đảng viên và nhân dân trong việc thực hiện.

Thứ hai, phải thực hiện sáng tạo, thận trọng và đồng bộ trong sắp xếp tổ chức bộ máy, tinh giản biên chế.

Công tác tổ chức bao gồm nhiều khâu và giữa chúng có mối quan hệ mật thiết với nhau. Đó là việc xác định lại chức năng, nhiệm vụ, tránh chồng chéo hay bỏ sót nhiệm vụ, đến việc sắp xếp lại bộ máy tinh gọn trên cơ sở xác định vị trí việc làm, xây dựng các quy chế hoạt động, công tác nhân sự, bồi dưỡng nguồn nhân lực. Những kết quả bước đầu về sắp xếp tổ chức bộ máy tinh gọn, giảm biên chế đã cho thấy cách làm đồng bộ, khoa học thì công tác tổ chức, sắp xếp nhân sự cũng như hoạt động của tổ chức bộ máy sau sáp nhập hay thu gọn đầu mối sẽ thuận lợi.

Thứ ba, phải giữ đúng nguyên tắc của Đảng, phát huy dân chủ, đề cao trách nhiệm người đứng đầu.

Nguyên tắc Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị được cụ thể hơn. Trung ương Đảng đã xác định rõ chủ thể chính chịu trách nhiệm về công tác tổ chức, cán bộ là cấp ủy, trực tiếp là Bộ Chính trị và ban thường vụ cấp ủy các cấp. Thực hiện chủ trương tinh giản biên chế cũng đồng thời gắn với trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, đơn vị. Bộ Chính trị đã ban hành Kết luận số 17-KL/TW ngày 11-9- 2017 “Về tình hình thực hiện biên chế, tinh giản biên chế của các tổ chức trong hệ thống chính trị năm 2015-2016, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp giai đoạn 2018-2021”. Theo đó, lần đầu tiên đã có chế tài đối với người đứng đầu có thẩm quyền: “Không đề bạt, bổ nhiệm cán bộ là người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu phụ trách công tác tổ chức, cán bộ không thực hiện nghiêm và không có hiệu quả Nghị quyết 39 của Trung ương tại địa phương, đơn vị mà mình phụ trách về chỉ tiêu tinh giản biên chế”. Chính vì thế, các tổ chức đảng, nhất là cấp có thẩm quyền phải chủ động, tích cực trong chỉ đạo, xây dựng kế hoạch, lộ trình và triển khai tổ chức thực hiện.

Thứ tư, cần coi trọng tổng kết thực tiễn để nhân ra diện rộng.

Vì công tác tổ chức không chỉ đối với tổ chức đảng mà đối với cả hệ thống chính trị trong điều kiện Đảng cầm quyền chưa có tiền lệ nên phải vừa làm, vừa rút kinh nghiệm. Những vấn đề mới và khó cần thực hiện thí điểm và coi trọng tổng kết thực tiễn, phân tích khách quan cả những việc thành công và chưa thành công để làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn đặt ra. Thể chế, quy chế, quy định đều do Đảng ban hành nên cần thường xuyên bổ sung, hoàn thiện để đáp ứng với đòi hỏi của thực tiễn. Các cấp ủy đảng phải thường xuyên sâu sát cơ sở, kịp thời tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong quá trình tổ chức thực hiện, không cầu toàn, không bảo thủ, thụ động, trông chờ hay cách làm đối phó.

Thứ năm, phối hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa các cơ quan trong hệ thống chính trị về công tác tổ chức, cán bộ.

Sắp xếp lại tổ chức trong hệ thống chính trị thực chất là sắp xếp lại từng tổ chức thành viên của hệ thống chính trị trên cơ sở đổi mới tư duy về thể chế chính trị trong điều kiện Đảng cầm quyền. Từ nền kinh tế tập trung quan liêu, bao cấp và từ mô hình hệ thống chính trị thời kỳ đấu tranh giành chính quyền sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ hội nhập quốc tế đang là đòi hỏi cấp bách để đổi mới hệ thống chính trị.

Sự sắp xếp tổ chức sẽ tiến hành từng bước, vững chắc trên cơ sở hoàn thiện lý luận về đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng trong điều kiện duy nhất cầm quyền nên sẽ gặp nhiều cản trở ngay từ nội bộ của các thành viên của hệ thống chính trị. Những biện pháp trước mắt mang tính mệnh lệnh hành chính như yêu cầu bắt buộc giảm ít nhất 10% đến năm 2021 cũng sẽ khó tiếp tục thực thi nếu như không đổi mới một cách căn bản về mô hình tổng thể hệ thống chính trị cho phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ của thời kỳ đổi mới và thời đại.

Sự phối hợp đồng bộ giữa các tổ chức trong hệ thống chính trị trong thời gian qua đã góp phần tạo sự đồng thuận, tăng cường tính gắn kết trong sắp xếp tổ chức bộ máy, thể hiện ở việc nhiều tỉnh mạnh dạn thí điểm hợp nhất một số tổ chức đảng, chính quyền, mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội. Tuy vậy, cần sớm hoàn thiện thể chế cần thiết để gắn với việc phân cấp, phân quyền với ràng buộc trách nhiệm của tập thể, cá nhân, nhất là người đứng đầu.

Thứ sáu, tăng cường sự đoàn kết, thống nhất trong nội bộ.

Đoàn kết phải dựa trên quan điểm, nguyên tắc, quy định và thực hiện đúng nguyên tắc, quy định đó, không có ngoại lệ. Do đó, cần phải tiếp tục hoàn thiện các quy định về phân cấp quản lý cán bộ theo hướng “trực tiếp, hiệu quả nhất” gắn với cơ chế kiểm soát quyền lực, chống tham nhũng, lợi ích nhóm trong công tác tổ chức, cán bộ. Giáo dục đạo đức cách mạng, phát huy tinh thần nêu gương của người đứng đầu trong công tác tổ chức, cán bộ, gắn với kiểm tra, giám sát của cơ quan kiểm tra Đảng và giám sát của mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội. Tuy vậy, cũng không lấy giáo dục, tín nhiệm thay cho kiểm tra, giám sát mà phải tiếp tục hoàn thiện cơ chế hữu hiệu kiểm soát quyền lực đối với tất cả các tổ chức, cá nhân được trao quyền lực. Nơi làm tốt, người làm tốt công tác tổ chức, cán bộ phải được bảo vệ, tôn vinh vì có thể bị rớt phiếu tín nhiệm do đụng chạm. Vì thế cần có sự phân biệt, đánh giá khách quan để khuyến khích người đứng đầu cấp ủy, cơ quan, đơn vị dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm và dám đột phá.

Phát huy tối đa nhân tố con người; xây dựng đội ngũ cán bộ Ngành Tổ chức xây dựng Đảng “Trung thành, trung thực, trong sáng, gương mẫu, tinh thông”.

Bên cạnh đó là có quyết tâm chính trị cao, nỗ lực lớn, hành động quyết liệt, hiệu quả. Có tư duy đổi mới, sáng tạo, cách tiếp cận khoa học, phù hợp; mạnh dạn tổ chức thực hiện với bước đi thận trọng, chắc chắn, không chủ quan, nóng vội; kết hợp chặt chẽ, đồng bộ, toàn diện các mặt của công tác tổ chức xây dựng đảng, việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 6 (khóa XII) sẽ đạt mục tiêu đề ra.

[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Hội nghị lần thứ bẩy Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII , NXB Chính trị quốc gia 1999, tr 40

[2] Nguồn số liệu của World Bank 2015

[3] Theo báo cáo sơ bộ của các cấp ủy, tổ chức đảng trực thuộc Trung ương (chưa bao gồm Công an, Quân đội) – Tài liệu Hội nghị toàn quốc Ngành Tổ chức xây dựng Đảng năm 2019

PGS, TS Nguyễn Minh Tuấn Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (Nguồn: Tạp chí Xây dựng Đảng)