Ngữ Văn 9 Văn Bản Bếp Lửa / TOP #10 Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 8/2022 # Top View | Bac.edu.vn

Soạn Bài: Bếp Lửa – Ngữ Văn 9 Tập 1

--- Bài mới hơn ---

  • Tóm Tắt Nội Dung Bài Thơ Bếp Lửa Của Bằng Việt
  • Đóng Vai Người Cháu Trong Văn Bản “Bếp Lửa”
  • Đóng Vai Người Cháu Kể Lại Bài Thơ Bếp Lửa Của Bằng Việt
  • Đọc Hiểu Văn Bản: Bài Thơ Về Tiểu Đội Xe Không Kính (Phạm Tiến Duật)
  • Bài Văn: Biểu Cảm Về Loài Cây Em Yêu: Cây Phượng
  • I. Tác giả, tác phẩm

    1. Tác giả (các em tham khảo phần giới thiệu tác giả Bằng Việt trong SGK Ngữ văn 9 Tập 1).

    2. Tác phẩm

    * Xuất xứ: Bài thơ Bếp lửa được sáng tác vào năm 1963, khi tác giả đang là sinh viên học Luật ở nước ngoài. Bài thơ được đưa vào tập Hương cây – Bếp lửa, tập thơ đầu tay của Bằng Việt và Lưu Quang Vũ.

    * Thể thơ: tự do

    * Bố cục: Bài thơ Bếp lửa có thể được chia làm 4 phần:

    • Phần 1: khổ 1: Hình ảnh bếp lửa và sự khơi nguồn cảm xúc
    • Phần 2: 4 khổ tiếp: Những kỉ niệm thời thơ ấu sống bên bà và hình ảnh người bà gắn liền với hình ảnh bếp lửa
    • Phần 3: 2 khổ tiếp: Suy ngẫm của cháu về bếp lửa và người bà
    • Phần 4: khổ cuối: Niềm thương nhớ của người cháu với người bà khi đi xa.

    II. Hướng dẫn soạn bài

    Câu 1:

    * Bài thơ là lời của nhân vật người cháu nói về người bà, nói về tình yêu thương mà bà đã giành cho cháu trong những ngày tháng gian khổ.

    * Bố cục của bài thơ ở mục trên.

    Câu 2:

    * Trong hồi tưởng của người cháu, rất nhiều những kỉ niệm về bà và tình bà cháu đã được gợi lại:

    • Nạn đói vào năm 1945, lúc đấy, người cháu mới lên 4 tuổi, năm đó đã trở thành bóng đêm ghê rợn ám ảnh người cháu cho đến tận bây giờ.
    • Rồi khi cha mẹ bận đi công tác, 8 năm người cháu ở cùng bà, được bà dạy cho học, dạy làm, được bà kể chuyện cho nghe, trao cho cháu cả tình yêu thương của một người mẹ, người cha, ngày ngày bà cặm cụi nhóm lửa nuôi lớn cháu.

    Câu 3:

    Hình ảnh bếp lửa xuất hiện xuyên suốt bài thơ và được nhắc tới 10 lần. Khi nhắc đến hình ảnh bếp lửa thì người cháu nhớ đến bà và ngược lại, khi nhớ về bà là nhớ ngay đến hình ảnh bếp lửa. Điều đó là do hình ảnh bếp lửa đã trở thành biểu tượng, bà và bếp lửa là hai mà như một, bà châm ngọn lửa, đó không chỉ là ngọn lửa củi, lửa rơm, mà đó còn là “ngọn lửa chứa niềm tin dai dẳng”, ngọn lửa của tình yêu thương, ấp ủ.

    Tác giả viết: “Ôi kì lạ và thiêng liêng – bếp lửa !”, đây là một hình ảnh giản dị ghi dấu tình bà cháu thiêng liêng, lưu giữ cả một tuổi thơ khổ cực gian khó nhưng tràn đầy tình yêu thương, ấm áp.

    Câu 4:

    Rồi sớm rồi chiều lại bếp lửa bà nhen

    Một ngọn lửa lòng bà luôn ủ sẵn

    Một ngọn lửa chứa niềm tin dai dẳng.

    Ở hai câu thơ dưới, tác giả dùng từ “ngọn lửa” mà không nhắc lại “bếp lửa” là vì từ “ngọn lửa” mang tính khái quát cao, ngọn lửa mang tính biểu tượng. Đây không phải ngọn lửa để nấu nướng mà là ngọn lửa của tình yêu thương của người bà. Nó mang đến hơi ấm và tỏa sáng như bà đang trao tình cảm ấm áp cho người cháu.

    Theo em, những câu thơ trên muốn nói tình yêu thương to lớn của người bà luôn tỏa sáng, ấm áp, không thể nào dập tắt được và truyền lại cho thế hệ mai sau.

    Câu 5:

    * Cảm nhận về tình cảm bà cháu được thể hiện trong bài thơ: tình cảm bà cháu trong bài thơ rất sâu nặng, cứ nhẹ nhàng, giản dị mà thấm thía, sâu xa. Tình cảm ấy như đã vượt qua chiều dài của thời gian, chiều rộng của không gian, neo đậu mãi trong tim người cháu. Tuổi thơ của cháu đã đi qua bao tháng năm đồng nghĩa với việc khoảng cách giữa cháu và bà cũng đã xa vời vợi nhưng cháu chẳng lúc nào quên nhớ về bà, nhớ về những kỉ niệm tuổi thơ bên bà. Có thể nói, tình yêu và lòng biết ơn đối với người bà của cháu cũng chính là tình yêu đối với quê hương, đất nước.

    1.8

    /

    5

    (

    22

    bình chọn

    )

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đáp Án Môn El07
  • Tổng Hợp Các Văn Bản Pháp Luật Liên Quan Đến Lĩnh Vực Bất Động Sản
  • Bộ Xây Dựng Trả Lời
  • Bài Văn: Kể Lại Truyện “Bánh Chưng, Bánh Giầy” Bằng Lời Văn Của Em (1)
  • Báo Cáo Ngày 15/8/2019 (Tính Đến 17H00 Ngày 15/8/2019)
  • Bài Giảng Ngữ Văn 9 Tiết 56: Văn Bản Bếp Lửa (Bằng Việt)

    --- Bài mới hơn ---

  • Giáo Án Ngữ Văn 9
  • Phân Tích Bài Thơ Bếp Lửa Của Nhà Thơ Bằng Việt
  • Phân Tích Bài Thơ “bếp Lửa” Của Bằng Việt
  • Kiểm Tra Kiến Thức Lớp 9 (Văn Bản: ” Đồng Chí” Và ” Bài Thơ Về Tiểu Đội Xe Không Kính”)
  • Phân Tích Bài Thơ Về Tiểu Đội Xe Không Kính
  • ? Em hãy nêu những hiểu biết của em về tác giả Bằng Việt?

    – Bằng Việt ( 1941)- Quê:Hà Tây.

    – Thuộc lớp nhà thơ trưởng thành trong kháng chiến chống Mỹ.

    – Trải qua nhiều công việc : làm báo, đi chiến trường, biên tập, dịch thơ – truyện. Giữ các chức vụ quan trọng: Tổng thư kí hội văn học Hà Nội, uỷ viên BCH hội nhà văn Việt Nam, hiện là chủ tịch hội Liên hiệp văn học Hà Nội.

    Chµo mõng c¸c thµy c" gi¸ovÒ dù giê héi gi¶ng KiÓm tra bµi cò:Hai khổ thơ đầu của bài "Đoàn thuyền đánh cá" diễn tả điều gì ?A. Cảnh hoàng hôn trên biển cả.B. Cảnh đoàn thuyền đánh cá trên bãi biểnC. Cảnh đoàn thuyền đánh cá ra khơiD. Cảnh đoàn thuyền đánh cá trở vềEm hãy phân tích cảnh đoàn thuyền đánh cá trở về ?BÕp löaTiÕt 56:V¨n b¶n:( B"ng ViÖt)BÕp löaI/ Tìm hiểu tác giả - tác phẩm:1. Tác giả:- Bằng Việt ( 1941)- Quê:Hà Tây.- Thuộc lớp nhà thơ trưởng thành trong kháng chiến chống Mỹ.- Trải qua nhiều công việc : làm báo, đi chiến trường, biên tập, dịch thơ - truyện. Giữ các chức vụ quan trọng: Tổng thư kí hội văn học Hà Nội, uỷ viên BCH hội nhà văn Việt Nam, hiện là chủ tịch hội Liên hiệp văn học Hà Nội.? Em hãy nêu những hiểu biết của em về tác giả Bằng Việt?I/ Giới thiệu tác giả - tác phẩm:2. Tác phẩm:Bài thơ Bếp Lửa sáng tác 1963, khi tác giả đang là sinh viên học ngành Luật ở nước ngoài. Bài thơ được đưa vào tập "Hương cây- Bếp lửa" (1968), Tập thơ đầu tay của Bằng Việt và Lưu Quang Vũ.Em hãy nêu hoàn cảnh ra đời và thời gian sáng tác bài thơ này?-Thơ Bằng Việt trong trẻo, mượt mà, khai thác những kỉ niệm và mơ ước tuổi trẻ nên gần gũi với bạn đọc trẻ nhất là trong nhà trường.II. Đọc - Hiểu văn bản1. Đọc và tìm hiểu chú thích:Cách đọc :Đọc với giọng tình cảm chậm rãi và lắng đọng.Giải thích từ:Đinh ninh: nhắc lại cho người khác nắm chắc, nhớ chắc.Chiến khu: vùng căn cứ của lực lượng cách mạng hay lực lượng kháng chiến.Ấp iu: là sự kết hợp của 2 từ ấp ủ và nâng niu.TiÕt 56:V¨n b¶n:BÕp löa( B"ng ViÖt)+Khổ 1. Bếp lửa khơi nguồn kỉ niệm.+ Năm khổ tiếp: Hồi tưởng những kỉ niệm tuổi thơ sống bên bàvà hình ảnh bà gắn liền với hình ảnh bếp lửa.+ Khổ 6. Suy nghĩ về bà và cuộc đời bà.+ Khổ cuối: Nỗi niềm thương nhớ bà của người cháu xa quê.II. Đọc hiểu văn bản2. Bố cục và thể loại.- Thể thơ: Tám chữ- Phương thức biểu đạt: Biểu cảm kết hợp tự sự và miêu tả.- Bố cục văn bản? Văn bản có thể chia làm mấy phần?II. Đọc - Hiểu văn bản3. Phân tích: a. Khổ thơ đầu.? Em hãy khái quát ý nghĩa của ba câu thơ đầu ? Ba câu thơ đầu khơi nguồn dòng hồi tưởng của người cháu.3. Phân tích: a. Khổ thơ đầu. ? Hình ảnh bếp lửa được hình dung trong trí nhớ của tác giả như thế nào ? II. Đọc - Hiểu văn bản(Khơi nguồn cảm xúc của cháu.)Một bếp lửa chờn vờn sương sớm.Một bếp lửa ấp iu nồng đượmNhững câu thơ trên sử dụng biện pháp nghệ thuật gì? BÕp löa( B"ng ViÖt)TiÕt 56:V¨n b¶n:I/ §äc, hiÓu chó thÝch:II/ §äc - hiÓu v¨n b¶n: 3.Phân tích. a. Khổ thơ đầuMét bÕp löa s­¬ng símMét bÕp löa nång ®­îmCh¸u th­¬ng bµTõ l¸y "chên vên" Gîi bµn tay kiªn nhÉn, khÐo lÐo cña ng­êi nhãm löaGîi tÊm lßng chi chót cña bµ dµnh cho con ch¸uGîi bÕp löa thùc bËp bïng trong s­¬ng símGîi c¸i mê nhoÌ cña bÕp löa trong kØ niÖmÊp iuchên vênÊp iubiÕt mÊy n¾ng m­achên vênÊp iubiÕt mÊy n¾ng m­aH×nh ¶nh Èn dô " biÕt mÊy n¾ng m­a"Gîi vÎ ®Ñp tÇn t¶o, chÞu th­¬ng chÞu khã cña bµNg­êi ch¸u th­¬ng bµ v" h¹n? Hình ảnh " Biết mấy nắng mưa" hay ở chỗ nào?" Biết mấy nắng mưa" là một cách nói ẩn dụ gợi ra phần nào cuộc đời vất vả, lo toan của bà.Từ hình ảnh bếp lửa, liên tưởng tự nhiên đến người nhóm lửa- đến nỗi nhớ, tình thương với bà của đứa cháu đang ở chúng tôi Đọc - Hiểu văn bản3. Phân tích: 3. Phân tích: a. Khổ thơ đầu.Tình cảm bà cháu thiêng liêng ấy cứ như một dòng sông với con thuyền nhỏ chở đầy ắp những kỉ niệm mà suốt cuộc đời này chắc người cháu không bao giờ quên được và cung chính từ đó, sức ấm và ánh sáng của bếp lửa cũng như của tình bà cháu cứ lan toả toàn bài thơII. Đọc - Hiểu văn bản3. Phân tích:b.Những khổ thơ tiếp theoII. Đọc - Hiểu văn bảnTrong dòng hồi tưởng của cháu, những kỉ niệm nào về bà và tình bà cháu được gợi lại ? Đó là những kỉ niệm hồi cháu lên 4 tuổi và những năm giặc càn quét.(Hồi tưởng những kỉ niệm tuổi thơ sống bên bà )? Ấn tượng sâu đậm trong lòng cháu hồi 4 tuổi là gì?* Năm cháu 4 tuổi.Năm ấy là năm đói mòn đói mỏiBố đi đánh xe, khô rạc ngựa gầy3. Phân tích:? Hình ảnh nào? Chi tiết nào ám ảnh mãi trong tâm trí tác giả đến bây giờ nghĩ lại vẫn vô cùng xúc động?II. Đọc - Hiểu văn bảnĐói mòn đói mỏiGợi những năm gian khổ(trong k/c chống Pháp)- Cái đói kéo dài , làm mỏi mệt và kiệt sức mọi người. (Thành ngữ) Sâu đậm nhất trong kỉ niệm của cháu vẫn là mùi khói bếp. "khói hun nhèm mắt cháu"Khói nhiều, cay, khét vì củi ướt, vì sương nhiều và lạnh. Hình ảnh bếp lửa, ngọn khói,mùi khói cùng hình ảnh bà hiện ra trong nỗi nhớ thương ngậm ngùi của người cháu.II. Đọc - Hiểu văn bảnT¸m n¨m rßng ch¸u cïng bµ nhãm löaTu hó kªu trªn nh÷ng c¸nh ®ång xaKhi tu hó kªu, bµ cßn nhí kh"ng bµBµ hay kÓ chuyÖn nh÷ng ngµy ë HuÕTiÕng tu hó sao mµ tha thiÕt thÕ!MÑ cïng cha c"ng t¸c bËn kh"ng vÒCh¸u ë cïng bµ, bµ b¶o ch¸u ngheBµ d¹y ch¸u lµm, bµ ch¨m ch¸u häc.Nhãm bÕp löa nghÜ th­¬ng bµ khã nhäc,Tu hó ¬i! Ch¼ng ®Õn ë cïng bµKªu chi hoµi trªn nh÷ng c¸nh ®ång xa?* Trong tám năm ròngTrong hồi tưởng của cháu , Kỉ niệm nào khác nữa về bà được nhắc tới ?Tiếng chim tu hú vang vọng trên những cánh đồng chúng tôi Đọc - Hiểu văn bảnTiếng chim tu hú? Vì sao tiếng tu hú ám ảnh tâm trí người cháu đến thế?Tiếng tu hú là âm thanh quen thuộc ở đồng quê, người xa nhà nhớ quê là nhớ tiếng tu hú.Nhắc tới kỉ niệm trong tám năm này, tác giả còn nhắc tới những điều gì nữa về bà ?Tám năm đó, cháu ở cùng bà. Bà bảo cháu nghe, bà dậy cháu làm, bà chăm cháu họcbên ánh lửa hồng mà bà chăm chút.? Theo em,có nỗi niềm nào của người cháu vang vọng trong lời thơ: Tiếng tu hú báo mùa hè, râm ran trong vòm lá, trên cánh đồng cứ khắc khoải kêu mãi, kêu hoài, trong thực tế đã da diết, trong nỗi nhớ lại càng da diết hơn...!Thể hiện nỗi nhớ quê, nhớ bà và đặc biệt là tình thương bà vô hạn của cháu.Yếu tố biểu cảm thật đậm nét .Bà sớm hôm chăm chút cho cháu.Với những dòng thơ tự sự nhưng chân tình và sâu sắc,đã tô đậm hình bà trong lòng người cháu xa quê !"Tu hú ơi ! Chẳng đến ở cùng bà Kêu chi hoài trên những cánh đồng xa ?" Em có nhận xét gì về tác dụng của yếu tố biểu cảm và tự sự trong đoạn thơ này ?Năm giặc đốt làng cháy tàn cháy rụiHàng xóm bốn bên trở về lầm lụiĐỡ đần bà dựng lại túp nều tranhVẫn vững lòng, bà dặn cháu đinh ninh:"Bố ở chiến khu, bố còn việc bố,Mày có viết thư chớ kể này kể nọ, Cứ bảo ở nhà vẫn được bình yên ! "Rôi sớm rồi chiều lại bếp lửa bà nhenMột ngọn lửa lòng bà luôn ủ sẵnMột ngọn lửa chứa niềm tin dai dẳng...* Trong những năm giặc càn.Trong thời gian này, hồi tưởng của cháu về bà và bếp lửa như thế nào ?? Đoạn thơ sử dụng lời dẫn. Đó là lời dẫn trực tiếp hay gián tiếp?hãy chỉ ra lời dẫn đó?Đó là lời dẫn trực tiếp.? Đoạn thơ dẫn trực tiếp lời dặn cháu của bà nhằm mục đích gì? Không chỉ giúp ta hình dung rõ giọng nói, suy nghĩ, tình cảm của bà mà còn làm sáng lên phẩm chất người bà - người mẹ Việt Nam yêu nước đầy lòng hy sinh.Đoạn thơ còn sử dụng biện pháp nghệ thuật gì ? Điệp ngữ : " Một ngọn lửa"Vì sao ở đây tác giả lại dùng từ "ngọn lửa" mà không nhắc lại "bếp lửa" ? Ngọn lửa ở đây có ý nghĩa gì ?Từ hình ảnh bếp lửa cụ thể tĩnh tại, tương đối khách quan. Theo mạch cảm xúc chuyển thành ngọn lửa trừu tượng hơn, nhiều ý nghĩa hơn. Đó là ngọn lửa của tấm lòng ấm áp của tình yêu thương, ngọn lửa của niềm tin dai dẳng và bền chặt vào cuộc kháng chiến. Đến đây bà không chỉ là người nhóm lửa, giữ lửa mà cò là người truyền lửa - Ngọn lửa của niềm tin.Lận đận đời bà biết mấy nắng mưaMấy chục năm rồi, đến tận bây giờBà vẫn giữ thói quen dậy sớmNhóm bếp lửa ấp iu nồng đượmNhóm niềm yêu thương, khoai sắn ngọt bùiNhóm nồi xôi gạo mới sẻ chung vuiNhóm dậy cả những tâm tình tuổi nhỏÔi kì lạ và thiêng liêng-bếp lửa!II. Đọc - Hiểu văn bảnC. Khổ 6(Suy ngẫm về bà và cuộc đời bà).? Đoạn thơ đã sử dụng biện pháp nghệ thuật gì ?Sử dụng điệp ngữ.- Biết mấy nắng mưa- NhómHình ảnh bà như hiện lên càng đậm nét hơn trong cháuBà lận đậnQua nắng mưa Giữ thói quen dậy sớm.? Hình ảnh bếp lửa được bà nhóm lên trong đoạn này là gì ?Nhóm bếp lửa ấp iu nồng đượmNhóm niềm yêu thương , khoai sắn ngọt bùiNhóm nồi xôi gạo mới sể chung vuiNhóm dậy cả những tâm tình tuổi nhỏ.Em hãy nêu ý nghĩa của các hình ảnh trên ?Bà nhóm "nồi xôi gạo mới" là nhóm lên tình yêu thương san sẻ cho bà con xóm giềng thân thuộc."Nhóm tâm tình tuổi nhỏ" là nhóm lên vẻ đẹp tâm hồn, thắp sáng ước mơ cho cháu.Bà nhóm "niềm yêu thương khoai sắn" là nhóm lên tình yêu thương chi chút dành cho con cháu? Vì sao tác giả đi tới khẳng định ngợi ca: "Ôi kì lạ và thiêng liêng - bếp lửa !"?Vì bếp lửa giản dị bình thường phổ biến trong mọi gia đình Việt Nam nhung bếp lửa cũng thật cao quý kỳ diệu và thiêng liêng vì nó gắn liền với bà - người nhóm lửa, giữ lửa, truyền lửa, người tạo lên tuổi thơ của cháu. Bếp lửa trở thành một mảnh tâm hồn, một phần không thể thiếu trong đời sống tinh thần của cháu.Thảo luân .Tại sao khi nhắc đến bếp lửa là người cháu nhớ đến bà, và ngược lại, khi nhớ về bà là nhớ ngay đến hình ảnh bếp lửa ?Trong bài thơ có hai hình ảnh nổi bật, gắn bó mật thiết và trở đi trở lại nhiều lần, đó là bà và bếp lửa. Trong dòng hồi tưởng của cháu hai hình ảnh ấy luôn gắn bó.Vì bà luôn là người nhóm lên bếp lửa mỗi sáng, mỗi chiều và suốt cả cuộc đời bà, trong mọi cảnh ngộ, từ những ngày gian khó đến những lúc yên vui.Bếp lửa là biểu hiện đầy gợi cảm về sự tảo tần ,chăm sóc, yêu tương maà bà dành cho cháu.Bếp lửa là tình bà ấm nồng, là tay bà chăm chút. Bếp lủa gắn với cuộc đời bà,gắn với tình yêu thương chi chút bà dành cho con cháu và mọi người.Suy nghĩ về bà và cuộc đời bàBà không chỉ là người nhóm lửa, giữ lửa mà còn là người truyền lửa.Hình ảnh bếp lửaHình ảnh quen thuộcKhơi nguồn cảm hứng Nhớ về bà và tình cảm của 2 bà cháuHồi tưởng kỷ niệm bên bàKN năm 4 tuổi,những năm đói khổ rồi những năm k/c của đất nước.Cháu ở xa không nguôi nhớ bàNội dung bài học.Qua tìm hiểu nội dung bài học em hãy nêu mạch cảm xúc của bài thơMạch cảm xúc của bài thơ :Hướng dẫn về nhàHọc thuộc lòng bài thơ.Nắm được cấu trúc của bài theo dòng hồi tương của tác giả.Soạn tiếp phần còn lại và xem trước bài thơ " Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ"để chuẩn bị cho tiết chúng tôi chân thành cảm ơnThầy cô và các em

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ngữ Văn 9 Văn Bản Bếp Lửa Bai 11 Bep Lua Nhung Ppt
  • 2 Bài Văn Mẫu Giới Thiệu Về Bài Thơ Bếp Lửa Của Bằng Việt
  • Bai Thuyet Trinh Van Hoc Bep Lua Bang Viet
  • Phân Tích Bài Thơ ‘bếp Lửa’ Của Bằng Việt
  • Nghị Luận Tác Phẩm Bếp Lửa Của Bằng Việt
  • Soạn Bài Bếp Lửa, Ngữ Văn 9, Tập 1

    --- Bài mới hơn ---

  • Ý Nghĩa Nhan Đề Bài Thơ Bếp Lửa Của Bằng Việt
  • Sơ Đồ Tư Duy Bếp Lửa
  • Tóm Tắt Giá Trị Nội Dung Và Nghệ Thuật Của Bài Thơ Bếp Lửa
  • Tổng Hợp Đề Đọc Hiểu Bếp Lửa
  • Tổng Hợp Câu Hỏi Bài Thơ: Bếp Lửa (Bằng Việt)
  • Đến với phần soạn bài Bếp lửa (Bằng Việt), chúng ta sẽ được quay trở về miền kí ức tuổi thơ qua những kỉ niệm êm đềm, hạnh phúc của tác giả về bếp lửa hồng, về người bà yêu dấu – đây đều là những hình ảnh vô cùng quen thuộc, gần gũi, in sâu trong tâm hồn của đứa cháu xa quê, bên cạnh đó ta cũng cảm nhận được tình cảm sâu nặng của nhà thơ đối với người bà của mình.

    Soạn bài Bếp lửa – Bằng Việt, ngắn 1

    Bố cục:

    – Phần 1 (khổ thơ đầu): Hình ảnh bếp lửa gợi nỗi nhớ về bà của người cháu.

    – Phần 2 (bốn khổ thơ tiếp theo): Những kí ức tuổi thơ khi còn sống cùng bà và hình ảnh bà gắn liền với bếp lửa.

    – Phần 3 (khổ thơ tiếp theo): Suy ngẫm của người cháu về cuộc đời bà.

    – Phần 4 (khổ thơ cuối): Tình cảm của cháu dành cho bà dù đã khôn lớn, đã rời xa vòng tay chở che của bà.

    Hướng dẫn soạn bài

    Câu 1:

    a. Bài thơ là lời của người cháu nói về bà, nói về tình yêu thương tha thiết mà bà đã giành cho cháu trong những ngày gian khổ.

    b. Bài thơ có bố cục bốn phần:

    – Ba dòng thơ đầu: Hình ảnh bếp lửa đã khơi nguồn cho dòng hồi tưởng cảm xúc về bà.

    – Bốn khổ thơ tiếp theo (từ Lên bốn tuổi đến Chứa niềm tin dai dẳng): Hồi tưởng những kỷ niệm tuổi thơ sống bên bà và hình ảnh bà gắn liền với hình ảnh bếp lửa.

    – Hai khổ thơ tiếp theo (từ Lận đận đời bà đến thiêng liên – bếp lửa): Suy ngẫm về bà và cuộc đời bà.

    – Khổ cuối: Cháu đã trưởng thành, đã đi xa nhưng không nguôi nhớ về bà.

    Câu 2:

    Trong hồi tưởng của người cháu biết bao kỷ niệm thân thương đã được gợi lại:

    – Năm lên bốn tuổi là năm đói kém, nhọc nhằn (1945). Nạn đói năm ấy đã trở thành bóng đen ghê rợn ám ảnh cháu.

    – Tám năm ở cùng bà khi che mẹ bận công tác, bà dạy cháu học, dạy cháu làm, bà kể chuyện cháu nghe, chia sẻ với cháu nỗi vắng mẹ, cặm cụi nhóm lửa, nuôi nấng cháu.

    – Năm giặc đốt làng, đốt nhà, bà vẫn vững lòng dặn cháu giữ kín chuyện để bố mẹ yên tâm công tác, bà vẫn sớm chiều nhen nhóm ngọn lửa ủ ấm lòng cháu. Kỷ niệm nào về bà cũng thấm đậm yêu thương.

    Bài thơ đan xen giữa kể là những đoạn tả sinh động, tả cảnh bếp lửa chờn vờn trong sương sớm, tả cảnh đói mòn đói mỏi, cảnh làng cháy, đặc biệt là hình ảnh cặm cụi, tần tảo sớm hôm của bà… Lời kể và tả chứa chan tình yêu thương, lòng yêu ơn của người cháu nơi xa đối với bà.

    Câu 3:

    Hình ảnh bếp lửa có suốt trong những vần thơ của bài thơ . Hình ảnh bếp lửa được nhắc tới 10 lần . Vì hình ảnh bếp lửa đã trở thành biểu tượng do hằng ngày bà luôn nhóm lửa nấu vào mỗi sáng . Bà là người đã thắp sáng tình cảm , tình yêu thương khi nhóm bếp lửa lên , tác giả đã dựa vào đó để gửi gắm tình cảm cảm xúc của mình là tình cảm thiêng liêng giữa bà và cháu

    Câu 4:

    Vì ngọn lửa khái quát cao hơn, tác giả tách lớp nghĩa thực ra. Không phải ngọn lửa để nấu nướng mà đây là ngọn lửa của tình yêu thương của bà. Nó đem đến hơi ấm và tỏa sáng như bà đang trao tình cảm ấm áp cho người cháu. Câu thơ muốn nói là tình yêu thương to lớn của bà tỏa sáng, ấm áp không thể nào dập tắt được và truyền lại cho thế hệ mai sau.

    Câu 5:

    Tình cảm bà cháu trong bài thơ rất sâu nặng. Đây là lời yêu thương tha thiết của người cháu nơi xa đối với bà:

    “Giờ cháu đã đi xa. Có ngọn khói trăm tàu

    Có lửa trăm nhà, niềm vui trăm ngả

    Nhưng vẫn chẳng lức nào quên nhắc nhở:

    Cảnh ngày xuân là bài học nổi bật trong Bài 6 của chương trình học theo SGK Ngữ Văn 9, học sinh cần Soạn bài Cảnh ngày xuân, đọc trước nội dung, trả lời câu hỏi trong SGK

    Xem tiếp các bài soạn để học tốt môn Ngữ Văn lớp 9

    – Soạn bài Đoàn thuyền đánh cá

    – Soạn bài Tổng kết về từ vựng, tiếp theo, bài 11

    2. Soạn bài Bếp lửa – Bằng Việt, ngắn 2

    https://thuthuat.taimienphi.vn/soan-bai-bep-lua-38048n.aspx

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài: Bếp Lửa (Siêu Ngắn Gọn)
  • Hướng Dẫn Soạn Bài Bếp Lửa
  • Soạn Bài Bếp Lửa Của Bằng Việt
  • Soạn Bài Bếp Lửa (Bằng Việt)
  • Soạn Bài Bếp Lửa (Chi Tiết)
  • Ngữ Văn 9 Văn Bản Bếp Lửa Bai 11 Bep Lua Nhung Ppt

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài Giảng Ngữ Văn 9 Tiết 56: Văn Bản Bếp Lửa (Bằng Việt)
  • Giáo Án Ngữ Văn 9
  • Phân Tích Bài Thơ Bếp Lửa Của Nhà Thơ Bằng Việt
  • Phân Tích Bài Thơ “bếp Lửa” Của Bằng Việt
  • Kiểm Tra Kiến Thức Lớp 9 (Văn Bản: ” Đồng Chí” Và ” Bài Thơ Về Tiểu Đội Xe Không Kính”)
  • Bếp lửa

    Tiết 60:

    Văn bản:

    ( Bằng Việt)

    -Bằng Việt (tên thật Nguyễn Việt Bằng, sinh năm 1941 mất năm 2014), nguyên quán xã Chàng Sơn, huyện Thạch Thất, Thành phố Hà Nội

    -Thuộc thế hệ nhà thơ trưởng thành trong kháng chiến chống Mỹ

    – Ông đã từng là Chủ tịch Hội đồng thơ Hội Nhà văn Việt Nam và Chủ tịch Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Hà Nội.

    -Thơ Bằng Việt trong trẻo, mượt mà, khai thác những kỉ niệm và mơ ước tuổi trẻ nên gần gũi với bạn đọc trẻ nhất là trong nhà trường.

    -Bài thơ được sáng tác năm 1963, khi tác giả là sinh viên ngành luật ở Liên Xô (cũ).

    -In trong tập “Hương cây- Bếp lửa” (1968 )

    ” Tôi viết bài thơ Bếp lửa nam1963, lúc đang học nam thứ 2 dại học tổng hợp Quốc gia Kiev( Ukrai na). Mùa đông nước Nga rất lạnh, phải đốt lò để sưởi. Ngồi sưởi lửa, tôi bỗng nhớ đến ” Bếp lửa” quê nhà, nhớ bà tôi, nhớ người nhóm bếp. Xa bà, xa gia đỡnh khi đã trưởng thành tức là có độ lùi xa để nhớ và suy ngẫm nh?ng giá trị tinh thần nên bài thơ viết rất nhanh. Viết “Bếp lửa”, tôi chỉ muốn giãi bày tâm trạng thật của lòng mỡnh”

    Bà nội tôi là một phụ nữ nông dân chân chất, bình dị. Với tôi, bà là hiện thân của sự cần cù, nhẫn nại và đức hy sinh

    Một bếp lửa chờn vờn sương sớm

    Một bếp lửa ấp iu nồng đượm

    Cháu thương bà biết mấy nắng mưa.

    Lên bốn tuổi cháu đã quen mùi khói

    Năm ấy là năm đói mòn đói mỏi

    Bố đi đánh xe khô rạc ngựa gầy

    Chỉ nhớ khói hun nhèm mắt cháu

    Nghĩ lại đến giờ sống mũi còn cay!

    Tám năm ròng cháu cùng bà nhóm lửa

    Tu hú kêu trên những cánh đồng xa

    Tu hú kêu, bà con nhớ không bà

    Bà hay kể chuyện những ngày ở Huế

    Tiếng tu hú sao mà tha thiết thế!

    Mẹ cùng cha công tác bận không về

    Cháu ở cùng bà, bà bảo cháu nghe

    Bà dạy cháu làm, bà chăm cháu học.

    Nhóm bếp lửa nghĩ thương bà khó nhọc,

    Tu hú ơi! Chẳng đến ở cùng bà

    Kêu chi hoài trên những cánh đồng xa?

    Năm giặc đốt làng cháy tàn cháy rụi

    Hàng xóm bốn bên trở về lầm lụi

    Đỡ đần bà dựng lại túp lều tranh

    Vẫn vững lòng bà dặn cháu đinh ninh:

    ” Bố ở chiến khu; bố còn việc bố,

    Mày có viết thư chớ kể này kể nọ,

    Cứ bảo nhà vẫn được bình yên!”

    Rồi sớm rồi chiều lại bếp lửa bà nhen

    Một ngọn lửa, lòng bà luôn ủ sẵn

    Một ngọn lửa chứa niềm tin dai dẳng…

    Lận đận đời bà biết mấy nắng mưa

    Mấy chục năm rồi, đến tận bây giờ

    Bà vẫn giữ thói quen dậy sớm

    Nhóm bếp lửa ấp iu nồng đượm

    Nhóm niềm yêu thương khoai sắn ngọt bùi

    Nhóm nồi xôi gạo mới sẻ chung vui

    Nhóm dậy cả những tâm tình tuổi nhỏ

    Ôi kì lạ và thiêng liêng – bếp lửa!

    Giờ cháu đã đi xa. Có ngọn khói trăm tàu

    Có lửa trăm nhà, niềm vui trăm ngả

    Nhưng chẳng lúc nào quên nhắc nhở:

    – Sớm mai này bà nhóm bếp lên chưa?…

    Một bếp lửa chờn vờn sương sớm

    Một bếp lửa ấp iu nồng đượm

    Cháu thương bà biết mấy nắng mưa.

    THI ĐỌC THƠ DIỄN CẢM

    * Vận dụng:

    Viết một đoạn văn (khoảng 5 đến 7 câu) trình bày cảm nhận của em về ba câu thơ đầu bài thơ “Bếp lửa”.

    * Tìm tòi mở rộng:

    Tìm đọc các tác phẩm khác viết về người bà, liên hệ

    so sánh với bài thơ “Bếp lửa”.

    * Hướng dẫn về nhà:

    – Học thuộc lòng bài thơ

    – Nắm chắc các kiến thức về tác giả, tác phẩm , đặc điểm và phần phần tích ba câu đầu bài thơ

    – Nghiên cứu, tập phân tích bà phần còn lại của văn bản, chuẩn bị cho tiết tiếp theo

    .

    Lên bốn tuổi cháu đã quen mùi khói

    Năm ấy là năm đói mòn đói mỏi

    Bố đi đánh xe khô rạc ngựa gầy

    Chỉ nhớ khói hun nhèm mắt cháu

    Nghĩ lại đến giờ sống mũi còn cay!

    Ti?t 53 : B?p l?a

    II. TÌM HIỂU VĂN BẢN

    2/ Kỷ niệm tuổi thơ sống bên bà gắn với bếp lửa

    b, Lúc cháu 12 tuổi

    Tám năm ròng cháu cùng bà nhóm lửa

    Tu hú kêu trên những cánh đồng xa

    Tu hú kêu bà con nhớ không bà?

    Bà hay kể chuyện những ngày ở Huế

    Tiếng tu hú sao mà tha thiết thế!

    Mẹ cùng cha công tác bận không về

    Cháu ở cùng bà, bà bảo cháu nghe

    Bà dạy cháu làm, bà chăm cháu học

    Nhóm bếp nghĩ thương bà khó nhọc.

    Tu hú ơi! Chẳng đến ở cùng bà

    Kêu chi hoài trên những cánh đồng xa?

    --- Bài cũ hơn ---

  • 2 Bài Văn Mẫu Giới Thiệu Về Bài Thơ Bếp Lửa Của Bằng Việt
  • Bai Thuyet Trinh Van Hoc Bep Lua Bang Viet
  • Phân Tích Bài Thơ ‘bếp Lửa’ Của Bằng Việt
  • Nghị Luận Tác Phẩm Bếp Lửa Của Bằng Việt
  • Nội Dung Đoạn Thơ: Bếp Lửa ( Bằng Việt )
  • Giáo Án Tích Hợp Liên Môn Ngữ Văn 9 Bài Bếp Lửa

    --- Bài mới hơn ---

  • Cảm Nhận Về Bài Thơ Bếp Lửa
  • 4 Bài Văn Cảm Nhận Về Hình Ảnh Người Bà Trong Bài Thơ Bếp Lửa Của Bằn
  • Cảm Nhận Ý Nghĩa Bài Thơ “bếp Lửa” Của Bằng Việt
  • Cảm Nhận Về Hình Ảnh Người Bà Trong Bài Thơ Bếp Lửa Hay
  • Cảm Nhận Về Tình Bà Cháu Trong Bài Bếp Lửa Của Bằng Việt
  • Giáo án Văn 9

    Năm học 2014 – 2022

    1

    TRƯỜNG THCS SUỐI BAU

    Giáo án Văn 9

    Năm học 2014 – 2022

    – Tập làm văn: Các phương thức biểu đạt; Yếu tố nghị luận trong thơ.

    – Môn Giáo dục công dân: Nếp sống văn minh thanh lịch

    – Môn lịch sử: Nạn đói 1945

    3. Thái độ : Giáo dục học sinh trân trọng tình cảm, kỷ niệm tuổi thơ, yêu quý người

    bà, yêu quý trân trọng tình cảm quê hương.

    II. Chuẩn bị của giáo viên và học sinh

    1. Giáo viên : Sưu tầm tập thơ Hương cây – Bếp lửa

    2. Học sinh : chuẩn bị bài theo yêu cầu của giáo viên (T55)

    III. Tiến trình bài dạy

    1.Kiểm tra bài cũ (không)

    * Đặt vấn đề vào bài mới (1′)

    Nếu phải đi xa em nhớ nhất những kỷ niệm gì về bà của mình ?

    Phát biểu tự do

    Đó là những kỷ niệm của các em về bà. Vậy nhà thơ Bằng Việt nhớ về bà của

    mình khi đi xa như thế nào ta học bài hôm nay.

    2. Dạy nội dung bài mới:

    G

    Hoạt động của GV và HS

    Treo ảnh nhà thơ Việt Bằng

    Ghi bảng

    I. Đọc, tìm hiểu chung (14′)

    V

    Quan sát ảnh

    1. Tác giả

    HS

    Đọc chú thích

    Hãy giới thiệu đôi nét về tác giả Bằng

    Việt?

    Trả lời

    Chốt ghi

    TRẦN THỊ VÂN ANH

    2

    TRƯỜNG THCS SUỐI BAU

    Giáo án Văn 9

    Năm học 2014 – 2022

    – Bằng Việt tên khai sinh là

    G

    Nguyễn Việt Bằng, sinh năm 1941,

    V

    quê ở Thạch Thất, Hà Tây.

    – Ông làm thơ từ đầu những năm

    60 và thuộc thế hệ các nhà thơ

    trưởng thành trong thời kì kháng

    chiến chống Mĩ .

    – Ngoài làm thơ, Bằng Việt còn

    dịch tác phẩm của nhiều nhà thơ

    nổi tiếng trên thế giới.

    – Thơ Bằng Việt trong trẻo, mượt

    mà thường khai thác những kỉ

    Bổ sung thêm:

    niệm, ước mơ của tuổi trẻ.

    Nhà thơ Bằng Việt tên thật là Nguyễn Việt – Ông từng là Chủ tịch Hội đồng

    Bằng, sinh ngày 15 tháng 6 năm 1941 tại thơ Hội Nhà văn Việt Nam, hiện

    thành phố Huế; nguyên quán xã Chàng đang là Chủ tịch Hội liên hiệp Văn

    Sơn, huyện Thạch Thất, thành phố Hà học nghệ thuật Hà Nội.

    Nội. Năm 1965, ông tốt nghiệp Khoa Pháp

    G

    lý Trường đại học Tổng hợp Kiev của

    V

    Liên Xô, về nước làm việc tại Viện Luật

    học thuộc Uỷ ban Khoa học xã hội Việt

    Nam. Năm 1969, Bằng Việt chuyển sang

    Hội Nhà văn Việt Nam, và năm sau 1970, ông tham gia công tác ở chiến

    trường Bình Trị Thiên, với tư cách là một

    phóng viên chiến trường và làm tại Bảo

    tàng truyền thống cho Binh đoàn Trường

    TRẦN THỊ VÂN ANH

    3

    TRƯỜNG THCS SUỐI BAU

    Giáo án Văn 9

    Năm học 2014 – 2022

    Sơn – 559.

    Đến năm 1975, Bằng Việt về làm việc tại

    Nhà xuất bản Tác Phẩm Mới.

    Từ năm 1983-1989, ông được bầu làm

    Tổng thư ký Hội Văn học nghệ thuật Hà

    Nội, Tổng biên tập đầu tiên của báo Người

    Hà Nội ấn hành từ năm 1985; làm Tổng

    biên tập tờ tạp chí Diễn đàn Văn nghệ Việt

    Nam (1989-1991), Phó Chủ tịch Liên hiệp

    các Hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam.

    Năm 2001, ông được bầu làm Chủ tịch

    Hội Liên hiệp Văn học nghệ thuật Hà Nội

    và được bầu lại làm Chủ tịch Hội nhiệm

    kỳ 2006 – 2010, 2010-2015.

    Ông còn từng là Thành uỷ viên, Thư ký

    thường trực, Phó Chủ tịch Hội đồng Nhân

    dân thành phố Hà Nội (1991-2000).

    Nhà thơ Bằng Việt là Uỷ viên Ban Chấp

    hành Hội Nhà văn Việt Nam khoá 5, hiện

    là Chủ tịch Hội đồng thơ của Hội khoá 8.

    Hãy cho biết xuất xứ và hoàn cảnh ra đời

    của bài thơ?

    Phát biểu

    Chốt ghi

    2. Tác phẩm

    ?

    – Xuất xứ: Trong tập ” Hương cây

    bếp lửa ” in chung với Lưu Quang

    HS Bài thơ được sáng tác năm 1963 ,khi tác Vũ.

    TRẦN THỊ VÂN ANH

    4

    TRƯỜNG THCS SUỐI BAU

    Giáo án Văn 9

    Năm học 2014 – 2022

    G

    giả đang học năm học thứ hai tại Dại học – Hoàn cảnh sáng tác: Bài thơ được

    V

    tổng hợp Kiev

    sáng tác năm 1963 , khi tác giả

    Nhà thơ kể lại: những năm đầu tôi theo đang học nghành luật ở nước

    học ở đây tôi nhớ nhà kinh khủng Tháng 9 ngoài.

    ở bên đó trời se se lạnh buổi sương mờ mờ

    mặt đất gợi tôi nhớ cảnh mùa đông ở quê

    nhà. Mỗi buổi dậy sớm đi học tôi thấy nhớ

    G

    khung cảnh bếp lửa thân quen. Nhớ hình

    V

    ảnh bà nội lụi cụi dậy sớm nấu nồi sôi,

    luộc củ khoai củ sắn cho con cháu. Như

    vậy chúng ta thấy bài thơ được xuất phát

    từ những cảm xúc rất thật của tác giả.

    + Đọc bài thơ

    Nêu yêu cầu đọc : chậm rãi, lắng đọng

    Đọc 1 đoạn

    Học sinh đọc – lớp nhận xét

    Tìm hiểu thể thơ , phương thức biểu đạt?

    Phát biểu

    Chốt ghi

    G

    Bài thơ là lời của người cháu ở nơi xa nhớ

    V

    về Bà và những kỷ niệm với Bà, lòng kính – Thể thơ: Thơ tám chữ

    G

    yêu Bà, những suy ngẫm về Bà.

    – Phương thức biểu đạt:Tự sự + trữ

    V

    Hãy nêu đại ý và bố cục bài thơ :

    tình + miêu tả + nghị luận

    5

    TRƯỜNG THCS SUỐI BAU

    Giáo án Văn 9

    Năm học 2014 – 2022

    V

    – Đại ý: Những cảm xúc và suy

    ngẫm về bà và về bếp lửa.

    – Bố cục: 4 đoạn

    G

    + Khổ 1: Hình ảnh bếp lửa khơi

    V

    nguồn cho dòng hồi tưởng cảm xúc

    về bà.

    + Bốn khổ tiếp: Hồi tưởng những

    ?

    kỉ niệm tuổi thơ sống bên bà và bếp

    HS

    lửa.

    G

    + Khổ 6: Suy ngẫm về bà và bếp

    V

    Chuyển ý phần II

    lửa.

    Không phân tích theo bố cục mà phân tích + Khổ cuối: Cháu đã trưởng thành,

    theo mạch cảm xúc

    đi xa nhưng vẫn không nguôi nhớ

    Đọc 2 câu thơ đầu

    về bà.

    Một bếp lửa chờn vờn sương sớm

    II. Phân tích (20′)

    Một bếp lửa ấp iu nồng đượm.

    1. Hình ảnh bếp lửa khơi nguồn

    Cháu thương bà biết mấy nắng mưa

    dòng hồi tưởng cảm xúc.

    Hai câu này tác giả dụng biện pháp nghệ

    thuật gì ?

    – Điệp ngữ: Một bếp lửa

    – Từ láy gợi tả, gợi cảm: chờn vờn, ấp iu

    Tích hợp :Tiếng Việt

    Em hiểu thế nào là ” chờn vờn, ấp iu?

     Chờn vờn là từ láy tượng hình vừa giúp

    G

    ta hình dung làn sương sớm đang bay

    V

    nhè nhẹ quanh bếp lửa vừa gợi cái mờ

    nhòa của hình ảnh kí ức theo thời gian. Từ

    ấp iu là một sáng tạo mới mẻ của tác giả.

    G

    Đó không phải là từ láy, từ ghép đơn

    V

    thuần mà là sự kết hợp và biến thể của hai

    TRẦN THỊ VÂN ANH

    6

    TRƯỜNG THCS SUỐI BAU

    Giáo án Văn 9

    Năm học 2014 – 2022

    từ ấp ủ, nâng niu. Ấp iu gợi đến bàn tay

    kiên nhẫn, khéo léo và tấm lòng chi chút

    của người nhóm bếp.

    ?

    Với biện pháp nghệ thuật như vậy giúp em

    thấy được điều gì về hình ảnh bếp lửa bà

    hình ảnh người bà ?

    Chốt ghi

    Giảng:

    – Hình ảnh bếp lửa bình dị, gần gũi,

    Bắt đầu bằng hình ảnh bếp lửa “chập chờn thân thuộc

    trong sương sớm, chập chờn trong kí ức. – Đôi bàn tay kiên nhẫn, khéo léo

    Hơi ấm của bếp lửa bắt đầu truyền thấm, và tấm lòng chi chút của bà trong

    bắt đầu nhen nhóm, khơi nguồn cho mạch công việc nhóm bếp hàng ngày.

    cảm xúc thương yêu của cháu khi nhớ về

    bà. Hình ảnh “Một bếp lửa” điệp lại hai

    lần như nhắc nhớ, như hơi thổi vào bếp

    lửa đang “ấp iu”, để nhịp hồi tưởng bắt.

    Cháu thương bà biết mấy nắng mưa.

    ?

    Nắng mưa là hình ảnh ẩn dụ: nói về cuộc

    đời vất vả của người bà, bà nhóm bếp bất

    kể nắng mưa, bất kể mùa đông hay mùa

    G

    hè bất kể buổi sớm hay chiều thì bàng đôi

    V

    tay vén khéo bà vẫn nhóm lên ngon lửa

    trong cái bếp bình dị ấy để cho cháu bát

    cơm củ khoai..

    Chuyển phần 2

    G

    Đọc 3 khổ thơ tiếp

    V

    Qua khổ thơ thứ 2,3,4 tác giả nhớ lại

    TRẦN THỊ VÂN ANH

    7

    TRƯỜNG THCS SUỐI BAU

    Giáo án Văn 9

    Năm học 2014 – 2022

    những kỷ niệm nào khi sống bên bà ?

    Lên bốn tuổi cháu đã quen mùi khói

    Năm ấy là ănm đói mòn đói mỏi

    2. Hồi tưởng những kỉ niệm tuổi

    thơ sống bên bà và bếp lửa.

    Bố đi đánh xe khô rạc ngựa gầy

    Chỉ nhớ khói hun nhèm mắt cháu

    Nghĩ lại đến giờ sống mũi còn cay.

    Tích hợp môn lịch sử

    “Năm ấy là năm đói mòn đói mỏi” cho

    em liên tưởng đến thời gian nào của cuộc

    kháng chiến ?

    – Lên bốn tuổi tác giả nhắc tới sự kiện

    khốc liệt của những năm tháng chiến tranh

    của dân tộc ta hồi 1945

    Nạn đói đã cướp đi bao mạng người.

    người sống cũng vàng cả mắt.

    Tích hợp:Tập làm Văn

    G

    ? Tác giả dùng phương thức biểu đạt nào

    V

    và biện pháp nghệ thuật gì ?

    HS – Tự sự , miêu tả, biểu cảm

    ?

    – Nghệ thuật tách từ đói mòn đói mỏi nhà

    thơ nhấn mạnh vào cái đói

    HS Trong năm tháng đói kém đó với tài thu

    vén của bà đã giúp gia đình nhà thơ vượt

    qua nạn đói.

    Khói bốc lên làm mắt cháu cay . Cái cay

    của sống mũi bây giờ có lẽ là bởi sự ám

    *

    ảnh của mùi khói năm xưa nhưng cũng là

    ?

    nỗi xúc động của nhà thơ

    ? Tác dụng của phương thức biểu đạt và

    biện pháp nghệ thuật đó ?

    TRẦN THỊ VÂN ANH

    8

    TRƯỜNG THCS SUỐI BAU

    Giáo án Văn 9

    Năm học 2014 – 2022

    HS Chốt ghi

    – Nhà thơ đã sử dụng những từ ngữ

    *

    gợi tả, gợi cảm để khắc sâu nỗi ám

    ?

    ảnh về những năm tháng tuổi thơ

    Đọc tiếp:

    HS

    gian khổ thiếu thốn, nhọc nhằn.

    Tám năm dòng cháu cùng bà nhóm lửa

    Trong tâm trí cháu, bếp lửa, ngọn

    Tu hú kêu trên những cánh đồng xa

    khói, mùi khói trở thành ấn tượng

    Tú hú kêu bà còn nhớ không bà

    không thể nào quên cùng với hình

    Bà hay kể chuyện những ngày ở Huế

    ảnh bà.

    Tiếng tu hú sao mà tha thiết thế !

    Mẹ ở cùng cha công tác bận không về

    Cháu ở cùng bà, bà bảo cháu nghe

    Bà dạy cháu làm, bà chăm cháu học.

    Nhóm bếp lửa nghĩ thương bà khó nhọc,

    Tu hú ơi ! Chẳng đến ở cùng bà

    ?

    Kêu chi hoài trên những cánh đồng xa ?

    Tiếng chim tu hú vang vọng trong trí nhớ

    G

    của tác giả, giúp tác giả nhớ lại những gì

    V

    về bà?

    Chốt ghi

    Tìm các biện pháp nghệ thuật và nêu tác

    dụng của bpnt đó

    – Sự tận tụy, tình yêu thương, đùm

    niệm

    bọc, chở che bà dành cho cháu.

    Bà : – kể chuyện

    – bảo cháu nghe

    TRẦN THỊ VÂN ANH

    9

    TRƯỜNG THCS SUỐI BAU

    Giáo án Văn 9

    Năm học 2014 – 2022

    – dạy cháu làm

    – chăm cháu học

    Cuối khổ thơ tác giả dùng câu hỏi tu từ .

    Tu hú ơi ! Chẳng đến ở cùng bà

    Kêu chi hoài trên những cánh đồng xa ?

    Khi cháu đi xa chỉ có con tu hú ở bên bà,

    nhà thơ trách con tu hú không đến ở cùng

    bà lời trách tưởng như vô lí nhưng lại rất

    có lí bởi nó xuất phát từ lí lẽ của trái tim ,

    từ tình thương của cháu dành cho bà

    Qua dòng hồi tưởng em thấy tình cảm của

    ?

    nhà thơ đối với bà ntn ?

    Chốt ghi

    G

    Yêu cầu hs đọc tiếp những câu tiếp

    V

    Năm giặc đốt làng cháy tàn cháy rụi

    ?

    Hàng xóm bốn bên trở về lầm lụi

    – Nỗi lo lắng, lòng biết ơn sâu sắc

    Đỡ đần bà dựng lại túp lều tranh

    của cháu đối với bà.

    Vẫn vững lòng , bà dăn cháu đinh ninh

    HS Bố ở chiến khu bố còng việc bố

    Mày có viết thư chớ kể này kể nọ

    Cứ bảo nhà vẫn được bình yên.

    Quan sát câu thơ “Năm giặc đốt làng

    cháy tàn cháy rụi” và nhận xét về cách

    dùng từ của tác giả ?

    G

    Ở đoạn này tác giả tiếp tục dụng nghệ

    V

    thuật tách từ và những từ cháy tàn cháy

    rụi để nhấn mạnh cảnh xóm làng bị tàn

    phá đau thương và sự khốc liệt của chiến

    tranh.

    TRẦN THỊ VÂN ANH

    10

    TRƯỜNG THCS SUỐI BAU

    Giáo án Văn 9

    Năm học 2014 – 2022

    Em nhận xét gì về lời dẫn của tác giả

    trong đoạn này , cách dẫn đó có mục đích

    gì ?

    – Dẫn lời dẫn trực tiếp và ngôn ngữ mộc

    ?

    mạc giản dị: mày chớ kể này kể nọ của

    người bà giúp ta hình dung giọng nói,

    G

    tiếng nói, tình cảm và suy nghĩ của bà.

    V

    Sáng lên phẩm chất của người bà, người

    mẹ VN yêu nước…

    G

    Với cách dẫn đó giúp em thấy được điều

    V

    gì từ hình ảnh người bà ?

    Chốt ghi

    Yêu cầu hs quan sát tiếp đoạn:

    Rồi sớm rồi chiều lại bếp lửa bà nhen

    Một ngọn lửa, lòng bà luôn ủ sẵn

    – Tinh thần vững vàng, bền bỉ, vượt

    Một ngọn lửa chứa niềm tin dai dẳng…

    qua khó khăn, thử thách của bà

    Từ hình ảnh bếp lửa, cuối đoạn xuất hiện

    ?

    điệp ngữ “ngọn lửa” là có dụng ý gì?

    Nghệ thuật điệp ngữ “Một ngọn lửa” và

    những hình ảnh biểu tượng có sức khái

    HS quát cao. Một bếp lửa bình dị, mộc mạc

    nay biến thành một ngọn lửa biểu tượng.

    Chốt ghi

    ?

    Chuyển phần 3

    Bếp lửa của bà còn được nhen lên

    Lận đận đời bà biết mấy nắng mưa

    bởi ngọn lửa của tình yêu thương

    HS Mấy chục năm rồi, đến tận bây giờ

    ấm áp, của niềm tin vững bền, của

    TRẦN THỊ VÂN ANH

    11

    TRƯỜNG THCS SUỐI BAU

    Giáo án Văn 9

    Năm học 2014 – 2022

    Bà vẫn giữ thói quen dậy sớm.

    sức sống bất diệt.

    Nhóm bếp lửa ấp iu nồng đượm

    3. Những suy ngẫm về bà

    Nhóm niềm yêu thương khoai sắn ngọt

    bùi

    Nhóm nồi xôi gạo mới sẻ chung vui

    ?

    Nhóm dậy cả những tâm tình tuổi nhỏ

    Ôi kì lạ và thiêng liêng – bếp lửa !

    G

    Có từ ngữ được lặp đi lặp lại nhiều lần

    V

    trong khổ thơ, đó là từ nào?

    Giảng trên bản phụ các em quan sát

    ?

    HS

    Điệp từ “nhóm” trong từng câu thơ có

    những ý nghĩa giống và khác nhau ntn

    Chốt ghi

    G

    V

    Chính vì thế mà tác giả đã phải thốt lên

    – Điệp từ “nhóm” vừa có ý nghĩa

    điều gì

    cụ thể vừa có ý nghĩa từu tượng.

    Ôi kì lạ và thiêng liêng – bếp lửa !

    Để ca ngợi bà – Người nhóm lửa,

    TRẦN THỊ VÂN ANH

    12

    TRƯỜNG THCS SUỐI BAU

    Giáo án Văn 9

    Năm học 2014 – 2022

    Câu cảm thán Ôi kì lạ

    giữ lửa và truyền lửa

    Bếp lửa – bình dị mà cao quý

    Câu thơ khái quát rất tự nhiên và

    Thân thuộc mà lạ kì

    hợp lí: Bếp lửa thiêng liêng đã trở

    Gắn liền với h/a người bà

    Đọc khổ cuối

    thành một phần không thể thiếu

    trong đời sống tinh thần của cháu

    Giờ cháu đã đi xa. Có ngọn khói trăm tàu

    Có lửa trăm nhà, niềm vui trăm ngả

    ?

    Nhưng vẫn chẳng lúc nào quên nhắc nhở:

    – Sớm mai này bà nhóm bếp lên chưa ?…

    G

    Em có nhận xét gì về cách diễn đạt của

    V

    tác giả ở khổ thơ cuối ? Câu thơ mở đầu

    của khổ cuối được tác giả dùng dấu chấm 4. Tình cảm của cháu khi đi xa

    ở giữa dòng thơ ngắt ra làm hai vế để biểu

    thị cuộc đời cháu đã sang một trang mới,

    giờ cháu đã trưởng thành và đi xa.

    Điệp từ có và trăm thể hiển rõ hơn điều

    đó

    Rồi cuối khổ thơ tác giả dùng câu hỏi tu từ

    nói về nỗi nhớ của cháu về bà. Nơi quê

    nhà nơi cháu đã trải qua thời gian cháu và

    bà quấn quýt bên nhau. Thế thì …..

    Cách diễn đạt đó có tác dụng gì ?

    ?

    Chốt ghi

    G

    Câu thơ giản dị thế thôi nhưng lại khái

    V

    quát về đạo lí muôn đời của dân tộc ta đó

    là đạo lí ” Uống nước nhớ nguồn”

    Bài thơ đã thành công gì về nội dung và

    nghệ thuật

    Trả lời theo ghi nhớ

    TRẦN THỊ VÂN ANH

    Ở nơi xa, cháu vẫn nhớ về bà – nhớ

    13

    TRƯỜNG THCS SUỐI BAU

    Giáo án Văn 9

    Năm học 2014 – 2022

    Định hướng cho ghi

    về quá khứ, cuội nguồn về quê

    hương đất nước.

    III. Tổng kết (5′)

    G

    V

    1. Nghệ thuật :

    – Xây dựng hình ảnh thơ vừa cụ thể

    ,gần gũi , vừa gợi nhiều liên tưởng

    HS

    mang ý nghĩa biểu tượng

    – Viết theo thể thơ tám chữ phù hợp

    với giọng điệu cảm xúc hồi tưởng

    và suy ngẫm

    ?

    Tích hợp môn GDCD: Nếp sống văn

    – Kết hợp nhuần nhuyễn giữa miêu

    minh thanh lịch

    tả, tự sự, nghị luận và biểu cảm

    Em rút ra bài học gì về cách ứng xử với

    2. Ý nghĩa văn bản

    ông bà, cha mẹ người thân trong gia đình

    – Từ những kỉ niệm tuổi thơ ấm áp

    HS Tự rút ra bài học cho bản thân

    tình bà cháu , nhà thơ cho ta hiểu

    thêm về tình người bà , những

    người mẹ ,về nhân dân nghĩa tình

    * Ghi nhớ sgk/ 146

    14

    TRƯỜNG THCS SUỐI BAU

    Giáo án Văn 9

    Năm học 2014 – 2022

    *

    3. Củng cố, luyện tập ( 4′)

    Vậy với bài học này chúng ta cần ghi nhớ những kiến thức cơ bản nào các em hãy

    khái quát bằng bản đồ tư duy ?

    Treo bảng đồ tư duy cho hs tham khảo

    TRẦN THỊ VÂN ANH

    15

    TRƯỜNG THCS SUỐI BAU

    Giáo án Văn 9

    Năm học 2014 – 2022

    4. Hướng dẫn học sinh tự học ở nhà (1′)

    – Học thuộc long đọc diễn cảm bài thơ

    – Phân tích sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa miêu tả,tự sự nghị luận và biểu cảm ở một

    đoạn thơ tự chọn trong bài thơYC : Đọc kĩ văn bản, trả lời câu hỏi sgk, tìm hiểu về

    dân tộc Tà Ôi

    Ngày soạn 09/11/2014

    Ngày dạy 11/11/2014 Dạy lớp 9A

    Ngày dạy 13/11/2014 Dạy lớp 9B

    TIẾT 57: VĂN BẢN

    I. Mục tiêu

    1. Kiến thức: Giúp học sinh hiểu được

    – Tác giả Nguyễn Khoa Điềm và hoàn cảnh ra đời bài thơ

    TRẦN THỊ VÂN ANH

    16

    TRƯỜNG THCS SUỐI BAU

    Giáo án Văn 9

    Năm học 2014 – 2022

    – Tình cảm bà mẹ Tà-Ôi dành cho con gắn chặt với tình yêu quê hương đất nước và

    niềm tin vào sự tất thắng của cách mạng

    – Nghệ thuật ẩn dụ,phóng đại ,hình ảnh thơ mang tính biểu tượng ,âm hưởng của

    những khúc hát rut ha thiết ,trìu mến

    2. Kĩ năng

    – Nhận diện các yếu tố ngôn ngữ ,hình ảnh mang màu sắc dân gian trong bài thơ

    – Phân tích được mạch cảm xúc trữ tình trong bài thơ qua những khúc hát của bà

    mẹ ,của tác giả

    – Cảm nhận được tinh thần kháng chiến của nhân dân ta trong thời kì kháng chiến

    chống Mĩ cứu nước

    3. Thái độ

    Giáo dục học sinh yêu quý, trân trọng người thân của mình, tình cảm yêu quê

    hương.Trân trọng hình ảnh người phụ nữ trong cuộc kháng chiến của dân tộc .

    II. Chuẩn bị của giáo viên và học sinh

    1. Giáo viên : Tham khảo tài liệu phục vụ cho bài học.

    2. Học sinh : Chuẩn bị bài theo yêu cầu của giáo viên

    III. Tiến trình bài dạy

    1.Kiểm tra bài cũ (4′)

    * Câu hỏi : Nội dung chính của bài thơ Bếp Lửa ? Và đọc thuộc lòng 3 khổ cuối của

    bài thơ ?

    * Đáp án

    – Từ những kỉ niệm tuổi thơ ấm áp tình bà cháu ,nhà thơ cho ta hiểu thêm về tình

    người bà ,những người mẹ ,về nhân dân nghĩa tình

    * Đặt vấn đề vào bài mới (1′)

    Trong thơ ca hiện đại VN, có rất nhiều hình ảnh người mẹ được khắc hoạ như Mẹ

    Suốt, mẹ Tơm, bà Bủ, bà mẹ Việt Bắc . Mỗi hình ảnh mang 1 vẻ đẹp riêng . Bài học

    hôm nay sẽ cho chúng ta tiếp xúc với với một bà mẹ dân tộc Tà Ôi ( Thừa Thiên) với

    những em bé “lớn trên lưng mẹ”

    2. Dạy nội dung bài mới

    Hoạt động của thầy và trò

    TRẦN THỊ VÂN ANH

    17

    Ghi bảng

    TRƯỜNG THCS SUỐI BAU

    Giáo án Văn 9

    Năm học 2014 – 2022

    I. Tìm hiểu chung (10′)

    ?

    Đọc chú thích sgk giới thiệu nét cơ bản

    1. Tác giả

    về tác giả ?

    HS Dựa vào sgk trình bày

    – Nguyễn Khoa Điềm là nhà thơ

    trưởng thành trong cuộc kháng

    chiến chống Mĩ cứu nước . Chất

    chính luận làm cho thơ Nguyễn

    Khoa Điềm vừa dạt dào cảm

    xúc,vừa lắng đọng suy nghĩ

    ?

    Hoàn cảnh sáng tác của bài thơ như thế

    2. Tác phẩm

    nào ?

    GV Chốt ghi

    – “Khúc hát ru những em bé lớn

    trên lưng mẹ” ra đời năm 1971 tại

    ?

    Bài thơ được làm theo thể thơ nào ?

    chiến khu miền tây Thừa Thiên

    phương thức biểu đạt của bài thơ ?

    GV Chốt ghi

    – Thể thơ tự do

    – Phương thức biểu đạt : biểu cảm

    ?

    Em hiểu A-Kay là gì ? Ka-lưi : nghĩa là

    gì ?

    HS Tìm hiểu chú thích

    ?

    Bài thơ chia làm mấy phần? Nội dung

    từng phần? hãy đặt tên cho từng khúc

    hát ru trong bài thơ ?

    GV Chốt ghi

    – Bài thơ chia làm 3 phần (khúc) ,

    mỗi khúc hát có hai khổ thơ :

    + Khúc 1: Khúc hát ru của người

    mẹ thương con, thương bộ đội.

    + Khúc 2: Khúc hát ru của người

    mẹ thương con, thương dân làng.

    TRẦN THỊ VÂN ANH

    18

    TRƯỜNG THCS SUỐI BAU

    Giáo án Văn 9

    ?

    Năm học 2014 – 2022

    Em có nhận xét gì về cấu trúc bài thơ ?

    HS – Lặp lời và lặp câu

    + Khúc 3: Khúc hát ru của người

    mẹ thương con, thương đất nước.

    Em cu tai ngủ trên lưng mẹ ơi

    Em ngủ cho ngoan đừng rời lưng mẹ .

    Ngủ ngoan A-Kay ơi

    Ngủ ngoan A-Kay hỡi .

    – Lặp nhịp: Phần lớn các câu thơ đều

    ngắt 2 bước nhịp 4/4

    ?

    Em thấy cấu trúc này gần với loại hình

    NT nào ?

    HS – Gần với âm nhạc.

    ?

    Theo em bài thơ này trở thành ca từ của

    bài hát nào ?

    HS – Bài hát: “Lời ru trên nương” của nhạc sĩ

    Trần Hoàn.

    *

    II. Phân tích ( 20′ )

    ‚ . Thời gian: Thời gian HĐN (3′)

    1. Câu hỏi 2 sgk 154

    19

    TRƯỜNG THCS SUỐI BAU

    Giáo án Văn 9

    Năm học 2014 – 2022

    Hình ảnh người mẹ thể hiện như thế

    HS nào?

    GV Trả lời

    – Hình ảnh bà mẹ Tà-ôi được khắc

    Chốt ý

    họa với những công vịêc cụ thể :

    mẹ địu con giã gạo nuôi bộ đội ,tỉa

    bắp trên núi Ka-lưi,tham gia kháng

    chiến

    *

    TRẦN THỊ VÂN ANH

    20

    TRƯỜNG THCS SUỐI BAU

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giáo Án Môn Ngữ Văn Lớp 9
  • Biện Pháp Tu Từ Và Nghệ Thuật Bài Thơ Bếp Lửa
  • Bài Thơ Bếp Lửa Bằng Việt
  • Ôn Tập Luyện Thi Văn Bản: “bếp Lửa” (Bằng Việt)
  • Tổng Hợp Câu Hỏi Bài Thơ: Bếp Lửa (Bằng Việt)
  • Tìm Hiểu Văn Bản: Bếp Lửa

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài Bếp Lửa Lớp 9 Của Bằng Việt
  • Phân Tích Bài Thơ Bếp Lửa Lớp 9 Của Tác Giả Bằng Việt
  • Nội Dung Đoạn Thơ: Bếp Lửa ( Bằng Việt )
  • Nghị Luận Tác Phẩm Bếp Lửa Của Bằng Việt
  • Phân Tích Bài Thơ ‘bếp Lửa’ Của Bằng Việt
  • – Bằng Việt tên khai sinh là Nguyễn Việt Bằng. Ông sinh năm 1941, quê huyện Thạch Thất, tỉnh Hà Tây.

    – Ông bắt đầu ” cầm bút” từ những năm 60 của thế kỉ XX và tập trung khai thác ở hai mảng đề tài chính: cuộc chiến đấu của nhân dân ta trong kháng chiến chống Mĩvẻ đẹp của con người giữa cuộc sống đời thường.

    – Bài thơ ” Bếp lửa ” ra đời năm 1963, khi ấy tác giả đang là sinh viên ngành Luật tại Liên Xô và mới bắt đầu đến với thơ.

    Bếp lửa ” là một hình ảnh độc đáo, sáng tạo, xuất hiện nhiều lần trong bài thơ, nó vừa mang ý nghĩa tả thực, vừa mang ý nghĩa biểu tượng:

    + Bếp lửa gợi lên sự tảo tần, chăm sóc, yêu thương của người bà dành cho người cháu trong những năm tháng đói nghèo, chiến tranh để trưởng thành và khôn lớn.

    + Bếp lửa gợi lên bao vất vả, cực nhọc của đời bà. Song bà nhóm bếp lửa cũng chính là nhóm lên sự sống, niềm vui, niềm tin, và hi vọng cho cháu vào một tương lai phía trước.

    + Bếp lửa còn là biểu tượng của gia đình, quê hương, đất nước, cội nguồn… đã nâng bước người cháu trên suốt hành trình dài rộng của cuộc đời.

    – Phần một: Khổ thơ đầu: Hình ảnh bếp lửa – Nơi bắt đầu nỗi nhớ.

    – Phần hai: Ba khổ tiếp: Những kỉ niệm tuổi thơ được sống bên bà và bếp lửa.

    – Phần ba: Hai khổ tiếp: Suy ngẫm về bà và bếp lửa.

    – Phần bốn: Khổ thơ cuối: Nỗi nhớ về bà và bếp lửa.

    Dòng hồi tưởng bắt đầu từ hình ảnh thân thương, ấm áp về bếp lửa.

    Để rồi, từ hình ảnh bếp lửa ấy, dòng kỉ niệm niệm về bà thức dậy và được tái hiện:

    Một bếp lửa chờn vờn sương sớm

    Một bếp lửa ấp iu nồng đượm

    + Gợi đến bàn tay cần mẫn, khéo léo, chính xác của người nhóm lửa.

    + Gợi tấm lòng chi chút của người nhóm ngọn lửa.

    + Gợi bóng dáng của người bà, người mẹ tần tảo, thức khuya dậy sớm chăm sóc cho chồng, cho con.

    + Diễn tả dòng cảm xúc dâng tràn ùa về từ kí ức.

    + Miêu tả bếp lửa với ngọn lửa bốc cao, bập bùng, tỏa sáng, ẩn hiện giữa màn sương sớm.

    + Bếp lửa ấy mờ tỏa, chờn vờn trong kí ức về những năm tháng tuổi thơ được sống bên bà của nhà thơ.

    Một cách tự nhiên, hình ảnh bếp lửa đã làm trỗi dậy dòng cảm xúc yêu thương mãnh liệt trong người cháu:

    Cháu thương bà biết mấy nắng mưa!

    – Bộc lộ sự thấu hiểu đến tận cùng những vất vả, nhọc nhằn, lam lũ của đời bà.

    – Chữ ” thương ” dùng thật đắt qua vần thơ cảm thán, diễn tả cảm xúc đến rất tự nhiên và lan tỏa tâm hồn người cháu.

    Đó là kỉ niệm tuổi thơ với những năm tháng gian khổ, thiếu thốn, nhọc nhằn:

    + Câu thơ trĩu xuống, khiến lòng người như nao nao, nghẹn ngào khi nghĩ về kí ức tuổi thơ ấy.

    Trong những năm đói khổ ấy, cháu cùng bà nhóm lửa:

    Chỉ nhớ khói hun nhèm mắt cháu

    Nghĩ lại đến giờ sống mũi còn cay

    – Khói bếp của bà chẳng làm no lòng cháu nhưng đã lưu giữ một kỉ niệm sống mãi không nguôi: mùi khói đã hun nhèm mắt cháu để đến bây giờ nghĩ lại ” sống mũi còn cay “.

    Tác giả nhắc đi nhắc lại từ “khói”:mùi khói“, ” khói hun ” gợi một về một thời gian khó đã đi qua.

    – Cảm giác cay cay vì khói bếp và cái cay cay bởi nỗi xúc động của người cháu như hòa quyện, quá khứ và hiện tại như đồng hiện trên những dòng thơ.

    “Tám năm ròng, cháu cùng bà nhóm lửa”

    – Gợi khoảng thời gian tám năm cháu nhận được sự yêu thương, che chở, bao bọc của bà.

    – Tám năm ấy, cháu sống cùng bà vất vả, khó khăn nhưng đầy tình yêu thương.

    – Bếp lửa hiện diện như tình bà ấm áp, như chỗ dựa tinh thần, như sự cưu mang đùm bọc đầy chi chút của bà.

    – Tiếng chim tu hú – âm thanh quen thuộc của đồng quê mỗi độ hè về, để báo hiệu mùa lúa chín vàng đồng, vải chín đỏ cành.

    – Tiếng chim tu hú như giục giã, như khắc khoải điều gì da diết lắm, khiến lòng người trỗi dậy những hoài niệm nhớ mong. Tiếng tu hú gợi nhớ, gợi thương:

    + Về tám năm kháng chiến chống Pháp ” mẹ cùng cha công tác bận không về ” bà vừa là cha, vừa là mẹ.

    + Về những năm tháng tuổi thơ, về một thời cháu cùng bà nhóm lửa, được sống trong tình yêu thương, đùm bọc, cưu mang trọn vẹn của bà:

    “Cháu ở cùng bà, bà kể cháu nghe

    Bà dạy cháu làm, bà chăm cháu học”

    ++ Các từ “bà” – “cháu” được điệp lại bốn lần, đan xen vào nhau như gợi tả tình bà cháu quấn quýt yêu thương.

    Tình yêu, sự kính trọng bà của người cháu được thể hiện thật chân thành, sâu sắc qua câu thơ:

    “Nhóm bếp lửa nghĩ thương bà khó nhọc”

    Tu hú ơi! Chẳng đến ở cùng bà

    Kêu chi hoài trên những cánh đồng xa?”

    + Gợi hình ảnh chú chim đang lạc lõng, bơ vơ, côi cút khao khát được ấp ủ, che chở.

    + Đứa cháu được sống trong tình yêu thương, đùm bọc của bà đã chạnh lòng thương con tu hú. Và thương con tu hú bao nhiêu, tác giả lại biết ơn những ngày được bà yêu thương, chăm chút bấy nhiêu.

    Từ trong khói lửa của cuộc chiến tranh tàn khốc, người bà càng sáng lên những phẩm chất cao đẹp:

    – Trước hiện thực khó khăn, ác liệt ấy, bà vẫn mạnh mẽ, kiên cường không kêu ca, phàn nàn. Điều đó được thể hiện qua lời dặn dò của bà với cháu:

    + Bà không chỉ là chỗ dựa vững chắc cho hậu phương mà còn là điểm tựa vững chắc cho cả tiền tuyến.

    Từ những kỉ niệm tuổi thơ được sống bên bà, nhận được sự yêu thương, chăm sóc của bà bên bếp lửa quê hương, người cháu suy ngẫm về cuộc đời bà và bếp lửa.

    Trong bài thơ, trên dưới mười lần tác giả nhắc đến bếp lửa và hiện diện cùng bếp lửa là hình ảnh người bà, với vẻ đẹp tần tảo, nhẫn nại và đầy yêu thương. Và đến đây, tác giả đã dành một khổ thơ để nói lên những suy ngẫm về bếp lửa:

    – Hình ảnh bếp lửa ở dòng thơ đầu là hình ảnh tả thực về sự vật hữu hình, cụ thể, gần gũi và gắn liền với những gian khổ của đời bà.

    – Từ hình ảnh ” bếp lửa” hữu hình, tác giả đã liên tưởng đến ” ngọn lửa” vô hình ” lòng bà luôn ủ sẵn” với ý nghĩa trừu tượng và khái quát:

    + Bếp lửa bà nhóm lên không phải chỉ bằng nhiên liệu bên ngoài, mà còn bằng chính ngọn lửa từ trong lòng bà – ngọn lửa của tình yêu thương, niềm tin vô cùng ” dai dẳng “, bền bỉ và bất diệt.

    + Ngọn lửa bền bỉ và dất diệt ngày ngày bà nhóm cũng chính là nhóm niềm vui, niềm tin, niềm yêu thương để nâng đỡ cháu trên suốt những chặng đường dài.

    + Bà không chỉ là người nhóm lửa, giữ lửa mà còn là người truyền lửa -ngọn lửa của sự sống, niềm tin cho các thế hệ nối tiếp.

    Hình ảnh bà luôn gắn với hình ảnh bếp lửa, ngọn lửa. Bà là người nhóm lửa, cũng là người giữ cho ngọn lửa luôn ấm nóng và tỏa sáng. Để rồi mỗi khi nhớ lại, người cháu vô cùng cảm phục và biết ơn bà:

    Cụm từ chỉ thời gianđời bà”, “mấy chục năm” đi liền với từ láy tượng hìnhlận đận” và hình ảnh ẩn dụ “nắng mưa” đã diễn tả một cách sâu sắc và trọn vẹn về cuộc đời đầy những lận đận, gian nan, vất vả của bà.

    – Thời gian có thể trôi, mọi sự có thể biến đổi, song chỉ duy nhất một sự bất biến: Suốt cả một cuộc đời lận đận, vất vả, bà vẫn ” giữ thói quen dậy sớm ” để làm công việc nhóm lửa, nhóm lên niềm tin, tình yêu thương cho cháu.

    Bà không chỉ nhóm lửa bằng đôi tay khẳng khiu, gầy guộc, mà còn bằng tất cả tấm lòng đôn hậu ” ấp iu nồng đượm ” đối với con cháu:

    + ” Nhóm bếp lửa”, “nhóm nồi xôi gạo ” là hình ảnh tả thực công việc của bà.

    + ” Nhóm niềm yêu thương”, “nhóm dậy cả những tâm tình” là hình ảnh ẩn dụ về công việc thiêng liêng và cao quý nhất của con người. Bà đã khơi dậy trong tâm hồn cháu và những người xung quanh niềm yêu thương, sự chia sẻ.

    Nỗi nhớ bà và bếp lửa gợi lên từ một thực tại, người cháu năm xưa giờ đã lớn khôn, trưởng thành, đã được chắp cánh bay xa, được làm quen với những chân trời rộng lớn:

    – Dòng thơ đầu được ngắt thành hai câu để gợi sự chảy trôi của thời gian (từ bốn tuổi, tám tuổi đến trưởng thành); gợi sự biến đổi của không gian (từ căn bếp của bà đến những khoảng trời rộng lớn).

    + Cho thấy người cháu đã có những thay đổi lớn trong cuộc đời, đã tìm được bao niềm vui mới.

    + Khẳng định đứa cháu không thể quên được ngọn lửa của bà, tấm lòng đùm bọc, ấp iu của bà. Ngọn lửa ấy đã thành kỉ niệm ấm lòng, thành niềm tin thiêng liêng, kì diệu nâng bước người cháu trên suốt chặng đường dài.

    – Bài thơ Bếp lửa – Bằng Việt đã khẳng định, ngợi ca tình cảm bà cháu bình dị, gần gũi mà thiêng liêng.

    – Qua những hồi tưởng và suy ngẫm của người cháu đã trưởng thành, nhớ lại những kỉ niệm đầy xúc động về người bà và bếp lửa, đã bộc lộ những tình cảm thiêng liêng, sâu nặng đối với gia đình, quê hương, đất nước.

    – Hệ thống hình ảnh vừa chân thực lại vừa giàu ý nghĩa biểu tượng.

    – Cảm xúc mãnh liệt, chân thành và đậm chất triết lí sâu xa.

    IV. Một số dạng đề tham khảo

    Câu 1. Đọc đoạn thơ sau và trả lời các câu hỏi nêu ở dưới:

    … Nhóm bếp lửa ấp iu nồng đượm

    Nhóm niềm yêu thương, khoai sắn ngọt bùi

    Nhóm nồi xôi gạo mới sẽ chung vui

    Nhóm dậy cả những tâm tình tuổi nhỏ …

    (Ngữ văn 9 Tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2022, tr143)

    a. Đoạn thơ trên trích trong văn bản nào? Tác giả là ai?

    b. Trong các từ nhóm trên, từ nào được dùng với nghĩa gốc, từ nào được dùng với nghĩa chuyển? Giải thích nghĩa gốc, nghĩa chuyển của từ nhóm trong đoạn thơ.

    c. Nêu hiệu quả nghệ thuật của điệp từ nhóm trong đoạn thơ trên.

    Câu 2. Cảm nhận của anh (chị) về hình ảnh bếp lửa trong bài thơ Bếp lửa của nhà thơ Bằng Việt.

    Câu 3. Cảm nhận của anh (chị) về hình ảnh người bà trong bài thơ Bếp lửa của nhà thơ Bằng Việt.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cảm Nhận Hình Ảnh Người Bà Trong Bếp Lửa
  • Cảm Nhận Về Tình Bà Cháu Trong Bài Thơ Bếp Lửa Của Bằng Việt
  • Cảm Nghĩ Của Em Về Bài Thơ Bếp Lửa
  • Nhân Vật Người Bà Trong Bài Thơ Bếp Lửa Của Bằng Việt Đã Để Lại Cho Em Những Tình Cảm Như Thế Nào? Hãy Phát Biểu Cảm Nghĩ Của Em.
  • Cảm Nghĩ Của Em Về Bài Thơ Bếp Lửa Của Tác Giả Bằng Việt
  • Đọc Hiểu Văn Bản “bếp Lửa”

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài Cảm Thụ Văn Bản Bếp Lửa Của Bằng Việt
  • Phân Tích Bài Thơ Bếp Lửa Của Bằng Việt, 6 Bài Văn Mẫu Hay, Mở Bài, T
  • Soạn Bài Bài Thơ Về Tiểu Đội Xe Không Kính
  • Đọc Hiểu Văn Bản “bài Thơ Về Tiểu Đội Xe Không Kính”
  • Bài Thơ Về Tiểu Đội Xe Không Kính
  • Nhà thơ Bằng Việt (tên khai sinh là Nguyễn Việt Bằng), sinh năm 1941, quê ở huyện Thạch Thất, tỉnh Hà Tây. Bằng Việt làm thơ từ đầu những năm 60 của thế kỉ XX và thuộc thế hệ các nhà thơ trưởng thành trong thời kì kháng chiến chống Mĩ cứu nước.

    “Bằng Việt là một nhà thơ được bạn đọc biết đến từ phần thơ in chung với Lưu Quang Vũ trong tập Hương cây – Bếp lửa (1968). Nỗi nhớ quê hương đầu tiên thành thơ là dành cho bếp lửa:”Một bếp lửa chờn vờn sương sớm, một bếp lửa ấp iu nồng đượm” gắn với hình ảnh người bà và bên người bà là người cháu. Bài thơ nói về tình bà cháu vừa sâu sắc, vừa thấm thía trong những năm đầu đất nước đói kém, loạn lạc, cuối đời gian khổ khó khăn. Cảm xúc tinh tế, đượm buồn của ông về những kỷ niệm về cuộc sống gia đình, về truyền thống nghĩa tình của dân tộc Việt nam. Bài thơ biều hiện một triết luận thầm kín: những gì là thân thiết nhất của mỗi tuổi thơ mỗi con người, đều có sức toả sáng, nâng đỡ họ trong suốt cuộc đời. Mạch triết luận thầm kín được khởi đầu từ Bếp lửa còn được tiếp nối trong nhiều bài thơ khác như Trở lại trái tim mình khi ông coi thủ đô Hà Nội như một cội nguồn tình cảm, cội nguồn sức mạnh. Cùng với Thư gửi người bạn xa đất nước, Tình yêu và báo động, Trở lại trái tim, nhà thơ ghi lại được những trạng thái phong phú của một tâm hồn thanh niên rất mực mến yêu đất nước, con người, nêu bật được một thủ đô hào hoa, thanh lịch, trầm tĩnh và anh hùng. Bằng Việt còn có những bài thơ khá tài hoa diễn đạt những suy tư về những danh nhân văn hoá nhân loại như Béttôven, Pauxtôpxki, Plixetxcaia. Người đọc còn biết đến ông về những lo toan chu đáo, những bồi hồi thương nhớ của một người cha ở nơi xa chăm chú theo dõi từng bước đi chập chững của đứa con, trong bài thơ Về Nghệ An thăm con với lời thơ điềm đạm, kiệm lời mà có sức vang xa. Có thể nói với 20 bài thơ trong tập Hương cây – Bếp lửa, Bằng Việt đã khắc hoạ được một triết luận thầm kín của riêng mình. Ông là một trong số không nhiều nhà thơ trẻ được bạn đọc tin yêu ngay từ ban đầu của thơ. Thơ Bằng Việt thường nghiêng về một lời tâm sự, một sự trao đổi nghĩ suy, gây được một cảm giác gần gũi, thân thiết đối với người đọc. Thơ ông thường sâu lắng trầm tư thích hợp với người đọc thơ trong sự trầm tĩnh, vắng lặng. Đó là một dấu ấn riêng của thơ Bằng Việt, còn lưu lại trong ký ức người đọc” (Từ điển văn học, Sđd).

    2. Tác phẩm:

    – Các tác phẩm chính: Hương cây – Bếp lửa (thơ, in chung, 1968); Những gương mặt những khoảng trời (thơ, 1973); Đất sau mưa (thơ, 1977); Khoảng cách giữa lời (thơ, 1983); Cát sáng (thơ, 1986); Bếp lửa – khoảng trời (thơ tuyển, 1988), Phía nửa mặt trăng chìm (thơ, 1986); Mozart (truyện danh nhân, 1978); Lọ lem (dịch thơ Eptusenkô); Hãy nói bằng ngôn ngữ của tình yêu (dịch thơ Ritsos).

    – Tác giả đã được nhận: Giải nhất văn học – nghệ thuật Hà Nội năm 1967 với bài thơ Trở lại trái tim mình; Giải thưởng chính thức về dịch thuật văn học quốc tế và phát triển giao lưu văn hóa quốc tế do Quỹ Hòa Bình (Liên Xô) trao tặng năm 1982.

    – Bài thơ Bếp lửa được tác giả Bằng Việt sáng tác năm 1963, khi tác giả là sinh viên đang học ở nước ngoài.

    Bài thơ gợi lại những kỉ niệm sâu sắc của người cháu về người bà và tuổi ấu thơ được ở cùng bà.

    II – GIÁ TRỊ TÁC PHẨM

    Chỉ là một tiếng gà mái nhảy ổ cục tác trong nắng trưa, chỉ là một bếp lửa chờn vờn trong sương sớm,… mà có biết bao nghĩa tình, mà sao tha thiết, lắng sâu đến thế! Thì ra, có khi những điều nhỏ nhoi, giản dị nhất lại ẩn chứa tâm tình, chắt đọng những điều thiêng liêng, là hiện hình của những tình cảm thiết tha, chân thành, không thể nào quên. Tiếng gà trưa đánh thức trong Xuân Quỳnh những kỉ niệm về một thời ấu thơ sống trong tình thương yêu của bà. Còn với Bằng Việt, trong bài thơ Bếp lửa (1963), như chính nhan đề của nó (cũng như nhan đề của bài thơ của Xuân Quỳnh: Tiếng gà trưa), “Bếp lửa” đã trở thành một hình ảnh biểu trưng cho sự ấm áp, nồng đượm của tình bà cháu. “Bếp lửa” khơi gợi, làm nhen lên, lan toả, cháy mãi dòng hồi ức tuổi ấu thơ, thao thức, đượm buồn.

    Một bếp lửa chờn vờn sương sớm

    Một bếp lửa ấp iu nồng đượm

    Cháu thương bà biết mấy nắng mưa.

    Bài thơ đã bắt đầu như thế. Bắt đầu bằng hình ảnh bếp lửa “chập chờn trong sương sớm, chập chờn trong kí ức. Hơi ấm của bếp lửa bắt đầu truyền thấm, bắt đầu nhen nhóm, khơi nguồn cho mạch cảm xúc thương yêu của cháu khi nhớ về bà. Hình ảnh “Một bếp lửa” điệp lại hai lần như nhắc nhớ, như hơi thổi vào bếp lửa đang “ấp iu”, để nhịp hồi tưởng bắt đầu… Để trong những dòng thơ tiếp theo, bao kỉ niệm thân thương ùa về:

    Lên bốn tuổi cháu đã quen mùi khói

    (…)

    Một ngọn lửa chứa niềm tin dai dẳng…

    Cháu nhớ, từ lúc cháu mới lên bốn tuổi, sống bên bà “tám năm ròng”… Nhớ quê mình ngày ấy, những ngày “đói mòn đói mỏi”, những ngày “bố đánh xe khô rạc ngựa gầy”, nhớ “khói hun nhèm mắt”, “sống mũi còn cay” đến tận bây giờ… Nhớ bà kể chuyện Huế trong tha thiết tiếng tu hú kêu. Tiếng tu hú kêu từ cánh đồng xa, da diết, khắc khoải vọng về, nghe chộn rộn, nao nao, lại như se sắt, xa xăm. Nhớ khi vắng bố mẹ, “bà bảo cháu nghe”, “dạy cháu làm”, “chăm cháu học”. Nhớ “Năm giặc đốt làng”, cháu giúp bà dựng lại nhà. Nhớ lời bà dặn khi viết thư để bố yên tâm,… Cứ thế, trong dòng hồi nhớ nôn nao, những sự việc cụ thể hiện về nguyên vẹn từng chi tiết như thể vừa mới xảy ra hôm qua đây thôi. Và thấm đẫm trong từng hình ảnh, từng sự việc ấy là tình cảm sâu nặng của cháu với bà, hướng về bà. Hình ảnh người bà được khắc hoạ gắn liền với bếp lửa, là khi “cháu cùng bà nhóm lửa”, “Nhóm bếp lửa nghĩ thương bà khó nhọc”, “Rồi sớm rồi chiều lại bếp lửa bà nhen”, “Bà vẫn giữ thói quen dậy sớm – Nhóm bếp lửa ấp iu nồng đượm”,…

    Hình ảnh bếp lửa trở đi trở lại (12 lần) trong suốt bài thơ. Cuộc đời bà lận đận, khó nhọc, giãi dầu mưa nắng nhưng bà luôn dành cho cháu tình thương yêu, săn sóc, chở che ấm nồng như bếp lửa. Bà – bếp lửa là hai mà như một, hoà quyện, hun thấm, thiêng liêng. Bếp lửa gợi nhắc hình bóng thân thiết của bà, và nhớ đến bà là cháu lại không thể quên bếp lửa ấm tình thủa ấy. Bếp lửa đã không còn chỉ là bếp lửa thông thường nữa. Bà nhen lửa là bà nhen lên:

    Một ngọn lửa, lòng bà luôn ủ sẵn

    Một ngọn lửa chứa niềm tin dai dẳng

    Bà nhóm lửa là bà:

    Nhóm niềm yêu thương, khoai sắn ngọt bùi

    Nhóm nồi xôi gạo mới sẻ chung vui

    Nhóm dậy cả những tâm tình tuổi nhỏ

    Từ ngọn lửa được nhen lên từ bếp lửa của bà hoá thành ngọn lửa của tình thương yêu ấp ủ, ngọn lửa của niềm tin yêu bền bỉ cháy mãi không thôi. Bà nhóm lửa là bà nhóm lên, truyền cho cháu lẽ sống, lòng cảm thông chia sẻ. Mỗi khi xúc cảm kết thành những suy ngẫm sâu xa, lời thơ lại trào dâng lên như những điệp khúc bập bùng, chứa đựng niềm xúc động rưng rưng, rần rật cháy trong mạch tự sự của nhân vật trữ tình.

    Những hình ảnh thực, cụ thể, vốn rất đỗi gần gũi, thân quen đã được tác giả nâng lên thành những hình ảnh biểu tượng mang ý nghĩa khái quát sâu sắc. Điều bình dị đã trở nên quý giá, thiêng liêng, kì lạ. Kì lạ, thiêng liêng vì nó nhỏ bé, giản đơn mà đã trở thành hành trang theo cháu trong suốt cuộc đời. Kì lạ, thiêng liêng là vì “đã mấy chục năm rồi” mà bếp lửa của bà vẫn nồng đượm trong cháu, ngọn lửa của bà vẫn thầm cháy trong cháu “đến tận bây giờ”.

    Giờ cháu đã đi xa. Có ngọn khói trăm tàu

    Có lửa trăm nhà, niềm vui trăm ngả

    Nhưng vẫn chẳng lúc nào quên nhắc nhở:

    – Sớm mai này bà nhóm bếp lên chưa?…

    Bài thơ Bếp lửa được sáng tác khi Bằng Việt đang là sinh viên ngành Luật của Trường Đại học Tổng hợp Ki-ép (Liên Xô cũ). Kì lạ và thiêng liêng biết bao khi trong cuộc sống đã ” Có ngọn khói trăm tàu, Có lửa trăm nhà, niềm vui trăm ngả” mà lòng vẫn khôn nguôi hình ảnh người bà với bếp lửa ở tận miền kí ức ấu thơ.

    Cứ nhẹ nhàng, mộc mạc mà thấm thía, sâu xa, bếp lửa của bà, ngọn lửa của bà, tình thương yêu của bà, cuộc đời bà đã soi rọi, toả ấm con đư¬ng cháu đi. Có thể cuộc sống hiện đại sẽ không còn nhiều người biết đến bếp lửa như ở nơi quê nghèo ấy nữa, nhưng nó đã thành biểu tượng, sẽ còn mãi giá trị “khơi gợi cho người đọc những kỉ niệm về cuộc sống gia đình, về truyền thống nghĩa tình của dân tộc Việt Nam”(1). Điều nhỏ nhoi, giản dị mà có ý nghĩa sâu sắc, lớn lao là như vậy.

    (Sưu tầm)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài Thơ: Bếp Lửa (Bằng Việt
  • Luật Xây Dựng Và Văn Bản Hướng Dẫn Công Trình Xây Dựng
  • Bài 8: Văn Bản: Bạn Đến Chơi Nhà
  • Phát Biểu Cảm Nghĩ Về Bài Thơ Bạn Đến Chơi Nhà Của Nguyễn Khuyến
  • Phát Biểu Cảm Nghĩ Về Bài Bạn Đến Chơi Nhà Lớp 7 Hay Nhất
  • Tìm Hiểu Văn Bản: Bếp Lửa – Bằng Việt

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài: Bài Thơ Về Tiểu Đội Xe Không Kính – Ngữ Văn 9 Tập 1
  • O’henry [Sách Văn Lớp 8
  • Soạn Bài: Chiếc Lá Cuối Cùng – Ngữ Văn 8 Tập 1
  • Tìm Hiểu Chung Về Tác Phẩm Cô Bé Bán Diêm
  • Soạn Bài: Cô Bé Bán Diêm – Ngữ Văn 8 Tập 1
  • I. Những nét chính về tác giả -tác phẩm

    1. Tác giả

    – Bằng Việt tên khai sinh là Nguyễn Việt Bằng. Ông sinh năm 1941, quê huyện Thạch Thất, tỉnh Hà Tây.

    – Ông bắt đầu “cầm bút” từ những năm 60 của thế kỉ XX và tập trung khai thác ở hai mảng đề tài chính: cuộc chiến đấu của nhân dân ta trong kháng chiến chống Mĩvẻ đẹp của con người giữa cuộc sống đời thường.

    – Phong cách sáng tác: Thơ Bằng Việt mang giọng điệu thủ thỉ, tâm tình; ngôn từ điềm đạm; cấu tứ mạch lạc và hệ thống thi ảnh đặc sắc.

    2. Tác phẩm

    a. Hoàn cảnh sáng tác

    – Bài thơ “Bếp lửa” ra đời năm 1963, khi ấy tác giả đang là sinh viên ngành Luật tại Liên Xô và mới bắt đầu đến với thơ.

    – Bài thơ in trong tập “Hương cây – Bếp lửa” năm 1968.

    b. Ý nghĩa nhan đề

    “Bếp lửa” là một hình ảnh độc đáo, sáng tạo, xuất hiện nhiều lần trong bài thơ, nó vừa mang ý nghĩa tả thực, vừa mang ý nghĩa biểu tượng:

    – Trước hết, đây là một bếp lửa thực, quen thuộc, gần gũi trong mỗi gia đình của người Việt. Đồng thời, nó là hình ảnh gắn với kỉ niệm ấu thơ về một người bà cụ thể, có thật của tác giả.

    – Bếp lửa là biểu tượng giàu ý nghĩa:

    + Bếp lửa gợi lên sự tảo tần, chăm sóc, yêu thương của người bà dành cho người cháu trong những năm tháng đói nghèo, chiến tranh để trưởng thành và khôn lớn.

    + Bếp lửa gợi lên bao vất vả, cực nhọc của đời bà. Song bà nhóm bếp lửa cũng chính là nhóm lên sự sống, niềm vui, niềm tin, và hi vọng cho cháu vào một tương lai phía trước.

    + Bếp lửa còn là biểu tượng của gia đình, quê hương, đất nước, cội nguồn… đã nâng bước người cháu trên suốt hành trình dài rộng của cuộc đời.

    c. Bố cục: Bốn phần

    – Phần một: Khổ thơ đầu: Hình ảnh bếp lửa – Nơi bắt đầu nỗi nhớ.

    – Phần hai: Ba khổ tiếp: Những kỉ niệm tuổi thơ được sống bên bà và bếp lửa.

    – Phần ba: Hai khổ tiếp: Suy ngẫm về bà và bếp lửa.

    – Phần bốn: Khổ thơ cuối: Nỗi nhớ về bà và bếp lửa.

    II. Trọng tâm kiến thức

    1. Hình ảnh bếp lửa – Nơi bắt đầu nỗi nhớ

    Dòng hồi tưởng bắt đầu từ hình ảnh thân thương, ấm áp về bếp lửa.

    Để rồi, từ hình ảnh bếp lửa ấy, dòng kỉ niệm niệm về bà thức dậy và được tái hiện:

    “Một bếp lửa chờn vờn sương sớm

    Một bếp lửa ấp iu nồng đượm”

    Hình ảnh bếp lửa tả thực, nhỏ bé, gần gũi, quen thuộc trong mỗi gia đình từ bao đời.

    Hình ảnh ẩn dụ “ấp iu nồng đượm”:

    + Gợi đến bàn tay cần mẫn, khéo léo, chính xác của người nhóm lửa.

    + Gợi tấm lòng chi chút của người nhóm ngọn lửa.

    Từ “bếp lửa” được điệp lại hai lần:

    + Gợi bóng dáng của người bà, người mẹ tần tảo, thức khuya dậy sớm chăm sóc cho chồng, cho con.

    + Diễn tả dòng cảm xúc dâng tràn ùa về từ kí ức.

    – Từ láy “chờn vờn”:

    + Miêu tả bếp lửa với ngọn lửa bốc cao, bập bùng, tỏa sáng, ẩn hiện giữa màn sương sớm.

    + Bếp lửa ấy mờ tỏa, chờn vờn trong kí ức về những năm tháng tuổi thơ được sống bên bà của nhà thơ.

    Một cách tự nhiên, hình ảnh bếp lửa đã làm trỗi dậy dòng cảm xúc yêu thương mãnh liệt trong người cháu:

    “Cháu thương bà biết mấy nắng mưa!”

    – Bộc lộ sự thấu hiểu đến tận cùng những vất vả, nhọc nhằn, lam lũ của đời bà.

    – Chữ “thương” dùng thật đắt qua vần thơ cảm thán, diễn tả cảm xúc đến rất tự nhiên và lan tỏa tâm hồn người cháu.

    2. Những kỉ niệm tuổi thơ được sống bên bà và bếp lửa

    a. Những kỉ niệm hồi lên bốn tuổi

    Đó là kỉ niệm tuổi thơ với những năm tháng gian khổ, thiếu thốn, nhọc nhằn:

    “Lên bốn tuổi cháu đã quen mùi khói

    Năm ấy là năm đói mòn đói mỏi

    Bố đi đánh xe khô rạc ngựa gầy”

    – Từ láy “đói mòn đói mỏi”:

    + Miêu tả một hiện thực đau thương trong lịch sử: Năm 1945, do chính sách cai trị hà khắc của phát xít Nhật và thực dân Pháp đã khiến hơn hai triệu đồng bào ta  chết đói.

    + Câu thơ trĩu xuống, khiến lòng người như nao nao, nghẹn ngào khi nghĩ về kí ức tuổi thơ ấy.

    Hình ảnh “bố đi đánh xe khô rạc ngựa gầy” phần nào diễn tả được hoàn cảnh khó khăn, thiếu thốn của gia đình khiến người cha phải bươn chải kiếm sống đủ nghề.

    Hình ảnh “đói mòn đói mỏi” và “khô rạc ngựa gầy” là những hình ảnh đậm chất hiện thực, đặc tả được sự xơ xác, tiều tụy của những con người trong cuộc mưu sinh.

    Trong những năm đói khổ ấy, cháu cùng bà nhóm lửa:

    “Chỉ nhớ khói hun nhèm mắt cháu

    Nghĩ lại đến giờ sống mũi còn cay”

    – Khói bếp của bà chẳng làm no lòng cháu nhưng đã lưu giữ một kỉ niệm sống mãi không nguôi: mùi khói đã hun nhèm mắt cháu để đến bây giờ nghĩ lại “sống mũi còn cay”.

    Tác giả nhắc đi nhắc lại từ “khói”: “mùi khói”, “khói hun” gợi một sự ám ảnh về một thời gian khó đã đi qua.

    – Cảm giác cay cay vì khói bếp và cái cay cay bởi nỗi xúc động của người cháu như hòa quyện, quá khứ và hiện tại như đồng hiện trên những dòng thơ.

    b. Những kỉ niệm hồi lên tám tuổi:

    Đó là những năm tháng cháu sống trong sự cưu mang, dạy dỗ của bà:

    “Tám năm ròng, cháu cùng bà nhóm lửa”

    – Gợi khoảng thời gian tám năm cháu nhận được sự yêu thương, che chở, bao bọc của bà.

    – Tám năm ấy, cháu sống cùng bà vất vả, khó khăn nhưng đầy tình yêu thương.

    – Bếp lửa hiện diện như tình bà ấm áp, như chỗ dựa tinh thần, như sự cưu mang đùm bọc đầy chi chút của bà.

    Đó là những năm tháng hồn nhiên, trong sáng và vô tư qua hình ảnh tâm tình với chim tu hú:

    “Tu hú kêu trên những cánh đồng xa

    Tu hú kêu bà còn nhớ không bà?

    Bà hay kể chuyện những ngày ở Huế

    Tiếng tu hú sao mà tha thiết thế!”

    – Tiếng chim tu hú – âm thanh quen thuộc của đồng quê mỗi độ hè về, để báo hiệu mùa lúa chín vàng đồng, vải chín đỏ cành.

    – Tiếng chim tu hú như giục giã, như khắc khoải điều gì da diết lắm, khiến lòng người trỗi dậy những hoài niệm nhớ mong. Tiếng tu hú gợi nhớ, gợi thương:

    + Về tám năm kháng chiến chống Pháp “mẹ cùng cha công tác bận không về” bà vừa là cha, vừa là mẹ.

    + Về những năm tháng tuổi thơ, về một thời cháu cùng bà nhóm lửa, được sống trong tình yêu thương, đùm bọc, cưu mang trọn vẹn của bà:

    “Cháu ở cùng bà, bà kể cháu nghe

    Bà dạy cháu làm, bà chăm cháu học”

    ++ Các động từ: “bà bảo”, “bà dạy”, “bà chăm” đã diễn tả sâu sắc tấm lòng bao la, sự chăm chút, nâng niu của bà đối với đứa cháu nhỏ.

    ++ Các từ “bà” – “cháu” được điệp lại bốn lần, đan xen vào nhau như gợi tả tình bà cháu quấn quýt yêu thương.

    Tình yêu, sự kính trọng bà của người cháu được thể hiện thật chân thành, sâu sắc qua câu thơ:

    “Nhóm bếp lửa nghĩ thương bà khó nhọc”

    – Hình ảnh con chim tú hú xuất hiện tiếp tục ở cuối khổ thơ với câu hỏi tu từ là một sáng tạo độc đáo của Bằng Việt nhằm diễn tả nỗi lòng da diết của mình khi nhớ về tuổi thơ, về bà:

    “Tu hú ơi! Chẳng đến ở cùng bà

    Kêu chi hoài trên những cánh đồng xa?”

    + Gợi hình ảnh chú chim đang lạc lõng, bơ vơ, côi cút khao khát được ấp ủ, che chở.

    + Đứa cháu được sống trong tình yêu thương, đùm bọc của bà đã chạnh lòng thương con tu hú. Và thương con tu hú bao nhiêu, tác giả lại biết ơn những ngày được bà yêu thương, chăm chút bấy nhiêu.

    c. Những kỉ niệm thời bom đạn chiến tranh

    Từ trong khói lửa của cuộc chiến tranh tàn khốc, người bà càng sáng lên những phẩm chất cao đẹp:

    “Năm giặc đốt làng cháy tàn cháy rụi

    Hàng xóm bốn bên trở về lầm lụi

    Đỡ đần bà dựng lại túp lều tranh”

    – Hình ảnh “cháy tàn cháy rụi” gợi sự tàn phá, hủy diệt khủng khiếp của chiến tranh.

    – Trước hiện thực khó khăn, ác liệt ấy, bà vẫn mạnh mẽ, kiên cường không kêu ca, phàn nàn. Điều đó được thể hiện qua lời dặn dò của bà với cháu:

    “Vẫn vững lòng, bà dặn cháu đinh ninh:

    Bố ở chiến khu, bố còn việc bố,

    Mày có viết thư chớ kể này kể nọ,

    Cứ bảo nhà vẫn được bình yên!”

    + Bà đã gồng mình, lặng lẽ gánh vác mọi lo toan để các con yên tâm công tác.

    + Bà không chỉ là chỗ dựa vững chắc cho hậu phương mà còn là điểm tựa vững chắc cho cả tiền tuyến.

    3. Những suy ngẫm về bà và bếp lửa

    Từ những kỉ niệm tuổi thơ được sống bên bà, nhận được sự yêu thương, chăm sóc của bà bên bếp lửa quê hương, người cháu suy ngẫm về cuộc đời bà và bếp lửa.

    a. Những suy ngẫm về hình ảnh bếp lửa

    Trong bài thơ, trên dưới mười lần tác giả nhắc đến bếp lửa và hiện diện cùng bếp lửa là hình ảnh người bà, với vẻ đẹp tần tảo, nhẫn nại và đầy yêu thương. Và đến đây, tác giả đã dành một khổ thơ để nói lên những suy ngẫm về bếp lửa:

     “Rồi sớm rồi chiều lại bếp lửa bà nhen

    Một ngọn lửa lòng bà luôn ủ sẵn

    Một ngọn lửa chứa niềm tin dai dẳng…”

    – Hình ảnh bếp lửa ở dòng thơ đầu là hình ảnh tả thực về sự vật hữu hình, cụ thể, gần gũi và gắn liền với những gian khổ của đời bà.

    – Từ hình ảnh “bếp lửa” hữu hình, tác giả đã liên tưởng đến “ngọn lửa” vô hình “lòng bà luôn ủ sẵn” với ý nghĩa trừu tượng và khái quát:

    + Bếp lửa bà nhóm lên không phải chỉ bằng nhiên liệu bên ngoài, mà còn bằng chính ngọn lửa từ trong lòng bà – ngọn lửa của tình yêu thương, niềm tin vô cùng “dai dẳng”, bền bỉ và bất diệt.

    + Ngọn lửa bền bỉ và dất diệt ngày ngày bà nhóm cũng chính là nhóm niềm vui, niềm tin, niềm yêu thương để nâng đỡ cháu trên suốt những chặng đường dài.

    + Bà không chỉ là người nhóm lửa, giữ lửa mà còn là người truyền lửa   -ngọn lửa của sự sống, niềm tin cho các thế hệ nối tiếp.

    Các động từ: “nhen”, “ủ sẵn”, “chứa” đã khẳng định ý chí, bản lĩnh sống của bà, cũng là của những người phụ nữ Việt Nam.

    Điệp ngữ – ẩn dụ “một ngọn lửa” cùng kết cấu song hành đã làm cho giọng thơ vang lên mạnh mẽ, đầy xúc động, tự hào.

    b. Những suy ngẫm về bà và cuộc đời bà

    Hình ảnh bà luôn gắn với hình ảnh bếp lửa, ngọn lửa. Bà là người nhóm lửa, cũng là người giữ cho ngọn lửa luôn ấm nóng và tỏa sáng. Để rồi mỗi khi nhớ lại, người cháu vô cùng cảm phục và biết ơn bà:

    “Lận đận đời bà biết mấy nắng mưa

    Mấy chục năm rồi, đến tận bây giờ

    Bà vẫn giữ thói quen dậy sớm”

    Cụm từ chỉ thời gian “đời bà”, “mấy chục năm” đi liền với từ láy tượng hình “lận đận” và hình ảnh ẩn dụ “nắng mưa” đã diễn tả một cách sâu sắc và trọn vẹn về cuộc đời đầy những lận đận, gian nan, vất vả của bà.

    – Thời gian có thể trôi, mọi sự có thể biến đổi, song chỉ duy nhất một sự bất biến: Suốt cả một cuộc đời lận đận, vất vả, bà vẫn “giữ thói quen dậy sớm” để làm công việc nhóm lửa, nhóm lên niềm tin, tình yêu thương cho cháu.

    Bà không chỉ nhóm lửa bằng đôi tay khẳng khiu, gầy guộc, mà còn bằng tất cả tấm lòng đôn hậu “ấp iu nồng đượm” đối với con cháu:

    “Nhóm bếp lửa ấp iu nồng đượm

    Nhóm niềm yêu thương khoai sắn ngọt bùi

    Nhóm nồi xôi gạo mới sẻ chung vui

    Nhóm dậy cả những tâm tình tuổi nhỏ”

    Điệp từ “nhóm” được nhắc lại bốn lần, đan kết với những chi tiết tả thực mang đến nhiều ý nghĩa và liên tưởng khác nhau:

    + “Nhóm bếp lửa”, “nhóm nồi xôi gạo” là hình ảnh tả thực công việc của bà.

    + “Nhóm niềm yêu thương”, “nhóm dậy cả những tâm tình” là hình ảnh ẩn dụ về công việc thiêng liêng và cao quý nhất của con người. Bà đã khơi dậy trong tâm hồn cháu và những người xung quanh niềm yêu thương, sự chia sẻ.

    4. Nỗi nhớ bà và bếp lửa

    Nỗi nhớ bà và bếp lửa gợi lên từ một thực tại, người cháu năm xưa giờ đã lớn khôn, trưởng thành, đã được chắp cánh bay xa, được làm quen với những chân trời rộng lớn:

    “Giờ cháu đã đi xa, có ngọn khói trăm tàu,

    Có lửa trăm nhà, niềm vui trăm ngả,

    Nhưng vẫn chẳng lúc nào quên nhắc nhở:

    Sớm mai này bà nhóm bếp lên chưa?”

    – Dòng thơ đầu được ngắt thành hai câu để gợi sự chảy trôi của thời gian (từ bốn tuổi, tám tuổi đến trưởng thành); gợi sự biến đổi của không gian (từ căn bếp của bà đến những khoảng trời rộng lớn).

    Điệp từ “trăm” mở ra một thế giới rộng lớn với bao điều mới mẻ.

    Điệp từ “có” kết hợp với thủ pháp liệt kê:

    + Cho thấy người cháu đã có những thay đổi lớn trong cuộc đời, đã tìm được bao niềm vui mới.

    + Khẳng định đứa cháu không thể quên được ngọn lửa của bà, tấm lòng đùm bọc, ấp iu của bà. Ngọn lửa ấy đã thành kỉ niệm ấm lòng, thành niềm tin thiêng liêng,  kì diệu nâng bước người cháu trên suốt chặng đường dài.

    III. Tổng kết

    1. Nội dung

    – Bài thơ Bếp lửa – Bằng Việt đã khẳng định, ngợi ca tình cảm bà cháu bình dị, gần gũi mà thiêng liêng.

    – Qua những hồi tưởng và suy ngẫm của người cháu đã trưởng thành, nhớ lại những kỉ niệm đầy xúc động về người bà và bếp lửa, đã bộc lộ những tình cảm thiêng liêng, sâu nặng đối với gia đình, quê hương, đất nước.

    2. Nghệ thuật

    – Hệ thống hình ảnh vừa chân thực lại vừa giàu ý nghĩa biểu tượng.

    – Cảm xúc mãnh liệt, chân thành và đậm chất triết lí sâu xa.

    IV. Một số dạng đề tham khảo

    Câu 1. Đọc đoạn thơ sau và trả lời các câu hỏi nêu ở dưới:

    … Nhóm bếp lửa ấp iu nồng đượm

    Nhóm niềm yêu thương, khoai sắn ngọt bùi

    Nhóm nồi xôi gạo mới sẽ chung vui

    Nhóm dậy cả những tâm tình tuổi nhỏ …

    (Ngữ văn 9 Tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2022, tr143)

    a. Đoạn thơ trên trích trong văn bản nào? Tác giả là ai?

    b. Trong các từ nhóm trên, từ nào được dùng với nghĩa gốc, từ nào được dùng với nghĩa chuyển? Giải thích nghĩa gốc, nghĩa chuyển của từ nhóm trong đoạn thơ.

    c. Nêu hiệu quả nghệ thuật của điệp từ nhóm trong đoạn thơ trên.

    Câu 2. Cảm nhận của anh (chị) về hình ảnh bếp lửa trong bài thơ Bếp lửa của nhà thơ Bằng Việt.

    Câu 3. Cảm nhận của anh (chị) về hình ảnh người bà trong bài thơ Bếp lửa của nhà thơ Bằng Việt.

    Làm chủ kiến thức Ngữ văn – Luyện thi vào 10

    Tác giả: Phạm Trung Tình

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cảm Nghĩ Bài Thơ Bánh Trôi Nước
  • Soạn Bài Ai Đã Đặt Tên Cho Dòng Sông Dễ Hiểu
  • Tóm Tắt Văn Bản Trong Lòng Mẹ Dễ Hiểu Nhất
  • Soạn Bài: Làng – Ngữ Văn 9 Tập 1
  • Văn Bản Trong Tiếng Tiếng Anh
  • Đóng Vai Người Cháu Trong Văn Bản “bếp Lửa”

    --- Bài mới hơn ---

  • Đóng Vai Người Cháu Kể Lại Câu Chuyện Về Bà Trong Bài Thơ Bếp Lửa
  • Đóng Vai Người Cháu Trong Bài Thơ Bếp Lửa Của Bằng Việt Kể Lại Câu Chuyện
  • Đóng Vai Người Cháu Kể Lại Kỉ Niệm Tình Bà Cháu Trong Bài Thơ Bếp Lửa
  • 6 Bài Đóng Vai Người Cháu Kể Lại Câu Chuyện Bếp Lửa Hay Nhất
  • Đóng Vai Người Cháu Kể Lại Bếp Lửa Bằng Việt
  • Hồi ức về bếp lửa đã làm bớt đi cái lạnh lẽo của mùa đông xa quê. Nơi đó năm xưa bà vẫn tảo tần hôm sớm. Dáng bà còng lưng thổi bếp, thổi mãi cho đến khi bếp cháy và tỏa ra hơi ấm nồng nàn, hơi ấm của lửa tỏa ra khắp căn bếp nhỏ ấm tâm hồn của hai bà cháu

    “Một bếp lửa chờn vờn sương sớm

    Một bếp lửa ấp iu nồng đượm

    Cháu thương bà biết mấy nắng mưa.”

    Hình ảnh bếp lửa đã gợi lên tâm trí tôi, quá khứ hiện về như một cuộn phim quay chậm. Tuổi thơ được sống bên bà, cùng bà nhóm lửa. Lên bốn tuổi tôi đã quen mùi khói. Năm 1945, năm ấy nạn đói khủng khiếp xảy ra do chính sách cai trị của Pháp nên gia đình tôi đói mòn đói mỏi. Bố tôi đi đánh xe, khô rạc ngựa rầy. Bà đi đào những củ khoai, củ sắn rồi nướng cho tôi ăn. Mỗi khi đi đào khoai đào sắn cứ về nhà là chân tay bà lại lấm len bùn đất, tôi nhìn bà mà thương cho bà.

    Tám năm ròng sống cùng bà, tôi cùng bà nhóm lửa, nghe bà kể chuyện những ngày ở Huế, bà dạy tôi làm, bà chăm tôi học. Bà là người thầy đầu tiên trong cuộc đời tôi.

    Tuổi thơ tôi đã phải sống trong chiến tranh đầy bom đạn dữ dội. Năm ấy giặc đốt làng, làng xóm đỡ đần bà dựng lại túp lều tranh. Bà dặn tôi gửi thư cho bố không được kể lung tung cứ bảo nhà vẫn được bình yên để cho bố mẹ yên tâm mà công tác.

    Hình ảnh bà tôi tần tảo sớm chiều cùng bếp lửa, mái tóc bà bạc phơ, lưng bà đã còng đi. Bếp lửa do tay bà nhóm lên tỏa hơi ấm khắp căn lều nhỏ, sưởi ấm cả lòng tôi. Ngày ngày bà nhóm lên bếp lửa cũng là nhóm niềm vui, bà không những là người nhóm lửa, giữ lửa mà còn là người truyền lửa, truyền niềm tin, sự sống cho tôi.

    “Giờ cháu đã đi xa. Có ngọn khói trăm tàu

    Có lửa trăm nhà, niềm vui trăm ngả

    Nhưng vẫn chẳng lúc nào quên nhắc nhở:

    – Sớm mai này bà nhóm lửa lên chưa?…”

    Giờ đây tôi đã trưởng thành, có những niềm vui mới, tình cảm mới, bến bờ mới nhưng tôi không thể nào quên bà ngồi bên bếp lửa thổi những ngọn lử niềm tin, ngọn lửa ấm áp. Dù có đi đâu về đâu con người ta vẫn nhớ về kỉ niệm thơ ấu của mình.

    Tôi nhớ bà quá! Bây giờ tôi chỉ ước được về ngày bên bà, ôm chặt bà. Cùng bà nhóm lửa lên mỗi sớm chiều, nghe bà kể lại chuyện những ngày ở Huế. Cùng bà ngồi ăn những củ khoai, củ sắn nóng hổi bên bếp lửa. Tình yêu thương, lòng biết ơn trong gia đình chính là cội nguồn của tình yêu quê hương, đất nước, con người.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Tích Bài Thơ Bếp Lửa Của Bằng Việt
  • Bình Luận Bài Thơ Bếp Lửa Của Bằng Việt.
  • Một Số Câu Hỏi Xoay Quanh Bài Thơ: “bếp Lửa”
  • Cảm Nhận Của Em Về Tình Bà Cháu Và Bếp Lửa Trong Bài Thơ Bếp Lửa
  • Cảm Nhận Về Hình Ảnh Bếp Lửa Trong Bài Thơ Bếp Lửa Của Bằng Việt
  • Đóng Vai Người Cháu Trong Văn Bản “Bếp Lửa”

    --- Bài mới hơn ---

  • Đóng Vai Người Cháu Kể Lại Bài Thơ Bếp Lửa Của Bằng Việt
  • Đọc Hiểu Văn Bản: Bài Thơ Về Tiểu Đội Xe Không Kính (Phạm Tiến Duật)
  • Bài Văn: Biểu Cảm Về Loài Cây Em Yêu: Cây Phượng
  • Phát Biểu Cảm Nghĩ Về Loài Cây Em Yêu
  • Cảm Nghĩ Về Người Thân (Ông, Bà, Cha, Mẹ, Anh, Chị, Bạn, Thầy, Cô…)
  • Hồi ức về bếp lửa đã làm bớt đi cái lạnh lẽo của mùa đông xa quê. Nơi đó năm xưa bà vẫn tảo tần hôm sớm. Dáng bà còng lưng thổi bếp, thổi mãi cho đến khi bếp cháy và tỏa ra hơi ấm nồng nàn, hơi ấm của lửa tỏa ra khắp căn bếp nhỏ ấm tâm hồn của hai bà cháu

    “Một bếp lửa chờn vờn sương sớm

    Một bếp lửa ấp iu nồng đượm

    Cháu thương bà biết mấy nắng mưa.”

    Hình ảnh bếp lửa đã gợi lên tâm trí tôi, quá khứ hiện về như một cuộn phim quay chậm. Tuổi thơ được sống bên bà, cùng bà nhóm lửa. Lên bốn tuổi tôi đã quen mùi khói. Năm 1945, năm ấy nạn đói khủng khiếp xảy ra do chính sách cai trị của Pháp nên gia đình tôi đói mòn đói mỏi. Bố tôi đi đánh xe, khô rạc ngựa rầy. Bà đi đào những củ khoai, củ sắn rồi nướng cho tôi ăn. Mỗi khi đi đào khoai đào sắn cứ về nhà là chân tay bà lại lấm len bùn đất, tôi nhìn bà mà thương cho bà.

    Tám năm ròng sống cùng bà, tôi cùng bà nhóm lửa, nghe bà kể chuyện những ngày ở Huế, bà dạy tôi làm, bà chăm tôi học. Bà là người thầy đầu tiên trong cuộc đời tôi.

    Tuổi thơ tôi đã phải sống trong chiến tranh đầy bom đạn dữ dội. Năm ấy giặc đốt làng, làng xóm đỡ đần bà dựng lại túp lều tranh. Bà dặn tôi gửi thư cho bố không được kể lung tung cứ bảo nhà vẫn được bình yên để cho bố mẹ yên tâm mà công tác.

    Hình ảnh bà tôi tần tảo sớm chiều cùng bếp lửa, mái tóc bà bạc phơ, lưng bà đã còng đi. Bếp lửa do tay bà nhóm lên tỏa hơi ấm khắp căn lều nhỏ, sưởi ấm cả lòng tôi. Ngày ngày bà nhóm lên bếp lửa cũng là nhóm niềm vui, bà không những là người nhóm lửa, giữ lửa mà còn là người truyền lửa, truyền niềm tin, sự sống cho tôi.

    “Giờ cháu đã đi xa. Có ngọn khói trăm tàu

    Có lửa trăm nhà, niềm vui trăm ngả

    Nhưng vẫn chẳng lúc nào quên nhắc nhở:

    – Sớm mai này bà nhóm lửa lên chưa?…”

    Giờ đây tôi đã trưởng thành, có những niềm vui mới, tình cảm mới, bến bờ mới nhưng tôi không thể nào quên bà ngồi bên bếp lửa thổi những ngọn lử niềm tin, ngọn lửa ấm áp. Dù có đi đâu về đâu con người ta vẫn nhớ về kỉ niệm thơ ấu của mình.

    Tôi nhớ bà quá! Bây giờ tôi chỉ ước được về ngày bên bà, ôm chặt bà. Cùng bà nhóm lửa lên mỗi sớm chiều, nghe bà kể lại chuyện những ngày ở Huế. Cùng bà ngồi ăn những củ khoai, củ sắn nóng hổi bên bếp lửa. Tình yêu thương, lòng biết ơn trong gia đình chính là cội nguồn của tình yêu quê hương, đất nước, con người.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tóm Tắt Nội Dung Bài Thơ Bếp Lửa Của Bằng Việt
  • Soạn Bài: Bếp Lửa – Ngữ Văn 9 Tập 1
  • Đáp Án Môn El07
  • Tổng Hợp Các Văn Bản Pháp Luật Liên Quan Đến Lĩnh Vực Bất Động Sản
  • Bộ Xây Dựng Trả Lời
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100