Ngôn Ngữ Văn Bản Khoa Học / 2023 / Top 11 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 11/2022 # Top View | Bac.edu.vn

Phong Cách Ngôn Ngữ Khoa Học / 2023

I. Văn bản khoa học và ngôn ngữ khoa học

– Các dạng : dạng viết ( báo cáo khoa học, luận văn, sgk…) và dạng nói ( giảng bài, nói chuyện khoa học…..)

– Các loại văn bản :

+ Các văn bản khoa học chuyên sâu : chuyên khảo, luận án, tiểu luận, các báo cáo khoa học…

+Các văn bản khoa học giáo khoa: giáo trình, sgk,

+ Các văn bản khoa học phổ cập : bao gồm các bài báo và sách phổ biến khoa học kĩ thuật…

– Khái niệm : Ngôn ngữ khoa học là ngôn ngữ được dùng trong giao tiếp thuộc lĩnh vực khoa học, tiêu biểu là trong văn bản khoa học.

– Ở dạng viết : ngoài sử dụng từ ngữ,còn dùng các kí hiệu, các công thức hay sơ đồ, bảng biểu…

– Ở dạng nói ngôn ngữ khoa học yêu cầu ở mức độ cao về phát âm chuẩn, diễn đạt mạch lạc và phải có đề cương viết trước.

– Tính khái quát trừu tượng:

– Tính lí trí, lô gic:

+ Từ được dùng với một nghĩa, không dùng các biện pháp tu từ

+ Câu thường tương ứng với một phán đoán lôgic

+ Các câu, các đoạn trong văn bản phải được liên kết chặt chẽ và mạch lạc.

– Tính khách quan, phi cá thể :hạn chế những biểu đạt có tính chất cá nhân.

– Nội dung thông tin là những kiến thức khoa học : khoa học văn học, chính xác hơn là khoa học Lịch sử văn học

– Phương pháp nghiên cứu : Sử dụng luận chứng ( sự phát triển của xã hội từ cách mạng tháng Tám năm 1945 đến hết thế kỉ XX ) và trình bày các luận điểm về phát triển văn học

– Văn bản này thuộc loại văn bản khoa học giáo khoa , dùng để giảng dạy trong nhà trường. Vì vậy một mặt trình bày kiến thức văn học sử, mặt khác cần phải làm cho hs tiếp nhận ghi nhớ và có kĩ năng vận dụng để hiểu khái quát một giai đoạn văn học trong tiến trình phát triển của văn học Việt Nam

– Ngôn ngữ khoa học: dùng nhiều thuật ngữ khoa học

Muốn giải thích và phân biệt các thuật ngữ khoa học với từ ngữ thông thường cùng một hình thức âm thanh thì cần đối chiếu so sánh lần lượt từng từ. Với các thuật ngữ khoa học, cần dùng từ điển chuyên ngành để tra cứu.

– Đoạn văn dùng nhiều thuật ngữ khoa học : khảo cổ, người vượn, mảnh tước, rìu tay, di chỉ, công cụ đá…

– Tính lí trí, lôgíc của đoạn văn thể hiện rõ nhất ở cách lập luận: câu đầu nêu luận điểm khái quát, các câu sau nêu luận cứ. Luận cứ đều là các cứ liệu thực tế. Đoạn văn có lập luận và kết cấu diễn dịch.

Bài Học: Phong Cách Ngôn Ngữ Khoa Học / 2023

Nội dung

KẾT QUẢ CẦN ĐẠT – Nắm vững các khái niệm văn bản khoa học, phong cách ngôn ngữ khoa học và các đặc trưng của phong cách ấy. – Có kĩ năng phân biệt phong cách ngôn ngữ khoa học với các phong cách ngôn ngữ khác và biết sử dụng ngôn ngữ khoa học trong các trường hợp cần thiết. I – VĂN BẢN KHOA HỌC VÀ NGÔN NGỮ KHOA HỌC 1. Văn bản khoa học a)

Lịch sử Việt Nam xưa nay là lịch sử của một dân tộc và một đất nước thống nhất. Nếu có sự chia rẽ thì chỉ là thoáng qua, rồi sau đó thống nhất lại ngay Ngay cả cuộc tranh giành giữa Trịnh và Nguyễn dù có kéo dài một trăm năm mươi năm, chỉ là sự tranh giành chính quyền giữa hai tập đoàn Trịnh, Nguyễn. Nhân danh đất nước thống nhất, nhân danh quyền lực duy nhất của vua Lê, cả hai đều chấp nhận niên hiệu, quan chức, thể chế và chỉ có một nước, một vua chung. Do đó, đặc điểm khu biệt của lịch sử Việt Nam là: Từ khi Ngô Quyền dựng nước năm 938 trở đi, đã là một nước thống nhất và mãi mãi thống nhất. (Theo Phan Ngọc, Cách giải thích văn học bàng ngôn ngữ học, NXB Trẻ, TP. Hồ Chí Minh, 2000)

b)

Định nghĩa: Vectơ là một đoạn thẳng có hướng, nghĩa là trong hai điểm mút của đoạn thẳng, đã chỉ rõ điểm nào là điểm đầu, điểm nào là điểm cuối.

c)

Tại Việt Nam, theo điều tra của Viện Dinh dưỡng, cứ 4 trẻ dưới 5 tuổi thì có một trẻ bị suy dinh dưỡng thể nhẹ cân và gần một phần ba số trẻ bị suy dinh dưỡng thể thấp chiều cao theo tuổi (suy dinh dưỡng mãn tính). Tre bị suy dinh dưỡng do nhiều nguyên nhân, nhưng đa số chế độ ăn hằng ngày không cung cấp đủ năng lượng, do khả năng hấp thu kém hoặc do rối loạn tiêu hoá lâu ngày dẫn đến suy dinh dưỡng. Trẻ ăn nhiều vẫn bị suy dinh dưỡng có thề do luồng thức ăn đưa nào nhiều nhưng không cung cấp đủ chất dinh dưỡng cần thiết hoặc cơ thể không hấp thu được chất dinh dưỡng. Hơn nữa, ăn nhiều và thường xuyên một loại thức ăn nào đó khiến cho cơ thể thiếu cơ hội thu nhận các thực phẩm khác dẫn đến thiếu chất và không có sự tăng trưởng toàn diện. […] Để giải quyết tình trạng trên và cải thiện khả năng tiêu hoá của trẻ, chúng ta cần bổ sung cho trẻ một số vi khuẩn sống có ích cho đường ruột, một số vitamin, men amilaza,… giúp cân bằng hệ vi khuẩn đường ruột để tránh sự tăng sinh của các vi khuẩn gây bệnh, đồng thời tăng khả năng tiêu hoá thức ăn nhờ tác dụng của các men vi sinh.[…] (Theo Lê Thị Hải, Trẻ ăn nhiều vẫn… suy dinh dưỡng, báo Khoa học và đời sống, số 6 (2064), ngày 12 – 1 – 2008)

Các văn bản trên thuộc văn bản khoa học. Văn bản khoa học gồm ba loại chính: – Các văn bản khoa học chuyên sâu bao gồm: chuyên khảo, luận án, luận văn, tiểu luận, báo cáo khoa học,… Loại văn bản này thường mang tính chuyên ngành khoa học cao và sâu (ví dụ: Văn bản a), dùng để giao tiếp giữa những người làm công việc nghiên cứu trong các ngành khoa học. – Các văn bản khoa học giáo khoa bao gồm: giáo trình, sách giáo khoa, thiết kế bài dạy,… về các môn Khoa học Tự nhiên, Khoa học Công nghệ, Khoa học Xã hội và Nhân văn (ví dụ: Văn bản b). Những văn bản này ngoài yêu cầu về khoa học còn có yêu cầu về sư phạm, tức là phải trình bày nội dung từ dễ đến khó, từ thấp đến cao, phù hợp với trình độ học sinh theo từng cấp, từng lớp; có định lượng kiến thức từng tiết, từng bài, có phần trình bày kiến thức, có phần thực hành: câu hỏi và bài tập. – Các văn bản khoa học phổ cập (khoa học đại chúng) bao gồm các bài báo và sách phổ biến khoa học kĩ thuật,… nhằm phổ biến rộng rãi kiến thức khoa học cho đông đảo bạn đọc, không phân biệt trình độ chuyên môn.

Yêu cầu của loại văn bản này là viết dễ hiểu, hấp dẫn. Vì vậy, có thể dùng lối miêu tả, dùng cách ví von so sánh sao cho ai cũng có thể hiểu được để đưa khoa học vào cuộc sống (ví dụ: Văn bản c). 2. Ngôn ngữ khoa học Ngôn ngữ khoa học là ngôn ngữ được dùng trong giao tiếp thuộc lĩnh vực khoa học, tiêu biểu là trong các văn bản khoa học: Khoa học Tự nhiên (Toán, Vật lí, Hoá học, Sinh học,…), Khoa học Xã hội và Nhân văn (Ngữ văn, Triết học, Tâm lí học, Lịch sử,…), Khoa học Công nghệ (Công nghệ Điện tử, Công nghệ Vi sinh, Công nghệ Thông tin,…). Ở dạng viết, ngoài việc sử dụng từ ngữ, ngôn ngữ khoa học còn thường dùng các kí hiệu, công thức của các ngành khoa học hay sơ đồ, bảng biểu để tổng kết, so sánh, mô hình hoá nội dung khoa học. Ở dạng nói, ngôn ngữ khoa học có yêu cầu ở mức độ cao về phát âm chuẩn, về diễn đạt mạch lạc, chặt chẽ; người nói thường dựa trên cơ sở một đề cương viết trước. Dù ở dạng nào, ngôn ngữ khoa học cũng đều có những đặc trưng cơ bản của phong cách ngôn ngữ khoa học. II – ĐẶC TRƯNG CỦA PHONG CÁCH NGƠN NGỮ KHOA HỌC Phong cách ngôn ngữ khoa học có ba đặc trưng cơ bản: tính khái quát, trừu tượng; tính lí trí, lôgíc; tính khách quan, phi cá thể. Các đặc trưng ấy thể hiện ở cách sử dụng từ ngữ và cú pháp, đặc biệt là cách trình bày, lập luận trong một văn bản khoa học. 1. Tính khái quát, trừu tượng Đặc trưng này biểu hiện không chỉ ở nội dung khoa học mà cả ở các phương tiện ngôn ngữ, trước hết là các thuật ngữ khoa học. Trong văn bản khoa học có sử dụng một số lượng lớn các thuật ngữ khoa học. Ví dụ: vectơ, đoạn thẳng (Hình học); thơ, thơ cũ, thơ mới, thơ tự do,… (Nghiên cứu văn học). Thuật ngữ khoa học là những từ ngữ chứa đựng khái niệm của chuyên ngành khoa học, là công cụ để tư duy khoa học. Các khái niệm khoa học là kết quả của quá trình khái quát hoá và trừu tượng hoá của con người. Vì thế các thuật ngữ biểu hiện chúng cũng mang tính trừu tượng, khái quát cao. Những thuật ngữ đó có thể được xây dựng từ những từ ngữ thông thường, như trong Hình học có: điểm, đường thắng, đoạn thẳng, góc,…; cũng có thể được vay mượn từ hệ thống thuật ngữ khoa học tiếng nước ngoài như: ôxi, hiđrô, canxi cacbonat (Hoá học),…

Trên cơ thể người có những cơ quan thoái hoá, tức là di tích của những cơ quan xưa kia khá phát triển ở động vật có xương sống. Ruột thừa là vết tích ruột tịt đã phát triển ở động vật ăn cỏ. Nếp thể nhô ở khoé mắt là dấu uất mi một thứ ba ở bò sát trà chim. Mấu lồi ở mép vành tai phía trên của người là di tích đầu nhọn của vành tai thú. (Sinh học 12, NXB Giáo dục, 2006)

Đoạn văn trên có 4 câu, thể hiện một lập luận chặt chẽ theo kết cấu diễn dịch. Câu thứ nhất trình bày luận điểm, ba câu sau nêu ba luận cứ, mỗi luận cứ là một chứng tích trong hiện thực. Nhờ thế, luận điểm có tính thuyết phục cao. Tóm lại, đặc trưng tính lí trí, lôgíc của phong cách ngôn ngũ khoa học thể hiện ở tất cả các phương tiện ngôn ngữ: từ ngữ, câu văn, đoạn văn, văn bản. 3. Tính khách quan, phi cá thề Nét phổ biến của ngôn ngữ khoa học là sử dụng ngôn ngữ khách quan, phi cá thể. Ngôn ngữ trong văn bản khoa học, đặc biệt là văn bản khoa học chuyên sâu, văn bản khoa học giáo khoa, rất hạn chế sử dụng những biểu đạt có tính chất cá nhân. Do vậy, từ ngữ và câu văn trong văn bản khoa học có màu sắc trung hoà, ít biểu lộ sắc thái cảm xúc. Tính khách quan, phi cá thể trong sử dụng ngôn ngữ là đặc trưng thứ ba của ngôn ngữ khoa học, trái với phong cách ngôn ngữ sinh hoạt và phong cách ngôn ngữ nghệ thuật, những phong cách ngôn ngữ mang dấu ấn cá thể của người sử dụng. GHI NHỚ – Văn bản khoa học gồm ba loại chính: các văn bản khoa học chuyên sâu, các văn bản khoa học giáo khoa, các văn bản khoa học phổ cập. – Ngôn ngữ khoa học là ngôn ngữ được dùng trong giao tiếp thuộc lĩnh vực khoa học, tiêu biểu là trong các văn bản khoa học. – Phong cách ngôn ngữ khoa học có ba đặc trưng cơ bản: tính khái quát, trừu tượng; tính lí trí, lôgíc; tính khách quan, phi cá thể. Các đặc trưng đó thể hiện ờ các phương tiện ngôn ngữ như từ ngữ, câu, đoạn văn, văn bản. LUYỆN TẬP

Soạn Bài: Phong Cách Ngôn Ngữ Khoa Học / 2023

I. Văn bản khoa học và ngôn ngữ khoa học

1. Văn bản khoa học

Các văn bản khoa học có thể phân chia thành ba loại:

a. Các văn bản chuyên sâu: bao gồm chuyên khảo, luận án, luận văn, tiểu luận, báo cáo khoa học, dự án… Những văn bản này đòi hỏi phải chính xác về thông tin, logic trong lập luận, chặt chẽ nghiêm ngặt trong kiến giải.

b. Các văn bản văn bản dùng để giảng dạy các môn khoa học, bao gồm: giáo trình, giáo án… giảng dạy các môn khoa học tự nhiên và khoa học xã hội nhân văn. Những văn bản này ngoài yêu cầu về khoa học còn có yêu cầu về sư phạm, tức là phải trình bày nội dung dễ đến khó, từ thấp đến cao, phù hợp với trình độ học sinh theo từng cấp, từng lớp, cố định lượng kiến thức từng tiết, từng bài

c. Các văn bản phố biến khoa học (khoa học đại chúng), bao gồm: sách phổ biến khoa học, các bài báo, bút kí khoa học, phê bình, điểm sách, nhằm phổ biến rộng rãi kiến thức khoa học đến đông đảo bạn đọc. Loại văn bản này yêu cầu viết cho dễ hiểu, hấp dẫn.

2. Ngôn ngữ khoa học

– Khái niệm : Ngôn ngữ khoa học là ngôn ngữ được dùng trong giao tiếp thuộc lĩnh vực khoa học, tiêu biểu là trong văn bản khoa học.

– Ở dạng viết: ngoài sử dụng từ ngữ, còn dùng các kí hiệu, các công thức hay sơ đồ, bảng biểu…

– Ở dạng nói ngôn ngữ khoa học yêu cầu ở mức độ cao về phát âm chuẩn, diễn đạt mạch lạc và phải có đề cương viết trước.

II. Đặc trưng của phong cách ngôn ngữ khoa học

Ngôn ngữ trong văn bản khoa học mang các đặc trưng cơ bản: tính khái quát, tính trừu tượng, tính lí trí, tính logic, tính khách quan, phi cá thể. Điều đó được thể hiện qua cách sử dụng từ ngữ, cú pháp, cách trình bày, lập luận, …

III. Luyện tập

Câu 1: Bài Khái quát văn học Việt Nam từ Cách mạng thán Tám 1945 đến hết thế kỉ XX là một văn bản khoa học:

a. Văn bản đó trình bày nội dung khoa học về lịch sử văn học Việt Nam từ 1945 đến hết thế kỉ XX, cụ thể là:

– Khái quát văn học Việt Nam từ 1945 đến hết 1975:

+ Hoàn cảnh lịch sử, xã hội, văn hóa.

+ Các chặng đường văn học và những thành tựu chính.

+ Những đặc điểm cơ bản

– Khái quát văn học Việt Nam từ 1945 đến hết thế kỉ XX:

+ Hoàn cảnh lịch sử, xã hội, văn hóa.

– Những chuyển biến và một số thành tựu.

b. Văn học đó thuộc ngành khoa học xã hội.

c. Văn bản này được viết bằng ngôn ngữ khoa học

– Hệ thống đề mục được sắp xếp từ lớn đến nhỏ, từ khái quát đến cụ thể.

– Kết cấu văn bản rõ ràng, chặt chẽ do các câu, các đoạn được sắp xếp theo trật tự mạch lạc, làm nổi bật lập luận trong từng đoạn, cả bài.

Câu 2:

– Đoạn thẳng:

+ Ngôn ngữ thông thường: Đoạn không cong queo, gãy khúc, không lệch về một bên nào cả.

+ Ngôn ngữ khoa học: Đoạn ngắn nhất nối hai điểm với nhau.

– Mặt phẳng:

+ Ngôn ngữ thông thường: Bề mặt của một vật bằng phẳng, không lồi, lõm, gồ ghề.

+ Ngôn ngữ khoa học: là một khái niệm cơ bản trong toán học, là một tập hợp tất cả các điểm trong không gian ba chiều.

– Góc:

+ Ngôn ngữ thông thường: Có thể là một phần, một phía ( Ăn hết một góc; “Triều đình riêng một góc trời/ Gồm hai văn võ rạch đôi sơn hà”)

+ Ngôn ngữ khoa học: Phần mặt phẳng giới hạn bởi hai nửa đường thẳng cùng xuất phát từ một điểm

Tương tự các từ còn lại như điểm, đường thẳng, đường tròn, góc vuông, … các bạn có thể tự giải thích và phân biệt.

Câu 3:

– Đoạn văn dùng nhiều thuật ngữ khoa học: khảo cổ, hạch đá, mảnh tước, di chỉ xương, …

– Câu văn mang tính phán đoán logic: Những phát hiện của nhà khảo cổ … của người vượn. (câu 1)

– Các câu liên kết chặt chẽ và mạch lạc:

+ Câu 1: Nêu luận điểm (một phán đoán)

+ Câu 2 + 3 + 4: Nêu 3 luận cứ, mỗi luận cứ là một chứng tích trong khảo cổ.

Các bài soạn văn lớp 12

Ngôn Ngữ Chuyên Ngành Nhìn Từ Góc Độ Phương Pháp Giao Tiếp Trong Khoa Học Và Tiếp Nhận Văn Bản Khoa Học / 2023

Trong quá trình đào tạo và tự đào tạo, cùng với toàn bộ các kiến thức về chuyên môn nhất định, người học cần nắm vững một lượng tối thiểu các kiến thức về lí luận và thực hành phong cách ngôn ngữ khoa học, cũng như ngôn ngữ chuyên ngành của mình. Hiện nay, ở Việt Nam, phong cách ngôn ngữ khoa học và ngôn ngữ chuyên ngành còn chưa được giảng dạy trong hầu hết các cơ sở đào tạo như một môn học chính khóa. Vấn đề này sẽ trở nên phức tạp hơn nhiều khi công việc cần đến ngoại ngữ chuyên ngành, khi người làm chuyên môn cần nắm vững chuyên ngành của mình bằng tiếng nước ngoài và chuyển dịch được các kiến thức về chuyên ngành đó sang tiếng Việt một cách chính xác và đầy dủ.

Cơ sở để nắm vững ngôn ngữ chuyên ngành cụ thể trong giao tiếp và tiếp nhận văn bản khoa học là phong cách ngôn ngữ khoa học. Trong hệ thống các phong cách ngôn ngữ chức năng tiếng Việt, phong cách ngôn ngữ khoa học chiếm vị trí đặc biệt quan trọng. Có thể nói rằng phong cách ngôn ngữ khoa học, ở dạng nói cũng như viết, hoạt động dưới dạng đặc thù của ý thức xã hội và tư duy một cách khách quan và khoa học dựa trên hệ thống các kiến thức cụ thể về con người, về xã hội và về thế giới vật chất. Phong cách ngôn ngữ khoa học và ngôn ngữ khoa học cụ thể tạo nên thế giới ngôn ngữ khác so với thế giới ngôn ngữ của khẩu ngữ tự nhiên. Mỗi khoa học cụ thể như toán học, sinh học, xã hội học, luật học v.v. đều tạo nên bức tranh riêng biệt về thế giới khoa học của mình và thể hiện sự lựa chọn các phương tiện ngôn ngữ cũng như kiểu loại văn bản khoa học nhất định một cách đặc thù.

Ngoài những đặc trưng riêng biệt, phong cách ngôn ngữ khoa học thể hiện hàng loạt đặc điểm chung đối với tất cả các lĩnh vực khoa học khác nhau. Không phụ thuộc vào đối tượng mô tả, vào kiểu tư duy hoặc phương pháp nghiên cứu, phong cách ngôn ngữ khoa học được đặc trưng bởi các dấu hiệu ngoại ngôn ngữ như tính chính xác, trừu tượng, lôgíc và khách quan (theo M.N.Kozưna). Các đặc trưng này của phong cách ngôn ngữ khoa học ở các mức độ khác nhau được thể hiện cả trong các phong cách ngôn ngữ chức năng khác như hành chính – công vụ, chính luận – báo chí và thậm chí trong hàng loạt cách diễn trong khẩu ngữ tự nhiên. Tuy nhiên, cần nhấn mạnh rằng các dấu hiệu ngoại ngôn ngữ đã nêu đều cần thiết và bắt buộc đối với việc tạo lập văn bản khoa học và giao tiếp trong lĩnh vực khoa học.

Việc nghiên cứu phong cách ngôn ngữ khoa học và các phương tiện ngôn ngữ kèm theo được thực hiện trong giao tiếp khoa học, trước hết, dựa trên cơ sở của sự chọn lựa. Việc chọn lựa này được thực hiện một cách liên tục, bởi văn bản khoa học là đối tượng chính trong hoạt động của quá trình đào tạo và tự đào tạo. Văn bản khoa học là kiểu văn bản đặc thù với hàng loạt hạn chế có tính nguyên tắc về từ vựng – ngữ nghĩa, với ngữ pháp đặc trưng và các dấu hiệu riêng về cấu trúc, thể loại v.v. Xét về mặt chức năng ngôn ngữ, văn bản khoa học khác với các thể loại văn bản hành chính và văn học về sự lựa chọn các phương tiện biểu đạt văn bản. Văn bản khoa học sử dụng tích cực các dạng thức và thủ thuật tư duy đặc biệt như loại suy và giả định, các công thức và hình vẽ mô tả. Có thể thấy rằng văn bản khoa học tuân thủ sự lựa chọn theo trình tự: S (chủ thể giao tiếp) – O (đối tượng mô tả) – R (địa chỉ giao tiếp). Ở đây, nhân tố chủ thể phần lớn xác định tổ chức tình thái của văn bản khoa học; nhân tố đối tượng mô tả thể hiện nội dung thông tin khoa học bao gồm cấu tạo của văn bản và sự lựa chọn các phương tiện ngôn ngữ đặc thù; nhân tố địa chỉ giao tiếp được phản ánh qua việc lựa chọn các dạng thức, thể loại văn bản và phong cách ngôn ngữ. Một văn bản khoa học bất kì đều có thể hàm chứa các yếu tố mang tính hội thoại công khai và tiềm ẩn. Như vậy, các thể loại văn bản, sự đa dạng về nội dung và phong cách ngôn ngữ của văn bản phụ thuộc vào nội dung giao tiếp chủ yếu của văn bản.

Vấn đề chủ yếu trong chọn lựa là tường thuật khoa học. Trên thực tế, văn bản khoa học được tạo lập bởi một số hạn chế ngôn ngữ như cấu tạo chủ yếu bởi các danh từ, sử dụng từ loại ngôi thứ I số nhiều (chúng tôi, chúng ta), vô nhân xưng, bị động v.v. Sự chọn lựa được thực hiện trong việc sử dụng nhiều danh từ, cụm danh từ và ngữ định danh. Có thể nhận thấy rõ rằng chiếm tần số cao trong các văn bản khoa học là các từ và cụm từ mang nghĩa trừu tượng, danh động từ, trong đó số lượng các phương tiện liên kết cú pháp tăng một cách đáng kể.

Đặc biệt quan trọng đối với giao tiếp khoa học là thuật ngữ chuyên ngành đòi hỏi các kiến thức về chuyên môn và nỗ lực đặc biệt của độc giả để có thể đọc và hiểu văn bản theo chuyên ngành nhất định. Sự chọn lựa được thể hiện ở việc cần thiết sử dụng các đoản ngữ đã được thuật ngữ hóa trong các văn bản khoa học. Như vậy, lựa chọn đúng các phương tiện ngôn ngữ cần thiết là điều kiện để tạo lập văn bản khoa học, và rộng hơn là điều kiện hoạt động của phong cách ngôn ngữ khoa học.

Vấn đề quan trọng nhất để tổ chức ngôn từ khoa học và văn bản khoa học là tính hệ thống, là sự tổ chức toàn diện các phương tiện ngôn ngữ để tạo nên bức tranh thế giới có tính khoa học. Có thể nhận thấy rằng tính hệ thống được thể hiện trong mỗi phong cách chức năng của ngôn ngữ. Theo M.N.Kozưna, phong cách ngôn ngữ được tạo thành chính bởi hệ thống các phương tiện liên kết, trong tổng thể xác định các đặc trưng cho dạng lời, tạo ra đặc tính mà chúng ta cảm nhận theo trực giác, ví dụ như phong cách ngôn ngữ khoa học, phong cách ngôn ngữ hành chính, phong cách ngôn ngữ báo chí v.v. Tuy nhiên, không ở đâu, không trong bất kì phong cách ngôn ngữ nào mà tính hệ thống được thể hiện rõ nét và nghiêm ngặt như trong phong cách ngôn ngữ khoa học. Tính hệ thống của việc chọn lựa và tổ chức các phương tiện ngôn ngữ trong ngôn ngữ khoa học hoàn toàn tương ứng với các dấu hiệu ngoại ngôn ngữ của tính chính xác, trừu tượng, lôgích và khách quan. Do chịu các hạn chế theo truyền thống về việc sử dụng các phương tiện xúc cảm và biểu cảm, về lựa chọn các phương tiện hình thái và cú pháp, ngôn từ khoa học phải loại bỏ nhiều khả năng của ngôn ngữ toàn dân để tuân thủ tính hệ thống, lôgích rành mạch và chính xác nghiêm ngặt.

Trong văn bản khoa học, mối quan hệ của các yếu tố được thể hiện một cách rõ ràng, từ được lặp lại, trật tự từ trung hòa, tính chuẩn mực về cấu trúc ngữ nghĩa, kết cấu và các đặc trưng khác của văn bản hoàn toàn tương ứng với các yêu cầu về tính hệ thống của một văn bản khoa học và chỉ thay đổi khi có yêu cầu của các khoa học riêng biệt.

Trong các cơ sở đào tạo và nghiên cứu thuộc khối các lĩnh vực khoa học và công nghệ, ngôn ngữ được sử dụng là ngôn ngữ chuyên ngành. Cán bộ giảng dạy tiếng Anh hoặc ngoại ngữ tại các cơ sở đào tạo nói trên không chỉ đơn giản nghiên cứu phong cách ngôn ngữ khoa học, mà là nghiên cứu ngôn ngữ chuyên ngành.

Nghiên cứu ngôn ngữ chuyên ngành là quá trình thực hành phong cách ngôn ngữ khoa học trong hệ thống sử dụng lĩnh vực kiến thức nhất định và chuyên ngành cụ thể. Trong lĩnh vực phương pháp luận nói riêng, đây là lĩnh vực dạy ngoại ngữ đảm bảo giao tiếp khoa học học đường và chuyên môn khi lĩnh hội các kiến thức chuyên ngành tại cơ sở đào tạo bằng ngôn ngữ được học.

Đơn vị hành chức chủ yếu của quá trình dạy và học ngôn ngữ chuyên ngành là văn bản khoa học mà người học cần có kĩ năng đọc, hiểu, tái tạo và tạo lập. Vì vậy, vấn đề thực hành văn bản khoa học bao giờ cũng được bắt đầu từ phương pháp dạy và đọc hiểu. Một điều quan trọng khác về nắm vững ngôn ngữ chuyên ngành là khả năng nghe bài giảng hoặc nghe hiểu một vấn đề. Các kĩ năng đọc và nghe hiểu trong các lĩnh vực khoa học luôn mở ra con đường tiến tới nắm vững ngôn ngữ độc thoại và hội thoại chuyên ngành.

1. Беляева Л.Н. Теория и практика перевода. Санкт-Петербург, 2003.

2. Волхова З.Н. Научно-технический перевод. М., 2000.

3. Жукова В.В. К вопросу об интенсификации процесса обучения взрослых иностранному языку (на материале английского языка). – с. 291 – 303.

4. Метс Н.А. Особенности синтаксиса научного стиля речи и проблемы обучения иностранных учащихся. М., МГУ, 1979.

5. Митрофанова О.Д. Научный стиль речи: проблемы обучения. М., 1985.

6. Основы научной речи. Под ред. В.В.Химика, Л.Б.Волковой. М. – СПб, 2003, с.5.

7. Федоров А.В. Основы общей теории перевода. М., “Высшая школа”, 1983.

8. Дао Хонг Тху. Характерные особенности перевода научного текста эпохи межъязыковой коммуникации – Прикладная лингвистика: новый век. Сб. научно-методических статей, вып.1, С-Петербург, 2006, с.48-55.

9. Nguyễn Hữu Quỳnh. Tiếng Việt hiện đại. Hà Nội, Trung tâm biên soạn Bách khoa Việt Nam, 1994.

10. Nguyễn Kim Thản và những người khác. Tiếng Việt trên đường phát triển. Nxb.KHXH, 1982.

TS.Đào Hồng Thu

Tạp chí Ngôn ngữ và Đời sống, số tháng 4/2007.