Nghị Quyết Số 29-Nq/Tw Năm 2018 / 2023 / Top 16 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 11/2022 # Top View | Bac.edu.vn

Điều 3 Nghị Quyết Số 02/2018/Nq / 2023

Điều 2 Nghị Quyết 02/2018/nq-hĐtp, Điều 3 Nghị Quyết Số 02/2018/nq-hĐtp, Nghị Quyết 02/2018/nq-hĐtp, Nghị Quyết 02/2018/hĐtp, Nghị Quyết 02/2018 HĐtp, Điều 3 Nghị Quyết 04/2017/nq-hĐtp, Điều 5 Nghị Quyết 04/2017/nq-hĐtp, Điều 8 Nghị Quyết Số 03/2015/nq-hĐtp, Điều 7 Nghị Quyết 03/2012/nq-hĐtp, Điều 4 Nghị Quyết 04/2017/nq-hĐtp, Điều 6 Nghị Quyết 04/2017/nq-hĐtp, Nghị Quyết Số 04 HĐtp, Nghị Quyết Số 02/hĐtp, Nghị Quyết 03/2017/nq-hĐtp, Mục 5 Nghị Quyết Số 01/2000/nq- HĐtp, Nghị Quyết 02/2017/nq-hĐtp, Nghị Quyết 2/2004/nq-hĐtp, Mục 5 Nghị Quyết Số 01/2006/nq- HĐtp, Mẫu Số 1 Nghị Quyết 02 2006 Nq HĐtp, Nghị Quyết Số 04/2006/nq-hĐtp, Nghị Quyết Số 05/2012/nq-hĐtp, Mục 7 Nghị Quyết Số 01 2007 Nq HĐtp, Mục 7 Nghị Quyết Số 01/2000/nq-hĐtp, Nghị Quyết Số 3 2006 Nq HĐtp, Mục 8 Nghị Quyết Số 01/2000/nq- HĐtp, Mục 5 Nghị Quyết Số 01 2000 Nq HĐtp, Nghị Quyết 04/2004/nq-hĐtp, Nghị Quyết Số 01/2006/nq-hĐtp, 7 Nghị Quyết Số 01/2000/nq-hĐtp, Nghị Quyết Số 02/2004/nq-hĐtp, Nghị Quyết Số 02/hĐtp/tandtc/qĐ, Mục 1 Nghị Quyết Số 01 2006 Nq HĐtp, Nghị Quyết Số 01/2000/nq-hĐtp (mục 5), Nghị Quyết Số 02/hĐtp Năm 1990, Nghị Quyết Số 02/2003/nq-hĐtp, Nghị Quyết 02 2004 HĐtp Tandtc, Download Nghị Quyết Số 03/2006/nq-hĐtp, Mục 3 Phần I Nghị Quyết Số 01/2005/nq-hĐtp, Mục 2 Phần 2 Nghị Quyết Số 03/2006/nq-hĐtp, Nghị Quyết Số 01/2005/nq-hĐtp (mục 7 Phần I), Điều 10,11,12 Quyết Định 08 Ngày 11/10/2018, Điều 3 Nghị Định 161/nĐ-cp 2018, Điều 2 Nghị Định 161 Năm 2018, Điều 2 Nghị Định 161/nĐ-cp 2018, Điều 3 Nghị Định 161 Năm 2018, Điều 8 Nghị Định Số 31/2018/nĐ-cp, Điều 1 Nghị Định Số 59/2018/nĐ-cp, Điều 3 Nghị Định 161 Năm 2018 Của Chính Phủ, Nghị Quyết 2/2018, Nghị Quyết 29/2018, Nghị Quyết 30/2018, Nghi Quyet 35 Nq Tw 2018, Nghị Quyết 02/2018, Nghị Quyết 35 2018, Nghị Quyết 28/2018, Nghị Quyết 60/2018, Nghị Quyết 22 Năm 2018, Nghị Quyết 72/2018/qh14, Nghị Quyết 60/2018/qh14, Chỉ Thị Nghị Quyết Của Đảng Năm 2018, Tại Nghị Quyết 70/2018/qh14, Nghị Quyết Số 35-nq/tw, Ngày 22/10/2018, Nghị Quyết Chuyên Đề Của Chi Bộ Năm 2018, Nghị Quyết 73/2018/qh14, Nghị Quyết 30/2018 Của Bộ Chính Trị, Nghị Quyết 70/2018/qh14, Nghị Quyết 35 Nq Tw Ngày 22 10 Năm 2018, Nghị Quyết Số 29-nq/tw Ngày 25/7/2018, Nghị Quyết 71/2018/qh14, Nghĩ Quyết 29 Ngày 27/10/2018, Nghị Quyết Số 28-nq/tw Ngày 23 Tháng 5 Năm 2018, Nghị Quyết 12/2018/nq-hĐnd Tỉnh Lào Cai, Dự Thảo Nghị Quyết Chi Bộ Tháng 4/2018, Nghị Quyết 35-nq/tw Ngày 22 Tháng 10 Năm 2018, “nghị Quyết Sở 35 Nq Tw Ngày 22 Tháng 10 Nam 2018”, Nghị Quyết Sở 35 Nq Tw Ngày 22 Tháng 10 Nam 2018, Toàn Văn Nghị Quyết Sở 35 Nq Tw Ngày 22 Tháng 10 Nam 2018, Nghị Quyết 04/2018 Của HĐnd Tỉnh Bắc Giang, Nghị Quyết 04 HĐnd Tỉnh Bắc Giang 2018, Bản Cam Kết Cá Nhân Thực Hiện Các Nghị Quyết … Năm 2018, Nghị Quyết Về Chương Trình Giám Sát Năm 2018, Nghị Quyết Số 35-nq/tw Ngày 22 Tháng 10 Năm 2018 Của Bộ Chính Trị Khóa Xii, Nghị Quyết HĐnd Tỉnh Quảng Ninh Tháng 7 Năm 2018, Nghị Quyết Số 30-nq/tw Ngày 25/7/2018 Của Bộ Chính Trị Về Chiến Lược An Ninh Mạng Quốc Gia, Nghị Quyết 29-nq/tw Ngày 25/7/2018 Về “chiến Lược Bảo Vệ Tổ Quốc Trên Không Gian Mạng”, Thuyết Trình Về Thực Hiện Nghị Quyết Của Tỉnh ủy Cao Bằng Về Vẫn Đề Giáo Dục Năm 2017 – 2018, Quyet Dinh 02/2018/qĐ-ubnd Ngay 06/10/2018, Quyet Dinh 02/2018/qĐ-bn Ngay 06/10/2018, Nghị Định Số 31/2018/nĐ-cp Ngày 08 Tháng 3 Năm 2018, Điều 7 Nghị Quyết 42, Điều 4 Nghị Quyết 02, Điều 4 Nghị Quyết 42, Điều 8 Nghị Quyết 42, Điều 3 Nghị Quyết 35, Điều 11,12 Nghị Quyết Số 42, Điều 10,11,12 Nghị Quyết 08-qĐ/tu, Điều 3 Nghị Quyết 41, Điều 7 Nghị Quyết 03, Điều 5 Nghị Quyết 85, Nghị Định Số 27/2018/nĐ-cp Ngày 01/3/2018,

Điều 2 Nghị Quyết 02/2018/nq-hĐtp, Điều 3 Nghị Quyết Số 02/2018/nq-hĐtp, Nghị Quyết 02/2018/nq-hĐtp, Nghị Quyết 02/2018/hĐtp, Nghị Quyết 02/2018 HĐtp, Điều 3 Nghị Quyết 04/2017/nq-hĐtp, Điều 5 Nghị Quyết 04/2017/nq-hĐtp, Điều 8 Nghị Quyết Số 03/2015/nq-hĐtp, Điều 7 Nghị Quyết 03/2012/nq-hĐtp, Điều 4 Nghị Quyết 04/2017/nq-hĐtp, Điều 6 Nghị Quyết 04/2017/nq-hĐtp, Nghị Quyết Số 04 HĐtp, Nghị Quyết Số 02/hĐtp, Nghị Quyết 03/2017/nq-hĐtp, Mục 5 Nghị Quyết Số 01/2000/nq- HĐtp, Nghị Quyết 02/2017/nq-hĐtp, Nghị Quyết 2/2004/nq-hĐtp, Mục 5 Nghị Quyết Số 01/2006/nq- HĐtp, Mẫu Số 1 Nghị Quyết 02 2006 Nq HĐtp, Nghị Quyết Số 04/2006/nq-hĐtp, Nghị Quyết Số 05/2012/nq-hĐtp, Mục 7 Nghị Quyết Số 01 2007 Nq HĐtp, Mục 7 Nghị Quyết Số 01/2000/nq-hĐtp, Nghị Quyết Số 3 2006 Nq HĐtp, Mục 8 Nghị Quyết Số 01/2000/nq- HĐtp, Mục 5 Nghị Quyết Số 01 2000 Nq HĐtp, Nghị Quyết 04/2004/nq-hĐtp, Nghị Quyết Số 01/2006/nq-hĐtp, 7 Nghị Quyết Số 01/2000/nq-hĐtp, Nghị Quyết Số 02/2004/nq-hĐtp, Nghị Quyết Số 02/hĐtp/tandtc/qĐ, Mục 1 Nghị Quyết Số 01 2006 Nq HĐtp, Nghị Quyết Số 01/2000/nq-hĐtp (mục 5), Nghị Quyết Số 02/hĐtp Năm 1990, Nghị Quyết Số 02/2003/nq-hĐtp, Nghị Quyết 02 2004 HĐtp Tandtc, Download Nghị Quyết Số 03/2006/nq-hĐtp, Mục 3 Phần I Nghị Quyết Số 01/2005/nq-hĐtp, Mục 2 Phần 2 Nghị Quyết Số 03/2006/nq-hĐtp, Nghị Quyết Số 01/2005/nq-hĐtp (mục 7 Phần I), Điều 10,11,12 Quyết Định 08 Ngày 11/10/2018, Điều 3 Nghị Định 161/nĐ-cp 2018, Điều 2 Nghị Định 161 Năm 2018, Điều 2 Nghị Định 161/nĐ-cp 2018, Điều 3 Nghị Định 161 Năm 2018, Điều 8 Nghị Định Số 31/2018/nĐ-cp, Điều 1 Nghị Định Số 59/2018/nĐ-cp, Điều 3 Nghị Định 161 Năm 2018 Của Chính Phủ, Nghị Quyết 2/2018, Nghị Quyết 29/2018,

Nho Quan Tổng Kết Nghị Quyết Số 42 Nq Tw Và Nghị Quyết Số 11 Nq Tw Của Bộ Chính Trị / 2023

Ngày 24/8, Huyện ủy Nho Quan tổ chức Hội nghị tổng kết Nghị quyết số 42-NQ/TW và Nghị quyết số 11 – NQ/TW của Bộ Chính trị (Khóa IX) về công tác quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý thời kỳ đẩy mạnh CNH-HĐH đất nước và công tác luân chuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý.

Dự hội nghị có các đồng chí Nguyễn Tiến Thành, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh; Trương Đức Lộc, TVTU, Trưởng Ban Tổ chức Tỉnh ủy.

Thực hiện Nghị quyết số 42, công tác quy hoạch cán bộ được Ban Thường vụ huyện ủy Nho quan thực hiện dân chủ, công khai theo đúng quy trình và đảm bảo số lượng cán bộ trong quy hoạch theo đúng chỉ đạo, hướng dẫn của Ban Tổ chức Trung ương.

Với phương châm “động” và “mở”, một chức danh được giới thiệu nhiều người và một người được giới thiệu nhiều chức danh, số lượng quy hoạch BCH, Ban Thường vụ cấp ủy huyện, xã, thị trấn đều đạt hệ số 1,5 đến 2,7 lần so với số lượng đương nhiệm. Hầu hết các chức danh chủ chốt của huyện, của xã, thị trấn và các phòng, ban, ngành, đoàn thể đều có số lượng quy hoạch từ 2 đến 3 người cho một chức danh.

Về cơ cấu quy hoạch đã chú trọng cơ cấu 3 độ tuổi theo hướng tăng tỷ lệ tuổi trẻ, tỷ lệ cán bộ nữ đưa vào quy hoạch đảm bảo không dưới 15%; các địa phương có đông đồng bào dân tộc thiểu số, đồng bào theo đạo công giáo đạt tỷ lệ từ 10-15% quy hoạch cấp ủy.

Ban Thường vụ huyện ủy, đảng ủy các xã, thị trấn đã quan tâm thực hiện kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cho cán bộ quy hoạch bằng việc cử đi học đại học chuyên ngành, cao cấp lý luận chính trị, đồng thời từng bước giao nhiệm vụ để rèn luyện. Hầu hết cán bộ quy hoạch đã được giới thiệu và bầu vào cấp ủy nhiệm kỳ 2005 – 2010, nhiệm kỳ 2010 – 2015.

Trong 5 năm qua, huyện cũng đã bổ nhiệm, đề bạt 61 cán bộ lãnh đạo, quản lý các phòng, ban, ngành, đoàn thể chính trị – xã hội của huyện, trong đó 20 đồng chí diện quy hoạch trực tiếp, tại chỗ và 41 đồng chí diện quy hoạch “mở”…

Đối với công tác luân chuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý, huyện ủy đã tiếp nhận 3 đồng chí cán bộ do Ban thường vụ Tỉnh ủy luân chuyển về huyện, trong đó có 2 đồng chí làm Bí thư huyện ủy, 1 đồng chí làm Phó chủ tịch UBND huyện.

Từ năm 2007-2011, huyện đã luân chuyển 30 đồng chí giữa huyện và xã, từ khối đảng đoàn thể sang khối nhà nước và ngược lại. Cùng với các chính sách hỗ trợ cho cán bộ luân chuyển của tỉnh, huyện đã thực hiện hỗ trợ công tác phí 150 nghìn đồng/người/tháng và tạo điều kiện cho các đồng chí luân chuyển được thanh gia các lớp đào tạo tại chức về chuyên môn và lý luận chính trị.

Số cán bộ luân chuyển được đánh giá kỹ về phẩm chất chính trị, bản lĩnh, trình độ, năng lực, không chỉ chọn cán bộ trẻ mà còn lựa chọn những đồng chí có kinh nghiệm, vững vàng để đưa về một số đơn vị cơ sở có tình hình phức tạp, khó khăn trong lãnh đạo, chỉ đạo, đơn vị hụt hẫng cán bộ, giúp các địa phương ổn định tình hình tập trung thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển KT-XH của địa phương.

Đến nay, các đồng chí cán bộ luân chuyển đều có bước trưởng thành, tiếp cận nhanh với môi trường công tác mới, biết vận dụng và phát huy chuyên môn, nghiệp vụ, giữ gìn đạo đức lối sống được Đảng bộ và nhân dân tin tưởng.

Bên cạnh công tác luân chuyển cán bộ, trong 3 năm qua, Nho Quan đã tuyển dụng 128 sinh viên tốt nghiệp cao đẳng trở lên về công tác tại các xã, thị trấn; xét tuyển 11 công chức dự bị gồm 7 chuyên ngành trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội có độ tuổi từ 23 đến 27, đáp ứng kịp thời nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị.

Quốc Khang

Một Số Điểm Mới Của Nghị Quyết 02/2018/Nq / 2023

Ngày 15/5/2018, Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ban hànhThứ nhất, về điều kiện cho người bị kết án phạt tù được hưởng án treo quy định tại Điều 2 Nghị quyết 02: Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng Điều 65 của BLHS về án treo. Nghị quyết có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2018, thay thế cho Nghị quyết số 01/2013/NQ-HĐTP.

Để phù hợp với Điều 65 BLHS, Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP quy định một số điểm mới so với Nghị quyết số 01 như sau:

-Đối với điều kiện ” Bị xử phạt tù không quá 03 năm“: Nghị quyết 02 loại bỏ quy định ” tội ít nghiêm trọng, tội nghiêm trọng, tội rất nghiêm trọng theo phân loại tội phạm quy định tại khoản 3 Điều 8 của Bộ luật hình sự ” so với Nghị quyết 01.

– Đối với điều kiện ” Có nhân thân tốt“: Nghị quyết 02 quy định: “Đối với người đã bị kết án nhưng thuộc trường hợp được coi là không có án tích, người bị kết án nhưng đã được xóa án tích, người đã bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị xử lý kỷ luật mà thời gian được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật tính đến ngày phạm tội lần này đã quá 06 tháng, nếu xét thấy tính chất, mức độ của tội phạm mới được thực hiện thuộc trường hợp ít nghiêm trọng hoặc người phạm tội là đồng phạm có vai trò không đáng kể trong vụ án và có đủ các điều kiện khác thì cũng có thể cho hưởng án treo”.Như vậy so với nghị quyết 01, nội dung này có những thay đổi căn bản sau:

+ Đối với người đã bị kết án thì không còn quy định khoảng thời gian từ khi được xóa án tích đến khi phạm tội lần này là điều kiện để cho hưởng án treo nữa (bỏ việc ấn định thời gian tại các điểm b1, b2, b3, b4 Nghị quyết 01).

+ Đối với người bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị xử lý kỷ luật thì Nghị quyết 02 ấn định thời gian từ thời điểm được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật đến ngày phạm tội lần này đã quá 06 tháng có thể cho hưởng án treo nếu có đủ các điều kiện khác. Nghị quyết 02 bỏ quy định về thời hạn đối với người bị xử phạt vi phạm hành chính, xử lý kỷ luật từ 02 lần trở lên (18 tháng), đối với hành vi có cùng tính chất với lần phạm tội này (01 năm).

+ Nghị quyết 02 bỏ quy định về điều kiện đối với người bị áp dụng các biện pháp xử lý hành chính quy định tại khoản 3 Luật xử lý vi phạm hành chính bao gồm: biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn; đưa vào trường giáo dưỡng; đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc và đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

+ Nghị quyết 02 bổ sung một số thuật ngữ như: ” trường hợp được coi là không có án tích” để phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 69 BLHS và Điều 107 BLHS; ” người phạm tội là đồng phạm có vai trò không đáng kể trong vụ án ” để phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 54 BLHS và điểm c khoản 2 Điều 91 BLHS.

– Đối với điều kiện về các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tuy Nghị quyết 02 có sự thay đổi cách diễn đạt nhưng nội dung không có sự thay đổi so với Nghị quyết 01.

– Đối với điều kiện “Có nơi cư trú rõ ràng”: Nghị quyết 02 bổ sung thêm điều kiện “nơi làm việc ổn định để cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giám sát, giáo dục” và quy định rõ khái niệm của hai điều kiện này như sau:

Thứ hai, về những trường hợp không cho hưởng án treo (Điều 3 Nghị quyết 02):

+ Nơi cư trú rõ ràng là nơi tạm trú hoặc thường trú có địa chỉ được xác định cụ thể theo quy định của Luật Cư trú mà người được hưởng án treo về cư trú, sinh sống thường xuyên sau khi được hưởng án treo.

+ Nơi làm việc ổn định là nơi người phạm tội làm việc có thời hạn từ 01 năm trở lên theo hợp đồng lao động hoặc theo quyết định của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền.

– “Người thực hiện hành vi phạm tội bỏ trốn và đã bị các cơ quan tiến hành tố tụng đề nghị truy nã”. Như vậy, phạm vi của trường hợp không cho hưởng án treo khi người thực hiện hành vi phạm tội bỏ trốn được mở rộng hơn so với Nghị quyết 01 “Bị cáo tại ngoại bỏ trốn trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, Tòa án đã đề nghị cơ quan điều tra truy nã”.

– Bổ sung trường hợp ” Người được hưởng án treo phạm tội mới trong thời gian thử thách; người đang được hưởng án treo bị xét xử về một tội phạm khác thực hiện trước khi được hưởng án treo “.

– Đối với trường hợp người phạm tội bị xét xử trong cùng một lần về nhiều tội, Nghị quyết 02 bổ sung trường hợp loại trừ “trừ trường hợp người phạm tội là người dưới 18 tuổi”.

Thứ ba, Nghị quyết 02 bỏ các lưu ý khi cho người bị kết án phạt tù hưởng án treo. Thứ tư, về thời điểm bắt đầu tính thời gian thử thách (Điều 5 Nghị quyết 02), bổ sung thêm 3 trường hợp:

– Đối với trường hợp người phạm tội nhiều lần, Nghị quyết 02 bổ sung trường hợp loại trừ “trừ trường hợp người phạm tội là người dưới 18 tuổi”.

– Bổ sung trường hợp “Người phạm tội thuộc trường hợp tái phạm, tái phạm nguy hiểm”.

– Trường hợp Tòa án cấp sơ thẩm không cho hưởng án treo, bản án không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, nhưng Hội đồng giám đốc thẩm sửa bản án sơ thẩm cho hưởng án treo thì thời gian thử thách tính từ ngày quyết định giám đốc thẩm có hiệu lực.

– Trường hợp Tòa án cấp sơ thẩm, Tòa án cấp phúc thẩm không cho hưởng án treo, nhưng Hội đồng giám đốc thẩm sửa bản án phúc thẩm cho hưởng án treo thì thời gian thử thách tính từ ngày quyết định giám đốc thẩm có hiệu lực.

– Trường hợp Tòa án cấp sơ thẩm cho hưởng án treo, Tòa án cấp phúc thẩm không cho hưởng án treo, nhưng Hội đồng giám đốc thẩm hủy bản án phúc phẩm, giữ nguyên bản án sơ thẩm hoặc Hội đồng giám đốc thẩm sửa bản án phúc thẩm cho hưởng án treo, thì thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Thứ năm, bổ sung quy định về nội dung của bản án tuyên người bị kết án phạt tù được hưởng án treo tại Điều 6 Nghị quyết 02.

Theo đó, Nghị quyết 02 quy định bản án cho người bị kết án phạt tù được hưởng án treo phải có:

Thứ sáu, bổ sung quy định về điều kiện và mức rút ngắn thời gian thử thách của án treo quy định tại Điều 8 Nghị quyết 02.

– Nội dung về việc giao người được hưởng án treo cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Thứ bảy, bổ sung thẩm quyền, trình tự, thủ tục, thời hạn xét, quyết định rút ngắn thời gian thử thách quy định tại Điều 9 Nghị quyết 02.

– Nội dung về việc tuyên hậu quả của việc vi phạm nghĩa vụ trong thời hạn thử thách.

Thứ tám, bổ sung quy định trường hợp người được hưởng án treo bị buộc phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo do cố ý vi phạm nghĩa vụ tại Điều 10 Nghị quyết 02.

Đây là quy định hoàn mới của Nghị quyết 02 về điều kiện để được rút ngắn thời gian thử thách của án treo; số lần, thời gian được rút ngắn thời gian thử thách; các trường hợp đặc biệt được rút ngắn thời gian thử thách của án treo.

Thứ chín, bổ sung quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, thời hạn xét, quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo tại Điều 11 Nghị quyết 02.

Đi kèm với quy định về việc rút ngắn thời gian thử thách của án treo, Nghị quyết 02 cũng đồng thời quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, thời hạn xét, quyết định rút ngắn thời gian thử thách.

Người được hưởng án treo có thể bị Tòa án buộc chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo nếu đang trong thời gian thử thách mà cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự từ 02 lần trở lên.

Nguyễn Minh Nguyệt- VKSND thành phố Bắc Giang

Đây cũng là một quy định hoàn toàn mới của Nghị quyết 02, nhằm phù hợp với quy định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù.

Tha Tù Trước Thời Hạn Theo Nghị Quyết Số 01/2018/Nq / 2023

Theo Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao, việc ban hành Nghị quyết số 01/2018/NQ-HĐTP nhằm áp dụng đúng và thống nhất quy định tại và Điều 106 Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 2017 về việc tha tù trước thời hạn, cụ thể:

1. Tha tù trước thời hạn nếu đủ các điều kiện

Về điều kiện tha tù trước thời hạn có điều kiện đối với người đang chấp hành án phạt tù về tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, tại Điều 2 Nghị quyết số 01/2018/NQ-HĐTP nêu rõ:

– Người đang chấp hành án phạt tù về tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Khoản 2 Điều 66 của Bộ luật hình sự có thể được tha tù trước thời hạn khi có đủ các Điều kiện sau đây:

+ Thứ nhất, đã được giảm thời hạn chấp hành án phạt tù;

+ Thứ hai, phạm tội lần đầu;

+ Thứ ba, có nhiều tiến bộ, có ý thức cải tạo tốt thể hiện ở việc chấp hành tốt Nội quy trại giam, trại tạm giam, nhà tạm giữ; tích cực học tập, lao động cải tạo và phải có đủ kỳ xếp loại chấp hành án phạt tù từ khá trở lên theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự;

+ Thứ tư, có nơi cư trú rõ ràng;

+ Thứ năm, đã chấp hành xong hình phạt bổ sung là hình phạt tiền, án phí và nghĩa vụ bồi thường thiệt hại;

+ Thứ sáu, đã chấp hành được ít nhất 1/2 mức phạt tù có thời hạn; ít nhất là 15 năm đối với trường hợp bị phạt tù chung thân nhưng đã được giảm xuống tù có thời hạn;

+ Thứ bảy, khi xét tha tù trước thời hạn có điều kiện phải xem xét thận trọng, chặt chẽ để bảo đảm việc tha tù trước thời hạn có điều kiện không ảnh hưởng đến an ninh, trật tự an toàn xã hội, đặc biệt là đối với các trường hợp phạm tội về ma túy, tham nhũng, phạm tội có tổ chức, các đối tượng chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy, ngoan cố, chống đối, côn đồ, tái phạm nguy hiểm.

– Hủy bỏ quyết định này đối với người được tha tù trước thời hạn có Điều kiện

– Buộc họ phải chấp hành Phần hình phạt tù còn lại chưa chấp hành

– Nếu họ cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên hoặc bị xử phạt vi phạm hành chính 02 lần trở lên.

Bị coi là cố ý vi phạm nghĩa vụ nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:

– Không trình diện UBND, Công an nhân dân cấp xã nơi về cư trú và không đăng ký tạm trú, thường trú theo quy định của pháp luật về cư trú trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày được tha tù trước thời hạn có Điều kiện.

– Không chấp hành nghiêm chỉnh cam kết của mình trong việc tuân thủ pháp luật, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ công dân, nội quy, quy chế nơi cư trú, làm việc; không tham gia lao động, học tập; không chấp hành đầy đủ hình phạt bổ sung.

– Không chấp hành sự quản lý, giám sát, giáo dục của UBND cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý, Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, Cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu nơi cư trú, làm việc và người được cơ quan có thẩm quyền phân công quản lý, giáo dục.

– Khi đi khỏi nơi cư trú không xin phép hoặc không được sự đồng ý của cơ quan có thẩm quyền. Đi khỏi địa bàn cư trú trong thời gian 03 ngày mà không được sự đồng ý của người được giao trực tiếp quản lý, giáo dục; đi khỏi địa bàn cư trú trên 03 ngày mà không được sự đồng ý của UBND cấp xã.

– Không có mặt theo yêu cầu của UBND cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý, Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, Cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu nơi về cư trú, làm việc.

– Hàng tháng không báo cáo với người được phân công quản lý, giáo dục về tình hình học tập, lao động, rèn luyện và sự tiến bộ của mình.

– Định kỳ 03 tháng không báo cáo bằng văn bản việc chấp hành các quy định đối với người được tha tù trước thời hạn có Điều kiện với UBND cấp xã, đơn vị quân đội được giao quản lý, Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu nơi về cư trú, làm việc.

3. Về điều kiện rút ngắn thời gian thử thách

Điều 6 Nghị quyết số 01/2018/NQ-HĐTP nêu rõ về người được tha tù trước thời hạn có thể được rút ngắn thời gian thử thách khi có đủ các Điều kiện:

– Đã chấp hành được ít nhất một phần hai thời gian thử thách;

– Có nhiều tiến bộ được thể hiện bằng việc trong thời gian thử thách, người được tha tù trước thời hạn có Điều kiện đã chấp hành nghiêm pháp luật, các nghĩa vụ; tích cực học tập, lao động, sửa chữa lỗi lầm và lập thành tích trong lao động sản xuất, bảo vệ an ninh Tổ quốc… được cơ quan cấp tỉnh trở lên khen thưởng.

Cùng với việc đề cập đến điều kiện tha tù trước thời hạn có điều kiện đối với người đang chấp hành án phạt tù về tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, Nghị quyết số 01/2018/NQ-HĐTP còn đề cập đến các nội dung như: Điều kiện tha tù trước thời hạn có Điều kiện đối với người đang chấp hành án phạt tù về tội phạm ít nghiêm trọng; điều kiện tha tù trước thời hạn có Điều kiện đối với người dưới 18 tuổi đang chấp hành án phạt tù; mức rút ngắn thời gian thử thách…

Mọi thông tin thắc mắc liên hệ tổng đài 1900.8698 để được Luật sư phụ trách hỗ trợ và tư vấn chi tiết