Nghị Quyết Tw5 Khóa Viii / TOP #10 Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 8/2022 # Top View | Bac.edu.vn

Nq Tw5 Khóa Viii Nq Tw 5 K Viii 1998 Va Tw4 K Vii 1993 Doc

--- Bài mới hơn ---

  • Lào Cai: Nâng Cao Toàn Diện Đời Sống Văn Hóa Sau 15 Năm Thực Hiện Nghị Quyết Tw5 (Khóa Viii)
  • Đảng Bộ Than Quảng Ninh Tổng Kết 15 Năm Thực Hiện Nghị Quyết Tw5 (Khóa Viii)
  • Thủ Tục Công Nhận Phê Chuẩn Kết Quả Bầu Chủ Tịch, Phó Chủ Tịch Ủy Ban Nhân Dân Cấp Xã
  • Chuyển Biến Trong Thực Hiện Nghị Quyết Trung Ương 4 Về Xây Dựng, Chỉnh Đốn Đảng
  • Đảng Bộ Quân Đội Thực Hiện Nghị Quyết Trung Ương 4 (Khóa Xii) Về Xây Dựng, Chỉnh Đốn Đảng
  • số 04-NQ/HNTW, ngày 14 tháng 01 năm 1993

    Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng (Khóa VII)

    Về một số nhiệm vụ văn hoá, văn nghệ những năm trước mắt

    Văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội, một động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội, đồng thời là một mục tiêu của chủ nghĩa xã hội. Văn học, nghệ thuật là bộ phận trọng yếu của nền văn hoá dân tộc, thể hiện khát vọng của nhân dân về chân – thiện – mỹ. Phát triển đường lối văn hoá, văn nghệ đúng đắn của Đảng qua các thời kỳ trước, Nghị quyết Đại hội VI, Đại hội VII và Nghị quyết 05 của Bộ Chính trị Khoá VI đã tạo điều kiện cho văn hoá, văn nghệ đạt nhiều thành tựu, đáp ứng một phần nhu cầu hưởng thụ văn hoá của các tầng lớp nhân dân, đóng góp tích cực vào sự nghiệp đổi mới.

    Hoạt động sáng tạo văn học, nghệ thuật phong phú hơn về nội dung và đề tài, đa dạng hơn về hình thức, thể loại và phong cách biểu hiện. Một số tác phẩm mới có giá trị tư tưởng và nghệ thuật được quần chúng hoan nghênh. Nhiều hình thức văn hoá truyền thống được khôi phục. Các phương tiện thông tin đại chúng, nhất là phát thanh, truyền hình ngày càng phát triển, làm phong phú những hình thức và phương tiện đưa văn hoá, văn nghệ đến với đông đảo nhân dân. Một số hoạt động văn hoá được tổ chức trên quy mô cả nước, thu hút hàng triệu lượt người tham gia. Giao lưu văn hoá với nước ngoài từng bước được mở rộng.

    Đội ngũ văn nghệ sĩ và cán bộ văn hoá gồm nhiều lớp kế tiếp nhau, trải qua thử thách, ngày càng phát triển và trưởng thành. Trước khó khăn của đất nước và những biến động quốc tế phức tạp trong mấy năm gần đây, đại bộ phận vẫn tin tưởng, gắn bó với Đảng và sự nghiệp cách mạng của dân tộc, giữ vững phẩm chất, đóng góp tích cực vào sự nghiệp phát triển văn hoá, văn nghệ.

    Bên cạnh những chuyển biến tích cực, tình hình văn hoá, văn nghệ có nhiều điều đáng lo ngại: lối sống chạy theo đồng tiền, những thị hiếu không lành mạnh, những hủ tục, mê tín tăng nhanh; nhiều văn hoá phẩm độc hại lan tràn trên thị trường. Trong sáng tác và lý luận, phê bình nảy sinh một số khuynh hướng sai lầm: phủ nhận thành tựu cách mạng và văn hoá, văn nghệ cách mạng; tách văn nghệ khỏi sự lãnh đạo của Đảng; xúc phạm anh hùng, vĩ nhân của dân tộc; khuynh hướng “thương mại hoá”, truyền bá lối sống thực dụng, sa đoạ, bạo lực phát triển. Các thế lực thù địch đã và đang lợi dụng những tác phẩm xấu để chống phá ta.

    Nghị quyết 05 của Bộ Chính trị Khoá VI thể hiện những quan điểm đổi mới có nguyên tắc của Đảng trên lĩnh vực văn hoá, văn nghệ, có tác dụng thúc đẩy hoạt động sáng tạo nghệ thuật. Nhưng nghị quyết chưa đánh giá thật đúng tính phức tạp của cuộc đấu tranh trên mặt trận này, chưa lường trước và đề ra được những biện pháp nhằm hạn chế mặt tiêu cực của cơ chế thị trường đối với văn hoá, văn nghệ. Việc truyền đạt và tổ chức thực hiện nghị quyết lại có nhiều sai sót. Trước những lệch lạc xuất hiện trong văn hoá, văn nghệ, một số cấp uỷ và cơ quan nhà nước không kịp thời phân rõ đúng sai, thường né tránh, rụt rè trong việc xử lý; cũng có nơi sử dụng những biện pháp hành chính không thích hợp. Một số văn nghệ sĩ đảng viên dao động, giảm sút lòng tin, không giữ vững lập trường của Đảng.

    Nhiệm vụ trung tâm của văn hoá, văn nghệ nước ta là góp phần xây dựng con người Việt Nam về trí tuệ, đạo đức, tâm hồn, tình cảm, lối sống, có nhân cách tốt đẹp, có bản lĩnh vững vàng ngang tầm sự nghiệp đổi mới vì dân giàu, nước mạnh, xã hội văn minh.

    Trong những năm trước mắt, các hoạt động văn hoá, văn nghệ phải được phát triển lành mạnh, phong phú, đa dạng, đáp ứng những nhu cầu thiết yếu về đời sống tinh thần của nhân dân; phấn đấu có nhiều tác phẩm tốt về công cuộc đổi mới, phản ánh những hiện tượng, những nhân tố, những xu hướng tích cực trong cuộc sống; lấy việc xây dựng và sáng tạo những giá trị mới, việc bồi dưỡng, bảo vệ và phát huy mọi tài năng làm mục tiêu lớn nhất. Mặt khác, kiên quyết phê phán những hiện tượng tiêu cực, những khuynh hướng lệch lạc, đấu tranh chống mọi hành động và luận điệu thù địch với Tổ quốc và chủ nghĩa xã hội, đẩy lùi các tệ nạn xã hội đang phá hoại thuần phong mỹ tục của dân tộc. Cùng với việc phấn đấu đạt được những mục tiêu nói trên, cần tích cực chuẩn bị điều kiện cho sự phát triển mạnh mẽ nền văn hoá Việt Nam vào cuối thập kỷ 90, bước vào thế kỷ XXI.

    Nền văn hoá mà Đảng ta lãnh đạo toàn dân xây dựng là nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.

    Cần nắm vững các tư tưởng chỉ đạo sau đây:

    1. Vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là cốt lõi tư tưởng trong văn hoá, văn nghệ nước ta. Sự nghiệp văn hoá, văn nghệ là bộ phận khăng khít của sự nghiệp đổi mới. Thấm nhuần và thực hiện quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Văn hoá, nghệ thuật cũng là một mặt trận. Anh chị em văn nghệ sĩ là chiến sĩ trên mặt trận ấy”.

    2. Bảo đảm dân chủ, tự do cho mọi sự sáng tạo và hoạt động văn hoá, vun đắp các tài năng, đồng thời đề cao trách nhiệm của văn nghệ sĩ trước công chúng, dân tộc và thời đại.

    3. Phát triển văn hoá dân tộc đi liền với mở rộng giao lưu văn hoá với nước ngoài, tiếp thụ những tinh hoa của nhân loại, làm giàu đẹp thêm nền văn hoá Việt Nam. Ngăn chặn và đấu tranh chống sự xâm nhập của các loại văn hoá độc hại, bảo vệ nền văn hoá dân tộc.

    4. Nâng cao tính chiến đấu của các hoạt động văn hoá và văn học, nghệ thuật, khẳng định mạnh mẽ và sâu sắc những nhân tố mới, những giá trị cao đẹp của dân tộc ta, khắc phục những gì cản trở quá trình đi lên của đất nước. Phê phán cái sai, lên án cái ác, cái xấu là để hướng con người tới cái đúng, cái tốt, cái đẹp. Đấu tranh không khoan nhượng chống các luận điệu độc hại của các thế lực thù địch.

    5. Văn hoá, văn nghệ là sự nghiệp của toàn xã hội. Phát triển các hoạt động văn hoá văn nghệ của Nhà nước, tập thể và cá nhân theo đường lối của Đảng và sự quản lý của Nhà nước. Khắc phục tình trạng “hành chính hoá” các tổ chức văn hoá, nghệ thuật và xu hướng “thương mại hoá” trong lĩnh vực này.

    Để đạt những mục tiêu nêu trên, cần tập trung thực hiện những biện pháp sau:

    1. Làm cho cán bộ, đảng viên quán triệt Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ tư về văn hoá, văn nghệ. Mở một đợt sinh hoạt chính trị – tư tưởng về Nghị quyết này trong giới văn hoá, văn nghệ và cán bộ tuyên huấn, khoa giáo.

    2. Kiện toàn các cơ quan, đoàn thể làm công tác văn hoá, văn nghệ về mặt tổ chức và cán bộ.

    Thành lập đảng đoàn ở các hội văn nghệ và ban cán sự đảng ở các cơ quan quản lý nhà nước về văn hoá, văn nghệ.

    Chỉnh đốn và tăng cường các viện nghiên cứu, các khoa và các trường thuộc bộ môn văn học và nghệ thuật, các báo, tạp chí văn nghệ và các trang văn nghệ trên báo chí, đài phát thanh và vô tuyến truyền hình.

    Nâng cao chất lượng sách giáo khoa về văn học và đội ngũ giảng viên trong các trường văn hoá, nghệ thuật và các trường phổ thông, đại học. Có chế độ cấp học bổng cho học sinh nghệ thuật; có chế độ ưu đãi những tài năng sáng tạo.

    Sắp xếp lại tổ chức và hoạt động ngành điện ảnh. Chỉnh đốn công tác xuất bản, in và phát hành. Phổ biến rộng rãi những tác phẩm có giá trị về tư tưởng và nghệ thuật; cấm sản xuất, xuất bản và phổ biến những tác phẩm, phim ảnh, băng hình độc hại, phản động và đồi truỵ.

    Bố trí đúng cán bộ, bảo đảm cán bộ chủ chốt phụ trách văn hoá, văn nghệ có quan điểm đúng đắn, có trình độ hiểu biết, có năng lực lãnh đạo, quản lý, có phẩm chất tốt và có khả năng đoàn kết các lực lượng sáng tạo, nhiệt tâm vì sự nghiệp chung.

    Thực hiện tốt quyết định của Nhà nước tặng giải thưởng quốc gia hằng năm về văn hoá, văn nghệ.

    4. Thể chế hoá kịp thời những chủ trương, biện pháp nêu trong Nghị quyết Trung ương. Có chương trình nghiên cứu và ban hành sớm các văn bản pháp quy thuộc lĩnh vực hoạt động văn hoá, nghệ thuật. Trước mắt, tập trung xây dựng một số luật cần thiết như Luật xuất bản, Luật bảo vệ di tích văn hoá dân tộc…

    5. Đẩy mạnh phong trào quần chúng bảo vệ và phát triển văn hoá, văn nghệ dân tộc. Bằng mọi cách, đưa những giá trị văn hoá, văn nghệ dân tộc và thế giới đến với nhân dân.

    Tiếp tục mở rộng các loại hình thông tin đại chúng, hiện đại hoá các phương tiện nghe, nhìn, tăng cường việc phát hành sách báo để chuyển tải được tốt và nhanh các giá trị văn hoá, văn nghệ.

    Khôi phục và phát triển hệ thống thư viện từ trung ương đến cơ sở. Xây dựng thư viện quốc gia có tầm cỡ, đáp ứng được yêu cầu phát triển trí tuệ của nhân dân, yêu cầu nghiên cứu khoa học và văn hoá, văn nghệ.

    Đẩy mạnh cuộc vận động xây dựng nếp sống văn minh, gia đình văn hoá.

    Đầu tư nâng cấp và chống xuống cấp các bảo tàng, các di tích lịch sử và văn hoá, xây dựng những tượng đài, trước hết là những tượng đài về các anh hùng dân tộc và danh nhân văn hoá.

    6. Có chính sách toàn diện bảo vệ và phát triển văn hoá các dân tộc thiểu số trong cộng đồng dân tộc Việt Nam.

    7. Mở rộng giao lưu văn hoá với nước ngoài dưới nhiều hình thức: giới thiệu rộng rãi những giá trị văn hoá của dân tộc ta với thế giới, đưa vào nước ta những giá trị văn hoá của nhân dân các nước; mở rộng xuất nhập khẩu văn hoá phẩm; khuyến khích việc trao đổi với nước ngoài và các đoàn văn hoá, nghệ thuật… Có quy định nghiêm ngặt bảo vệ những giá trị văn hoá của dân tộc, chống thâm nhập vào nước ta những tác phẩm xấu, độc hại.

    8. Xây dựng có trọng điểm cơ sở vật chất và kỹ thuật cho hoạt động văn hoá, nghệ thuật, thông tin đại chúng, đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm, từng bước đuổi kịp trình độ kỹ thuật tiên tiến của thế giới.

    T/M BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG ĐẢNG

    TỔNG BÍ THƯ

    Hội nghị lần thứ 5- Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá VIII)

    xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc

    Văn hóa Việt Nam là thành quả hàng nghìn năm lao động sáng tạo, đấu tranh kiên cường dựng nước và giữ nước của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, là kết quả giao lưu và tiếp thu tinh hoa của nhiều nền văn minh thế giới để không ngừng hoàn thiện mình. Vǎn hóa Việt Nam đã hun đúc nên tâm hồn, khí phách, bản lĩnh Việt Nam, làm rạng rỡ lịch sử vẻ vang của dân tộc.

    Trong thời đại Hồ Chí Minh, với đường lối đúng đắn và sáng tạo của Đảng ta, vǎn hóa Việt Nam tiếp tục được phát huy, đã góp phần quyết định vào những thắng lợi to lớn của nhân dân ta trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội.

    Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc vì “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, vǎn minh”, là sự nghiệp xây dựng và sáng tạo to lớn của nhân dân ta, đồng thời là một quá trình cải biến xã hội sâu sắc, đòi hỏi phát huy khả nǎng và trí tuệ ở mỗi con người Việt Nam. Sự thay đổi cơ cấu kinh tế, kết cấu xã hội, nhu cầu tǎng nhanh về vǎn hóa của các tầng lớp dân cư, quá trình dân chủ hóa, v.v… là những yếu tố làm thay đổi nhiều mặt đời sống vǎn hóa dân tộc .

    Những thành tựu của cách mạng khoa học – công nghệ thế giới cùng với việc mở rộng giao lưu quốc tế là cơ hội để chúng ta tiếp thụ những thành quả trí tuệ của loài người, đồng thời cũng đặt ra những thách thức mới trong việc giữ gìn bản sắc vǎn hóa dân tộc.

    Tình hình đó đòi hỏi Đảng ta có phương hướng chiến lược cùng các nhiệm vụ và giải pháp để lãnh đạo thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng và phát triển nền vǎn hóa nước ta theo đúng Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội và Nghị quyết Đại hội lần thứ VIII của Đảng.

    Phần I: Về thực trạng vǎn hóa nước ta

    1 – Những thành tựu

    Tư tưởng, đạo đức và lối sống là những lĩnh vực then chốt của vǎn hóa, đã có những chuyển biến quan trọng. Chủ nghĩa Mác-Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh được vận dụng và phát triển sáng tạo ngày càng tỏ rõ giá trị vững bền làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng và của cách mạng nước ta, nhân tố hàng đầu bảo đảm cho đời sống tinh thần xã hội phát triển đúng hướng.

    Ý thức phấn đấu cho độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, tinh thần trách nhiệm và nǎng lực tổ chức thực tiễn của cán bộ, đảng viên được nâng lên một bước. Nhiều nét mới trong giá trị vǎn hóa và chuẩn mực đạo đức từng bước hình thành. Tính nǎng động và tính tích cực công dân được phát huy, sở trường và nǎng lực cá nhân được khuyến khích. Không khí dân chủ trong xã hội tǎng lên. Thế hệ trẻ tiếp thu nhanh những kiến thức mới và có ý chí vươn lên lập thân, lập nghiệp, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

    Những việc làm thiết thực hướng về cội nguồn, về cách mạng và kháng chiến, tưởng nhớ các anh hùng dân tộc, quý trọng các danh nhân vǎn hóa, đền ơn đáp nghĩa những người có công, giúp đỡ những người hoạn nạn… trở thành phong trào quần chúng. Tự do tín ngưỡng và không tín ngưỡng được tôn trọng.

    Sự nghiệp giáo dục, khoa học thu được những thành tựu quan trọng, góp phần nâng cao dân trí, trình độ học vấn của nhân dân, làm tǎng thêm sức mạnh nội sinh.

    Trên lĩnh vực vǎn học, nghệ thuật, các hoạt động sáng tạo có bước phát triển mới. Nhiều bộ môn nghệ thuật truyền thống được gìn giữ. Có thêm nhiều tác phẩm có giá trị về đề tài cách mạng và kháng chiến, về công cuộc đổi mới. Nhiều bộ sưu tập công phu từ kho tàng vǎn hóa dân gian và vǎn hóa bác học Việt Nam trong nhiều thế kỷ được xuất bản, tạo cơ sở cho việc nghiên cứu, bảo tồn và phát huy những giá trị tư tưởng, học thuật và thẩm mỹ của dân tộc. Hoạt động lý luận, phê bình đã đạt được những kết quả tích cực, khẳng định mạnh mẽ vǎn nghệ cách mạng và kháng chiến, đẩy lùi một bước những quan điểm sai trái.

    Số đông vǎn nghệ sĩ được rèn luyện và thử thách trong thực tiễn cách mạng, có vốn sống, giàu lòng yêu nước; trước những biến động của thời cuộc và những khó khǎn của đời sống vẫn giữ gìn được phẩm chất, kiên định quan điểm sáng tác phục vụ nhân dân, làm sứ mệnh người nghệ sĩ – chiến sĩ. Nhiều vǎn nghệ sĩ tuy tuổi cao, vẫn tiếp tục sự nghiệp sáng tạo, lớp trẻ có nhiều cố gắng tìm tòi cái mới.

    Vǎn học, nghệ thuật các dân tộc thiểu số có bước tiến đáng kể. Đội ngũ những nhà vǎn hóa người dân tộc thiểu số phát triển cả về số lượng, chất lượng, đã có những đóng góp quan trọng vào hầu hết các lĩnh vực vǎn học, nghệ thuật.

    Thông tin đại chúng phát triển nhanh về số lượng và quy mô, về nội dung và hình thức, về in, phát hành, truyền dẫn, ngày càng phát huy vai trò quan trọng trong đời sống vǎn hóa tinh thần của xã hội. Hệ thống mạng thông tin trong nước và quốc tế được thiết lập, tạo khả nǎng lựa chọn, khai thác các nguồn thông tin bổ ích phục vụ đông đảo công chúng. Đội ngũ các nhà báo ngày càng đông và có bước trưởng thành về chính trị, tư tưởng và nghiệp vụ.

    Giao lưu vǎn hóa với nước ngoài từng bước được mở rộng. Chúng ta có dịp tiếp xúc rộng rãi với những thành tựu vǎn hóa nhân loại, đồng thời giới thiệu với nhân dân các nước những giá trị tốt đẹp, độc đáo của vǎn hóa Việt Nam.

    Hệ thống thể chế vǎn hóa được xây dựng tuy chưa hoàn chỉnh, nhưng về cǎn bản bảo đảm được sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước. Thể chế vǎn hóa mới khuyến khích nhân dân lao động tham gia sự nghiệp xây dựng vǎn hóa trên cả hai mặt sáng tạo và hưởng thụ; giúp đội ngũ vǎn nghệ sĩ chuyên nghiệp làm tốt vai trò nòng cốt trong việc sáng tạo các giá trị vǎn hóa mới; tạo điều kiện thực hiện tốt nhiệm vụ giữ gìn và phát huy bản sắc vǎn hóa dân tộc kết hợp với tiếp thu tinh hoa vǎn hóa thế giới.

    Đảng và Nhà nước đã quan tâm tǎng cường bộ máy tổ chức, ban hành những vǎn bản pháp luật nhằm điều chỉnh hoạt động của ngành vǎn hóa.

    Một bộ phận quan trọng thiết chế vǎn hóa (nhà vǎn hóa, câu lạc bộ, bảo tàng, thư viện, cửa hàng sách báo, khu vui chơi giải trí…), gần đây đã có những phương thức hoạt động mới có hiệu quả.

    2- Những mặt yếu kém

    Nổi lên trước hết ở nhận thức tư tưởng, trong đạo đức và lối sống.

    Trước những biến động chính trị phức tạp trên thế giới, một số người dao động, hoài nghi về con đường xã hội chủ nghĩa, phủ nhận thành quả của chủ nghĩa xã hội hiện thực trên thế giới, phủ nhận con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta; phủ nhận lịch sử cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng. Không ít người còn mơ hồ, bàng quan hoặc mất cảnh giác trước những luận điệu thù địch xuyên tạc, bôi nhọ chế độ ta.

    Tệ sùng bái nước ngoài, coi thường những giá trị vǎn hóa dân tộc, chạy theo lối sống thực dụng, cá nhân vị kỷ… đang gây hại đến thuần phong mỹ tục của dân tộc. Không ít trường hợp vì đồng tiền và danh vị mà chà đạp lên tình nghĩa gia đình, quan hệ thầy trò, đồng chí, đồng nghiệp. Buôn lậu và tham nhũng phát triển. Ma túy, mại dâm và các tệ nạn xã hội khác gia tǎng. Nạn mê tín dị đoan khá phổ biến. Nhiều hủ tục cũ và mới lan tràn, nhât là trong việc cưới, việc tang, lễ hội…

    Nghiêm trọng hơn là sự suy thoái về đạo đức, lối sống ở một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có cả cán bộ có chức, có quyền. Nạn tham nhũng, dùng tiền của Nhà nước tiêu xài phung phí, ǎn chơi sa đọa không được ngǎn chặn có hiệu quả. Hiện tượng quan liêu, cửa quyền, sách nhiễu nhân dân, kèn cựa địa vị, cục bộ, địa phương, bè phái, mất đoàn kết khá phổ biến. Những tệ nạn đó gây sự bất bình của nhân dân, làm tổn thương uy tín của Đảng, của Nhà nước.

    Nhiều biểu hiện tiêu cực trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo làm cho xã hội lo lắng như sự suy thoái đạo lý trong quan hệ thầy trò, bè bạn, môi trường sư phạm xuống cấp; lối sống thiếu lý tưởng, hoài bão, ǎn chơi, nghiện ma túy… ở một bộ phận học sinh, sinh viên; việc coi nhẹ giáo dục đạo đức, thẩm mỹ và các bộ môn chính trị, khoa học xã hội và nhân vǎn.

    Đời sống vǎn học, nghệ thuật còn những mặt bất cập. Rất ít tác phẩm đạt đỉnh cao tương xứng với sự nghiệp cách mạng và kháng chiến vĩ đại của dân tộc và thành quả của đổi mới. Trong sáng tác và lý luận, phê bình, có lúc đã nảy sinh khuynh hướng phủ nhận thành tựu vǎn học cách mạng và kháng chiến, đối lập vǎn nghệ với chính trị, nhìn xã hội với thái độ bi quan. Một vài tác phẩm viết về kháng chiến đã không phân biệt chiến tranh chính nghĩa với chiến tranh phi nghĩa. Xu hướng “thương mại hóa”, chiều theo những thị hiếu thấp kém, làm cho chức nǎng giáo dục tư tưởng và thẩm mỹ của vǎn học, nghệ thuật bị suy giảm.

    Tiềm lực đội ngũ sáng tác, nghiên cứu, lý luận, phê bình về vǎn học nghệ thuật còn yếu. Nhà nước chậm ban hành các chính sách để phát huy những nǎng lực hiện có. Một số ngành nghệ thuật như điện ảnh, sân khấu, đặc biệt là sân khấu truyền thống gặp rất nhiều khó khǎn. Việc giáo dục thẩm mỹ, giáo dục thị hiếu nghệ thuật cho thanh niên, thiếu niên, nhi đồng, học sinh chưa được coi trọng.

    Lãnh đạo quản lý trong xuất bản vǎn học, nghệ thuật còn nhiều sơ hở. Thiếu sự đầu tư trọng điểm và lâu dài cho sự ra đời những tác phẩm lớn, cho việc giữ gìn và phát triển những ngành nghệ thuật truyền thống.

    Giao lưu vǎn hóa với nước ngoài chưa tích cực và chủ động, còn nhiều sơ hở. Số vǎn hóa phẩm độc hại, phản động xâm nhập vào nước ta còn quá lớn, trong khi đó, số tác phẩm vǎn hóa có giá trị của ta đưa ra bên ngoài còn quá ít.

    Lực lượng hoạt động vǎn hóa – vǎn nghệ trong cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài hiện nay không nhỏ, đã có những công trình nghiên cứu, tác phẩm vǎn học, nghệ thuật tốt hướng về Tổ quốc. Song chúng ta còn thiếu những biện pháp tích cực giúp đồng bào tìm hiểu sâu vǎn hóa dân tộc, liên hệ mật thiết với quê nhà, góp phần đấu tranh với những hoạt động chống phá đối với Tổ quốc.

    Việc xây dựng thể chế vǎn hóa còn chậm và nhiều thiếu sót. Chính sách xã hội hóa các hoạt động vǎn hóa chậm được ban hành. Bộ máy tổ chức ngành vǎn hóa chưa được sắp xếp hợp lý để phát huy cao hơn hiệu lực lãnh đạo và quản lý.

    Công tác đào tạo đội ngũ cán bộ lãnh đạo và quản lý vǎn hóa chưa đáp ứng yêu cầu, còn hẫng hụt cán bộ vǎn hóa ở các vị trí quan trọng.

    Chính sách khuyến khích và định hướng đầu tư xã hội cho phát triển vǎn hóa còn chưa rõ. Hệ thống các thiết chế vǎn hóa cần thiết nói chung bị xuống cấp và sử dụng kém hiệu quả.

    Ở nhiều vùng nông thôn, nhất là vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào các dân tộc thiểu số, vùng cǎn cứ cách mạng, kháng chiến trước đây, đời sống vǎn hóa còn quá nghèo n àn.

    3 – Những nguyên nhân chủ yếu

    Những thành tựu trong sự nghiệp xây dựng vǎn hóa một mặt chứng tỏ đường lối và chính sách của Đảng và Nhà nước ta đã và đang phát huy tác dụng tích cực, định hướng đúng đắn cho sự phát triển đời sống vǎn hóa xã hội; mặt khác đó là kết quả của sự tham gia tích cực của nhân dân và những nỗ lực to lớn của các lực lượng hoạt động trên lĩnh vực vǎn hóa.

    Tuy nhiên những mặt chưa được còn nhiều, thậm chí có mặt nghiêm trọng, nhất là trong lĩnh vực tư tưởng, đạo đức và lối sống. Nguyên nhân của tình trạng yếu kém đó là:

    Về khách quan:

    – Sự sụp đổ ở Liên Xô cũ và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu đã gây xáo động lớn về tư tưởng, tình cảm trong cán bộ, đảng viên và nhân dân.

    – Các thế lực thù địch ráo riết chống phá ta trên mặt trận tư tưởng vǎn hóa nhằm thực hiện “diễn biến hòa bình”.

    – Cơ chế thị trường và sự hội nhập quốc tế, bên cạnh những tác động tích cực to lớn, cũng đã bộc lộ mặt trái của nó, ảnh hưởng tiêu cực đến ý thức tư tưởng, đạo đức, lối sống của nhân dân ta.

    – Việc xử lý những phần tử thoái hóa biến chất trong Đảng và bộ máy Nhà nước chưa nghiêm. Tinh thần tự phê bình và phê bình sa sút ở nhiều cấp bộ đảng. Nội dung giáo dục tư tưởng, chính trị trong sinh hoạt đảng và các đoàn thể rất yếu. Những điều đó làm suy giảm niềm tin của nhân dân vào đội ngũ cán bộ, nhưng Trung ương và Bộ Chính trị, Chính phủ chưa có những biện pháp khắc phục hữu hiệu.

    – Trong lãnh đạo và quản lý có những biểu hiện buông lỏng, né tránh, hữu khuynh. Trong hoạt động kinh tế, chưa chú ý đến các yếu tố vǎn hóa, các yêu cầu phát triển vǎn hóa tương ứng. Mức đầu tư ngân sách cho vǎn hóa còn thấp. Chính sách đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng, đãi ngộ cán bộ làm công tác vǎn hóa còn nhiều bất hợp lý. Những lệch lạc và việc làm sai trái trong vǎn hóa, vǎn nghệ chưa được kịp thời phát hiện, việc xử lý bị buông trôi hoặc có khi lại dùng những biện pháp hành chính không thích hợp.

    – Chưa có cơ chế và chính sách phát huy nội lực của nhân dân; chưa tạo được phong trào quần chúng mạnh mẽ tham gia phát triển vǎn hóa, xây dựng nếp sống vǎn minh, bảo vệ vǎn hóa dân tộc. Chưa coi trọng bồi dưỡng, giáo dục và phát huy khả nǎng của tuổi trẻ là lực lượng chính, là đối tượng chủ yếu của hoạt động vǎn hóa.

    Phần II: Phương hướng,nhiệm vụ xây dựng và phát triển vǎn hoá

    I – Phương hướng

    Phương hướng chung của sự nghiệp vǎn hóa nước ta là phát huy chủ nghĩa yêu nước và truyền thống đại đoàn kết dân tộc , ý thức độc lập tự chủ, tự cường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, xây dựng và phát triển nền vǎn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, tiếp thụ tinh hoa vǎn hóa nhân loại, làm cho vǎn hóa thấm sâu vào toàn bộ đời sống và hoạt động xã hội, vào từng người, từng gia đình, từng tập thể và cộng đồng, từng địa bàn dân cư, vào mọi lĩnh vực sinh hoạt và quan hệ con người, tạo ra trên đất nước ta đời sống tinh thần cao đẹp, trình độ dân trí cao, khoa học phát triển, phục vụ đắc lực sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, vǎn minh, tiến bước vững chắc lên chủ nghĩa xã hội.

    Những quan điểm chỉ đạo cơ bản:

    1 – Vǎn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế-xã hội.

    Chǎm lo vǎn hóa là chǎm lo củng cố nền tảng tinh thần của xã hội. Thiếu nền tảng tinh thần tiến bộ và lành mạnh, không quan tâm giải quyết tốt mối quan hệ giữa phát triển kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội thì không thể có sự phát triển kinh tế – xã hội bền vững.

    Xây dựng và phát triển kinh tế phải nhằm mục tiêu vǎn hóa, vì xã hội công bằng, vǎn minh, con người phát triển toàn diện Vǎn hóa là kết quả của kinh tế đồng thời là động lực của sự phát triển kinh tế. Các nhân tố vǎn hóa phải gắn kết chặt chẽ với đời sống và hoạt động xã hội trên mọi phương diện chính trị, kinh tế, xã hội, luật pháp, kỷ cương,… biến thành nguồn lực nội sinh quan trọng nhất của phát triển.

    Bản sắc dân tộc bao gồm những giá trị bền vững, những tinh hoa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam được vun đắp nên qua lịch sử hàng ngàn nǎm đấu tranh dựng nước và giữ nước. Đó là lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự cường dân tộc, tinh thần đoàn kết, ý thức cộ ng đồng gắn kết cá nhân-gia đình-làng xã-Tổ quốc; lòng nhân ái, khoan dung, trọng nghĩa tình, đạo lý; đức tính cần cù, sáng tạo trong lao động; sự tinh tế trong ứng xử, tính giản dị trong lối sống… Bản sắc vǎn hóa dân tộc còn đậm nét cả trong các hình thức biểu hiện mang tính dân tộc độc đáo.

    Hơn 50 dân tộc sống trên đất nước ta đều có những giá trị và sắc thái vǎn hóa riêng. Các giá trị và sắc thái đó bổ sung cho nhau, làm phong phú nền vǎn hóa Việt Nam và củng cố sự thống nhất dân tộc là cơ sở để giữ vững sự bình đẳng và phát huy tính đa dạng vǎn hóa của các dân tộc anh em.

    4 – Xây dựng và phát triển vǎn hóa là sự nghiệp của toàn dân do Đảng lãnh đạo, trong đó đội ngũ trí thức giữ vai trò quan trọng.

    Mọi người Việt Nam phấn đấu vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, vǎn minh đều tham gia sự nghiệp xây dựng và phát triển nền vǎn hóa nước nhà. Công nhân, nông dân, trí thức là nền tảng khối đại đoàn kết toàn dân, cũng là nền tảng của sự nghiệp xây dựng và phát triển vǎn hóa dưới sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước. Đội ngũ trí thức gắn bó với nhân dân giữ vai trò quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và phát triển vǎn hóa.

    5 – Vǎn hóa là một mặt trận; xây dựng và phát triển vǎn hóa là một sự nghiệp cách mạng lâu dài, đòi hỏi phải có ý chí cách mạng và sự kiên trì thận trọng.

    Bảo tồn và phát huy những di sản vǎn hóa tốt đẹp của dân tộc, sáng tạo nên những giá trị vǎn hóa mới, xã hội chủ nghĩa, làm cho những giá trị ấy thấm sâu vào cuộc sống toàn xã hội và mỗi con người, trở thành tâm lý và tập quán tiến bộ, vǎn minh là một quá trình cách mạng đầy khó khǎn, phức tạp, đòi hỏi nhiều thời gian. Trong công cuộc đó, “xây” đi đôi với “chống”, lấy “xây” làm chính. Cùng với việc giữ gìn và phát triển những di sản vǎn hóa quý báu của dân tộc, tiếp thu những tinh hoa vǎn hóa thế giới, sáng tạo, vun đắp nên những giá trị mới, phải tiến hành kiên trì cuộc đấu tranh bài trừ các hủ tục, các thói hư tật xấu, nâng cao tính chiến đấu, chống mọi mưu toan lợi dụng vǎn hóa để thực hiện “diễn biến hòa bình”.

    II – Những nhiệm vụ cụ thể

    1 – Xây dựng con người Việt Nam trong giai đoạn cách mạng mới với những đức tính sau:

    – Có tinh thần yêu nước, tự cường dân tộc, phấn đấu vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có ý chí vươn lên đưa đất nước thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu, đoàn kết với nhân dân thế giới trong sự nghiệp đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.

    – Có ý thức tập thể, đoàn kết, phấn đấu vì lợi ích chung.

    – Có lối sống lành mạnh, nếp sống vǎn minh, cần kiệm, trung thực, nhân nghĩa, tôn trọng kỷ cương phép nước, quy ước của cộng đồng; có ý thức bảo vệ và cải thiện môi trường sinh thái.

    – Lao động chǎm chỉ với lương tâm nghề nghiệp, có kỹ thuật, sáng tạo, nǎng suất cao vì lợi ích của bản thân, gia đình, tập thể và xã hội.

    – Thường xuyên học tập, nâng cao hiểu biết, trình độ chuyên môn, trình độ thẩm mỹ và thể lực.

    2 – Xây dựng môi trường vǎn hóa.

    Tạo ra ở các đơn vị cơ sở (gia đình, làng, bản, xã, phường, khu tập thể, cơ quan, xí nghiệp, nông trường, lâm trường, trường học, đơn vị bộ đội…), các vùng dân cư (đô thị, nông thôn, miền núi…) đời sống vǎn hóa lành mạnh, đáp ứng những nhu cầu vǎn hóa đa dạng và không ngừng tǎng lên của các tầng lớp nhân dân.

    Gìn giữ và phát huy những đạo lý tốt đẹp của gia đình Việt Nam. Nêu cao vai trò gương mẫu của các bậc cha mẹ. Coi trọng xây dựng gia đình vǎn hóa. Xây dựng mối quan hệ khǎng khít giữa gia đình, nhà trường và xã hội.

    Đẩy mạnh phong trào xây dựng làng,ấp, xã, phường vǎn hóa, nâng cao tính tự quản của cộng đồng dân cư trong công cuộc xây dựng nếp sống vǎn minh.

    Thu hẹp dần khoảng cách đời sống vǎn hóa giữa các trung tâm đô thị và nông thôn, giữa những vùng kinh tế phát triển với các vùng sâu, vùng xa, vùng núi, biên giới, hải đảo, giữa các tầng lớp nhân dân.

    Phát triển và không ngừng nâng cao chất lượng hoạt động của các thiết chế vǎn hóa ở cơ sở; đầu tư xây dựng một số công trình vǎn hóa trọng điểm tầm quốc gia. Tǎng cường hoạt động của các tổ chức vǎn hóa, nghệ thuật chuyên nghiệp, phát triển phong trào quần chúng hoạt động vǎn hóa, nghệ thuật.

    3 – Phát triển sự nghiệp vǎn học – nghệ thuật.

    Phấn đấu sáng tạo nhiều tác phẩm vǎn học – nghệ thuật có giá trị tư tưởng và nghệ thuật cao, thấm nhuần tinh thần nhân vǎn, dân chủ, có tác dụng sâu sắc xây dựng con người.

    Khuyến khích tìm tòi, thể nghiệm mọi phương pháp, mọi phong cách sáng tác vì mục đích đáp ứng đời sống tinh thần lành mạnh, bổ ích cho công chúng. Bài trừ các khuynh hướng sáng tác suy đồi, phi nhân tính.

    Hướng vǎn nghệ nước ta phản ánh hiện thực sinh động, chân thật và sâu sắc sự nghiệp của nhân dân trong cách mạng và kháng chiến, trong xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc cũng như tái hiện lịch sử kiên cường, bất khuất của dân tộc. Đặc biệt khuyến khích các tác phẩm về công cuộc đổi mới thể hiện nổi bật những nhân tố tích cực trong xã hội, những nhân vật tiêu biểu của thời đại. Cổ vũ cái đúng, cái tốt, cái đẹp trong quan hệ giữa con người với con người, giữa con người với xã hội, với thiên nhiên; phê phán những thói hư tật xấu, lên án cái ác, cái thấp hèn. Sáng tạo nhiều tác phẩm vǎn học-nghệ thuật cho thiếu niên, nhi đồng với hình thức, nội dụng thích hợp; nghiêm cấm xuất bản loại sách kích thích bạo lực ở trẻ em.

    Phát huy vai trò thẩm định tác phẩm, hướng dẫn dư luận xã hội phê bình vǎn học, nghệ thuật. Bảo đảm tự do sáng tác đi đôi với nêu cao trách nhiệm công dân, trách nhiệm xã hội của vǎn nghệ sĩ, các nhà vǎn hóa. Nâng cao chất lượng, phát huy tác dụng của nghiên cứu, lý luận.

    Chǎm sóc đời sống vật chất, tinh thần, tạo điều kiện làm việc thuận lợi cho vǎn nghệ sĩ. Chú trọng bồi dưỡng, đào tạo lớp vǎn nghệ sĩ trẻ. Làm tốt công tác bảo vệ bản quyền tác giả.

    4 – Bảo tồn và phát huy các di sản vǎn hóa

    Di sản vǎn hóa là tài sản vô giá, gắn kết cộng đồng dân tộc, là cốt lõi của bản sắc dân tộc, cơ sở để sáng tạo những giá trị mới và giao lưu vǎn hóa. Hết sức coi trọng bảo tồn, kế thừa, phát huy những giá trị vǎn hóa truyền thống (bác học và dân gian), vǎn hóa cách mạng, bao gồm cả vǎn hóa vật thể và phi vật thể.

    Đẩy mạnh việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 (khóa VIII) về giáo dục – đào tạo và khoa học – công nghệ. Coi trọng giáo dục đạo lý làm người, ý thức trách nhiệm, nghĩa vụ công dân, lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, đạo đức lối sống, nếp sống vǎn hóa, lịch sử dân tộc và bản sắc dân tộc, ý chí vươn lên vì tương lai của mỗi người và tiền đồ của đất nước; bồi dưỡng ý thức và nǎng lực phát huy giá trị vǎn hóa dân tộc, tiếp thu tinh hoa vǎn hóa nhân loại.

    Bồi dưỡng, xây dựng đội ngũ giảng viên và tu chỉnh hệ thống sách giáo khoa, nâng cao chất lượng giảng dạy các bộ môn ngữ vǎn, lịch sử, chính trị, pháp luật, đạo đức; giảng dạy nhạc và họa ở các trường phổ thông.

    Hoạt động khoa học xã hội – nhân vǎn, khoa học tự nhiên và công nghệ phải góp phần đắc lực giải quyết các vấn đề đặt ra trên lĩnh vực vǎn hóa, thúc đẩy các hoạt động vǎn hóa, thông tin, vǎn học, nghệ thuật.

    6 – Phát triển đi đôi với quản lý tốt hệ thống thông tin đại chúng

    Xây dựng và từng bước thực hiện chiến lược truyền thông quốc gia phù hợp đặc điểm nước ta và xu thế phát triển thông tin đại chúng của thế giới.

    Đẩy mạnh thông tin đối ngoại. Tận dụng thành tựu của mạng Internet để giới thiệu công cuộc đổi mới và vǎn hóa Việt Nam với thế giới, đồng thời có biện pháp hiệu quả ngǎn chặn, hạn chế tác dụng tiêu cực qua mạng Internet cũng như qua các phương tiện thông tin khác.

    Không ngừng nâng cao trình độ chính trị và nghề nghiệp, chất lượng tư tưởng, vǎn hóa của hệ thống truyền thông đại chúng. Khắc phục xu hướng thương mại hóa trong hoạt động báo chí, xuất bản.

    Chǎm lo đặc biệt về định hướng chính trị – tư tưởng, vǎn hóa, cũng như về kỹ thuật hiện đại đối với truyền hình là loại hình báo chí có ưu thế lớn, có sức thu hút công chúng đông đảo.

    7 – Bảo tồn, phát huy và phát triển vǎn hóa các dân tộc thiểu số

    Đầu tư và tổ chức điều tra, sưu tầm, nghiên cứu, phổ biến các giá trị vǎn hóa, vǎn học, nghệ thuật các dân tộc thiểu số.

    Xây dựng nếp sống vǎn minh, gia đình vǎn hóa, mở rộng mạng lưới thông tin ở vùng dân tộc thiểu số.

    Thực hiện tốt chính sách phát triển kinh tế – xã hội ở vùng dân tộc thiểu số, sớm giảm tỉ lệ hộ đói nghèo, ổn định và cải thiện đời sống, xóa mù chữ, nâng cao dân trí, xóa bỏ hủ tục.

    8 – Chính sách vǎn hóa đối với tôn giáo

    Chǎm lo phát triển kinh tế – xã hội, giúp đỡ đồng bào theo đạo xóa đói giảm nghèo, nâng cao dân trí, chǎm sóc sức khỏe, xây dựng môi trường vǎn hóa, thực hiện tốt trách nhiệm công dân đối với Tổ quốc.

    9 – Mở rộng hợp tác quốc tế về vǎn hóa

    Làm tốt việc giới thiệu vǎn hóa, đất nước và con người Việt Nam với thế giới; tiếp thu có chọn lọc các giá trị nhân vǎn, khoa học, tiến bộ của nước ngoài. Phổ biến những kinh nghiệm tốt xây dựng và phát triển vǎn hóa của các nước. Ngǎn ngừa sự xâm nhập các sản phẩm vǎn hóa phản động, đồi trụy.

    Giúp đỡ cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài hiểu biết tình hình nước nhà, thu nhận thông tin và sản phẩm vǎn hóa từ trong nước ra, nêu cao lòng yêu nước, tự tôn dân tộc, giữ gìn truyền thống, bản sắc dân tộc, phát huy trí tuệ, tài nǎng sáng tạo, đóng góp vào công cuộc xây dựng đất nước.

    10 – Củng cố, xây dựng và hoàn thiện thể chế vǎn hóa

    – Củng cố, hoàn thiện thể chế vǎn hóa bảo đảm tǎng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, sự quản lý có hiệu quả của Nhà nước, vai trò làm chủ của nhân dân và lực lượng những người hoạt động vǎn hóa, tạo nhiều sản phẩm và sinh hoạt vǎn hóa phong phú, đa dạng, theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

    – Nâng cao ch t lượng hoạt động của các thiết chế vǎn hóa hiện có, sắp xếp hợp lý các cơ quan hành chính, các đơn vị sự nghiệp và kinh doanh, nâng cấp các đơn vị vǎn hóa – nghệ thuật trọng điểm, tạo chất lượng mới cho toàn ngành.

    – Hoàn chỉnh các vǎn bản luật pháp về vǎn hóa, nghệ thuật, thông tin trong điều kiện của cơ chế thị trường; ban hành các chính sách khuyến khích sáng tạo vǎn hóa và nâng mức đáp ứng nhu cầu hưởng thụ vǎn hóa của nhân dân.

    III – Những nhiệm vụ cấp bách đến năm 2000

    Xây dựng nếp sống vǎn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội, đẩy lùi hủ tục, các tệ nạn cờ bạc, ma túy, mại dâm, bạo lực, gây rối trật tự công cộng. Cải thiện đời sống vǎn hóa ở những vùng đời sống vǎn hóa còn quá thấp kém, nhất là những vùng sâu, vùng xa, vùng núi, biên giới, hải đảo, vùng đồng bào các dân tộc thiểu số, đáp ứng nhu cầu thiết yếu nhất về đời sống vǎn hóa tinh thần của nhân dân.

    Phần III: Những giải pháp lớn xây dựng và phát triển vǎn hoá

    I – Mở cuộc vận động giáo dục chủ nghĩa yêu nước gắn với thi đua yêu nước và phong trào “toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống vǎn hoá”

    – Bằng nhiều hình thức phong phú, tuyên truyền giáo dục làm chuyển biến nhận thức trong toàn xã hội, trước hết trong các cấp ủy đảng, đảng viên, cán bộ quản lý nhà nước, cán bộ các đoàn thể quần chúng về tầm quan trọng, sự cần thiết cấp bách của sự nghiệp xây dựng, phát triển vǎn hóa, về trách nhiệm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ vǎn hóa trong thời kỳ mới.

    – Giáo dục chủ nghĩa yêu nước phải gắn chặt với phong trào thi đua yêu nước và giáo dục về chủ nghĩa xã hội, về nhiệm vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đưa đất nước thoát nghèo nàn lạc hậu; làm cho mọi người thấm nhuần truyền thống lịch sử và cách mạng của dân tộc, đóng góp xứng đáng vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn mới. Các hoạt động tuyên truyền giáo dục phải gắn với quản lý xã hội bằng pháp luật, phát huy sức mạnh dư luận xã hội, gắn với các phong trào hành động của quần chúng.

    – Phát động phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống vǎn hóa”, huy động mọi lực lượng nhân dân và cả hệ thống chính trị từ trên xuống, từ trong đảng, cơ quan Nhà nước, các đoàn thể ra ngoài xã hội tích cực tham gia phong trào.

    Phong trào đó bao gồm các phong trào hiện có như: Người tốt việc tốt, Uống nước nhớ nguồn, Đền ơn đáp nghĩa, Xóa đói giảm nghèo, Xây dựng gia đình vǎn hóa, làng, xã, phường vǎn hóa, Toàn dân đoàn kết xây dựng cuộc sống mới ở các khu dân cư… và toàn bộ các phong trào ấy đều hướng vào cuộc thi đua yêu nước “Tất cả vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, vǎn minh”.

    Thông qua các cuộc vận động nói trên, thiết thực chuẩn bị tiến tới đại hội thi đua toàn quốc vào nǎm 2000.

    II – Xây dựng, ban hành lựât pháp và các chính sách văn hoá

    1 – Xây dựng, ban hành luật pháp

    Bổ sung, hoàn thiện hoặc xây dựng mới các quy chế, quy định về lễ hội, việc tang, việc cưới, việc cúng bái ở các đền chùa, việc đốt vàng mã, việc giữ gìn trật tự vệ sinh nơi công cộng, v.v…

    + Quy định cụ thể chế độ cho các doanh nghiệp đặc thù của ngành vǎn hóa thông tin (hãng phim, rạp chiếu bóng, hiệu sách, khu vui chơi giải trí, nhà xuất bản, trung tâm triển lãm, tu bổ di tích…) được hưởng mức thuế ưu đãi trong hoạt động kinh doanh (thuế đất, thuế vốn khấu hao cơ bản…).

    + Cho phép các thành phần kinh tế, kể cả tư nhân trong nước và nước ngoài, thực hiện một số hình thức liên doanh, liên kết với một số cơ sở hoạt động vǎn hóa theo quy định của pháp luật nhằm xây dựng cơ sở hạ tầng, đổi mới công nghệ và tham gia tổ chức một số hoạt động vǎn hóa có nội dung lành mạnh, bổ ích.

    – Chính sách vǎn hóa trong kinh tế bảo đảm cho vǎn hóa thể hiện rõ trong các hoạt động kinh tế, đồng thời thúc đẩy các hoạt động kinh tế tạo điều kiện nhiều hơn cho sự nghiệp phát triển vǎn hóa. Việc xây dựng các mục tiêu, giải pháp kinh tế phải gắn với các mục tiêu, giải pháp vǎn hóa, chǎm lo con người, nêu cao đạo đức trong sản xuất kinh doanh. Xây dựng vǎn minh thương nghiệp, đạo đức nghề nghiệp, vǎn hóa kinh doanh. Chú ý tính thẩm mỹ, bản sắc dân tộc và tính hiện đại của kiến trúc trong xây dựng các khu dân cư, khu công nghiệp… Trong quy hoạch xây dựng các công trình lớn phải tính đến một số thiết chế vǎn hóa cần thiết nhất như thư viện, nhà thông tin, khu giải trí, bảo đảm cảnh quan môi trường cho các di tích lịch sử, vǎn hóa và danh lam thắng cảnh. Thực hiện chính sách miễn, giảm phần chịu thuế cho các khoản đầu tư, đóng góp của các doanh nghiệp vào sự nghiệp vǎn hóa.

    – Chính sách xã hội hóa hoạt động vǎn hóa nhằm động viên sức người, sức của của các tầng lớp nhân dân, các tổ chức xã hội để xây dựng và phát triển vǎn hóa. Chính sách này được tiến hành đồng thời với việc nâng cao vai trò và trách nhiệm của nhà nước. Các cơ quan chủ quản về vǎn hóa của Nhà nước phải làm tốt chức nǎng quản lý và hướng dẫn nghiệp vụ đối với các hoạt động xã hội về vǎn hóa.

    – Chính sách bảo tồn, phát huy di sản vǎn hóa dân tộc hướng vào cả vǎn hóa vật thể và phi vật thể. Tiến hành sớm việc kiểm kê, sưu tầm, chỉnh lý vốn vǎn hóa truyền thống (bao gồm vǎn hóa bác học và vǎn hóa dân gian) của người Việt và các dân tộc thiểu số; phiên dịch, giới thiệu kho tàng vǎn hóa Hán Nôm. Bảo tồn các di tích lịch sử, vǎn hóa và các danh lam thắng cảnh, các làng nghề, các nghề truyền thống… Trọng đãi những nghệ nhân bậc thầy trong các ngành, nghề truyền thống.

    – Chính sách khuyến khích sáng tạo trong các hoạt động vǎn hóa đòi hỏi tǎng nguồn đầu tư thích đáng cho khu vực sáng tạo vǎn hóa, vǎn học, nghệ thuật. Chú trọng đầu tư hỗ trợ cho những tác giả có uy tín cao, những tài nǎng trẻ, đầu tư cho lực lượng chuyên nghiệp và cả cho phong trào quần chúng. Có chính sách chǎm sóc đặc biệt đối với các vǎn nghệ sĩ cao tuổi tiêu biểu, các mầm non nghệ thuật xuất sắc. Sửa đổi chế độ nhuận bút phù hợp với tình hình mới; có chính sách khuyến khích đối với lao động nghệ thuật và báo chí. Thành lập quỹ vǎn hóa quốc gia và quỹ sáng tác của các Hội vǎn học, nghệ thuật, tạo thêm nguồn hỗ trợ tài chính cho xây dựng các tác phẩm. Có chính sách khuyến khích các vǎn nghệ sĩ, nhà báo gắn bó với cơ sở, với thực tiễn lao động sản xuất. Tiếp tục thực hiện Pháp lệnh về giải thưởng Hồ Chí Minh, giải thưởng nhà nước và Pháp lệnh công nhận danh hiệu nghệ sĩ nhân dân, nghệ sĩ ưu tú.

    – Xây dựng và ban hành chính sách đặc thù hợp lý, hợp tình cho những loại đối tượng xã hội cần được ưu đãi tham gia và hưởng thụ vǎn hóa: thương binh, bệnh binh, các Bà mẹ Việt Nam Anh hùng, trẻ em, những người già không nơi nương tựa, những người thuộc các dân tộc thiểu số, những người tàn tật…

    – Ban hành các chính sách cụ thể về hợp tác quốc tế trong quan hệ với các tổ chức quốc tế và các quốc gia ở những khu vực, những nhóm nước cụ thể. Đa dạng hóa, đa phương hóa các mối quan hệ về vǎn hóa (Nhà nước, các tổ chức phi chính phủ, cá nhân) nhằm tiếp thu được nhiều tinh hoa, kinh nghiệm của nước ngoài, ngǎn ngừa những tác động tiêu cực. Mở rộng, khuyến khích xuất khẩu sách, báo, vǎn hóa phẩm. Nâng công suất và thời lượng phát thanh, truyền hình ra nước ngoài. Tǎng cường trao đổi các đoàn nghệ thuật, điện ảnh, các cuộc triển lãm, các cuộc thi đấu thể thao. Hình thành cơ chế phối hợp, chỉ đạo tập trung các cơ quan và lực lượng làm công tác đối ngoại trên lĩnh vực vǎn hóa – thông tin.

    III – Tăng cường nguồn lực và phương tiện cho hoạt động văn hoá

    – Tǎng mức đầu tư cho vǎn hóa từ nguồn chi thường xuyên và nguồn chi phát triển trong ngân sách nhà nước. Tỉ trọng chi ngân sách cho vǎn hóa phải tǎng tương ứng nhịp độ tǎng trưởng kinh tế. Khuyến khích các địa phương tǎng thêm nguồn đầu tư cho vǎn hóa. Tích cực huy động các nguồn lực ngoài ngân sách nhà nước cho phát triển vǎn hóa.

    – Thực hiện các chương trình có mục tiêu về vǎn hóa nhằm đầu tư có trọng điểm, giải quyết các vấn đề có tính cấp bách. Xây dựng một số công trình vǎn hóa tiêu biểu chuẩn bị kỷ niệm 1000 nǎm Thǎng Long.

    – Củng cố, hoàn thiện tổ chức bộ máy, cán bộ của các cơ quan lãnh đạo, quản lý, tham mưu, các đoàn thể, các tổ chức nghề nghiệp của hoạt động vǎn hóa từ trung ương đến cơ sở, bảo đảm hoạt động có hiệu quả. Điều chỉnh, xác định rõ cơ cấu, chức nǎng nhiệm vụ, phương thức hoạt động của các ban của Đảng và các tổ chức đảng trong Bộ Vǎn hóa – Thông tin, các hội vǎn học nghệ thuật (các ban cán sự, đảng đoàn). Xây dựng quy chế về mối quan hệ làm việc giữa các tổ chức này, bảo đảm sự phối hợp nhịp nhàng.

    Nâng cao trình độ mọi mặt của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý vǎn hóa các cấp. Sử dụng và bố trí hợp lý đội ngũ cán bộ hiện có. Xây dựng quy hoạch và thực hiện chương trình đào tạo lớp cán bộ mới (cán bộ lãnh đạo, cán bộ quản lý, chuyên gia) đủ phẩm chất và nǎng lực đảm đương công việc trong những nǎm tới. Củng cố, kiện toàn hệ thống các khoa, trường đào tạo cán bộ vǎn hóa, nghệ thuật, thông tin, báo chí, các viện nghiên cứu cả về tổ chức, đội ngũ giảng viên, chương trình, giáo trình. Tǎng thêm điều kiện và phương tiện kỹ thuật giảng dạy, học tập. Tổ chức tốt đào tạo trên đại học…

    Xây dựng và thực hiện tiêu chuẩn hóa cán bộ vǎn hóa

    IV- Nâng cao hiệu quả lãnh đạo cảu Đảng trên lĩnh vực văn hoá

    Yêu cầu xây dựng và phát triển đất nước trong giai đoạn mới đòi hỏi Đảng ta phải tǎng cường và nâng tầm lãnh đạo trên lĩnh vực vǎn hóa.

    – Nhận thức đúng đắn về vai trò đặc biệt quan trọng của vǎn hóa trong việc bồi dưỡng và phát huy nhân tố con người, xây dựng xã hội mới

    – xã hội chủ nghĩa. Khắc phục thái độ xem nhẹ việc xây dựng và đấu tranh trên lĩnh vực vǎn hóa.

    – Thường xuyên chǎm lo việc nâng cao nhận thức, hiểu biết về lý tưởng cách mạng, chủ nghĩa Mác-Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối chính sách của Đảng và tình hình đất nước cho đội ngũ trí thức vǎn nghệ sĩ, cán bộ vǎn hóa; làm tốt công tác kết nạp đảng trong bộ phận trí thức, vǎn nghệ sĩ ưu tú.

    – Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng theo hướng vừa bảo đảm cho vǎn hóa, vǎn học nghệ thuật, báo chí phát triển đúng định hướng chính trị, tư tưởng của Đảng, vừa bảo đảm thực hiện quyền tự do, dân chủ cá nhân trong sáng tạo vǎn hóa, vǎn học, nghệ thuật, khoa học và công nghệ trên cơ sở phát huy tính tự giác cao với mục đích đúng đắn.

    – Phát huy vai trò của các đoàn thể quần chúng, các tổ chức sáng tạo vǎn hóa, vǎn nghệ trong việc vận động, tổ chức quần chúng, giới trí thức thực hiện nhiệm vụ vǎn hóa, làm chủ vǎn hóa.

    Quan tâm giáo dục lý tưởng, đạo đức và lối sống vǎn hóa cho thế hệ trẻ. Có chính sách trọng dụng người tài.

    Làm tốt công tác kiểm tra của Đảng trong việc xem xét tư tưởng, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên.

    Để quán triệt và thực hiện tốt Nghị quyết này, các cấp ủy và tổ chức đảng nghiêm túc xem xét trách nhiệm lãnh đạo của mình, rút ra những bài học kinh nghiệm lãnh đạo vǎn hóa, đẩy mạnh công tác xây dựng Đảng. Tiến hành sinh hoạt chính trị tự phê bình và phê bình về tư tưởng, đạo đức, lối sống trong toàn đảng và bộ máy Nhà nước, trước hết là trong đội ngũ cán bộ lãnh đạo và quản lý. Kết quả nghiên cứu, quán triệt Nghị quyết phải được thể hiện trong việc xây dựng kế hoạch, chương trình hành động của các cấp, các ngành, trong việc phát huy vai trò gương mẫu về tư tưởng, đạo đức, lối sống vǎn hóa của cán bộ, đảng viên, viên chức nhà nước. Xây dựng và phát triển nền vǎn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc là một bộ phận quan trọng của sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa của nước ta, đòi hỏi ý chí cách mạng kiên định, trình độ trí tuệ và tính tự giác cao. Mỗi cán bộ, đảng viên, trước hết là các ủy viên Ban chấp hành Trung ương nêu cao vai trò gương mẫu của người cộng sản, động viên, tổ chức nhân dân thực hiện thắng lợi Nghị quyết, làm theo lời Bác Hồ: “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội trước hết phải có con người xã hội chủ nghĩa”.

    Toàn đảng, toàn dân ta ra sức phấn đấu để Tổ quốc ta mãi mãi là quốc gia vǎn hiến, dân tộc ta là một dân tộc vǎn hóa, nền vǎn hóa nước ta không ngừng phát triển, xứng đáng với tầm vóc dân tộc ta trong lịch sử và trong thế giới hiện đại.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Văn Hóa Là Sức Mạnh Nội Sinh Quan Trọng Để Phát Triển Bền Vững
  • Triển Khai Thực Hiện Nghị Quyết Hội Nghị Trung Ương 9 (Khóa X)
  • Triển Khai Thực Hiện Nghị Quyết Hội Nghị Trung Ương 9 Khóa 11
  • Nghị Quyết Trung Ương 9 Khóa 12
  • Toàn Văn Thông Báo Của Hội Nghị Trung Ương 9 Khóa X
  • Đảng Bộ Than Quảng Ninh Tổng Kết 15 Năm Thực Hiện Nghị Quyết Tw5 (Khóa Viii)

    --- Bài mới hơn ---

  • Thủ Tục Công Nhận Phê Chuẩn Kết Quả Bầu Chủ Tịch, Phó Chủ Tịch Ủy Ban Nhân Dân Cấp Xã
  • Chuyển Biến Trong Thực Hiện Nghị Quyết Trung Ương 4 Về Xây Dựng, Chỉnh Đốn Đảng
  • Đảng Bộ Quân Đội Thực Hiện Nghị Quyết Trung Ương 4 (Khóa Xii) Về Xây Dựng, Chỉnh Đốn Đảng
  • Cam Kết Thực Hiện Nghị Quyết Tw4 Và Chỉ Thị 05 / Bch Tw Khóa Xii
  • Thcs Dân Hòa Học Tập Nghị Quyết
  • Ngày 26-12, tại TP Hạ Long, Đảng bộ Than Quảng Ninh đã tổ chức Hội nghị tổng kết 15 năm thực hiện Nghị quyết TW 5 (Khóa VIII) về “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”.

    Đảng bộ TQN tặng bằng khen cho các tập thể đã có thành tích xuất sắc trong việc thực hiện Nghị quyết TW5 (khóa VIII).

    Theo báo cáo của Đảng ủy Than Quảng Ninh (TQN), sau 15 năm thực hiện Nghị quyết, toàn thể cán bộ đảng viên và CBCNV ngành Than đã phấn đấu không ngừng để xây dựng vùng mỏ ngày càng giàu đẹp. Sản xuất kinh doanh của ngành than không ngừng phát triển, năm sau có mức tăng trưởng hơn năm trước. Năng suất và điều kiện làm việc của người lao động ngày càng được nâng cao. Đặc biệt, đời sống văn hóa tinh thần ngày càng được phát triển mạnh mẽ. Hầu hết các đơn vị duy trì tốt các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể thao.

    Đối với việc bảo tồn và phát triển văn hóa các dân tộc, Đảng bộ TQN đã cùng với lãnh đạo Vinacomin xây dựng lộ trình giúp đỡ các xã nghèo, huyện nghèo và các cơ chế cụ thể để khuyến khích thanh niên các đồng bào dân tộc thiểu số về học tập và làm việc tại các đơn vị trong ngành Than. Đối với công tác mở rộng hợp tác quốc tế về văn hóa, Đảng bộ TQN đã tăng cường công tác nắm tình hình, đẩy mạnh công tác tuyên truyền nhằm ngăn chặn đẩy lùi sự xâm nhập của các thế lực thù địch, phản động. Trong phong trào xây dựng văn hóa doanh nghiệp, các khu tập thể văn minh thì đến nay hầu hết các đơn vị đã xây dựng nhà làm việc khang trang, cán bộ viên chức có phong cách giao tiếp, làm việc khoa học, chất lượng. Ngoài ra, có nhiều đơn vị áp dụng phương pháp quản lý mới, được công nhận đạt tiêu chuẩn ISO-9001 phiên bản 2000 như Trường Cao đẳng nghề mỏ Hồng Cẩm…

    Phát huy kết quả đã đạt được trong thời gian tới Đảng bộ TQN sẽ tiếp tục tăng cường vai trò của các tổ chức, đoàn thể, đẩy mạnh các phong trào thi đua tại cơ sở để tạo động lực thúc đẩy sản xuất kinh doanh, nâng cao đời sống người lao động, góp phần xây dựng Vinacomin sản phát triển bền vững.

    Nhân dịp này, Đảng bộ TQN cũng đã biểu dương khen thưởng cho 8 tập thể đã có thành tích xuất sắc trong việc thực hiện Nghị quyết TW5 (khóa VIII) về “xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”.

    Hoàng Nga

    --- Bài cũ hơn ---

  • Lào Cai: Nâng Cao Toàn Diện Đời Sống Văn Hóa Sau 15 Năm Thực Hiện Nghị Quyết Tw5 (Khóa Viii)
  • Nq Tw5 Khóa Viii Nq Tw 5 K Viii 1998 Va Tw4 K Vii 1993 Doc
  • Văn Hóa Là Sức Mạnh Nội Sinh Quan Trọng Để Phát Triển Bền Vững
  • Triển Khai Thực Hiện Nghị Quyết Hội Nghị Trung Ương 9 (Khóa X)
  • Triển Khai Thực Hiện Nghị Quyết Hội Nghị Trung Ương 9 Khóa 11
  • Nghị Quyết Trung Ương 5 Khóa Viii

    --- Bài mới hơn ---

  • Đổi Mới Tiếp Xúc Của Đại Biểu Quốc Hội Với Cử Tri:khắc Phục Tình Trạng Cử Tri
  • Hiệu Lực Quyết Định Của Hđnd
  • Chính Phủ Chính Thức Cho Phép Giảm Phí Trước Bạ 50% Đối Với Xe Trong Nước
  • Khi Nào Người Mua Xe Mới Được Giảm 50% Phí Trước Bạ?
  • Khi Nào Một Văn Bản Pháp Luật Hết Hiệu Lực ? Dịch Vụ Cung Cấp Văn Bản Luật
  • Thứ hai, 15 Tháng 9 2014 11:22

    Đường lối xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam được xác định tại Đề cương văn hóaViệt Nam(1943): “Mặt trận văn hóa là một trong ba mặt trận (chính trị, kinh tế, văn hóa)”; “Không phải chỉ làm cách mạng chính trị mà còn phải làm cách mạng văn hóa…”; “Có lãnh đạo được phong trào văn hóa, Đảng mới ảnh hưởng được dư luận, việc tuyên truyền của Đảng mới có hiệu quả”(1) và “Phải hoàn thành cách mạng văn hóa mới hoàn thành được cuộc cải tạo xã hội…”(2); “Cách mạng văn hóa muốn hoàn thành phải do Đảng Cộng sản Đông Dương lãnh đạo”(3). Mục tiêu trước mắt mà Đề cương văn hóa Việt Nam đề ra là xây dựng nền văn hóa mới dân tộc, khoa học, đại chúng và mục tiêu lâu dài là xây dựng “văn hóa xã hội chủ nghĩa”(4). Muốn xây dựng nền văn hóa dân tộc, khoa học, đại chúng phải nắm vững ba nguyên tắc: dân tộc hóa, khoa học hóa và đại chúng hóa. Đường lối ấy được bổ sung, phát triển qua các kỳ đại hội, hội nghị Trung ương từ khóa I đến khóa VIII. Nhưng có thể nói đến Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 (khóa VIII) mới là văn kiện đánh dấu sự phát triển toàn diện đường lối xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam trong giai đoạn cách mạng mới. Sự phát triển toàn diện ấy được thể hiện ở các điểm chủ yếu sau đây:

    Từ nhận thức văn hóa, bao gồm tư tưởng, học thuật, nghệ thuật ( Đề cương văn hóa Việt Nam 1943) đến văn hóa bao gồm: tư tưởng, đạo đức, lối sống, khoa học, giáo dục – đào tạo, thông đại chúng, văn học – nghệ thuật, tôn giáo, tín ngưỡng…

    Từ nền văn hóa mới: dân tộc, khoa học, đại chúng; dân tộc là hình thức, tân dân chủ là nội dung (1943); là nền văn hóa “có nội dung xã hội chủ nghĩa và tính dân tộc, có tính đảng và tính nhân dân sâu sắc”(5) (1982) đến nền văn hóa mang tính dân tộc, hiện đại, nhân văn (Hiến pháp 1992) và xây dựng, phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc (Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII – 1998).

    Từ quan niệm “phải hoàn thành cách mạng văn hóa mới hoàn thành được cuộc cải tạo xã hội” (1943); cách mạng tư tưởng – văn hóa là động lực (Đại hội IV) đến văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội (Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII).

    Từ ba nguyên tắc vận động cách tân văn hóa: dân tộc hóa, đại chúng hóa, khoa học hóa (1943); tiến hành cách mạng XHCN trên lĩnh vực tư tưởng và văn hóa làm cho thế giới quan Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh giữ vị trí chủ đạo trong đời sống tinh thần xã hội: kế thừa và phát huy những truyền thống văn hóa tốt đẹp của tất cả các dân tộc trong nước; “tiếp thu những tinh hoa văn hóa nhân loại, xây dựng một xã hội dân chủ, văn minh vì lợi ích chân chính và phẩm giá con người với trình độ tri thức, đạo đức, thể lực và thẩm mỹ ngày càng cao”(6). “Phương hướng chung của sự nghiệp văn hóa nước ta là phát huy chủ nghĩa yêu nước và truyền thống đại đoàn kết dân tộc, ý thức độc lập tự chủ, tự cường, xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, làm cho văn hóa thấm sâu vào toàn bộ đời sống và hoạt động xã hội, vào từng người, từng gia đình, từng tập thể và cộng đồng, từng địa bàn dân cư, vào mọi lĩnh vực sinh hoạt và quan hệ con người, tạo ra trên đất nước ta đời sống tinh thần cao đẹp, trình độ dân trí cao, khoa học phát triển, phục vụ đắc lực sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội”(7) (Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII).

    Từ định hướng chỉ đạo: “Cách mạng văn hóa muốn hoàn thành phải do Đảng Cộng sản Đông Dương lãnh đạo”, văn hóa là một trong ba mặt trận, các nhà báo, đội ngũ văn nghệ sĩ là những chiến sĩ trên mặt trận ấy đến năm quan điểm chỉ đạo:

    – Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội.

    – Nền văn hóa chúng ta xây dựng là nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.

    – Nền văn hóa Việt Nam là nền văn hóa thống nhất mà đa dạng trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam.

    – Xây dựng và phát triển văn hóa là sự nghiệp của toàn dân do Đảng lãnh đạo, trong đó, đội ngũ trí thức giữ vai trò quan trọng.

    -Văn hóa là một mặt trận, xây dựng và phát triển văn hóa là sự nghiệp cách mạng lâu dài, đòi hỏi phải có ý chí cách mạng và sự kiên trì, thận trọng”(8).

    Từ nhiệm vụ văn hóa là: giáo dục chủ nghĩa Mác – Lênin, không ngừng đấu tranh với tư tưởng phi vô sản (Đại hội I)(9), giáo dục, động viên văn hóa thật sự tham gia kháng chiến, đào tạo nhân tài và cán bộ (Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng tháng 1-1948), “Đẩy mạnh nghiên cứu khoa học… phát triển văn hóa” (Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ hai mươi, tháng 4-1972)(10), giáo dục tư tưởng XHCN, nâng cao trình độ văn hóa, trình độ khoa học – kỹ thuật, sức khỏe và tay nghề của người lao động, mở rộng các hoạt động văn hóa, văn nghệ, truyền thanh, truyền hình…(11) (Hội nghị Trung ương 2 khóa IX), phát triển đầy đủ thành 10 nhiệm vụ cụ thể trên tất cả các lĩnh vực văn hóa, từ xây dựng và hoàn thiện nhân cách con người Việt Nam trong giai đoạn mới, xây dựng môi trường văn hóa; xây dựng tư tưởng, đạo đức, lối sống; phát triển văn học, nghệ thuật; bảo tồn và phát huy di sản văn hóa; phát triển sự nghiệp giáo dục – đào tạo và khoa học – công nghệ; phát triển đi đôi với quản lý tốt hệ thống thông tin đại chúng; bảo tồn, phát huy và phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số; thực hiện chính sách văn hóa đối với tôn giáo đến củng cố, xây dựng, hoàn thiện thể chế văn hóa và mở rộng hợp tác quốc tế về văn hóa (Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII).

    Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) đã nêu lên bốn giải pháp cơ bản để xây dựng và phát triển văn hóa:

    – Mở cuộc vận động giáo dục chủ nghĩa yêu nước gắn với thi đua yêu nước và phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa.

    – Xây dựng, ban hành luật pháp và các chính sách văn hóa.

    – Tăng cường nguồn lực và phương tiện cho hoạt động văn hóa.

    – Nâng cao hiệu quả lãnh đạo của Đảng trên lĩnh vực văn hóa.

    Như vậy, Nghị quyết đã bổ sung và phát triển toàn diện đường lối xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam phù hợp với thực tiễn Việt Nam trong giai đoạn cách mạng mới, phù hợp với xu hướng phát triển tiến bộ của thời đại từ quan niệm về văn hóa, vị thế, vai trò của văn hóa đối với sự phát triển, từ quan điểm chỉ đạo đến mục tiêu, nhiệm vụ cụ thể và các giải pháp cơ bản để xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.

    Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII không chỉ phát triển toàn diện mà còn phát triển một cách sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tư tưởng tiến bộ của nhân loại về văn hóa, về xây dựng và phát triển nền văn hóa trong điều kiện xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế. Sự phát triển sáng tạo ấy được thể hiện đậm nét ở những quan niệm, tư tưởng chủ yếu như sau:

    Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin chưa đưa ra mô hình văn hóa XHCN nhưng cũng nêu lên tính chất của nền văn hóa là phải kết hợp giữa cái truyền thống với cái hiện đại, giữa cái dân tộc và cái quốc tế trên nền tảng hệ tư tưởng của giai cấp công nhân.

    Từ những ý tưởng ban đầu của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta đã đưa ra mô hình văn hóa XHCN để hướng tới xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Mô hình văn hóa với hai đặc trưng cơ bản: tiên tiến và đậm đà bản sắc dân tộc đã hàm chứa được tất cả những gì tốt nhất, hiện đại nhất, đẹp nhất, nhân đạo nhất của văn hóa Việt Nam, phù hợp với sự tiến bộ văn hóa của nhân loại. Đây là sự phát triển sáng tạo lý luận văn hóa mácxít của Đảng ta và khắc phục được hạn chế trong nhận thức xem bản sắc văn hóa dân tộc là hình thức.

    Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) không chỉ xác định mô hình mà còn làm sáng tỏ đặc trưng của một nền văn hóa tiên tiến và đặc trưng của bản sắc dân tộc. Cốt lõi của nền văn hóa tiên tiến là “lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội theo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh nhằm mục tiêu tất cả vì con người, vì hạnh phúc và sự phát triển phong phú, tự do, toàn diện của con người trong mối quan hệ hài hòa giữa cá nhân và cộng đồng, giữa xã hội và tự nhiên”, tiên tiến không chỉ ở nội dung tư tưởng mà còn tiên tiến trong cả hình thức biểu hiện, trong các phương tiện chuyển tải nội dung. Bản sắc văn hóa Việt Nam là những giá trị bền vững, những tinh hoa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam được vun đắp nên qua hàng nghìn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước. Đó là lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự cường dân tộc, tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng gắn kết cá nhân – gia đình – làng xã – Tổ quốc, lòng nhân ái, khoan dung, trọng nghĩa tình đạo lý, đức tính cần cù, sáng tạo trong lao động, sự tinh tế trong ứng xử, tính giản dị trong lối sống… đậm nét trong các hình thức biểu hiện mang tính dân tộc độc đáo(13).

    Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội.

    Đây là luận điểm mới mẻ, sáng tạo nói lên mối quan hệ biện chứng giữa văn hóa và sự phát triển, nhấn mạnh vị thế, vai trò của văn hóa đối với chính trị, kinh tế và các lĩnh vực khác trong đời sống xã hội. Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội là quan niệm mới mẻ và sáng tạo của Đảng ta bổ sung vào lý luận văn hóa mácxít. Văn hóa là mục tiêu của sự phát triển cũng là sự phát triển sáng tạo trên cơ sở kế thừa tư tưởng của Mác: chủ nghĩa cộng sản là chủ nghĩa nhân đạo hoàn bị; văn hóa vô sản = chủ nghĩa cộng sản của Lênin và văn hóa là “hệ quy chiếu” của sự phát triển (theo UNESCO). Văn hóa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội chính là bổ sung vào tư tưởng mácxít về vai trò của các hình thái ý thức xã hội đối với tồn tại xã hội, khoa học, giáo dục là động lực của lịch sử. Văn hóa là yếu tố nội sinh, là động lực của sự phát triển.

    Xây dựng nền văn hóa Việt Nam trước hết là phải xây dựng và hoàn thiện nhân cách con người Việt Nam và môi trường văn hóa.

    Con người theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin “không phải là một cái trừu tượng cố hữu của cá nhân riêng biệt. Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa những quan hệ xã hội”(14). Con người vừa là sản phẩm của hoàn cảnh lịch sử, vừa là chủ thể của tiến trình lịch sử, nó gắn với những điều kiện lịch sử nhất định, một phương thức sản xuất, một dân tộc nhất định. Với ý nghĩa ấy, con người cũng vừa là chủ thể của văn hóa, đồng thời cũng là sản phẩm của văn hóa. Hồ Chí Minh đã từng nhấn mạnh: muốn xây dựng CNXH, trước hết phải có con người XHCN. Thế nhưng trong thời gian khá dài, mối quan hệ giữa con người và văn hóa chưa được đề cập một cách khoa học, trong đường lối thường tách xây dựng con người mới và nền văn hóa mới. Từ thực tiễn xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH, Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) đã khắc phục những khiếm khuyết nêu trên, đã nhấn mạnh nhiệm vụ xây dựng và hoàn thiện nhân cách con người Việt Nam, xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh như là một hệ quả tất yếu từ biện chứng giữa con người và văn hóa theo quy luật nhân quả. Việc bổ sung vào lý luận văn hóa mácxít thuật ngữ môi trường văn hóa và xác định đặc trưng của con người mà chúng ta hướng tới xây dựng, chính là sự phát triển sáng tạo đường lối văn hóa của Đảng trong giai đoạn cách mạng mới.

    Không tách rời hệ tư tưởng với văn hóa, xem hệ tư tưởng là cái cốt lõi của văn hóa, xây dựng tư tưởng, đạo đức là nhiệm vụ trọng tâm, vừa cấp bách, vừa cơ bản, thường xuyên và lâu dài của sự nghiệp văn hóa, là điểm mới, sáng tạo trong sự phát triển đường lối văn hóa.

    Hồ Chí Minh luôn xem công tác tư tưởng là công tác hàng đầu của Đảng. Theo Người, tư tưởng có thống nhất thì hành động mới thống nhất, tư tưởng và hành động có thống nhất thì mọi việc cách mạng mới thành công. Đảng ta không tách rời cách mạng tư tưởng và cách mạng văn hóa, xem tư tưởng, học thuật, nghệ thuật nằm trong phạm trù văn hóa (Đề cương văn hóa 1943) và ngay từ Hội nghị Trung ương 3 (khóa III) đã xác định: “Cùng với đà phát triển của sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa trên mặt trận kinh tế, cần xúc tiến sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa trên mặt trận tư tưởng, văn hóa và kỹ thuật”(15).

    Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII từ những quan điểm nêu trên đã phát triển một cách sáng tạo đường lối xây dựng và phát triển văn hóa: xem việc xây dựng tư tưởng là nhiệm vụ trọng tâm, cơ bản, cấp bách và lâu dài của sự nghiệp xây dựng nền văn hóa Việt Nam.

    Từ đặc trưng đậm đà bản sắc dân tộc của nền văn hóa Việt Nam đến quan điểm nền văn hóa Việt Nam thống nhất mà đa dạng trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam.

    Đến Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII), đặc trưng bản sắc văn hóa dân tộc mới được cụ thể hóa một cách lôgíc, sáng tạo. Từ quan điểm chỉ đạo: nền văn hóa Việt Nam là nền văn hóa thống nhất mà đa dạng trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam và cũng từ quan điểm chỉ đạo cơ bản này để xác định nhiệm vụ mang tầm chiến lược trong sự nghiệp xây dựng nền văn hóa Việt Nam là bảo tồn, phát huy và phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số. Tính thống nhất theo tinh thần Nghị quyết là thống nhất ở hệ tư tưởng, ở những giá trị phổ biến, vững bền, đặc trưng cho cả nền văn hóa Việt Nam; bảo tồn, phát huy không tách rời phát triển văn hóa, bởi đậm đà bản sắc phải gắn với cái hiện đại, cái tiên tiến.

    Điểm mới trong sự phát triển sáng tạo đường lối xây dựng nền văn hóa Việt Nam trong Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII là đã xác định rõ ràng, cụ thể chủ thể lãnh đạo và chủ thể xây dựng nền văn hóa.Chủ thể lãnh đạo sự nghiệp xây dựng nền văn hóa là Đảng Cộng sản Việt Nam, chủ thể xây dựng là toàn dân, trong đó đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ giữ vai trò quan trọng. Đảng lãnh đạo thông qua đường lối, chính sách trên lĩnh vực văn hóa: chính sách kinh tế trong văn hóa, văn hóa trong kinh tế, bảo tồn các di sản văn hóa, khuyến khích sáng tạo văn hóa mới, chính sách hợp lý trong hưởng thụ, tiêu dùng các giá trị văn hóa, chính sách đối với nghệ nhân, xã hội hóa hoạt động văn hóa, giáo dục – đào tạo, khoa học – công nghệ… Sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hóa là sự nghiệp của toàn dân, cho nên giải pháp vừa cơ bản, vừa lâu dài, vừa cấp bách, vừa thường xuyên, mang tính đột phá là phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc, gắn chặt phong trào thi đua yêu nước với phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa. Phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa là giải pháp, bao gồm nhiều biện pháp để xây dựng văn hóa ngay từ cơ sở, từ xây dựng tư tưởng, đạo đức, lối sống, nếp sống đến xây dựng con người văn hóa, gia đình văn hóa, làng, xã văn hóa, đơn vị văn hóa, môi trường văn hóa; từ phong trào xóa đói giảm nghèo, người tốt, việc tốt, phong trào bảo vệ an ninh Tổ quốc đến phong trào đền ơn đáp nghĩa, phong trào văn nghệ quần chúng, phong trào rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại…

    Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) đã phát triển toàn diện, sáng tạo đường lối xây dựng nền văn hóa Việt Nam, song ở một nghị quyết, cùng một lúc không thể đề cập một cách đầy đủ, trọn vẹn, sâu sắc trên tất cả các lĩnh vực văn hóa. Chẳng hạn như đặc trưng mô hình văn hóa: tiên tiến là yêu nước và tiến bộ; đậm đà bản sắc, nhiệm vụ cụ thể chưa đề cập đến lĩnh vực thể dục, thể thao; giải pháp xây dựng tư tưởng, đạo đức vẫn còn chung chung; vận dụng quy luật và tính quy luật trong sự phát triển văn hóa mới chú trọng mối quan hệ giữa kinh tế và văn hóa, còn mối quan hệ giữa văn hóa với chính trị, văn hóa với các lĩnh vực xã hội khác, với môi trường chưa thật đậm nét; chưa nêu được nội dung và giải pháp để xây dựng những giá trị mới của văn hóa Việt Nam hiện đại…

    Những hạn chế đó, đã được Hội nghị Trung ương 10 khóa IX và Đại hội X của Đảng bổ sung toàn diện hơn, đầy đủ hơn: “Phải gắn tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa, phát triển toàn diện con người, thực hiện dân chủ, tiến bộ và công bằng xã hội”; “Bảo đảm sự gắn kết giữa nhiệm vụ phát triển kinh tế là trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt với phát triển văn hóa – nền tảng tinh thần của xã hội. Đặc biệt coi trọng nâng cao văn hóa lãnh đạo và quản lý, văn hóa trong kinh doanh và văn hóa trong nhân cách của thanh niên, thiếu niên; chống những hiện tượng phản văn hóa, phi văn hóa”(17)

    Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 2-2014

    (1), (2), (3), (4), (5), (15) ĐCSVN: Văn kiện Đảng Toàn tập, t.43, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, tr. 316, 318, 318, 319, 98,484.

    (6) Sđd, t. 51, tr. 135-136.

    (7), (12), (13) ĐCSVN: Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998, tr.54-55, 56, 98.

    (8), (9), (10), (11) Tìm hiểu lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam qua các Đại hội và Hội nghị Trung ương (1930-2002), Nxb Lao động, Hà Nội, 2003, tr. 1408-1410, 106, 622, 751-752.

    (14) C.Mác – Ph.Ănghen: Toàn tập, t.3, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.11.

    (16), (17) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr. 178-179, 213.

    PGS, TS Nguyễn Hồng Sơn

    Học viện Chính trị khu vực III

    --- Bài cũ hơn ---

  • Mầm Non Lao Đao Thuở ‘xã Hội Hóa’
  • Tình Huống Giả Định Về Xét Xử Phúc Thẩm
  • 4/ Hướng Dẫn Thực Hiện Nq 05 Của Lđlđtp Về Học Bổng Nguyễn Đức Cảnh.
  • Xét Xử Vi Phạm Trong Lĩnh Vực Bảo Hiểm Xã Hội: Áp Dụng Chế Tài Nghiêm Khắc Nhất
  • Kiến Nghị Di Dời Cơ Sở Chậm Hoặc Không Khắc Phục Tồn Tại Về Pccc
  • Nghị Quyết Trung Ương 5 (Khóa Viii)

    --- Bài mới hơn ---

  • Nghị Quyết Hội Nghị Trung Ương 5 Khóa Xii Về Hoàn Thiện Thể Chế Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa
  • Nghị Quyết Trung Ương 5 Về Hoàn Thiện Thể Chế Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xhcn
  • Nội Dung Các Nghị Quyết Hội Nghị Trung Ương 5 Khóa Xii
  • Những Nội Dung Cơ Bản Của Các Nghị Quyết Trung Ương 6 Khóa 12
  • Bài Thu Hoạch Nghị Quyết Trung Ương 6 Khóa 12 (11 Mẫu)
  • Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII đã có quan niệm rộng hơn, toàn diện hơn, bao quát hơn về văn hóa, về văn hóa và phát triển, về di sản văn hóa, về bản sắc, đặc trưng văn hóa Việt Nam, về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc…

    Văn hóađược đề cập ở đây theo nghĩa rộng, bao gồm các lĩnh vực chủ yếu tạo nên đời sống văn hóanhư: Tư tưởng, đạo đức, lối sống; Môi trường văn hóa; Giáo dục và Đào tạo; Khoa học và Công nghệ; Văn học nghệ thuật; Thông tin đại chúng; Giao lưu văn hóa với nước ngoài; Thể chế và thiết chế văn hóa…Với tính cách bao trùm như vậy, văn hóađược coi là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội. Xây dựng và phát triển kinh tế phải nhằm mục tiêu văn hóa, vì xã hội công bằng, văn minh, con người phát triển toàn diện. Chăm lo văn hóa là chăm lo củng cố nền tảng tinh thần của xã hội. Thiếu nền tảng tinh thần tiến bộ và lành mạnh thì không có sự phát triển kinh tế – xã hội bền vững. Văn hóa là kết quả của kinh tế, đồng thời là động lực của sự phát triển kinh tế. Các nhân tố văn hóa phải gắn kết chặt chẽ với đời sống và hoạt động xã hội trên mọi phương diện chính trị, kinh tế, xã hội, luật pháp, kỷ cương,… biến thành nguồn lực nội sinh quan trọng nhất của phát triển.

    Văn hóa Việt Namlà thành quả hàng nghìn năm lao động sáng tạo, đấu tranh kiên cường dựng nước và giữ nước của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, là kết quả giao lưu và tiếp thu tinh hoa của nhiều nền văn minh thế giới để không ngừng hoàn thiện mình. Văn hóa Việt Nam đã hun đúc nên tâm hồn, khí phách, bản lĩnh Việt Nam, làm rạng rỡ lịch sử vẻ vang của dân tộc. Nền văn hóa Việt Namlà nền văn hóa thống nhất mà đa dạng trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Hơn 50 dân tộc sống trên đất nước ta đều có những giá trị và sắc thái văn hóa riêng. Các giá trị và sắc thái đó bổ sung cho nhau, làm phong phú nền văn hóa Việt Nam và củng cố sự thống nhất dân tộc là cơ sở để giữ vững sự bình đẳng và phát huy tính đa dạng văn hóa của các dân tộc anh em.

    Bản sắc văn hóadân tộc Việt Nam bao gồm những giá trị bền vững, những tinh hoa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam được vun đắp nên qua lịch sử hàng nghìn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước. Đó là lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự cường dân tộc, tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng gắn kết cá nhân – gia đình – làng xã – Tổ quốc; lòng nhân ái, khoan dung, trọng nghĩa tình, đạo lý; đức tính cần cù, sáng tạo trong lao động; sự tinh tế trong ứng xử, tính giản dị trong lối sống… Bản sắc văn hóa dân tộc còn đậm nét cả trong các hình thức biểu hiện mang tính dân tộc độc đáo. Di sản văn hóadân tộc là tài sản vô giá, gắn kết cộng đồng dân tộc, là cốt lõi của bản sắc dân tộc, cơ sở để sáng tạo những giá trị mới và giao lưu văn hóa.

    Nghị quyết Trung ương 5 đã xác định phương hướng, quan điểm chỉ đạo, nhiệm vụ và giải pháp lớn xây dựng và phát triển văn hóa nước ta. Phương hướng chung của sự nghiệp văn hóa nước ta là phát huy chủ nghĩa yêu nước và truyền thống đại đoàn kết dân tộc, ý thức độc lập tự chủ, tự cường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN, xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, làm cho văn hóa thấm sâu vào toàn bộ đời sống và hoạt động xã hội, vào từng người, từng gia đình, từng tập thể và cộng đồng, từng địa bàn dân cư, vào mọi lĩnh vực sinh hoạt và quan hệ con người, tạo ra trên đất nước ta đời sống tinh thần cao đẹp, trình độ dân trí cao, khoa học phát triển, phục vụ đắc lực sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, tiến bước vững chắc lên CNXH.

    Nền văn hóa mà chúng ta xây dựng là nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.Tiên tiến là yêu nước và tiến bộ mà nội dung cốt lõi là lý tưởng độc lập dân tộc và CNXH theo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nhằm mục tiêu tất cả vì con người, vì hạnh phúc và sự phát triển phong phú, tự do, toàn diện của con người trong mối quan hệ hài hòa giữa cá nhân và cộng đồng, giữa xã hội và tự nhiên. Tiên tiến không chỉ về nội dung tư tưởng mà cả trong hình thức biểu hiện, trong các phương tiện chuyển tải nội dung. Bảo vệ bản sắc dân tộc phải gắn kết với mở rộng giao lưu quốc tế, tiếp thu có chọn lọc những cái hay, cái tiến bộ trong văn hóa các dân tộc khác. Giữ gìn bản sắc dân tộc phải đi liền với chống lạc hậu, lỗi thời trong phong tục, tập quán, lề thói cũ.

    Xây dựng và phát triển văn hóa là sự nghiệp của toàn dân do Đảng lãnh đạo, trong đó đội ngũ trí thức giữ vai trò quan trọng.Mọi người Việt Nam phấn đấu vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh đều tham gia sự nghiệp xây dựng và phát triển nền văn hóa nước nhà. Công nhân, nông dân, trí thức là nền tảng khối đại đoàn kết toàn dân, cũng là nền tảng của sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hóa dưới sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước. Đội ngũ trí thức gắn bó với nhân dân giữ vai trò quan trọng hàng đầu trong sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hóa.

    Văn hóa là một mặt trận; xây dựng và phát triển văn hóa là một sự nghiệp cách mạng lâu dài, đòi hỏi phải có ý chí cách mạng và sự kiên trì thận trọng.Trong công cuộc phát triển văn hóa, “xây” đi đôi với “chống”, lấy “xây” làm chính, nhằm giữ gìn và phát huy những di sản văn hóa quý báu của dân tộc, tiếp thu những tinh hoa văn hóa thế giới, sáng tạo, vun đắp nên những giá trị mới hướng đến chân – thiện – mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học. Đồng thời “xây” phải đi đôi với “chống” những tư tưởng, hành vi, sản phẩm văn hóa lệch lạc, sai trái, lạc hậu, phản động; phải tiến hành kiên trì cuộc đấu tranh bài trừ các hủ tục, các thói hư tật xấu, nâng cao tính chiến đấu, chống mọi mưu toan lợi dụng văn hóa để thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình”, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, “đổi màu”.

    Bảo tồn và phát huy những giá trị di sản văn hóa tốt đẹp của dân tộc, sáng tạo nên những giá trị văn hóa mới xã hội chủ nghĩa, làm cho những giá trị ấy thấm sâu vào toàn bộ đời sống và hoạt động xã hội, vào mỗi con người, trở thành tâm lý và tập quán tiến bộ, văn minh là một quá trình cách mạng đầy khó khăn, phức tạp, đòi hỏi nhiều thời gian, công sức, đòi hỏi sự kiên trì, thận trọng, đòi hỏi sự thuyết phục và nêu gương của Đảng, “đảng viên đi trước làng nước theo sau”.

    Nghị quyết đã xác định 10 nhiệm vụ cụ thể để xây dựng và phát triển văn hóa là: (1) Xây dựng con người Việt Nam trong giai đoạn cách mạng mới với những đức tính tốt đẹp; (2) Xây dựng môi trường văn hóa; (3) Phát triển sự nghiệp văn học – nghệ thuật; (4) Bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa; (5) Phát triển sự nghiệp giáo dục – đào tạo và khoa học – công nghệ; (6) Phát triển đi đôi với quản lý tốt hệ thống thông tin đại chúng; (7) Bảo tồn, phát huy và phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số; (8) Chính sách văn hóa đối với tôn giáo; (9) Mở rộng hợp tác quốc tế về văn hóa; (10) Củng cố, xây dựng và hoàn thiện thể chế văn hóa và thiết chế văn hóa.

    Cùng với việc thực hiện đồng bộ, toàn diện 10 nhiệm vụ nói trên, Nghị quyết yêu cầu chú trọng thực hiện nhiệm vụ xây dựng tư tưởng, đạo đức, lối sống và đời sống văn hóa lành mạnh trong xã hội. Coi đây là nhiệm vụ cấp bách, trọng tâm của sự nghiệp xây dựng văn hóa, trước hết trong các tổ chức Đảng và Nhà nước, trong các đoàn thể quần chúng và trong từng gia đình.

    Nghị quyết cũng nêu lên 4 giải pháp lớn xây dựng và phát triển văn hóa là: (1) Mở cuộc vận động giáo dục chủ nghĩa yêu nước gắn với thi đua yêu nước và phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”; (2) Xây dựng, ban hành luật pháp và các chính sách văn hóa; (3) Tăng cường nguồn lực và phương tiện cho hoạt động văn hóa; (4) Nâng cao hiệu quả lãnh đạo của Đảng trên lĩnh vực văn hóa.

    Nghị quyết nêu rõ: Để bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng về văn hóa phải xây dựng văn hóa từ trong Đảng, trong bộ máy nhà nước như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy “Đảng ta là đạo đức, là văn minh”. Phải đặt mạnh việc giáo dục tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân. Văn hóa đạo đức và lối sống lành mạnh phải được thể hiện trước hết trong mọi tổ chức Đảng, Nhà nước, đoàn thể, trong cán bộ, viên chức nhà nước, trong từng đảng viên, hội viên, ở các bậc cha mẹ, các thầy cô giáo. Từ sự gương mẫu về mọi mặt của các tổ chức và từng cán bộ trong bộ máy đảng, nhà nước, đoàn thể mà phát huy vai trò lãnh đạo thực hiện cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”. Gương mẫu là một nội dung, một phương thức trọng yếu trong công việc lãnh đạo văn hóa của Đảng.

    2. Có thể khẳng định, Nghị quyết Trung ương 5 đã nhanh chóng đi vào đời sống và nhận được sự đón nhận nồng nhiệt của cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân. Những quan điểm, tư tưởng của Nghị quyết đã được quán triệt và triển khai sâu rộng, không chỉ đối với các nhà hoạt động văn hóa, các nhà lãnh đạo, quản lý mà còn đối với đông đảo các tầng lớp nhân dân.Vì sao Nghị quyết lại được đón nhận nồng nhiệt như vậy? Vì Nghị quyết đã đề cập đúng và trúng những vấn đề lý luận cơ bản về văn hóa, về văn hóa và phát triển, về văn hóa Việt Nam trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế. Nghị quyết đã xác định được những định hướng cơ bản có tính chiến lược, đồng thời xác định được những trọng điểm cần giải quyết trước những vấn đề cấp bách đang đặt ra cho xã hội ta hiện nay trên lĩnh vực văn hóa. Đảng đã thể hiện rõ bản lĩnh văn hóa và sự nhạy cảm văn hóa trước những vấn đề mới nảy sinh về văn hóa trong Đảng và trong đời sống xã hội; đã đề ra được mục tiêu, định hướng, giải pháp khả thi, hiệu quả cho việc xây dựng và phát triển văn hóa của đất nước trong giai đoạn mới.

    Nghị quyết Trung ương 5 đã phát huy tác dụng to lớn đối với thực tiễn xây dựng và phát triển văn hóa nước ta trong hai thập niên qua. Kết quả thực hiện Nghị quyết đã tạo cho nền văn hóa Việt Nam có được nhiều giá trị, diện mạo và sắc thái văn hóa mới, thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ, khoa học, đại chúng. Việc xây dựng con người, xây dựng môi trường văn hóa, phát triển giáo dục đào tạo và khoa học công nghệ, phát triển văn học nghệ thuật, bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa, chính sách văn hóa đối với tôn giáo, giao lưu văn hóa với nước ngoài, xây dựng và hoàn thiện thể chế và thiết chế văn hóa đều có nhiều thành tựu hết sức to lớn. Việc đào tạo nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao được chú trọng. Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” đã khơi dậy được nhiều giá trị nhân văn trong cộng đồng, có ảnh hưởng lan tỏa rộng khắp đến đời sống văn hóa của cả nước, được mọi tầng lớp nhân dân tham gia hưởng ứng mạnh mẽ, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội; tỷ lệ hộ nghèo giảm, tỷ lệ hộ khá, giàu ngày càng tăng; đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân ngày càng được nâng cao; việc thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội chuyển biến tích cực; nhiều giá trị văn hóa truyền thống dân tộc được bảo tồn… Sự nghiệp xây dựng, phát triển văn hóa, con người đã được các cấp, các ngành, từ Trung ương đến các địa phương quan tâm trong các chính sách kinh tế – xã hội. Nhiệm vụ xây dựng con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu của thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế có bước chuyển biến quan trọng, bước đầu hình thành những giá trị mới về con người với các phẩm chất về trách nhiệm xã hội, ý thức công dân, dân chủ, chủ động, sáng tạo, khát vọng vươn lên. Gắn kết chặt chẽ hơn nhiệm vụ xây dựng văn hóa, con người với nhiệm vụ xây dựng và phát triển đất nước; gắn kết chặt chẽ hơn việc xây dựng và phát triển văn hóa với xây dựng và phát triển con người Việt Nam. Hệ thống thể chế và thiết chế văn hóa được tăng cường xây dựng và hoàn thiện. Các giá trị văn hóa truyền thống của các dân tộc và của từng vùng, miền được kế thừa; di sản văn hóa của các dân tộc được bảo tồn, tôn tạo. Xã hội hóa hoạt động văn hóa ngày càng được mở rộng. Các tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động và đóng góp nguồn lực cho phát triển văn hóa ngày càng nhiều hơn. Văn học, nghệ thuật có bước phát triển mới. Truyền thông đại chúng phát triển nhanh cả về loại hình, quy mô, lực lượng, phương tiện kỹ thuật và ảnh hưởng xã hội. Đời sống văn hóa vật chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện. Công tác quản lý nhà nước về văn hóa được tăng cường. Giao lưu và hợp tác quốc tế về văn hóa được mở rộng, có nhiều khởi sắc.

    Chủ trương của Đảng gắn tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội; phát triển kinh tế vì mục tiêu văn hóa, vì sự phát triển con người đã trở thành tư tưởng chỉ đạo cho nhiều chương trình, kế hoạch phát triển. Sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước và sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, sự tham gia của đông đảo các tầng lớp nhân dân là những nhân tố quyết định tạo ra những chuyển biến tích cực của sự nghiệp phát triển văn hóa, xây dựng con người.

    Tuy nhiên, so với những thành quả trên các lĩnh vực khác của đời sống xã hội (chính trị, kinh tế, quốc phòng, đối ngoại,…) thành quả trong lĩnh vực văn hóa còn chưa tương xứng; chưa đủ mức để tác động có hiệu quả đến việc xây dựng con người và môi trường văn hóa lành mạnh. Đời sống văn hóa tinh thần ở không ít nơi còn nghèo nàn, đơn điệu; khoảng cách hưởng thụ văn hóa giữa miền núi, vùng sâu, vùng xa với đô thị và trong các tầng lớp nhân dân chậm được rút ngắn. Việc bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa đạt hiệu quả chưa cao. Hệ thống thông tin đại chúng phát triển còn thiếu quy hoạch, gây lãng phí nguồn lực và quản lý không theo kịp sự phát triển. Một số cơ quan truyền thông có biểu hiện thương mại hóa, xa rời tôn chỉ, mục đích, chưa làm tốt chức năng định hướng dư luận và xây dựng con người. Hệ thống thiết chế văn hóa và cơ sở vật chất – kỹ thuật cho hoạt động văn hóa còn thiếu và yếu, có nơi xuống cấp, thiếu đồng bộ, hiệu quả sử dụng thấp. Tình trạng nhập khẩu, quảng bá, tiếp thu dễ dãi, thiếu chọn lọc sản phẩm văn hóa nước ngoài đã tác động tiêu cực đến đời sống văn hóa của một bộ phận nhân dân, nhất là lớp trẻ. Nghiêm trọng hơn là tình trạng “suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong Đảng và trong xã hội có chiều hướng gia tăng”(2); “Đạo đức, lối sống có mặt xuống cấp đáng lo ngại (…) Môi trường văn hóa còn tồn tại những biểu hiện thiếu lành mạnh, ngoại lai, trái với thuần phong mỹ tục; tệ nạn xã hội và một số loại tội phạm có chiều hướng gia tăng”(3); “Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên và tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí chưa bị đẩy lùi. Tội phạm và tệ nạn xã hội còn diễn biến phức tạp; đạo đức xã hội có mặt xuống cấp nghiêm trọng”(4). Có thể nói, đây là mặt hạn chế lớn, là vấn đề gây bức xúc nhất trong đời sống văn hóa – xã hội ta hiện nay, đã được Nghị quyết Trung ương 5 sớm nhận diện, cảnh báo, nhưng đáng tiếc là chúng ta chưa tập trung đủ mức để ngăn chặn và đẩy lùi.

    Có thể khẳng định rằng, cho đến nay những đánh giá về thực trạng văn hóa nước ta; về phương hướng, quan điểm chỉ đạo, nhiệm vụ, giải pháp xây dựng, phát triển văn hóa mà Nghị quyết Trung ương 5 nêu lên vẫn còn nguyên ý nghĩa thời sự. Để tiếp tục thực hiện tốt Nghị quyết trong thời gian tới, mỗi cấp ủy và chính quyền, đoàn thể, mỗi cán bộ, đảng viên cần xem xét nghiêm túc trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý của mình, rút ra những bài học kinh nghiệm trong công tác lãnh đạo, quản lý văn hóa, đẩy mạnh công tác phát triển văn hóa, xây dựng và chỉnh đốn Đảng; kiên quyết đấu tranh”chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Kiên quyết đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí, chủ nghĩa cá nhân, lối sống cơ hội, thực dụng, bè phải, “lợi ích nhóm”, nói không đi đôi với làm”(5)… Chú trọng xây dựng văn hóa trong Đảng, trong bộ máy nhà nước. Tăng cường các biện pháp quản lý cán bộ, đảng viên; tăng cường giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng; đẩy mạnh tự phê bình và phê bình; xử lý nghiêm khắc những cán bộ, đảng viên vi phạm kỷ luật Đảng và pháp luật Nhà nước, kiên quyết đưa ra khỏi Đảng những người suy thoái, tha hóa về phẩm chất chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống. Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (Khóa XI, XII)về xây dựng chỉnh đốn Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng, củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên và của nhân dân đối với Đảng. Phải tập trung thực hiện mục tiêu: “Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức. Tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, coi đó là công việc thường xuyên của các tổ chức đảng, các cấp chính quyền, các tổ chức chính trị – xã hội, địa phương, đơn vị”(6).

    Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực văn hóa. Tăng cường và nâng tầm lãnh đạo của Đảng trên lĩnh vực văn hóa. Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng theo hướng vừa bảo đảm để văn hóa, văn học – nghệ thuật, báo chí phát triển đúng định hướng chính trị, tư tưởng của Đảng, vừa bảo đảm quyền tự do, dân chủ cá nhân trong sáng tạo trên cơ sở phát huy trách nhiệm xã hội, nghĩa vụ công dân với mục đích đúng đắn; khắc phục tình trạng buông lỏng sự lãnh đạo hoặc mất dân chủ, hạn chế tự do sáng tạo. Tập trung đổi mới, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về văn hóa. Đẩy mạnh việc thể chế hóa, cụ thể hóa các quan điểm, đường lối của Đảng về văn hóa thành hệ thống chính sách và pháp luật để triển khai thực hiện. Rà soát, bổ sung, hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, cơ chế, chính sách về văn hóa. Xây dựng, phát triển hợp lý các thiết chế văn hóa. Coi trọng quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí cán bộ lãnh đạo, quản lý văn hóa, cán bộ làm công tác khoa học, chuyên gia đầu ngành, cán bộ ở cơ sở. Mức đầu tư của Nhà nước cho văn hóa phải tương ứng với mức tăng trưởng kinh tế. Đẩy mạnh xã hội hóa nhằm huy động các nguồn lực đầu tư cho phát triển văn hóa, xây dựng con người…

    Nhiệm vụ quan trọng có ý nghĩa quyết định đối với sự phát triển văn hóa là xây dựng con người Việt Nam -chủ thể của nền văn hóaViệt Nam. Phát triển văn hóa vì sự hoàn thiện nhân cách con người và xây dựng con người để phát triển văn hóa. Trong xây dựng văn hóa, trọng tâm là chăm lo xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện. Trong xây dựng con người, trọng tâm là bồi dưỡng tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc, tư tưởng, đạo đức, lối sống lành mạnh và hoàn thiện nhân cách.

    “Xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện(…) trở thành một mục tiêu của chiến lược phát triển”(7);làm cho văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, là sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững của đất nước và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN.

    (1) ĐCSVN: Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998.

    (2) ĐCSVN: Văn kiện Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương khóa XI, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2014, tr.44-45

    (3), (4), (5), (6), (7) ĐCSVN:Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2022, tr.125, 61, 202, 202, 126.

    PGS, TS Nguyễn Duy Bắc

    Phó Giám đốc

    Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

    Nguồn: Tạp chí Lý luận Chính trị

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nghị Quyết Trung Ương 5 Khóa 12 Về Kinh Tế Thị Trường
  • Nghị Quyết Hội Nghị Trung Ương 5 Khóa Xii Về Phát Triển Kinh Tế Tư Nhân
  • Nghị Quyết Hội Nghị Trung Ương 5 (Khóa Xii) Về Đổi Mới Và Nâng Cao Hiệu Quả Doanh Nghiệp Nhà Nước
  • Nghị Quyết Trung Ương 4 Khóa 11 Doc
  • Nghị Quyết Trung Ương 4 Khóa 11
  • Nghị Quyết Tw 5 Khóa Xi Nghiquyet15Tw5 Doc

    --- Bài mới hơn ---

  • Bao Cao Thuc Hien Nghi Quyet Tw 5 Khoa 8 Bao Cao 15Nam Nq Tu 5 Kviii Doc
  • Tăng Cường Bảo Vệ An Ninh Quốc Gia Trong Tình Hình Mới
  • Cần Thơ Phải Tạo Sức Hút Và Lan Tỏa Cho Cả Vùng Tây Nam Bộ
  • Xây Dựng Và Phát Triển Thành Phố Cần Thơ Thành Trung Tâm Vùng Tây Nam Bộ
  • Huyện M’drắk Quán Triệt Các Văn Bản Của Trung Ương, Của Tỉnh Ủy
  • Nghị quyết số 15-NQ/TW, ngày 1/6/2012, Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khoá XI về một số vấn đề về chính sách xã hội giai đoạn 2012 – 2022

    A – TÌNH HÌNH VÀ NGUYÊN NHÂN

    1 – Từ nhiều năm qua, Ðảng và Nhà nước ta luôn quan tâm xây dựng và tổ chức thực hiện các chính sách xã hội, coi đây vừa là mục tiêu, vừa là động lực để phát triển bền vững, ổn định chính trị – xã hội, thể hiện bản chất tốt đẹp của chế độ ta.

    Hệ thống pháp luật và chính sách phát triển các lĩnh vực xã hội ngày càng được bổ sung và hoàn thiện. Diện thụ hưởng chính sách ngày càng mở rộng, mức hỗ trợ được nâng lên.

    Nguồn lực đầu tư phát triển các lĩnh vực xã hội ngày càng lớn, được tăng cường đầu tư từ ngân sách nhà nước và các nguồn lực xã hội khác. Các lĩnh vực xã hội đạt được nhiều thành tựu quan trọng, nhất là giảm nghèo, tạo việc làm, ưu đãi người có công, giáo dục và đào tạo, y tế, trợ giúp người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, công tác gia đình và bình đẳng giới. Ðời sống vật chất và tinh thần của người có công, người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số được cải thiện, góp phần củng cố lòng tin của nhân dân và sự ổn định chính trị – xã hội. Nước ta được Liên hợp quốc công nhận là một trong các quốc gia đi đầu trong việc thực hiện một số mục tiêu Thiên niên kỷ.

    Tuy nhiên, lĩnh vực xã hội vẫn còn nhiều hạn chế, một số mặt yếu kém kéo dài, chậm được khắc phục. Tạo việc làm và giảm nghèo chưa bền vững, tỷ lệ hộ cận nghèo, tái nghèo còn cao. Mức trợ cấp ưu đãi người có công còn thấp. Chất lượng giáo dục và đào tạo chưa đáp ứng yêu cầu phát triển; kết quả phổ cập giáo dục ở nhiều huyện miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn thấp; chất lượng công tác bảo vệ, chăm sóc sức khỏe chưa đáp ứng được yêu cầu của nhân dân, nhất là đối với người nghèo, đồng bào vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số; tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng còn cao và giảm chậm; vệ sinh, an toàn thực phẩm chưa được kiểm soát chặt chẽ. Tỷ lệ người tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế còn thấp. Ðời sống của một bộ phận người có công, người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số vẫn còn rất khó khăn, chưa bảo đảm được mức tối thiểu các dịch vụ xã hội cơ bản, nhất là về nhà ở và sử dụng nước sạch. Chênh lệch các chỉ số về an sinh xã hội giữa miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số với mức trung bình của cả nước còn lớn.

    2 – Những hạn chế, yếu kém nêu trên là do nước ta còn nghèo, hậu quả chiến tranh để lại rất nặng nề, thiên tai xảy ra thường xuyên, gây thiệt hại lớn. Quản lý nhà nước còn nhiều bất cập, chồng chéo. Chính sách xã hội còn chậm đổi mới so với chính sách kinh tế. Còn thiếu các giải pháp hữu hiệu để thu hẹp khoảng cách về mức sống và an sinh xã hội giữa các vùng, miền. Việc tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật chưa nghiêm, hiệu quả thấp; sự phối hợp giữa các bộ, ngành, địa phương chưa chặt chẽ. Công tác thanh tra, kiểm tra ở nhiều nơi chưa được coi trọng. Nguồn lực thực hiện các chính sách xã hội còn hạn hẹp, chủ yếu dựa vào ngân sách nhà nước; chưa động viên, thu hút được nhiều sự tham gia của xã hội và khuyến khích người thụ hưởng chính sách tự vươn lên.

    Từ những kết quả, hạn chế trong việc xây dựng và thực hiện chính sách xã hội thời gian qua, rút ra một số bài học kinh nghiệm sau đây:

    Một là, chính sách xã hội có vai trò đặc biệt quan trọng, là mục tiêu, là động lực để phát triển nhanh và bền vững trong mọi giai đoạn phát triển. Chính sách xã hội phải được đặt ngang tầm với chính sách kinh tế và thực hiện đồng bộ với phát triển kinh tế, phù hợp với trình độ phát triển và khả năng nguồn lực trong từng thời kỳ.

    Hai là, chính sách xã hội phải được thực hiện đồng bộ, có trọng tâm, trọng điểm; ưu tiên thực hiện tốt chính sách đối với người có công; bảo đảm mức sống tối thiểu và hỗ trợ kịp thời người có hoàn cảnh khó khăn.

    Ba là, tăng cường sự lãnh đạo của Ðảng, phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị và truyền thống tốt đẹp, tương thân, tương ái của dân tộc ta. Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong xây dựng và tổ chức thực hiện các chính sách xã hội, đồng thời huy động sự tham gia mạnh mẽ của toàn xã hội; đẩy mạnh hợp tác quốc tế.

    Bốn là, xây dựng chiến lược, quy hoạch phát triển phù hợp, có chương trình hành động cụ thể, khả thi và tổ chức thực hiện quyết liệt, đồng thời làm tốt công tác tuyên truyền, tạo đồng thuận cao trong xã hội.

    B – ÐỊNH HƯỚNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI GIAI ÐOẠN 2012 – 2022

    Các chính sách xã hội giai đoạn 2012 – 2022 cần sớm được cụ thể hóa và tổ chức thực hiện thông qua các nghị quyết chuyên đề, các nghị quyết phát triển kinh tế – xã hội hằng năm và các chương trình mục tiêu quốc gia theo đúng tinh thần Nghị quyết Ðại hội XI của Ðảng, Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 2011 – 2022.

    Riêng đối với chính sách người có công và chính sách an sinh xã hội thực hiện theo quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp sau:

    1 – Không ngừng cải thiện, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người có công và bảo đảm an sinh xã hội là nhiệm vụ thường xuyên, quan trọng của Ðảng, Nhà nước, của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội.

    2 – Chính sách ưu đãi người có công và an sinh xã hội phải phù hợp với trình độ phát triển kinh tế – xã hội và khả năng huy động, cân đối nguồn lực của đất nước trong từng thời kỳ; ưu tiên người có công, người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, người nghèo và đồng bào dân tộc thiểu số.

    3 – Hệ thống an sinh xã hội phải đa dạng, toàn diện, có tính chia sẻ giữa Nhà nước, xã hội và người dân, giữa các nhóm dân cư trong một thế hệ và giữa các thế hệ; bảo đảm bền vững, công bằng.

    4 – Nhà nước bảo đảm thực hiện chính sách ưu đãi người có công và giữ vai trò chủ đạo trong việc tổ chức thực hiện chính sách an sinh xã hội; đẩy mạnh xã hội hóa, khuyến khích các tổ chức, doanh nghiệp và người dân tham gia. Ðồng thời tạo điều kiện để người dân nâng cao khả năng tự bảo đảm an sinh.

    5 – Tăng cường hợp tác quốc tế để có thêm nguồn lực, kinh nghiệm trong việc xây dựng và thực hiện các chính sách an sinh xã hội.

    II – MỤC TIÊU TỔNG QUÁT

    Tiếp tục cải thiện đời sống vật chất, tinh thần cho người có công, phấn đấu đến năm 2022 cơ bản bảo đảm gia đình người có công có mức sống bằng hoặc cao hơn mức sống trung bình của dân cư trên địa bàn. Ðến năm 2022, cơ bản bảo đảm an sinh xã hội toàn dân, bảo đảm mức tối thiểu về thu nhập, giáo dục, y tế, nhà ở, nước sạch và thông tin, truyền thông, góp phần từng bước nâng cao thu nhập, bảo đảm cuộc sống an toàn, bình đẳng và hạnh phúc của nhân dân.

    III – NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP

    1 – Về chính sách ưu đãi người có công

    Tập trung triển khai thực hiện tốt Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng. Tiếp tục hoàn thiện chính sách đối với người có công, chú trọng giải quyết những trường hợp còn tồn đọng. Nâng mức chuẩn trợ cấp, phụ cấp ưu đãi người có công phù hợp với lộ trình điều chỉnh mức lương tối thiểu. Ðến hết năm 2013, hỗ trợ giải quyết cơ bản về nhà ở đối với hộ người có công đang có khó khăn về nhà ở. Có chính sách ưu đãi, hỗ trợ phù hợp đối với người có công và thân nhân về phát triển sản xuất, việc làm, tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản, nhất là y tế, giáo dục, đào tạo. Ðẩy mạnh việc tu bổ nghĩa trang, tìm kiếm và quy tập hài cốt liệt sĩ, các hoạt động đền ơn đáp nghĩa. Có biện pháp khắc phục có hiệu quả tiêu cực trong quá trình thực hiện chính sách người có công.

    2 – Về bảo đảm an sinh xã hội

    2.1 – Về việc làm, thu nhập và giảm nghèo

    Tiếp tục hoàn thiện và thực hiện tốt các chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất, tạo việc làm, học nghề, đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài, ưu tiên người nghèo, người dân tộc thiểu số thuộc các huyện nghèo, xã nghèo, thôn bản đặc biệt khó khăn. Xây dựng và triển khai Luật Việc làm; khẩn trương nghiên cứu xây dựng Chương trình việc làm công. Phấn đấu đến năm 2022, tỷ lệ thất nghiệp chung dưới 3%; tỷ lệ thất nghiệp thành thị dưới 4%.

    Ðẩy mạnh việc triển khai thực hiện các nghị quyết của Chính phủ và Chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo, trong đó chú trọng các chính sách giảm nghèo đối với các huyện nghèo, ưu tiên người nghèo là đồng bào dân tộc thiểu số thuộc huyện nghèo, xã biên giới, xã an toàn khu, xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn, vùng bãi ngang ven biển, hải đảo, thu hẹp chênh lệch về mức sống và an sinh xã hội so với bình quân cả nước. Nghiên cứu sửa đổi, bổ sung chính sách hỗ trợ hộ cận nghèo để giảm nghèo bền vững. Phấn đấu đến năm 2022, thu nhập bình quân đầu người của hộ nghèo tăng trên 3,5 lần so với năm 2010, tỷ lệ hộ nghèo cả nước giảm 1,5 – 2%/năm; các huyện, xã có tỷ lệ nghèo cao giảm 4%/năm theo chuẩn nghèo từng giai đoạn.

    2.2 – Về bảo hiểm xã hội

    Nghiên cứu, sửa đổi Luật Bảo hiểm xã hội theo hướng mở rộng đối tượng, bảo hiểm xã hội. Hoàn thiện chính sách, pháp luật và cơ chế quản lý Quỹ bảo hiểm xã hội để bảo đảm yêu cầu cân đối và tăng trưởng của Quỹ bảo hiểm xã hội. Nghiên cứu xây dựng chính sách khuyến khích nông dân, lao động trong khu vực phi chính thức tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện. Rà soát, bổ sung quy định buộc người sử dụng lao động phải đóng bảo hiểm xã hội cho người lao động theo quy định của pháp luật. Phấn đấu đến năm 2022 có khoảng 50% lực lượng lao động tham gia bảo hiểm xã hội; 35% lực lượng lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp.

    2.3 – Về trợ giúp xã hội những người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn

    Nâng cao hiệu quả công tác trợ giúp xã hội, tiếp tục mở rộng đối tượng thụ hưởng với hình thức hỗ trợ thích hợp; nâng dần mức trợ cấp xã hội thường xuyên phù hợp với khả năng ngân sách nhà nước. Xây dựng mức sống tối thiểu phù hợp với điều kiện kinh tế – xã hội làm căn cứ xác định người thuộc diện được hưởng trợ giúp xã hội. Tiếp tục hoàn thiện chính sách trợ giúp xã hội. Củng cố, nâng cấp hệ thống cơ sở bảo trợ xã hội, phát triển mô hình chăm sóc người có hoàn cảnh đặc biệt tại cộng đồng, khuyến khích sự tham gia của khu vực tư nhân vào triển khai các mô hình chăm sóc người cao tuổi, trẻ mồ côi, người khuyết tật, nhất là mô hình nhà dưỡng lão. Phấn đấu đến năm 2022 có khoảng 2,5 triệu người được hưởng trợ giúp xã hội thường xuyên, trong đó trên 30% là người cao tuổi.

    Thực hiện tốt công tác hỗ trợ đột xuất, bảo đảm người dân bị thiệt hại khi gặp rủi ro, thiên tai được hỗ trợ kịp thời. Hoàn thiện cơ chế, chính sách và phương thức tổ chức thực hiện, nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp đột xuất; mở rộng sự tham gia hỗ trợ của cộng đồng.

    2.4 – Bảo đảm mức tối thiểu về một số dịch vụ xã hội cơ bản cho người dân, đặc biệt là người nghèo, người có hoàn cảnh khó khăn và đồng bào dân tộc thiểu số

    a) Bảo đảm giáo dục tối thiểu

    Tiếp tục thực hiện các chiến lược, chương trình, đề án về giáo dục. Mở rộng và tăng cường các chế độ hỗ trợ, nhất là đối với thanh niên, thiếu niên thuộc hộ nghèo, người dân tộc thiểu số ở các huyện nghèo, xã, thôn bản đặc biệt khó khăn để bảo đảm phổ cập giáo dục bền vững. Tăng số lượng học sinh trong các trường dân tộc nội trú, mở rộng mô hình trường bán trú; xây dựng và củng cố nhà trẻ trong khu công nghiệp và vùng nông thôn. Xây dựng đề án phổ cập mầm non cho trẻ dưới 5 tuổi. Nâng cao chất lượng phổ cập trung học cơ sở, đặc biệt là đối với con em hộ nghèo, dân tộc thiểu số và trẻ em có hoàn cảnh khó khăn. Phấn đấu đến năm 2022 có 99% trẻ em đi học đúng độ tuổi ở bậc tiểu học, 95% ở bậc trung học cơ sở; 98% người trong độ tuổi từ 15 trở lên biết chữ; trên 70% lao động qua đào tạo.

    b) Bảo đảm y tế tối thiểu

    Tiếp tục triển khai chiến lược, các chương trình, đề án về y tế, nhất là đề án khắc phục quá tải ở các bệnh viện. Cải thiện dịch vụ chăm sóc sức khỏe nhân dân ở các tuyến cơ sở, ưu tiên các huyện nghèo, xã nghèo, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Hoàn thiện việc phân công quản lý các đơn vị thuộc ngành y tế ở địa phương. Nâng cao chất lượng công tác chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ em. Ðến năm 2022, trên 90% trẻ dưới 1 tuổi được tiêm chủng đầy đủ; tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ em dưới 5 tuổi thể nhẹ cân 10%. Ðẩy mạnh việc thực hiện Chương trình phòng, chống lao quốc gia, giảm mạnh số người bị mắc bệnh lao và chết do lao, phấn đấu đưa Việt Nam ra khỏi danh sách 20 nước có tỷ lệ người mắc bệnh lao cao nhất thế giới.

    Nâng cao hiệu quả sử dụng bảo hiểm y tế đối với đồng bào dân tộc thiểu số, vùng miền núi, các hộ nghèo. Sửa đổi, bổ sung Luật Bảo hiểm y tế, đổi mới công tác quản lý nhà nước về bảo hiểm y tế, có chính sách khuyến khích người dân, nhất là người có thu nhập dưới mức trung bình tham gia bảo hiểm y tế. Ðến năm 2022 trên 80% dân số tham gia bảo hiểm y tế.

    c) Bảo đảm nhà ở tối thiểu

    Cải thiện điều kiện nhà ở cho người nghèo, người có thu nhập thấp ở đô thị, từng bước giải quyết nhu cầu về nhà ở cho người lao động tại các khu công nghiệp và học sinh, sinh viên.

    Ðẩy mạnh việc thực hiện Chiến lược phát triển nhà ở quốc gia đến năm 2022 và tầm nhìn đến năm 2030. Tiếp tục thực hiện chương trình xóa nhà tạm giai đoạn 2013 – 2022. Ðổi mới cơ chế hỗ trợ nhà ở cho người thu nhập thấp ở đô thị để có giá thuê, giá mua hợp lý với các đối tượng. Tập trung khắc phục những khó khăn về đất đai, quy hoạch, vốn, thủ tục, tạo điều kiện cho các tổ chức kinh doanh tham gia thực hiện các dự án phát triển nhà ở xã hội, có chính sách ưu đãi cho doanh nghiệp đầu tư xây dựng nhà ở tại các khu công nghiệp.

    d) Bảo đảm nước sạch

    Tiếp tục thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn giai đoạn 2012 – 2022 và các năm tiếp theo, ưu tiên cho đồng bào dân tộc thiểu số, người dân ở miền núi, hải đảo, vùng ngập lũ, vùng bị nhiễm mặn. Cải thiện cơ bản tình trạng sử dụng nước sinh hoạt của dân cư, đặc biệt là dân cư nông thôn, vùng dân tộc thiểu số, vùng núi cao thiếu nước. Ðến năm 2022, 100% dân cư nông thôn được sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh, trong đó 70% sử dụng nước sạch đạt tiêu chuẩn quốc gia.

    đ) Bảo đảm thông tin

    Tăng cường thông tin truyền thông đến người dân nghèo, vùng nghèo, vùng khó khăn. Ðẩy mạnh thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia đưa thông tin về cơ sở, miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới và hải đảo giai đoạn 2012 – 2022 và các năm tiếp theo. Củng cố và phát triển mạng lưới thông tin cơ sở, nhất là ở miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng bãi ngang ven biển và hải đảo. Ðến năm 2022, bảo đảm 100% số xã khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới và hải đảo được phủ sóng phát thanh, truyền hình mặt đất và 100% các xã đặc biệt khó khăn, xã biên giới và xã an toàn khu, xã bãi ngang ven biển và hải đảo có đài truyền thanh xã.

    3 – Giải pháp thực hiện

    3.1 – Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo và quản lý của các cấp ủy đảng, chính quyền, phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị, tạo sự đồng thuận của toàn xã hội trong việc thực hiện các chương trình, chính sách đối với người có công và bảo đảm an sinh xã hội. Nâng cao nhận thức và trách nhiệm của cán bộ, đảng viên trong chỉ đạo và thực hiện. Báo cáo kết quả công tác hằng năm của cấp ủy và chính quyền các cấp ở địa phương phải có nội dung về thực hiện chính sách người có công và an sinh xã hội.

    3.2 – Ðẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật, nâng cao nhận thức của các cấp, các ngành, đoàn thể và người dân, xây dựng cơ sở dữ liệu điện tử về chính sách ưu đãi người có công và chính sách an sinh xã hội tại mỗi địa phương để người dân có thể truy cập dễ dàng. Tiếp tục phát huy truyền thống uống nước nhớ nguồn, đẩy mạnh các phong trào đền ơn đáp nghĩa, tương thân tương ái, chăm sóc, giúp đỡ người có công, người nghèo.

    3.3 – Ðổi mới quản lý nhà nước đối với lĩnh vực ưu đãi người có công và an sinh xã hội. Rà soát, hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách bảo đảm tính hệ thống và đồng bộ, đơn giản và hiệu quả; vừa hỗ trợ, vừa khuyến khích nỗ lực vươn lên của các đối tượng thụ hưởng, khắc phục sự ỷ lại vào Nhà nước.

    Thống nhất đầu mối quản lý các chương trình, chính sách theo hướng Chính phủ và các bộ, ngành Trung ương chỉ quản lý mục tiêu, hỗ trợ nguồn lực, hướng dẫn thực hiện, tổ chức thanh tra, kiểm tra, giám sát việc thực hiện, phổ biến điển hình; địa phương chịu trách nhiệm quản lý nguồn lực, tổ chức thực hiện. Nâng cao năng lực thực thi chính sách của cấp cơ sở.

    Hợp lý hóa, hiện đại hóa công tác quản lý, phương thức chi trả; xây dựng cơ sở dữ liệu hộ gia đình, mã số cá nhân và bộ chỉ số an sinh xã hội để quản lý, giám sát, đánh giá việc thực hiện chính sách an sinh xã hội trong từng thời kỳ. Hằng năm có báo cáo quốc gia về an sinh xã hội, trong đó làm rõ kết quả thực hiện chính sách xã hội ở các huyện nghèo, vùng núi và vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

    3.4 – Ðẩy mạnh hợp tác quốc tế, tranh thủ nguồn lực, kinh nghiệm trong việc xây dựng và thực hiện các chính sách an sinh xã hội.

    3.5 – Nhà nước bảo đảm đủ nguồn lực để thực hiện chính sách người có công, đồng thời quan tâm bố trí ngân sách và đẩy mạnh xã hội hóa huy động nguồn lực cho việc thực hiện chính sách an sinh xã hội.

    Ðổi mới việc phân bổ nguồn lực đáp ứng yêu cầu thực hiện mục tiêu của các chính sách an sinh xã hội. Phân cấp mạnh cho các địa phương và đề cao trách nhiệm của địa phương trong việc quản lý, sử dụng, lồng ghép các nguồn lực để thực hiện. Hoàn thiện các quy định về việc quản lý và sử dụng các khoản đóng góp tự nguyện của các tổ chức và cá nhân, bảo đảm minh bạch, hiệu quả.

    IV – TỔ CHỨC THỰC HIỆN

    1 – Tổ chức thực hiện thắng lợi Nghị quyết về một số vấn đề về chính sách xã hội giai đoạn 2012 – 2022 là một nhiệm vụ trọng tâm của toàn Ðảng, toàn dân, toàn quân, của các cấp, các ngành từ Trung ương đến cơ sở.

    Các cấp ủy, tổ chức đảng chỉ đạo quán triệt và tăng cường lãnh đạo, tạo sự thống nhất về nhận thức và hành động trong việc triển khai thực hiện Nghị quyết.

    2 – Ðảng đoàn Quốc hội chỉ đạo việc sửa đổi, bổ sung hoàn thiện các đạo luật, tạo cơ sở pháp lý cho việc thực hiện Nghị quyết và giám sát việc thực hiện trong phạm vi cả nước.

    3 – Ban cán sự đảng Chính phủ chỉ đạo sửa đổi, bổ sung các văn bản dưới luật; chỉ đạo các bộ, ngành, địa phương xây dựng và tổ chức thực hiện các chương trình, kế hoạch hành động cụ thể để thực hiện Nghị quyết. Thường xuyên theo dõi, kiểm tra, đánh giá tình hình thực hiện và kịp thời điều chỉnh các chương trình, kế hoạch, giải pháp cụ thể phù hợp với yêu cầu thực tế, bảo đảm thực hiện có hiệu quả Nghị quyết.

    4 – Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên tham gia thực hiện và vận động các tầng lớp nhân dân tích cực thực hiện Nghị quyết này.

    5 – Văn phòng Trung ương Ðảng chủ trì, phối hợp với các ban đảng, ban cán sự đảng, đảng đoàn, đảng ủy trực thuộc Trung ương thường xuyên theo dõi, kiểm tra, đôn đốc, sơ kết, tổng kết và định kỳ hằng năm báo cáo Bộ Chính trị, Ban Bí thư kết quả thực hiện Nghị quyết.

    T/M BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG

    Nguyễn Phú Trọng

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Năm Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng Khóa Xii
  • Một Số Điểm Mới Của Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Năm Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng Khóa Xii
  • Một Số Điểm Mới Trong Các Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Năm Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng Khóa Xii
  • Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ 5 Ban Chấp Hành Trung Ương Khóa Xii
  • Bài Thu Hoạch Kết Quả Học Tập, Quán Triệt Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ 5 Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng (Khóa Xii)
  • Nghị Quyết Tw 5 Khóa 8

    --- Bài mới hơn ---

  • Nghị Quyết Cua Bch Đảng Ủy Về Xây Dựng Ntm Năm 2022
  • Quy Trình, Thủ Tục Xóa Tên Đảng Viên
  • Nghị Quyết Xác Nhận Kết Quả Bầu Chủ Tịch Ubnd
  • Tổng Hợp Kết Quả Tự Đánh Giá Việc Thực Hiện Nghị Quyết Trung Ương 4 Khóa 12 Về Tăng Cường Xây Dựng,
  • Cái Mới Trong Nghị Quyết Trung Ương 4 Khóa Xii Về Xây Dựng, Chỉnh Đốn Đảng
  • Nghị Quyết Đại Hội Xii Của Đảng, Gắn Với Việc Thực Hiện Nghị Quyết Trung ương 4 Khóa Xii Và Các Chỉ, Bài Thu Nghị Quyết Trung ương 5 Khóa Khóa Xii, Quyết Định Số 51 Nghị Quyết Trung ương 6 Khóa 11, 3 Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ 5 Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa 12, Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Năm Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii, Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Sáu Ban Chấp Hành Trung ương Khóa Xii Về Một Số Vấn Đề Về Tiếp Tục Đổi M, Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Tư Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii, Bài Thu Hoạch Qua Học Tập Quán Triệt Nghị Quyết Số 04 05 06 Hội Nghị Trung ương 4 Khóa Xii, Nghị Quyết Số 18-nq/tw Hội Nghị Lần Thứ 6 Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii , Nghị Quyết Kết Luận Của Hội Nghị Lần Thứ 4 Ban Chấp Hành Trung ương Khóa Xii, Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Năm Ban Chấp Hành Trung ương Khóa Viii, Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ 4 Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii, Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ 5 Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii, Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ 4 Ban Chấp Hành Trung ương Khóa Xii, Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Năm Ban Chấp Hành Trung ương Khóa Xii, Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ 5 Ban Chấp Hành Trung ương Khóa Xii, ỷ Xxi, Hội Nghị Lần Thứ Tư Ban Chấp Hành Trung ương Đảng (khoá X) Đã Thông Qua Nghị Quyết Số 09-nq/t, Nghị Quyết Kết Luận Hội Nghị Lần Thứ Tư Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii, Nghị Quyết 28-nq/tw Hội Nghị Ban Chấp Hành Trung ương Lần Thứ Tám (khóa Xi) Về Chiến Lược Bảo Vệ Tổ , Nghị Quyết 28-nq/tw Hội Nghị Ban Chấp Hành Trung ương Lần Thứ Tám (khóa Xi) Về Chiến Lược Bảo Vệ Tổ , Nghị Quyết 28-nq/tw Hội Nghị Ban Chấp Hành Trung ương Lần Thứ Tám (khóa Xi) Về Chiến Lược Bảo Vệ Tổ, Báo Cáo Sơ Kết 5 Năm Thực Hiện Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Sáu Ban Chấp Hành Trung ương Khóa Xi, Bài Thu Hoạch Học Tập Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Tư Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii, Bài Thu Hoạch Qua Học Tập Quán Triệt Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Tư Bch Trung ương Đảng (khóa Xii), Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Năm Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Viii, Bài Thu Hoạch Kết Quả Học Tập, Quán Triệt Nghị Quyết Hội Nghị Trung ương 5, Khóa 12quyết Đại Hội Xii, Bài Thu Hoạch Kết Quả Học Tập, Quán Triệt Nghị Quyết Hội Nghị Trung ương 5, Khóa 12quyết Đại Hội Xii, Bài Thu Hoạch Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Năm Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii, Bài Thu Hoạch Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ 5 Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii, Bài Thu Hoạch Nghị Quyết Tw 6 Khóa 12. Nghị Quyết 18, 19, 20, 21, Nghi Quyet 10 Hoi Nghi Lan Thu5 Ban Chap Hanh Trung Khoa 12th January 2022, Nghị Quyết Số 33-nq/tw, Ngày 9/6/2014, Hội Nghị Lần Thứ 9 Ban Chấp Hành Trung ương Đảng (khóa Xi) Về, Nghị Quyết Số 33-nq/tw, Ngày 9/6/2014, Hội Nghị Lần Thứ 9 Ban Chấp Hành Trung ương Đảng (khóa Xi) Về, Nghi Quyet So 28 Ngay 25/10/2013 Cua Hoi Nghi Lan Thu 8 Ban Chap Hanh Trung Uong Dang Khoa Xi, Nghị Quyết Số 28-nq/tw Của Hội Nghị Tw Viii Khóa Xi Về Chiến Lược Bảo Vệ Tổ Quốc Trong Tình Hình Mới, Bài Thu Hoạch Kết Quả Học Tập Nghị Quyết Hội Nghị Trung ương 4 Khóa 12, Bài Thu Hoạch Kết Quả Học Tập Nghị Quyết Hội Nghị Trung ương 5 Khóa Xii, Bài Thu Hoạch Kết Quả Học Tập Nghị Quyết Hội Nghị Trung ương 4 Khóa Xii, Bài Thu Hoạch Học Tập Nghị Quyết Hội Nghị Trung ương 4 Khóa Xii, Nghị Quyết Hội Nghị Trung ương Lần Thứ 6 Khóa Xiii, Nghị Quyết Kết Luận Hội Nghị Trung ương 4 Khóa Xii, Bài Thu Hoạch Học Tập Quán Triệt Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ 5 Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa 12, Bài Thu Hoạch Quán Triệt Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Năm Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii, Nghị Quyết Hội Nghị Trung ương 4 Khóa Xii, Nghị Quyết Hội Nghị Trung ương 5 Khóa 12, Nghị Quyết Hội Nghị Trung ương 9 Khóa 12, Nghị Quyết Số 10 Hội Nghị Trung ương 5 Khóa 12, Hội Nghị Hoc Tap Nghị Quyết Trung ương 5 Khóa X, 3 Nghị Quyết Của Hội Nghị Trung ương 5 Khóa Xii, Nghị Quyết Hội Nghị Trung ương 4 Khóa 12, Nghị Quyết Hội Nghị Trung ương 11 Khóa 12, 3 Nghị Quyết Hội Nghị Trung ương 5 Khóa Xii, Nghị Quyết Số 29 Của Hội Nghị Trung ương 8 Khóa Xi, Nghị Quyết Hội Nghị Trung ương 10 Khóa 12, Đề Xuất Kiến Nghị Các Giải Pháp Tổ Chức Thực Hiện Nghị Tư 5 Khóa 12 Tại Cơ Quan Trường Thcs Quyết Tr, 3 Nghị Quyết Chuyên Đề Hội Nghị Lần Thứ 5 Khóa Xii, 3 Nghị Quyết Chuyên Đề Của Hội Nghị Lần Thứ 5 Khóa Xii, Toàn Văn Nghị Quyết Hội Nghị T.ư 8 Khóa Xii, Kế Hoạch Học Tập Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ 5 Khóa 12, Nghị Quyết Tw 4 Khóa 12, Nghị Quyết T.ư 6 Khóa Xii, Nghị Quyết T.ư 4 Khóa Xii, Nghị Quyết 04 Khóa 12, Nghị Quyết T.ư 4 Khóa Xi, Nghị Quyết T W 8 Khóa 12, Nghị Quyết T ư 4 Khóa Xi, Nghị Quyết Số 23 Khóa Ix, Nghị Quyết Số 25 Khóa Ix, Nghị Quyết Số 25 Khóa X, Nghị Quyết Số 25 Khóa Xi, Nghị Quyết Số 22 Khóa X, Nghị Quyết Số 21 Khóa X, Nghị Quyết 5 Khóa Xi, Nghị Quyết 6 Khóa Xi, Nghị Quyết 6 Khóa X, Nghị Quyết 6 Khóa 12, Nghị Quyết 6 Khóa 11, Nghị Quyết Số 33 Khóa Xi, Nghị Quyết Khóa 12, Nghị Quyết 6 Khóa 10, Nghị Quyết 04 – Nq/tw Khóa Xii, Nghị Quyết 2 Khóa 8, Báo Cáo Sơ Kết Nghị Quyết Tw 7 Khóa X, Nghị Quyết 4 Tw Khóa 11, Nghị Quyết Số 4 Khóa 12, Báo Cáo Sơ Kết Nghị Quyết Tw 4 Khóa X, Nghị Quyết Số 28 Khóa Xi, Nghị Quyết 5 Khóa 8, Nghị Quyết 5 Khóa 12, Nghị Quyết 5 Khóa 11, Nghị Quyết Iv Khóa Xii, Nghị Quyết 5 Khóa 10, Nghị Quyết Khóa Xii, Nghị Quyết 51 Khóa Ix, Nghị Quyết Số 28 Khóa 11, Nghị Quyết 51 Của Bct Khoa Ix, Nghị Quyết 4 Khóa Xii, Nghị Quyết 4 Khóa Xi, Nghị Quyết Khóa 11, Nghị Quyết Số 25-nq/tw Khóa Ix,

    Nghị Quyết Đại Hội Xii Của Đảng, Gắn Với Việc Thực Hiện Nghị Quyết Trung ương 4 Khóa Xii Và Các Chỉ, Bài Thu Nghị Quyết Trung ương 5 Khóa Khóa Xii, Quyết Định Số 51 Nghị Quyết Trung ương 6 Khóa 11, 3 Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ 5 Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa 12, Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Năm Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii, Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Sáu Ban Chấp Hành Trung ương Khóa Xii Về Một Số Vấn Đề Về Tiếp Tục Đổi M, Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Tư Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii, Bài Thu Hoạch Qua Học Tập Quán Triệt Nghị Quyết Số 04 05 06 Hội Nghị Trung ương 4 Khóa Xii, Nghị Quyết Số 18-nq/tw Hội Nghị Lần Thứ 6 Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii , Nghị Quyết Kết Luận Của Hội Nghị Lần Thứ 4 Ban Chấp Hành Trung ương Khóa Xii, Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Năm Ban Chấp Hành Trung ương Khóa Viii, Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ 4 Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii, Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ 5 Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii, Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ 4 Ban Chấp Hành Trung ương Khóa Xii, Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Năm Ban Chấp Hành Trung ương Khóa Xii, Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ 5 Ban Chấp Hành Trung ương Khóa Xii, ỷ Xxi, Hội Nghị Lần Thứ Tư Ban Chấp Hành Trung ương Đảng (khoá X) Đã Thông Qua Nghị Quyết Số 09-nq/t, Nghị Quyết Kết Luận Hội Nghị Lần Thứ Tư Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii, Nghị Quyết 28-nq/tw Hội Nghị Ban Chấp Hành Trung ương Lần Thứ Tám (khóa Xi) Về Chiến Lược Bảo Vệ Tổ , Nghị Quyết 28-nq/tw Hội Nghị Ban Chấp Hành Trung ương Lần Thứ Tám (khóa Xi) Về Chiến Lược Bảo Vệ Tổ , Nghị Quyết 28-nq/tw Hội Nghị Ban Chấp Hành Trung ương Lần Thứ Tám (khóa Xi) Về Chiến Lược Bảo Vệ Tổ, Báo Cáo Sơ Kết 5 Năm Thực Hiện Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Sáu Ban Chấp Hành Trung ương Khóa Xi, Bài Thu Hoạch Học Tập Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Tư Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii, Bài Thu Hoạch Qua Học Tập Quán Triệt Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Tư Bch Trung ương Đảng (khóa Xii), Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Năm Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Viii, Bài Thu Hoạch Kết Quả Học Tập, Quán Triệt Nghị Quyết Hội Nghị Trung ương 5, Khóa 12quyết Đại Hội Xii, Bài Thu Hoạch Kết Quả Học Tập, Quán Triệt Nghị Quyết Hội Nghị Trung ương 5, Khóa 12quyết Đại Hội Xii, Bài Thu Hoạch Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Năm Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii, Bài Thu Hoạch Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ 5 Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii, Bài Thu Hoạch Nghị Quyết Tw 6 Khóa 12. Nghị Quyết 18, 19, 20, 21, Nghi Quyet 10 Hoi Nghi Lan Thu5 Ban Chap Hanh Trung Khoa 12th January 2022, Nghị Quyết Số 33-nq/tw, Ngày 9/6/2014, Hội Nghị Lần Thứ 9 Ban Chấp Hành Trung ương Đảng (khóa Xi) Về, Nghị Quyết Số 33-nq/tw, Ngày 9/6/2014, Hội Nghị Lần Thứ 9 Ban Chấp Hành Trung ương Đảng (khóa Xi) Về, Nghi Quyet So 28 Ngay 25/10/2013 Cua Hoi Nghi Lan Thu 8 Ban Chap Hanh Trung Uong Dang Khoa Xi, Nghị Quyết Số 28-nq/tw Của Hội Nghị Tw Viii Khóa Xi Về Chiến Lược Bảo Vệ Tổ Quốc Trong Tình Hình Mới, Bài Thu Hoạch Kết Quả Học Tập Nghị Quyết Hội Nghị Trung ương 4 Khóa 12, Bài Thu Hoạch Kết Quả Học Tập Nghị Quyết Hội Nghị Trung ương 5 Khóa Xii, Bài Thu Hoạch Kết Quả Học Tập Nghị Quyết Hội Nghị Trung ương 4 Khóa Xii, Bài Thu Hoạch Học Tập Nghị Quyết Hội Nghị Trung ương 4 Khóa Xii, Nghị Quyết Hội Nghị Trung ương Lần Thứ 6 Khóa Xiii, Nghị Quyết Kết Luận Hội Nghị Trung ương 4 Khóa Xii, Bài Thu Hoạch Học Tập Quán Triệt Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ 5 Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa 12, Bài Thu Hoạch Quán Triệt Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Năm Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii, Nghị Quyết Hội Nghị Trung ương 4 Khóa Xii, Nghị Quyết Hội Nghị Trung ương 5 Khóa 12, Nghị Quyết Hội Nghị Trung ương 9 Khóa 12, Nghị Quyết Số 10 Hội Nghị Trung ương 5 Khóa 12, Hội Nghị Hoc Tap Nghị Quyết Trung ương 5 Khóa X, 3 Nghị Quyết Của Hội Nghị Trung ương 5 Khóa Xii, Nghị Quyết Hội Nghị Trung ương 4 Khóa 12,

    --- Bài cũ hơn ---

  • 15 Năm Thực Hiện Nq Tw 5 Khóa Viii: Xây Dựng Gia Đình Văn Hóa Còn Nhiều Thách Thức
  • Nghị Quyết Trung Ương 9 (Khóa Xi) Với Vấn Đề Xây Dựng Lòng Yêu Nước Của Con Người Việt Nam Trong Thời Kỳ Mới
  • Bài Thu Hoạch Nqtw 9 Khóa 11
  • Nghị Quyết Trung Ương 9 Khóa 11
  • Ý Nghĩa Nghị Quyết Trung Ương 9 Khóa 11
  • Bài Thu Hoạch Nghị Quyết Tw5 Khóa 12

    --- Bài mới hơn ---

  • Bản Kiểm Điểm Gv Trường Thcs Nghị Quyết Tư4 Ban Kd Nghi Quyet Tw 4 Doc
  • Tòa Án Đã Thực Hiện Có Hiệu Quả Nghị Quyết Số 49
  • Thu Hoạch Nghị Quyết 55
  • Bài Thu Hoạch Thực Hiện Nghị Quyết Số 55
  • Thanh Hóa: Cán Bộ Dân Số Kêu Cứu
  • ĐẢNG BỘ ……….

    CHI BỘ ………………….

    *

    ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

    ……., ngày 10 tháng 10 năm 2022

    BÀI THU HOẠCH

    Học tập, quán triệt Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5

    Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XII)

    Họ và tên đảng viên: ……….

    Chức vụ: Giáo viên.

    Đang sinh hoạt tại: Chi bộ ……………..

    Qua nghiên cứu, quán triệt học tập những nội dung của các Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XII) và Kế hoạch của Đảng ủy, bản thân nghiêm túc tiếp thu những nội dung mà Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XII) và kế hoạch của Đảng ủy đã đề ra, cụ thể như sau:

    1. Nhận thức của bản thân về các quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp trong các Nghị quyết đã được giới thiệu tại Hội nghị và Kế hoạch của Đảng ủy:

    1.1. Nghị quyết số 10-NQ/TW, ngày 3/6/2017 “về phát triển kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”:

    1.1.1. Nhận thức về quan điểm:

    Kinh tế tư nhân đóng góp lớn cho nguồn lực xã hội cho đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh, tăng trưởng kinh tế, cơ cấu lại nền kinh tế, tăng thu ngân sách nhà nước, tạo việc làm, cải thiện đời sống nhân dân, bảo đảm an sinh xã hội, giải quyết các vấn đề xã hội. Đã hình thành được một số tập đoàn kinh tế tư nhân có quy mô lớn, từng bước nâng cao trách nhiệm đối với người lao động, cộng đồng, xã hội và đạo đức, văn hoá trong kinh doanh, hoạt động đa ngành, có khả năng cạnh tranh tốt hơn trên thị trường trong nước và quốc tế; đội ngũ doanh nhân ngày càng lớn mạnh.

    Vai trò lãnh đạo của Đảng, hoạt động giám sát phản biện, bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho người lao động và người sử dụng lao động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị – xã hội các cấp đối với khu vực kinh tế tư nhân được nâng lên. Phương thức quản lý của Nhà nước đối với kinh tế tư nhân ngày càng phù hợp hơn với cơ chế thị trường. Các hiệp hội ngành nghề thực hiện ngày càng tốt hơn vai trò cầu nối giữa cộng đồng doanh nhân, giúp doanh nghiệp nắm bắt kịp thời các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, thúc đẩy sản xuất kinh doanh, ứng dụng khoa học – công nghệ và phát triển thị trường.

    1.1.2. Mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp

    * Mục tiêu: Xây dựng nền kinh tế tư nhân thực sự trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quốc phòng, an ninh, sớm đưa nước ta trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại, góp phần phát triển kinh tế – xã hội nhanh, bền vững, không ngừng nâng cao đời sống nhân dân, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội.

    * Nhiệm vụ và giải pháp: Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước. Đổi mới nội dung, phương thức và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, nâng cao vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị – xã hội, xã hội – nghề nghiệp đối với kinh tế tư nhân. Thống nhất cao về nhận thức, tư tưởng, hành động trong triển khai các chủ trương, chính sách về phát triển kinh tế tư nhân. Tạo lập môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi cho phát triển kinh tế tư nhân. Hỗ trợ kinh tế tư nhân đổi mới sáng tạo, hiện đại hoá công nghệ và phát triển nguồn nhân lực, nâng cao năng suất lao động.

    1.2. Nghị quyết số 11-NQ/TW, ngày 03/6/2017 “về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”:

    1.2.1. Nhận thức về quan điểm:

    Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ngày càng đầy đủ hơn, có nhiều đặc điểm của nền kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập; kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa từng bước hình thành. Hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách ngày càng hoàn thiện và phù hợp hơn với luật pháp quốc tế, đồng thời đáp ứng yêu cầu thực tiễn và thực hiện cam kết hội nhập quốc tế. Chế độ sở hữu, các thành phần kinh tế, loại hình doanh nghiệp phát triển đa dạng. Việc đổi mới, sắp xếp, cơ cấu lại, nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước được đẩy mạnh; kinh tế tập thể được quan tâm đổi mới; kinh tế tư nhân ngày càng được

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hà Nội: Kết Quả Thực Hiện Nghị Quyết Số 39
  • Sắp Xếp Lại Bộ Máy Ngành Thuế Đi Đôi Với Tinh Giảm Biên Chế
  • Ngành Giáo Dục Cần Tinh Giảm Bao Nhiêu Biên Chế Quản Lý?
  • Tinh Giản Biên Chế 2022: Đối Tượng Nào Có Nguy Cơ Cao Nhất?
  • Đối Tượng Nào Có Nguy Cơ Bị Tinh Giản Biên Chế Trong Năm 2022?
  • Đảng Bộ Nông Sơn Tổng Kết 15 Năm Thực Hiện Nghị Quyết Tw 5 (Khóa Viii) Của Đảng

    --- Bài mới hơn ---

  • Khai Mạc Trọng Thể Hội Nghị Trung Ương 9 (Khóa Xi)
  • Bài Thu Hoạch Nghị Quyết Trung Ương 7 Khóa 12 Giành Cho Cán Bộ Xã Chi Tiết Nhất
  • 7 Bài Thu Hoạch Nghị Quyết Trung Ương 7 Khóa 12 Xii Của Đảng Viên
  • Bài Thu Hoạch Nqtw 7 Khóa Xii
  • Nghị Quyết Hội Nghị Trung Ương 7 Khóa Xii Về Cải Cách Chính Sách Tiền Lương
  • Dự hội nghị có đồng chí Ngô Văn Hùng-Uỷ viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Trưởng Ban Tuyên giáo kiêm Phó Ban chỉ đạo tổng kết Nghị quyết TW 5 (khóa VIII) của Tỉnh ủy; đồng chí Đoàn Văn Viên-Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Chủ nhiệm UBKT Tỉnh ủy; đồng chí Nguyễn Văn Hàm-Phó Giám đốc Sở Văn hóa-Thể thao-Du lịch; đồng chí Nguyễn Đình Quý-Phó Chủ tịch Hội Văn học-Nghệ thuật tỉnh; đồng chí Đặng Thanh Hùng-Bí thư Huyện ủy-Chủ trì hội nghị; các đồng chí Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ huyện, Thường trực HĐND, UBND, UBMTTQ huyện; đại diện lãnh đạo các phòng, ban, ngành, đoàn thể của huyện; các đồng chí bí thư các chi, đảng bộ trực thuộc Huyện ủy, chủ tịch HĐND, UBND, UBMTTQ các xã trong toàn huyện.

    Nông Sơn là huyện miền núi phía Tây của tỉnh Quảng Nam, được thành lập theo Nghị định số 42/2008/NĐ-CP ngày 08/4/2008 của Chính phủ trên cơ sở chia tách từ huyện Quế Sơn, bao gồm 7 xã, 39 thôn với dân số gần 31.662 người, tỉ lệ hộ nghèo (55,88%), hộ cận nghèo (27,76%) cao. Trong những năm qua, được sự hỗ trợ của trung ương, tỉnh cùng với sự nỗ lực phấn đấu của Đảng bộ và nhân dân trong huyện, nhiều chương trình phát triển kinh tế-xã hội được đầu tư và triển khai thực hiện đạt được một số kết quả nhất định trên các lĩnh vực kinh tế, xã hội; an ninh quốc phòng; công tác xây dựng Đảng… Việc thực hiện Nghị quyết TW5 (khóa VIII) về “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” đã góp phần xây dựng các thiết chế văn hóa, sự hưởng thụ các giá trị văn hóa được nâng lên; đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân ngày càng được cải thiện.

    Sau gần 5 năm (2008-2012) tiếp tục triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 (khoá VIII) về “Xây dựng và phát triển nền Văn hoá Việt Nam tiến tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”, huyện Nông Sơn đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo công tác tuyên truyền, giáo dục cho cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân thực hiện tốt các phong trào thi đua yêu nước, trọng tâm là hướng vào thực hiện Cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”. Đồng thời, củng cố xây dựng và hoàn thiện môi trường văn hóa, các thiết chế văn hóa, tập trung xây dựng con người văn hóa, môi trường văn hóa. Qua đó, đã góp phần tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức, hành động của các cấp ủy Đảng, chính quyền, các ngành, đoàn thể, cán bộ, đảng viên và nhân dân trong toàn huyện. Nếu như năm 2008, sau khi chia tách huyện Quế Sơn để thành lập mới huyện Nông Sơn, toàn huyện có 5.692 hộ đạt “Gia đình văn hóa” (bằng 81% số hộ đăng ký); 12/31 thôn được công nhận danh hiệu “Thôn văn hoá” cấp huyện (38,7%); 22 cơ quan đạt tiêu chuẩn cơ quan văn hóa thì đến năm 2012 có 6.805 hộ đạt “Gia đình văn hóa” (bằng 88,3%), 26/39 thôn đạt “Thôn văn hóa” (bằng 66,7%) và 70 cơ quan đạt tiêu chuẩn “Đơn vị cơ sở có đời sống văn hóa tốt”.

    Thực hiện chủ trương xây dựng các thiết chế văn hoá cơ sở của tỉnh, cùng với sự đóng góp của nhân dân, HĐND huyện đã có nghị quyết hỗ trợ xây dựng mỗi nhà văn hóa thôn 30 triệu đồng. Đến nay, toàn huyện có 30/39 thôn có nhà sinh hoạt cộng đồng; 16 sân bóng đá, 28 sân bóng chuyền, trong đó có 13 sân được bê tông hóa, 4 sân cầu lông, 7 đội bóng đá, 14 đội bóng chuyền nam, nữ nòng cốt của các xã, 62 đội văn nghệ quần chúng; 3/7 xã có trạm truyền thanh với trên 50 loa phóng thanh, 82 cổng chào kiên cố, 3/7 xã có Bưu điện văn hóa xã, có 7 tủ sách pháp luật tại UBND các xã. Việc bảo vệ, trùng tu, tôn tạo, quản lý và phát huy di tích lịch sử-văn hóa nghệ thuật được thực hiện tốt. Nhiều di tích được phục dựng và trùng tu như: di tích chiến thắng Nông Sơn- Trung Phước, Lăng bà Thu Bồn, Mộ cụ Nguyễn Đình Hiến.

    Các loại hình nghệ thuật tuồng, dân ca trên địa bàn huyện được khôi phục và phát triển. Cứ 2 năm 1 lần huyện tổ chức “Liên hoan Tuồng, Dân ca”; các hoạt động tín ngưỡng tôn giáo trên địa bàn chấp hành nghiêm các quy định của Nhà nước; hoạt động văn hoá, dịch vụ văn hoá từng bước đi vào nền nếp… Những kết quả trên góp phần tích cực trong việc giữ gìn, phát huy nét đẹp văn hoá, phong tục tập quán tốt đẹp của dân tộc, đẩy lùi các hiện tượng tiêu cực trong đời sống; thắt chặt tình làng, nghĩa xóm, ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở địa phương.

    Trên cơ sở đánh giá những kết quả đạt được, những mặt còn tồn tại, hạn chế và những kinh nghiệm từ thực tế triển khai Nghị quyết, Huyện ủy Nông Sơn đã đề ra 6 nhiệm vụ và 7 nhóm giải pháp chủ yếu nhằm tiếp tục nâng cao hơn nữa hiệu quả thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 (khoá VIII) gắn với thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI về phát triển văn hoá nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu, động lực phát triển kinh tế- xã hội. Trong đó, chú trọng tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp uỷ Đảng đối với công tác văn hoá, đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền gắn với “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”; tăng cường công tác quản lý nhà nước trên lĩnh vực văn hoá…

    Tại Hội nghị, các ý kiến tham luận đã nêu bật những kết quả đạt được, những cách làm hay trong thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII), đồng thời cũng làm rõ một số khó khăn, hạn chế trong việc thực hiện tại địa phương như: công tác lãnh đạo, chỉ đạo và triển khai thực hiện nghị quyết có lúc, có nơi chưa được quan tâm đúng mức; chất lượng một số đơn vị văn hóa chưa đáp ứng được yêu cầu; cơ sở vật chất trang thiết bị phục vụ hoạt động vui chơi, giải trí, hưởng thụ văn hóa của nhân dân còn thiếu; kinh phí đầu tư thực hiện nhiệm vụ phát triển văn hóa còn nhiều khó khăn…

    Phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị, đồng chí Ngô Văn Hùng-Uỷ viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Trưởng Ban Tuyên giáo kiêm Phó ban chỉ đạo tổng kết Nghị quyết TW 5 (khóa VIII) của Tỉnh ủy biểu dương những kết quả mà huyện đã đạt được trong thời gian qua và đề nghị huyện Nông Sơn cần tiếp tục chỉ đạo thực hiện tốt các giải pháp đã đề ra. Đồng thời, yêu cầu trong thời gian tới huyện cần rà soát, hệ thống lại các văn bản, cơ chế, chính sách về lĩnh vực văn hóa; nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng trong lĩnh vực văn hóa tư tưởng; lồng ghép thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) với thực hiện Chỉ thị số 03-CT/TW của Bộ Chính trị về “Tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” và thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 (khóa XI) “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”. Gắn xây dựng văn hóa với xây dựng nông thôn mới, thực hiện tốt các quy chế văn hoá tại cơ sở, việc cưới, việc tang và lễ hội, tạo sự đồng thuận trong nhân dân, hoàn thành thắng lợi các nhiệm vụ được giao.

    Nhân dịp này, huyện Nông Sơn đã khen thưởng cho 02 tập thể và 02 cá nhân có thành tích xuất sắc trong triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 (khóa VIII) trên địa bàn huyện.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hội Nghị Tổng Kết 15 Năm Thực Hiện Nghị Quyết Hội Nghị Trung Ương 5 Khóa Viii
  • Kế Hoạch Tổng Kết 15 Năm Thực Hiện Nghị Quyết Trung Ương 5 (Khóa Viii) Về Xây Dựng Và Phát Triển Nền Văn Hóa Việt Nam Tiên Tiến, Đậm Đà Bản Sắc Dân Tộc
  • Tiếp Tục Thực Hiện Nghị Quyết Trung Ương 5 (Khóa Viii), Quân Đội Đẩy Mạnh Các Hoạt Động Văn Hóa, Văn Học, Nghệ Thuật
  • Báo Cáo Tổng Kết Nghị Quyết Trung Ương 3 Khóa Viii
  • Báo Cáo Tổng Kết Nghị Quyết Trung Ương 3 Khóa 8 Về Chiến Lược Cán Bộ
  • Lào Cai: Nâng Cao Toàn Diện Đời Sống Văn Hóa Sau 15 Năm Thực Hiện Nghị Quyết Tw5 (Khóa Viii)

    --- Bài mới hơn ---

  • Đảng Bộ Than Quảng Ninh Tổng Kết 15 Năm Thực Hiện Nghị Quyết Tw5 (Khóa Viii)
  • Thủ Tục Công Nhận Phê Chuẩn Kết Quả Bầu Chủ Tịch, Phó Chủ Tịch Ủy Ban Nhân Dân Cấp Xã
  • Chuyển Biến Trong Thực Hiện Nghị Quyết Trung Ương 4 Về Xây Dựng, Chỉnh Đốn Đảng
  • Đảng Bộ Quân Đội Thực Hiện Nghị Quyết Trung Ương 4 (Khóa Xii) Về Xây Dựng, Chỉnh Đốn Đảng
  • Cam Kết Thực Hiện Nghị Quyết Tw4 Và Chỉ Thị 05 / Bch Tw Khóa Xii
  • Cập nhật lúc 10:09, Thứ ba, 07/05/2013

    Tối 6/5, tại Quảng trường Trung tâm Văn hóa TP Lào Cai, đã diễn ra Đêm liên hoan Văn nghệ chào mừng Tổng kết 15 năm thực hiện Nghị quyết TW5 (khóa VIII) về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc. Đêm diễn hội tụ gần 200 diễn viên, nghệ nhân của 25 dân tộc đến từ 9 huyện, thành phố trong tỉnh, đem đến liên hoan những tiết mục múa hát đậm đà bản sắc vùng cao.

    Lễ hội Xuân Đền Thượng (thành phố Lào Cai) được

    tổ chức hằng năm mang đậm bản sắc dân tộc.

    (Nguồn: chúng tôi

    Sau 15 năm thực hiện Nghị quyết TW5 (khóa VIII), Lào Cai đã có sự chuyển biến tích cực trong nhận thức và hành động của cán bộ, đảng viên và nhân dân; đời sống văn hóa, tinh thần của nhân dân không ngừng được nâng cao, văn hóa truyền thống tốt đẹp được giữ gìn, phát huy, góp phần giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, thúc đẩy kinh tế phát triển, an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội được giữ vững.

    Nếu năm 2000, toàn tỉnh có 256 thôn, bản, tổ dân phố đạt tiêu chí văn hóa, thì hết năm 2012 có 1.319/2.199 thôn, bản, tổ dân phố văn hóa (đạt 60%). Nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội và tín ngưỡng được phát huy, nhất là trong đồng bào dân tộc thiểu số; các hủ tục dần được loại bỏ.

    Với phương châm gắn bảo tồn với phát triển và “biến di sản thành tài sản”, tỉnh đã sáng tạo, sớm cụ thể hóa Nghị quyết Trung ương 5 (Khóa VIII) thành Đề án chuyên đề trọng tâm, tập trung chỉ đạo thực hiện. Tỉnh đã tiến hành khảo sát, tổng kiểm kê, phân loại các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể với 26 di tích được công nhận (11 di tích cấp tỉnh, 15 di tích cấp quốc gia); sưu tầm được 13.695 hiện vật, di vật, cổ vật; lập hồ sơ khoa học 38 làng tiêu biểu của 13 dân tộc với 25 nhóm, ngành dân tộc trên địa bàn; tổng kiểm kê thực trạng kho sách cổ ở 466 làng người Dao…

    Trong thời gian tới, Lào Cai tiếp tục chỉ đạo thực hiện hiệu quả Nghị quyết TW5 (khóa VIII) và các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về lĩnh vực văn hóa; nâng cao toàn diện chất lượng của việc xây dựng đời sống văn hóa và môi trường văn hóa; quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác tư tưởng, văn hóa, văn nghệ; thường xuyên kiểm tra, giám sát, xử lý kịp thời các loại hình dịch vụ văn hóa không lành mạnh; đấu tranh bài trừ các hủ tục lạc hậu, mê tín dị đoan, các tệ nạn xã hội. Tiếp tục đầu tư tôn tạo, bảo tồn và phát huy các di tích lịch sử văn hóa, chú trọng xây dựng các công trình văn hóa trọng điểm, xây dựng các thiết chế văn hóa; tăng cường hợp tác và giao lưu quốc tế về văn hóa.

    Nhân dịp này, Ban Thường vụ Tỉnh ủy và UBND tỉnh đã tặng nhiều Bằng khen cho các tập thể và cá nhân; Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch trao Bằng Công nhận 3 thể loại: Hát then (dân tộc Tày); Lễ hội Gầu Tào (của dân tộc Mông) và Lễ cấp Sắc (của dân tộc Dao) là di sản Văn hóa cấp quốc gia./.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nq Tw5 Khóa Viii Nq Tw 5 K Viii 1998 Va Tw4 K Vii 1993 Doc
  • Văn Hóa Là Sức Mạnh Nội Sinh Quan Trọng Để Phát Triển Bền Vững
  • Triển Khai Thực Hiện Nghị Quyết Hội Nghị Trung Ương 9 (Khóa X)
  • Triển Khai Thực Hiện Nghị Quyết Hội Nghị Trung Ương 9 Khóa 11
  • Nghị Quyết Trung Ương 9 Khóa 12
  • Nghị Quyết So 10 Hội Nghị Tw 5 Khóa Xii

    --- Bài mới hơn ---

  • Nghị Quyết Hội Nghị Trung Ương 5 Về Phát Triển Kinh Tế Tư Nhân
  • Hội Nghị Tổng Kết Nghị Quyết Trung Ương 5 Về Kinh Tế Tập Thể
  • Hội Nghị Toàn Quốc Tổng Kết Nghị Quyết Trung Ương 5 Về Kinh Tế Tập Thể
  • Thủ Tướng Sẽ Chủ Trì Hội Nghị Tổng Kết Nghị Quyết Tw 5 Về Kinh Tế Tập Thể
  • Thạnh Phú Tổng Kết Nghị Quyết Trung Ương 5 Khóa Ix Về Kinh Tế Tập Thể
  • Nghị Quyết Đại Hội Xii Của Đảng, Gắn Với Việc Thực Hiện Nghị Quyết Trung ương 4 Khóa Xii Và Các Chỉ, Nghị Quyết Số 18-nq/tw Hội Nghị Lần Thứ 6 Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii , Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Năm Ban Chấp Hành Trung ương Khóa Viii, Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ 4 Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii, Nghị Quyết Kết Luận Của Hội Nghị Lần Thứ 4 Ban Chấp Hành Trung ương Khóa Xii, Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Năm Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii, 3 Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ 5 Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa 12, Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Sáu Ban Chấp Hành Trung ương Khóa Xii Về Một Số Vấn Đề Về Tiếp Tục Đổi M, Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Tư Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii, Bài Thu Hoạch Qua Học Tập Quán Triệt Nghị Quyết Số 04 05 06 Hội Nghị Trung ương 4 Khóa Xii, Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ 5 Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii, Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ 5 Ban Chấp Hành Trung ương Khóa Xii, Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ 4 Ban Chấp Hành Trung ương Khóa Xii, Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Năm Ban Chấp Hành Trung ương Khóa Xii, Báo Cáo Sơ Kết 5 Năm Thực Hiện Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Sáu Ban Chấp Hành Trung ương Khóa Xi, Bài Thu Hoạch Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Năm Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii, Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Năm Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Viii, Bài Thu Hoạch Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ 5 Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii, ỷ Xxi, Hội Nghị Lần Thứ Tư Ban Chấp Hành Trung ương Đảng (khoá X) Đã Thông Qua Nghị Quyết Số 09-nq/t, Bài Thu Hoạch Kết Quả Học Tập, Quán Triệt Nghị Quyết Hội Nghị Trung ương 5, Khóa 12quyết Đại Hội Xii, Nghị Quyết 28-nq/tw Hội Nghị Ban Chấp Hành Trung ương Lần Thứ Tám (khóa Xi) Về Chiến Lược Bảo Vệ Tổ , Bài Thu Hoạch Học Tập Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Tư Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii, Nghị Quyết 28-nq/tw Hội Nghị Ban Chấp Hành Trung ương Lần Thứ Tám (khóa Xi) Về Chiến Lược Bảo Vệ Tổ, Nghị Quyết Kết Luận Hội Nghị Lần Thứ Tư Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii, Bài Thu Hoạch Qua Học Tập Quán Triệt Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Tư Bch Trung ương Đảng (khóa Xii), Bài Thu Hoạch Kết Quả Học Tập, Quán Triệt Nghị Quyết Hội Nghị Trung ương 5, Khóa 12quyết Đại Hội Xii, Nghị Quyết 28-nq/tw Hội Nghị Ban Chấp Hành Trung ương Lần Thứ Tám (khóa Xi) Về Chiến Lược Bảo Vệ Tổ , Nghi Quyet So 28 Ngay 25/10/2013 Cua Hoi Nghi Lan Thu 8 Ban Chap Hanh Trung Uong Dang Khoa Xi, Nghi Quyet 10 Hoi Nghi Lan Thu5 Ban Chap Hanh Trung Khoa 12th January 2022, Nghị Quyết Số 33-nq/tw, Ngày 9/6/2014, Hội Nghị Lần Thứ 9 Ban Chấp Hành Trung ương Đảng (khóa Xi) Về, Nghị Quyết Số 28-nq/tw Của Hội Nghị Tw Viii Khóa Xi Về Chiến Lược Bảo Vệ Tổ Quốc Trong Tình Hình Mới, Nghị Quyết Số 33-nq/tw, Ngày 9/6/2014, Hội Nghị Lần Thứ 9 Ban Chấp Hành Trung ương Đảng (khóa Xi) Về, Bài Thu Hoạch Kết Quả Học Tập Nghị Quyết Hội Nghị Trung ương 4 Khóa 12, Bài Thu Hoạch Kết Quả Học Tập Nghị Quyết Hội Nghị Trung ương 5 Khóa Xii, Bài Thu Hoạch Kết Quả Học Tập Nghị Quyết Hội Nghị Trung ương 4 Khóa Xii, Nghị Quyết Hội Nghị Trung ương Lần Thứ 6 Khóa Xiii, Bài Thu Hoạch Học Tập Nghị Quyết Hội Nghị Trung ương 4 Khóa Xii, Nghị Quyết Kết Luận Hội Nghị Trung ương 4 Khóa Xii, Bài Thu Hoạch Quán Triệt Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Năm Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii, Bài Thu Hoạch Học Tập Quán Triệt Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ 5 Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa 12, Nghị Quyết Hội Nghị Trung ương 4 Khóa 12, Nghị Quyết Hội Nghị Trung ương 4 Khóa Xii, Nghị Quyết Số 29 Của Hội Nghị Trung ương 8 Khóa Xi, Nghị Quyết Hội Nghị Trung ương 9 Khóa 12, Nghị Quyết Số 10 Hội Nghị Trung ương 5 Khóa 12, Nghị Quyết Hội Nghị Trung ương 5 Khóa 12, 3 Nghị Quyết Hội Nghị Trung ương 5 Khóa Xii, 3 Nghị Quyết Của Hội Nghị Trung ương 5 Khóa Xii, Nghị Quyết Hội Nghị Trung ương 11 Khóa 12, Nghị Quyết Hội Nghị Trung ương 10 Khóa 12, Hội Nghị Hoc Tap Nghị Quyết Trung ương 5 Khóa X, Đề Xuất Kiến Nghị Các Giải Pháp Tổ Chức Thực Hiện Nghị Tư 5 Khóa 12 Tại Cơ Quan Trường Thcs Quyết Tr, Toàn Văn Nghị Quyết Hội Nghị T.ư 8 Khóa Xii, 3 Nghị Quyết Chuyên Đề Của Hội Nghị Lần Thứ 5 Khóa Xii, Kế Hoạch Học Tập Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ 5 Khóa 12, 3 Nghị Quyết Chuyên Đề Hội Nghị Lần Thứ 5 Khóa Xii, Bài Thu Hoạch Nghị Quyết Tw 6 Khóa 12. Nghị Quyết 18, 19, 20, 21, Những Thành Tựu, Hạn Chế Và Những Nguyên Nhân Cơ B Trong Nghị Quyết Hội Nghị Trung ương 5 (khóa Xii), Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ 5 Khóa 8, Nghị Quyết 28/nq – Tw Của Hội Nghị Tw 8 Khóa Xi, Nghị Quyết 33 Hội Nghị Tw9 Khóa Xi, Nghị Quyết So 10 Hội Nghị Tw 5 Khóa Xii, Bài Thu Nghị Quyết Trung ương 5 Khóa Khóa Xii, Quyết Định Số 51 Nghị Quyết Trung ương 6 Khóa 11, Nghị Quyết Tw7 Khóa Ix, Nghị Quyết 8 Khóa 12, Nghị Quyết 51 Của Bct Khoa Ix, Nghị Quyết 4 Khóa X, Nghị Quyết 4 Khóa Xi, Nghị Quyết Iv Khóa Xii, Nghị Quyết X Khóa Xi, Nghị Quyết 6 Khóa Xi, Nghị Quyết Số 04-nq/tw Khóa Xii, Nghị Quyết 4 Khóa Xii, Nghị Quyết Tw6 Khóa Xii, Nghị Quyết Số 33 Khóa Xi, Nghị Quyết Tw4 Khóa 12, Nghị Quyết 4 Tw Khóa 11, Nghị Quyết 8 Khóa 9, Nghị Quyết 8 Khóa Ix, Báo Cáo Sơ Kết Nghị Quyết Tw 4 Khóa X, Nghị Quyết 6 Khóa 11, Nghị Quyết 6 Khóa 10, Nghị Quyết 4 Khóa 11, Nghị Quyết Số 29 Khóa Xi, Nghị Quyết 5 Khóa 12, Nghị Quyết 5 Khóa 11, Nghị Quyết 5 Khóa 10, Nghị Quyết Số 4 Khóa 12, Nghị Quyết 6 Khóa 12, Nghị Quyết 5 Khóa 8, Nghị Quyết 6 Khóa X, Nghị Quyết 8 Khóa Vii, Nghị Quyết 9 Khóa 11, Báo Cáo Sơ Kết Nghị Quyết Tw 7 Khóa X, Nghị Quyết 8 Khóa Xii, Nghị Quyết 9 Khóa 12, Nghi Quyet So 08 Khoa 8, Nghị Quyết 5 Khóa Xi, Nghị Quyết 4 Khóa 12,

    Nghị Quyết Đại Hội Xii Của Đảng, Gắn Với Việc Thực Hiện Nghị Quyết Trung ương 4 Khóa Xii Và Các Chỉ, Nghị Quyết Số 18-nq/tw Hội Nghị Lần Thứ 6 Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii , Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Năm Ban Chấp Hành Trung ương Khóa Viii, Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ 4 Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii, Nghị Quyết Kết Luận Của Hội Nghị Lần Thứ 4 Ban Chấp Hành Trung ương Khóa Xii, Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Năm Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii, 3 Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ 5 Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa 12, Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Sáu Ban Chấp Hành Trung ương Khóa Xii Về Một Số Vấn Đề Về Tiếp Tục Đổi M, Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Tư Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii, Bài Thu Hoạch Qua Học Tập Quán Triệt Nghị Quyết Số 04 05 06 Hội Nghị Trung ương 4 Khóa Xii, Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ 5 Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii, Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ 5 Ban Chấp Hành Trung ương Khóa Xii, Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ 4 Ban Chấp Hành Trung ương Khóa Xii, Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Năm Ban Chấp Hành Trung ương Khóa Xii, Báo Cáo Sơ Kết 5 Năm Thực Hiện Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Sáu Ban Chấp Hành Trung ương Khóa Xi, Bài Thu Hoạch Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Năm Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii, Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Năm Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Viii, Bài Thu Hoạch Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ 5 Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii, ỷ Xxi, Hội Nghị Lần Thứ Tư Ban Chấp Hành Trung ương Đảng (khoá X) Đã Thông Qua Nghị Quyết Số 09-nq/t, Bài Thu Hoạch Kết Quả Học Tập, Quán Triệt Nghị Quyết Hội Nghị Trung ương 5, Khóa 12quyết Đại Hội Xii, Nghị Quyết 28-nq/tw Hội Nghị Ban Chấp Hành Trung ương Lần Thứ Tám (khóa Xi) Về Chiến Lược Bảo Vệ Tổ , Bài Thu Hoạch Học Tập Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Tư Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii, Nghị Quyết 28-nq/tw Hội Nghị Ban Chấp Hành Trung ương Lần Thứ Tám (khóa Xi) Về Chiến Lược Bảo Vệ Tổ, Nghị Quyết Kết Luận Hội Nghị Lần Thứ Tư Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii, Bài Thu Hoạch Qua Học Tập Quán Triệt Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Tư Bch Trung ương Đảng (khóa Xii), Bài Thu Hoạch Kết Quả Học Tập, Quán Triệt Nghị Quyết Hội Nghị Trung ương 5, Khóa 12quyết Đại Hội Xii, Nghị Quyết 28-nq/tw Hội Nghị Ban Chấp Hành Trung ương Lần Thứ Tám (khóa Xi) Về Chiến Lược Bảo Vệ Tổ , Nghi Quyet So 28 Ngay 25/10/2013 Cua Hoi Nghi Lan Thu 8 Ban Chap Hanh Trung Uong Dang Khoa Xi, Nghi Quyet 10 Hoi Nghi Lan Thu5 Ban Chap Hanh Trung Khoa 12th January 2022, Nghị Quyết Số 33-nq/tw, Ngày 9/6/2014, Hội Nghị Lần Thứ 9 Ban Chấp Hành Trung ương Đảng (khóa Xi) Về, Nghị Quyết Số 28-nq/tw Của Hội Nghị Tw Viii Khóa Xi Về Chiến Lược Bảo Vệ Tổ Quốc Trong Tình Hình Mới, Nghị Quyết Số 33-nq/tw, Ngày 9/6/2014, Hội Nghị Lần Thứ 9 Ban Chấp Hành Trung ương Đảng (khóa Xi) Về, Bài Thu Hoạch Kết Quả Học Tập Nghị Quyết Hội Nghị Trung ương 4 Khóa 12, Bài Thu Hoạch Kết Quả Học Tập Nghị Quyết Hội Nghị Trung ương 5 Khóa Xii, Bài Thu Hoạch Kết Quả Học Tập Nghị Quyết Hội Nghị Trung ương 4 Khóa Xii, Nghị Quyết Hội Nghị Trung ương Lần Thứ 6 Khóa Xiii, Bài Thu Hoạch Học Tập Nghị Quyết Hội Nghị Trung ương 4 Khóa Xii, Nghị Quyết Kết Luận Hội Nghị Trung ương 4 Khóa Xii, Bài Thu Hoạch Quán Triệt Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Năm Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii, Bài Thu Hoạch Học Tập Quán Triệt Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ 5 Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa 12, Nghị Quyết Hội Nghị Trung ương 4 Khóa 12, Nghị Quyết Hội Nghị Trung ương 4 Khóa Xii, Nghị Quyết Số 29 Của Hội Nghị Trung ương 8 Khóa Xi, Nghị Quyết Hội Nghị Trung ương 9 Khóa 12, Nghị Quyết Số 10 Hội Nghị Trung ương 5 Khóa 12, Nghị Quyết Hội Nghị Trung ương 5 Khóa 12, 3 Nghị Quyết Hội Nghị Trung ương 5 Khóa Xii, 3 Nghị Quyết Của Hội Nghị Trung ương 5 Khóa Xii, Nghị Quyết Hội Nghị Trung ương 11 Khóa 12, Nghị Quyết Hội Nghị Trung ương 10 Khóa 12,

    --- Bài cũ hơn ---

  • Mâu Bài Viết Nghị Quyết Trung Ương 5 Khóa 12
  • Tổng Kết 15 Năm Thực Hiện Nqtw 5 Về Xây Dựng Và Phát Triển Văn Hóa
  • Tiếp Tục Thực Hiện Nghị Quyết Trung Ương 5 Về Xây Dựng Và Phát Triển Văn Hóa
  • Ninh Phước: Sơ Kết 5 Năm Thực Hiện Nghị Quyết Trung Ương 8 (Khóa Xi) Về Chiến Lược Bảo Vệ Tổ Quốc Trong Tình Hình Mới
  • Tổng Kết 10 Năm Thực Hiện Nghị Quyết Trung Ương 8 (Khóa Ix) Và Sơ Kết 5 Năm Thực Hiện Nghị Định 152/2007/nđ
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100