Nghị Quyết Số 29/Nq-Hđnd / Top 8 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 2/2023 # Top View | Bac.edu.vn

Nghị Quyết Số 04 2013 Nq Hđnd

Nghị Quyết Số 28/2013/nq-hĐnd Của HĐnd Tp. Hà Nội, Nghị Quyết Số 04 2013 Nq HĐnd, Nghị Quyết Số 12/2013/nq-hĐnd, Nghị Quyết Số 20/2020/nq-hĐnd Ngày 10/12/2020 Của HĐnd Tỉnh, Nghị Quyết 20/2016/nq-hĐnd, Nghị Quyết 66 Của HĐnd Tỉnh Kon Tum, Nghị Quyết Số 152 Của HĐnd Tỉnh Phú Yên, Nghị Quyết Số 53 HĐnd Tỉnh Phú Yên, Nghị Quyết 61 HĐnd Tỉnh Sơn La, Nghị Quyết 82 HĐnd Tỉnh Sơn La, Nghị Quyết Số 56/2016/nq-hĐnd Tỉn Vĩn Húc, Nghị Quyết Số 04/2009/nq-hĐnd, Nghị Quyết HĐnd Tỉnh, Nghị Quyết HĐnd Tỉnh Gia Lai, Nghị Quyết 02/2020/nq-hĐnd, Nghị Quyết Kỳ Họp Thứ 12 Cua HĐnd Tỉnh Gia Lai, Nghị Quyết HĐnd Thành Phố Hà Nội, Nghị Quyết Số 17 HĐnd Tỉnh Cà Mau, Nghị Quyết Số 27 HĐnd Tỉnh Đăk Lăk, Nghị Quyết HĐnd Tỉnh Phú Yên, Nghị Quyết Số 41 Của HĐnd Tỉnh Sơn La, Nghị Quyết Số 349 Của HĐnd Tỉnh Sơn La, Nghị Quyết HĐnd Tỉnh Yên Bái, Nghị Quyết Số 75 Của HĐnd Tỉnh Phú Yên, Nghị Quyết Số 20 Của HĐnd Tỉnh Yên Bái, Nghị Quyết 72 HĐnd Tỉnh Sơn La, Nghi Quyết Số 02/nq-hĐnd Tỉnh Sơn La, Nghị Quyết Số 70/2017/nq-hĐnd, Nghị Quyết Phê Chuẩn Kết Quả Bầu Cử HĐnd, Nghị Quyết Số 370/nq-hĐnd Tỉnh Sơn La, Nghị Quyết HĐnd Tỉnh Phú Yên Kỳ Họp 17 Năm 2020, Nghị Quyết 86 HĐnd Tỉnh Hà Giang, Nghị Quyết Kỳ Họp Thứ 12 HĐnd Tỉnh Nghệ An, Dự Thảo Nghị Quyết HĐnd Tỉnh Cà Mau, Nghị Quyết 12/2018/nq-hĐnd Tỉnh Lào Cai, Nghị Quyết Kỳ Họp Thứ 9 HĐnd Tỉnh Bắc Giang, Nghị Quyết Số 60 HĐnd Tỉnh Hà Giang, Nghị Quyết HĐnd Tỉnh Bắc Giang, Nghị Quyết 12 Của HĐnd Tỉnh Quảng Nam, Nghị Quyết 12 HĐnd Tỉnh Quảng Nam, Nghị Quyết 77 HĐnd Tỉnh Đồng Nai, Nghi Quyet Hdnd Lan Thu 17 Tinh Phu Yen Nam 2020, Nghị Quyết HĐnd Tỉnh Nghệ An, Nghị Quyết 60 HĐnd Tỉnh Hà Giang, Dự Thảo Nghị Quyết HĐnd Tỉnh Phú Yên, Nghị Quyết 60 Của HĐnd Tỉnh Hà Giang, Nghị Quyết 47 HĐnd Tỉnh Hà Giang, Nghị Quyết 209 Của HĐnd Tỉnh Hà Giang, Nghị Quyết 70/nd-hĐnd Tình Thanh Hóa, Nghị Quyết Kỳ Họp Thứ 9 HĐnd Tỉnh Thanh Hóa, Nghị Quyết 12/2019 Của HĐnd Tỉnh Quảng Nam, Dự Thảo Nghị Quyết HĐnd Tỉnh Khánh Hòa, Nghị Quyết 04/2018 Của HĐnd Tỉnh Bắc Giang, Nghị Quyết Miễn Nhiệm Chủ Tịch HĐnd Xã, Nghị Quyết Miễn Nhiệm Đại Biểu HĐnd, Nghị Quyết 04 HĐnd Tỉnh Bắc Giang 2018, Mẫu Nghi Quyết Miên Nhiệm Trưởng Ban HĐnd Xã, Nghị Quyết Miễn Nhiệm Phó Chủ Tịch HĐnd, Nghị Quyết Miễn Nhiệm Chủ Tịch HĐnd, Nghị Quyết 38 HĐnd Tỉnh Vĩnh Phúc, Nghị Quyết Kỳ Họp Thứ 5 HĐnd Tỉnh Vĩnh Phúc, Dự Thảo Nghị Quyết HĐnd Tỉnh Tiền Giang, Nghị Quyết Số 56/2016/nq-hĐnd Tỉnh Vĩnh Phúc, Nghị Quyết HĐnd Tỉnh Gia Lai Về Thực Hiện Thông Tư 65 Của, Nghị Quyết HĐnd Tỉnh Gia Lai Về Thực Hiện Thông Tư 65 Củ, Nghị Quyết Số 55/2016 Của HĐnd Tỉnh Quảng Ninh, Dự Thảo Nghị Quyết HĐnd Tỉnh Quảng Ngãi, Nghị Quyết HĐnd Tỉnh Quảng Ninh Tháng 7 Năm 2018, Nghị Quyết HĐnd Tỉnh Gia Lai Về Thực Hiện Luật Dân Quân Tự Vệ, Nghị Quyết HĐnd Tỉnh Gia Lai Về Thực Hiện Thông Tư 65 Của Bộ Quốc Phòng Lai, 28/nq-hĐnd Ngày 06/12/2013, Nghi Quyet So 28 Ngay 25/10/2013 Cua Hoi Nghi Lan Thu 8 Ban Chap Hanh Trung Uong Dang Khoa Xi, Nghị Quyết 28 Năm 2013, Nghị Quyết 19/2013 Nq-tw, Nghị Quyết 28-nq/tw Năm 2013, Nghị Quyết 28/2013, Nghị Quyết 19/2013, Nghị Quyết Số 30 Ngày 1/3/2013, Nghị Quyết Số 63/2013/qh13, Nghị Quyết 28-nq/tw Ngày 25/10/2013, Nghị Quyết 28/tw Ngày 25/10/2013, Nghị Quyết Số 02 Ngày 7/1/2013, Nghị Quyết Số 62/2013/qh13, Nghị Quyết Số 83 Ngày 8/7/2013, Nghị Quyết 28 Ngày 25/10/2013, Nghị Quyết Số 68/2013/qh13, Nghị Quyết Số 28-nq/tw Ngày 25/10/2013, Nghị Quyết Số 28 Ngày 25-10-2013, Nghị Quyết 68/2013/qh13, Nghị Quyết 51 Của Bộ Chính Trị 2013, Nghị Quyết 63/2013/qh13, Nghị Quyết Số 28 Nqtw 22 9 28-nq/tw Năm 2013, – Nghị Quyết Số 28-nq/tw Ngày 25/10/2013, Nghị Quyết Số 64/2013/qh13 Của Quốc Hội, Nghị Quyết Số 29 Ngày 4 Tháng 11 Năm 2013, Nghị Quyết 28 Ngày 25 Tháng 10 Năm 2013, Điều 1 Nghị Quyết Số 49/2013/qh13, Nghị Quyết Số 28 Ngày 25 Tháng 10 Năm 2013, Nghị Quyết Số 28-nq/tw (khóa Xi), Ngày 25/10/2013, Noi Dung Nghị Quyet 28 Khóa 11/2013,

Nghị Quyết Số 28/2013/nq-hĐnd Của HĐnd Tp. Hà Nội, Nghị Quyết Số 04 2013 Nq HĐnd, Nghị Quyết Số 12/2013/nq-hĐnd, Nghị Quyết Số 20/2020/nq-hĐnd Ngày 10/12/2020 Của HĐnd Tỉnh, Nghị Quyết 20/2016/nq-hĐnd, Nghị Quyết 66 Của HĐnd Tỉnh Kon Tum, Nghị Quyết Số 152 Của HĐnd Tỉnh Phú Yên, Nghị Quyết Số 53 HĐnd Tỉnh Phú Yên, Nghị Quyết 61 HĐnd Tỉnh Sơn La, Nghị Quyết 82 HĐnd Tỉnh Sơn La, Nghị Quyết Số 56/2016/nq-hĐnd Tỉn Vĩn Húc, Nghị Quyết Số 04/2009/nq-hĐnd, Nghị Quyết HĐnd Tỉnh, Nghị Quyết HĐnd Tỉnh Gia Lai, Nghị Quyết 02/2020/nq-hĐnd, Nghị Quyết Kỳ Họp Thứ 12 Cua HĐnd Tỉnh Gia Lai, Nghị Quyết HĐnd Thành Phố Hà Nội, Nghị Quyết Số 17 HĐnd Tỉnh Cà Mau, Nghị Quyết Số 27 HĐnd Tỉnh Đăk Lăk, Nghị Quyết HĐnd Tỉnh Phú Yên, Nghị Quyết Số 41 Của HĐnd Tỉnh Sơn La, Nghị Quyết Số 349 Của HĐnd Tỉnh Sơn La, Nghị Quyết HĐnd Tỉnh Yên Bái, Nghị Quyết Số 75 Của HĐnd Tỉnh Phú Yên, Nghị Quyết Số 20 Của HĐnd Tỉnh Yên Bái, Nghị Quyết 72 HĐnd Tỉnh Sơn La, Nghi Quyết Số 02/nq-hĐnd Tỉnh Sơn La, Nghị Quyết Số 70/2017/nq-hĐnd, Nghị Quyết Phê Chuẩn Kết Quả Bầu Cử HĐnd, Nghị Quyết Số 370/nq-hĐnd Tỉnh Sơn La, Nghị Quyết HĐnd Tỉnh Phú Yên Kỳ Họp 17 Năm 2020, Nghị Quyết 86 HĐnd Tỉnh Hà Giang, Nghị Quyết Kỳ Họp Thứ 12 HĐnd Tỉnh Nghệ An, Dự Thảo Nghị Quyết HĐnd Tỉnh Cà Mau, Nghị Quyết 12/2018/nq-hĐnd Tỉnh Lào Cai, Nghị Quyết Kỳ Họp Thứ 9 HĐnd Tỉnh Bắc Giang, Nghị Quyết Số 60 HĐnd Tỉnh Hà Giang, Nghị Quyết HĐnd Tỉnh Bắc Giang, Nghị Quyết 12 Của HĐnd Tỉnh Quảng Nam, Nghị Quyết 12 HĐnd Tỉnh Quảng Nam, Nghị Quyết 77 HĐnd Tỉnh Đồng Nai, Nghi Quyet Hdnd Lan Thu 17 Tinh Phu Yen Nam 2020, Nghị Quyết HĐnd Tỉnh Nghệ An, Nghị Quyết 60 HĐnd Tỉnh Hà Giang, Dự Thảo Nghị Quyết HĐnd Tỉnh Phú Yên, Nghị Quyết 60 Của HĐnd Tỉnh Hà Giang, Nghị Quyết 47 HĐnd Tỉnh Hà Giang, Nghị Quyết 209 Của HĐnd Tỉnh Hà Giang, Nghị Quyết 70/nd-hĐnd Tình Thanh Hóa, Nghị Quyết Kỳ Họp Thứ 9 HĐnd Tỉnh Thanh Hóa,

Sau 5 Năm Thực Hiện Nghị Quyết 29/Nq

Công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ giáo viên được quan tâm triển khai đồng bộ ở tất cả các cấp

Đội ngũ nhà giáo, CBQL giáo dục tăng mạnh về số lượng, chất lượng

Hiện nay, về cơ bản, đội ngũ nhà giáo, CBQL giáo dục ở các cấp học đã đạt chuẩn, trên chuẩn trình độ đào tạo. Tỷ lệ giáo viên đạt chuẩn, trên chuẩn với mầm non là 96,6%, tiểu học: 99,7%, THCS: 99%, THPT: 99,6%, ĐH: 82,7%, tạo tiền đề để Bộ GD&ĐT đề xuất nâng chuẩn trình độ đào tạo cho giáo viên trong sửa đổi Luật Giáo dục.

Hầu hết CBQL, giáo viên yêu nghề, phẩm chất đạo đức nghề nghiệp tốt, tinh thần trách nhiệm cao trong công việc, có ý chí vươn lên, tích cực học tập, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ. Năng lực sư phạm của phần lớn nhà giáo được nâng lên, đáp ứng được yêu cầu đổi mới nội dung, phương pháp giáo dục.

Đội ngũ CBQL giáo dục đã tham mưu tích cực, hiệu quả cho cấp uỷ Đảng, chính quyền các cấp trong xây dựng các chính sách cán bộ, giáo viên, học sinh phù hợp với điều kiện KT-XH địa phương.

Bộ GD&ĐT đã trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án đào tạo, bồi dưỡng nhà giáo và CBQL cơ sở giáo dục đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục phổ thông giai đoạn 2016 – 2020, định hướng đến năm 2025.

Đề án được Bộ GD&ĐT, địa phương tích cực triển khai thực hiện. Công tác bồi dưỡng nâng cao năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho CBQL, giáo viên, nhân viên theo yêu cầu chuẩn nghề nghiệp được địa phương quan tâm triển khai qua nhiều hình thức khác nhau.

Một số địa phương liên kết với các cơ sở uy tín ở nước ngoài trong công tác bồi dưỡng đội ngũ; tổ chức các hoạt động sinh hoạt chuyên môn, bồi dưỡng giáo viên qua nghiên cứu bài học. Công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giảng viên ở nước ngoài tiếp tục được quan tâm đầu tư thông qua các đề án đào tạo bằng ngân sách Nhà nước, học bổng Hiệp định và chương trình học bổng khác…

Chỉ tính từ năm 2015 – 2017, các cơ sở dạy nghề đã tổ chức đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực cho 7.917 lượt nhà giáo. Trong đó, đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm là 300 nhà giáo; bồi dưỡng kỹ năng nghề 850 nhà giáo; bồi dưỡng tiếng Anh chuyên ngành cho 440 nhà giáo; nâng cao nghiệp vụ sư phạm cho 6.200 nhà giáo; đào tạo, bồi dưỡng ở nước ngoài cho 127 nhà giáo.

Đội ngũ giáo viên đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng dạy và học

Bộ GD&ĐT cũng đã trình Thủ tướng Chính phủ Đề án nâng cao năng lực đội ngũ giảng viên, CBQL các cơ sở giáo dục ĐH và các trường CĐSP đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện GD-ĐT giai đoạn 2018 – 2030.

Bộ GD&ĐT cũng đã ban hành văn bản quy định chuẩn nghề nghiệp giáo viên, chuẩn hiệu trưởng theo định hướng cập nhật, đáp ứng yêu cầu trong giai đoạn mới; xây dựng khung năng lực giáo viên phổ thông các môn học đặc thù; xây dựng chuẩn nghề nghiệp giảng viên sư phạm; xây dựng tiêu chuẩn và quy trình lựa chọn giảng viên sư phạm chủ chốt, giáo viên và CBQL trường phổ thông cốt cán; xây dựng cơ chế phối hợp giữa các cơ quan quản lý với trường sư phạm và trường phổ thông trong bồi dưỡng nhà giáo, CBQL giáo dục; nghiên cứu các nội dung cần thiết để đề xuất sửa đổi các nội dung về nhà giáo trong quá trình sửa Luật Giáo dục, Luật Giáo dục ĐH; rà soát, sửa đổi, bổ sung chương trình bồi dưỡng thường xuyên giáo viên, CBQL giáo dục các cấp học theo chuẩn.

Bộ GD&ĐT đồng thời đã rà soát mạng lưới, quy mô, phương thức đào tạo của các cơ sở đào tạo giáo viên; triển khai Chương trình phát triển các trường sư phạm để nâng cao năng lực đội ngũ giáo viên, CBQL cơ sở giáo dục phổ thông (ETEP); khảo sát nhu cầu sử dụng giáo viên của địa phương làm căn cứ xác định chỉ tiêu đào tạo giáo viên, nâng cao chất lượng đầu ra sư phạm.

Các trường sư phạm đổi mới chương trình đào tạo, bồi dưỡng đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông và xây dựng mới 50 chương trình đào tạo. Các trường/khoa sư phạm là đơn vị chủ đạo trong công tác đào tạo, bồi dưỡng giáo viên và cung cấp nguồn nhân lực có chất lượng cho các ngành nghề khác…

Bằng nhiều giải pháp đồng bộ, quyết liệt, đội ngũ nhà giáo, CBQL giáo dục đã tăng mạnh về số lượng, chất lượng và ngày càng đồng bộ về cơ cấu trong 5 năm qua, từng bước đáp ứng được yêu cầu phát triển giáo dục của đất nước. Sự bất hợp lý trong cơ cấu đội ngũ nhà giáo theo cấp, bậc học, theo chuyên môn, ngành nghề và vùng miền ở những năm đầu thực hiện Nghị quyết đã dần được khắc phục.

Đời sống nhà giáo ngày càng được quan tâm

Hiện nay, nhà giáo, CBQL cơ sở giáo dục công lập được hưởng các chế độ, chính sách theo các quy định tại Nghị định số 204/2004/NĐ-CP. Ngoài lương được hưởng theo quy định trên, nhà giáo và CBQL giáo dục còn được hưởng thêm 2 loại phụ cấp, đó là phụ cấp ưu đãi (với các mức từ 25% đến 70%); phụ cấp thâm niên (được tính gia tăng theo thời gian công tác). Khảo sát, đánh giá gần đây cho thấy, phụ cấp ưu đãi bình quân toàn ngành khoảng 36%, phụ cấp thâm niên toàn ngành khoảng 18%.

Như vậy, thu nhập bình quân tăng thêm giáo viên toàn ngành khoảng 54%. Mức này cao hơn đối với những công chức hành chính (chỉ có phụ cấp công vụ 25%), nhưng đang thấp hơn mức lương, phụ cấp của một số ngành như: Công chức thanh tra có phụ cấp thâm niên (như giáo viên), phụ cấp ưu đãi (15%; 20%; 25%) và phụ cấp công vụ (25%); công chức chuyên trách Đảng, Đoàn thể chính trị xã hội có 25% phụ cấp công vụ và 30% phụ cấp chuyên trách.

Tại các tỉnh miền núi, nhà giáo, CBQL giáo dục ở các trường PTDTNT, PTDTBT được hưởng phụ cấp trách nhiệm bằng 0,3 so với mức lương tối thiểu chung. Giáo viên dạy lớp ghép ở tiểu học được hưởng phụ cấp dạy lớp ghép từ 50% – 75%.

Giáo viên dạy tiếng dân tộc thiểu số được hưởng phụ cấp trách nhiệm công việc bằng 0,3 so với mức lương tối thiểu chung. Ngoài ra, tùy điều kiện cụ thể, một số địa phương cũng có chính sách riêng đối với nhà giáo, CBQL giáo dục công tác tại vùng có điều kiện KT-XH đặc biệt khó khăn, biên giới, hải đảo.

Trong những năm gần đây, Chính phủ đã quan tâm nâng mức thu nhập cho giáo viên như: Phụ cấp ưu đãi, phụ cấp thâm niên nghề, mở rộng tiêu chuẩn, tiêu chí nâng lương trước thời hạn cho giáo viên, nhân viên… Điều đó góp phần nâng cao đời sống giáo viên, nhưng thực tế lương nhà giáo chưa đúng với chủ trương của Đảng nêu tại Nghị quyết T.Ư 2 khóa VIII, Nghị quyết số 29-NQ/TW và cũng chưa thực sự đảm bảo được đời sống so với biến động về giá hàng hóa, tình hình KT-XH hiện nay.

Tính đến thời điểm ngày 15/8/2018, số lượng đội ngũ giáo viên mầm non, phổ thông hiện có như sau: Toàn quốc có 1.161.143 giáo viên mầm non, phổ thông (công lập 858.772, ngoài công lập 23.691). Trong đó, mầm non 309.770 (công lập 262.155, ngoài công lập 47.615); tiểu học: 395.848 (công lập 390.873, ngoài công lập 4.975); THCS: 305.815 (công lập 300.990, ngoài công lập 4825); THPT: 149.710 (công lập 135.819, ngoài công lập 13.891).

Với chính sách lương như hiện hành khó thu hút được người tài vào làm việc trong các cơ sở giáo dục, Phòng GD&ĐT, Sở GD&ĐT; hoặc có người tài nhưng chưa toàn tâm, toàn ý tập trung vào thực thi nhiệm vụ, dẫn đến chất lượng công việc có phần bị hạn chế; chưa góp phần thu hút, giữ chân người tài vào sư phạm.

Thực tế, có rất nhiều người tâm huyết với nghề dạy học, thậm chí mong muốn đóng góp công việc chung của đất nước, tuy nhiên mức lương như hiện nay khiến họ chưa yên tâm công hiến cho ngành… Các chế độ chính sách về lương cũng như các khoản thu nhập khác có tác động rất lớn đến cơ cấu, chất lượng chuyên môn.

Nếu mức thu nhập đảm bảo đời sống thì nhà giáo sẽ yên tâm công tác, đi sâu vào phát triển chuyên môn; ngược lại sẽ ảnh hưởng đến cơ cấu, chất lượng giáo dục.

Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã ban hành Nghị quyết số 27-NQ/TW về cải cách chính sách tiền lương, trong đó có chính sách ưu đãi phù hợp của Nhà nước về GD-ĐT.

Thực hiện Nghị quyết này, Bộ GD&ĐT đang nghiên cứu đề xuất hệ thống thang bảng lương riêng được xác định theo các vị trí việc làm, trả lương trên cơ sở mức độ phức tạp và chất lượng hiệu quả của công việc. Trong đó, lương nhà giáo được thực hiện đúng chủ trương của Đảng được nêu tại Nghị quyết số 29-NQ/TW.

Bên cạnh đó, hàng năm, Bộ GD&ĐT đã chỉ đạo địa phương và cơ sở giáo dục tổ chức hoạt động, chương trình tri ân, tôn vinh nhà giáo có cống hiến xuất sắc, tâm huyết với ngành. Đồng thời, phối hợp với Đài Truyền hình Việt Nam, Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh tổ chức tôn vinh, tri ân các nhà giáo công tác ở những vùng đặc biệt khó khăn và các nhà giáo đạt thành tích xuất sắc, tiêu biểu.

Các chính sách dành cho nhà giáo ngày càng được chú trọng

Thu hút học sinh giỏi vào sư phạm

Trong những năm qua, Bộ GD&ĐT đã phối hợp triển khai các chính sách, chế độ đối với nhà giáo, CBQL cơ sở giáo dục nhằm thu hút học sinh thi vào các trường sư phạm, như: Đào tạo trình độ tiến sĩ theo Đề án 911; miễn học phí với sinh viên sư phạm; chế độ phụ cấp đứng lớp với nhà giáo; chính sách thâm niên cho nhà giáo đang giảng dạy; ban hành các thông tư về tiêu chuẩn chức danh nhà giáo; chế độ ưu đãi đối với các nhà giáo dạy ở vùng dân tộc thiểu số, vùng đặc biệt khó khăn…

Các giải pháp để nâng cao chất lượng đào tạo sư phạm cũng được đưa ra như: Tăng chế độ ưu đãi đối với sinh viên sư phạm và nhà giáo, CBQL giáo dục; đề xuất thực hiện chế độ thâm niên đối với CBQL giáo dục các cấp. Chỉ đạo địa phương nghiêm túc thực hiện tinh giản biên chế đối với cán bộ, viên chức làm việc trong ngành Giáo dục nhằm thanh lọc, nâng cao chất lượng đội ngũ, tạo điều kiện cho sinh viên sư phạm có năng lực, phẩm chất tốt vào công tác trong ngành Giáo dục.

Hđnd Tỉnh Bình Thuận: Giám Sát Việc Thực Hiện Nghị Quyết Số 93/2015/Nq

Thực hiện Nghị quyết số 48/NQ-HĐND ngày 20/7/2018 của HĐND tỉnh Bình Thuận về việc giám sát các cơ quan tư pháp trong việc thực hiện Nghị quyết số 93/2015/NQ-HĐND ngày 14/12/2015 của HĐND tỉnh Bình Thuận về tiếp tục nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án hình sự và thi hành án dân sự trên địa bàn tỉnh; ngày 17/10/2018 dưới sự chủ trì của đồng chí Trương Quang Hai – Phó Chủ tịch thường trực HĐND tỉnh cùng lãnh đạo Ban pháp chế HĐND tỉnh, đại diện Văn phòng HĐND tỉnh, đại diện lãnh đạo Ban Nội chính, Công an, Tòa án, Cục thi hành án dân sự, Mặt trận tổ quốc Việt Nam tỉnh đã có buổi giám sát việc thực hiện nghị quyết trên đối với VKSND tỉnh; về phía VKSND tỉnh có tập thể lãnh đạo Viện và đại diện lãnh đạo các phòng trực thuộc.

Báo cáo của VKSND tỉnh thể hiện, ngay sau khi nhận được Nghị quyết số 93/2015/NQ-HĐND ngày 14/12/2015 của HĐND tỉnh Bình Thuận về việc ” tiếp tục nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án hình sự và thi hành án dân sự trên địa bàn tỉnh”, lãnh đạo VKSND tỉnh Bình Thuận đã bàn hành Kế hoạch số 71/KH-VKS-VP ngày 22/01/2016 để tổ chức quán triệt và triển khai thực hiện đến toàn thể cán bộ, Kiểm sát viên VKSND hai cấp.

Hàng năm, thông qua các cuộc họp giao ban tháng, quý, sơ kết, tổng kết, triển khai công tác đầu năm, lãnh đạo VKSND hai cấp tiếp tục quán triệt nội dung của Nghị quyết nhằm thực hiện có hiệu quả, không ngừng nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp; tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố với hoạt động điều tra theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; thực thi đầy đủ, hiệu quả nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014. Kiểm sát chặt chẽ việc tạm đình chỉ, đình chỉ điều tra vụ án và bị can; Kiểm sát chặt chẽ căn cứ khởi tố vụ án, khởi tố bị can nhằm đảm bảo cho việc thụ lý, phê chuẩn hoặc không phê chuẩn các quyết định tố tụng có căn cứ, đúng pháp luật; không để lọt tội phạm và không làm oan người vô tội. Nâng cao chất lượng tranh tụng của Kiểm sát viên tại phiên tòa và chất lượng, tỷ lệ được chấp nhận các kiến nghị, kháng nghị. Tăng cường trách nhiệm trong kiểm sát việc giải quyết các vụ việc dân sự, hành chính và công tác thi hành án hình sự, dân sự, kịp thời kháng nghị bản án, quyết định xét thấy vi phạm pháp luật. Giải quyết kịp thời các khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp, nhất là đơn kêu oan, đơn tố cáo bức cung, nhục hình; tăng cường kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực tư pháp.

Kết luận buổi giám sát, lãnh đạo HĐND tỉnh đánh giá cao sự nỗ lực phấn đấu của Ngành kiểm sát Bình Thuận trong việc thực hiện Nghị quyết, đồng thời nhấn mạnh trong thời gian tới, toàn Ngành phát huy kết quả đã đạt được, khắc phục những tồn tại, hạn chế để hoàn thành tốt hơn nữa nhiệm vụ theo Kế hoạch, phục vụ tốt nhiệm vụ chính trị tại địa phương.

Dương Văn Nhiên

Chánh Văn phòng VKSND tỉnh

Thường Trực Hđnd Tỉnh Tổ Chức Hội Nghị Triển Khai Nghị Quyết Số 35/2012/Nq

Hội nghị đã triển khai Nghị quyết số 35/2012/QH13 ngày 21/11/2012 của Quốc hội về việc lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm đối với những người giữ chức vụ do Quốc hội, HĐND bầu hoặc phê chuẩn; Nghị quyết Số 561/2013/UBTVQH 13, ngày 16/01/2013 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về việc hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị quyết số 35/2012/QH 13 ngày 21/11/2012 của Quốc hội; Công văn số 159/CV-HĐND ngày 14/6/2013 của Hội đồng nhân dân tỉnh Thanh Hóa Về Hướng dẫn việc lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm đối với những người giữ chức vụ do HĐND bầu.

Theo quy định, HĐND tỉnh, huyện, thị xã, thành phố sẽ lấy phiếu tín nhiệm đối với Chủ tịch HĐND, Phó chủ tịch HĐND, Ủy viên Thường trực HĐND, Trưởng các Ban của HĐND; Chủ tịch UBND, Phó chủ tịch UBND và các Ủy viên UBND. Đối với xã, phường, thị trấn sẽ lấy phiếu tín nhiệm đối với các chức danh: Chủ tịch HĐND, Phó Chủ tịch HĐND; Chủ tịch UBND, Phó Chủ tịch UBND, Ủy viên UBND. Về thời điểm, HĐND các cấp tổ chức lấy phiếu tín nhiệm định kỳ hàng năm, kể từ năm thứ 2 của nhiệm kỳ; riêng đối với nhiệm kỳ 2011-2016 thì việc lấy phiếu tín nhiệm lần đầu tiến hành tại

Việc lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm nhằm mục đích nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động giám sát của HĐND; giúp người được lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm thấy được mức độ tín nhiệm của mình để phấn đấu, rèn luyện, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động; làm cơ sở để cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xem xét đánh giá, bố trí, sử dụng cán bộ. Vì vậy, yêu cầu quy trình lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm phải được thực hiện một cách dân chủ, công bằng, công khai, khách quan, đảm bảo đánh giá đúng thực chất kết quả thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn và phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống của người được lấy phiếu tín nhiệm; đề cao vai trò, trách nhiệm của đại biểu HĐND; đảm bảo tiêu chuẩn của người giữ chức vụ do HĐND bầu, đảm bảo sự ổn định và hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước, sự lãnh đạo của Đảng trong công tác cán bộ.

Tại hội nghị, các đại biểu thống nhất cao với các nghị quyết, văn bản được triển khai nhưng cũng nêu lên những vướng mắc về thời gian, quy trình lấy phiếu tín nhiệm và bỏ phiếu tín nhiệm; những tình huống phát sinh trong quá trình triển khai lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm như những người thuộc diện lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm đã chuyển công tác, hoặc mới nhận nhiệm vụ…

Phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị, đồng chí Mai Văn Ninh, Ủy Viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh đã giải đáp một số vấn đề mà các đại biểu còn băn khoăn, khẳng định việc lấy phiếu tín nhiệm là việc làm thường xuyên, hàng năm, việc tổ chức phải thận trọng, đảm bảo đúng quan điểm chỉ đạo của Đảng, Nghị quyết của QH, Công văn của HĐND tỉnh Về việc lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm đối với những người giữ chức vụ do HĐND bầu. Để triển khai thực hiện có hiệu quả, đồng chí đề nghị trên cơ sở nghị quyết và các văn bản đã được triển khai các đại biểu tiếp tục nghiên cứu, nắm chắc các quy định được hướng dẫn để chỉ đạo việc lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm đúng quy định; các cấp ủy Đảng, chính quyền, Ủy ban MTTQ, các ban ngành, đoàn thể trong tỉnh cần tập trung lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện tốt một số nội dung như: Tuyên truyền phổ biến trên các phương tiện thông tin, đại chúng, phổ biến, quán triệt đến cán bộ, đảng viên và nhân dân về mục đích, ý nghĩa, yêu cầu, đối tượng, nguyên tắc, quy trình lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm. Việc lấy phiếu tín nhiệm hàng năm phải được tiến hành công khai, dân chủ, khách quan, công bằng, minh bạch, nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động giám sát của HĐND; giúp người được lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm thấy được mức độ tín nhiệm của mình để phấn đấu, rèn luyện, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động, đây cũng là dịp thanh lọc những cán bộ thoái hóa về phẩm chất đạo đức, trình độ, năng lực yếu kém. Đồng chí Chủ tịch HĐND tỉnh cũng đề nghị HĐND các cấp phải chỉ đạo sâu sát và phối hợp chặt chẽ với MTTQ, các tổ chức, đoàn thể. Công tác chỉ đạo đòi hỏi phải được thực hiện nghiêm túc, chu đáo, thận trọng, tránh cả hai khuynh hướng: nể nang, xuê xoa, dĩ hòa vi quý hoặc ngược lại, lợi dụng việc này để gây mất uy tín cá nhân, làm sai lệch bản chất của việc lấy phiếu tín nhiệm. Trong quá trình thực hiện nếu có gì vướng mắc cần phải thông tin ngay với Thường trực HĐND tỉnh để được hướng dẫn giải quyết./.