Nghị Quyết Dân Số Trong Tình Hình Mới / 2023 / Top 19 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 12/2022 # Top View | Bac.edu.vn

Nghị Quyết Dân Số Trong Tình Hình Mới / 2023

Nghị Quyết Dân Số Trong Tình Hình Mới, Nghi Quyet 28 Ve Bao Ve To Quoc Trong Tinh Hinh Moi, Nghị Quyết Số 28-nq/tw Của Hội Nghị Tw Viii Khóa Xi Về Chiến Lược Bảo Vệ Tổ Quốc Trong Tình Hình Mới, Nghị Quyết 28 Về Chiến Lược Bảo Vệ Tổ Quốc Trong Tình Hình Mớ, Nghị Quyết Số 28-nq/tw Về Chiến Lược Bảo Vệ Tổ Quốc Trong Tình Hình Mới , Nghị Quyết 28 Về Chiến Lược Bảo Vệ Tổ Quốc Trong Tình Hình Mới, Nghị Quyết Số 86/nq-Đuqstw, Về Công Tác Giáo Dục Đào Tạo Trong Tình Hình Mới, Nghị Quyết Số 28- 25/10/2013nq/tw Về Chiến Lược Bảo Vệ Tổ Quốc Trong Tình Hình Mới, Nghị Quyết Tw8 Khóa Xi Về Chiến Lược Bảo Vệ Tổ Quốc Trong Tình Hình Mới, Nội Dung Nghị Quyết Số 28-nq/tw Về Chiến Lược Bảo Vệ Tổ Quốc Trong Tình Hình Mới, Nghị Quyết 28 Chiến Lược Bảo Vệ Đất Nước Trong Tình Hình Mới 2014, Nghị Quyết 28 Của Bộ Chính Trị Khóa X Ve Chien Luoc Bao Ve To Quoc Trong Tinh Hinh Moi, Nghị Quyết Trung 8 Khóa 11 Về Chiến Lược Bảo Vệ Tổ Quốc Trong Tình Hình Mới, Nghị Quyết 40 Nq/tw Nâng Cao Hiệu Quả Của Công An Trong Tình Hình Mới Của Bộ Chính Trị 8/112004, Nghị Quyết Nâng Cao Hiệu Quả Của Công An Trong Tình Hình Mới Của Bộ Chính Trị 2004, Nghị Quyết Số 28 Nq/tw Ngày 25/10/2013 Về Chiến Lược Bảo Vệ Tổ Quốc Trong Tình Hình Mới, Nghị Quyết Số 28 Nq/tw Ngày 25/10/2013 Về Chiến Lược Bảo Vệ Tổ Quốc Trong Tình Hình …, Nghị Quyết 40 Nq/tw Nâng Cao Hiệu Quả Của Công An Trong Tình Hình Mới Của Bộ Chính Trị 8/11/2004, Nghị Quyết 40 Nq/tw Nâng Cao Hiệu Quả Của Công An Trong Tình Hình Mới Của Bộ Chính Trị 2004, Nghị Quyết Trung ương 8 (khoá Xi) Về “chiến Lược Bảo Vệ Tổ Quốc Trong Tình Hình Mới”, Nghị Quyết Trung ương 8 Khóa 11 Ve Chien Luoc Bao Ve To Quoc Trong Tinh Hinh Moi , Chuyên Đề 2: Nghị Quyết Số 28-nq/tw Ngày 25/10/2013 Về “chiến Lược Bảo Vệ Tổ Quốc Trong Tình Hình Mớ, Chuyên Đề 2: Nghị Quyết Số 28-nq/tw Ngày 25/10/2013 Về “chiến Lược Bảo Vệ Tổ Quốc Trong Tình Hình Mớ, Nghị Quyết Số 28 Nq/tw Ngày 25/10/2013 Về Chiến Lược Bảo Vệ Tổ Quốc Trong Tình Hình Mới Định Hướng X, Báo Cáo Tình Hình Thực Hiện Nghị Quyết 36a Của Tỉnh Bình Phước, Báo Cáo Tình Hình Trong Dịp Nghỉ Lễ 2/9, Báo Cáo Tình Hình Trong Dịp Nghỉ Lễ 30/4, Ngị Quyết Số 28 Về Chiến Lược Bảo Vệ Trong Tình Hình Mới, Ghị Quyết Số 28 Nq/tw Ngày 25/10/2013 Về Chiến Lược Bảo Vệ Tổ Quốc Trong Tình Hình Mới, Nội Dung Nghioj Quyết Số 28 Về Chiến Lược Bảo Vệ Tổ Quốc Trong Tình Hình Mới, Ghị Quyết Số 28 Nq/tw Ngày 25/10/2013 Về Chiến Lược Bảo Vệ Tổ Quốc Trong Tình Hình Mớ, Ghị Quyết Trung 8 Khóa 11 Về Chiến Lược Bảo Vệ Tổ Quốc Trong Tình Hình Mới, Báo Cáo Tình Hình Thực Hiện Nghị Quyết 01, Báo Cáo Tình Hình Thực Hiện Nghị Quyết 120, Báo Cáo Tình Hình Thực Hiện Nghị Quyết 54, Báo Cáo Tình Hình Thực Hiện Nghị Quyết 18, Báo Cáo Tình Hình Thực Hiện Nghị Quyết 18 19, Báo Cáo Tình Hình Thực Hiện Nghị Quyết 99, Báo Cáo Tình Hình Thực Hiện Nghị Quyết 35, Báo Cáo Tình Hình Thực Hiện Nghị Quyết 36a, Báo Cáo Tình Hình Thực Hiện Nghị Quyết Trung ương 4 Khoá 12, Báo Cáo Tổng Kết Tình Hình Thực Hiện Nghị Quyết Trung ương 3 Khóa Viii, Phân Hình Hình ảnh Người Phụ Nữ Trong Tự Tình Thương Vợ, Báo Cáo Tình Hình Trước Trong Và Sau Tết, 8/11/2004 Công An Trong Tình Hình Mói, Dựa Vào Quy Luật Của Các Số Trong Hình A Và Hình B Hãy Điền Số Thích Hợp Vào ô Trống Trong Hình C, Báo Cáo Tình Hình An Ninh Trật Tự Trong Trường Học, Phương Châm Bảo Vệ Tổ Quốc Trong Tình Hình Mới, Chi Tiết Báo Cáo Tình Hình Hoạt Động Trong Năm, Phân Tích Hình ảnh Người Phụ Nữ Trong Tự Tình, Thế Trận An Ninh Nhân Dân Trong Tinh Hình Mới , Tình Hình Ktxh 9 Tháng Đầu Năm Và Một Số Nhiệm Vụ Trọng Tâm Quý Iv, Dàn ý Phân Tích Hình ảnh Mẹ Trong Đêm Tình Mùa Xuân, Đè án Đổi Mới Công Tác Giáo Dục Chính Trị Tại Đơn Vị Trong Tình Hình Mới, Chiến Lược Bảo Vệ Tổ Quốc Trong Tình Hình Mới, Tỉnh ủy Quảng Ninh- Kế Hoạch Thực Hiện Nghị Quyết 18, Nghị Quyết 19, Báo Cáo Tình Hình Xây Dựng Cốt Cán Phong Trào Trong Các Tôn Giáo, Tình Hình Xuất Khẩu Của Việt Nam Trong Những Năm Gần Đây, Chien Luoc Bao Ve To Quoc Trong Tinh Hinh Moi 2013, Bài Thu Hoạch Chuyên Đề Phẩm Chất Bô Đội Cụ Hồ Trong Tình Hình Mới, Thuyet Trinh Ve Tinh Hinh An Ninh Trat Tu Trong Chi Bo, Những Yếu Tố Tác Động Đến An Ninh Quốc Gia Trong Tình Hình Mới, Chiến Lược An Ninh Quốc Gia Trong Tình Hình Mới, Văn Bản Số Hình ảnh âm Thanh Phim ảnh Trong Máy Tính Được Gọi Chung Là, 8/11/2004 Nâng Cao Hiệu Quả Công An Trong Tình Hình Mói, Dàn Bài Suy Nghĩ Của Em Về Tình Mẫu Tử Trong Đoạn Trích Trong Lòng Mẹ, ý Nghĩa Thực Tiễn Quân Đội Trong Tình Hình Hiện Nay, Báo Cáo Tình Hình Kết Quả Thực Hiện Các Quy Định Về An Ninh Trật Tự Trong Cơ , Những Yếu Tố Tác Động Đén An Ninh Quốc Gia Trong Tình Hình Hiện Nay, Bài Thu Hoạch Xây Dựng Thế Trận An Ninh Nhân Dân Trong Tình Hình Mới, Đề án Xây Dựng Và Phát Triển Mạng Lưới Y Tế Cơ Sở Trong Tình Hình Mới, Báo Cáo Tình Hình Xác Định Chi Phí Tiền Lương Trong Đơn Giá Sản Phẩm Dịch Vụ, Giải Pháp Quản Lý Bảo Vệ Chủ Quyền Biển Đảo Trong Tinh Hinh Moi, Một Số Nội Dung Về Nghị Quyết Và Chế Độ Ra Nghị Quyết Lânhx Đạo Của Các Cấp Uỷ Chi Bộ Trong Đảng Bộ, Chỉ Thị Số 07 Về Tăng Cường Lãnh Đạo Nâng Cao Văn Hóa ứng Xử Công An Nhân Dân Trong Tình Hình Mới, Phát Huy Dân Chủ Giữ Nghiêm Kỷ Luật Phấn Đấu Xứng Danh Bộ Đội Cụ Hồ Trong Tình Hình Mới, Quan Điểm Chính Sách Dân Tộc Của Đảng Và Nhà Nước Ta Trong Tình Hình Mới, Kế Hoạch Nâng Cao Chất Lượng Sinh Hoạt Chi Bộ Trong Tình Hình Mới, Báo Cáo Tình Hình Giải Quyết Khiếu Nại Tố Cáo, Báo Cáo Tình Hình Nghỉ Lễ 2/9, Báo Cáo Tình Hình Nghỉ Lễ 30/4, Báo Cáo Tình Hình Nghỉ Tết, Báo Cáo Tình Hình Nghỉ Lễ, Chuyên Đề Phát Huy Dân Chủ Giữ Nghiêm Kỷ Luật Phấn Đấu Xứng Danh Bộ Đội Cụ Hồ Trong Tình Hình Mới, Bai Thu Hoach An Ninh Quoc Phong Doi 3 Ve Chu Quyen Bien Dao Viet Nam Trong Tinh Hinh Moi, Giải Pháp Cơ Bản Đam Bảo An Ninh Quốc Gia Trong Tình Hình Mới, Duong Loi Quan Diem Cua Dang Cong San Viet Nam Ve Bao Ve To Quoc Trong Tinh Hinh Moi, Phan Tich Tinh Hinh Tai Chính Công Ty Vinamilk Trong 3 Năm 2017 Đên 2019, Báo Cáo Tình Hình Giải Quyết Tranh Chấp Đất Đai, Giải Quyết Trách Nhiệm Dân Sự Trong Vụ án Hình Sự, Muc Tieu Phuong Thuc Quan Ly Bao Ve Chu Quyen Bien Dao Cua Đang Nha Nuoc Ta Trong Tinh Hinh Moi, Báo Cáo Tình Hình Thực Hiện Nghị Định 130, Báo Cáo Tình Hình Thực Hiện Nghị Định 61, Báo Cáo Tình Hình Thực Hiện Nghị Định 130/2013, Báo Cáo Tình Hình Thực Hiện Nghị Định 43/2006, 6 Yếu Tố Quyết Định Thành Bại Trong Tình Yêu, Báo Cáo Tình Hình Quản Lý Sử Dụng Tài Sản Công Theo Nghị Định 151, Chỉ Thị 39 Của Bộ Chính Trị Về Tăng Cường Công Tác Bảo Vệ Chính Trị Nội Bộ Trong Tình Hình Hiện Nay, Quản Lý Và Bảo Vệ Chủ Quyền Biên Giới, Biển, Đảo Việt Nam Trong Tình Hình Mới, Liên Hệ Trách Nhiệm Bản Thân Về Mối Quan Hệ Xã Hội Quân Nhân Trong Tình Hình Mới,

Nghị Quyết Dân Số Trong Tình Hình Mới, Nghi Quyet 28 Ve Bao Ve To Quoc Trong Tinh Hinh Moi, Nghị Quyết Số 28-nq/tw Của Hội Nghị Tw Viii Khóa Xi Về Chiến Lược Bảo Vệ Tổ Quốc Trong Tình Hình Mới, Nghị Quyết 28 Về Chiến Lược Bảo Vệ Tổ Quốc Trong Tình Hình Mớ, Nghị Quyết Số 28-nq/tw Về Chiến Lược Bảo Vệ Tổ Quốc Trong Tình Hình Mới , Nghị Quyết 28 Về Chiến Lược Bảo Vệ Tổ Quốc Trong Tình Hình Mới, Nghị Quyết Số 86/nq-Đuqstw, Về Công Tác Giáo Dục Đào Tạo Trong Tình Hình Mới, Nghị Quyết Số 28- 25/10/2013nq/tw Về Chiến Lược Bảo Vệ Tổ Quốc Trong Tình Hình Mới, Nghị Quyết Tw8 Khóa Xi Về Chiến Lược Bảo Vệ Tổ Quốc Trong Tình Hình Mới, Nội Dung Nghị Quyết Số 28-nq/tw Về Chiến Lược Bảo Vệ Tổ Quốc Trong Tình Hình Mới, Nghị Quyết 28 Chiến Lược Bảo Vệ Đất Nước Trong Tình Hình Mới 2014, Nghị Quyết 28 Của Bộ Chính Trị Khóa X Ve Chien Luoc Bao Ve To Quoc Trong Tinh Hinh Moi, Nghị Quyết Trung 8 Khóa 11 Về Chiến Lược Bảo Vệ Tổ Quốc Trong Tình Hình Mới, Nghị Quyết 40 Nq/tw Nâng Cao Hiệu Quả Của Công An Trong Tình Hình Mới Của Bộ Chính Trị 8/112004, Nghị Quyết Nâng Cao Hiệu Quả Của Công An Trong Tình Hình Mới Của Bộ Chính Trị 2004, Nghị Quyết Số 28 Nq/tw Ngày 25/10/2013 Về Chiến Lược Bảo Vệ Tổ Quốc Trong Tình Hình Mới, Nghị Quyết Số 28 Nq/tw Ngày 25/10/2013 Về Chiến Lược Bảo Vệ Tổ Quốc Trong Tình Hình …, Nghị Quyết 40 Nq/tw Nâng Cao Hiệu Quả Của Công An Trong Tình Hình Mới Của Bộ Chính Trị 8/11/2004, Nghị Quyết 40 Nq/tw Nâng Cao Hiệu Quả Của Công An Trong Tình Hình Mới Của Bộ Chính Trị 2004, Nghị Quyết Trung ương 8 (khoá Xi) Về “chiến Lược Bảo Vệ Tổ Quốc Trong Tình Hình Mới”, Nghị Quyết Trung ương 8 Khóa 11 Ve Chien Luoc Bao Ve To Quoc Trong Tinh Hinh Moi , Chuyên Đề 2: Nghị Quyết Số 28-nq/tw Ngày 25/10/2013 Về “chiến Lược Bảo Vệ Tổ Quốc Trong Tình Hình Mớ, Chuyên Đề 2: Nghị Quyết Số 28-nq/tw Ngày 25/10/2013 Về “chiến Lược Bảo Vệ Tổ Quốc Trong Tình Hình Mớ, Nghị Quyết Số 28 Nq/tw Ngày 25/10/2013 Về Chiến Lược Bảo Vệ Tổ Quốc Trong Tình Hình Mới Định Hướng X, Báo Cáo Tình Hình Thực Hiện Nghị Quyết 36a Của Tỉnh Bình Phước, Báo Cáo Tình Hình Trong Dịp Nghỉ Lễ 2/9, Báo Cáo Tình Hình Trong Dịp Nghỉ Lễ 30/4, Ngị Quyết Số 28 Về Chiến Lược Bảo Vệ Trong Tình Hình Mới, Ghị Quyết Số 28 Nq/tw Ngày 25/10/2013 Về Chiến Lược Bảo Vệ Tổ Quốc Trong Tình Hình Mới, Nội Dung Nghioj Quyết Số 28 Về Chiến Lược Bảo Vệ Tổ Quốc Trong Tình Hình Mới, Ghị Quyết Số 28 Nq/tw Ngày 25/10/2013 Về Chiến Lược Bảo Vệ Tổ Quốc Trong Tình Hình Mớ, Ghị Quyết Trung 8 Khóa 11 Về Chiến Lược Bảo Vệ Tổ Quốc Trong Tình Hình Mới, Báo Cáo Tình Hình Thực Hiện Nghị Quyết 01, Báo Cáo Tình Hình Thực Hiện Nghị Quyết 120, Báo Cáo Tình Hình Thực Hiện Nghị Quyết 54, Báo Cáo Tình Hình Thực Hiện Nghị Quyết 18, Báo Cáo Tình Hình Thực Hiện Nghị Quyết 18 19, Báo Cáo Tình Hình Thực Hiện Nghị Quyết 99, Báo Cáo Tình Hình Thực Hiện Nghị Quyết 35, Báo Cáo Tình Hình Thực Hiện Nghị Quyết 36a, Báo Cáo Tình Hình Thực Hiện Nghị Quyết Trung ương 4 Khoá 12, Báo Cáo Tổng Kết Tình Hình Thực Hiện Nghị Quyết Trung ương 3 Khóa Viii, Phân Hình Hình ảnh Người Phụ Nữ Trong Tự Tình Thương Vợ, Báo Cáo Tình Hình Trước Trong Và Sau Tết, 8/11/2004 Công An Trong Tình Hình Mói, Dựa Vào Quy Luật Của Các Số Trong Hình A Và Hình B Hãy Điền Số Thích Hợp Vào ô Trống Trong Hình C, Báo Cáo Tình Hình An Ninh Trật Tự Trong Trường Học, Phương Châm Bảo Vệ Tổ Quốc Trong Tình Hình Mới, Chi Tiết Báo Cáo Tình Hình Hoạt Động Trong Năm, Phân Tích Hình ảnh Người Phụ Nữ Trong Tự Tình,

Triển Khai Nghị Quyết Của Đảng Về Công Tác Dân Số Trong Tình Hình Mới / 2023

Triển khai Nghị quyết của Đảng về công tác dân số trong tình hình mới

Việt Nam đã đạt mức sinh thay thế và liên tục giữ vững tổng tỷ suất sinh (số con trung bình của một phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ) ở mức dưới 2,1 con hơn 10 năm qua; góp phần vào sự phát triển kinh tế – xã hội bền vững. Để tiếp tục giữ vững được thành quả của công tác dân số với sự phát triển của đất nước, Nghị quyết số 21-NQ/TW của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XII chỉ rõ một trong những mục tiêu quan trọng của công tác dân số trong tình hình mới là: Duy trì mức sinh thay thế; tiếp tục cuộc vận động mỗi cặp vợ chồng nên có 2 con.

Nghịch lý mức sinh nơi thấp, nơi cao

Nghị quyết đánh giá, sau 25 năm thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ Tư Ban chấp hành Trung ương khoá VII và các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, công tác DS-KHHGĐ đã đạt được nhiều kết quả quan trọng, góp phần to lớn vào công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế – xã hội của đất nước.

Tốc độ gia tăng dân số đã được khống chế thành công, đạt mức sinh thay thế sớm 10 năm so với mục tiêu Nghị quyết đề ra và tiếp tục duy trì cho đến nay, hạn chế tăng thêm hàng chục triệu người. Cơ cấu dân số chuyển dịch tích cực. Dân số trong độ tuổi lao động tăng mạnh. Từ năm 2007, Việt Nam bước vào thời kỳ dân số vàng. Chất lượng dân số được cải thiện nhiều mặt, tuổi thọ trung bình tăng nhanh; tình trạng suy dinh dưỡng, tử vong bà mẹ trẻ em giảm mạnh; tầm vóc thể lực người Việt Nam có bước cải thiện; dịch vụ DS-KHHGĐ được mở rộng, chất lượng ngày càng cao…

Tuy nhiên, Ban chấp hành Trung ương xác định, công tác DS-KHHGĐ vẫn còn nhiều hạn chế. Việt Nam thành công trong duy trì mức sinh thay thế suốt 10 năm qua, nhưng lại không có được kết quả đồng đều giữa các địa phương, nhất là ở các thành phố lớn, phát triển mức sinh thấp và ngược lại ở khu vực vùng miền kém phát triển.

Theo TS Lê Cảnh Nhạc, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục DS-KHHGĐ (Bộ Y tế), mức sinh giữa các vùng còn chênh lệch đáng kể. Khu vực kinh tế xã hội nhiều khó khăn có mức sinh cao, có nơi rất cao. Trong khi ở một số vùng đô thị, kinh tế phát triển, mức sinh đã xuống thấp, có nơi thấp xa so với mức sinh thay thế. Ở khu vực Đông Nam bộ, bình quân mỗi phụ nữ sinh 1,63 con, trong khi đó ở khu vực Trung du và miền núi phía Bắc là 2,69 con. Ở chúng tôi bình quân mỗi phụ nữ sinh 1,45 con, trong khi đó, ở Lai Châu con số này là 3,1 con…

Cán bộ Đảng viên gương mẫu sinh đủ 2 con

Để tiếp tục giữ vững được thành quả của công tác dân số với sự phát triển của đất nước, Nghị quyết số 21-NQ/TW của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XII yêu cầu duy trì vững chắc mức sinh thay thế (bình quân mỗi phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ có 2,1 con), đến năm 2030 quy mô dân số đạt 104 triệu người; giảm 50% chênh lệch mức sinh giữa nông thôn và thành thị, miền núi và đồng bằng; 50% số tỉnh đạt mức sinh thay thế.

TS Lê Cảnh Nhạc cho biết, để duy trì được mức sinh thay thế, đòi hỏi phải có bài toán đặc thù cho sự phát triển bền vững của từng vùng miền cũng như sự phát triển chung của cả nước. “Đối với những nơi mức sinh đang xuống thấp thì cần vận động người dân “sinh đủ 2 con”. Đối với những nơi điều kiện KT-XH còn nhiều khó khăn có mức sinh cao, thậm chí rất cao, vẫn phải tiếp tục vận động giảm sinh để đưa về mức sinh thay thế” – ông nói. Giải pháp này đã và đang được ngành Dân số vận dụng linh hoạt trong thời gian qua, đặc biệt tiếp tục thực hiện trong thời gian tới.

Trong Nghị quyết 21-NQ/TW nhấn mạnh tăng cường sự lãnh đạo của Đảng về công tác dân số. Thống nhất nhận thức của cả hệ thống chính trị và các tầng lớp nhân dân, tạo sự đồng thuận cao trong toàn xã hội về tiếp tục chuyển trọng tâm chính sách từ tập trung vào kế hoạch hóa gia đình sang giải quyết toàn diện các vấn đề quy mô, cơ cấu, chất lượng, phân bố dân số trong mối quan hệ với phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh.

Chính vì vậy, Nghị quyết đề cao tính tiên phong, gương mẫu của mỗi cán bộ, đảng viên trong việc thực hiện chủ trương, chính sách về công tác dân số, nhất là sinh đủ 2 con, chú trọng nuôi dạy con tốt, gia đình hạnh phúc, tạo sức lan toả sâu rộng trong toàn xã hội.

Ban chấp hành Trung ương yêu cầu tiếp tục thực hiện cuộc vận động mỗi cặp vợ chồng nên có 2 con, bảo đảm quyền và trách nhiệm trong việc sinh con và nuôi dạy con tốt. Tập trung vận động sinh ít con hơn ở vùng, đối tượng có mức sinh cao; duy trì kết quả ở những nơi đã đạt mức sinh thay thế; sinh đủ 2 con ở những nơi có mức sinh thấp.

Nghị quyết 21 cũng yêu cầu rà soát, điều chỉnh hoặc bãi bỏ một số quy định về xử lý vi phạm trong công tác dân số; đồng thời đề cao tính gương mẫu của cán bộ, đảng viên trong việc thực hiện chính sách dân số, xây dựng gia đình văn hoá, hạnh phúc.

Rà soát, bổ sung các quy định của pháp luật về nghiêm cấm lựa chọn giới tính thai nhi. Ngăn ngừa có hiệu quả việc lạm dụng khoa học – công nghệ để lựa chọn giới tính thai nhi. Đẩy mạnh công tác bình đẳng giới, vì sự tiến bộ của phụ nữ.

Duy trì mức sinh thay thế – giải pháp hữu hiệu

Xét trên bức tranh toàn cảnh, hơn 50 năm qua, tổng tỷ suất sinh của Việt Nam liên tục giảm, từ 6,39 con (năm 1960) xuống còn 2,09 con năm 2006 (dưới mức sinh thay thế, được các nhà khoa học tính toán là 2,1 con – số con đủ thay thế cho người mẹ trong suốt cuộc đời họ).

Liên tục từ đó đến nay, chúng ta luôn ở dưới mức sinh thay thế. Chỉ tính riêng trong hơn 20 năm qua, theo các nhà khoa học, chúng ta đã tránh sinh được 20,8 triệu trường hợp. Điều đó có ý nghĩa hết sức to lớn đối với sự phát triển kinh tế – xã hội nói chung, nâng cao mức thu nhập bình quân đầu người, nâng cao các chỉ số sức khỏe, chất lượng cuộc sống của người dân Việt Nam.

Hiện nay, khi Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long đang đối mặt với mức sinh thấp (thậm chí rất thấp) thì những tỉnh miền núi phía Bắc, miền Trung và Tây Nguyên, tỷ suất sinh còn rất cao và đang phải “oằn mình” kiên trì giảm sinh. Nếu tỷ suất sinh thô cả nước hiện là 16 – 17%o thì tỷ suất sinh ở các tỉnh này lên đến gần 30%o. Nhiều tỉnh như: Hà Giang, Lai Châu, Hà Tĩnh, Đắk Lắk… có tổng tỷ suất sinh ở mức trên, dưới 3 con. Thậm chí có những nơi, người dân sinh tới 6 – 7 người con. Cả nước có 18 tỉnh có mức sinh dưới 2,0 con, chủ yếu nằm ở các tỉnh thuộc khu vực Đông Nam Bộ, đồng bằng sông Cửu Long và đồng bằng sông Hồng; 19 tỉnh có mức sinh từ 2,5 con trở lên, chủ yếu nằm ở khu vực Trung du và miền núi phía Bắc, Bắc Trung bộ và Duyên hải miền Trung.

Chính vì vậy, việc duy trì mức sinh thay thế là giải pháp hữu hiệu nhất, giúp chúng ta có được quy mô và cơ cấu dân số hài hòa nhất, vì sự phát triển bền vững của đất nước.

Những Điểm Mới Về Công Tác Dân Số Trong Tình Hình Mới / 2023

Tại buổi tọa đàm về Nghị quyết số 20-NQ/TW và Nghị quyết số 21-NQ/TW trên sóng Đài tiếng nói Việt Nam, Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến cho biết, điểm mới đáng chú ý đầu tiên về công tác dân số trong tình hình mới chính là việc chuyển trọng tâm chính sách dân số từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển, giải quyết toàn diện, đồng bộ các vấn đề dân số về quy mô, cơ cấu, phân bố chất lượng dân số và đặt trong mối quan hệ tác động qua lại với phát triển kinh tế, xã hội.

Bên cạnh đó, Nghị quyết đặt ra vấn đề duy trì vững chắc mức sinh thay thế vì nó có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao chất lượng dân số. Nước ta đã khống chế thành công tốc độ gia tăng dân số, đạt mức sinh thay thế sớm 10 năm so với mục tiêu Nghị quyết đề ra và tiếp tục duy trì cho đến nay, hạn chế tăng thêm hàng chục triệu người. Dân số trong độ tuổi lao động tăng mạnh và nước ta đang ở trong thời kỳ dân số vàng, một cơ hội hiếm có để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế- xã hội. Do đó, việc duy trì vững chắc mức sinh thay thế (bình quân mỗi phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ có 2,1 con), quy mô dân số 104 triệu người vào năm 2030 đã được Ban chấp hành trung ương đề ra như là mục tiêu cụ thể đầu tiên, quan trọng trong công tác dân số.

Với quan điểm đầu tư cho công tác dân số là đầu tư cho phát triển, Nghị quyết Hội nghị lần thứ sáu Ban chấp hành Trung ương khóa XII cũng nêu quan điểm, Nhà nước ưu tiên bố trí ngân sách, đồng thời đẩy mạnh xã hội hóa; tranh thủ sự hỗ trợ của quốc tế bảo đảm nguồn lực cho công tác dân số.

Những điểm mới về biện pháp thực hiện Nghị quyết dân số mới nêu rõ cần duy trì mức chắc mức sinh thay thế.

Đề caosự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền các cấp: Đưa công tác dân số, đặc biệt là nâng cao chất lượng dân số thành một nội dung trọng tâm trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền các cấp. Đề cao tính tiên phong, gương mẫu của mỗi cán bộ, đảng viên trong việc thực hiện chủ trương, chính sách về công tác dân số, nhất là sinh đủ 2 con, chú trọng nuôi dạy con tốt, gia đình hạnh phúc, tạo sức lan tỏa sâu rộng trong toàn xã hội…

Đổi mới về nội dung tuyên truyền: Nghị quyết số 21-NQ/TW nêu rõ nội dung truyền thông, giáo dục phải chuyển mạnh sang chính sách dân số và phát triển nhưng vẫn tiếp tục thực hiện cuộc vận động mỗi cặp vợ chồng nên có 2 con, tập trung vận động sinh ít con hơn ở vùng, đối tượng có mức sinh cao; duy trì kết quả ở những nơi đã đạt mức sinh thay thế; sinh đủ 2 con ở những nơi có mức sinh thấp; đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động, khơi dậy phong trào mọi người dân thường xuyên luyện tập thể dục, thể thao, có lối sống lành mạnh, chế độ dinh dưỡng hợp lý để nâng cao sức khỏe tầm vóc, thể lực người Việt Nam. Nâng cao nhận thức, thực hiện nghiêm các quy định của pháp luật về cư trú, về cấm tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống. Đổi mới toàn diện nội dung, chương trình, phương pháp giáo dục dân số, sức khỏe sinh sản trong và ngoài nhà trường. Hình thành kiến thức và kỹ năng về dân số, sức khỏe sinh sản đúng đắn, có hệ thống ở thế hệ trẻ.

Đổi mới nội dung tập huấn cho cán bộ dân số: Đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao năng lực, thực hiện chuẩn hóa đội ngũ cán bộ dân số các cấp, các ngành đáp ứng yêu cầu chuyển hướng sang chính sách dân số và phát triển. Đưa nội dung dân số và phát triển vào chương trình đào tạo, tập huấn, nghiên cứu khoa học. Đẩy mạnh cải cách hành chính, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, cung cấp dịch vụ, tạo thuận lợi cho người dân…

Ban hành Chiến lược dân số trong tình hình mới, phát huy tối đa lợi thế cơ cấu dân số vàng, tạo động lực mạnh mẽ cho sự phát triển đất nước nhanh, bền vững và thích ứng với già hóa dân số.

Bảo Châu

Nâng cao chất lượng dịch vụ về dân số: Phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động của mạng lưới cung cấp dịch vụ dân số toàn diện về quy mô, cơ cấu, chất lượng và phân bố dân số.Tiếp tục củng cố mạng lưới dịch vụ kế hoạch hóa gia đình và thực hiện các biện pháp sàng lọc trước sinh, sơ sinh, phát triển mạnh hệ thống chuyên ngành lão khoa trong các cơ sở y tế…

Các Vấn Đề Đặt Ra Từ Nghị Quyết 21 Về Công Tác Dân Số Trong Tình Hình Mới / 2023

Hội nghị lần thứ 6 Ban chấp hành Trung ương khóa XII đã ban hành Nghị quyết số 21-NQ/TW về công tác dân số trong tình hình mới. Nghị quyết nêu 5 quan điểm làm nền tảng cho công tác dân số hiện nay, đặc biệt là chỉ rõ phương hướng: “Tiếp tục chuyển trọng tâm chính sách dân số từ kế hoạch hoá gia đình sang dân số và phát triển. Công tác dân số phải chú trọng toàn diện các mặt quy mô, cơ cấu, phân bố, đặc biệt là chất lượng dân số và đặt trong mối quan hệ hữu cơ với các yếu tố kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh và bảo đảm phát triển nhanh, bền vững”.

Nghị quyết đã cụ thể hóa việc chuyển “trọng tâm” này thông qua việc đề ra 6 nhóm mục tiêu, bao gồm 23 chỉ tiêu nhằm tận dụng cơ hội và vượt qua thách thức do tình hình dân số mang lại.

Đánh giá về việc chuyển “trọng tâm” này, Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến nhấn mạnh, ngành Dân số đã bước sang một trang mới. Còn theo ông Nguyễn Doãn Tú, Tổng cục trưởng Tổng cục Dân số (Bộ Y tế), đây là chủ trương lớn của Đảng đối với công tác dân số của nước nhà.

Cơ hội và thách thức trong thực hiện 6 nhóm mục tiêu do Nghị quyết số 21-NQ/TW đề ra

Duy trì mức sinh thay thế: Thách thức hiện nay là mức sinh giữa các khu vực, các vùng chênh lệch khá lớn. Vì vậy, Đảng chủ trương “tập trung vận động sinh ít con hơn ở vùng, đối tượng có mức sinh cao; duy trì kết quả ở những nơi đã đạt mức sinh thay thế; sinh đủ 2 con ở những nơi có mức sinh thấp”.

Do đó, việc xây dựng các giải pháp phù hợp với từng vùng, từng tỉnh sao cho vừa đảm bảo duy trì vững chắc mức sinh thay thế, vừa tiến tới đồng đều về mức sinh trên phạm vi cả nước là yêu cầu đồng thời là thách thức lớn của công tác dân số hiện nay.

Đưa tỉ số giới tính khi sinh về mức cân bằng tự nhiên: Ở Việt Nam, mất cân bằng giới tính khi sinh được ghi nhận vào năm 2006, khi trong số trẻ em sinh ra trong năm, cứ 100 bé gái thì tương ứng có tới 110 bé trai. Sự mất cân bằng này đang tăng lên và đã ở mức nghiêm trọng. Năm 2018 là 115,1 bé trai/100 bé gái.

Nếu xu hướng mất cân bằng giới tính khi sinh tiếp tục diễn ra, đến giữa thế kỷ XXI, dân số Việt Nam trong độ tuổi trưởng thành, nam giới sẽ nhiều hơn nữ khoảng 2,3-4,3 triệu người.

Tuy nhiên, tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh hiện nay mới chỉ tập trung ở một số khu vực, điển hình là vùng đồng bằng Sông Hồng. Điều này đã được Đảng, Nhà nước quan tâm, chú ý đề cập trong chính sách, pháp luật để điều chỉnh.

Theo đó, việc xóa bỏ tâm lý, tập quán muốn có con trai “nối dõi tông đường”, kiểm soát việc lạm dụng kỹ thuật và công nghệ hỗ trợ lựa chọn giới tính thai nhi là việc làm khó, không thể thay đổi trong “một sớm, một chiều”, đòi hỏi đồng bộ nhiều giải pháp trước mắt và lâu dài; sự nỗ lực kiên trì, liên tục và mạnh mẽ của toàn xã hội.

Tận dụng hiệu quả cơ cấu “dân số vàng”: Một quốc gia có cơ cấu “dân số vàng” khi tỉ lệ những người trong độ tuổi từ 15-64 chiếm 66% trở lên. Việt Nam chính thức bước vào thời kỳ này năm 2007, đến nay tỉ lệ này xấp xỉ 70%. “Mỏ vàng không khai thác thì còn, cơ cấu “dân số vàng” không khai thác thì sẽ mất (vào khoảng năm 2040). Vì vậy, cần tích cực tận dụng cơ hội này để phát triển nhanh và bền vững đất nước” – ông Nguyễn Doãn Tú nhấn mạnh.

Thích ứng hóa với già dân số: Năm 2011, dân số 60 tuổi trở lên của nước ta là 10%, nghĩa là Việt Nam đã chính thức bước vào quá trình già hóa. Theo dự báo, Việt Nam sẽ có dân số già vào năm 2035, khi tỉ lệ này tăng lên tới 20% với khoảng 21 triệu người cao tuổi. Vì vậy, thích ứng với già hóa dân số là một thách thức lớn hiện nay, nhất là trong điều kiện Việt Nam già hóa nhanh.

Phân bổ dân số hợp lý và quản lý dân cư: Công nghiệp hóa và kinh tế thị trường đang thúc đẩy di cư diễn ra ngày càng mạnh mẽ. Từ năm 2004-2009, đã có gần 7 triệu người di cư, tăng 50% so với giai đoạn 1994-1999, góp phần làm tăng tỉ lệ dân đô thị trong khoảng 15 năm trở lại đây và đẩy mạnh xu hướng tập trung dân số vào một số thành phố, vùng lãnh thổ.

Cùng với việc điều hòa để phân bố dân số hợp lý trên phương diện kinh tế – xã hội, an ninh – quốc phòng, những biến đổi dân số mạnh mẽ, nhanh chóng cũng đặt ra yêu cầu và thách thức khi xây dựng hệ thống thông tin quản lý dân cư phù hợp, linh hoạt, cập nhật và chính xác.

Việt Nam chưa lọt được vào top 100 nước phát triển nhất, chưa rút ngắn được khoảng cách so với các nước trên thế giới. Trong đó, năng suất lao động vẫn là thành tố yếu nhất khi nói đến chất lượng dân số. Điều này cho thấy những thách thức lớn lao trong việc đạt được mục tiêu “nâng cao chất lượng dân số”.

Đầu tư cho công tác dân số là đầu tư cho con người và phát triển

Lịch sử cho thấy, công tác dân số là công tác vừa có tính cấp bách vừa là chiến lược, lâu dài. Đầu tư cho công tác dân số là đầu tư cho con người, đầu tư cho phát triển.

Điều đáng lo ngại nhất là chất lượng dân số nước ta cả về mặt thể lực chất lượng nguồn nhân lực còn thấp. Việt Nam đã bước vào giai đoạn cơ cấu “dân số vàng” 12 năm nay, nhưng vẫn chưa tận dụng được hết lợi thế của nó.

Bên cạnh đó là những thách thức về chất lượng dân số, về tỉ số giới tính khi sinh, về an sinh xã hội cho người cao tuổi… Lo ngại lớn hơn nữa là bộ máy tổ chức đang thiếu ổn định, nguồn lực cho công tác dân số bị cắt giảm…

Thẳng thắn nhìn nhận, Tổng cục trưởng Nguyễn Doãn Tú cho rằng những khó khăn đó đang “hiện thực hoá” thực trạng mà Nghị quyết 21 đã chỉ rõ; đồng thời làm tăng thêm lo lắng về việc làm thế nào để triển khai thành công Nghị quyết 21 khi còn quá nhiều khó khăn nêu trên.

Nghị quyết 21 nhấn mạnh tiếp tục chuyển trọng tâm chính sách dân số từ DS-KHHGĐ sang Dân số và Phát triển. Tuy nhiên, cần phải nhận thức rõ rằng, chuyển trọng tâm công tác dân số từ KHHGĐ sang Dân số và Phát triển không có nghĩa là xem nhẹ công tác KHHGĐ mà đây vẫn là nội dung hết sức quan trọng.

Do đó, trong thời gian tới, bên cạnh việc phát triển toàn diện, ngành Dân số vẫn tập trung đẩy mạnh tư vấn và cung ứng dịch vụ DS/SKSS/KHHGĐ, đặc biệt là cho người dân ở vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn.

Nhiệm vụ giảm sinh đã đạt được mục tiêu nhưng vẫn phải liên tục duy trì. Giai đoạn tiếp theo công tác dân số phải triển khai đồng loạt các vấn đề khác. Trước những vấn đề mới, thách thức mới, công tác truyền thông vận động xã hội có một vai trò rất lớn. Công tác dân số từ trước đến nay và sau này vẫn là cuộc vận động xã hội rộng lớn, nếu không có sự tham gia của cả hệ thống chính trị thì không thể thành công.

T.Nguyên