Nghị Quyết Hướng Dẫn Về Xóa Án Tích / TOP #10 ❤️ Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 10/2022 ❣️ Top View | Bac.edu.vn

Hướng Dẫn Trình Tự, Thủ Tục Xóa Án Tích ? Hồ Sơ Xin Xóa Án Tích ?

Chế Định Xóa Án Tích Trong Luật Hình Sự, Vướng Mắc Và Kiến Nghị

Vướng Mắc Trong Thực Tiễn Áp Dụng Quy Định Về Xóa Án Tích

Bài Thu Hoạch Nghị Quyết Trung Ương 8 Khóa 12 Dành Cho Đảng Viên

Bài Thu Hoạch Nghị Quyết Trung Ương 8 Khoá 12

Mẫu Bài Thu Hoạch Nghị Quyết Trung Ương 8 Khóa 12 Của Đảng, Giáo Viên

Trình thực, thủ tục và quy trình xin xóa án tích được xem như một thủ tục bắt buộc đối với người phạm tội khi chấp hành xong hình phạt tù. Vậy, thực hiện thủ tục này như thế nào trên thực tiễn ? Luật sư tư vấn và giải đáp cụ thể:

1. Hướng dẫn trình tự, thủ tục xóa án tích ?

Thưa luật sư, xin Luật sư cho em hỏi:

1. Trường hợp đương nhiên được xóa án tích thì có cần xin giấy chứng nhận được xóa án tích hay không ?

2. Xin giấy chứng nhận xóa án tích thì cần những thủ tục như thế nào theo quy định của pháp luật ?

3. Xin giấy chứng nhận xóa án tích thì mất bao nhiêu tiền phí theo quy định của pháp luật ạ ?

Cảm ơn và mong nhận được sự tư vấn.

Căn cứ theo quy định tại Bộ luật hình sự năm 2022 sửa đổi 2022 thì:

Trường hợp đương nhiên được xóa án tích thì bạn không bắt buộc phải xin giấy chứng nhận được xóa án tích. Nhưng nếu bạn có nhu cầu ra nước ngoài hoặc đi làm việc thì bạn bắt buộc phải có giấy chứng được nhận xóa án tích này.

Hồ sơ về trường hợp đương nhiên được xóa án tích gồm:

– Đơn xin xóa án tích (theo mẫu).

– Giấy chứng nhận chấp hành xong hình phạt tù của trại giam nơi thụ hình án cấp

– Giấy xác nhận của cơ quan thi hành án dân sự về việc thi hành xong các khỏan bồi thường, án phí, tiền phạt;

– Giấy chứng nhận không phạm tội mới do Công an Quận, Huyện nơi người bị kết án thường trú cấp (theo mẫu quy định của ngành Công an)

– Bản sao hộ khẩu;

– Bản sao chứng minh nhân dân.

Theo đó, thẩm quyền để xét đơn xóa án tích :

– Tòa án đã xét xử sơ thẩm là Tòa án có thẩm quyền xem xét cấp giấy chứng nhận xóa án tích, hoặc ra Quyết định xóa án tích.

– Người xin xóa án tích nộp hồ sơ xin xóa án tích tại Tòa án đã xét xử sơ thẩm (có thể nộp trực tiếp hoặc gửi qua đường Bưu điện).

– Người xin xóa án tích không phải nộp bất cứ khoản tiền lệ phí Tòa án nào (trừ trường hợp xin sao quyết định xóa án tích hoặc giấy chứng nhận xóa án tích).

2. Đến đâu để đăng ký xóa án tích ?

Kính gửi công ty Luật Minh Khuê. Bố em, cách đây khoảng 20 năm, bố bị đi tù 3 năm, bố đã thụ án xong và đóng đầy đủ tất cả các khoản chi phí cho tòa. Nhưng vì gia đình em hồi đó chưa có sự hiểu biết rộng về luật pháp nên không biết đến được xóa án tích cho trường hợp của bố. Anh chị giải đáp giúp gia đình em một vài câu hỏi:

1) Bố em muốn làm đơn xóa án tích bi giờ có còn được không? khi xóa án tích xong có được công nhận là người chưa từng có tiền án không? Thủ tục xóa án tích bố cần phải có những gì?

2) Em trai của em năm nay 18 tuổi. Sau khi học xong bố mẹ em muốn định hướng cho em trai làm ngành công an. Vậy, nếu như bố xóa được án tích rồi em trai em có bị ảnh hưởng gì trong việc xét lý lịch gia đình không?

3) Em là sinh viên cao đẳng của một trường đại học Hà Nội. Em đọc báo thấy có ưu tiên chọn cử nhân đại học, cao đẳng thực hiện nghĩa vụ công an. Vậy, sau khi em học xong liệu có quy định độ tuổi cho người học cao đẳng không(em học muộn 2 năm)? Em có thể tham gia nghĩa vụ công an và sau này trở thành công an nếu như việc xóa án tích của bố không bị ảnh hưởng không?

4) Chúng em sau này muốn kết nạp Đảng có được không? Mong anh chị giải đáp thắc mắc giúp gia đình em ?

Xin chúc anh chị lời chúc sức khỏe, hạnh phúc, xin kính chúc công ty ngày càng phát triển và thành đạt. Em xin chân thành cảm ơn!

Bộ luật hình sự 2022 sửa đổi 2022

Điều 70. Đương nhiên được xóa án tích

1. Đương nhiên được xóa án tích được áp dụng đối với người bị kết án không phải về các tội quy định tại Chương XIII và Chương XXVI của Bộ luật này khi họ đã chấp hành xong hình phạt chính, thời gian thử thách án treo hoặc hết thời hiệu thi hành bản án và đáp ứng các điều kiện quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này.

2. Người bị kết án đương nhiên được xóa án tích, nếu từ khi chấp hành xong hình phạt chính hoặc hết thời gian thử thách án treo, người đó đã chấp hành xong hình phạt bổ sung, các quyết định khác của bản án và không thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời hạn sau đây:

a) 01 năm trong trường hợp bị phạt cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ, phạt tù nhưng được hưởng án treo;

b) 02 năm trong trong trường hợp bị phạt tù đến 05 năm;

c) 03 năm trong trường hợp bị phạt tù từ trên 05 năm đến 15 năm;

d) 05 năm trong trường hợp bị phạt tù từ trên 15 năm, tù chung thân hoặc tử hình nhưng đã được giảm án.

Trường hợp người bị kết án đang chấp hành hình phạt bổ sung là quản chế, cấm cư trú, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định, tước một số quyền công dân mà thời hạn phải chấp hành dài hơn thời hạn quy định tại các điểm a, b và c khoản này thì thời hạn đương nhiên được xóa án tích sẽ hết vào thời điểm người đó chấp hành xong hình phạt bổ sung.

3. Người bị kết án đương nhiên được xóa án tích, nếu từ khi hết thời hiệu thi hành bản án, người đó không thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời hạn quy định tại khoản 2 Điều này.

4. Cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp có trách nhiệm cập nhật thông tin về tình hình án tích của người bị kết án và khi có yêu cầu thì cấp phiếu lý lịch tư pháp xác nhận không có án tích, nếu có đủ điều kiện quy định tại khoản 2 hoặc khoản 3 Điều này.

Thứ nhất, bố bạn muốn làm đơn xóa án tích bây giờ có còn được không? khi xóa án tích xong có được công nhận là người chưa từng có tiền án không? Thủ tục xóa án tích bố cần phải có những gì?

Theo thông tin bạn cung cấp cho chúng tôi bố bạn phạm tội cách đây đã 20 năm tuy nhiên bạn không nêu rõ là bố bạn đã phạm tội gì nên có 2 trường hợp xảy ra như sau:

Trường hợp 1: Bố bạn bị phạt tù 3 năm nhưng tội mà bố bạn phạm phải không thuộc các tội quy định tại chương XI và chương XIV ( tức là các tội về xâm phạm an ninh quốc gia và các tội xâm phạm về sở hữu) thì sẽ đương nhiên được xóa án tích nếu trong 3 năm bố bạn không phạm tội mới.

Trường hợp 2: Trong trường hợp bố bạn bị phạt tù 3 năm nhưng tội mà bố bạn phạm phải thuộc một trong các tội được quy định ở chương XI và chương XIV thì trong 3 năm bố bạn không phạm tội mới kể từ khi chấp hành xong hình phạt tù thì trong trường hợp này bố bạn phải làm đơn xin xóa án tích. Khi xóa án tích xong bố bạn sẽ được coi như chưa bị kết án và được Tòa án cấp giấy chứng nhận.

Thủ tục xóa án tích: Trong trường hợp bố bạn cần cấp giấy chứng nhận xóa án tích thì làm đơn, kèm các tài liệu như giấy chứng nhận chấp hành xong hình phạt tù của trại giam nơi thụ hình án cấp, giấy xác nhận của thi hành án dân sự về việc thi hành xong các khoản bồi thường, án phí, tiền phạt, giấy chứng nhận không phạm tội mới do công an quận, huyện nơi người bị kết án thường trú cấp, bản sao hộ khẩu, bản sao chứng minh nhân dân. Hồ sơ gửi đến chánh án tòa án đã xử sơ thẩm vụ án để đề nghị cấp giấy chứng nhận được xóa án tích.

Điều 4. Đối tượng tuyển chọn và thời gian phục vụ

1. Công dân nam trong độ tuổi gọi nhập ngũ đã đăng ký nghĩa vụ quân sự theo quy định của Luật Nghĩa vụ quân sự năm 2022. Công dân nữ trong độ tuổi gọi nhập ngũ đã đăng ký nghĩa vụ quân sự theo quy định của Luật nghĩa vụ quân sự năm 2022, có trình độ chuyên môn phù hợp với yêu cầu của Công an nhân dân, nếu tự nguyện và Công an nhân dân có nhu cầu thì được xem xét, tuyển chọn thực hiện nghĩa vụ tham gia Công an nhân dân.

2. Bộ trưởng Bộ Công an quy định cụ thể độ tuổi tuyển chọn công dân thực hiện nghĩa vụ tham gia Công an nhân dân phù hợp với tính chất, đặc điểm của từng đơn vị sử dụng và quy định ngành nghề cần thiết để tuyển chọn công dân nữ thực hiện nghĩa vụ tham gia Công an nhân dân phù hợp với nhu cầu sử dụng trong từng thời kỳ.

3. Thời hạn thực hiện nghĩa vụ tham gia Công an nhân dân là 24 tháng. Bộ trưởng Bộ Công an quyết định kéo dài thời hạn phục vụ tại ngũ của hạ sĩ quan, chiến sĩ nghĩa vụ nhưng không quá 06 tháng trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 8 Luật Công an nhân dân năm 2022.

Thời gian thực hiện nghĩa vụ được tính từ ngày giao nhận công dân; trong trường hợp không giao nhận tập trung thì tính từ ngày đơn vị Công an nhân dân tiếp nhận đến khi được cấp có thẩm quyền quyết định xuất ngũ. Thời gian đào ngũ, thời gian chấp hành hình phạt tù không được tính vào thời gian thực hiện nghĩa vụ tham gia Công an nhân dân.

3. Thời hạn đương nhiên được xóa án tích ?

Thưa Luật sư. Tôi có người em bị kết án 18 tháng tù giam về tội bắt giữ người trái pháp luật. Đến nay đã chấp hành xong. Vậy em tôi cần khoảng thời gian bao nhiêu lâu mới được xoá án tích ?

Tôi xin cảm ơn!

Điều 70. Đương nhiên được xóa án tích

1. Đương nhiên được xóa án tích được áp dụng đối với người bị kết án không phải về các tội quy định tại Chương XIII và Chương XXVI của Bộ luật này khi họ đã chấp hành xong hình phạt chính, thời gian thử thách án treo hoặc hết thời hiệu thi hành bản án và đáp ứng các điều kiện quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này.

2. Người bị kết án đương nhiên được xóa án tích, nếu từ khi chấp hành xong hình phạt chính hoặc hết thời gian thử thách án treo, người đó đã chấp hành xong hình phạt bổ sung, các quyết định khác của bản án và không thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời hạn sau đây:

a) 01 năm trong trường hợp bị phạt cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ, phạt tù nhưng được hưởng án treo;

b) 02 năm trong trong trường hợp bị phạt tù đến 05 năm;

c) 03 năm trong trường hợp bị phạt tù từ trên 05 năm đến 15 năm;

d) 05 năm trong trường hợp bị phạt tù từ trên 15 năm, tù chung thân hoặc tử hình nhưng đã được giảm án.

Trường hợp người bị kết án đang chấp hành hình phạt bổ sung là quản chế, cấm cư trú, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định, tước một số quyền công dân mà thời hạn phải chấp hành dài hơn thời hạn quy định tại các điểm a, b và c khoản này thì thời hạn đương nhiên được xóa án tích sẽ hết vào thời điểm người đó chấp hành xong hình phạt bổ sung.

3. Người bị kết án đương nhiên được xóa án tích, nếu từ khi hết thời hiệu thi hành bản án, người đó không thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời hạn quy định tại khoản 2 Điều này.

4. Cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp có trách nhiệm cập nhật thông tin về tình hình án tích của người bị kết án và khi có yêu cầu thì cấp phiếu lý lịch tư pháp xác nhận không có án tích, nếu có đủ điều kiện quy định tại khoản 2 hoặc khoản 3 Điều này.

Theo đó, cách tính thời hạn xóa án tích được quy định cụ thể tại Điều 67 Bộ luật hình sự năm 1999 ( sửa đổi, bổ sung năm 2009 ) Người bị kết án đương nhiên được xóa án tích, nếu từ khi chấp hành xong hình phạt chính hoặc hết thời gian thử thách án treo, người đó đã chấp hành xong hình phạt bổ sung, các quyết định khác của bản án và không thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời hạn :01 năm trong trường hợp bị phạt cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ, phạt tù nhưng được hưởng án treo;02 năm trong trong trường hợp bị phạt tù đến 05 năm;03 năm trong trường hợp bị phạt tù từ trên 05 năm đến 15 năm;05 năm trong trường hợp bị phạt tù từ trên 15 năm, tù chung thân hoặc tử hình nhưng đã được giảm án.

Trường hợp người bị kết án đang chấp hành hình phạt bổ sung là quản chế, cấm cư trú, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định, tước một số quyền công dân mà thời hạn phải chấp hành dài hơn thời hạn quy định tại các điểm a, b và c khoản này thì thời hạn đương nhiên được xóa án tích sẽ hết vào thời điểm người đó chấp hành xong hình phạt bổ sung.Như vậy, trong thời hạn 3 năm kể từ khi chấp hành xong bản án bao gồm việc chấp hành xong hình phạt chính, hình phạt bổ sung và các quyết định khác mà em bạn không phạm tội mới sẽ được đương nhiên xóa án tích.

4. Cần làm gì để được xóa án tích ?

Kính gửi Công ty Luật Minh Khuê! Tôi có một người bạn trước đây được hưởng án treo. Đến ngày 15/09/2015 vừa qua đã hết thời gian thi hành án cũng như thời gian thử thách, trong thời hạn từ lúc bản án có hiệu lực đến nay bạn tôi không phạm thêm tội mới nào, qua các bài viết trên mạng của Công ty Luật Minh Khuê, tôi được biết bạn tôi thuộc trường hợp Đương nhiên được xóa án tích.

Vậy Luật Minh Khuê cho tôi hỏi, khi bạn tôi thuộc trường hợp đương nhiên được xóa án tích mà không cần xin Giấy chứng nhận đã được xóa án tích thì cần làm gì để được xóa án tích? TAND sơ thẩm có tự động tiến hành xóa án tích hay không?

Theo quy định của Bộ Luật Hình sự 2022 sửa đổi 2022. Nếu bạn của bạn đủ điều kiện theo điều 70 Bộ luật hình sự thì sẽ đương nhiên được xóa án tích. Giấy chứng nhận đã được xóa án tích là cơ sở pháp lý để người đã từng bị kết án hòa nhập với cộng đồng, thực hiện các công việc như xin việc làm, kinh doanh, đi học…và giấy này được cấp theo yêu cầu của người đó.

Khi người bị kết án đương nhiên xóa án tích, nếu cần cấp giấy chứng nhận xóa án tích thì cần chuẩn bị hồ sơ bao gồm:

– Đơn xin xóa án tích (theo mẫu).

– Giấy chứng nhận chấp hành xong hình phạt tù của trại giam nơi thụ hình án cấp

– Giấy xác nhận của cơ quan thi hành án dân sự về việc thi hành xong các khỏan bồi thường, án phí, tiền phạt;

– Giấy chứng nhận không phạm tội mới do Công an Quận, Huyện nơi người bị kết án thường trú cấp (theo mẫu quy định của ngành Công an)

– Bản sao hộ khẩu; bản sao chứng minh nhân dân.

– Người xin xóa án tích nộp hồ sơ xin xóa án tích tại Tòa án đã xét xử sơ thẩm (có thể nộp trực tiếp hoặc gửi qua đường Bưu điện).

– Người xin xóa án tích không phải nộp bất cứ khoản tiền lệ phí Tòa án nào (trừ trường hợp xin sao quyết định xóa án tích hoặc giấy chứng nhận xóa án tích).

Tòa án đã xét xử sơ thẩm xem xét cấp giấy chứng nhận xóa án tích, hoặc ra Quyết định xóa án tích.

(Việc thực hiện các thủ tục xóa án tích tại các cơ quan Tòa án không phải là cách duy nhất để có được loại giấy tờ chứng minh người bị kết án đã được xóa án tích. Công dân có thể xin cấp Phiếu Lý lịch tư pháp tại các cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp theo quy định tại Luật Lý lịch tư pháp và các văn bản hướng dẫn thi hành. Phiếu Lý lịch tư pháp được cấp, trong đó có ghi “Không có án tích”, nếu thuộc các trường hợp đương nhiên xóa án tích và đã có đủ điều kiện đương nhiên xóa án tích theo quy định, cũng sẽ là một loại giấy tờ chứng minh người có án đã được xóa án tích.)

4. Cách viết đơn xin bảo lĩnh cho bị can, bị cáo được áp dụng biện pháp tại ngoại viết như thế nào ?

Cho tôi hỏi cách viết đơn xin bảo lĩnh cho bị can, bị cáo được áp dụng biện pháp tại ngoại trong quá trình điều tra thì viết như thế nào? xin cám ơn.

Trả lời:

Bạn có thể tham khảo theo mẫu sau:

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

……….., ngày ……tháng……..năm…….

ĐƠN XIN BẢO LĨNH CHO BỊ CAN ĐANG BỊ GIAM GIỮ

ĐƯỢC ÁP DỤNG BIỆN PHÁP TẠI NGOẠI

Chúng tôi là (quan hệ) với ….. (tên người bị bắt, ngày tháng năm sinh)

Nay gia đình tôi làm đơn này kính gửi tới Cơ quan điều tra xin được bảo lĩnh cho …. được thay đổi biện pháp ngăn chặn từ Tạm giam sang hình thức Tại ngoại vì một số lý do sau:

Trình bày một số lý do: Nhân thân, sức khỏe, vi phạm lần đầu hay không, là lao động chính….

Gia đình/Tổ chức chúng tôi xin cam kết sau khi ….được tại ngoại sẽ:

– Cam đoan không cho …đi khỏi nơi cư trú: Giám sát, quản lý mọi hành vi, sinh hoạt của …; Thường xuyên nhắc nhở, giáo dục …hiểu biết pháp luật và khai báo thành khẩn.; Đảm bảo ……sẽ có mặt theo đúng thời gian, địa điểm ghi tron giấy triệu tập mà các cơ quan chức năng ấn định, chấp hành đầy đủ những quy định về tố tụng pháp luật.

Gia đình/Tổ chức chúng tôi cũng xin cam kết với cơ quan công an là sẽ quản lý, giám sát cháu Phượng thường xuyên. Nếu sai chúng tôi xin chịu mọi trách nhiệm kỷ luật trong Quân đội nhân dân Việt Nam và trách nhiệm trước pháp luật.

Xin chân thành cảm ơn sự quan tâm, giúp đỡ.

Gia đình ký (Cơ quan, tổ chức bảo lĩnh)

Bộ phận Tư vấn pháp luật hình sự – Công ty luật Minh Khuê

Một Số Kiến Nghị Hoàn Thiện Quy Định Về Xóa Án Tích

Quyết Định / Nghị Quyết Của Hội Đồng Quản Trị Trong Công Ty Cổ Phần

Mẫu Nghị Quyết Hội Đồng Quản Trị Công Ty Cổ Phần Năm 2022

Một Số Điểm Mới Của Nghị Quyết 02/2018/nq

Mẫu Sổ Nghị Quyết Hội Đồng Trường

Một Số Kiến Nghị Hoàn Thiện Quy Định Về Xóa Án Tích

Hướng Dẫn Trình Tự, Thủ Tục Xóa Án Tích ? Hồ Sơ Xin Xóa Án Tích ?

Chế Định Xóa Án Tích Trong Luật Hình Sự, Vướng Mắc Và Kiến Nghị

Vướng Mắc Trong Thực Tiễn Áp Dụng Quy Định Về Xóa Án Tích

Bài Thu Hoạch Nghị Quyết Trung Ương 8 Khóa 12 Dành Cho Đảng Viên

Bài Thu Hoạch Nghị Quyết Trung Ương 8 Khoá 12

Xóa án tích là một quy định thể hiện tính nhân văn của Nhà nước đối với những người đã bị kết án hình sự, tạo điều kiện cho họ làm lại cuộc đời, giúp họ hòa nhập với cộng đồng, thay đổi bản thân để cống hiến cho xã hội. BLHS năm 2022 đã có nhiều quy định mới, tiến bộ về chế định xóa án tích như: Bổ sung quy định mới về các trường hợp không coi là có án tích như người bị kết án do lỗi vô ý về tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, người được miễn hình phạt…; quy định cụ thể điều kiện đương nhiên được xoá án tích và trách nhiệm của Nhà nước trong việc xoá án tích cho người bị kết án như rút ngắn thời hạn để đương nhiên được xoá án tích, sửa đổi thời điểm để bắt đầu tính thời hạn đương nhiên xoá án tích…

1.1. Hoàn thiện quy định xóa án tích trong BLHS

– Thứ nhất, quy định của pháp luật hiện hành chưa quy định khái niệm pháp lý của án tích, thời điểm bắt đầu và chấm dứt của án tích để nhận thức và áp dụng thống nhất trong thực tiễn.

Do vậy, chúng tôi kiến nghị cần bổ sung thêm quy định về nội dung này theo hướng:

Án tích là hậu quả pháp lý bất lợi đối với người hoặc pháp nhân thương mại phạm tội khi họ bị kết án và bị áp dụng hình phạt theo bản án có hiệu lực pháp luật của Tòa án, trừ một số trường hợp không bị coi là có án tích theo quy định của pháp luật hình sự, tồn tại trong một khoảng thời gian từ khi bản án kết tội có hiệu lực pháp luật cho đến khi người hoặc pháp nhân thương mại đó được coi như chưa bị kết án theo quy định của pháp luật hình sự. Án tích được tính từ ngày bản án kết tội của Tòa án có hiệu lực pháp luật và chấm dứt khi người hoặc pháp nhân thương mại đó được xóa án tích theo quy định tại Bộ luật này.

“Điều….: Án tích, thời điểm bắt đầu và chấm dứt của án tích

– Thứ hai, Điều 69 quy định về xóa án tích nhưng khoản 2 của Điều luật quy định ” 2. Người bị kết án do lỗi vô ý về tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng và người được miễn hình phạt không bị coi là có án tích” là chưa phù hợp, bởi xóa án tích và không bị coi là có án tích là hai khái niệm có bản chất khác nhau.

“Điều….Không bị coi là có án tích Người bị kết án do lỗi vô ý về tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng và người được miễn hình phạt không bị coi là có án tích.”

Do vậy, chúng tôi kiến nghị cần tách 02 khoản quy định tại Điều 69 thành 02 Điều luật khác nhau. Cụ thể:

Đối với hình phạt chính: a) Nếu các hình phạt đã tuyên cùng là cải tạo không giam giữ hoặc cùng là tù có thời hạn, thì các hình phạt đó được cộng lại thành hình phạt chung; hình phạt chung không được vượt quá 03 năm đối với hình phạt cải tạo không giam giữ, 30 năm đối với hình phạt tù có thời hạn; b) Nếu các hình phạt đã tuyên là cải tạo không giam giữ, tù có thời hạn, thì hình phạt cải tạo không giam giữ được chuyển đổi thành hình phạt tù theo tỷ lệ cứ 03 ngày cải tạo không giam giữ được chuyển đổi thành 01 ngày tù để tổng hợp thành hình phạt chung theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều này; c) Nếu hình phạt nặng nhất trong số các hình phạt đã tuyên là tù chung thân thì hình phạt chung là tù chung thân; d) Nếu hình phạt nặng nhất trong số các hình phạt đã tuyên là tử hình thì hình phạt chung là tử hình; đ) Phạt tiền không tổng hợp với các loại hình phạt khác; các khoản tiền phạt được cộng lại thành hình phạt chung;

– Thứ ba, khoản 1 Điều 73 BLHS năm 2022 quy định về cách tính thời hạn để xóa án tích: “1. Thời hạn để xóa án tích quy định tại Điều 70 và Điều 71 của Bộ luật này căn cứ vào hình phạt chính đã tuyên”. Tuy nhiên, quy định này chưa thể hiện trường hợp phạm nhiều tội hoặc của nhiều bản án. Trong khi đó, Điều 55 BLHS năm 2022 quy định: Khi xét xử cùng 01 lần một người phạm nhiều tội, Tòa án quyết định hình phạt đối với từng tội và tổng hợp hình phạt theo quy định sau đây:

e) Trục xuất không tổng hợp với các loại hình phạt khác.”.

Trong trường hợp một người đang phải chấp hành một bản án mà lại bị xét xử về tội đã phạm trước khi có bản án này, thì Tòa án quyết định hình phạt đối với tội đang bị xét xử, sau đó quyết định hình phạt chung theo quy định tại Điều 55 của Bộ luật này. Thời gian đã chấp hành hình phạt của bản án trước được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt chung. Khi xét xử một người đang phải chấp hành một bản án mà lại thực hiện hành vi phạm tội mới, Tòa án quyết định hình phạt đối với tội mới, sau đó tổng hợp với phân hình phạt chưa chấp hành của bản án trước rồi quyết định hình phạt chung theo quy định tại Điều 55 của Bộ luật này.

Và Điều 56 BLHS 2022 quy định về tổng hợp hình phạt của nhiều bản án:

Trong trường hợp một người phải chấp hành nhiều bản án đã có hiệu lực pháp luật mà các hình phạt của các bản án chưa được tổng hợp, thì Chánh án Tòa án có thẩm quyền ra quyết định tổng hợp hình phạt của các bản án theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này”.

Trong đó quy định về xóa án tích đối với trường hợp phạm nhiều tội hoặc nhiều bán án vẫn còn nhiều vướng mắc, gây khó khăn cho cả người phạm tội và các cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Do vậy, chúng tôi kiến nghị bổ sung vào Điều 73 quy định sau:

1.2. Ban hành văn bản hướng dẫn quy định về xóa án tích

Điều 73. Cách tính thời hạn để xoá án tích (cũ)

1. Thời hạn để xóa án tích quy định tại Điều 70 và Điều 71 của Bộ luật này căn cứ vào hình phạt chính đã tuyên.

Điều 73. Cách tính thời hạn để xoá án tích (mới)

1. Thời hạn để xoá án tích quy định tại Điều 70 và 71 của Bộ luật này căn cứ vào hình phạt chính đã tuyên.

Trường hợp phạm nhiều tội hoặc nhiều bản án thì thời hạn xoá án tích căn cứ vào hình phạt chính đã được tổng hợp trong bản án. Trường hợp hình phạt chính không tổng hợp được với hình phạt chính của tội hoặc bản án khác thì thời hạn xóa án tích căn cứ vào hình phạt chính nặng nhất đã tuyên.

Để việc áp dụng quy định về xóa án tích được thống nhất, cơ quan có thẩm quyền cần nghiên cứu ban hành văn bản hướng dẫn các nội dung sau:

– Thứ nhất, về trường hợp người chấp hành án đã chấp hành xong hình phạt tù, đã đủ thời gian được xem là đương nhiên được xóa án tích theo quy định tại Điều 70 BLHS năm 2022 nhưng chưa thi hành hình phạt bổ sung, chưa nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm và các quyết định khác của bản án do không nhận được thông báo và quyết định thi hành án của Cơ quan thi hành án dân sự. Trường hợp này có được đương nhiên xóa án tích không?

Về nội dung này TANDTC đã hướng dẫn tại công văn số 64/TANDTC: Điều 70 của Bộ luật hình sự quy định về các điều kiện đương nhiên được xóa án tích, trong đó có điều kiện: người bị kết án nếu từ khi chấp hành xong hình phạt chính hoặc hết thời gian thử thách của án treo, người đó đã chấp hành xong hình phạt bổ sung, các quyết định khác của bản án. Như vậy, Bộ luật hình sự không quy định trường hợp loại trừ việc người bị kết án chưa chấp xong hành hình phạt bổ sung và các quyết định khác của bản án với bất kỳ lý do gì. Hơn nữa, pháp luật thi hành án dân sự quy định nhiều phương thức thi hành để người phải thi hành án có quyền lựa chọn như: tự nguyện thi hành, thỏa thuận thi hành án hoặc nhờ thân nhân nộp thay. Do vậy, trường hợp người bị kết án (sau này là bị can, bị cáo trong một vụ án mới) không nhận được thông báo và quyết định thi hành án của Cơ quan thi hành án dân sự nên chưa thi hành hình phạt bổ sung, chưa nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm và các quyết định khác của bản án là chưa chấp hành xong hình phạt bổ sung và các quyết định khác của bản án. Trong trường hợp này, người bị kết án không đương nhiên được xóa án tích theo quy định tại Điều 70 của BLHS.

– Thứ hai, về xác định án tích để tính tái phạm, tái phạm nguy hiểm cần có hướng dẫn cụ thể, rõ ràng.

Chỉ các tình tiết sau đây mới là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: h) Tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm;

” Điều 52. Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự

Các tình tiết đã được Bộ luật này quy định là dấu hiệu định tội hoặc định khung hình phạt thì không được coi là tình tiết tăng nặng”.

Đồng thời, theo tinh thần của mục 7.3 Nghị quyết số 01/2006/NQ-HĐTP ngày 12 tháng 5 năm 2006 của Hội đồng thẩm phán TANDTC quy định: ” Khi áp dụng tình tiết “đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm”, cần phân biệt: a. Trường hợp các tiền án của bị cáo đã được xem là dấu hiệu cấu thành tội phạm “đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm” thì các tiền án đó không được tính để xác định tái phạm, tái phạm nguy hiểm đối với bị cáo”.

Hướng dẫn trên có thể tạo ra sự không công bằng trong áp dụng pháp luật và do BLHS năm 1999 đã hết hiệu lực nên cần có văn bản hướng dẫn mới phù hợp .

Ví dụ 1: A có 05 tiền án về tội chiếm đoạt tài sản theo quy định của BLHS năm 2022, chưa được xóa án tích lại phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản có trị giá dưới 2 triệu đồng. Như vậy, trong trường hợp này 05 tiền án trên chỉ là yếu tố định tội của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 174 BLHS năm 2022.

Tuy nhiên, giả sử A có 02 tiền án (trong đó, có 01 tiền án về tội hiếp dâm; 01 tiền án về lừa đảo chiếm đoạt tài sản), đều chưa được xóa án tích, lại phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản dưới 2 triệu đồng thì trong trường hợp này, tiền án lừa đảo chiếm đoạt tài sản được xem xét là yếu tố định tội theo khoản 1 Điều 174 BLHS năm 2022, còn tiền án về tội hiếp dâm được coi là tình tiết tăng nặng TNHS để áp dụng đối với bị can, bị cáo theo quy định tại điểm h khoản 1 điều 52 BLHS và như vậy TNHS có thể sẽ nặng hơn so với trường hợp A có 05 tiến án về tội chiếm đoạt. Do vậy, cần có hướng dẫn cụ thể trường hợp này, bảo đảm tính công bằng trong thực tiễn áp dụng pháp luật.

Ví dụ 2: B có 03 tiền án, trong đó: có 02 tiền án về tội mua bán trái phép chất ma túy vào các năm 2012 và năm 2013; 01 tiền án về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản năm 2022 đã xác định “tái phạm nguy hiểm”, đều chưa được xóa án tích; năm 2022, A phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản có trị giá dưới 2 triệu đồng.

Căn cứ khoản 2 Điều 53 BLHS năm 2022 thì tiền án về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản sẽ là yếu tố định tội theo quy định tại khoản 1 điều 74 BLHS năm 2022.

Còn tiền án về tội mua bán trái phép chất ma túy được coi là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo điểm h, khoản 1 Điều 52 BLHS hay tình tiết định khung theo điểm d khoản 2 Điều 174 BLHS năm 2022?

Do vậy, cần có hướng dẫn cụ thể về nội dung này để áp dụng trong thực tiễn.

Ngoài ra, theo chúng tôi cần thống nhất hướng dẫn cụ thể trường hợp nếu bản án có vi phạm trong việc không xác định một người là “tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm” thì lần phạm tội sau của người đó vẫn bị áp dụng tình tiết “tái phạm nguy hiểm” mà không bắt buộc bản án trước đó phải xác định người đó là “tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm”, theo đúng quy định tại khoản 2 Điều 53 BLHS năm 2022. Bởi thực tiễn xảy ra nhiều trường hợp ở lần phạm tội trước, bị cáo thuộc trường hợp tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm nhưng bản án lại có sự thiếu sót khi không áp dụng, sau đó người này tiếp tục phạm tội khi chưa được xóa án tích, trường hợp này đang dẫn đến nhiều cách giải quyết khác nhau tại các Tòa án trên cả nước. Do ó cần có hướng dẫn để thống nhất việc áp dụng pháp luật trong xét xử.

– Thứ ba, trong thực tiễn vẫn xảy ra trường hợp người thực hiện hành vi phạm tội vào thời điểm họ chưa đủ 18 tuổi nhưng khi giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án thì họ đã trên 18 tuổi. Như vậy, với trường hợp này sẽ áp dụng những quy định chung về chế định xóa án tích quy định từ Điều 70 đến 73 BLHS năm 2022 hay áp dụng quy định tại Điều 107 BLHS năm 2022.

“1. Người dưới 18 tuổi bị kết án được coi là không có án tích, nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây: a) Người từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi; b) Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi bị kết án về tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng hoặc tội phạm rất nghiêm trọng do vô ý; c) Người bị áp dụng biện pháp tư pháp quy định tại Mục 3 Chương này. Người từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng thì đương nhiên xóa án tích nếu trong thời hạn 03 năm tính từ khi chấp hành xong hình phạt chính hoặc từ khi hết thời hiệu thi hành bản án mà người đó không thực hiện hành vi phạm tội mới.”

Theo quy định Điều 107 BLHS năm 2022 về xóa án tích:

Có quan điểm cho rằng: theo nội dung quy định của Điều 107 là “Người dưới 18 tuổi bị kết án…” và “Người từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi bị kết án…” nên quy định tại Điều 107 được áp dụng cho người phạm tội đến thời điểm xét xử vẫn chưa đủ 18 tuổi, nếu họ từ đủ 18 tuổi trở lên thì áp dụng quy định chung quy định từ Điều 69 đến 73 BLHS năm 2022.

Quan điểm khác cho rằng: Điều 107 được quy định trong chương XII với tên gọi “những quy định đối với người chưa thành niên phạm tội”, theo đó quy định tại Điều 107 sẽ được áp dụng đối với người chưa thành niên từ thời điểm họ thực hiện hành vi phạm tội. Điều này sẽ thể hiện được nguyên tắc có lợi cho bị can, bị cáo khi bị kết án và chính sách nhân đạo của nhà nước ta.

Do vậy, trong thời gian tới cần có hướng dẫn cụ thể vấn đề trên theo hướng: quy định tại Điều 107 với nội dung là “Người dưới 18 tuổi bị kết án…” và “Người từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi bị kết án…” nên đến thời điểm xét xử họ đã đủ 18 tuổi trở lên thì áp dụng quy định chung quy định từ Điều 69 đến 73 BLHS năm 2022 mà không áp dụng Điều 107 BLHS năm 2022. Ngoài ra, trong giai đoạn điều tra, truy tố người chưa đủ 18 tuổi đã được hưởng những chính sách khoan hồng, nguyên tắc xử lý người chưa thành niên của pháp luật, đặc biệt là trong việc truy cứu TNHS và quyết định hình phạt ở mức thấp hơn so với người đã thành niên phạm tội; thực tế, có những trường hợp người thực hiện hành vi phạm tội tại thời điểm dưới 18 tuổi nhưng một thời gian dài sau mới bị phát hiện (có trường hợp hơn 10 năm, như trường hợp Lý Nguyễn Chung trong vụ án oan Nguyễn Thanh Chấn). Việc áp dụng này là phù hợp và không trái với các quy định khác của pháp luật.

– Thứ tư, về xóa án tích đối với pháp nhân thương mại phạm tội

Điều 89 BLHS năm 2022 quy định: “Pháp nhân thương mại bị kết án đương nhiên được xóa án tích nếu trong thời hạn 02 năm kể từ khi chấp hành xong hình phạt chính, hình phạt bổ sung, các quyết định khác của bản án hoặc từ khi hết thời hiệu thi hành bản án mà pháp nhân thương mại không thực hiện hành vi phạm tội mới”.

Như vậy, nhà làm luật chưa quy định trong trường hợp pháp nhân thương mại bị kết án chưa được xóa án tích mà thực hiện hành vi phạm tội mới và bị Tòa án kết án bằng bản án có hiệu lực pháp luật thì hậu quả pháp lý như thế nào? Có tính lại thời hạn để xóa án tích hay không?

Trường hợp nếu tính lại thì do khác với người bị kết án phạm tội (thời hạn tính xóa án tích sẽ được tính lại kể từ khi chấp hành xong hình phạt chính của bản án mới theo quy định tại khoản 2 Điều 73 BLHS năm 2022) thì với pháp nhân thương mại bị kết án thì thời hạn tính xóa án tích của được tính lại kể từ khi chấp hành xong bản án mới (bao gồm hình phạt chính, hình phạt bổ sung và các quyết khác của tòa án). Do vậy, chúng tôi kiến nghị cần hoàn thiện các quy định về xóa án tích của pháp nhân thương mại bị kết án theo hướng thời điểm tính thời hạn xóa án tích của pháp nhân thương mại nên giống với cá nhân là đều được tính từ khi chấp hành xong hình phạt chính hoặc khi hết thời hiệu thi hành bản án.

Mặt khác, Điều 89 BLHS chỉ quy định thời hạn xóa án tích cho pháp nhân thương mại phạm tội bị kết án là 2 năm “kể từ khi chấp hành xong hình phạt chính, hình phạt bổ sung…”, do vậy không có sự phân biệt hình phạt chính là gì, trong khi đó theo Điều 33 BLHS năm 2022 thì hình phạt chính áp dụng đối với pháp nhân thương mại phạm tội gồm 3 loại: phạt tiền, đình chỉ hoạt động có thời hạn và đình chỉ hoạt động vĩnh viễn. Có thể thấy, nếu pháp nhân thương mại bị áp dụng hình phạt chính là đình chỉ hoạt động vĩnh viễn, đồng nghĩa là chấm dứt sự tồn tại và hoạt động của pháp nhân, việc tính thời hạn xóa án tích với phạm nhân thương mại bị kết án không có ý nghĩa về mặt pháp lý và thực tiễn. Do vậy, chúng tôi kiến nghị trong thời gian tới nhà làm luật cần có hướng dẫn cụ thể điều kiện xóa án tích và cách tính thời hạn xóa án tích một cách cụ thể, đối với từng loại hình phạt để thống nhất trong áp dụng.

– Thứ năm, về thời hạn đương nhiên xóa án tích

+ Điều 369 BLTTHS năm 2022 quy định: “1. Trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu của người được đương nhiên xóa án tích và xét thấy có đủ điều kiện quy định tại Điều 70 của Bộ luật hình sự thì cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp cấp phiếu lý lịch tư pháp là họ không có án tích”.

+ Trong khi đó, Điều 48 Luật lý lịch tư pháp năm 2009 quy định: 1. Thời hạn cấp Phiếu lý lịch tư pháp không quá 10 ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu hợp lệ. Trường hợp người được cấp Phiếu lý lịch tư pháp là công dân Việt Nam đã cư trú ở nhiều nơi hoặc có thời gian cư trú ở nước ngoài, người nước ngoài quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 47 của Luật này, trường hợp phải xác minh về điều kiện đương nhiên được xóa án tích quy định tại khoản 3 Điều 44 của Luật này thì thời hạn không quá 15 ngày”.

Dự thảo luật sửa đổi, bổ sung của Luật Lý lịch tư pháp ghi: “Thời hạn cấp Phiếu lý lịch tư pháp không quá 07 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được yêu cầu hợp lệ. Trường hợp người được cấp Phiếu lý lịch tư pháp là công dân Việt Nam đã cư trú ở nhiều nơi, có thời gian cư trú ở nước ngoài hoặc không xác định được nơi cư trú; người nước ngoài quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 47 của Luật này; trường hợp phải xác minh về điều kiện đương nhiên được xóa án tích quy định tại khoản 3 Điều 44 của Luật này thì thời hạn không quá 15 ngày. Trường hợp người được cấp Phiếu lý lịch tư pháp là người bị kết án bởi nhiều bản án thì thời hạn không quá 20 ngày.

+ Công văn số 34/TTLLTPQG-TTrC ngày 24/01/2017 của Trung tâm lý lịch tư pháp về việc hướng dẫn thực hiện đương nhiên được xóa án tích, có hướng dẫn “ Về thời hạn cấp Phiếu LLTP đối với người được đương nhiên xóa án tích có yêu cầu cấp Phiếu LLTP: Thực hiện theo khoản 1 Điều 48 Luật LLTP là tối đa 15 ngày làm việc kể từ ngày nhận được yêu cầu hợp lệ”.

Như vậy, theo chúng tôi có sự chưa tương thích giữa quy định của các văn bản pháp luật về thời hạn cấp phiếu lý lịch tư pháp xác nhận không có án tích đối với cá nhân. Do vậy, thời gian tới nhà làm luật cần có hướng dẫn cụ thể về nội dung trên, để thống nhất áp dụng trong thực tiễn.

HĐXX cuả TAND tỉnh Bắc Ninh xét xử một vụ án hình sự – Ảnh: Vũ Minh Phương

Quyết Định / Nghị Quyết Của Hội Đồng Quản Trị Trong Công Ty Cổ Phần

Mẫu Nghị Quyết Hội Đồng Quản Trị Công Ty Cổ Phần Năm 2022

Một Số Điểm Mới Của Nghị Quyết 02/2018/nq

Mẫu Sổ Nghị Quyết Hội Đồng Trường

Nghị Quyết Hội Đồng Trường

Vướng Mắc Trong Thực Tiễn Áp Dụng Quy Định Về Xóa Án Tích

Bài Thu Hoạch Nghị Quyết Trung Ương 8 Khóa 12 Dành Cho Đảng Viên

Bài Thu Hoạch Nghị Quyết Trung Ương 8 Khoá 12

Mẫu Bài Thu Hoạch Nghị Quyết Trung Ương 8 Khóa 12 Của Đảng, Giáo Viên

Bài Thu Hoạch Nghị Quyết Trung Ương 8 Khóa Xii Của Đảng Viên

Bài Thu Hoạch Nghị Quyết Tw 8 Khóa 12 Của Đảng Viên

Trong phạm vi bài viết này chỉ đề cập đến trường hợp đương nhiên xoá án tích.

Bộ luật Hình sự năm 2022 có nhiều quy định mới có lợi hơn cho người đã chấp hành xong bản án và người phạm tội mới. Khái niệm xóa án tích được Bộ luật Hình sự năm 2022 quy định “Người được xóa án tích coi như chưa bị kết án”. Bộ luật Hình sự năm 2022 phân chia các trường hợp người được xóa án tích cụ thể như:

“1. Người bị kết án do lỗi vô ý về tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng và người được miễn hình phạt thì không bị coi là có án tích (Khoản 2 Điều 69 Bộ luật hình sự 2022).

2. Đương nhiên xóa án tích”

Đương nhiên được xóa án tích nếu không phạm tội mới được áp dụng đối với người bị kết án nếu không phải về các tội: Xâm phạm an ninh quốc gia (Chương XIII) và các tội phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh (Chương XXVI) của Bộ luật này khi họ đã chấp hành xong hình phạt chính, thời gian thử thách án treo hoặc hết thời hiệu thi hành bản án và đáp ứng các điều kiện quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 70 của Bộ luật này.

– Thời hạn đương nhiên xóa án tích: Người bị kết án đương nhiên được xóa án tích, nếu từ khi chấp hành xong hình phạt chính hoặc hết thời gian thử thách án treo, người đó đã chấp hành xong hình phạt bổ sung, các quyết định khác của bản án và không phạm tội mới trong thời hạn:

+ 01 năm trong trường hợp bị phạt cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ, phạt tù nhưng được hưởng án treo.

+ 02 năm trong trường hợp bị phạt tù đến 05 năm.

+ 03 năm trong trường hợp bị phạt tù trên 05 năm đến 15 năm.

+ 05 năm trong trường hợp bị phạt tù trên 15 năm, tù chung thân hoặc tử hình nhưng đã được giảm án.

Nếu người bị kết án đang chấp hành hình phạt bổ sung là quản chế, cấm cư trú, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định, tước một số quyền công dân mà thời hạn phải chấp hành dài hơn thời hạn nêu trên thì thời hạn đương nhiên được xóa án tích sẽ hết vào thời điểm người đó chấp hành xong hình phạt bổ sung (trừ thời hạn đối với hình phạt tù trên 15 năm, tù chung thân hoặc tử hình nhưng được giảm án).

– Người bị kết án đương nhiên được xóa án tích, nếu từ khi hết thời hiệu thi hành án, người đó không phạm tội mới trong thời hạn nêu trên.

Tuy nhiên, qua nghiên cứu thực tiễn, chúng tôi thấy việc quy định điều kiện để tính thời hạn xóa án tích là kể từ khi người phạm tội chấp hành xong toàn bộ các quyết định của bản án và không phạm tội mới trong thời hạn như đã nêu cũng nảy sinh vướng mắc đối với trường hợp như sau:

Ví dụ : Ngày 16/01/2020, bị cáo Nguyễn Minh L bị Tòa án nhân dân tỉnh Đ tuyên phạt 20 năm tù về tội “Giết người” theo điểm n khoản 1 Điều 123 BLHS. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo cấp dưỡng nuôi con bị hại mỗi tháng 750.000 đồng cho đến khi đủ 18 tuổi, buộc bị cáo cấp dưỡng cho mẹ của bị hại mỗi tháng 500.000 đồng kể từ tháng 8/2019 cho đến khi chết.

Như vậy nếu giữa bị cáo và người đại diện hợp pháp cho bị hại không thỏa thuận được với nhau về việc cấp dưỡng một lần thì bị cáo phải cấp dưỡng hàng tháng, dẫn tới việc bị cáo muốn tự nguyện chấp hành xong toàn bộ các quyết định của Bản án cũng không được và như vậy để được tính thời hạn xóa án tích như trường hợp trên thì bị cáo phải đợi cho đến khi con bị hại đủ 18 tuổi mới được tính thời hạn để xóa án tích, còn đối với trường hợp buộc phải cấp dưỡng nuôi bố mẹ của bị hại thì lại không có thời hạn cụ thể mà nhanh hay chậm là do tuổi thọ của người được cấp dưỡng, có nhiều trường hợp việc cấp dưỡng kéo dài tới hai, ba mươi năm thì người phạm tội vẫn cứ phải mang án tích mà không thể xóa án tích được vì chấp hành xong bản án tức là phải chấp hành xong tất cả các quyết định của Bản án. Đây chính là những bất cập, gây bất lợi cho bị hại, chưa thực sự bảo vệ quyền con người, quyền công dân, nên chúng ta phải hướng tới những quy định nhân đạo hơn.

Để khắc phục những bất cập trên, đề xuất cần có hướng dẫn cụ thể hơn đối với những trường hợp này theo hướng sau: Đối với những trường hợp mà Bản án tuyên đối với người phạm tội phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con hoặc bố, mẹ của bị hại đã chết, thì thời hạn để xóa án tích đối với họ cũng được tính kể từ khi họ đã chấp hành xong các quyết định chính của Bản án như chấp hành xong thời hạn tù hoặc thời gian thử thách nếu là án treo, các quyết định về bồi thường, án phí…Còn việc cấp dưỡng chỉ coi là nghĩa vụ của họ phải thực hiện và họ phải chấp hành theo quy định của Luật thi hành án dân sự, chứ không nên quy định như hiện hành, tránh trường hợp người phạm tội cho tới lúc chết vẫn phải mang án tích.

Chế Định Xóa Án Tích Trong Luật Hình Sự, Vướng Mắc Và Kiến Nghị

Hướng Dẫn Trình Tự, Thủ Tục Xóa Án Tích ? Hồ Sơ Xin Xóa Án Tích ?

Một Số Kiến Nghị Hoàn Thiện Quy Định Về Xóa Án Tích

Quyết Định / Nghị Quyết Của Hội Đồng Quản Trị Trong Công Ty Cổ Phần

Mẫu Nghị Quyết Hội Đồng Quản Trị Công Ty Cổ Phần Năm 2022

Chế Định Xóa Án Tích Trong Luật Hình Sự, Vướng Mắc Và Kiến Nghị

Vướng Mắc Trong Thực Tiễn Áp Dụng Quy Định Về Xóa Án Tích

Bài Thu Hoạch Nghị Quyết Trung Ương 8 Khóa 12 Dành Cho Đảng Viên

Bài Thu Hoạch Nghị Quyết Trung Ương 8 Khoá 12

Mẫu Bài Thu Hoạch Nghị Quyết Trung Ương 8 Khóa 12 Của Đảng, Giáo Viên

Bài Thu Hoạch Nghị Quyết Trung Ương 8 Khóa Xii Của Đảng Viên

1.Quy định của pháp luật

Người bị kết án do lỗi vô ý về tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng và người được miễn hình phạt (theo quy định tại khoản 2 Điều 69 BLHS).

Người bị kết án là người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi đối với mọi trường hợp phạm tội (theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 107 BLHS).

Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi bị kết án về tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng hoặc tội rất nghiêm trọng với lỗi vô ý (theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 107 BLHS).

Người bị áp dụng biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng quy định tại Mục 3 Chương XII Bộ luật hình sự.

Theo quy định tại khoản 2 Điều 70 BLHS quy định: Người bị kết án đương nhiên xóa án tích, nếu từ khi chấp hành xong hình phạt chính hoặc thời gian thử thách án treo, người đó đã chấp hành xong hình phạt bổ sung, các quyết định khác của bản án và không thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời hạn sau đây: 01 năm trong trường hợp bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ, phạt tù nhưng được hưởng án treo; 03 năm trong trường hợp bị phạt tù đến 05 năm; 05 năm trong trường hợp bị phạt tù từ trên 05 năm đến 15 năm; 07 năm trong trường hợp bị phạt tù trên 15 năm, tù chung thân hoặc tử hình nhưng đã được giảm án.

Thời hạn xóa án tích căn cứ vào hình phạt chính đã tuyên và thời điểm tính thời hạn xóa án tích được tính từ khi chấp hành xong hình phạt chính, thời gian thử thách của án treo hoặc hết thời hiệu thi hành bản án. Tuy nhiên trong thời hạn quy định này cần phải chấp hành xong các quyết định còn lại có trong bản án bao gồm cả hình phạt bổ sung.

Bên cạnh đó, khoản 3 Điều 73 BLHS quy định: Người bị kết án chưa được xóa án tích mà thực hiện hành vi phạm tội mới và bị Tòa án kết án bằng bản án có hiệu lực pháp luật thì thời hạn để xóa án tích cũ được tính lại kể từ ngày chấp hành xong hình phạt chính hoặc thời gian thử thách án treo của bản án mới hoặc từ ngày bản án mới hết thời hiệu thi hành.

Thực tiễn áp dụng quy định về xóa án tích còn nhiều cách hiểu và quan điểm khác nhau, tác giả đưa ra vụ án cụ thể như sau:

Khoảng 01 giờ ngày 14/12/2019, Lê Văn C nảy sinh ý định trộm cắp tài sản nên chuẩn bị dao, bao nylon, đèn pin đến vườn mít của bà Nguyễn Thị D dùng dao cắt trộm 02 trái mít Thái rồi bỏ vào bao và đem về nhà cất giấu. Đến sáng cùng ngày, C dùng xe đạp chở mít đi bán, trên đường đi thì bị Công an tạm giữ cùng tang vật. Kết quả định giá tài sản kết luận 02 trái mít bị mất trộm trị giá 576.700 đồng.

Quá trình xác minh nhân thân của Lê Văn C thể hiện: Vào ngày 19/9/2017, Lê Văn C bị Tòa án xử 12 tháng cải tạo không giam giữ về hành vi trộm cắp tài sản. Chấp hành xong bản án ngày 19/9/2018, tính đến ngày 19/9/2019 thì được xóa án tích.

Ngày 05/6/2019 trong khi chưa được xóa án tích, Lê Văn C tiếp tục phạm tội trộm cắp 02 con gà trị giá 400.000 đồng. Đến ngày 29/11/2019 bị Tòa án xử 06 tháng tù cho hưởng án treo. Bản án này bị Viện kiểm sát kháng nghị và đang trong quá trình chuẩn bị xét xử phúc thẩm. Đến ngày 14/12/2019, C tiếp thục thực hiện hành vi phạm tội trộm 02 trái mít trị giá 576.700 đồng.

Qua nội dung vụ việc nêu trên đối với hành vi trộm cắp ngày 05/6/2019, thì đương nhiên Lê Văn C phạm tội trong thời gian chưa được xóa án tích. Mặc dù tài sản Lê Văn C trộm cắp trị giá 400.000 đồng, tuy chưa đủ định lượng nhưng do Lê Văn C chưa đưa xóa án tích về hành vi chiếm đoạt nên việc khởi tố là có căn cứ. Tuy nhiên, đối với hành vi của Lê Văn C vào ngày 14/12/2019, trộm cắp tài sản là 02 trái mít trị giá 576.700 đồng thì việc xử lý Lê Văn C hiện nay đang có hai ý kiến không thống nhất.

Ý kiến thứ nhất: Hành vi trộm cắp tài sản của Lê Văn C vào ngày 14/12/2019 trị giá 576.700 đồng do thời điểm phạm tội này C đã được xóa án tích, tài sản phạm tội không đủ định lượng để xử lý hình sự nên Lê Văn C không phạm tội. Theo quy định tại tại khoản 2 điều 73 BLHS 2022 quy định “Người bị kết án chưa được xóa án tích mà thực hiện hành vi phạm tội mới và bị Tòa án kết án bằng bản án có hiệu lực pháp luật thì thời hạn để xóa án tích cũ được tính lại kể từ ngày chấp hành xong hình phạt chính hoặc thời gian thử thách án treo của bản án mới hoặc từ ngày bản án mới hết thời hiệu thi hành”. Từ đó có thể thấy rằng, bản án vào ngày 19/9/2017 xét xử Lê Văn C tính đến ngày 19/9/2019 mới được xóa án tích, tuy nhiên đến ngày 05/6/2019 Lê Văn C trộm cắp tài sản trị giá 400.000 đồng nên đã sử dụng tiền án này để xét xử C, do bản án này bị Viện kiểm sát kháng nghị nên đang trong quá trình xét xử phúc thẩm chưa có hiệu lực thi hành, nên chưa thể xác định là lần này C có phạm tội hay không. Vì theo nguyên tắc suy đoán vô tội thì C chưa có bản án của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật nên không thể khẳng định C trộm cắp vào ngày 14/12/2019 là đang trong thời gian chưa được xóa án tích. Do vậy, không đủ căn cứ để xử lý hình sự C về hành vi trộm cắp tài sản vào ngày 14/12/2019.

Ý kiến thứ hai: Hành vi trộm cắp tài sản của Lê Văn C vào ngày 14/12/2019, tuy chưa đủ định lượng, nhưng do vào ngày 05/6/2019 C đã có hành vi trộm cắp tài sản chưa được xóa án tích mà lại tiếp tục phạm tội nên đủ căn cứ khởi tố C về Tội trộm cắp tài sản theo quy định tại Điều 173 BLHS năm 2022. Theo quy định tại khoản 2 Điều 70 BLHS 2022 thì một người bị kết án đương nhiên được xóa án tích, nếu từ khi chấp hành xong hình phạt chính hoặc hết thời gian thử thách án treo, người đó đã chấp hành xong hình phạt bổ sung, các quyết định khác của bản án và không thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời hạn sau đây: 01 năm trong trường hợp bị phạt cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ, phạt tù nhưng được hưởng án treo…

Trong thời gian Lê Văn C chưa được xóa án tích thì ngày 05/6/2019 C lại tiếp tục phạm tội, tuy tài sản C trộm ngày 05/6/2019 chưa đủ định lượng nhưng C đã bị kết án về tội trộm cắp tài sản trước đó, do vậy trong thời gian chưa được xóa án tích mà C lại trộm cắp tài sản nên xác định lần trộm cắp vào ngày 14/12/2019 vẫn phải xem là C phạm tội trong thời gian chưa được xóa án tích. Bên cạnh đó, bản án xét xử C chưa có hiệu pháp luật nhưng không thể cho rằng phải có bản án đã có hiệu lực pháp luật thì mới biết được C có phạm tội hay không phạm tội, mà theo quy định tại khoản 2 Điều 70 BLHS 2022 quy định “Phạm tội mới” có nghĩa là chỉ cần có vi phạm pháp luật hình sự chứ không đồng nghĩa với “việc Tòa án phải ra bản án kết tội một người nào đó phạm tội” nên không cần thiết phải có bản án đã có hiệu lực pháp luật thì mới cho rằng C có phạm tội hay không phạm tội.

Tác giả đồng quan điểm với ý kiến thứ nhất, như đã phân tích ở trên, ngày 29/11/2019 Lê Văn C bị Tòa án xử 06 tháng tù cho hưởng án treo. Bản án này bị Viện kiểm sát kháng nghị và đang trong quá trình chuẩn bị xét xử phúc thẩm nên chưa có hiệu lực thi hành, căn cứ vào quy định “Người bị kết án chưa được xóa án tích mà thực hiện hành vi phạm tội mới và bị Tòa án kết án bằng bản án có hiệu lực pháp luật thì thời hạn để xóa án tích cũ được tính lại kể từ ngày chấp hành xong hình phạt chính hoặc thời gian thử thách án treo của bản án mới hoặc từ ngày bản án mới hết thời hiệu thi hành” thì chưa thể xác định lần trộm cắp tài sản vào ngày 05/6/2019 của Lê Văn C là có tội hay không, từ đó để xác định lần trộm cắp tài sản của Lê Văn C vào ngày 14/12/2019 là đang trong thời gian chưa được xóa án tích.

Bên cạnh đó, tại khoản 2 Điều 70 BLHS 2022 quy định “… không thực hiện hành vi phạm tội mới” được hiểu như thế nào, chỉ cần có hành vi vi phạm pháp luật hình sự thì được xem là phạm tội mới hay hành vi phạm tội mới phải có bản án kết tội của Tòa án có hiệu lực pháp luật thì chưa có hướng dẫn cụ thể. Theo tác giả, qua những phân tích trên, từ đó áp dụng nguyên tắc có lợi cho bị can nên lần trộm cắp tài sản vào ngày 14/12/2019 Lê Văn C không phạm tội.

Từ những khó khăn, vướng mắc nêu trên, tạo điều kiện cho các cơ quan tư pháp áp dụng pháp luật được thống nhất tác giả đề nghị cơ quan có thẩm quyền cần sớm có văn bản hướng dẫn cụ thể khi áp dụng quy định tại khoản 2 Điều 70 và khoản 2 Điều 73 BLHS về chế định xóa án tích.

TAND tỉnh Quảng Bình xét xử vụ án hình sự – Ảnh: VKSND QB

Hướng Dẫn Trình Tự, Thủ Tục Xóa Án Tích ? Hồ Sơ Xin Xóa Án Tích ?

Một Số Kiến Nghị Hoàn Thiện Quy Định Về Xóa Án Tích

Quyết Định / Nghị Quyết Của Hội Đồng Quản Trị Trong Công Ty Cổ Phần

Mẫu Nghị Quyết Hội Đồng Quản Trị Công Ty Cổ Phần Năm 2022

Một Số Điểm Mới Của Nghị Quyết 02/2018/nq

🌟 Home
🌟 Top