Nghị Quyết Số 07/2019/Nq-Hđnd Tỉnh Thái Nguyên / Top 4 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 2/2023 # Top View | Bac.edu.vn

Nghị Quyết Thông Qua Tại Kỳ Họp Thứ 15, Hđnd Tỉnh Khoá Xiii:nghị Quyết Số 220/2019/Nq

Ngày 7/12/2019, HĐND tỉnh khoá XIII đã ban hành Nghị quyết số 220/2019/NQ-HĐND “về quy định chính sách hỗ trợ đối với cán bộ, công chức, viên chức, Hợp đồng theo Nghị định số 68/2000/NĐ-CP của Chính phủ, người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, ở thôn, bản, khu phố chịu tác động do sắp xếp đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã; sắp xếp, thôn, bản, khu phố thuộc tỉnh Quảng Ninh”. Cụ thể như sau:

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Nghị quyết này áp dụng đối với các đối tượng đang làm việc tại các đơn vị chịu tác động do sắp xếp đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã; sắp xếp thôn, bản, khu phố thuộc tỉnh Quảng Ninh, bao gồm:

1. Các cơ quan, tổ chức của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội cấp huyện, cấp xã.

2. Các đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng, Nhà nước cấp huyện.

3. Các tổ chức Hội được giao biên chế thuộc cấp huyện.

4. Thôn, bản, khu phố.

Điều 2. Đối tượng áp dụng

1. Cán bộ không đủ điều kiện về tuổi tái cử, tái bổ nhiệm nhưng chưa đến tuổi nghỉ hưu giữ các chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ chịu tác động do sắp xếp đơn vị hành chính.

2. Cán bộ, công chức, viên chức thôi giữ chức vụ lãnh đạo hoặc được bổ nhiệm, bầu cử vào chức vụ khác có phụ cấp chức vụ lãnh đạo mới thấp hơn chịu tác động do sắp xếp đơn vị hành chính.

3. Cán bộ, công chức cấp huyện; Cán bộ, công chức cấp xã; viên chức thuộc các đơn vị, tổ chức Hội được giao biên chế cấp huyện chịu tác động do sắp xếp đơn vị hành chính.

4. Người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, ở thôn, bản, khu phố được quy định tại Nghị quyết số 207/2019/NQ-HĐND ngày 30/7/2019 của Hội đồng nhân dân tỉnh chịu tác động do sắp xếp đơn vị hành chính xã; sắp xếp thôn, bản, khu phố.

5. Hợp đồng 68 làm việc trong các cơ quan, đơn vị thuộc cấp huyện chịu tác động do sắp xếp đơn vị hành chính.

Điều 3. Đối tượng không áp dụng

1. Cán bộ đã được giải quyết chế độ, chính sách theo Nghị định số 26/2015/NĐ-CP ngày 09/3/2015 của Chính phủ quy định chế độ, chính sách đối với cán bộ không đủ điều kiện về tuổi tái cử, tái bổ nhiệm giữ các chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội, trước thời điểm nghị quyết này có hiệu lực thi hành.

2. Cán bộ, công chức, viên chức, Hợp đồng 68 đã được giải quyết chế độ, chính sách theo Nghị định số 108/2014/NĐ-CP ngày 20/11/2014 của Chính phủ về chính sách tinh giản biên chế, Nghị định số 113/2018/NĐ-CP ngày 31/8/2018 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 108/2014/NĐ-CP, trước thời điểm nghị quyết này có hiệu lực thi hành.

3. Cán bộ, công chức, viên chức, Hợp đồng 68 đã được giải quyết chế độ, chính sách theo Nghị quyết số 206/2019/NQ-HĐND ngày 30/7/2019 của Hội đồng nhân dân tỉnh quy định về chính sách hỗ trợ cán bộ, công chức, viên chức, hợp đồng theo Nghi định số 68/2000/NĐ-CP của Chính phủ có nguyện vọng nghỉ công tác để giải quyết chế độ hưu trí hoặc thôi việc.

4. Người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, ở thôn, bản, khu phố là cán bộ, công chức cấp xã kiêm nhiệm.

5. Người hoạt động không chuyên trách đã nghỉ công tác trước thời điểm sắp xếp lại đơn vị hành chính cấp xã, thôn, bản, khu phố.

Điều 4. Chính sách hỗ trợ

Các đối tượng quy định tại Điều 2 Nghị quyết này được hưởng một trong các chính sách hỗ trợ sau (trường hợp đủ điều kiện hưởng nhiều chính sách thì chỉ được hưởng chính sách có mức hỗ trợ cao nhất):

1. Hỗ trợ đối với người thôi giữ chức vụ lãnh đạo hoặc được bổ nhiệm, bầu cử vào chức vụ mới có phụ cấp chức vụ thấp hơn so với phụ cấp chức vụ đang hưởng

Đối tượng quy định tại các Khoản 1, 2 Điều 2 Nghị quyết này do sắp xếp đơn vị hành chính mà thôi giữ chức vụ lãnh đạo hoặc được bổ nhiệm, bầu cử vào chức vụ mới có phụ cấp chức vụ lãnh đạo thấp hơn so với phụ cấp chức vụ lãnh đạo đang hưởng, ngoài việc được bảo lưu phụ cấp chức vụ lãnh đạo đang hưởng đến hết thời hạn giữ chức vụ bổ nhiệm hoặc hết nhiệm kỳ bầu cử (trường hợp đã giữ chức vụ theo thời hạn được bổ nhiệm hoặc nhiệm kỳ bầu cử còn dưới 06 tháng thì được bảo lưu 06 tháng) còn được tỉnh hỗ trợ một lần bằng tiền tương đương với 60 tháng chênh lệch giữa mức phụ cấp chức vụ lãnh đạo cũ với mức phụ cấp chức vụ lãnh đạo mới tại thời điểm thôi giữ chức vụ lãnh đạo cũ.

2. Hỗ trợ đối với người nghỉ hưu trước tuổi hoặc thôi việc ngay

a) Đối tượng quy định tại các Khoản 1, 3, 5 Điều 2 Nghị quyết này có tuổi từ đủ 55 tuổi đến dưới 60 tuổi đối với nam, đủ 50 tuổi đến dưới 55 tuổi đối với nữ, có thời gian đóng bảo hiểm xã hội đủ 20 năm trở lên hoặc có đủ 50 tuổi đến dưới 55 tuổi đối với nam, đủ 45 tuổi đến dưới 50 tuổi đối với nữ, có thời gian đóng bảo hiểm xã hội đủ 20 năm trở lên, trong đó có đủ 15 năm làm nghề hoặc công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc có đủ 15 năm làm việc ở nơi có phụ cấp khu vực hệ số 0,7 trở lên ngoài việc được hưởng chính sách nghỉ hưu trước tuổi theo quy định hiện hành còn được Tỉnh hỗ trợ: 03 tháng tiền lương bình quân cho mỗi năm nghỉ hưu trước tuổi so với quy định về tuổi nghỉ hưu tại Điều 54 Luật Bảo hiểm xã hội; 05 tháng tiền lương bình quân cho 20 năm đầu công tác, có đóng đủ bảo hiểm xã hội, từ năm thứ hai mươi mốt trở đi, cứ mỗi năm công tác có đóng bảo hiểm xã hội được trợ cấp ½ tháng tiền lương.

b) Đối tượng quy định tại các Khoản 3, 5 Điều 2 Nghị quyết này có tuổi đời dưới 53 tuổi đối với nam, dưới 48 tuổi đối với nữ và không đủ điều kiện để hưởng chính sách về hưu trước tuổi theo quy định tại khoản 1 Điều 8 Nghị định số 108/2014/NĐ-CP ngày 20/11/2014 của Chính phủ hoặc có tuổi đời dưới 58 tuổi đối với nam, dưới 53 tuổi đối với nữ và không đủ điều kiện để hưởng chính sách về hưu trước tuổi theo quy định tại Khoản 2 Điều 8 Nghị định số 108/2014/NĐ-CP ngày 20/11/2014 của Chính phủ, nếu thôi việc ngay thì ngoài việc được hưởng trợ cấp thôi việc ngay theo quy định hiện hành còn được tỉnh hỗ trợ 03 tháng tiền lương hiện hưởng để tìm việc làm và 1,5 tháng tiền lương bình quân cho mỗi năm công tác có đóng bảo hiểm xã hội.

3. Hỗ trợ đối với người nghỉ công tác chờ đủ tuổi nghỉ hưu

Đối tượng quy định tại Khoản 1 Điều 2 Nghị quyết này còn thời gian công tác dưới 02 năm (24 tháng) mới đến tuổi nghỉ hưu theo quy định, không có nguyện vọng nghỉ hưu trước tuổi hoặc thôi việc ngay, thì được hưởng các chế độ, chính sách theo quy định tại Điều 5 Nghị định số 26/2015/NĐ-CP và được Tỉnh hỗ trợ một lần bằng tiền tương đương với 06 tháng tiền lương bình quân cho mỗi năm nghỉ công tác chờ đủ tuổi nghỉ hưu.

4. Hỗ trợ đối với người chuyển công tác ra ngoài khu vực nhà nước hoặc ra tỉnh ngoài

Đối tượng quy định tại các Khoản 1, 3, 5 Điều 2 nghị quyết này được hỗ trợ một lần bằng tiền tương đương 06 tháng tiền lương hiện hưởng tại thời điểm chuyển công tác, ngoài ra cứ mỗi năm công tác có đóng bảo hiểm xã hội được hỗ trợ 01 tháng tiền lương bình quân.

5. Hỗ trợ đối với người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, ở thôn, bản, khu phố

Hỗ trợ một lần bằng tiền tương đương 02 lần mức phụ cấp hàng tháng hiện đang hưởng tại thời điểm nghỉ công tác theo quy định tại Nghị quyết số 207/2019/NQ-HĐND ngày 30/7/2019 của Hội đồng nhân dân tỉnh Quảng Ninh khóa XIII cho mỗi năm đã công tác.

Trường hợp người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, ở thôn, bản, khu phố có thời gian đảm nhiệm các chức danh hoạt động không chuyên trách khác nhau ở cấp xã và ở thôn, bản, khu phố theo quy định của Hội đồng nhân dân tỉnh thì thời gian hỗ trợ được tính bằng thời gian làm việc liên tục, không gián đoạn đảm nhiệm các chức danh đến thời điểm có quyết định của cơ quan có thẩm quyền về việc miễn nhiệm hoặc thôi bố trí hoặc thôi hưởng phụ cấp.

Thời gian công tác liên tục là thời gian đảm nhận các chức danh không chuyên trách ở cấp xã và ở thôn, bản, khu phố theo quy định không gián đoạn tính đến thời điểm nghỉ công tác do sắp xếp lại các đơn vị cấp xã và thôn, bản, khu phố. Trong cùng một thời gian, một người đảm nhận nhiều chức danh không chuyên trách thì cũng chỉ tính 01 lần thời gian công tác.

6. Cách tính hỗ trợ

a) Tiền lương hiện hưởng bao gồm tiền lương theo ngạch (chức danh nghề nghiệp), bậc hoặc theo bảng lương; các khoản phụ cấp: phụ cấp chức vụ, phụ cấp thâm niên vượt khung, phụ cấp thâm niên nghề và mức chênh lệch phụ cấp bảo lưu (nếu có) theo quy định của pháp luật.

b) Tiền lương bình quân là bình quân tiền lương tháng thực lĩnh của 05 năm cuối (60 tháng) trước khi nghỉ hưu trước tuổi hoặc thôi việc ngay. Đối với những trường hợp chưa đủ 05 năm (60 tháng) công tác thì được tính bình quân tiền lương tháng thực lĩnh của toàn bộ thời gian công tác.

c) Mức lương cơ sở: Được xác định theo mức lương cơ sở quy định của Chính phủ tại thời điểm nghỉ công tác của đối tượng được hỗ trợ.

d) Thời gian tính hưởng hỗ trợ có số tháng lẻ thì tính như sau: Dưới 06 tháng tính là ½ năm; từ trên 06 tháng đến dưới 12 tháng thì tính tròn là 01 năm.

e) Cán bộ, công chức, viên chức, Hợp đồng 68, những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, ở thôn, bản, khu phố thuộc tỉnh đã được hưởng chính sách hỗ trợ tại nghị quyết này phải hoàn trả lại số tiền hỗ trợ đã nhận nếu được bầu, tuyển dụng, ký hợp đồng lao động lại vào các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp công lập thuộc tỉnh hoặc bố trí lại đảm nhiệm chức danh người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, ở thôn, bản, khu phố thuộc tỉnh.

Cơ quan, đơn vị bầu, tuyển dụng, ký hợp đồng lao động lại người đã nhận hỗ trợ theo quy định tại nghị quyết này có trách nhiệm thu hồi số tiền hỗ trợ đã nhận và nộp vào ngân sách địa phương.

7. Nguồn kinh phí thực hiện: Ngân sách địa phương theo phân cấp.

8. Thời gian thực hiện: Kể từ ngày nghị quyết có hiệu lực đến hết ngày 30/6/2020.

Điều 5. Hội đồng nhân dân tỉnh giao

1. Ủy ban nhân dân tỉnh tổ chức thực hiện nghị quyết.

2. Thường trực, các ban, các tổ và đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh giám sát việc thực hiện nghị quyết.

Nghị quyết này có hiệu lực kể từ ngày 17 tháng 12 năm 2019.

Thái Nguyên: Tập Huấn Nghị Quyết Số 35

15:47 16/09/2020 346

Công tác giáo dục Web.ĐTN: Chiều 16/9, Tỉnh đoàn Thái Nguyên tổ chức Hội nghị tập huấn Nghị quyết số 35 -NQ/TW ngày 22/10/2018 của Ban Chấp hành Trung ương về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới.

Trước đó, sáng 16/9, Tỉnh đoàn đã tổ chức Hội nghị chuyên đề tuyên truyền Nghị quyết số 04 -NQ/TW ngày 30/10/2016 của Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương khóa XII về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “Tự diễn biến”, “Tự chuyển hóa” trong nội bộ.

Thực hiện Nghị quyết Trung ương 04 trong thời gian qua, tuổi trẻ tỉnh Thái Nguyên đã tích cực tổ chức nhiều hoạt động cụ thể, thiết thực, hiệu quả như: Phối hợp tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng ở tỉnh và các địa phương; sử dụng các bộ công cụ tuyên truyền trực quan, trên fanpage, các trang mạng xã hội facebook, zalo; tổ chức các hoạt động khảo sát trực tiếp, Hội nghị tập huấn, Hội nghị chuyên đề,…

Thông qua các hoạt động, cán bộ, đoàn viên, thanh niên đã có nhận thức đúng đắn và chấp hành nghiêm chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, tuyệt đối tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, ra sức rèn luyện phẩm chất, tu dưỡng đạo đức, chính trị, tư tưởng, yên tâm học tập, công tác và cống hiến cho địa phương, đơn vị.

Tại Hội nghị, các đồng chí cán bộ Đoàn đã được trao đổi, truyền đạt thông tin về các biểu hiện “Tự diễn biến”,”Tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên.

Phát biểu tại Hội nghị đồng chí Phạm Thị Thu Hiền – Phó Bí thư, Chủ nhiệm UBKT Tỉnh đoàn đã nhấn mạnh: “Thông qua đội ngũ cán bộ Đoàn chuyên trách, các đồng chí Ủy viên Ban Chấp hành, đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên, công tác viên dư luận xã hội của các đơn vị Đoàn cơ sở, Ban Thường vụ Tỉnh đoàn mong muốn chuyển tải đến các cơ sở đoàn, đoàn viên thanh niên tại địa phương, đơn vị nhận thức rõ hơn, đúng đắn hơn về các nội dung của 02 Nghị quyết đặc biệt trong giai đoạn hiện nay để biến thành hành động cụ thể trong công việc hàng ngày tại cơ quan cũng như hoạt động công tác Đoàn và phong trào thanh thiếu nhi tại địa phương”./.

Kiều Chinh

Nghị Quyết Của Hđnd Tỉnh Về Việc Sửa Đổi Một Số Nội Dung Nghị Quyết Số 37/2011/Nq

Ngày 20-12-2013, Chủ tịch HĐND tỉnh Phạm Văn Vọng đã ký, ban hành Nghị quyết số 116/2013/NQ-HĐND của HĐND tỉnh Về việc sửa đổi một số nội dung Nghị quyết số 37/2011/NQ-HĐND ngày 19-12-2011 của HĐND tỉnh Vĩnh Phúc. Nội dung Nghị quyết như sau:

Hội đồng nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc khoá XV, kỳ họp thứ 8 Quyết nghị:

Điều 1. Sửa đổi điểm e khoản 1 và điểm a khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 37/2011/NQ-HĐND ngày 19-12-2011 của HĐND tỉnh, cụ thể như sau:

1. Điểm e khoản 1 Điều 2

“e) Hỗ trợ cho người lao động đi làm việc, thực tập sinh đi thực tập kỹ thuật ở nước ngoài theo hợp đồng, như sau:

e.1) Đối với người là thân nhân người có công, là người dân tộc thiểu số, là người lao động thuộc hộ nghèo đi làm việc, đi thực tập kỹ thuật có thời hạn ở nước ngoài:

+ Hỗ trợ học nghề ngắn hạn: 1.000.000 đồng/người/ khóa học. Trường hợp đã hưởng hỗ trợ học trung cấp nghề, bổ túc văn hóa

+ nghề, cao đẳng nghề, học nghề trình độ sơ cấp, học nghề ngắn hạn, học nghề tại các làng nghề theo Nghị quyết số 37/2011/NQ-HĐND thì không hưởng hỗ trợ học nghề tại nội dung này.

+ Hỗ trợ học ngoại ngữ: 3.000.000 đồng/người/khóa học.

+ Hỗ trợ học bồi dưỡng kiến thức cần thiết: 530.000 đồng/người/khóa.

+ Hỗ trợ tiền ăn trong thời gian học thực tế: 15.000 đồng/người/ngày.

+ Hỗ trợ chi phí đi lại (1 lượt đi và về) cho người lao động từ nơi cư trú đến nơi học: Đối với người lao động thuộc các xã miền núi 400.000 đồng/lao động; đối với người lao động thuộc các xã còn lại 300.000 đồng/lao động.

+ Hỗ trợ chi phí làm thủ tục đối với lao động đi làm việc nước ngoài gồm: Hộ chiếu, visa, khám sức khỏe, lý lịch tư pháp theo mức quy định hiện hành của Nhà nước.

e.2) Đối với các đối tượng đi làm việc, thực tập sinh đi thực tập kỹ thuật ở nước ngoài theo hợp đồng còn lại:

+ Hỗ trợ học nghề ngắn hạn: 700.000 đồng/người/khóa học. Trường hợp đã hưởng hỗ trợ học trung cấp nghề, bổ túc văn hóa

+ nghề, cao đẳng nghề, học nghề trình độ sơ cấp, học nghề ngắn hạn, học nghề tại các làng nghề theo Nghị quyết số 37/2011/NQ-HĐND thì không hưởng hỗ trợ học nghề tại nội dung này.

+ Hỗ trợ học ngoại ngữ: 2.100.000 đồng/người/khóa học

+ Hỗ trợ học bồi dưỡng kiến thức cần thiết: 371.000 đồng/người/khóa

+ Hỗ trợ tiền ăn trong thời gian học thực tế: 10.500 đồng/người/ngày.

+ Hỗ trợ chi phí đi lại cho người lao động từ nơi cư trú đến nơi học: Đối với người lao động thuộc các xã miền núi 280.000 đồng/lao động; đối với người lao động thuộc các xã còn lại 210.000 đồng/lao động.

+ Hỗ trợ 70% chi phí làm hộ chiếu, visa, khám sức khỏe, lý lịch tư pháp theo mức quy định hiện hành của Nhà nước.

2. Điểm a khoản 2 Điều 2

a) Đối với người đi làm việc có thời hạn, thực tập sinh đi thực tập kỹ thuật ở nước ngoài.

a.1) Người thuộc hộ hưởng chính sách ưu đãi đối với người có công với cách mạng, hộ nghèo, hộ dân tộc thiểu số đi làm việc ở nước ngoài, đi thực tập kỹ thuật ở nước ngoài theo hợp đồng được vay tối đa số tiền bằng tổng chi phí cần thiết mà người lao động phải đóng góp theo quy định ghi trong hợp đồng đối với từng thị trường và được hỗ trợ 100% lãi suất vay trong 12 tháng đầu từ Quỹ giải quyết việc làm của tỉnh, ủy thác qua Ngân hàng chính sách xã hội.

a.2) Các đối tượng đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài, đi thực tập kỹ thuật ở nước ngoài theo hợp đồng còn lại, được vay tối đa số tiền bằng 80% tổng chi phí cần thiết mà người lao động phải đóng góp theo quy định ghi trên hợp đồng đối với từng thị trường và được hỗ trợ 30% lãi suất vay trong 12 tháng đầu từ Quỹ giải quyết việc làm của tỉnh, ủy thác qua Ngân hàng chính sách xã hội.

Điều 2. Tổ chức thực hiện.

1. HĐND tỉnh giao UBND tỉnh tổ chức triển khai thực hiện nghị quyết.

2. Thường trực HĐND, các Ban và đại biểu HĐND tỉnh có trách nhiệm giám sát việc thực hiện nghị quyết.

3. Nghị quyết có hiệu lực sau 10 ngày kể từ ngày HĐND tỉnh thông qua. Nghị quyết này đã được HĐND tỉnh Vĩnh Phúc khóa XV, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 12-12-2013.

Kỳ Họp Bất Thường Hđnd Tỉnh Thái Bình Thông Qua Nhiều Nghị Quyết

Tại kỳ họp bất thường, Hội đồng Nhân dân tỉnh Thái Bình đã thông qua 16 Nghị quyết có ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế, xã hội và đời sống nhân dân trong tỉnh. Ông Nguyễn Hồng Diên, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Hội đồng Nhân dân tỉnh khai mạc kỳ họp. (Ảnh: Nguyễn Công Hải/TTXVN)

Ngày 24/2, tại Trung tâm Hội nghị tỉnh Thái Bình, Hội đồng Nhân dân tỉnh Thái Bình khóa XVI, nhiệm kỳ 2016-2021 đã tổ chức kỳ họp bất thường xem xét, quyết định nhiều nội dung.

Tại kỳ họp, Hội đồng Nhân dân tỉnh đã thông qua 16 Nghị quyết có ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế, xã hội và đời sống nhân dân trong tỉnh.

Phát biểu tại kỳ họp, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Hội đồng Nhân dân tỉnh Thái Bình Nguyễn Hồng Diên nhấn mạnh để tổ chức thực hiện tốt các nghị quyết đã được Hội đồng Nhân dân tỉnh thông qua, Hội đồng Nhân dân tỉnh đề nghị Ủy ban Nhân dân tỉnh, các cấp, các ngành, các địa phương, đơn vị trong tỉnh tập trung rà soát, đánh giá tình hình và kịp thời bổ khuyết các nhiệm vụ, giải pháp để chỉ đạo, tổ chức thực hiện quyết liệt, hiệu quả nhằm thực hiện thắng lợi, toàn diện các chỉ tiêu kế hoạch năm 2020 đã đề ra, góp phần hoàn thành và hoàn thành suất sắc nghị quyết đại hội đảng bộ các cấp nhiệm kỳ 2025-2020.

Đặc biệt, chú trọng thực hiện tốt các nhiệm vụ trọng tâm, cấp bách đang đặt ra như phòng, chống dịch COVID-19, tích cực chuẩn bị các công việc để tổ chức kỷ niệm 130 năm Ngày thành lập tỉnh, gắn với khánh thành tượng đài Bác Hồ với nông dân Việt Nam, đón nhận Bằng công nhận tỉnh Thái Bình hoàn thành mục tiêu xây dựng nông thôn mới, đồng thời chuẩn bị cho tổ chức thành công đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội toàn quốc lần thứ XIII của Đảng…

Thường trực Hội đồng Nhân dân tỉnh, các ban và các đại biểu Hội đồng Nhân dân tỉnh, các cấp ủy đảng, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh và các tổ chức thành viên tiếp tục tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra, giám sát, kịp thời góp ý và phối hợp chặt chẽ với Ủy ban Nhân dân tỉnh, các sở, ngành, các địa phương trong quá trình tổ chức thực hiện…

Trong số các Nghị quyết được Hội đồng Nhân dân tỉnh thông qua tại kỳ họp lần này có Nghị quyết về việc sáp nhập tổ dân phố thuộc thị trấn Vũ Thư, huyện Vũ Thư; thành lập tổ dân phố thuộc phường Quang Trung, thành phố Thái Bình. Tổ dân phố Minh Tiến được sáp nhập với tổ dân phố Minh Tân 1 để thành lập tổ dân phố Minh Hòa, thuộc thị trấn Vũ Thư, huyện Vũ Thư. Phường Quang Trung thành lập mới hai tổ dân phố số 05 và 06.

Đối với Nghị quyết ban hành quy định về chính sách ưu đãi, hỗ trợ phát triển chăn nuôi trâu, bò thương phẩm theo chuỗi liên kết trên địa bàn tỉnh, giai đoạn 2020-2025, các tổ chức là doanh nghiệp, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã, tổ hợp tác và hộ chăn nuôi gồm cả cá nhân, chủ trang trại không phải tổ chức thực hiện đầu tư chăn nuôi trâu, bò thương phẩm theo chuỗi liên kết hoặc tham gia vào chuỗi liên kết chăn nuôi trâu, bò thương phẩm trên địa bàn tỉnh được xét ưu đãi, hỗ trợ theo quy định này.

Tỉnh Thái Bình khuyến khích hộ chăn nuôi trâu, bò tham gia, thành lập hợp tác xã, tổ hợp tác chăn nuôi trâu, bò theo quy định của pháp luật để tham gia vào chuỗi liên kết.

Thái Bình ưu đãi về đơn giá, miễn giảm tiền thuê đất và hỗ trợ tích tụ, tập trung đất đai, hỗ trợ hạ tầng, tín dụng, phối giống nhân tạo, vắcxin phòng bệnh, đào tạo nghề, tập huấn, hướng dẫn kỹ thuật, hỗ trợ làm đệm lót sinh học… Trong hỗ trợ tích tụ, tập trung đất đai, các tổ chức, hộ chăn nuôi tham gia chuỗi liên kết, có dự án đầu tư cơ sở chăn nuôi trâu, bò được cấp có thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư hoặc cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư nhận chuyển nhượng, thuê quyền sử dụng đất, nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất của hộ gia đình, cá nhân để hình thành vùng nguyên liệu có diện tích tối thiểu 20 ha/vùng được hỗ trợ xây dựng cơ sở hạ tầng vùng nguyên liệu với mức hỗ trợ 50 triệu đồng/ha, nhưng không quá 10 tỷ đồng/dự án…

Trước đó, tại Đề án phát triển đàn trâu, bò thương phẩm theo chuỗi liên kết giai đoạn 2019-2025 và những năm tiếp theo, Thái Bình đã đặt mục tiêu phát triển đàn trâu, bò thương phẩm có năng suất, chất lượng cao theo chuỗi liên kết, bảo đảm vệ sinh môi trường và an toàn dịch bệnh, trở thành một trong những đối tượng con vật nuôi chủ lực của tỉnh, góp phần đưa chăn nuôi thành ngành sản xuất chính nhằm chuyển đổi sinh kế, bảo đảm đời sống của người chăn nuôi và thúc đẩy chuyển đổi cơ cấu ngành chăn nuôi, cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng phát triển sản xuất nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp tuần hoàn, hiệu quả, bền vững.

Cụ thể, đến hết năm 2020, Thái Bình phấn đấu có tổng đàn trâu, bò đạt 70.000 con trở lên; xây dựng được từ hai trang trại “lõi” trở lên đầu tư chăn nuôi trâu, bò theo chuỗi liên kết tại huyện Quỳnh Phụ, huyện Vũ Thư.

Đến hết năm 2025, tỉnh phấn đấu tổng đàn trâu, bò đạt 180.000 con trở lên; xây dựng được từ 3-5 trang trại “lõi” trở lên đầu tư chăn nuôi trâu, bò theo chuỗi liên kết và phát triển được 25.000-28.000 nông hộ, gia trại chăn nuôi trâu, bò vệ tinh; thu hút đầu tư xây dựng được từ 1-2 khu giết mổ gia súc tập trung…/.