Gia Lai Thực Hiện Tốt Nghị Quyết Đại Hội Đảng Bộ Tỉnh Lần Thứ Xv

Kết Quả Nổi Bật Sau 2 Năm Rưỡi Thực Hiện Nghị Quyết Đại Hội Xvi Đảng Bộ Tỉnh

Đại Tướng Ngô Xuân Lịch Dự Đại Hội Đại Biểu Đảng Bộ Tỉnh Hà Giang

Bế Mạc Đại Hội Đảng Bộ Tỉnh Hà Giang Lần Thứ Xvii, Nhiệm Kỳ 2022

Đại Hội Đại Biểu Đảng Bộ Tỉnh Lần Thứ Xvi Thành Công Tốt Đẹp

Đảng Bộ Tỉnh Hà Giang Thông Qua Nghị Quyết Về Phương Hướng, Nhiệm Vụ Năm 2022

Nhân dịp xuân mới và tiến tới Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI, nhiệm kỳ 2022-2025, đồng chí Hồ Văn Niên, Ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy, Trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Gia Lai đã có cuộc trao đổi với phóng viên Tạp chí Kiểm tra về những thành quả đã đạt được trong nhiệm kỳ 2022-2020 và nhiệm vụ kiểm tra, giám sát trước thềm đại hội đảng bộ các cấp nhiệm kỳ 2022-2025.

Trong nhiệm kỳ qua, mặc dù còn có nhiều khó khăn, thách thức nhưng với quyết tâm phấn đấu của cả hệ thống chính trị, nỗ lực của các cấp, các ngành, của nhân dân toàn tỉnh, việc triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XV, nhiệm kỳ 2022-2020 đã đạt được những thành tựu quan trọng, hoàn thành đạt và vượt 18/18 chỉ tiêu chủ yếu.

Đáng chú ý, tốc độ tăng trưởng kinh tế (GRDP) bình quân hằng năm giai đoạn 2022 – 2022 đạt 7,79%, vượt nghị quyết đề ra. Thu nhập bình quân đầu người năm 2022 ước đạt 54,4 triệu đồng, tăng 1,55 lần so với năm 2022. Trong sản xuất nông nghiệp, Gia Lai đã dần hình thành sự liên kết giữa sản xuất và tiêu thụ sản phẩm; trên địa bàn tỉnh hiện có 165 cánh đồng lớn với tổng diện tích 8.840,93 ha của 3.607 hộ dân và 8 doanh nghiệp; 3 vùng liên kết sản xuất rau an toàn, 1 vùng liên kết sản xuất bơ tiêu chuẩn VietGAP. C hương trình xây dựng nông thôn mới (NTM) được quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo một cách quyết liệt; dự ước đến hết năm 2022, toàn tỉnh có 81 xã đạt chuẩn NTM, tăng 11 xã so với mục tiêu đề ra; tổng số huyện, thị xã, thành phố đạt chuẩn NTM lũy kế đến năm 2022 là 5 đơn vị (Pleiku, An Khê, Ayun Pa, Kbang và Đak Pơ); số làng đạt chuẩn NTM là 83 làng theo tinh thần Chỉ thị số 12-CT/TU, ngày 13 – 02 – 2022 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về tăng cường sự lãnh đạo của cấp ủy các cấp về xây dựng làng NTM trong đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh .

Công tác xây dựng Đảng được quan tâm chỉ đạo, đã thường xuyên tổ chức bồi dưỡng, giáo dục nâng cao nhận thức về chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đến cán bộ, đảng viên và tuyên truyền sâu rộng trong quần chúng nhân dân. Chú trọng tuyên truyền nâng cao tinh thần cảnh giác, đấu tranh với các thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, nhất là trên lĩnh vực tư tưởng văn hóa; chủ động phòng ngừa đấu tranh với những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI, XII) của Đảng được các cấp ủy, tổ chức đảng nghiêm túc quán triệt, triển khai với quyết tâm chính trị cao, gắn chặt chẽ với thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW, ngày 15-5-2016 của Bộ Chính trị.

Đặc biệt, gần cuối nhiệm kỳ, Gia Lai đã thực hiện tốt việc sắp xếp tổ chức, bộ máy của Đảng và hệ thống chính trị theo hướng tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả theo chủ trương của Trung ương, nhất là Nghị quyết Trung ương 6 (khóa XII). Tỷ lệ kết nạp đảng viên hằng năm tăng bình quân 5,51%, vượt chỉ tiêu đề ra; đến cuối năm 2022, tổng số thôn, làng, tổ dân phố có chi bộ là 1.626/1.626, chiếm tỷ lệ 100%; chi bộ thôn, làng, tổ dân phố có chi ủy là 1.297/1.626…

Những kết quả ấn tượng đã đạt được trong lãnh đạo, chỉ đạo phát triển kinh tế – xã hội và công tác xây dựng Đảng của Gia Lai từ đầu nhiệm kỳ đến nay có có sự đóng góp hết sức quan trọng của công tác kiểm tra, giám sát của Đảng.

Từ đầu nhiệm kỳ đến nay, bên cạnh việc tập trung kiểm tra, giám sát các nội dung gắn với việc lãnh đạo, chỉ đạo các nhiệm vụ trọng tâm của Đảng bộ tỉnh, Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã tập trung chỉ đạo kiểm tra, giám sát các nội dung gắn với việc thực hiện 3 đột phá chiến lược đã đề ra trong Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XV, nhiệm kỳ 2022 – 2022, cụ thể là việc lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện các nghị quyết của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về phát triển các khu công nghiệp, cụm công nghiệp; về đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính và phòng, chống tham nhũng, lãng phí; về xây dựng, củng cố hệ thống chính trị từ tỉnh đến cơ sở, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới; về đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị xã, phường, thị trấn… Đã chú trọng kiểm tra tổ chức đảng, đảng viên khi có dấu hiệu vi phạm. Qua công tác kiểm tra, giám sát đã kịp thời phát hiện, chấn chỉnh những tồn tại, hạn chế; đồng thời, xử lý nghiêm những tổ chức đảng, đảng viên vi phạm theo đúng quy định.

Nhìn chung, cấp ủy, tổ chức đảng, ủy ban kiểm tra (UBKT) các cấp đã xây dựng chương trình công tác kiểm tra, giám sát nhiệm kỳ và hằng năm có trọng tâm, trọng điểm và tổ chức thực hiện đạt các chỉ tiêu đề ra. Việc xử lý kỷ luật đảng được thực hiện nghiêm minh. Về phương pháp, quy trình có nhiều đổi mới, chất l­ượng và hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát từng b­ước được nâng lên. Đã tiến hành kiểm tra, xử lý nhiều vụ việc nổi cộm, bức xúc, dư luận quan tâm với thái độ kiên quyết, nghiêm minh, góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí.

Nhiệm vụ trọng tâm năm 2022 của cấp ủy, tổ chức đảng là tập trung chuẩn bị và tổ chức thành công đại hội nhiệm kỳ 2022 – 2025. Do đó, công tác kiểm tra, giám sát của cấp ủy, UBKT các cấp cũng phải nhằm phục vụ cho nhiệm vụ này. Đảng bộ tỉnh xác định cấp ủy, tổ chức đảng, UBKT các cấp phải tiếp tục quán triệt và thực hiện tốt nội dung các văn bản chỉ đạo của Trung ương, của tỉnh. Trọng tâm là Chỉ thị số 35-CT/TW, ngày 30/5/2019 của Bộ Chính trị về đại hội đảng các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng; Kết luận số 55-KL/TW, ngày 15/8/2019 của Ban Bí thư về việc tiếp tục chấn chỉnh công tác cán bộ để chuẩn bị tốt nhân sự đại hội đảng bộ các cấp và Đại hội XIII của Đảng; Thông báo số 156-TB/TW, ngày 01/10/2019 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa X “về tăng cường công tác kiểm tra, giám sát của Đảng”.

Cùng với tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, UBKT các cấp còn có trách nhiệm tham gia nhận xét, đánh giá cán bộ phục vụ công tác nhân sự đại hội và thẩm tra tư cách đại biểu; tham mưu, giúp cấp ủy chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra, giám sát công tác chuẩn bị và tổ chức đại hội của đảng bộ cấp dưới. Khối lượng công việc rất nhiều, trọng trách lớn nên đòi hỏi UBKT các cấp và cán bộ kiểm tra phát huy tinh thần trách nhiệm, đoàn kết, nỗ lực tham mưu cấp ủy lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện tốt công tác kiểm tra, giám sát, góp phần tổ chức thành công đại hội đảng bộ các cấp và Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI, tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng.

Nhân dịp trước thềm năm mới Canh Tý 2022 và tiến tới Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Gia Lai lần thứ XVI, nhiệm kỳ 2022 – 2025, qua Tạp chí Kiểm tra, cho phép tôi thay mặt Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Gia Lai kính chúc đồng bào các dân tộc trên địa bàn tỉnh năm mới sức khỏe, hạnh phúc và nhiều thắng lợi mới!

Nhiều Thành Tựu Nổi Bật Qua 4 Năm Thực Hiện Nghị Quyết Đại Hội Xv Đảng Bộ Tỉnh

Đại Hội Đại Biểu Đảng Bộ Tỉnh Gia Lai Lần Thứ Xvi: Thông Qua 17 Chỉ Tiêu Chủ Yếu Nhiệm Kỳ 2022

Hội Nghị Sơ Kết 3 Năm Thực Hiện Nghị Quyết Đại Hội Đại Biểu Đảng Bộ Quận Lần Thứ Xi

Nghị Quyết Đại Hội Đại Biểu Đảng Bộ Quận Gò Vấp Lần Thứ Vi Về Tình Hình Nhiệm Vụ Trong 5 Năm (1991

Nghị Quyết Đại Hội Đại Biểu Đảng Bộ Quận Gò Vấp Lần Thứ Viii Nhiệm Kỳ 2000

Hội Nghị Quán Triệt Nghị Quyết Đại Hội Xiii Đảng Bộ Tỉnh Lai Châu

Đảng Bộ Tỉnh Lai Châu Qua Các Kỳ Đại Hội

Bế Mạc Đại Hội Đảng Bộ Tỉnh Lai Châu Khóa Xiv

Đại Hội Đảng Bộ Trường Đại Học Khoa Học Tự Nhiên Lần Thứ Xxv

Đại Hội Đại Biểu Đảng Bộ Trường Đhsp Hà Nội Lần Thứ Xiii Nhiệm Kì 2022

Đại Hội Đảng Bộ Trường Thpt Lệ Thủy Lần Thứ Xxviii, Nhiệm Kỳ 2022

Sáng ngày 21/01/2016, Đảng bộ Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tổ chức Hội nghị quán triệt các văn kiện Hội nghị lần thứ 13 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI; Nghị quyết số 39-NQ/TW và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Lai Châu lần thứ XIII. Tham dự hội nghị có các đồng chí trong Ban thường vụ Đảng bộ Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, lãnh đạo các phòng, đơn vị thuộc Sở và hơn 100 cán bộ, công chức, viên chức Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch.

Đ/c Trần Văn Chí- Báo cáo viên cấp tỉnh, Phó Giám đốc Sở VHTTDL

Hội nghị đã được nghe đồng chí Trần Văn Chí – Báo cáo viên cấp tỉnh, Phó Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch trình bày một số nội dung cơ bản các các văn kiện Hội nghị lần thứ 13 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI; Nghị quyết số 39-NQ/TW và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Lai Châu lần thứ XIII, trong đó tập trung vào các vấn đề: Chủ đề Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIII, nhiệm kỳ 2022-2020; Tình hình phát triển kinh tế của tỉnh 5 năm 2010-2015; mục tiêu, nhiệm vụ giai đoạn 2022-2020; Phát triển văn hóa- xã hội 5 năm 2010-2015; mục tiêu nhiệm vụ 2022-2020; Đảm bảo quốc phòng- an ninh và mở rộng quan hệ đối ngoại; Công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị…. Đây là những nội dung lớn, vừa bảo đảm đáp ứng yêu cầu trước mắt, vừa có ý nghĩa lâu dài cần được nghiên cứu quán triệt sâu sắc và toàn diện, tạo sự nhất trí trong cán bộ, đảng viên và nhân dân. Đề cập đến Phát triển văn hóa- xã hội 05 năm 2010-2015; mục tiêu nhiệm vụ 2022-2020, đồng chí Trần Văn Chí nhấn mạnh những kết quả Ngành đạt được trong 05 năm qua và các mục tiêu, nhiệm vụ chủ yếu cần phải đạt được trong 5 năm tới, Nghị quyết nêu: Tiếp tục quán triệt quan điểm văn hóa là nền tảng của xã hội, là mục tiêu, động lực phát triển bền vũng đất nước. Văn hóa phải được đặt ngang hàng với kinh tế, chính trị, xã hội. Cần xây dựng và phát triển văn hóa, con người Lai Châu đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững của tỉnh….

Toàn cảnh Hội nghị

Học tập, quán triệt các văn kiện Hội nghị lần thứ 13 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI; Nghị quyết số 39-NQ/TW và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Lai Châu lần thứ XIII, nhiệm kỳ 2022-2020 nhằm giúp cán bộ, Đảng viên nắm được các nội dung, quan điểm của Đảng trong các văn kiện, các nội dung Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh khóa XIII, tạo sự thống nhất và đồng thuận cao trong toàn xã hội. Trên cơ sở học tập, nắm vững các quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, toàn Đảng bộ Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch sẽ tập trung vận dụng vào triển khai thực hiện các nhiệm vụ của Đảng bộ một cách thiết thực và hiệu quả, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của tỉnh.

Nghị Quyết Đại Hội Đại Biểu Đảng Bộ Tỉnh Lần Thứ Xiii Nhiệm Kỳ 2022

Triển Khai Nghị Quyết Đại Hội Đảng Bộ Tphcm Lần Thứ X: Gắn Với Các Chương Trình Đột Phá Của Tp

Đại Hội Đảng Bộlần Thứ X

Hội Liên Hiệp Phụ Nữ Thực Hiện Nghị Quyết Đại Hội Đảng Bộ Tỉnh

Bế Mạc Đại Hội Đại Biểu Đảng Bộ Tỉnh Bến Tre Lần Thứ X, Nhiệm Kỳ 2022

Đảng Bộ Tỉnh Lai Châu Qua Các Kỳ Đại Hội

Bế Mạc Đại Hội Đảng Bộ Tỉnh Lai Châu Khóa Xiv

Đại Hội Đảng Bộ Trường Đại Học Khoa Học Tự Nhiên Lần Thứ Xxv

Đại Hội Đại Biểu Đảng Bộ Trường Đhsp Hà Nội Lần Thứ Xiii Nhiệm Kì 2022

Đại Hội Đảng Bộ Trường Thpt Lệ Thủy Lần Thứ Xxviii, Nhiệm Kỳ 2022

Đại Hội Chi Bộ Trường Thpt Tân Lang Lần Thứ Iv, Nhiệm Kỳ 2022

Từ ngày 15-21/10/1963, Đảng bộ tỉnh đã tiến hành Đại hội Đại biểu lần thứ nhất (sau 14 năm thành lập Đảng bộ (1949 – 1963) đến nay Đảng bộ tỉnh đã tiến hành 13 kỳ đại hội.

ĐẠI HỘI I

Sau 14 năm thành lập Đảng bộ (1949 – 1963) và sau 9 tháng thành lập lại tỉnh, từ ngày 15-21/10/1963, Đảng bộ tỉnh đã tiến hành Đại hội Đại biểu lần thứ nhất. Về dự Đại hội có 112 đại biểu chính thức, 6 đại biểu dự khuyết đại diện cho 4.750 đảng viên của các huyện, thị trong tỉnh. Đại hội bầu Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khoá I gồm 22 đồng chí (19 uỷ viên chính thức, 3 uỷ viên dự bị); Ban Thường vụ Tỉnh ủy gồm 7 đồng chí, đồng chí Trần Quốc Mạnh được bầu làm Bí thư Tỉnh uỷ.

ĐẠI HỘI II

Từ ngày 28/3 đến ngày 5/4/1970, Đảng bộ tỉnh đã tiến hành Đại hội đại biểu lần thứ hai. Về dự Đại hội có 156 đại biểu thay mặt cho 7.000 đảng viên trong toàn Đảng bộ. Đại hội bầu Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khoá II gồm 23 đồng chí (20 uỷ viên chính thức, 3 uỷ viên dự khuyết); Ban Thường vụ Tỉnh uỷ gồm 7 đồng chí, đồng chí Nguyễn Văn Xã được bầu làm Bí thư Tỉnh uỷ.

ĐẠI HỘI III

Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ ba diễn ra từ ngày 26/4 đến ngày 1/5/1975. Về dự Đại hội có 162 đại biểu (159 đại biểu chính thức, 3 đại biểu dự khuyết), đại diện cho 8.000 đảng viên của 16 đảng bộ trực thuộc tỉnh. Đại hội bầu Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khoá III gồm 28 đồng chí (23 uỷ viên chính thức, 5 uỷ viên dự khuyết); Ban Thường vụ Tỉnh uỷ gồm 7 đồng chí, đồng chí Nguyễn Văn Xã tiếp tục được bầu làm Bí thư Tỉnh uỷ.

ĐẠI HỘI IV

Mặc dù Đảng bộ và nhân dân các dân tộc trong tỉnh mới thực hiện Nghị quyết Đại hội III của Đảng bộ được hơn 1 năm. Nhưng để chuẩn bị tốt các nội dung cho Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV, Trung ương Đảng quyết định cho Đảng bộ Lai Châu tiến hành Đại hội lần thứ tư thành hai vòng: Vòng 1 diễn ra từ ngày 11-20/11/1976, về dự Đại hội có 209 đại biểu (195 đại biểu chính thức, 14 đại biểu dự khuyết) đại diện cho 8.197 đảng viên của 17 đảng bộ trực thuộc tỉnh. Vòng 2 diễn ra từ ngày 08-12/3/1977, về dự Đại hội có 220 đại biểu (200 đại biểu chính thức, 20 đại biểu dự khuyết) đại diện cho gần 9.000 đảng viên của 17 đảng bộ trực thuộc tỉnh. Đại hội bầu Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khoá IV gồm 35 đồng chí (31 uỷ viên chính thức, 4 uỷ viên dự khuyết); Ban Thường vụ Tỉnh ủy gồm 11 đồng chí, đồng chí Hoàng Tinh được bầu làm Bí thư Tỉnh uỷ.

ĐẠI HỘI V

Sau gần 3 năm kể từ Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ IV, Đại hội Đại biểu lần thứ năm của Đảng bộ Lai Châu được triệu tập trong bối cảnh: quân và dân Lai Châu giành được nhiều thắng lợi to lớn trong việc bảo vệ vững chắc biên giới của Tổ quốc, làm thất bại mọi âm mưu của các thế lực thù địch, giữ vững an ninh chính trị và an toàn xã hội. Đại hội diễn ra từ ngày 27-29/10/1980. Về dự Đại hội có 181 đại biểu chính thức, đại diện cho 10.283 đảng viên trong toàn Đảng bộ tỉnh. Đại hội bầu Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khoá V gồm 39 đồng chí (37 uỷ viên chính thức, 2 uỷ viên dự khuyết); Ban Thường vụ Tỉnh ủy gồm 13 đồng chí, đồng chí Hoàng Tinh tiếp tục được bầu làm Bí thư Tỉnh uỷ.

ĐẠI HỘI VI

Đại hội lần thứ VI của Đảng bộ tỉnh được tiến hành thành hai vòng. Vòng 1: diễn ra từ ngày 8-15/1/1982. Vòng 2: diễn ra từ ngày 20-24/1/1983, về dự Đại hội có 202 đại biểu, đại diện cho hơn 1 vạn đảng viên trong toàn Đảng bộ tỉnh. Đại hội bầu Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khoá VI gồm 41 đồng chí (39 uỷ viên chính thức, 2 uỷ viên dự khuyết); Ban Thường vụ Tỉnh ủy gồm 13 đồng chí, đồng chí Nguyễn Niệm được bầu làm Bí thư Tỉnh uỷ.

ĐẠI HỘI VII

Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ VII diễn ra từ ngày 8-14/10/1986. Về dự Đại hội có 240 đại biểu (232 đại biểu chính thức, 08 đại biểu dự khuyết), đại diện cho hơn 1 vạn đảng viên của 18 đảng bộ trực thuộc tỉnh. Đại hội đã bầu Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khoá VII gồm 49 đồng chí (41 uỷ viên chính thức, 8 uỷ viên dự khuyết); Ban Thường vụ Tỉnh ủy gồm 12 đồng chí, đồng chí Nguyễn Niệm tiếp tục được bầu làm Bí thư Tỉnh uỷ.

ĐẠI HỘI VIII

Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ VIII được tiến hành thành hai vòng. Vòng 1: diễn ra từ ngày 24-27/4/1991. Vòng 2: diễn ra từ ngày 23-27/9/1991. Về dự Đại hội có 248 đại biểu đại diện cho trên 1 vạn đảng viên trong toàn Đảng bộ tỉnh. Đại hội bầu Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khoá VIII gồm 45 đồng chí; Ban Thường vụ Tỉnh ủy gồm 13 đồng chí, đồng chí Nguyễn Niệm tiếp tục được bầu làm Bí thư Tỉnh uỷ.

ĐẠI HỘI IX

Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ IX diễn ra từ ngày 03-06/5/1996. Về dự Đại hội có 249 đại biểu đại diện cho 14 ngàn đảng viên trong toàn Đảng bộ tỉnh. Đại hội bầu Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khoá IX gồm 47 đồng chí; Ban Thường vụ Tỉnh ủy gồm 13 đồng chí, đồng chí Lò Văn Puốn được bầu làm Bí thư Tỉnh uỷ.

ĐẠI HỘI X

Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ X diễn ra từ ngày 02-05/01/2001 tại thị xã Điện Biên Phủ. Về dự Đại hội có 270 đại biểu, đại diện cho trên 17 ngàn đảng viên trong toàn Đảng bộ tỉnh. Đại hội bầu Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khoá X gồm 47 đồng chí; Ban Thường vụ Tỉnh ủy gồm 13 đồng chí, đồng chí Trịnh Long Biên được bầu làm Bí thư Tỉnh uỷ.

ĐẠI HỘI XI

Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XI nhiệm kỳ 2005-2010 diễn ra từ ngày 14-17/12/2005 tại thị xã Lai Châu. Về dự Đại hội có 249 đại biểu, đại diện cho hơn 10 ngàn đảng viên của 10 đảng bộ trực thuộc tỉnh. Đại hội bầu Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khoá XI gồm 47 đồng chí; Ban Thường vụ Tỉnh ủy gồm 12 đồng chí, đồng chí Nguyễn Minh Quang được bầu làm Bí thư Tỉnh uỷ.

ĐẠI HỘI XII

Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XII nhiệm kỳ 2010-2015 diễn ra từ ngày 22-24/9/2010 tại thị xã Lai Châu. Về dự Đại hội có 300 đại biểu, đại diện cho gần 16 ngàn đảng viên trong toàn Đảng bộ tỉnh. Đại hội bầu Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khoá XII gồm 55 đồng chí; Ban Thường vụ Tỉnh ủy gồm 15 đồng chí, đồng chí Lò Văn Giàng được bầu làm Bí thư Tỉnh uỷ.

ĐẠI HỘI XIII

Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XIII nhiệm kỳ 2022-2020 diễn ra từ ngày 13-15/10/2015 tại thành phố Lai Châu. Về dự Đại hội có 300 đại biểu, đại diện cho gần 23.000 đảng viên trong toàn Đảng bộ tỉnh. Đại hội đã bầu Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khoá XIII gồm 50 đồng chí; Ban Thường vụ Tỉnh ủy gồm 16 đồng chí, đồng chí Nguyễn Khắc Chử được bầu làm Bí thư Tỉnh uỷ. Từ tháng 9/2018, công bố Quyết định của Bộ Chính trị chuẩn y Bí thư Tỉnh ủy Lai Châu nhiệm kỳ 2022-2020 đối với đồng chí Giàng Páo Mỷ, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy, Trưởng đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Lai Châu..

Hội Nghị Quán Triệt Nghị Quyết Đại Hội Xiii Đảng Bộ Tỉnh Lai Châu

Nghị Quyết Đại Hội Đại Biểu Đảng Bộ Tỉnh Lần Thứ Xiii Nhiệm Kỳ 2022

Triển Khai Nghị Quyết Đại Hội Đảng Bộ Tphcm Lần Thứ X: Gắn Với Các Chương Trình Đột Phá Của Tp

Đại Hội Đảng Bộlần Thứ X

Hội Liên Hiệp Phụ Nữ Thực Hiện Nghị Quyết Đại Hội Đảng Bộ Tỉnh

Nghị Quyết Đại Hội Đại Biểu Đảng Bộ Tỉnh Lai Châu Lần Thứ Xiv, Nhiệm Kỳ 2022

Quán Triệt Nghị Quyết Đại Hội Đảng Bộ Tỉnh Lâm Đồng Tới Cán Bộ, Hội Viên Phụ Nữ

Nghị Quyết Đại Hội Đại Biểu Lần Thứ Xxii Đảng Bộ Thành Phố Đà Nẵng, Nhiệm Kỳ 2022

Đại Hội Đại Biểu Mttq Việt Nam Quận Hai Bà Trưng Lần Thứ Xv, Nhiệm Kỳ 2022

Nghị Quyết Đại Hội Đại Biểu Đảng Bộ Tỉnh Vĩnh Phúc Lần Thứ Xvii, Nhiệm Kỳ 2022

Đảng Bộ Quận 7 Qua Các Kỳ Đại Hội Đảng

Thứ ba, 08/12/2020 – 09:52′

Từ ngày 21 đến ngày 23 tháng 10 năm 2022, tại thành phố Lai Châu, Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Lai Châu lần thứ XIV, nhiệm kỳ 2022-2025 tổ chức trọng thể, với tinh thần đoàn kết, dân chủ, kỷ cương, đổi mới, phát triển.

QUYẾT NGHỊ

I- Tán thành nội dung Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa XIII trình Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XIV, nhiệm kỳ 2022-2025, với những nội dung cơ bản sau:

1. Về kiểm điểm kết quả 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIII, nhiệm kỳ 2022 – 2022

5 năm qua, Đảng bộ, chính quyền và Nhân dân các dân tộc trong tỉnh phát huy truyền thống đoàn kết, tập trung nguồn lực, khai thác tiềm năng, lợi thế, vượt qua khó khăn thách thức, với tư tưởng chỉ đạo là “Hành động, kỷ cương, hiệu quả”, tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, thực hiện đạt nhiều kết quả quan trọng, các chỉ tiêu chủ yếu Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh đều đạt và vượt, tạo tiền đề vững chắc để tiếp tục phát triển trong những năm tới. Kinh tế phát triển nhanh và khá toàn diện, tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân đạt 11,55%/năm; cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng, giảm tỷ trọng nông nghiệp, tăng tỷ trọng công nghiệp, xây dựng, dịch vụ; thu ngân sách trên địa bàn năm 2022 ước đạt trên 2.000 tỷ đồng, tăng 2 lần so với năm 2022. GRDP bình quân đầu người đạt 40 triệu đồng, tăng hơn 2 lần so với năm 2022. Văn hóa, xã hội đạt kết quả tích cực, bản sắc văn hóa tốt đẹp các dân tộc được giữ gìn, bảo tồn và phát huy; chất lượng giáo dục, y tế, chăm sóc sức khỏe Nhân dân được nâng lên; giảm nghèo nhanh, bình quân 4,75%/năm, năm 2022 còn 16,49%, có 2 huyện được công nhận thoát nghèo giai đoạn 2022-2020; an sinh xã hội được đảm bảo, đời sống vật chất, tinh thần của Nhân dân các dân tộc được cải thiện. Quốc phòng, an ninh được bảo đảm vững chắc, chủ quyền biên giới quốc gia được giữ vững; chính trị xã hội ổn định. Xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị được tăng cường, năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng, đảng viên được nâng lên; truyền thống đoàn kết của đảng bộ và Nhân dân các dân tộc được củng cố, phát huy. Nhiều chỉ tiêu phát triển đạt mức trung bình so với các tỉnh trong khu vực miền núi phía Bắc.

Những hạn chế chủ yếu đó là: Quy mô phát triển kinh tế còn nhỏ; kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội thiếu đồng bộ, nhất là hạ tầng nông thôn. Chất lượng giáo dục, đào tạo, khoa học và công nghệ, y tế, văn hóa, thể thao, phát triển chưa đều, chất lượng nguồn nhân lực nhìn chung còn thấp. Đời sống Nhân dân vùng sâu, vùng xa, biên giới còn nhiều khó khăn, tỷ lệ nghèo, cận nghèo còn cao, giảm nghèo một số nơi chưa bền vững. Tình hình an ninh, trật tự an toàn xã hội còn tiềm ẩn yếu tố phức tạp. Năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của một số tổ chức cơ sở đảng còn hạn chế. Kỷ cương, kỷ luật ở một số cấp ủy đảng, cơ quan, đơn vị chưa nghiêm. Hiệu lực, hiệu quả hoạt động của chính quyền một số nơi chưa toàn diện. Chất lượng hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội một số mặt còn hạn chế.

Nguyên nhân kết quả: Các cấp ủy đảng kịp thời quán triệt, triển khai cụ thể hóa Nghị quyết Đại hội XII của Đảng, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIII và các nghị quyết của Trung ương sát với yêu cầu thực tiễn của địa phương, cơ quan, đơn vị. Đảng, Nhà nước chú trọng tăng cường đầu tư phát triển kinh tế, xã hội vùng miền núi. Tỉnh ủy lãnh đạo, chỉ đạo đảm bảo nguồn lực thực hiện các chủ trương, nghị quyết, đề án, chính sách; phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị; các cấp ủy đảng; chính quyền, đoàn thể thống nhất ý chí và hành động, đổi mới phương thức lãnh đạo, chỉ đạo và điều hành. Đảng bộ, Nhân dân các dân tộc phát huy truyền thống đoàn kết thống nhất, nêu cao ý thức tự lực, tự cường, nỗ lực phấn đấu, quyết tâm thực hiện thắng lợi nghị quyết đại hội đảng các cấp.

Nguyên nhân hạn chế: Có nguyên nhân khách quan về những khó khăn vốn có của tỉnh miền núi, biên giới; nguồn lực đầu tư và điều kiện phát triển thấp kém; kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội chưa đồng bộ; các thế lực thù địch đẩy mạnh các hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước, kích động, chia rẽ đoàn kết các dân tộc. Nhưng nguyên nhân chủ quan vẫn là chủ yếu, đó là: Năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của một số cấp ủy, tổ chức đảng chưa đáp ứng yêu cầu, lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, điều hành của chính quyền một số nơi chưa quyết liệt. Sự phối hợp giữa các cấp, các ngành có việc chưa chặt chẽ. Trình độ, năng lực, trách nhiệm gương mẫu của một bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức còn hạn chế. Một bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức và Nhân dân chưa thật sự nỗ lực vươn lên.

* Một số kinh nghiệm

Một là, giữ vững đoàn kết, thống nhất trong toàn Đảng bộ, từng cấp ủy, thấm nhuần quan điểm xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt, phải đặc biệt chăm lo xây dựng Đảng và hệ thống chính trị các cấp trong sạch, vững mạnh. Tăng cường năng lực, bản lĩnh chính trị của các cấp ủy, tổ chức đảng, chú trọng công tác giáo dục chính trị tư tưởng, đạo đức công vụ, trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên; nhất là người đứng đầu cấp ủy, chính quyền, cơ quan, đơn vị. Phương thức lãnh đạo, chỉ đạo phải toàn diện, sâu sát, quyết liệt; chú trọng phát huy sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị trong thực hiện các nhiệm vụ chính trị.

Hai là, kịp thời cụ thể hóa chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước sát với thực tiễn. Chủ động nắm, dự báo đúng tình hình, xử lý những vấn đề nảy sinh, không để bị động, bất ngờ. Kịp thời phát hiện những vấn đề mới, bất cập để điều chỉnh, bổ sung và có giải pháp phù hợp.

Ba là, coi trọng công tác tổng kết thực tiễn, kế thừa những bài học kinh nghiệm sau 70 năm thành lập Đảng bộ tỉnh và 15 năm xây dựng tỉnh Lai Châu và kinh nghiệm lãnh đạo, quản lý qua các nhiệm kỳ, đồng thời có tư duy đổi mới, hành động quyết liệt, tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, đầu tư nguồn lực và tổ chức thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm đã được xác định.

Bốn là, chú trọng đánh giá đúng nguồn lực, động lực phát triển và phát huy mạnh mẽ nguồn lực toàn xã hội, nhất là nguồn lực trong Nhân dân và doanh nghiệp; xây dựng cơ chế, chính sách, tạo lập môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi; luôn đồng hành cùng cộng đồng doanh nghiệp. Quan tâm phát triển hài hòa lợi ích của các tầng lớp trong xã hội, các dân tộc, địa bàn đặc biệt khó khăn, tạo cơ hội thuận lợi cho Nhân dân vươn lên.

Năm là, quan tâm chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, nhất là cán bộ chủ chốt, cán bộ người dân tộc; chú trọng đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức và giữ nghiêm kỷ cương, kỷ luật trong thực thi công vụ.

Những hạn chế, khuyết điểm, nguyên nhân và một số kinh nghiệm nêu trên đòi hỏi mỗi cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể, cơ quan, đơn vị; cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, các lực lượng vũ trang nêu cao ý thức thẳng thắn tự soi, tự sửa, khắc phục nghiêm túc, hiệu quả trong nhiệm kỳ 2022-2025.

2. Quan điểm chỉ đạo; mục tiêu, nhiệm vụ và các giải pháp trọng tâm nhiệm kỳ 2022 – 2025

2.1. Quan điểm chỉ đạo

(1) Kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Quán triệt thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, thực hiện hiệu quả các nghị quyết của Trung ương, chính sách, pháp luật của Nhà nước, kịp thời cụ thể hóa, tập trung lãnh đạo thực hiện quyết liệt, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu thực tiễn của tỉnh. Phát huy sức mạnh đoàn kết các dân tộc; thực hành dân chủ, phát huy quyền làm chủ của Nhân dân. Kiên quyết khắc phục những hạn chế, yếu kém trong nhiệm kỳ 2022-2020.

(2) Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức có đủ phẩm chất, năng lực, trí tuệ, tâm huyết, trách nhiệm, gắn bó mật thiết với Nhân dân, chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý giỏi, gương mẫu, có uy tín cao với Nhân dân, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm.

(3) Đẩy mạnh đổi mới sáng tạo, ứng dụng thành tựu khoa học và công nghệ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Phát huy mạnh mẽ tiềm năng, lợi thế, huy động, sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực để phát triển kinh tế, xã hội nhanh, bền vững. Lấy phát triển kinh tế nông nghiệp là trung tâm lan tỏa, thúc đẩy công nghiệp, thương mại, dịch vụ. Phát triển hài hòa kinh tế với văn hóa, xã hội, bảo vệ môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu; bảo đảm quốc phòng, an ninh vững chắc; xây dựng biên giới hòa bình, hữu nghị, hợp tác, phát triển.

2.2. Mục tiêu tổng quát: Tăng cường xây dựng Đảng bộ và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng, đảng viên; phát huy sức mạnh đoàn kết các dân tộc; đẩy mạnh đổi mới sáng tạo, huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực, khai thác tiềm năng, lợi thế của tỉnh; đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, trọng tâm là cơ cấu lại ngành nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa tập trung gắn với xây dựng nông thôn mới; phát triển mạnh công nghiệp, thương mại, dịch vụ, du lịch. Tiếp tục phát triển đồng bộ hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội, nhất là hạ tầng nông thôn và liên kết vùng. Nâng cao chất lượng giáo dục, chăm sóc sức khỏe Nhân dân và chất lượng dân số; bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa bản sắc tốt đẹp của các dân tộc để xây dựng con người phát triển toàn diện; bảo vệ môi trường, chủ động ứng phó có hiệu quả với biến đổi khí hậu. Đảm bảo an sinh xã hội, giảm nghèo bền vững, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của Nhân dân. Bảo đảm quốc phòng, an ninh vững chắc; xây dựng tỉnh Lai Châu phát triển nhanh và bền vững, phấn đấu đến năm 2030 trở thành tỉnh phát triển khá trong khu vực các tỉnh miền núi phía Bắc, đến năm 2045 là tỉnh có kinh tế, xã hội đạt mức trung bình của cả nước.

2.3. Các chỉ tiêu chủ yếu đến năm 2025

* Các chỉ tiêu về kinh tế:

(1) Tốc độ tăng trưởng GRDP đạt 9-10%/năm. GRDP bình quân đầu người đạt 65 triệu đồng. Cơ cấu kinh tế: Nông, lâm nghiệp, thủy sản 12,44%; công nghiệp, xây dựng 42,42%; dịch vụ 36,43%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm 8,71%.

(2) Giá trị gia tăng ngành nông nghiệp đạt trên 5%/năm; tổng sản lượng lương thực có hạt đạt trên 226.000 tấn; diện tích cây chè 10.000 ha, trồng mới 2.400 ha; tăng trưởng đàn gia súc trên 5%/năm. 57,5% xã đạt chuẩn nông thôn mới, không còn xã dưới 15 tiêu chí, 02 huyện nông thôn mới (Tam Đường, Than Uyên). Tỷ lệ che phủ rừng 54%.

(3) Thu ngân sách trên địa bàn đạt 3.000 tỷ đồng.

(4) Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu tăng trung bình 11,5%/năm, trong đó xuất khẩu hàng địa phương tăng bình quân 10%/năm. Tổng lượt khách du lịch tăng bình quân 20%/năm.

(5) 100% số thôn, bản có đường xe máy hoặc ô tô đi lại thuận lợi; 97% hộ dân được sử dụng điện lưới quốc gia. 100% trường học và trạm y tế xã được xây dựng kiên cố. Trên 93% dân số nông thôn được sử dụng nước hợp vệ sinh; 99% dân số đô thị được cung cấp nước sạch qua hệ thống cấp nước tập trung.

* Các chỉ tiêu về văn hóa, xã hội:

(6) Giữ vững và nâng cao chất lượng phổ cập giáo dục Mầm non cho trẻ em 5 tuổi; 100% xã, phường, thị trấn đạt chuẩn phổ cập giáo dục Tiểu học mức độ 2 trở lên và đạt chuẩn phổ cập giáo dục Trung học cơ sở mức độ 1 trở lên. Tỷ lệ huy động học sinh trong độ tuổi đến trường: Mẫu giáo đạt 98%, Tiểu học đạt 99,8%, Trung học cơ sở đạt 95%, Trung học phổ thông đạt 60% trở lên. Tỷ lệ trường chuẩn quốc gia đạt 66%.

(7) 70% dân số được quản lý bằng hồ sơ sức khỏe điện tử; 13 bác sỹ/1vạn dân; mức giảm tỷ suất sinh 0,4‰/năm; giảm tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng thể nhẹ cân xuống dưới 15%, thể thấp còi xuống 20%.

(8) Tỷ lệ hộ nghèo giảm bình quân 3%/năm, riêng huyện nghèo giảm 4%/năm; giải quyết việc làm cho 8.500 lao động/năm; đào tạo nghề cho 8.000 lao động/năm; tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 62,8%.

(9) 80% thôn, bản, khu dân cư có nhà văn hóa; 100% đồng bào dân tộc thiểu số được xem truyền hình và nghe đài phát thanh; 86% hộ gia đình, 75% thôn, bản, khu phố, 98% cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp đạt tiêu chuẩn văn hóa.

* Chỉ tiêu về môi trường:

(10) Trên 95% chất thải rắn sinh hoạt đô thị được thu gom và xử lý, 75% số xã, phường, thị trấn tại các huyện, thành phố được thu gom, xử lý rác thải sinh hoạt.

* Chỉ tiêu về xây dựng Đảng và hệ thống chính trị:

(11) Trên 80% đảng bộ trực thuộc tỉnh, 90% trở lên tổ chức cơ sở đảng, 90% trở lên đảng viên hoàn thành tốt nhiệm vụ; hằng năm kết nạp từ 1.000 đảng viên trở lên. Trên 80% tổ chức chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và đoàn thể chính trị – xã hội cơ sở đạt từ khá trở lên.

2.4. Chương trình trọng điểm, nhiệm vụ đột phá

* Chương trình trọng điểm

(1) Chương trình phát triển nông nghiệp hàng hóa tập trung.

(2) Chương trình phát triển rừng bền vững.

(3) Chương trình bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa truyền thống tốt đẹp của các dân tộc gắn với phát triển du lịch.

(4) Chương trình nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý người dân tộc thiểu số và cán bộ chủ chốt cấp xã.

* Nhiệm vụ đột phá

(1) Xây dựng kết cấu hạ tầng đồng bộ, nhất là hạ tầng giao thông và hạ tầng nông nghiệp, nông thôn; chú trọng các công trình giao thông huyết mạch kết nối trong tỉnh và các tỉnh khu vực.

(2) Đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh thu hút doanh nghiệp, chú trọng phát triển doanh nghiệp và hợp tác xã tại địa phương; tăng cường chuyển giao ứng dụng khoa học và công nghệ vào quản trị và sản xuất.

(3) Tiếp tục nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao ở các lĩnh vực nông nghiệp, công nghiệp, công nghệ thông tin, giáo dục, y tế. Đẩy mạnh khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo.

(4) Phát triển nông nghiệp hàng hóa tập trung tạo sản phẩm chủ lực, sản phẩm đặc sản có giá trị, hiệu quả kinh tế cao trên cơ sở đẩy mạnh ứng dụng khoa học và công nghệ trong sản xuất, chế biến, tiêu thụ, đảm bảo quy trình, tiêu chuẩn, quy chuẩn an toàn, nông nghiệp sạch, nông nghiệp hữu cơ; xây dựng thương hiệu, chỉ dẫn địa lý, đáp ứng tiêu chuẩn thị trường trong nước và xuất khẩu.

2.5. Nhiệm vụ trọng tâm

(1) Đẩy mạnh phát triển nông nghiệp hàng hóa tập trung gắn với xây dựng nông thôn mới bền vững. Tập trung cơ cấu lại ngành nông nghiệp, trọng tâm vào cơ cấu sản phẩm có ưu thế, sản phẩm chủ lực, sản phẩm đặc sản, thực hiện Chương trình “mỗi xã một sản phẩm”; ổn định vùng cao su hiện có, khi có điều kiện đề nghị Tập đoàn Công nghiệp cao su Việt Nam đầu tư mở rộng theo kế hoạch; mở rộng vùng cây công nghiệp, cây ăn quả, trồng mới 4.000 ha cây mắc ca, 5.000 ha cây quế, 1.600 ha cây ăn quả; hình thành phát triển vùng dược liệu,…; đẩy mạnh phát triển chăn nuôi quy mô công nghiệp, trang trại, gia trại và nuôi trồng thủy sản; bảo vệ rừng đầu nguồn, trồng rừng phòng hộ, rừng sản xuất trên 10.000 ha. Đẩy mạnh phát triển rừng cây phân tán, tập trung ưu tiên nguồn lực cao nhất để thực hiện hiệu quả các chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp, hỗ trợ doanh nghiệp, hợp tác xã đầu tư vào nông nghiệp. Quan tâm phát triển mở rộng quy mô các sản phẩm chủ lực, sản phẩm đặc sản, đồng thời xây dựng thương hiệu, nhãn hiệu, tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm, truy xuất nguồn gốc của sản phẩm, nâng cao giá trị và sức cạnh tranh trên thị trường. Đẩy mạnh ứng dụng khoa học và công nghệ vào nông nghiệp, mở rộng sản xuất nông nghiệp an toàn, nông nghiệp hữu cơ. Nâng cao chất lượng, hiệu quả thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới, tập trung vào phát triển sản xuất, cải thiện đời sống vật chất, tinh thần và môi trường sống của người dân nông thôn. Tiếp tục đẩy mạnh phát triển sản xuất, ổn định, nâng cao đời sống vùng đồng bào tái định cư các công trình thủy điện, vùng thiên tai, vùng biên giới, vùng đặc biệt khó khăn.

(2) Tăng cường quản lý, sử dụng hiệu quả nguồn lực tài chính, ngân hàng; phát triển công nghiệp, thương mại, dịch vụ, du lịch. Phát huy hiệu quả nguồn lực tài chính, ngân hàng; tăng cường các biện pháp thu ngân sách, tiết kiệm, giảm chi thường xuyên, dành nguồn lực đầu tư phát triển kinh tế, xã hội. Đẩy nhanh phát triển công nghiệp thủy điện vừa và nhỏ, phấn đấu nâng tổng công suất lắp máy các dự án điện đạt trên 3.200 MW, hoàn thành hệ thống lưới điện truyền tải cao thế 220 KV, 110 KV. Chú trọng phát triển công nghiệp chế biến nông sản hàng hóa, phát triển công nghiệp sản xuất vật liệu, chế biến khoáng sản gắn với bảo vệ môi trường. Tập trung phát triển thương mại, dịch vụ, kinh tế cửa khẩu, đẩy mạnh phát triển kinh tế biên mậu, nhất là xuất khẩu các mặt hàng của địa phương. Khai thác tiềm năng phát triển du lịch từng bước trở thành ngành kinh tế quan trọng. Chú trọng phát triển các thành phần kinh tế, đẩy mạnh phát triển doanh nghiệp tư nhân, hợp tác xã, kinh tế hộ, phấn đấu đạt 3.000 doanh nghiệp và hợp tác xã. Thực hiện hiệu quả định hướng phát triển các vùng kinh tế, huy động các nguồn lực, thu hút đầu tư nhằm khai thác tối đa tiềm năng, lợi thế phát triển của từng vùng.

(3) Phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội đồng bộ. Tập trung nguồn lực đầu tư xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật quan trọng, các công trình động lực cho quá trình phát triển, trọng tâm là phát triển hạ tầng giao thông; phối hợp Bộ Giao thông – Vận tải đẩy nhanh tiến độ xây dựng đường nối thành phố Lai Châu với cao tốc Nội Bài – Lào Cai, nâng cấp hệ thống đường quốc lộ, tỉnh lộ, đường liên huyện. Đẩy mạnh xây dựng, nâng cấp kết cấu hạ tầng nông nghiệp, nông thôn, nhất là phát triển hệ thống giao thông nông thôn, liên xã, liên bản. Quan tâm đầu tư phát triển hạ tầng điện nông thôn, nước sinh hoạt, thủy lợi, hạ tầng vùng sản xuất, hạ tầng văn hóa – xã hội ở cơ sở. Thực hiện tốt công tác quản lý quy hoạch, xây dựng đô thị, nông thôn.

(4) Nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo, phát triển nguồn nhân lực, chăm sóc sức khỏe Nhân dân; đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ. Tập trung thực hiện mục tiêu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo; tập trung các mục tiêu phát triển bền vững giáo dục, đào tạo, đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông. Xây dựng đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý đạt chuẩn, tâm huyết, trách nhiệm cao. Giữ vững và nâng cao chất lượng đạt chuẩn quốc gia về phổ cập giáo dục, xóa mù chữ, tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục vùng đặc biệt khó khăn. Nâng cao chất lượng, hiệu quả các cơ sở đào tạo trên địa bàn tỉnh; đổi mới giáo dục nghề nghiệp, đào tạo nghề. Nâng cao chất lượng dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh, nhất là các dịch vụ kỹ thuật cao; chất lượng hoạt động của y tế cơ sở, từng bước thực hiện được vai trò là tuyến đầu trong phòng bệnh, chăm sóc sức khỏe Nhân dân; quyết liệt các giải pháp nâng cao chất lượng dân số, giảm nhanh tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng. Đẩy mạnh ứng dụng khoa học và công nghệ trên các lĩnh vực; thực hiện tốt các cơ chế, chính sách thúc đẩy doanh nghiệp ứng dụng khoa học, công nghệ, xây dựng đội ngũ cán bộ khoa học và công nghệ có trình độ chuyên môn cao, tài năng trẻ trên tất cả các lĩnh vực.

(5) Chú trọng phát triển văn hóa, giải quyết tốt các vấn đề an sinh xã hội. Phát triển văn hóa đi đôi với tăng trưởng kinh tế; chú trọng xây dựng, phát huy truyền thống yêu nước, nhân ái, nghĩa tình, trung thực, đoàn kết, cần cù, sáng tạo của Nhân dân các dân tộc Lai Châu. Bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa tốt đẹp của các dân tộc, phát triển văn hóa gắn với du lịch. Xây dựng đời sống văn hóa văn minh, tiến bộ; đẩy mạnh phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá”, chú trọng phát triển văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao quần chúng. Nâng cao chất lượng hoạt động thông tin, tuyên truyền, phát thanh, truyền hình; phát triển, phổ cập Internet băng rộng và điện thoại đến vùng sâu, vùng xa, biên giới của tỉnh. Tập trung giảm nghèo bền vững, đảm bảo an sinh xã hội. Thực hiện tốt các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về công tác dân tộc, tôn giáo, trọng tâm vào phát triển sản xuất, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào các dân tộc và phát huy các giá trị văn hóa đạo đức tốt đẹp của tín ngưỡng, tôn giáo.

(6) Tăng cường quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường, phòng chống thiên tai, ứng phó với biến đổi khí hậu. Nâng cao năng lực quản lý, khai thác hiệu quả nguồn tài nguyên đất đai, tài nguyên nước, khoáng sản gắn với bảo vệ môi trường ở các cấp. Chú trọng bảo vệ rừng hiện có, phục hồi, khoanh nuôi tái sinh, trồng rừng sản xuất gắn với bảo tồn hệ sinh thái tự nhiên. Chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, phòng chống, khắc phục hậu quả thiên tai, giảm thiểu thấp nhất thiệt hại về người và tài sản của Nhà nước và Nhân dân.

(7) Bảo đảm vững chắc quốc phòng, an ninh, bảo vệ toàn vẹn chủ quyền biên giới quốc gia; mở rộng, phát triển quan hệ đối ngoại. Xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh; xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh, huyện vững chắc. Kết hợp chặt chẽ phát triển kinh tế, xã hội với quốc phòng, an ninh, củng cố “thế trận lòng dân”. Thực hiện tốt công tác quản lý, bảo vệ vững chắc toàn vẹn chủ quyền biên giới quốc gia. Thực hiện hiệu quả các chương trình mục tiêu quốc gia phòng, chống tội phạm; tăng cường các biện pháp phòng ngừa, đấu tranh ngăn chặn, trấn áp các loại tội phạm và tệ nạn xã hội, đảm bảo giữ vững an ninh, trật tự an toàn xã hội. Nhất quán thực hiện đường lối đối ngoại của Đảng; đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, sự phối hợp chặt chẽ giữa đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại Nhân dân. Tăng cường quan hệ hợp tác hữu nghị với tỉnh Vân Nam (Trung Quốc) và ba tỉnh phía Bắc, nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào, các đại sứ quán.

(8) Nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của chính quyền các cấp. Tiếp tục sắp xếp, kiện toàn tổ chức bộ máy tinh gọn, ổn định, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Đẩy mạnh cải cách hành chính, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh cấp tỉnh. Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức đảm bảo trình độ, năng lực, phẩm chất chính trị, đạo đức, đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới. Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác thanh tra, tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo, giữ vững trật tự kỷ cương, pháp luật, tạo môi trường thông thoáng, minh bạch trong quản lý nhà nước và thu hút đầu tư.

(9) Phát huy dân chủ, sức mạnh đoàn kết các dân tộc; nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân. Đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân. Xây dựng, củng cố tổ chức Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể vững mạnh; phối hợp chặt chẽ, thống nhất hành động, hướng về cơ sở, sâu sát với Nhân dân, đoàn viên, hội viên, phát huy quyền làm chủ của Nhân dân. Xây dựng các phong trào thi đua, các cuộc vận động bám sát nhiệm vụ chính trị của tỉnh, địa phương, cơ sở. Nâng cao chất lượng, hiệu quả tuyên truyền, vận động Nhân dân thực hiện tốt chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; thực hiện tốt chức năng đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên, hội viên và Nhân dân. Phát huy truyền thống đoàn kết, lấy đoàn kết trong Đảng là hạt nhân, vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên làm nền tảng để xây dựng và phát huy khối đại đoàn kết các dân tộc.

(10) Xây dựng Đảng bộ trong sạch, vững mạnh; nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng. Chú trọng xây dựng Đảng về chính trị tư tưởng, tổ chức và đạo đức, nâng cao bản lĩnh chính trị, năng lực lãnh đạo của các cấp ủy đảng, năng lực cụ thể hóa và tổ chức thực hiện các chủ trương, nghị quyết của Đảng. Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác chính trị tư tưởng; công tác tổ chức cán bộ, vai trò hạt nhân của tổ chức cơ sở đảng, chất lượng đảng viên và bảo vệ chính trị nội bộ. Củng cố, kiện toàn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, bảo đảm tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả gắn với tinh giản biên chế, cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức. Thực hiện đồng bộ các khâu trong công tác cán bộ; nâng cao chất lượng quy hoạch, luân chuyển, tạo nguồn cán bộ, nhất là cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ người dân tộc thiểu số. Tiếp tục nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ, chất lượng kết nạp đảng viên. Tăng cường công tác dân vận của hệ thống chính trị theo phương châm “Gần dân, sát dân, trọng dân, có trách nhiệm với dân”; thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở. Tăng cường, nâng cao chất lượng công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật của Đảng. Thực hiện tốt công tác nội chính và phòng, chống tham nhũng, lãng phí. Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của cấp ủy, tổ chức Đảng. Thực hiện nghiêm Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về xây dựng, chỉnh đốn Đảng gắn với đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.

2.6. Những giải pháp trọng tâm

(1) Các cấp ủy, tổ chức đảng kịp thời tổ chức quán triệt, học tập và quyết liệt triển khai thực hiện các chủ trương, nghị quyết của Đảng, Quốc hội, Chính phủ, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIV. Phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, sự đồng thuận của Nhân dân trong triển khai thực hiện Nghị quyết. Cụ thể hóa các mục tiêu, nhiệm vụ, chương trình trọng điểm của Nghị quyết Đại hội và đảm bảo nguồn lực để tổ chức thực hiện. Tổng kết các nghị quyết, đề án nhiệm kỳ 2022-2020, xem xét kết luận tiếp tục thực hiện cho giai đoạn 2022-2025. Rà soát, xây dựng hoàn thiện các cơ chế, chính sách nhằm phát huy nguồn lực, tiềm năng lợi thế, tạo động lực mới cho sự phát triển nhanh và bền vững của tỉnh.

(2) Tăng cường xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có năng lực, uy tín, tâm huyết, trách nhiệm, gương mẫu, kỷ cương, hiệu quả; thúc đẩy khởi nghiệp, sáng tạo trong cộng đồng, chuyển giao, ứng dụng mạnh mẽ thành tựu của Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư vào các lĩnh vực của đời sống xã hội, đáp ứng yêu cầu phát triển của tỉnh.

(3) Xây dựng, triển khai thực hiện quyết liệt, hiệu quả quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế, xã hội giai đoạn 2022-2030, tầm nhìn 2050 và kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội 5 năm, hằng năm. Tập trung nguồn lực cao nhất, cơ chế, chính sách tạo động lực tốt nhất cho phát triển nông, lâm nghiệp, xây dựng nông thôn mới. Đồng thời, tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách thúc đẩy, tạo điều kiện thuận lợi cho các thành phần kinh tế đầu tư phát triển. Tăng cường phối hợp với các tỉnh trong khu vực, các tỉnh biên giới trong phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội.

(4) Chú trọng khai thác hiệu quả lợi thế kinh tế biên mậu cửa khẩu, nắm bắt cơ hội thị trường, thúc đẩy phát triển hàng hóa có lợi thế ổn định, bền vững; đẩy mạnh quan hệ kinh tế đối ngoại theo chiều sâu, nâng cao hiệu quả hợp tác hữu nghị, ổn định với tỉnh Vân Nam (Trung Quốc) trên các mặt kinh tế, thương mại, du lịch, văn hóa, quốc phòng, an ninh.

(5) Thực hiện đồng bộ mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế với phát triển văn hóa, xã hội, bảo đảm tiến bộ, công bằng và an sinh xã hội, giảm nghèo bền vững, bảo vệ môi trường; giải quyết tốt các vấn đề xã hội, đào tạo nghề, giải quyết việc làm, thực hiện tốt các chính sách dân tộc. Kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội với bảo đảm quốc phòng, an ninh. Đẩy mạnh các phong trào thi đua rộng khắp trên các lĩnh vực, chú trọng phong trào thi đua trong lao động sản xuất của Nhân dân, xây dựng, nhân rộng các điển hình tiên tiến.

(6) Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị; nâng cao hiệu lực, hiệu quả chỉ đạo, điều hành của chính quyền các cấp. Phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị – xã hội, tăng cường trách nhiệm tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, nhất là vai trò, trách nhiệm người đứng đầu và chú trọng công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện Nghị quyết Đại hội và các nghị quyết, đề án. Thực hiện đồng bộ các nhiệm vụ, giải pháp phòng, chống tham nhũng, lãng phí; nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cấp ủy, chính quyền, người đứng đầu cơ quan, đơn vị trong công tác phòng, chống tham nhũng.

II- Thông qua Báo cáo kiểm điểm sự lãnh đạo, chỉ đạo của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa XIII, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa XIV cần tiếp tục phát huy ưu điểm, khắc phục hạn chế, khuyết điểm, đổi mới phương thức lãnh đạo, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động trong nhiệm kỳ tới.

IV- Cho ý kiến vào dự thảo Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIV, nhiệm kỳ 2022-2025.

V- Thông qua kết quả bầu cử Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa XIV; bầu Đoàn đại biểu đi dự Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh hoàn chỉnh hồ sơ về kết quả bầu cử, báo cáo Bộ Chính trị, Ban Bí thư và ban đảng Trung ương chuẩn y theo quy định.

VI- Giao Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khoá XIV, trên cơ sở quán triệt sâu sắc Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh và ý kiến chỉ đạo của Trung ương, xây dựng chương trình, kế hoạch công tác để đưa Nghị quyết Đại hội vào thực tiễn cuộc sống.

Các huyện uỷ, thành ủy, đảng uỷ trực thuộc, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị – xã hội động viên đoàn viên, hội viên và các tầng lớp nhân dân tích cực thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội.

Đại hội kêu gọi toàn thể cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, các lực lượng vũ trang, Nhân dân các dân tộc trong tỉnh phát huy truyền thống đoàn kết và ý chí tự lực, tự cường, đổi mới, sáng tạo tranh thủ thời cơ, vượt qua thách thức, quyết tâm thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIV, xây dựng tỉnh Lai Châu phát triển nhanh và bền vững, góp phần cùng cả nước thực hiện thắng lợi mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Đảng Bộ Huyện Thọ Xuân Chú Trọng Công Tác Kiểm Tra, Giám Sát, Ngăn Ngừa Vi Phạm

Đảng Ủy Quân Sự Huyện Đô Lương (Nghệ An) Ra Nghị Quyết Lãnh Đạo Thực Hiện Nhiệm Vụ Năm 2022

Đại Hội Đại Biểu Đảng Bộ Huyện Đô Lương Nhiệm Kỳ 2022

Đại Hội Đại Biểu Đảng Bộ Huyện Đô Lương Lần Thứ Xxi, Nhiệm Kỳ 2022 – 2025

Đảng Ủy Công Ty Tnhh Mtv Dịch Vụ Công Ích Quận 4 Quán Triệt Và Triển Khai Thực Hiện Nghị Quyết Đại Hội Đảng Bộ Quận 4 Lần Thứ Xii, Nhiệm Kỳ 2022 – 2025

Bế Mạc Đại Hội Đảng Bộ Tỉnh Lai Châu Khóa Xiv

Đại Hội Đảng Bộ Trường Đại Học Khoa Học Tự Nhiên Lần Thứ Xxv

Đại Hội Đại Biểu Đảng Bộ Trường Đhsp Hà Nội Lần Thứ Xiii Nhiệm Kì 2022

Đại Hội Đảng Bộ Trường Thpt Lệ Thủy Lần Thứ Xxviii, Nhiệm Kỳ 2022

Đại Hội Chi Bộ Trường Thpt Tân Lang Lần Thứ Iv, Nhiệm Kỳ 2022

Lâm Đồng Quyết Tâm Thực Hiện Thắng Lợi Nghị Quyết Đảng Bộ Tỉnh Lần Thứ X

Trong phiên bế mạc sáng 23/10, 100% đại biểu dự Đại hội Đảng bộ tỉnh Lai Châu khóa XIV đã biểu quyết và thông qua các Nghị quyết của Đại hội. Trong đó xác định 11 chỉ tiêu chủ yếu, 4 chương trình trọng điểm, 4 nhiệm vụ đột phá, 10 nhiệm vụ trọng tâm và 6 giải pháp trọng tâm trong nhiệm kỳ tới. Đồng thời cho ý kiến vào dự thảo Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIV, nhiệm kỳ 2022 – 2025.

Trình bày Diễn văn bế mạc Đại hội, bà Giàng Páo Mỷ – Bí thư Tỉnh ủy Lai Châu khẳng định, thành công của Đại hội là nguồn cổ vũ, động viên Đảng bộ, chính quyền và nhân dân các dân tộc trong tỉnh tiếp tục thi đua, lập nhiều thành tích xuất sắc chào mừng Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng. Đồng thời, thành công của Đại hội là động lực quan trọng để tỉnh Lai Châu vững vàng bước vào chặng đường phát triển tiếp theo với niềm tin và khí thế mới.

Bí thư Tỉnh ủy Lai Châu Giàng Páo Mỷ nhấn mạnh, Đại hội tin tưởng rằng, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa XIV được Đại hội tin tưởng giao trọng trách sẽ là tập thể đoàn kết, dân chủ, có trách nhiệm nêu gương, tập trung lãnh đạo thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội. Đồng thời, yêu cầu ngay sau Đại hội, các cấp ủy, tổ chức Đảng khẩn trương tổ chức quán triệt, học tập, tuyên truyền sâu rộng đến đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang và các tầng lớp nhân dân, tập trung xây dựng chương trình, kế hoạch cụ thể để sớm đưa Nghị quyết vào cuộc sống./.

Đảng Bộ Tỉnh Lai Châu Qua Các Kỳ Đại Hội

Hội Nghị Quán Triệt Nghị Quyết Đại Hội Xiii Đảng Bộ Tỉnh Lai Châu

Nghị Quyết Đại Hội Đại Biểu Đảng Bộ Tỉnh Lần Thứ Xiii Nhiệm Kỳ 2022

Triển Khai Nghị Quyết Đại Hội Đảng Bộ Tphcm Lần Thứ X: Gắn Với Các Chương Trình Đột Phá Của Tp

Đại Hội Đảng Bộlần Thứ X

Ngành Tuyên Giáo Góp Phần Thực Hiện Thắng Lợi Nghị Quyết Đại Hội Đảng Bộ Tỉnh Gia Lai Lần Thứ Xv

Nhìn Lại 3 Năm Thực Hiện Nghị Quyết Đại Hội Đảng Bộ Tỉnh Lần Thứ Xvi Về Phát Triển Kt

Nghị Quyết Xvi Của Đảng Bộ Tỉnh Hà Giang

Nghị Quyết: Hội Nghị Lần Thứ 20 Ban Chấp Hành Đảng Bộ Tỉnh Khóa Xvi Về Tái Cơ Cấu Kinh Tế Tỉnh Hà Giang Đến Năm 2030

Nghị Quyết 8 Trung Ương Đảng Khóa 12

Nghị Quyết 3 Của Trung Ương Đảng Khóa X

(GLO)- Qua 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Gia Lai lần thứ XV (nhiệm kỳ 2022-2020), công tác tuyên giáo của Đảng bộ tỉnh đã đạt được nhiều kết quả nổi bật, góp phần ổn định chính trị, thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội, giữ vững quốc phòng-an ninh.

Đồng chí Lê Phan Lương-Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Trưởng ban Tuyên giáo Tỉnh ủy (thứ 2 từ trái sang) trao đổi với các đại biểu tại Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện Chư Pưh nhiệm kỳ 2022-2025. Ảnh: Đức Thụy

Trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, ngành Tuyên giáo tiếp tục góp phần quan trọng vào quá trình đổi mới tư duy lý luận, xây dựng Cương lĩnh, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, tổ chức các phong trào quần chúng sâu rộng thực hiện đường lối của Đảng.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, ngành Tuyên giáo đã góp phần quan trọng vào việc ổn định tình hình đất nước, nhất là giúp Nhân dân ta vượt qua cơn “chấn động chính trị” toàn cầu trong những năm 1989-1991, khi mô hình chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ; cuộc khủng hoảng tài chính khu vực những năm 1997-1998; cuộc khủng hoảng tài chính, suy thoái kinh tế thế giới những năm 2008-2009 và hiện nay là đại dịch Covid-19 toàn cầu, giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội; thực hiện thắng lợi các chỉ tiêu, mục tiêu phát triển kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội, duy trì tăng trưởng hợp lý để tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, tích cực và chủ động hội nhập quốc tế, khẳng định vai trò, vị thế và uy tín của đất nước trong khu vực và trên thế giới.

Những kết quả nổi bật

Tại Gia Lai, qua 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XV (nhiệm kỳ 2022-2020), công tác tuyên giáo của Đảng bộ tỉnh đã đạt những kết quả nổi bật, góp phần ổn định chính trị, thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội, giữ vững quốc phòng-an ninh. Cụ thể là: Công tác tuyên giáo đã góp phần tích cực vào việc tạo ra khí thế phấn khởi, khích lệ toàn Đảng, toàn quân và Nhân dân các dân tộc trong tỉnh phấn đấu thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội, giữ vững quốc phòng-an ninh, xây dựng và củng cố hệ thống chính trị các cấp, nâng cao lòng tin của Nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội… Đã kịp thời hướng dẫn và tổ chức tốt các đợt sinh hoạt chính trị lớn như: Triển khai học tập quán triệt các chỉ thị, nghị quyết của Đảng; triển khai thực hiện có hiệu quả việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; tổ chức thành công các ngày lễ kỷ niệm và các sự kiện lớn của tỉnh…

Trong 5 năm (2015-2020), ngành Tuyên giáo đã tham mưu ban hành nhiều công văn, hướng dẫn, kế hoạch tuyên truyền các nội dung trọng tâm về mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp, kết quả phát triển kinh tế-xã hội; xây dựng, củng cố quốc phòng-an ninh; thông tin đối ngoại, tuyên truyền biển, đảo; tuyên truyền đấu tranh phòng-chống các âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch và các quan điểm sai trái; tuyên truyền phòng-chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên… Các sự kiện chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội có ý nghĩa quan trọng, nhạy cảm; các vụ, việc được cán bộ, đảng viên và Nhân dân quan tâm được chú ý chỉ đạo tuyên truyền đúng định hướng chính trị.

Công tác tuyên giáo đã chủ động nắm bắt, dự báo và phân tích diễn biến tình hình tư tưởng của các tầng lớp Nhân dân, nhất là những thời điểm có các sự kiện lớn của đất nước cũng như của tỉnh tác động đến tư tưởng của Nhân dân, góp phần cùng cấp ủy, chính quyền giải quyết các vấn đề phức tạp về an ninh nông thôn, tình hình an ninh chính trị trước, trong và sau các sự kiện chính trị quan trọng của đất nước và của tỉnh… Toàn ngành đã chủ động hơn trong công tác đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.

Cùng với đó, ngành Tuyên giáo đã chủ động, kịp thời tham mưu cho cấp ủy triển khai thực hiện và sơ-tổng kết các chỉ thị, nghị quyết của Trung ương, Tỉnh ủy, Ban Thường vụ Tỉnh ủy trên lĩnh vực công tác tư tưởng, lý luận chính trị, tuyên truyền, báo chí, văn hóa, văn nghệ, khoa giáo, lịch sử Đảng; tổ chức thành công các cuộc thi tìm hiểu về Căn cứ cách mạng Krong, 50 năm thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh và kỷ niệm 50 năm Ngày mất của Người và các cuộc thi giảng viên lý luận chính trị giỏi, báo cáo viên giỏi các cấp…

Tập huấn lực lượng nòng cốt tuyên truyền miệng cơ sở. Ảnh: Phương Linh

Hình thức, phương pháp, nội dung công tác tuyên giáo ngày càng phong phú hơn. Các hình thức tuyên truyền cổ động trực quan, tuyên truyền miệng, phát thanh-truyền hình, báo chí-xuất bản, văn hóa-văn nghệ, nhất là tuyên truyền trên mạng xã hội… đã phát huy tác dụng tốt. Công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị, bồi dưỡng kỹ năng nghiệp vụ, cung cấp thông tin, đặc biệt cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp được chú trọng theo hướng nâng cao chất lượng, thiết thực, hiệu quả.

Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác tuyên giáo của Đảng bộ tỉnh trong nhiệm kỳ 2022-2020 vẫn còn một số hạn chế cần khắc phục, đó là: Phương châm toàn Đảng làm công tác tư tưởng triển khai thực hiện chưa tốt, một số cấp ủy Đảng và cán bộ, đảng viên còn xem nhẹ công tác tuyên giáo. Sự phối-kết hợp giữa các lực lượng làm công tác tuyên giáo chưa đồng bộ. Chất lượng, hiệu quả và độ nhạy cảm chưa cao; công tác nắm bắt tư tưởng, tâm trạng xã hội của cán bộ, đảng viên và các tầng lớp Nhân dân chưa kịp thời, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Tập trung thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm

Thời gian đến, công tác tuyên giáo của Đảng bộ tỉnh đứng trước những thuận lợi mới nhưng cũng không ít khó khăn, thách thức. Để góp phần thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chính trị của Đảng bộ tỉnh, ngành Tuyên giáo cần tập trung tham mưu thực hiện tốt một số nhiệm vụ, cụ thể là:

Thứ nhất, đẩy mạnh tuyên truyền sâu rộng trong cán bộ, đảng viên và Nhân dân những thành tựu của Đảng ta qua 90 năm lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Trước mắt, đẩy mạnh tuyên truyền phục vụ đắc lực Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI và Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng. Đồng thời, tham mưu xây dựng kế hoạch để triển khai tổ chức học tập, quán triệt Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI, tạo sự nhất trí cao trong toàn Đảng bộ và sự đồng thuận trong xã hội, nâng cao ý chí quyết tâm thực hiện thành công Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh nhiệm kỳ mới.

Thứ hai, nâng cao hiệu quả công tác tuyên giáo trong việc tuyên truyền thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm của tỉnh về phát triển kinh tế-xã hội; ổn định an ninh chính trị, xây dựng quốc phòng-an ninh; thông tin đối ngoại, tuyên truyền biển đảo, biên giới, lãnh thổ; giáo dục chủ nghĩa yêu nước, lòng tự hào dân tộc; xây dựng phong trào, nuôi dưỡng, mở rộng, phát triển phong trào thi đua yêu nước; giáo dục đạo đức, xây dựng nhân cách, lối sống trong Đảng, trong xã hội theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; đẩy lùi quan liêu, tham nhũng, lãng phí, góp phần đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên…

Thứ ba, chú trọng đổi mới công tác nghiên cứu, quán triệt, học tập các chỉ thị, nghị quyết của Đảng theo hình thức trực tuyến từ tỉnh đến cơ sở. Thực hiện nền nếp, có hiệu quả việc bồi dưỡng lý luận chính trị, cập nhật kiến thức mới cho cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp.

Thứ tư, đổi mới công tác tư tưởng, tăng cường hướng về cơ sở và phù hợp với từng đối tượng cụ thể; kết hợp thông tin hai chiều, nhất là thông tin từ cơ sở để đánh giá đúng tư tưởng, tâm trạng xã hội, đồng thời có giải pháp định hướng tuyên truyền, thông tin nhanh chóng đáp ứng yêu cầu lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền. Kịp thời phản ánh và định hướng dư luận xã hội trước những vấn đề phức tạp, nhạy cảm. Tiếp tục nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, chủ động đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, chống phá, âm mưu “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, nhất là trên không gian mạng.

Thứ năm, tăng cường củng cố, kiện toàn đội ngũ những người làm công tác tuyên giáo theo hướng nâng cao chất lượng đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình hiện nay. Chú trọng đổi mới hình thức, nội dung, phương thức hoạt động công tác tuyên giáo sao cho phù hợp với các đối tượng cán bộ, đảng viên và quần chúng Nhân dân.

LÊ PHAN LƯƠNG

Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Trưởng ban Tuyên giáo Tỉnh ủy

Đảng Ủy Sở Nn Ptnt Sơ Kết Thực Hiện Các Nghị Quyết Chuyên Đề Về Attp Và Xây Dựng Ntm

Tư Tưởng Về Xây Dựng Đảng Trong Sạch, Vững Mạnh

Xây Dựng Đảng Cầm Quyền Trong Sạch, Vững Mạnh Theo Di Chúc

Xây Dựng Đảng Trong Sạch, Vững Mạnh

Xây Dựng Tổ Chức Đảng Trong Sạch, Vững Mạnh

Nghị Quyết Hđnd Tỉnh Gia Lai

Dự Thảo Nghị Quyết Hđnd Tỉnh Khánh Hòa

Hđnd Tỉnh Cà Mau Họp Bất Thường Thông Qua 11 Nghị Quyết

Hội Nghị Trực Tuyến Triển Khai Nghị Quyết Của Hđnd Huyện Về Nhiệm Vụ Phát Triển Ktxh Năm 2022, Sơ Kết Thực Hiện Kế Hoạch Số 99 Của Ubnd Huyện.

Các Phường Của Hà Nội Không Còn Hđnd Từ Tháng 7

Đồng Tình Trình Nghị Quyết Thí Điểm Không Tổ Chức Hđnd Phường Tại Hà Nội Ra Quốc Hội

Nghị Quyết Số 20/2020/nq-hĐnd Ngày 10/12/2020 Của HĐnd Tỉnh, Nghị Quyết HĐnd Tỉnh Yên Bái, Nghị Quyết HĐnd Tỉnh Phú Yên, Nghị Quyết Số 41 Của HĐnd Tỉnh Sơn La, Nghị Quyết Số 349 Của HĐnd Tỉnh Sơn La, Nghị Quyết Số 17 HĐnd Tỉnh Cà Mau, Nghị Quyết Số 20 Của HĐnd Tỉnh Yên Bái, Nghị Quyết 72 HĐnd Tỉnh Sơn La, Nghị Quyết Kỳ Họp Thứ 12 Cua HĐnd Tỉnh Gia Lai, Nghị Quyết 66 Của HĐnd Tỉnh Kon Tum, Nghị Quyết Số 75 Của HĐnd Tỉnh Phú Yên, Nghi Quyết Số 02/nq-hĐnd Tỉnh Sơn La, Nghị Quyết Số 370/nq-hĐnd Tỉnh Sơn La, Nghị Quyết 82 HĐnd Tỉnh Sơn La, Nghị Quyết 61 HĐnd Tỉnh Sơn La, Nghị Quyết HĐnd Tỉnh Gia Lai, Nghị Quyết HĐnd Tỉnh, Nghị Quyết Số 27 HĐnd Tỉnh Đăk Lăk, Nghị Quyết Số 53 HĐnd Tỉnh Phú Yên, Nghị Quyết Số 152 Của HĐnd Tỉnh Phú Yên, Nghị Quyết 60 Của HĐnd Tỉnh Hà Giang, Nghị Quyết HĐnd Tỉnh Bắc Giang, Nghị Quyết Kỳ Họp Thứ 9 HĐnd Tỉnh Thanh Hóa, Nghị Quyết 70/nd-hĐnd Tình Thanh Hóa, Nghị Quyết 12/2018/nq-hĐnd Tỉnh Lào Cai, Nghị Quyết 209 Của HĐnd Tỉnh Hà Giang, Nghị Quyết 86 HĐnd Tỉnh Hà Giang, Nghị Quyết HĐnd Tỉnh Phú Yên Kỳ Họp 17 Năm 2022, Nghị Quyết 77 HĐnd Tỉnh Đồng Nai, Nghi Quyet Hdnd Lan Thu 17 Tinh Phu Yen Nam 2022, Dự Thảo Nghị Quyết HĐnd Tỉnh Cà Mau, Nghị Quyết Kỳ Họp Thứ 12 HĐnd Tỉnh Nghệ An, Nghị Quyết Số 60 HĐnd Tỉnh Hà Giang, Nghị Quyết 12 HĐnd Tỉnh Quảng Nam, Nghị Quyết 47 HĐnd Tỉnh Hà Giang, Dự Thảo Nghị Quyết HĐnd Tỉnh Phú Yên, Nghị Quyết 60 HĐnd Tỉnh Hà Giang, Nghị Quyết Kỳ Họp Thứ 9 HĐnd Tỉnh Bắc Giang, Nghị Quyết 12 Của HĐnd Tỉnh Quảng Nam, Nghị Quyết HĐnd Tỉnh Nghệ An, Nghị Quyết Kỳ Họp Thứ 5 HĐnd Tỉnh Vĩnh Phúc, Dự Thảo Nghị Quyết HĐnd Tỉnh Khánh Hòa, Nghị Quyết 04 HĐnd Tỉnh Bắc Giang 2022, Nghị Quyết 04/2018 Của HĐnd Tỉnh Bắc Giang, Nghị Quyết 12/2019 Của HĐnd Tỉnh Quảng Nam, Nghị Quyết 38 HĐnd Tỉnh Vĩnh Phúc, Nghị Quyết Số 56/2016/nq-hĐnd Tỉnh Vĩnh Phúc, Nghị Quyết Số 55/2016 Của HĐnd Tỉnh Quảng Ninh, Nghị Quyết HĐnd Tỉnh Gia Lai Về Thực Hiện Thông Tư 65 Của, Nghị Quyết HĐnd Tỉnh Gia Lai Về Thực Hiện Thông Tư 65 Củ, Dự Thảo Nghị Quyết HĐnd Tỉnh Quảng Ngãi, Dự Thảo Nghị Quyết HĐnd Tỉnh Tiền Giang, Nghị Quyết HĐnd Tỉnh Quảng Ninh Tháng 7 Năm 2022, Nghị Quyết HĐnd Tỉnh Gia Lai Về Thực Hiện Luật Dân Quân Tự Vệ, Nghị Quyết HĐnd Tỉnh Gia Lai Về Thực Hiện Thông Tư 65 Của Bộ Quốc Phòng Lai, Nghị Quyết Số 28/2013/nq-hĐnd Của HĐnd Tp. Hà Nội, Nghị Quyết Số 04/2009/nq-hĐnd, Nghị Quyết 20/2016/nq-hĐnd, Nghị Quyết Phê Chuẩn Kết Quả Bầu Cử HĐnd, Nghị Quyết Số 12/2013/nq-hĐnd, Nghị Quyết Số 04 2013 Nq HĐnd, Nghị Quyết Số 70/2017/nq-hĐnd, Nghị Quyết Số 56/2016/nq-hĐnd Tỉn Vĩn Húc, Nghị Quyết 02/2020/nq-hĐnd, Nghị Quyết HĐnd Thành Phố Hà Nội, Nghị Quyết Miễn Nhiệm Chủ Tịch HĐnd, Nghị Quyết Miễn Nhiệm Đại Biểu HĐnd, Nghị Quyết Miễn Nhiệm Phó Chủ Tịch HĐnd, Mẫu Nghi Quyết Miên Nhiệm Trưởng Ban HĐnd Xã, Nghị Quyết Miễn Nhiệm Chủ Tịch HĐnd Xã, Tỉnh ủy Quảng Ninh- Kế Hoạch Thực Hiện Nghị Quyết 18, Nghị Quyết 19, Báo Cáo Tình Hình Thực Hiện Nghị Quyết 36a Của Tỉnh Bình Phước, Nghị Quyết 13/2020/nq-hĐnd Ngày 09/11/2020, Nghị Quyết 14/2020/nq-hĐnd Ngày 04/09/2020, Nghị Quyết 12/2020/nq-hĐnd Ngày 09/11/2020, Nghị Quyết 11/2020/nq-hĐnd Ngày 09/11/2020, Nghị Quyết 10/2020/nq-hĐnd Ngày 09/11/2020, Nghị Quyết 09/2020/nq-hĐnd Ngày 09/11/2020, Nghị Quyết Số 28-nq/tw Của Hội Nghị Tw Viii Khóa Xi Về Chiến Lược Bảo Vệ Tổ Quốc Trong Tình Hình Mới, HĐnd Tỉnh Hải Dương, Danh Sách Đại Biểu HĐnd Tỉnh Cà Mau, Danh Sách Đại Biểu HĐnd Tỉnh Phú Yên, Danh Sách Đại Biểu HĐnd Tỉnh Phú Thọ, Nghị Quyết 02 Của Tỉnh ủy Bến Tre, Nghị Quyết Số 02 Của Tỉnh ủy Bến Tre, Nghị Quyết Tỉnh Phú Yên, Nghị Quyết Số 02 Của Tỉnh ủy Bến Tre, Nghị Quyết 04-nq/tu Của Tỉnh ủy Bến Tre, Nghị Quyết 02-nq/tu Của Tỉnh ủy Bến Tre, Nghị Quyết Số 04 Của Tỉnh ủy Bến Tre, Danh Sách Đại Biểu HĐnd Tỉnh Hưng Yên, Danh Sách Đại Biểu HĐnd Tỉnh Bạc Liêu, Danh Sách Đại Biểu HĐnd Tỉnh Lâm Đồng, Danh Sách Đại Biểu HĐnd Tỉnh Lạng Sơn, Danh Sách Đại Biểu HĐnd Tỉnh Brvt, Nghị Quyết Số 02 Của Tỉnh ủy Thanh Hóa, Nghị Quyết 12 Tỉnh ủy Thanh Hóa, Nghị Quyết 12 Của Tỉnh ủy Quảng Nam, Nghị Quyết 07 Btv Tỉnh ủy Đồng Nai, Nghị Quyết Số 12 Của Tỉnh ủy Thanh Hóa,

Nghị Quyết Số 20/2020/nq-hĐnd Ngày 10/12/2020 Của HĐnd Tỉnh, Nghị Quyết HĐnd Tỉnh Yên Bái, Nghị Quyết HĐnd Tỉnh Phú Yên, Nghị Quyết Số 41 Của HĐnd Tỉnh Sơn La, Nghị Quyết Số 349 Của HĐnd Tỉnh Sơn La, Nghị Quyết Số 17 HĐnd Tỉnh Cà Mau, Nghị Quyết Số 20 Của HĐnd Tỉnh Yên Bái, Nghị Quyết 72 HĐnd Tỉnh Sơn La, Nghị Quyết Kỳ Họp Thứ 12 Cua HĐnd Tỉnh Gia Lai, Nghị Quyết 66 Của HĐnd Tỉnh Kon Tum, Nghị Quyết Số 75 Của HĐnd Tỉnh Phú Yên, Nghi Quyết Số 02/nq-hĐnd Tỉnh Sơn La, Nghị Quyết Số 370/nq-hĐnd Tỉnh Sơn La, Nghị Quyết 82 HĐnd Tỉnh Sơn La, Nghị Quyết 61 HĐnd Tỉnh Sơn La, Nghị Quyết HĐnd Tỉnh Gia Lai, Nghị Quyết HĐnd Tỉnh, Nghị Quyết Số 27 HĐnd Tỉnh Đăk Lăk, Nghị Quyết Số 53 HĐnd Tỉnh Phú Yên, Nghị Quyết Số 152 Của HĐnd Tỉnh Phú Yên, Nghị Quyết 60 Của HĐnd Tỉnh Hà Giang, Nghị Quyết HĐnd Tỉnh Bắc Giang, Nghị Quyết Kỳ Họp Thứ 9 HĐnd Tỉnh Thanh Hóa, Nghị Quyết 70/nd-hĐnd Tình Thanh Hóa, Nghị Quyết 12/2018/nq-hĐnd Tỉnh Lào Cai, Nghị Quyết 209 Của HĐnd Tỉnh Hà Giang, Nghị Quyết 86 HĐnd Tỉnh Hà Giang, Nghị Quyết HĐnd Tỉnh Phú Yên Kỳ Họp 17 Năm 2022, Nghị Quyết 77 HĐnd Tỉnh Đồng Nai, Nghi Quyet Hdnd Lan Thu 17 Tinh Phu Yen Nam 2022, Dự Thảo Nghị Quyết HĐnd Tỉnh Cà Mau, Nghị Quyết Kỳ Họp Thứ 12 HĐnd Tỉnh Nghệ An, Nghị Quyết Số 60 HĐnd Tỉnh Hà Giang, Nghị Quyết 12 HĐnd Tỉnh Quảng Nam, Nghị Quyết 47 HĐnd Tỉnh Hà Giang, Dự Thảo Nghị Quyết HĐnd Tỉnh Phú Yên, Nghị Quyết 60 HĐnd Tỉnh Hà Giang, Nghị Quyết Kỳ Họp Thứ 9 HĐnd Tỉnh Bắc Giang, Nghị Quyết 12 Của HĐnd Tỉnh Quảng Nam, Nghị Quyết HĐnd Tỉnh Nghệ An, Nghị Quyết Kỳ Họp Thứ 5 HĐnd Tỉnh Vĩnh Phúc, Dự Thảo Nghị Quyết HĐnd Tỉnh Khánh Hòa, Nghị Quyết 04 HĐnd Tỉnh Bắc Giang 2022, Nghị Quyết 04/2018 Của HĐnd Tỉnh Bắc Giang, Nghị Quyết 12/2019 Của HĐnd Tỉnh Quảng Nam, Nghị Quyết 38 HĐnd Tỉnh Vĩnh Phúc, Nghị Quyết Số 56/2016/nq-hĐnd Tỉnh Vĩnh Phúc, Nghị Quyết Số 55/2016 Của HĐnd Tỉnh Quảng Ninh, Nghị Quyết HĐnd Tỉnh Gia Lai Về Thực Hiện Thông Tư 65 Của, Nghị Quyết HĐnd Tỉnh Gia Lai Về Thực Hiện Thông Tư 65 Củ,

Hđnd Tỉnh Thảo Luận Thông Qua Các Tờ Trình, Dự Thảo Nghị Quyết Quan Trọng

Hđnd Tỉnh Thảo Luận, Thông Qua Các Nội Dung Quan Trọng

Ban Pháp Chế Hđnd Tỉnh Đắk Lắk Khảo Sát Về Tình Hình Thực Hiện Nghị Quyết Của Hđnd Tỉnh Quy Định Chức Danh, Số Lượng, Hệ Số Phụ Cấp…

Đưa Nghị Quyết Của Hđnd Tp Hà Nội Đi Vào Cuộc Sống

Kỳ Họp Thứ 14 Hđnd Tỉnh Bình Phước: Thông Qua Nhiều Nghị Quyết Quan Trọng

Nghị Quyết Đại Hội Đại Biểu Đảng Bộ Tỉnh Bà Rịa

Thực Hiện Nghị Quyết 28 Tại Đảng Ủy Khối Doanh Nghiệp

Hoạt Động Đảng Hoạt Động Đảng

Ban Cán Sự Đảng Bộ Tài Chính Làm Việc Với Tp. Hải Phòng Về Tổng Kết 10 Năm Thực Hiện Nghị Quyết Số 32

Đoàn Kiểm Tra Của Ban Bí Thư Làm Việc Với Ban Cán Sự Đảng Bộ Tài Chính Về Triển Khai Các Nghị Quyết Của Trung Ương

Ban Cán Sự Đảng Bộ Tài Chính Triển Khai Nghiêm Túc Các Nghị Quyết Của Trung Ương Đảng

Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu lần thứ VII, nhiệm kỳ 2022 – 2025 diễn ra từ ngày 23/9/2020 đến 25/9/2020 đã thông qua Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu lần thứ VII, nhiệm kỳ 2022 – 2025. Báo Bà Rịa-Vũng Tàu trân trọng đăng toàn văn Nghị quyết Đại hội.

NGHỊ QUYẾT

ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU ĐẢNG BỘ TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

LẦN THỨ VII, NHIỆM KỲ 2022 – 2025

I- Tán thành những nội dung cơ bản về đánh giá tình hình 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội VI nhiệm kỳ 2022 – 2022, những quan điểm, mục tiêu, chỉ tiêu, nhiệm vụ, giải pháp 5 năm 2022 – 2025 nêu trong Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa VI trình Đại hội và những nội dung Đoàn Chủ tịch đề nghị tiếp thu, cụ thể hóa vào Báo cáo chính trị đã được Đại hội thông qua:

1. Về đánh giá tình hình 5 năm 2022 – 2022, Đại hội khẳng định

Năm năm qua, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ VI được tổ chức triển khai thực hiện trong bối cảnh có nhiều thuận lợi, khó khăn, thách thức, Đảng bộ, chính quyền, dân, quân và cộng đồng doanh nghiệp tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đã nỗ lực phấn đấu thực hiện và đạt được những kết quả quan trọng. Kinh tế phát triển mạnh trên cả 5 lĩnh vực: Công nghiệp, cảng biển, dịch vụ hậu cần cảng, du lịch, nông nghiệp công nghệ cao; quy mô nền kinh tế và thu nhập bình quân đầu người tăng lên; huy động vốn đầu tư toàn xã hội, thu ngân sách nhà nước tăng cao; môi trường được kiểm soát. Phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội đạt kết quả tốt; thực hiện tốt các chính sách cho người có công, bảo đảm an sinh xã hội, chất lượng cuộc sống người dân được nâng lên. Quốc phòng, an ninh được giữ vững, trật tự an toàn xã hội được bảo đảm, không xảy ra những vấn đề phức tạp và điểm nóng. Quan hệ đối ngoại được mở rộng và tăng cường theo chiều sâu. Hoạt động của bộ máy chính quyền ngày càng sâu sát thực tiễn và tận tâm phục vụ Nhân dân, doanh nghiệp. Nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận và các đoàn thể có nhiều đổi mới, thiết thực, hướng về cơ sở. Xây dựng Đảng được tập trung thực hiện toàn diện trên các lĩnh vực, các cấp ủy đảng đã phát huy hiệu quả vai trò lãnh đạo toàn diện nhiệm vụ chính trị; công tác giáo dục chính trị tư tưởng có nhiều đổi mới; công tác tuyên truyền, vận động đạt hiệu quả tích cực, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch được tập trung chỉ đạo; thực hiện nghiêm túc việc sắp xếp tổ chức bộ máy, tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, nâng cao ý thức trách nhiệm trong thực thi nhiệm vụ, phục vụ Nhân dân; công tác kiểm tra, giám sát được tăng cường, tập trung vào những lĩnh vực nhạy cảm, phức tạp, dễ nảy sinh tiêu cực, được người dân quan tâm; công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực được thực hiện thường xuyên, liên tục và kịp thời; công tác dân vận, nắm bắt tình hình Nhân dân có nhiều chuyển biến tích cực theo hướng kịp thời, gần dân, sát dân; phương thức lãnh đạo của Đảng bộ tiếp tục được đổi mới, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu được nâng lên.

Đạt được kết quả như trên là do Trung ương có nhiều chủ trương, chính sách về công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và ổn định kinh tế vĩ mô; Đảng bộ tỉnh đoàn kết, thống nhất, bám sát Nghị quyết, sâu sát thực tiễn cuộc sống, kịp thời cập nhật các vấn đề mới phát sinh để lãnh đạo, chỉ đạo và thực thi nhiệm vụ, thực hiện thắng lợi các mục tiêu đề ra.

Tuy nhiên, việc triển khai thực hiện Nghị quyết của Đảng bộ tỉnh vẫn còn những hạn chế, khuyết điểm, đó là: Một số chỉ tiêu về phát triển kinh tế – xã hội chưa đạt như Nghị quyết đề ra; công nghiệp hỗ trợ phát triển chậm, hạ tầng giao thông kết nối liên vùng và khu vực chưa được đầu tư đồng bộ, chưa có sản phẩm du lịch chất lượng cao, chưa hình thành khu nông nghiệp công nghệ cao; tiến độ thực hiện các công trình trọng điểm còn chậm; vẫn còn tình trạng ô nhiễm môi trường chưa được khắc phục triệt để; chất lượng y tế, giáo dục tuy được cải thiện nhưng có mặt vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu; hoạt động văn hóa, thể thao chưa sôi nổi, rộng khắp; tội phạm ma túy và tội phạm nghiêm trọng có xu hướng gia tăng; hiệu lực, hiệu quả của bộ máy chính quyền, chất lượng hoạt động của Mặt trận, các đoàn thể và công tác xây dựng Đảng còn nhiều mặt phải nỗ lực hơn, nhất là công tác cán bộ.

Những hạn chế, khuyết điểm trong quá trình thực hiện Nghị quyết Đại hội VI có nguyên nhân khách quan từ ảnh hưởng của giá dầu liên tục giảm, vai trò liên kết vùng chưa được phát huy, tác động của dịch bệnh Covid-19. Song trực tiếp và quyết định vẫn là do nguyên nhân chủ quan: Một số cấp ủy còn thụ động, chưa sát thực tiễn; chỉ đạo và tổ chức thực hiện chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, năng lực cụ thể hóa nghị quyết còn hạn chế; một số hạn chế trong lãnh đạo, quản lý, điều hành của các cấp ủy, chính quyền và đội ngũ cán bộ, đảng viên ở một số nơi chậm được khắc phục; còn tư tưởng trông chờ, thụ động và ỷ lại vào cấp trên; sự phối hợp giữa các ngành chưa đồng bộ, thiếu hiệu quả, còn tình trạng đùn đẩy trách nhiệm; công tác bồi thường giải phóng mặt bằng chưa quyết liệt, một số chính sách bồi thường chưa sát với tình hình thực tế; chưa phát huy hết các nguồn lực sẵn có của tỉnh phục vụ sự phát triển, thu hút đầu tư xã hội hóa còn hạn chế; Mặt trận, các đoàn thể chưa dành nhiều sự quan tâm nghiên cứu, sâu sát thực tiễn để đổi mới phương thức hoạt động, tham mưu cho cấp ủy các giải pháp huy động các tầng lớp nhân dân tham gia góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền. Người đứng đầu một số cấp ủy chưa quan tâm công tác đào tạo, xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ trẻ, cán bộ nữ. Cơ quan tham mưu, giúp việc một số cấp ủy còn thụ động, chưa tích cực đề xuất triển khai các nhiệm vụ về công tác xây dựng Đảng.

2. Đại hội xác định mục tiêu tổng quát, các chỉ tiêu quan trọng và nhiệm vụ trọng tâm trong 5 năm 2022 – 2025

Bối cảnh thế giới, khu vực tiếp tục diễn biến nhanh chóng, phức tạp và khó lường; tác động của dịch bệnh Covid-19 ảnh hưởng lớn đến kinh tế, xã hội và thời gian dịch bệnh có thể sẽ còn kéo dài; chiến tranh thương mại, tình hình trên Biển Đông ngày càng phức tạp; cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư phát triển mạnh mẽ, tạo bước đột phá trên nhiều lĩnh vực, tạo ra cả thời cơ và thách thức.

Vai trò, vị thế của đất nước ta trên trường quốc tế ngày càng được củng cố, nâng cao; hội nhập quốc tế sâu rộng, các cam kết khi tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới thực hiện đầy đủ tạo thời cơ và thuận lợi mới cho Việt Nam. Trong khi đó, nền kinh tế phát triển chưa bền vững, còn nhiều khó khăn, thách thức; thiên tai, dịch bệnh, tình trạng tội phạm xuyên quốc gia, tội phạm công nghệ, an ninh phi truyền thống, an ninh trên biển, tệ nạn xã hội, âm mưu, thủ đoạn hoạt động chống phá của các thế lực thù địch tiếp tục gia tăng và diễn biến phức tạp gây ra những khó khăn, thách thức lớn.

Trong tỉnh, hệ thống hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội tiếp tục được đầu tư và hoàn thiện; một số dự án lớn kết nối đa phương thức và kết nối vùng đã chuẩn bị các điều kiện để triển khai; các dự án lớn và Cụm cảng Cái Mép – Thị Vải phát huy hiệu quả ngày càng cao; đẩy mạnh việc quản lý và khai thác hợp lý quỹ đất công góp phần tăng thêm nguồn lực phát triển; cùng một số kinh nghiệm tích lũy được đã tạo tiền đề vững chắc cho tỉnh tự tin vững bước phát triển trong thời gian tới. Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi còn một số khó khăn như: Hệ thống giao thông kết nối liên vùng và khu vực chưa đáp ứng với yêu cầu phát triển; cơ chế liên kết vùng chưa có sự đổi mới; công tác bồi thường giải phóng mặt bằng còn nhiều vướng mắc. Năng lực, sự quyết tâm của người đứng đầu một số cơ quan, địa phương, của đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, cải cách thủ tục hành chính, ứng dụng công nghệ thông tin trong lãnh đạo, quản lý là những thách thức nội tại của hệ thống chính trị tỉnh có tính quyết định đến việc nâng cao năng lực cạnh tranh, phát huy hiệu quả mọi nguồn lực và sự phát triển nhanh, bền vững của tỉnh nhà.

Tình hình thế giới, trong nước và của tỉnh đan xen cả thuận lợi, khó khăn và thách thức đòi hỏi Đảng bộ, chính quyền, dân, quân và cộng đồng doanh nghiệp của tỉnh cần đoàn kết một lòng, quyết tâm thực hiện thắng lợi các mục tiêu, chỉ tiêu và nhiệm vụ sau:

“2.2. Các chỉ tiêu chủ yếu Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; bảo đảm quốc phòng, an ninh vững chắc; nâng cao chất lượng cuộc sống và niềm tin của Nhân dân; tiếp tục phát triển Bà Rịa – Vũng Tàu thành tỉnh mạnh về công nghiệp, cảng biển, du lịch và nông nghiệp công nghệ cao. Phấn đấu đến năm 2025 tiếp tục là tỉnh đứng trong tốp đầu cả nước về GRDP bình quân đầu người”.

Tốc độ tăng trưởng (GRDP) không tính dầu khí bình quân 7,6%/năm. GRDP bình quân đầu người đến năm 2025 đạt 10.370 USD. Cơ cấu kinh tế trừ dầu khí: Công nghiệp – xây dựng 61,76% , dịch vụ 29,46%, nông nghiệp 8,78%. Phấn đấu thu hút mới ít nhất 3,2 tỷ USD vốn đầu tư FDI và 100.000 tỷ đồng vốn đầu tư trong nước.

Tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội trong 5 năm khoảng 296.466 tỷ đồng. Tổng thu nội địa khoảng 209.928 tỷ đồng. Tổng chi ngân sách khoảng 116.257 tỷ đồng. Đến năm 2025, tỉnh được công nhận hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới.

Chỉ tiêu xây dựng chính quyền, cải cách hành chính

Tăng dân số tự nhiên 1%; tuổi thọ trung bình 76,9 tuổi. Huy động số cháu đi nhà trẻ trong độ tuổi đạt 40%, đi mẫu giáo đạt 95%. 30% học sinh lớp 9 đạt chuẩn ngoại ngữ A2; 25% học sinh lớp 12 đạt chuẩn ngoại ngữ B1. Số trường chuẩn quốc gia cấp tiểu học đạt 75%, cấp THCS đạt 80%, cấp THPT đạt 65%. Số giường bệnh đạt 30 giường/vạn dân; số bác sĩ đạt 10 bác sĩ/vạn dân; 95% dân số toàn tỉnh được quản lý sức khỏe; chất lượng các bệnh viện ở tuyến tỉnh đạt mức 4, ở tuyến huyện đạt mức 3. Người dân tham gia bảo hiểm y tế đạt 95%, người lao động tham gia bảo hiểm xã hội đạt 45%. Trong 5 năm giải quyết việc làm tăng thêm cho 50.000 lao động.

e) Về xây dựng Mặt trận và các đoàn thể

Che phủ cây xanh 44,5%, che phủ rừng 14%. Chất thải sinh hoạt ở đô thị được thu gom, xử lý đạt tiêu chuẩn môi trường 98%. Xử lý triệt để vấn đề rác sinh hoạt, rác đại dương tại Côn Đảo. Xóa bỏ 100% các điểm ô nhiễm môi trường hiện có và không để phát sinh điểm mới. Tỷ lệ dân số nông thôn sử dụng nước máy từ các hệ thống cấp nước tập trung 95%.

g) Về công tác xây dựng Đảng

Công tác huấn luyện: Bộ đội thường trực, chiến sĩ mới đạt 100%; dân quân, tự vệ giữ vững tỷ lệ từ 85% trở lên; dự bị động viên phấn đấu đạt 100%. Tuyển quân hàng năm đạt 100% chỉ tiêu ở các cấp.

100% tin báo, tố giác tội phạm, kiến nghị khởi tố được tiếp nhận, xử lý, trong đó tỷ lệ giải quyết đạt trên 90%. Điều tra làm rõ từ 75% trở lên các vụ án. Giảm các loại tội phạm đến cuối nhiệm kỳ ít nhất 5%. Tai nạn giao thông hằng năm giảm ít nhất 5-10% trên cả ba tiêu chí.

Giải quyết án của viện kiểm sát trong giai đoạn truy tố đạt từ 95% trở lên. Giải quyết chung các loại án đạt từ 85% trở lên. Thi hành án xong về việc là 80%, về tiền là 38%. Giải quyết khiếu nại, tố cáo đúng hạn đạt từ 85% trở lên.

Phấn đấu các chỉ số PAPI, PCI, POBI, PAR Index, ICT Index trong nhóm 10 tỉnh, thành cao nhất cả nước. Người dân hài lòng đạt 85%. Hồ sơ giải quyết đúng hẹn đạt 98%. Áp dụng dịch vụ công mức độ 3 đạt trên 70%, mức độ 4 đạt trên 50%.

100% Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp thực hiện ít nhất 2 nội dung giám sát/năm và 01 nội dung phản biện xã hội/năm. 95% trở lên đơn vị, doanh nghiệp đủ điều kiện thành lập công đoàn. Giới thiệu 8.000 đoàn viên ưu tú cho Đảng xem xét, kết nạp; ươm tạo và hỗ trợ 50 dự án khởi nghiệp của thanh niên. Hội nông dân chủ trì phối hợp xây dựng 75 tổ hợp tác hoặc hợp tác xã tại các xã nông thôn mới. 100% chủ tịch hội liên hiệp phụ nữ cấp xã, 100% chi hội trưởng phụ nữ và tối thiểu 30% người được quy hoạch chức danh chủ tịch hội liên hiệp phụ nữ cấp xã được bồi dưỡng nghiệp vụ; xây dựng tổ chức hội cựu chiến binh trong các doanh nghiệp khu vực ngoài Nhà nước (khi có đủ điều kiện) đạt 100%.

100% cán bộ, đảng viên tham gia học tập, nghiên cứu các chỉ thị, nghị quyết của Đảng; trong đó tuyên truyền các chỉ thị, nghị quyết đến với Nhân dân đạt 70% trở lên. Phấn đấu bồi dưỡng, kết nạp 7.151 đảng viên mới. Các kết luận của đoàn kiểm tra, giám sát phải ban hành 100% kế hoạch và tổ chức thực hiện khắc phục, phòng ngừa.

100% Tổ dân vận khu phố, thôn, ấp đăng ký xây dựng mô hình, điển hình “Dân vận khéo” hiệu quả. 100% xã, phường, thị trấn thực hiện tốt Quy chế dân chủ ở cơ sở.

2.3. Các nhiệm vụ trọng tâm

Trong nhiệm kỳ 2022 – 2025, trên cơ sở quán triệt và lãnh đạo, chỉ đạo toàn diện việc thực hiện các quan điểm, nhiệm vụ trên tất cả các lĩnh vực đã nêu trong Báo cáo chính trị và Báo cáo kinh tế – xã hội, cần tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm sau:

(1) Tập trung xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; xây dựng Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh là tập thể đoàn kết, sâu sát thực tiễn, lãnh đạo toàn diện, xuyên suốt các nhiệm vụ chính trị của địa phương. Phát huy vai trò của các tổ chức đảng, cấp ủy, người đứng đầu và cấp trên hỗ trợ cấp dưới thực thi nhiệm vụ, tạo sự tin tưởng, sự đồng hành để nâng cao khả năng hành động. Nâng cao vai trò và chất lượng hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội, các hội quần chúng trong việc vận động Nhân dân.

(2) Tập trung xây dựng tổ chức bộ máy chính quyền các cấp tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo quản lý đủ năng lực, phẩm chất và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ. Đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu.

(3) Tăng cường ứng dụng khoa học công nghệ, tạo hệ sinh thái khởi nghiệp, đẩy mạnh cải cách hành chính, chuyển đổi số, xây dựng đô thị thông minh.

(4) Xây dựng mô hình phát triển kinh tế bền vững dựa vào công nghiệp, cảng biển, du lịch và nông nghiệp công nghệ cao; thúc đẩy mạnh mẽ kinh tế tư nhân, hợp tác xã, trang trại. Tập trung phát triển công nghiệp theo chiều sâu, phát triển mạnh công nghiệp chế biến, chế tạo gắn với công nghệ thông minh; đầu tư hạ tầng giao thông đa phương thức, kết nối liên vùng, khu vực và quốc tế nhằm tăng năng lực khai thác Cụm cảng Cái Mép – Thị Vải và phát triển du lịch; xây dựng và thực hiện Chiến lược phát triển, định vị thương hiệu du lịch tỉnh theo hướng nâng cao chất lượng trên bản đồ du lịch trong nước và quốc tế; phát triển mạnh mẽ nông nghiệp công nghệ cao để tăng năng suất, chất lượng và thu nhập trên đơn vị diện tích đất sản xuất nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới.

Thúc đẩy phát triển dịch vụ đồng bộ, hiện đại, hỗ trợ, tạo động lực cho 4 trụ cột kinh tế phát triển, tạo ra lợi thế so sánh, cạnh tranh và nâng cao tỷ lệ cơ cấu trong đóng góp ngân sách.

(5) Kiên trì thu hút đầu tư có chọn lọc các dự án quy mô lớn, có công nghệ hiện đại, giá trị gia tăng cao, không thâm dụng lao động, thân thiện với môi trường; xây dựng tốt môi trường đầu tư kinh doanh, công khai, minh bạch các thông tin, đáp ứng nhu cầu, tạo sự thuận tiện hơn nữa cho người dân và doanh nghiệp; phát triển khu vực kinh tế tư nhân, hướng tới hình thành một số doanh nghiệp địa phương đủ năng lực để tham gia liên kết, liên doanh với các tập đoàn kinh tế lớn.

(6) Quản lý, sử dụng tiết kiệm và có hiệu quả nguồn vốn đầu tư công; phân bổ, bố trí vốn đầu tư công trung hạn phải phù hợp với mục tiêu, chỉ tiêu Nghị quyết đề ra, đồng thời tập trung cho các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội trọng điểm góp phần thay đổi diện mạo, tạo động lực và thu hút tất cả các nguồn lực cho phát triển.

(7) Phát triển, nâng cấp hệ thống các đô thị hiện có và tập trung đầu tư các đô thị mới theo hướng có hạ tầng đồng bộ, chất lượng cao, có môi trường sống và làm việc tốt; lấy sân bay Long Thành và Cụm cảng Cái Mép – Thị Vải làm trung tâm để quy hoạch tạo ra không gian kinh tế mới tiềm năng cho phát triển của tỉnh trước mắt và dài hạn.

(8) Phát triển văn hóa – xã hội đồng bộ và theo kịp với phát triển kinh tế, đáp ứng yêu cầu phát triển toàn diện của người dân Bà Rịa – Vũng Tàu; có chính sách thu hút vốn đầu tư của xã hội cho giáo dục và y tế để nâng cao chất lượng phục vụ Nhân dân; nâng cao toàn diện chất lượng giáo dục và đào tạo, xây dựng môi trường giáo dục tốt cho việc dạy và học; phát triển khoa học và công nghệ ngang tầm nhiệm vụ, đáp ứng yêu cầu phát triển trong tình hình mới; thực hiện đầy đủ, kịp thời các chính sách an sinh xã hội, triển khai có hiệu quả Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững; nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh, thực hiện bao phủ chăm sóc sức khỏe toàn dân; tập trung phát triển mạnh y tế cơ sở và y tế dự phòng; đẩy mạnh các hoạt động văn hóa, thể thao nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng cuộc sống của người dân, bảo đảm Bà Rịa – Vũng Tàu là địa phương có điều kiện sống tốt cho người dân.

(9) Chủ động nắm chắc, dự báo chính xác tình hình, chuẩn bị sẵn sàng các phương án ứng phó kịp thời, có hiệu quả các tình huống, bảo đảm quốc phòng, an ninh vững chắc; kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế với tăng cường tiềm lực quốc phòng an ninh; đẩy mạnh công tác đấu tranh phòng, chống các loại tội phạm; kiềm chế gia tăng, từng bước kéo giảm tội phạm và tai nạn giao thông; tạo chuyển biến rõ nét về trật tự, an toàn xã hội, góp phần giữ vững ổn định chính trị, xã hội, tạo môi trường an ninh, an toàn, phục vụ có hiệu quả nhiệm vụ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội tại địa phương.

(10) Nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại theo hướng chủ động, đồng bộ, sáng tạo, hiệu quả, có trọng tâm, trọng điểm nhằm mang lại lợi ích thiết thực, góp phần quảng bá hình ảnh, tiềm năng, lợi thế, đáp ứng mục tiêu đối ngoại của tỉnh.

(1) Huy động mọi nguồn lực đầu tư xây dựng đồng bộ hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông kết nối đa phương thức, vùng, khu vực và thế giới.

(2) Tập trung thực hiện Đề án nâng cao chất lượng cuộc sống người dân và chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển.

(3) Thực hiện hiệu quả chương trình chuyển đổi số, đô thị thông minh.

II- Thông qua Báo cáo kiểm điểm sự lãnh đạo, chỉ đạo của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khoá VI, nhiệm kỳ 2022 – 2022. Từ kinh nghiệm của khóa trước, giao Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa VII tiếp thu ý kiến của Đại hội, phát huy những ưu điểm, khắc phục khuyết điểm, nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác lãnh đạo, chỉ đạo trong nhiệm kỳ 2022 – 2025.

IV- Thông qua kết quả biểu quyết số lượng Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khoá VII nhiệm kỳ 2022 – 2025 là 49 đồng chí; Đại hội đã bầu 48 đồng chí (khuyết 01 chức danh Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh).

– Phiên họp đầu tiên cấp ủy khoá VII đã bầu Ban Thường vụ Tỉnh ủy gồm 15 đồng chí, đồng chí Phạm Viết Thanh, Ủy viên Trung ương Đảng làm Bí thư Tỉnh ủy, đồng chí Nguyễn Thị Yến, đồng chí Nguyễn Văn Thọ làm Phó Bí thư Tỉnh ủy. Thông qua kết quả biểu quyết số lượng Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy là 11 đồng chí; Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khoá VII đã bầu 10 đồng chí (khuyết 01 chức danh Ủy viên kiêm chức là Lãnh đạo Ban Tổ chức Tỉnh ủy), đồng chí Võ Văn Dũng, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy làm Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy.

Phiên họp đầu tiên Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy khóa VII đã bầu 03 đồng chí làm Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy.

– Đại hội đã bầu Đoàn đại biểu đi dự Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng gồm 17 đồng chí đại biểu chính thức và 02 đồng chí đại biểu dự khuyết.

– Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa VII hoàn chỉnh hồ sơ về kết quả bầu cử, báo cáo Bộ Chính trị để quyết định chuẩn y theo quy định.

V– Giao Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa VII căn cứ vào Nghị quyết Đại hội, trên cơ sở quán triệt sâu sắc Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng để hoàn thiện chương trình hành động, các kế hoạch công tác nhằm cụ thể hoá và tổ chức thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội.

Khai Mạc Đại Hội Đại Biểu Đảng Bộ Tỉnh Quảng Ngãi Lần Thứ Xx, Nhiệm Kỳ 2022

Quảng Ngãi Khai Mạc Đại Hội Đảng Bộ Tỉnh Lần Thứ 19

Thực Hiện Nghị Quyết Đại Hội Đảng Bộ Tỉnh Lần Thứ Xix: Chuyển Biến Trên Nhiều Lĩnh Vực

Tỉnh Quảng Ngãi Quán Triệt Nghị Quyết Đại Hội Đại Biểu Đảng Bộ Tỉnh Lần Thứ Xix

Quán Triệt Nghị Quyết Đại Hội Đại Biểu Đảng Bộ Tỉnh Quảng Ngãi Lần Thứ Xix

Hội Luật Gia Tỉnh: Đưa Nghị Quyết Đại Hội Đảng Vào Cuộc Sống

Đại Hội Đại Biểu Toàn Quốc Hội Luật Gia Việt Nam Lần Thứ Xiii Thành Công

Điều Lệ Hội Luật Gia Việt Nam Năm 2010

Ra Mắt Ban Lãnh Đạo Trung Ương Hội Luật Gia Việt Nam Khóa Mới

Bế Mạc Đại Hội Đại Biểu Toàn Quốc Hội Luật Gia Việt Nam Lần Thứ Xiii: Toàn Thể Cán Bộ, Hội Viên Phát Huy Cao Độ Tinh Thần Yêu Nước, Tự Lực, Tự Cường

Tổ Chức Hội Nghị Sơ Kết Giữa Nhiệm Kỳ Thực Hiện Nghị Quyết Đại Hội Đại Biểu Đoàn Tncs Hồ Chí Minh Huyện Bù Đăng Khóa Vii, Nhiệm Kỳ 2022

Ngày 01/4, Hội Luật gia tỉnh Lai Châu đã tổ chức Hội thảo đưa nghị quyết đại hội Đảng các cấp vào cuộc sống.

Với mục đích phấn đấu xây dựng và củng cố tổ chức Hội Luật gia tỉnh vững mạnh về chính trị, tư tưởng và hoàn thành tốt nhiệm vụ chủ yếu của Hội theo Nghị Quyết Đại hội lần thứ nhất Hội Luật gia tỉnh đã đề ra. Quán triệt và chủ động xây dựng Chương trình hành động đưa Nghị quyết Đại hội Đảng các cấp vào từng Chi hội gắn với nhiệm vụ chính trị của cơ quan đơn vị và phát huy vai trò trách nhiệm của người Luật gia. Ngày1/4 Hội Luật gia tỉnh Lai Châu đã tổ chức Hội thảo đưa nghị quyết Đại hội Đảng các cấp vào cuộc sống.

Dự Hội thảo có các đồng chí đại diện Ủy ban MTTQ tỉnh, Văn phòng UBND tỉnh, các đ/c là Ủy viên Thường vụ, Ủy viên BCH Hội Luật gia tỉnh, đại diện các Chi hội Luật gia: Tòa án nhân dân tỉnh, Viện kiểm soát nhân dân tỉnh, Sở Tư pháp, Cục Thi hành án tỉnh.

Nhân dịp này, đồng chí Trần Danh Minh – Chánh án TAND tỉnh, Phó Chủ tịch Hội Luật gia tỉnh đã ôn lại truyền thống 56 năm của Hội luật gia Việt Nam(04/4/1955 – 04/4/2011) và 2 năm ngày thành lập Hội Luật gia tỉnh Lai Châu (23/3/2009 – 23/3/2011).

Được sự ủy quyền của đ/c Chủ tịch UBND tỉnh, phát biểu tại Hội thảo đồng chí Lê Thanh Hải – Phó Chánh VPUBND tỉnh đánh giá cao những kết quả mà Hội Luật gia tỉnh đạt được trong 2 năm qua; đồng thời đề nghị Hội Luật gia cần tập trung xây dựng Kế hoạch hành động đưa Nghị quyết Đại hội Đảng các cấp vào cuộc sống một cách thiết thực, phù hợp với điều kiện hoạt động cụ thể của Hội. Bám sát với tôn chỉ mục đích hoạt động của Hội. Phát huy trí tuệ của từng hội viên tham gia vào các hoạt động xây dựng pháp luật của Nhà nước, cải cách thể chế ở địa phương. Tích cực tuyên truyền pháp luật, làm tốt công tác trợ giúp pháp lý, công tác phát triển Hội viên và từng bước củng cố, hoàn thiện tổ chức các Chi hội Luật gia ở cấp huyện và cơ sở. Thường xuyên đổi mới nội dung, phương thức sinh hoạt, rèn luyện nâng cao trình độ chính trị, chuyên môn nghiệp vụ, phẩm chất đạo đức của người Luật gia, đồng thời động viên tinh thần, quan tâm đến lợi ích của hội viên, vận động hội viên gắn bó với Hội.

Các đại biểu dự Hội thảo có nhiều ý kiến tham luận, đóng góp vào chương trình hành động chung của Hội và chương trình hành động cụ thể của từng Chi hội gắn với nhiệm vụ chuyên môn của ngành mình. Hội thảo đã thống nhất thông qua Chương trình hành động trên cơ sở tiếp thu, chỉnh lý nội dung theo đề xuất của các đại biểu.

Ban chấp hành Hội luật gia khóa I cũng đã biểu quyết thông qua Quy chế hoạt động của Hội Luật gia tỉnh Lai Châu, làm cơ sở để các cấp Hội trong tỉnh hoạt động./.

Sơ Kết 3 Năm Thực Hiện Nghị Quyết Đại Hội Hội Luật Gia Tỉnh Lần Thứ Nhất

Thông Qua Nghị Quyết Đại Hội

Lời Dẫn Chương Trình Đại Hội Chi Đoàn Giáo Viên

Kịch Bản Đại Hội Chi Đoàn Giáo Viên

Đại Hội Hội Cựu Giáo Chức Huyện Nhiệm Kỳ 2022

Đảng Uỷ Công An Tỉnh Học Tập, Quán Triệt Nghị Quyết Đại Hội Đảng Bộ Tỉnh

Nội Dung, Đề Cương Quán Triệt Nghị Quyết Đại Hội Đại Biểu Đảng Bộ Huyện Lần Thứ 22, Nhiệm Kỳ 2022

Toàn Văn Nghị Quyết Đại Hội Công Đoàn Thành Phố Lần Thứ Xiv, Nhiệm Kỳ 2022

Đại Hội Chi Đoàn Trường Mầm Non Thạch Cầu Nhiệm Kỳ 2022

Đại Hội Chi Đoàn Trường Mầm Non Phú Cường Nhiệm Kỳ 2022

Điều Lệ Hội Nông Dân Việt Nam Trang Điện Tử Hội Nông Dân Tỉnh Thanh Hóa

Sáng ngày 16/12/2020, Đảng uỷ Công an tỉnh tổ chức Hội nghị học tập, quán triệt, triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Ninh Bình lần thứ XXII, nhiệm kỳ 2022 – 2025. Dự hội nghị có đồng chí Đại tá Trần Hồng Phú, phó Giám đốc Công an tỉnh; đồng chí Nguyễn Xuân Hải, Phó trưởng ban thường trực Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ.

Quang cảnh Hội nghị

Các đại biểu dự Hội nghị

Đồng chí đại tá Trần Hồng Phú, phó Giám đốc Công an tỉnh phát biểu tại Hội nghị

Tại hội nghị, đồng chí Nguyễn Xuân Hải, phó trưởng Ban thường trực Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ đã truyền đạt những nội dung cơ bản của Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XXII, trong đó tập trung phân tích, làm rõ những kết quả nổi bật thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XXI, những hạn chế, khó khăn, nguyên nhân của những hạn chế khó khăn; bài học kinh nghiệm; Đặc biệt là đã quán triệt những phương hướng, chỉ tiêu chủ yếu, các khâu đột phá và chương trình trọng tâm trong nhiệm kỳ mới. 

Đồng chí Nguyễn Xuân Hải, Phó trưởng ban thường trực Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ truyền đạt các nội dung tại Hội nghị

Thông qua Hội nghị giúp cán bộ, đảng viên nắm vững những nội dung cơ bản, cốt lõi của Nghị quyết. Sau Hội nghị, các Đảng bộ, chi bộ trực thuộc tổ chức quán triệt, triển khai đến toàn thể đảng viên, CBCS, đồng thời từ thực tế công việc các đơn vị chi bộ xây dựng chương trình hành động, cá nhân CBCS viết thu hoạch đảm bảo cụ thể, nghiêm túc, hiệu quả và phù hợp với chức năng, nhiệm để tổ chức thực hiện góp phần sớm đưa Nghị quyết vào cuộc sống./.

Đỗ Hùng

Lực Lượng Cand Triển Khai Học Tập Thực Hiện Hiệu Quả Nghị Quyết Đại Hội Xi

Quyết Tâm Thực Hiện Thắng Lợi Nghị Quyết Đại Hội Đảng Bộ Công An Tỉnh Lần Thứ Xxii

Quân Ủy Trung Ương Ra Nghị Quyết Lãnh Đạo Nhiệm Vụ Quân Sự, Quốc Phòng Và Xây Dựng Đảng Bộ Quân Đội Năm 2022.

Vai Trò Lãnh Đạo Của Chi Bộ Ttđmt3 Trong Việc Chỉ Đạo Thực Hiện Nhiệm Vụ Chính Trị Tại Đơn Vị.

Những Kết Quả Nổi Bật Trong Thực Hiện Nghị Quyết Đại Hội Chi Bộ Văn Phòng Huyện Đảo Cồn Cỏ Nhiệm Kỳ 2022