Nguyên Tắc Áp Dụng Văn Bản Pháp Luật / TOP #10 Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 8/2022 # Top View | Bac.edu.vn

Nguyên Tắc Áp Dụng Văn Bản Pháp Luật

--- Bài mới hơn ---

  • Những Vấn Đề Mang Tính Nguyên Tắc Trong Luật Ban Hành Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật
  • Áp Dụng Văn Bản Pháp Luật Nào Lúc ‘giao Thời’?
  • Khái Niệm Áp Dụng Pháp Luật? Các Trường Hợp Áp Dụng Pháp Luật?
  • Các Biện Pháp Xử Lý Văn Bản Pháp Luật Khiếm Khuyết, Thẩm Quyền Và Điều Kiện Áp Dụng
  • Nguyên Tắc Áp Dụng Văn Bản Pháp Luật Quy Định Như Thế Nào
  • Hiện tại ở Việt Nam, các loại văn bản pháp luật quá nhiều như một rừng luật. Vậy quy định về văn bản pháp luật và việc áp dụng văn bản pháp luật như thế nào? Các trường hợp nhiều văn bản cùng một nội dung và có mâu thuẫn với nhau thì áp dụng ra sao? Theo hướng dẫn của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2022 giải thích:

    Các văn bản ở trên được gọi là văn bản quy phạm pháp luật, đôi khi một số trường hợp các văn bản này sẽ có mâu thuẫn với nhau. Việc áp dụng được quy định rõ tại điều 156 luật này:

    Điều 156. Áp dụng văn bản quy phạm pháp luật

    1. Văn bản quy phạm pháp luật được áp dụng từ thời điểm bắt đầu có hiệu lực.

    Văn bản quy phạm pháp luật được áp dụng đối với hành vi xảy ra tại thời điểm mà văn bản đó đang có hiệu lực. Trong trường hợp quy định của văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực trở về trước thì áp dụng theo quy định đó.

    2. Trong trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn.

    3. Trong trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật do cùng một cơ quan ban hành có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng quy định của văn bản quy phạm pháp luật ban hành sau.

    4. Trong trường hợp văn bản quy phạm pháp luật mới không quy định trách nhiệm pháp lý hoặc quy định trách nhiệm pháp lý nhẹ hơn đối với hành vi xảy ra, trước ngày văn bản có hiệu lực thì áp dụng văn bản mới.

    5. Việc áp dụng văn bản quy phạm pháp luật trong nước không được cản trở việc thực hiện điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên. Trong trường hợp văn bản quy phạm pháp luật trong nước và điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế đó, trừ Hiến pháp.

    Theo đó có một số lưu ý sau đây khi áp dụng văn bản quy phạm pháp luật

    – Về hiệu lực thi hành văn bản quy phạm pháp luật được áp dụng đối với hành vi xảy ra tại thời điểm mà văn bản đó đang có hiệu lực. Trong trường hợp văn bản có quy định hiệu lực trở về trước, thì áp dụng theo quy định đó.

    – Khi lựa chọn văn bản để áp dụng: Nếu nhiều văn bản cùng quy định một vấn đề nhưng có sự khác nhau thì áp dụng văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn. Nếu hiệu lực ngang nhau và do cùng một cơ quan ban hành thì áp dụng văn bản được ban hành sau

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hướng Dẫn Áp Dụng Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật Từ Thanglong
  • Quy Trinh Xây Dựng Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật ?
  • Hiệu Lực Của Văn Bản Pháp Luật
  • Thắc Mắc Về Chỉ Thị
  • Phân Biệt Văn Bản Quy Phạm Với Văn Bản Áp Dụng Pháp Luật
  • Nguyên Tắc Áp Dụng Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật

    --- Bài mới hơn ---

  • Tinh Thần Yêu Nước Của Nhân Dân Ta
  • Bài 20. Tinh Thần Yêu Nước Của Nhân Dân Ta
  • Bộ Xử Lý Word Là Gì?
  • Định Nghĩa Của Trình Xử Lý Văn Bản
  • Tip: Bộ Xử Lý Đầu Vào Văn Bản
  • Nguyên tắc áp dụng văn bản quy phạm pháp luật. Cách lựa chọn văn bản quy phạm pháp luật. Quy định của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2008 về áp dụng văn bản pháp luật.

    Theo Khoản 1, Điều 1 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2008: “Văn bản quy phạm pháp luật là văn bản do cơ quan nhà nước ban hành hoặc phối hợp ban hành theo thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục được quy định trong Luật này hoặc trong Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, trong đó có quy tắc xử sự chung, có hiệu lực bắt buộc chung, được Nhà nước bảo đảm thực hiện để điều chỉnh các quan hệ xã hội”.

    Như vậy văn bản quy phạm pháp luật có ý nghĩa rất lớn trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội tạo lập một trật tự pháp luật vì sự phát triển lành mạnh của cả xã hội và của từng cá nhân. Tuy nhiên, pháp luật Việt Nam còn chưa được hoàn thiện, nhiều nội dung chồng chéo lên nhau. Do đó, đương nhiên có những trường hợp có nhiều văn bản cùng điều chỉnh một vấn đề, lúc đó phải có sự cân nhắc phù hợp đề tìm ra luật áp dụng. Để làm được điều này thì:

    1. Vị trí thứ bậc của văn bản quy phạm trong hệ thống pháp luật

    Văn bản quy phạm pháp luật là sản phẩm của quyền lực nhà nước, thể hiện khả năng của mỗi cơ quan trong việc tác động vào các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội nên vị trí thứ bậc của văn bản quy phạm phụ thuộc vào vị trí của cơ quan ban hành văn bản trong bộ máy nhà nước theo quy tắc: cơ quan nào có vị trí cao trong bộ máy nhà nước thì văn bản quy phạm do cơ quan đó ban hành cũng có vị trí cao trong hệ thống pháp luật và ngược lại.

    Điều 2 của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2008 quy định về hệ thống văn bản quy phạm pháp luật như sau:

    Thứ nhất, vị trí thứ bậc của nghị quyết liên tịch giữa Ủy ban thường vụ Quốc hội hoặc giữa Chính phủ và cơ quan trung ương của tổ chức chính trị – xã hội. Đây là các văn bản quy phạm được ban hành bởi sự phối hợp của một cơ quan nhà nước có thẩm quyền với cơ quan trung ương của một tổ chức chính trị – xã hội. Vì các tổ chức chính trị – xã hội không nằm trong cơ cấu bộ máy nhà nước nên không thể xác định hiệu lực của văn bản theo vị trí của các tổ chức này. Do đó, cần phải coi nghị quyết liên tịch do Ủy ban thường vụ Quốc hội và cơ quan trung ương của tổ chức chính trị – xã hội ban hành có hiệu lực bằng nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội độc lập ban hành; nghị quyết liên tịch do Chính phủ và cơ quan trung ương của tổ chức chính trị – xã hội ban hành có hiệu lực bằng văn bản do Chính phủ độc lập ban hành.

    Thứ hai, vị trí thứ bậc của các thông tư liên tịch giữa Chánh án Toà án nhân dân tối cao với Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; giữa Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ với Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; giữa các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang. Quy định này cho thấy các thông tư liên tịch trừ trường hợp thông tư liên tịch của các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ được phối hợp ban hành bởi các chủ thể có vị trí khác nhau trong bộ máy nhà nước. Trong bộ máy nhà nước, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao được hiểu có vị trí cao hơn Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ. Vì vậy, các thông tư này cần được coi là có hiệu lực pháp lý thấp hơn hiệu lực của thông tư do Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao độc lập ban hành, nhưng lại có hiệu lực cao hơn thông tư do Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ độc lập ban hành.

    2. Việc lựa chọn áp dụng văn bản quy phạm pháp luật

    1. Văn bản quy phạm pháp luật được áp dụng từ thời điểm bắt đầu có hiệu lực.

    Theo quy định trên, khi lựa chọn văn bản quy phạm pháp luật để áp dụng, cần lưu ý một số diểm sau:

    Văn bản quy phạm pháp luật được quy định áp dụng theo các nguyên tắc sau đây:

    – Văn bản quy phạm pháp luật được áp dụng từ thời điểm có hiệu lực thi hành. Theo quy định tại Điều 78 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2008 thì:

    + Trường hợp văn bản quy phạm pháp luật quy định các biện pháp thi hành trong tình trạng khẩn cấp (đáp ứng yêu cầu phòng, chống thiên tai, dịch bệnh…) thì có thể có hiệu lực kể từ ngày công bố hoặc ký ban hành.

    – Văn bản quy phạm pháp luật được áp dụng đối với hành vi xảy ra tại thời điểm mà văn bản đó đang có hiệu lực. Trong trường hợp văn bản có quy định hiệu lực trở về trước, thì áp dụng theo quy định đó.

    – Trong trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật có quy định khác nhau về cùng một vấn đề, thì áp dụng văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn. Hiệu lực pháp lý của từng nhóm văn bản quy định pháp luật được trình bày ở trên.

    – Trong trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật về cùng một vấn đề do cùng một cơ quan ban hành mà có quy định khác nhau, thì áp dụng quy định của văn bản được ban hành sau.

    Sở dĩ luật quy định phải áp dụng văn bản được ban hành sau là để đảm bảo các quy phạm pháp luật được chọn để áp dụng phù hợp nhất với các điều kiện thực tế. Tuy nhiên, trên thực tế, có những trường hợp hai văn bản cùng quy định về một vấn đề, trong đó một văn bản quy định một cách chung nhất và một văn bản quy định mang tính chất chuyên sâu trong một lĩnh vực quản lý cụ thể. Trong trường hợp này, thông thường văn bản quy định chuyên sâu phù hợp với điều kiện quản lý đặc thù của từng ngành, từng lĩnh vực hơn văn bản quy định chung. Nếu văn bản chuyên ngành ban hành sau văn bản quy định chung thì việc lựa chọn văn bản chuyên ngành để áp dụng không có gì trái pháp luật, nhưng nếu văn bản chuyên ngành ban hành trước văn bản quy định chung thì lựa chọn văn bản nào để áp dụng là vấn đề khó khăn và tiềm ẩn khả năng áp dụng pháp luật không thống nhất.

    – Trong trường hợp văn bản quy phạm pháp luật mới không quy định trách nhiệm pháp lý hoặc quy định trách nhiệm pháp lý nhẹ hơn đối với hành vi xảy ra trước ngày văn bản có hiệu lực, thì áp dụng văn bản mới. Đây là quy định thể hiện tính nhân đạo của hệ thống pháp luật nước ta, là hiện thân tính nhân dân, tính nhân văn của đường lối, chính sách của Đảng.

    3. Các lưu ý khi áp dụng văn bản pháp luật

    Ở đây, cũng cần lưu ý: Theo Điều 54 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật của hội đồng nhân dân, uỷ ban nhân dân, có quy định cụ thể văn bản quy phạm pháp luật của của hội đồng nhân dân, uỷ ban nhân dân được quy định áp dụng theo các nguyên tắc sau đây:

    + Trong trường hợp văn bản quy phạm pháp luật của hội đồng nhân dân, uỷ ban nhân dân cùng cấp có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng văn bản quy phạm pháp luật của hội đồng nhân dân.

    + Trong trường hợp các nghị quyết của cùng một hội đồng nhân dân có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng quy định của nghị quyết được ban hành sau.

    + Trong trường hợp các quyết định, chỉ thị của cùng một uỷ ban nhân dân có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng quy định của quyết định, chỉ thị được ban hành sau.

    Như vậy, cơ quan ban hành văn bản phải định rõ thời hạn văn bản có hiệu lực thi hành, phạm vi và mức độ mà các cơ quan có nhiệm vụ thi hành được phép truyền đạt, phổ biến. Cơ quan có trách nhiệm thi hành phải chấp hành nghiêm chỉnh các quy phạm của văn bản, không được tự ý sửa đổi, bổ sung các văn bản đó. Tuy nhiên, áp dụng pháp luật còn là một hoạt động sáng tạo để trong trường hợp pháp luật chưa quy định hoặc quy định chưa rõ thì phải vận dụng một cách sáng tạo bằng cách áp dụng pháp luật tương tự.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tập Huấn Công Tác Rà Soát, Sắp Xếp Văn Bản Còn Hiệu Lực
  • Cách Sắp Xếp Văn Bản Trong Word
  • Soạn Bài Quá Trình Tạo Lập Văn Bản Trang 45 Sgk Ngữ Văn 7 Tập 1
  • Nội Dung Cơ Bản Môn Kỹ Thuật Xây Dựng Văn Bản Pháp Luật
  • Tóm Tắt Cốt Truyện Một Số Tác Phẩm Văn Xuôi Lớp 9
  • Nguyên Tắc Áp Dụng Văn Bản Pháp Luật Quy Định Như Thế Nào

    --- Bài mới hơn ---

  • Nguyên Tắc Áp Dụng Pháp Luật Hiện Nay Được Quy Định Như Thế Nào ?
  • Nguyên Tắc Áp Dụng Pháp Luật Trong Trường Hợp Các Văn Bản Do Cùng Một Chủ Thể Ban Hành Có Quy Định Khác Nhau Về Cùng Một Vấn Đề
  • Văn Bản Của Sở Gd&đt An Giang
  • Văn Bản Chỉ Đạo Điều Hành Tỉnh An Giang
  • Văn Bản Chỉ Đạo Điều Hành Tỉnh Hưng Yên
  • Nguyên tắc áp dụng văn bản pháp luật…Văn bản quy phạm pháp luật đất đai được áp dụng từ thời điểm bắt đầu có hiệu lực. Văn bản quy phạm pháp luật…

    NGUYÊN TẮC ÁP DỤNG VĂN BẢN PHÁP LUẬT

    Luật Đất đai năm 2013, bắt đầu có hiệu lực kể từ ngày 01/7/2014. Nguyên tắc áp dụng văn bản pháp luật trong thực thi pháp luật được thực hiện như thế nào?

    Theo quy định tại Điều 156 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2022, nguyên tắc áp dụng văn bản quy phạm pháp luật trong thực thi pháp luật được xác định như sau:

    “Điều 156. Áp dụng văn bản quy phạm pháp luật

    1. Văn bản quy phạm pháp luật được áp dụng từ thời điểm bắt đầu có hiệu lực. Văn bản quy phạm pháp luật được áp dụng đối với hành vi xảy ra tại thời điểm mà văn bản đó đang có hiệu lực. Trong trường hợp quy định của văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực trở vềtrước thì áp dụng theo quy định đó.

    2. Trong trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn.

    3. Trong trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật do cùng một cơ quan ban hành có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng quy định của văn bản quy phạm pháp luật ban hành sau.

    4. Trong trường hợp văn bản quy phạm pháp luật mới không quy định trách nhiệm pháp lý hoặc quy định trách nhiệm pháp lý nhẹ hơn đối với hành vi xảy ra, trước ngày văn bản có hiệu lực thì áp dụng văn bản mới.

    5. Việc áp dụng văn bản quy phạm pháp luật trong nước không được cản trở việc thực hiện điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên. Trong trường hợp văn bản quy phạm pháp luật trong nước và điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế đó, trừ Hiến pháp.”

    Tại Điều 211 về ” Hiệu lực thi hành ” của Luật Đất đai năm 2013 có hướng dẫn:

    1. Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2014.

    Luật Đất đai số 13/2003/QH11 và Nghị quyết số 49/2013/QH13 ngày 21 tháng 6 năm 2013 của Quốc hội về kéo dài thời hạn sử dụng đất trồng cây hàng năm, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối của hộ gia đình, cá nhân hết hiệu lực kể từ ngày Luật này có hiệu lực.

    Từ các quy định trên, nguyên tắc áp dụng văn bản pháp luật trong thực thi pháp luật đất đai được thực hiện như sau:

    – Văn bản quy phạm pháp luật đất đai được áp dụng từ thời điểm bắt đầu có hiệu lực. Văn bản quy phạm pháp luật được áp dụng đối với hành vi xảy ra tại thời điểm mà văn bản đó đang có hiệu lực. Trong trường hợp văn bản có hiệu lực trở về trước thì áp dụng theo quy định đó.

    – Trong trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn.

    – Trong trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật do cùng một cơ quan ban hành mà có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng quy định của văn bản được ban hành sau.

    – Trong trường hợp văn bản quy phạm pháp luật mới không quy định trách nhiệm pháp lý hoặc quy định trách nhiệm pháp lý nhẹ hơn đối với hành vi xảy ra trước ngày văn bản có hiệu lực thì áp dụng văn bản mới.

    Bên cạnh đó, Điều 210 Luật Đất đai 2013 còn quy định về điều khoản chuyển tiếp đối với một số trường hợp đặc thù đã được Nhà nước cho thuê đất, giao đất, công nhận QSDĐ, chuyển mục đích sử dụng đất, nhận chuyển QSDĐ; dự án, hạng mục đã chi trả xong bồi thường, hỗ trợ, tái định cư trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành thì không áp dụng theo quy định của Luật này hoặc áp dụng với một sự điều chỉnh cụ thể. Do vậy, khi áp dụng Luật Đất đai 2013 thì cần phải nghiên cứu kỹ những trường hợp đặc thù đã được quy định tại Điều 210.

    Xin chân thành cảm sự đồng hành của quý khách.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Các Biện Pháp Xử Lý Văn Bản Pháp Luật Khiếm Khuyết, Thẩm Quyền Và Điều Kiện Áp Dụng
  • Khái Niệm Áp Dụng Pháp Luật? Các Trường Hợp Áp Dụng Pháp Luật?
  • Áp Dụng Văn Bản Pháp Luật Nào Lúc ‘giao Thời’?
  • Những Vấn Đề Mang Tính Nguyên Tắc Trong Luật Ban Hành Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật
  • Nguyên Tắc Áp Dụng Văn Bản Pháp Luật
  • Thứ Bậc Hiệu Lực Pháp Lý Và Nguyên Tắc Áp Dụng Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật

    --- Bài mới hơn ---

  • Văn Bản Pháp Quy Là Gì?
  • “văn Bản Pháp Quy” Là Gì? Nghĩa Của Từ Văn Bản Pháp Quy Trong Tiếng Việt. Từ Điển Việt
  • Khai Bổ Sung Mục: Mã Văn Bản Pháp Quy
  • Văn Bản Pháp Lý Liên Quan Đến Tên Miền
  • Quy Định Về Quản Lý Chất Thải Rắn
  • Việc áp dụng văn bản quy phạm pháp luật đúng nguyên tắc, phù hợp sẽ dẫn đến kết quả xử lý công việc được chính xác và ngược lại, nếu áp dụng văn bản quy phạm pháp luật sai nguyên tắc thì sẽ dẫn đến sai sót, làm ảnh hưởng đến đối tượng bị áp dụng văn bản quy phạm pháp luật. Hệ thống pháp luật hiện hành ở nước ta vẫn còn tồn tại nhiều văn bản nội dung chồng chéo, mâu thuẫn nhau.

    1.Thứ bậc hiệu lực pháp lý của văn bản quy phạm pháp luật

    Văn bản quy phạm pháp luật là sản phẩm của quyền lực nhà nước, thể hiện khả năng của mỗi cơ quan trong việc tác động vào các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội nên vị trí thứ bậc của văn bản quy phạm phụ thuộc vào vị trí của cơ quan ban hành văn bản trong bộ máy nhà nước theo quy tắc: Cơ quan nào có vị trí cao trong bộ máy nhà nước thì văn bản quy phạm do cơ quan đó ban hành cũng có vị trí cao trong hệ thống pháp luật và ngược lại.

    Còn đối với những văn bản có thể loại khác nhau nhưng cùng chủ thể ban hành thì việc xác định thứ bậc hiệu hiệu lực pháp lý của những văn bản đó dựa vào tính chất của văn bản. Chẳng hạn, Quốc hội ban hành ba loại văn bản gồm Hiến pháp, luật, nghị quyết. Trong đó, Hiến pháp là đạo luật cơ bản, quy định về chế độ chính trị, tổ chức bộ máy, quyền con người, quyền và nghĩ vụ cơ bản của công dân… Hiến pháp được quy định là văn bản pháp luật có hiệu lực pháp lý cao nhất; sau đó đến các luật với tính chất là văn bản đặt ra quy định điều chỉnh quan hệ xã hội trong từng lĩnh vực; và cuối cùng là nghị quyết, quy định những vấn đề cụ thể hơn như: tỷ lệ phân chia các khoản thu và nhiệm vụ chi giữa ngân sách trung ương và ngân sách địa phương; thực hiện thí điểm một số chính sách mới; quy định về tình trạng khẩn cấp, các biện pháp đặc biệt khác bảo đảm quốc phòng, an ninh quốc gia…

    Trên cơ sở đó, Điều 4 của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2022 quy định về hệ thống văn bản quy phạm pháp luật như sau:

    Bộ luật, luật (sau đây gọi chung là luật), nghị quyết của Quốc hội.

    Pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội; nghị quyết liên tịch giữa Ủy ban thường vụ Quốc hội với Đoàn Chủ tịch Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

    Lệnh, quyết định của Chủ tịch nước.

    Nghị định của Chính phủ; nghị quyết liên tịch giữa Chính phủ với Đoàn Chủ tịch Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

    Quyết định của Thủ tướng Chính phủ.

    Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

    Thông tư của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao; thông tư của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ; thông tư liên tịch giữa Chánh án Tòa án nhân dân tối cao với Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; thông tư liên tịch giữa Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ với Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; quyết định của Tổng Kiểm toán nhà nước.

    Nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh).

    Quyết định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.

    Văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương ở đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt.

    Nghị quyết của Hội đồng nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp huyện).

    Quyết định của Ủy ban nhân dân cấp huyện.

    Nghị quyết của Hội đồng nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã).

    Quyết định của Ủy ban nhân dân cấp xã.

    Nếu hiểu theo lý thuyết hệ thống có nghĩa là điều luật này không chỉ liệt kê các văn bản quy phạm pháp luật được sắp xếp theo một trật tự nhất định, mà còn thể hiện mối quan hệ giữa các văn bản đó trong một hệ thống thống nhất. Về cơ bản việc sắp xếp như trên đã đảm bảo nguyên tắc xác định thứ bậc hiệu lực pháp lý từ cao xuống thấp dựa trên việc địa vị pháp lý của cơ quan ban hành và tính chất của văn bản. Việc sắp xếp như trên về cơ bản đã rõ ràng, minh bạch hơn nhiều so với Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008, theo đó Nghị quyết liên tịch giữa Ủy ban thường vụ Quốc hội với Đoàn Chủ tịch Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, nghị quyết liên tịch giữa Chính phủ với Đoàn Chủ tịch Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam được đặt ở vị trí tương xứng với địa vị pháp lý của cơ quan ban hành văn bản đó. Khắc phục được tình trạng xếp các Nghị quyết liên tịch do Ủy ban thường vụ Quốc hội và Nghị quyết liên tịch do Chính phủ phối hợp với cơ quan trung ương của tổ chức chính trị – xã hội ban hành thành một nhóm, dễ dẫn đến hiểu lầm là các nghị quyết liên tịch này có hiệu lực pháp lý ngang nhau và có hiệu lực pháp lý thấp hơn nghị định của Chính phủ, quyết định của Thủ tướng Chính phủ, thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ…

    Tuy nhiên, vẫn còn trường hợp văn bản được sắp xếp chưa thể hiện chính xác vị trí thứ bậc của chúng trong hệ thống pháp luật. Đó là việc sắp xếp thứ tự các thông tư, thông tư liên tịch. Cụ thể, khoản 8 Điều 4 sắp xếp như sau: Thông tư của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao; Thông tư của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ; thông tư liên tịch giữa Chánh án Tòa án nhân dân tối cao với Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; Thông tư liên tịch giữa Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ với Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; Quyết định của Tổng Kiểm toán nhà nước. Trong bộ máy nhà nước, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao là những người đứng đầu cơ quan tối cao về xét xử và cơ quan tối cao thực hiện quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp. Trong khi đó, Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ là người đứng đầu cơ quan chuyên môn của Chính phủ. Do đó, xét về vị trí trong bộ máy nhà nước, Tòa án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao có vị trí cao hơn Bộ, cơ quan ngang bộ. Chính vì vậy, thông tư của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân nhân tối cao, Thông tư liên tịch giữa Chánh án Tòa án nhân dân tối cao với Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao phải được sắp xếp trước bởi có hiệu lực pháp lý cao hơn thông tư do Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ ban hành. Do đó, đề nghị Thông tư liên tịch giữa Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ với Chánh án TANDTC, Viện trưởng VKSNDTC phải được xếp trước nhóm thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ.

    Về vị trí thứ bậc quyết định của Tổng Kiểm toán Nhà nước, theo quy định của Điều 4 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2022, quyết định của Tổng Kiểm toán Nhà nước được sắp xếp cùng khoản 8 với các loại thông tư, thông tư liên tịch nhưng ở vị trí cuối cùng sau thông tư của Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ. Theo Luật Kiểm toán Nhà nước thì Kiểm toán nhà nước là cơ quan chuyên môn về lĩnh vực kiểm tra tài chính nhà nước do Quốc hội thành lập hoạt động độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; Tổng Kiểm toán nhà nước do Quốc hội bầu theo đề nghị của Ủy ban thường vụ Quốc. Trong khi đó, bộ, cơ quan ngang bộ là những cơ quan của Chính phủ, giúp Chính phủ quản lý nhà nước một lĩnh vực nhất định. Vì vậy, việc đặt quyết định của Tổng Kiểm toán nhà nước có vị trí thấp hơn thông tư của Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ liệu có phù hợp?

    2.Quy định pháp luật và những vướng mắc trong thực hiện nguyên tắc áp dụng văn bản quy phạm pháp luật

    Nguyên tắc áp dụng pháp luật là những nguyên tắc cơ bản do luật định dựa vào đó các cơ quan nhà nước, tổ chức hoặc cá nhân có thẩm quyền vận dụng những văn bản pháp luật thích hợp nhằm giải quyết công việc thuộc thẩm quyền.

    Theo quy định của pháp luật hiện hành, việc áp dụng các văn bàn quy phạm pháp luật được quy định trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2022 và một số văn bản quy phạm pháp luật chuyên ngành như: Bộ luật Dân sự…

    Điều 156 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2022 quy định: “Áp dụng văn bản quy phạm pháp luật Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật

    Văn bản quy phạm pháp luật được áp dụng từ thời điểm bắt đầu có hiệu lực.

    Văn bản quy phạm pháp luật được áp dụng đối với hành vi xảy ra tại thời điểm mà văn bản đó đang có hiệu lực. Trong trường hợp quy định của văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực trở về trước thì áp dụng theo quy định đó.

    Trong trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn.

    Trong trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật do cùng một cơ quan ban hành có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng quy định của văn bản quy phạm pháp luật ban hành sau.

    Trong trường hợp văn bản quy phạm pháp luật mới không quy định trách nhiệm pháp lý hoặc quy định trách nhiệm pháp lý nhẹ hơn đối với hành vi xảy ra, trước ngày văn bản có hiệu lực thì áp dụng văn bản mới.

    Việc áp dụng văn bản quy phạm pháp luật trong nước không được cản trở việc thực hiện điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên. Trong trường hợp văn bản quy phạm pháp luật trong nước và điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế đó, trừ Hiến pháp.”

    Theo quy định trên, việc lựa chọn văn bản quy phạm pháp luật để áp dụng được xác định như sau:

    Thứ nhất, về thời điểm có hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật:

    Văn bản quy phạm pháp luật được áp dụng từ thời điểm có hiệu lực thi hành. Theo quy định tại Điều 151 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2022 thì: Thời điểm có hiệu lực của toàn bộ hoặc một phần văn bản quy phạm pháp luật được quy định tại văn bản đó nhưng không sớm hơn 45 ngày kể từ ngày thông qua hoặc ký ban hành đối với văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước trung ương; không sớm hơn 10 ngày kể từ ngày ký ban hành đối với văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân; Ủy ban nhân dân cấp tỉnh; không sớm hơn 07 ngày kể từ ngày ký ban hành đối với văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp huyện và cấp xã. Trường hợp ban hành văn bản trong tình trạng khẩn cấp, phòng chống thiên tai, dịch bệnh; trường hợp cần sửa đổi ngay cho phù hợp với văn bản quy phạm pháp luật mới được ban hành…thì có thể có hiệu lực kể từ ngày thông qua hoặc ký ban hành, đồng thời phải được đăng ngay trên Cổng thông tin điện tử của cơ quan ban hành và phải được đưa tin trên phương tiện thông tin đại chúng; đăng Công báo. Trong trường hợp văn bản có quy định hiệu lực trở về trước, thì áp dụng theo quy định đó.

    Thứ hai, áp dụng văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn

    Trong trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật có quy định khác nhau về cùng một vấn đề, thì áp dụng văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn. Hiệu lực pháp lý của các văn bản quy phạm pháp luật được xác định dựa trên vị trí của cơ quan ban hành trong bộ máy nhà nước và tính chất pháp lý của văn bản đó. Nội dung này đã được phân tích kỹ ở phần trên.

    Thứ ba, áp dụng quy định của văn bản được ban hành sau

    Nguyên tắc này được áp dụng đối với trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật do cùng một cơ quan ban hành có quy định khác nhau về cùng một vấn đề. Việc luật quy định phải áp dụng văn bản được ban hành sau là để đảm bảo các quy phạm pháp luật được chọn để áp dụng phù hợp nhất với các điều kiện thực tế.

    Tuy nhiên, quy định này mới chỉ đặt ra đối với trường hợp các văn bản do một cơ quan ban hành nhưng nội dung khác nhau, trên thực tế còn có thể xảy ra trường hợp các văn bản có hiệu lực pháp lý ngang nhau nhưng do hai đơn vị ban hành có sự khác nhau thì ưu tiên áp dụng văn bản QPPL nào lại chưa được quy định.

    Chẳng hạn, điểm e Khoản 8 Điều 2 Thông tư liên tịch số 06/2015/TTLT-BKHĐT-BNV ngày 03 tháng 09 năm 2022 của Liên bộ Kế hoạch và Đầu tư, Nội vụ hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Ban Quản lý khu công nghiệp, khu chế xuất, khu kinh tế, khu kinh tế cửa khẩu quy định trách nhiệm của Ban Quản lý Khu kinh tế tỉnh trong việc: Tiếp nhận khai trình việc sử dụng lao động, báo cáo tình hình thay đổi về lao động; nhận thông báo về việc tổ chức làm thêm từ 200 giờ đến 300 giờ trong một năm của doanh nghiệp trong khu công nghiệp, khu kinh tế theo ủy quyền của Sở Lao động Thương binh và Xã hội.

    Tuy nhiên, tại điểm e khoản 2 Điều 7 Thông tư số 32/2014/TT-BLĐTBXH ngày 01 tháng 12 năm 2014 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội hướng dẫn ủy quyền thực hiện một số nhiệm vụ quản lý nhà nước về lao động trong khu công nghiệp, khu chế xuất, khu kinh tế và khu công nghệ cao lại quy định Sở Lao động – Thương binh và Xã hội ủy quyền cho Ban Quản lý khu công nghiệp thực hiện: Nhận thông báo của doanh nghiệp trong khu công nghiệp việc tổ chức làm thêm từ trên 200 giờ đến 300 giờ trong một năm.

    Như vậy, hai thông tư cùng quy định về cùng một vấn đề nhưng do hai đơn vị khác nhau ban hành. Trường hợp này chưa có quy định về nguyên tắc áp dụng pháp luật, do đó, thiết nghĩ cần phải có quy định cụ thể hơn để tạo thuận lợi trong quá trình áp dụng các văn bản QPPL.

    Thứ tư, áp dụng văn bản quy phạm pháp luật mới không quy định trách nhiệm pháp lý hoặc quy định trách nhiệm pháp lý nhẹ hơn đối với hành vi xảy ra trước ngày văn bản có hiệu lực

    Đây là quy định thể hiện tính nhân đạo của hệ thống pháp luật nước ta. Quy định trên đặt ra một trường hợp là văn bản quy phạm pháp luật cũ đặt ra quy định trách nhiệm pháp lý hoặc quy định trách nhiệm pháp lý nặng hơn văn bản mới thì áp dụng văn bản mới, tức là ưu tiên áp dụng những quy định có lợi cho đương sự. Như vậy ở đây xuất hiện cụm từ “văn bản mới”, đây là một cụm từ dễ gây tranh cãi trong việc áp dụng. Sử dụng cụm từ “văn bản mới” đồng nghĩa với việc đặt trong mối tương quan với “văn bản cũ”. Theo tư duy pháp lý nói chung, “văn bản mới” được hiểu là văn bản được ban hành để thay thế “văn bản cũ”, điều này có nghĩa khi văn bản mới có hiệu lực thì đồng thời văn bản cũ sẽ hết hiệu lực. Bởi vậy, theo nguyên tắc chung, việc áp dụng văn bản mới là đương nhiên vì đây mới là văn bản đang có hiệu lực. Tuy nhiên, quy định này được hiểu là có thể được áp dụng văn bản mới để giải quyết các vụ việc xảy ra trước thời điểm văn bản có hiệu lực. Điều 152 có quy định về hiệu lực trở về trước của văn bản quy phạm pháp luật, theo đó chỉ trong trường hợp thật cần thiết để bảo đảm lợi ích chung của xã hội, thực hiện các quyền, lợi ích của tổ chức, cá nhân được quy định trong luật, nghị quyết của Quốc hội, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan trung ương mới được quy định hiệu lực trở về trước. Như trên đã nhận định, đây là quy định thể hiện sự nhân văn, nhân đạo của pháp luật. Tuy nhiên, Luật 2022 chỉ quy định việc áp dụng hiệu lực trở về trước được thực hiện trong trường hợp “thật cần thiết…”, trong khi đó thế nào là “thật cần thiết” thì rất khó định lượng bởi vậy có thể được lý giải theo ý muốn chủ quan của cơ quan ban hành, rất có thể gây ra sự tùy tiện khi ban hành những văn bản quy phạm pháp luật trên thực tế.

    Thứ năm, áp dụng quy định của điều ước quốc tế trong trường hợp văn bản quy phạm pháp luật trong nước và điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác nhau về cùng một vấn đề, trừ Hiến pháp

    Đây là quy định mới so với Điều 85 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008. Trước Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2022, việc lựa chọn nguyên tắc áp dụng pháp luật trong trường hợp có sự chồng chéo giữa pháp luật trong nước với điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết hoặc tham gia mới chỉ được quy định trong một số luật chuyên ngành mà chưa được quy định trong luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Việc Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2022 quy định điều này thành một nguyên tắc áp dụng pháp luật có ý nghĩa nhấn mạnh và ghi nhận chính thức, tránh trường hợp tranh luận trong quá trình áp dụng.

    **

    Thiết nghĩ việc xác định nguyên tắc áp dụng luật chung và luật chuyên ngành là hết sức cần thiết, bởi thực tiễn tất yếu trong ban hành luật luôn tồn tại vấn đề văn bản đặt ra quy định chung và văn bản điều chỉnh cụ thể về lĩnh vực chuyên ngành. Với tư cách là “luật ban hành luật”, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2022 cần bổ sung trong nguyên tắc áp dụng văn bản quy phạm pháp luật về nội dung này.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Văn Bản Pháp Luật Có Hiệu Lực Cao Nhất
  • Văn Bản Có Hiệu Lực Pháp Lý Cao Nhất
  • Văn Bản Có Hiệu Lực Cao Nhất
  • Văn Bản Có Giá Trị Pháp Lý Cao Nhất
  • Văn Bản Pháp Luật Có Giá Trị Pháp Lý Cao Nhất
  • Nguyên Tắc Chung Về Áp Dụng Pháp Luật Khi Xét Xử

    --- Bài mới hơn ---

  • Khái Niệm, Các Yếu Tố Cấu Thành Quan Hệ Pháp Luật Hành Chính. Ví Dụ?
  • Quan Hệ Pháp Luật Là Gì? Ví Dụ Về Quan Hệ Pháp Luật Cụ Thể Và Phân Tích
  • Quan Hệ Pháp Luật Là Gì? Yếu Tố Cấu Thành Quan Hệ Pháp Luật?
  • Chủ Thể Và Khách Thể Của Quan Hệ Pháp Luật Hành Chính
  • Phân Tích Khái Niệm Quan Hệ Pháp Luật Hành Chính Kèm Ví Dụ Minh Họa
  • Pháp luật chính là các quy phạm pháp luật. Theo quy định tại khoản 1 Điều 3 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật hiện hành (Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2022, có hiệu lực từ 01/7/2016) thì: “Quy phạm pháp luật là quy tắc xử sự chung, có hiệu lực bắt buộc chung, được áp dụng lặp đi lặp lại nhiều lần đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong phạm vi cả nước hoặc đơn vị hành chính nhất định, do cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền quy định trong Luật này ban hành và được nhà nước bảo đảm thực hiện”.

    Luật và bộ luật được gọi chung là luật. Theo quy định về Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (Điều 4 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật) thì:

    – Có giá trị cao nhất là Hiến pháp (khoản 1).

    – Bộ luật, luật, nghị quyết của Quốc hội có giá trị ngang nhau và chỉ dưới Hiến pháp.

    – Còn nhiều văn bản dưới luật như: Nghị quyết liên tịch, lệnh của Chủ tịch nước, nghị định của Chính phủ, nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, thông tư của các bộ…(từ khoản 3 đến khoản 14 Điều 4).

    – Văn bản pháp luật thấp nhất là Quyết định của Ủy ban nhân dân cấp xã (khoản 15 Điều 4).

    Như vậy, luật (bao gồm cả bộ luật) là một bộ phận của pháp luật nhưng là bộ phận có giá trị pháp lý cao nhất ( chỉ dưới Hiến pháp và ngang với Nghị quyết của Quốc hội). Cũng vì giá trị pháp lý cao như vậy nên chỉ Quốc hội mới được ban hành luật.

    Đối với pháp luật hiện hành (đang có hiệu lực) thì khi viện dẫn thường không nêu tên của luật gắn với năm ban hành nhưng khi nêu tên những pháp luật cũ thì phải gắn với năm ban hành. Ví dụ: Bộ luật Hình sự năm 1999, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004, Luật Đất đai năm 2003… Cần lưu ý là năm được nêu gắn với tên văn bản quy phạm pháp luật là năm ban hành văn bản chứ không phải là năm có hiệu lực của văn bản.

    2. Việc áp dụng pháp luật khi xét xử có khác biệt gì cơ bản so với việc thi hành pháp luật chung?

    Việc áp dụng pháp luật để xét xử có những khác biệt cơ bản với việc thi hành pháp luật chung. Việc thi hành pháp luật chung chủ yếu là việc chấp hành, tuân theo quy định của pháp luật đang có hiệu lực hiện hành.

    Ví dụ: Người đi mua nhà ở vào năm 2022 thì phải ký kết hợp đồng theo đúng quy định của Luật Nhà ở 2013; người làm nhiệm vụ đăng ký kết hôn cho người xin đăng ký kết hôn vào năm 2022 thì phải kiểm tra các điều kiện kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình 2014.

    Đối với người áp dụng pháp luật để xét xử thì có khác. Đối với những quy định pháp luật hình thức, tức là pháp luật tố tụng thì cũng là áp dụng pháp luật ở thời điểm thực hiện hành vi tố tụng. Ví dụ: Cũng là vụ án dân sự ấy, xử sơ thẩm trước ngày 01/7/2016 (ngày có hiệu lực của Bộ luật Tố tụng dân sự 2022) thì thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004, xử phúc thẩm sau ngày 01/7/2016 thì thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng năm 2022. Còn đối với pháp luật nội dung, trong nhiều trường hợp, pháp luật chưa có hiệu lực đã phải áp dụng và pháp luật đã hết hiệu lực vẫn phải áp dụng.

    2.1. Pháp luật chưa có hiệu lực đã phải áp dụng là pháp luật nào?

    Đó thường là các quy định của pháp luật hình sự. Một nội dung quan trọng của chính sách hình sự phù hợp với chính sách nhân đạo, tiến bộ là không áp dụng quy định mới nặng hơn với những hành vi đã xảy ra trước đó và áp dụng sớm những quy định có lợi cho bị can, bị cáo. Những quy định có lợi cho bị can, bị cáo thường được áp dụng ngay từ khi công bố chứ không phải chờ đến khi luật mới có hiệu lực. Chính vì vậy, trong việc áp dụng pháp luật hình sự thì thời điểm “công bố luật” cũng có ý nghĩa rất quan trọng.

    Ví dụ: Theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999 thì người tham gia đánh bạc với mức tiền từ 2 triệu đồng trở lên là phải chịu trách nhiệm hình sự (phạm tội đánh bạc). Theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 2022 thì người tham gia đánh bạc với mức tiền 5 triệu đồng trở lên mới phải chịu trách nhiệm hình sự. Bộ luật Hình sự năm 2022 được công bố ngày 19/12/2015 và ngày có hiệu lực là ngày 01/01/2018. Kể từ ngày bộ luật hình sự mới được công bố, 2 năm tiếp theo tuy chưa có hiệu lực nhưng quy định mới về mức tiền 5 triệu đồng là quy định có lợi cho những người có hành vi đánh bạc nên nếu họ đã tham gia với mức tiền 2 triệu đồng trở lên nhưng chưa tới 5 triệu đồng thì họ không bị kết tội đánh bạc. Quy định này được áp dụng cho cả những người đã tham gia đánh bạc trước ngày công bố luật mới mà sau ngày công bố luật mới mới bị phát hiện hoặc bị xem xét xử lý.

    2.2. Pháp luật đã hết hiệu lực vẫn phải áp dụng là pháp luật nào?

    Pháp luật dân sự là loại điển hình thuộc diện pháp luật đã hết hiệu lực vẫn phải áp dụng. Khoản 1 Điều 156 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật quy định: “Văn bản quy phạm pháp luật được áp dụng đối với hành vi xảy ra tại thời điểm mà văn bản đó đang có hiệu lực”. Khi giải quyết tranh chấp, Tòa án phải xác định ai đã xử sự hợp pháp, ai vi phạm pháp luật, một chủ thể phải chịu hậu quả thế nào về xử sự của họ. Đế xác định những vấn đề này phải căn cứ vào pháp luật ở thời điểm thực hiện hành vi. Những hành vi xảy ra đã lâu, nay mới có tranh chấp, cần xem xét tính hợp pháp thì phải áp dụng pháp luật ở thời điểm thực hiện hành vi mặc dù pháp luật này đã không còn hiệu lực ở thời điểm xem xét.

    Ví dụ: Một người lập di chúc vào năm 1995, đã chết năm 2000, nay các thừa kế mới tranh chấp thừa kế tài sản. Để xác định di chúc có hợp pháp không phải căn cứ vào pháp luật thừa kế ở thời điểm lập di chúc (1995) là Pháp lệnh Thừa kế chứ không thể áp dụng pháp luật thừa kế ở thời điểm tranh chấp (2019) là Bộ luật Dân sự năm 2022; mặc dù Pháp lệnh Thừa kế đã hết hiệu lực từ khi có Bộ luật Dân sự năm 1995 thay thế (01/7/1996).

    Pháp luật hình sự cũng có trường hợp phải áp dụng pháp luật cũ đã hết hiệu lực. Đó là trường hợp pháp luật quy định trách nhiệm pháp lý mới hoặc trách nhiệm nặng hơn thì chỉ được áp dụng pháp luật cũ. Ví dụ: Một người có hành vi phạm tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản vào năm 1990 và trốn tránh đến năm 2010 mới bị phát hiện và đưa ra xét xử thì chỉ được áp dụng pháp luật ở thời điểm phạm tội (có mức hình phạt tối đa là 12 năm tù theo Điều 158 Bộ luật Hình sự năm 1985) chứ không thể áp dụng pháp luật ở thời điểm xét xử với quy định nặng hơn (Điều 140 Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định xử phạt đến tù chung thân).

    Khi xét xử các vụ án hành chính, Tòa án cũng thường xuyên phải áp dụng pháp luật cũ. Đó là những văn bản pháp quy về quản lý hành chính ở thời điểm ban hành quyết định hành chính hoặc có hành vi hành chính, mặc dù ở thời điểm xét xử thì những văn bản pháp quy này đã hết hiệu lực.

    3. Một số vấn đề cơ bản về lựa chọn áp dụng văn bản quy phạm pháp luật

    3.1. Quy định chung

    Khoản 1 Điều 156 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật quy định: “Văn bản quy phạm pháp luật được áp dụng đối với hành vi xảy ra tại thời điểm mà văn bản đó đang có hiệu lực. Trong trường hợp quy định của văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực trở về trước thì áp dụng theo quy định đó”.

    Như vậy, nguyên tắc chung nhất là hành vi xảy ra ở thời điểm nào thì áp dụng pháp luật ở thời điểm đó. Chỉ áp dụng cho hành vi xảy ra trước, còn gọi là “hồi tố”, nếu có văn bản pháp luật quy định việc hồi tố (quy định ngay trong văn bản đó hoặc văn bản khác).

    Ví dụ: Cũng là việc mua bán nhà ở nhưng nếu mua bán vào năm 2003 thì áp dụng Bộ luật Dân sự năm 1995 (có hiệu lực từ 01/7/1996 đến 31/12/2005); nếu mua bán vào năm 1993 thì áp dụng Pháp lệnh Nhà ở (có hiệu lực từ 01/7/1991 đến 30/6/1995); nếu mua bán vào 1983 thì áp dụng Nghị quyết 58/1998/NQ-UBTVQH10 ngày 20/8/1998 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

    Quy định hồi tố có thể kể đến là quy định tại khoản 5 Nghị quyết Thi hành Bộ luật Dân sự năm 1995, đó là: Những quy định của Bộ luật Dân sự năm 1995 về chuyển quyền sử dụng đất “có hiệu lực áp dụng kể từ ngày Luật Đất đai năm 1993 có hiệu lực”. Như vậy là những quy định này có hiệu lực hồi tố đối với việc chuyển quyền sử dụng đất xác lập từ trước 01/7/1996.

    3.2. Quy định khác nhau về cùng một vấn đề

    Khoản 2 Điều 156 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật quy định: “Trong trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn”.

    Hiệu lực pháp lý của các loại văn bản quy phạm pháp luật được quy định ở Điều 4 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật về Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật. Điều 4 có 15 khoản, cao nhất là Hiến pháp (khoản 1), thấp nhất là Quyết định của Ủy ban nhân dân cấp xã (khoản 15). Các loại văn bản trong cùng một khoản của điều luật là văn bản có giá trị pháp lý ngang nhau. Ví dụ: Bộ luật, luật, nghị quyết của Quốc hội có giá trị pháp lý ngang nhau (cùng được quy định tại khoản 2 Điều 4).

    Theo quy định của khoản 2 Điều 156 nêu trên thì khi cùng quy định về một vấn đề mà lại quy định khác nhau và văn bản đều cùng còn hiệu lực thì áp dụng văn bản có giá trị pháp lý cao hơn.

    Ví dụ: Trong vụ án xin ly hôn, khi Tòa án hòa giải mà kết quả là vợ chồng đồng ý trở về đoàn tụ thì theo quy định tại Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP ngày 23/12/2000 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án ra Quyết định công nhận hòa giải đoàn tụ thành. Cũng về vấn đề này, theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 thì Tòa án ra Quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án. Bộ luật có giá trị pháp lý cao hơn Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán. Do đó, từ thời điểm Bộ luật có hiệu lực (01/01/2005), Tòa án không ra Quyết định công nhận hòa giải đoàn tụ thành nữa mặc dù Nghị quyết 02/2000/NQ-HĐTP vẫn có hiệu lực.

    3.3. Cùng một cơ quan ban hành mà quy định khác nhau

    Khoản 3 Điều 156 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật quy định: “Trong trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật do cùng một cơ quan ban hành có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng quy định của quy phạm pháp luật ban hành sau”.

    Cùng một cơ quan ban hành tức là có hiệu lực pháp lý ngang nhau và đều đang có hiệu lực thi hành. Ban hành sau là có hiệu lực sau về thời gian.

    Ví dụ: Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2022 do Quốc hội ban hành, có hiệu lực từ 01/7/2016. Nghị quyết số 103/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật Tố tụng dân sự quy định tại Điều 2 là: “Đối với các tranh chấp, yêu cầu về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động phát sinh trước ngày 01 tháng 01 năm 2022 thì áp dụng quy định về thời hiệu tại Điều 159 và điểm h khoản 1 Điều 192 của Bộ luật Tố tụng dân sự số 24/2004/QHH11 đã được sửa đổi bổ sung theo Luật số 65/2011/QH12.”

    Như vậy, theo quy định của Nghị quyết 103/2015/QH13 nêu trên thì vụ việc phát sinh trước 01/01/2017 sẽ áp dụng quy định về thời hiệu theo luật cũ. Tuy nhiên, Bộ luật Dân sự năm 2022 ( điểm d khoản 1 Điều 688) lại quy định giao dịch xác lập trước 01/01/2017 thì “Thời hiệu được áp dụng theo quy định của Bộ luật này”, tức là theo luật mới. Quy định về thời hiệu của pháp luật cũ và pháp luật mới có rất nhiều khác biệt. Ví dụ thời hiệu khởi kiện chia thừa kế của pháp luật cũ là 10 năm nhưng theo pháp luật mới là 30 năm kể từ ngày mở thừa kế”.

    Do cùng cơ quan ban hành là Quốc hội, quy định cùng về một vấn đề là thời hiệu mà có nội dung khác nhau nên phải áp dụng văn bản quy phạm pháp luật ban hành sau là Bộ luật Dân sự năm 2022 (Bộ luật Dân sự năm 2022 có hiệu lực ngày 01/01/2017, Nghị quyết 103/2015/QH13 có hiệu lực ngày 25/11/2015).

    3.4. Trường hợp quy định trách nhiệm pháp lý nhẹ hơn

    Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định về vấn đề này là: “Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận; nếu không hoàn trả được bằng hiện vật thì phải hoàn trả bằng tiền trừ trường hợp tài sản giao dịch, hoa lợi, lợi tức thu được bị tịch thu theo quy định của pháp luật” (khoản 2 Điều 137).

    Quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005 về trường hợp bị tịch thu có nội dung chỉ tịch thu khi có quy định của pháp luật. Đây là quy định có tính giảm nhẹ trách nhiệm pháp lý của người có tài sản, hoa lợi, lợi tức thuộc giao dịch vô hiệu so với quy định của Bộ luật Dân sự năm 1995. Quy định này có lợi cho các bên tham gia vào giao dịch vô hiệu chứ không làm tăng trách nhiệm của chủ thể nào. Vì vậy, quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005 được áp dụng cho cả những giao dịch vô hiệu xác lập trước khi Bộ luật Dân sự năm 2005 có hiệu lực. Đó cũng là lý do hình thành hướng giải quyết của Tòa án (từ 01/01/2006) cho người đứng tên hộ trong giao dịch mua nhà, chuyển nhượng quyền sử dụng đất và người nhờ đứng tên được chia nhau khoản lợi từ việc mua nhà, chuyển nhượng đất (chênh lệch giá giữa thời điểm tranh chấp với thời điểm giao dịch) mà không bị tịch thu khoản lợi này.

    4.Một số lưu ý cụ thể về áp dụng pháp luật khi xét xử

    4.1.Lưu ý về áp dụng Bộ luật Hình sự

    Nói chung, các bộ luật hình sự đều có quy định hồi tố với những quy định có lợi cho người phạm tội, tức là được áp dụng cho những người đã có hành vi trước khi luật có hiệu lực nhưng sau khi có hiệu lực mới phát hiện hoặc xử lý. Các quy định có lợi đó là:

    – Xóa bỏ một tội phạm, một hình phạt, một tình tiết tăng nặng;

    – Quy định hình phạt nhẹ hơn, tình tiết giảm nhẹ mới;

    – Miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt, giảm hình phạt, xóa án tích;

    – Các quy định khác có lợi cho người phạm tội, kể cả việc thay đổi một yếu tố làm cho trách nhiệm của người phạm tội giảm đi.

    Những quy định bất lợi cho người phạm tội không được áp dụng cho người phạm tội trước khi luật có hiệu lực mà sau này mới phát hiện và xử lý.

    Những quy định có lợi cho người phạm tội được áp dụng ngay từ khi luật mới được công bố chứ không phải từ khi luật mới có hiệu lực.

    Bộ luật Hình sự năm 2022 có thời gian từ khi công bố đến khi có hiệu lực là rất dài (công bố ngảy 09/12/2015 nhưng sau đó lùi ngày có hiệu lực để sửa đổi, bổ sung, đến 01/01/2018 mới có hiệu lực). Trong 2 năm từ khi công bố đến khi có hiệu lực thì những quy định có lợi cho người phạm tội đã được áp dụng. Tuy nhiên cần chú ý có 2 giai đoạn là từ 09/12/2015 đến 02/7/2017 thì áp dụng những quy định có lợi của Bộ luật 100/2015/QH13 (bộ luật chưa sửa đổi, bổ sung), từ 03/7/2017 đến 31/12/2017 thì áp dụng những quy định có lợi của Luật số 12/2017/QH14 (bộ luật đã sửa đổi, bổ sung).

    Một đặc biệt cần lưu ý là: Đối với một số tội tuy Bộ luật Hình sự năm 2022 không quy định là tội phạm nhưng người phạm các tội này trước khi bộ luật mới có hiệu lực (01/01/2018) đang bị điều tra, truy tố, xét xử thì vẫn áp dụng các quy định của Bộ luật Hình sự năm 1999. Đó là các tội: Hoạt động phỉ (Điều 93); Đăng ký kết hôn trái pháp luật (Điều 149); Kinh doanh trái phép (Điều 159); Cố ý làm trái các quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng (Điều 165). Các tội này nếu sau ngày 01/01/2018 mới bị phát hiện thì không áp dụng Bộ luật Hình sự năm 1999 mà áp dụng quy định của Bộ luật Hình sự năm 2022 về các tội danh tương ứng để khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử.

    4.2. Quan hệ giữa Bộ luật Dân sự và pháp luật chuyên ngành

    Ví dụ: Về tặng cho bất động sản, Điều 467 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định “Hợp đồng tặng cho bất động sản có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký” nhưng Luật Nhà ở năm 2005 lại quy định ở thời điểm “hợp đồng được công chứng”. Như vậy là quy định của Luật Nhà ở khác Bộ luật Dân sự nhưng không vi phạm những nguyên tắc quy định ở Điều 3 nên quy định của Luật Nhà ở (ban hành sau) được ưu tiên áp dụng.

    Trong trường hợp Bộ luật Dân sự có quy định nhưng luật chuyên ngành không quy định thì những quy định của Bộ luật Dân sự lại được áp dụng (khoản 3 Điều 4 Bộ luật Dân sự năm 2022).

    Ví dụ: Điều 61 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 có quy định việc chia tài sản cho người vợ sống chung với gia đình người chồng hoặc người chồng sống chung với gia đình người vợ khi vợ chồng ly hôn. Đối với người con đã thành niên có đóng góp vào tài sản chung của cha mẹ, nay cha mẹ ly hôn, người con muốn chia tài sản thì không thuộc trường hợp quy định theo Điều 61 nêu trên mà phải áp dụng quy định về chia tài sản thuộc sở hữu chung của Bộ luật Dân sự (Điều 219 ).

    5. Lưu ý về áp dụng các văn bản hướng dẫn thi hành luật

    5.1. Hiệu lực của văn bản

    Khoản 4 Điều 154 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật quy định: “Văn bản quy phạm pháp luật hết hiệu lực thì văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết thi hành văn bản đó cũng đồng thời hết hiệu lực”. Tuy nhiên, pháp luật áp dụng là pháp luật tương ứng ở thời điểm thực hiện hành vi nên đã áp dụng luật cũ thì cũng đương nhiên phải áp dụng hướng dẫn thi hành luật cũ.

    Ví dụ: Giải quyết tranh chấp việc mua bán nhà ở vào năm 2000 thì phải áp dụng Bộ luật Dân sự năm 1995 (có hiệu lực từ 01/7/1996 đến 31/12/2005). Khi xem xét vấn đề đặt cọc thì phải áp dụng văn bản hướng dẫn thi hành Điều 363 của Bộ luật Dân sự năm 1995 là Nghị quyết số 01/2003/NQ-HĐTP ngày 16/4/2003.

    Trong một văn bản quy định chi tiết hoặc hướng dẫn thi hành thường quy định nhiều vấn đề, cả về pháp luật nội dung, pháp luật tố tụng. Do đó, các vấn đề trong văn bản hướng dẫn cũng có thời điểm hết hiệu lực khác nhau tương ứng với văn bản quy phạm pháp luật được hướng dẫn.

    Ví dụ: Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP ngày 23/12/2000 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao là văn bản hướng dẫn áp dụng Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000. Trong văn bản này có cả một số quy định về tố tụng như quy định nếu hòa giải đoàn tụ thành thì phải ra quyết định công nhận hòa giải đoàn tụ thành. Quy định này không còn hiệu lực ở thời điểm Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 có hiệu lực (01/01/2005). Theo quy định của Bộ luât Tố tụng thì khi hòa giải đoàn tụ thành sẽ ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự. Tuy nhiên, những quy định khác của Nghị quyết để hướng dẫn áp dụng Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 thì vẫn tiếp tục có hiệu lực cho đến khi Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 có hiệu lực (01/01/2015).

    Văn bản được hướng dẫn hết hiệu lực thì văn bản hướng dẫn cũng hết hiệu lực. Tuy vậy, quy định của pháp luật mới không khác với quy định cũ thì nội dung hướng dẫn cũ vẫn có giá trị tham khảo thi hành.

    Ví dụ: Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao có một số nội dung hướng dẫn thi hành Luật Đất đai năm 2003. Khi Luật Đất đai năm 2013 có hiệu lực (01/7/2014) thì Luật Đất đai năm 2003 hết hiệu lực, các nội dung của Nghị quyết hướng dẫn Luật Đất đai năm 2003 cũng hết hiệu lực. Tuy nhiên, nội dung của Nghị quyết hướng dẫn xác định chênh lệch giá (giữa thời điểm giao dịch với thời điểm giải quyết tranh chấp) là một khoản thiệt hại phải bồi thường không trái với quy định nào của luật mới nên nội dung hướng dẫn này vẫn tiếp tục được áp dụng.

    5.2. Xử lý văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái với văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực cao hơn

    Lần đầu tiên pháp luật có quy định về việc phát hiện và kiến nghị sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ văn bản quy phạm pháp luật trong quá trình Tòa án giải quyết tranh chấp. Đó là quy định tại Điều 221 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2022.

    Những văn bản quy phạm pháp luật bị kiến nghị là một trong các loại sau:

    – Có dấu hiệu trái Hiến pháp;

    – Có dấu hiệu trái với luật, nghị quyết của Quốc hội;

    – Có dấu hiệu trái với pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

    – Có dấu hiệu trái với văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên.

    Trình tự kiến nghị là: Thẩm phán hoặc Hội đồng xét xử báo cáo Chánh án Tòa án đang giải quyết. Chánh án Tòa án đang giải quyết đề nghị Chánh án Tòa án nhân dân tối cao kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật.

    Trong thời hạn một tháng kể từ khi có kiến nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao mà không có trả lời bằng văn bản thì Tòa án áp dụng văn bản có hiệu lực cao hơn để tiếp tục giải quyết vụ án.

    Riêng trong tố tụng hành chính thì Chánh án Tòa án các cấp có quyền trực tiếp kiến nghị đối với các văn bản quy phạm pháp luật được quy định phân cấp theo Điều 112 Luật Tố tụng hành chính.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Văn Bản Áp Dụng Pháp Luật Và Đặc Điểm Của Văn Bản Áp Dụng Pháp Luật
  • Quy Định Về Áp Dụng Quy Phạm Pháp Luật Hành Chính
  • Áp Dụng Pháp Luật Là Gì? Đặc Điểm Của Áp Dụng Pháp Luật?
  • Phân Tích Khái Niệm Áp Dụng Pháp Luật? Các Trường Hợp Áp Dụng Pháp Luật? Cho Ví Dụ?
  • Lấy Ví Dụ Và Phân Tích Điều Kiện Áp Dụng Tập Quán Pháp Ở Việt Nam
  • Nguyên Tắc Áp Dụng Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật – Một Số Vấn Đề Cần Lưu Ý

    --- Bài mới hơn ---

  • Chuyên Mục: Tìm Hiểu Luật Ban Hành Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật (Phần 13) .công An Tra Vinh
  • Tổng Quan Về Hợp Đồng Mua Bán Hàng Hóa Quốc Tế
  • Điều Khoản Và Điều Kiện Bán Hàng
  • Những Lưu Ý Khi Ký Kết Hợp Đồng Mua Bán Hàng Hóa Quốc Tế
  • Bài Học Rùa Và Thỏ (Bài Đọc Hiểu Tiếng Việt Lớp 5
  • Văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) có vai trò quan trọng trong quản lý nhà nước, là cơ sở pháp lý cho toàn bộ các hoạt động xã hội. Đây là phương tiện chủ yếu để thể chế hóa và thực hiện sự lãnh đạo của Đảng, truyền đạt các quyết định quản lý của các cơ quan nhà nước, bảo đảm quyền dân chủ của nhân dân, đồng thời là cơ sở pháp lý để các chủ thể quản lý nhà nước thực hiện nhiệm vụ quản lý, điều chỉnh có hiệu quả các quan hệ xã hội theo thẩm quyền.

    Trong giai đoạn hiện nay, việc xây dựng, ban hành VBQPPL đảm bảo chất lượng cũng như việc tổ chức thực hiện kịp thời, có hiệu quả các VBQPPL sẽ góp phần vào thực hiện mục tiêu của công cuộc đổi mới đất nước, nhằm xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Theo đó, một trong những vấn đề cần lưu ý trong công tác xây dựng cũng như tổ chức thực hiện các VBQPPL chính là đảm bảo thực hiện các nguyên tắc áp dụng VBQPPL. Tại Điều 156 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2022 quy định 05 nguyên tắc áp dụng văn bản quy phạm pháp luật, bao gồm:

    “1. Văn bản quy phạm pháp luật được áp dụng từ thời điểm bắt đầu có hiệu lực.Văn bản quy phạm pháp luật được áp dụng đối với hành vi xảy ra tại thời điểm mà văn bản đó đang có hiệu lực. Trong trường hợp quy định của văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực trở về trước thì áp dụng theo quy định đó.

    2. Trong trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn.

    3. Trong trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật do cùng một cơ quan ban hành có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng quy định của văn bản quy phạm pháp luật ban hành sau.

    4. Trong trường hợp văn bản quy phạm pháp luật mới không quy định trách nhiệm pháp lý hoặc quy định trách nhiệm pháp lý nhẹ hơn đối với hành vi xảy ra, trước ngày văn bản có hiệu lực thì áp dụng văn bản mới.

    5. Việc áp dụng văn bản quy phạm pháp luật trong nước không được cản trở việc thực hiện điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên. Trong trường hợp văn bản quy phạm pháp luật trong nước và điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế đó, trừ Hiến pháp”.

    Từ thực tiễn công tác xây dựng và thực thi các VBQPPL tại địa phương, tác giả xin đưa ra một số vấn đề cần lưu ý trong việc thực hiện một số nguyên tắc áp dụng VBQPPL như sau:

    Thứ nhất, đối với nguyên tắc “văn bản quy phạm pháp luật được áp dụng từ thời điểm bắt đầu có hiệu lực”

    Thời điểm có hiệu lực của toàn bộ hoặc một phần văn bản quy phạm pháp luật được quy định tại văn bản đó nhưng không sớm hơn 45 ngày, kể từ ngày thông qua hoặc ký ban hành đối với văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước trung ương; không sớm hơn 10 ngày, kể từ ngày ký ban hành đối với văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân; Ủy ban nhân dân cấp tỉnh; không sớm hơn 07 ngày, kể từ ngày ký ban hành đối với văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp huyện và cấp xã.

    Do đó, trong thực tiễn áp dụng sẽ không tránh khỏi các trường hợp xung đột, vướng mắc khi áp dụng nguyên tắc “Trong trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật do cùng một cơ quan ban hành có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng quy định của văn bản quy phạm pháp luật ban hành sau”.

    Hoàn thiện hệ thống pháp luật vừa là mục tiêu và là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu trong giai đoạn hiện nay. Hy vọng rằng, trong thời gian tới, vấn đề “nguyên tắc áp dụng VBQPPL” sẽ được đặt ra để nghiên cứu sâu hơn, từ đó, có những đề xuất, giải pháp, kiến nghị cụ thể hơn để hệ thống pháp luật ngày càng được hoàn thiện.

    Lương Thảo

    Sở Tư pháp tỉnh Gia Lai

     

     

     

    Trích: https://luatduonggia.vn/nguyen-tac-ap-dung-van-ban-quy-pham-phap-luat/

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cơ Sở Chính Trị Và Pháp Lý Của Việc Ban Hành Luật Về Hoạt Động Của Chủ Tịch Nước
  • Bàn Về Giá Trị Pháp Lý Của Văn Bản Công Chứng
  • Soạn Bài: Ôn Dịch, Thuốc Lá – Ngữ Văn 8 Tập 1
  • Soạn Thảo Văn Bản Online
  • Sơ Đồ Tư Duy Người Lái Đò Sông Đà Tổng Quát Nhất
  • Nguyên Tắc Áp Dụng Biện Pháp Pháp Luật Bảo Vệ An Ninh, Trật Tự

    --- Bài mới hơn ---

  • Tổng Kết 15 Năm Công Tác Toàn Dân Bảo Vệ An Ninh Tổ Quốc
  • Tài Liệu Shhv Quý Iii/ 2022: Tuyên Truyền, Phổ Biến Luật An Ninh Mạng
  • Điểm Mới Trong Bộ Luật Hình Sự Năm 2022 Về Các Tội Xâm Phạm An Ninh Quốc Gia
  • Báo Cáo Tình Hình Kinh Tế Xã Hội, Quốc Phòng An Ninh Giai Đoạn 2022
  • Tăng Cường Phối Hợp Trong Bảo Đảm An Ninh Quốc Gia, Giữ Gìn Trật Tự, An Toàn Xã Hội
  • Cơ quan, cán bộ chuyên trách bảo vệ an ninh, trật tự khi thực hiện biện pháp pháp luật an ninh, trật tự cần phải thực hiện theo quy định tại nghị định 35/2011/NĐ-CP, ngày 18 tháng 05 năm 2011

     

    NGHỊ ĐỊNH

    VỀ BIỆN PHÁP PHÁP LUẬT BẢO VỆ AN NINH QUỐC GIA, GIỮ GÌN TRẬT TỰ, AN TOÀN XÃ HỘI

    CHÍNH PHỦ

     

    Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;

    Căn cứ Luật An ninh quốc gia ngày 03 tháng 12 năm 2004;

    Căn cứ Luật Công an nhân dân ngày 29 tháng 11 năm 2005;

    Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Công an,

     

    NGHỊ ĐỊNH:

    Chương 1.

    QUY ĐỊNH CHUNG

     

    Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

     

    Nghị định này quy định nội dung, nguyên tắc, thẩm quyền, trách nhiệm và bảo đảm điều kiện cho việc áp dụng biện pháp pháp luật bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội (trong Nghị định này viết tắt là biện pháp pháp luật bảo vệ an ninh, trật tự).

     

    Điều 2. Đối tượng áp dụng

     

    Nghị định này áp dụng đối với cơ quan, cán bộ chuyên trách bảo vệ an ninh, trật tự; cơ quan, tổ chức, công dân Việt Nam; cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài, tổ chức quốc tế cư trú, hoạt động trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Trường hợp điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác thì áp dụng điều ước quốc tế đó.

     

    Điều 3. Giải thích từ ngữ

     

    Trong Nghị định này, những từ ngữ sau đây được hiểu như sau:

     

    1. Biện pháp pháp luật bảo vệ an ninh, trật tự là cách thức, phương pháp xây dựng pháp luật, ký kết, gia nhập điều ước quốc tế, thỏa thuận quốc tế và sử dụng pháp luật, điều ước quốc tế, thỏa thuận quốc tế để bảo vệ an ninh, trật tự.

     

    2. Cơ quan chuyên trách bảo vệ an ninh, trật tự là cơ quan chỉ đạo, chỉ huy và đơn vị nghiệp vụ thuộc Công an nhân dân, Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ chuyên trách làm tham mưu, tổ chức, trực tiếp thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh, trật tự.

     

    3. Cán bộ chuyên trách bảo vệ an ninh, trật tự là sỹ quan, hạ sỹ quan của cơ quan chuyên trách bảo vệ an ninh, trật tự thuộc Công an nhân dân, Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ chuyên trách tham mưu, tổ chức, trực tiếp thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh, trật tự.

     

    Điều 4. Nguyên tắc áp dụng biện pháp pháp luật bảo vệ an ninh, trật tự

     

    1. Cơ quan, cán bộ chuyên trách bảo vệ an ninh, trật tự khi thực hiện biện pháp pháp luật bảo vệ an ninh, trật tự phải:

     

    a) Tuân thủ Hiến pháp, pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên, thỏa thuận quốc tế mà cơ quan có thẩm quyền của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ký;

     

    b) Không được lợi dụng biện pháp pháp luật bảo vệ an ninh, trật tự để xâm phạm lợi ích Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân;

     

    c) Thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và thẩm quyền do pháp luật quy định, bảo đảm tính hiệu quả;

     

    d) Kết hợp việc áp dụng biện pháp pháp luật với sức mạnh quần chúng, sức mạnh của hoạt động ngoại giao, kinh tế, nghiệp vụ, khoa học – kỹ thuật và vũ trang để bảo vệ an ninh, trật tự.

     

    2. Cơ quan, tổ chức, công dân Việt Nam; cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài, tổ chức quốc tế cư trú, hoạt động trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có trách nhiệm tôn trọng và thực hiện nghiêm chỉnh yêu cầu của cơ quan, cán bộ chuyên trách bảo vệ an ninh, trật tự; tạo điều kiện, giúp cơ quan, cán bộ chuyên trách bảo vệ an ninh, trật tự thực hiện biện pháp pháp luật bảo vệ an ninh, trật tự.

     

    Chương 2.

    NỘI DUNG, THẨM QUYỀN, TRÁCH NHIỆM VÀ BẢO ĐẢM ĐIỀU KIỆN ÁP DỤNG BIỆN PHÁP PHÁP LUẬT BẢO VỆ AN NINH, TRẬT TỰ

     

    Điều 5. Nội dung biện pháp pháp luật bảo vệ an ninh, trật tự

     

    1. Đưa yêu cầu bảo vệ an ninh, trật tự vào xây dựng pháp luật, ký kết, gia nhập điều ước quốc tế, thỏa thuận quốc tế, hoàn thiện thể chế.

     

    2. Phát hiện, ngăn chặn, xử lý hành vi lợi dụng hoạt động xây dựng pháp luật, hợp tác quốc tế về pháp luật để xâm hại đến chế độ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

     

    3. Sử dụng pháp luật, điều ước quốc tế, thỏa thuận quốc tế để quản lý nhà nước về bảo vệ an ninh, trật tự và thực hiện các biện pháp phòng ngừa, phát hiện, điều tra, xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ an ninh, trật tự.

     

    Điều 6. Thẩm quyền, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong áp dụng biện pháp pháp luật bảo vệ an ninh, trật tự

     

     

     

    3. Trong quá trình lập hồ sơ đề nghị xây dựng luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, nghị định của Chính phủ, quyết định của Thủ tướng Chính phủ, ký kết, gia nhập điều ước quốc tế, thỏa thuận quốc tế, các Bộ, cơ quan ngang Bộ có trách nhiệm gửi hồ sơ đó đến Bộ Công an để lấy ý kiến về sự phù hợp với yêu cầu bảo vệ an ninh, trật tự.

     

     

    4. Thực hiện các yêu cầu, quyết định của cơ quan, cán bộ chuyên trách bảo vệ an ninh, trật tự; cơ quan, người có thẩm quyền khác trong việc áp dụng biện pháp pháp luật bảo vệ an ninh, trật tự theo quy định của pháp luật.

     

    Điều 7. Thẩm quyền, trách nhiệm của cơ quan chuyên trách bảo vệ an ninh, trật tự trong áp dụng biện pháp pháp luật bảo vệ an ninh, trật tự

     

    1. Thu thập thông tin, phân tích, đánh giá tình hình, tham mưu và xây dựng chiến lược, chủ trương, chính sách, pháp luật, giải pháp, phương pháp về sử dụng biện pháp pháp luật bảo vệ an ninh, trật tự.

     

    2. Tổ chức, chỉ đạo công tác phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn, đấu tranh chống hoạt động phá hoại, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; thông qua pháp luật để chuyển hóa chế độ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; gây rối loạn an ninh, trật tự, xâm phạm lợi ích Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.

     

    3. Yêu cầu hoặc đề nghị cơ quan có thẩm quyền quyết định chấm dứt hoặc tạm ngừng hoạt động xây dựng pháp luật, ký kết, gia nhập điều ước quốc tế, thỏa thuận quốc tế, sử dụng pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân có ảnh hưởng xấu đến bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; chế độ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; trật tự, an toàn xã hội; lợi ích Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.

     

    4. Sử dụng biện pháp nghiệp vụ và các biện pháp cần thiết khác để thực hiện biện pháp pháp luật bảo vệ an ninh, trật tự theo quy định của pháp luật.

     

    5. Hướng dẫn, kiểm tra cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện biện pháp pháp luật bảo vệ an ninh, trật tự.

     

    Điều 8. Thẩm quyền, trách nhiệm của thủ trưởng, cán bộ chuyên trách bảo vệ an ninh, trật tự trong áp dụng biện pháp pháp luật bảo vệ an ninh, trật tự

     

    1. Thủ trưởng cơ quan chuyên trách bảo vệ an ninh, trật tự trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình quyết định việc sử dụng thẩm quyền, trách nhiệm của cơ quan chuyên trách bảo vệ an ninh, trật tự trong áp dụng biện pháp pháp luật bảo vệ an ninh, trật tự quy định tại Điều 7 Nghị định này; phân công cán bộ thuộc quyền quản lý, chỉ huy của mình thực hiện nhiệm vụ do mình quyết định hoặc thủ trưởng đơn vị cấp trên quyết định.

     

    2. Cán bộ chuyên trách bảo vệ an ninh, trật tự có trách nhiệm thực hiện nhiệm vụ theo sự phân công, chỉ huy của thủ trưởng đơn vị mình.

     

    3. Trong khi thực hiện nhiệm vụ, thủ trưởng, cán bộ chuyên trách bảo vệ an ninh, trật tự phải nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật, các quy tắc nghiệp vụ chuyên môn, kỷ luật của lực lượng Công an nhân dân, Quân đội nhân dân và chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi, quyết định của mình.

     

    Điều 9. Ngân sách bảo đảm cho việc áp dụng biện pháp pháp luật bảo vệ an ninh, trật tự

     

    1. Ngân sách nhà nước bảo đảm cho việc áp dụng biện pháp pháp luật bảo vệ an ninh, trật tự được bố trí trong dự toán ngân sách nhà nước của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan trung ương khác của Ủy ban nhân dân các cấp theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước.

     

    2. Việc lập, chấp hành và quyết toán ngân sách nhà nước bảo đảm cho việc áp dụng biện pháp pháp luật bảo vệ an ninh, trật tự theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước và văn bản hướng dẫn thi hành.

     

    Chương 3.

    ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH

     

    Điều 10. Hiệu lực thi hành

     

    Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 10 tháng 7 năm 2011.

     

    Điều 11. Trách nhiệm thi hành

     

     

    2. Bộ trưởng Bộ Quốc phòng có trách nhiệm hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện Nghị định này trong Quân đội nhân dân.

     

    3. Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này.

     

    TM. CHÍNH PHỦ

    THỦ TƯỚNG

    NGUYỄN TẤN DŨNG

    --- Bài cũ hơn ---

  • Học Viện Chính Trị Công An Nhân Dân Đạt Giải Đặc Biệt Cuộc Thi Viết “Tìm Hiểu Luật An Ninh Mạng” Trong Công An Nhân Dân
  • Câu Hỏi Đợt Thi Thứ Ba (Tháng 10 Năm 2022) Cuộc Thi “Tìm Hiểu Pháp Luật Qua Trang Điện Tử Huyện Quảng Ninh”
  • Ghi Nhận Từ Cuộc Thi “Tìm Hiểu Luật An Ninh…
  • #1 Tổng Đài Tư Vấn Luật Giao Thông Trực Tuyến Miễn Phí
  • Vì Sao Phải Xây Dựng Luật Bảo Đảm Trật Tự, Atgt Đường Bộ?
  • Nguyên Tắc Áp Dụng Pháp Luật Hiện Nay Được Quy Định Như Thế Nào ?

    --- Bài mới hơn ---

  • Nguyên Tắc Áp Dụng Pháp Luật Trong Trường Hợp Các Văn Bản Do Cùng Một Chủ Thể Ban Hành Có Quy Định Khác Nhau Về Cùng Một Vấn Đề
  • Văn Bản Của Sở Gd&đt An Giang
  • Văn Bản Chỉ Đạo Điều Hành Tỉnh An Giang
  • Văn Bản Chỉ Đạo Điều Hành Tỉnh Hưng Yên
  • Soạn Văn Bài: Ánh Trăng (Nguyễn Duy)
  • Nguyên tắc áp dụng pháp luật hiện nay được quy định như thế nào ?, trong trường hợp các quyết định, chỉ thị của cùng một uỷ ban nhân dân có …

    Nguyên tắc áp dụng pháp luật hiện nay được quy định như thế nào ?

    Câu hỏi của bạn:

    Xin luật sư cho biết nguyên tắc áp dụng pháp luật trong lĩnh vực dân sự ( theo nghĩa rộng) hiện nay được quy định như thế nào ?. Tôi xin cảm ơn!

    Căn cứ pháp lý

    Nội dung tư vấn: Nguyên tắc áp dụng pháp luật hiện nay được quy định như thế nào ?

    1. Nguyên tắc áp dụng pháp luật hình thức

    Theo quy định tại khoản 1 điều 517 của BLTTDS năm 2022 quy định về hiệu lực thi hành như sau:

    Nhằm cụ thể hóa điều này điều 1 Nghị Quyết số 103/2015/NQ-13 quy định:

    “Kể từ ngày Bộ luật tố tụng dân sự số 92/2015/QH13 có hiệu lực thi hành (ngày 01 tháng 7 năm 2022):

    1. Đối với những vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động đã được Tòa án thụ lý trước ngày 01 tháng 7 năm 2022, nhưng kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2022 mới giải quyết theo thủ tục sơ thẩm thì áp dụng các quy định của Bộ luật này để giải quyết;

    2. Đối với những vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động đã được Tòa án giải quyết theo thủ tục sơ thẩm trước ngày 01 tháng 7 năm 2022, nhưng kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2022 mới giải quyết theo thủ tục phúc thẩm thì áp dụng các quy định của Bộ luật này để giải quyết;

    3. Đối với những bản án, quyết định dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động đã có hiệu lực pháp luật mà bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm trước ngày 01 tháng 7 năm 2022 nhưng kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2022 mới giải quyết theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm thì áp dụng các quy định của Bộ luật này để giải quyết;

    4. Đối với những bản án, quyết định dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động đã có hiệu lực pháp luật trước ngày 01 tháng 7 năm 2022 mà kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2022 người có thẩm quyền kháng nghị mới kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm, thì căn cứ để thực hiện việc kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm và việc giải quyết theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm được thực hiện theo quy định của Bộ luật này;

    5. Đối với những vụ việc hôn nhân và gia đình đã được Tòa án thụ lý giải quyết trước ngày 01 tháng 7 năm 2022 thì Tòa án đã thụ lý tiếp tục giải quyết theo thủ tục chung mà không chuyển cho Tòa gia đình và người chưa thành niên giải quyết;

    6. Khi giải quyết vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động, Tòa án tiếp tục áp dụng quy định của các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành về án phí, lệ phí Tòa án, chi phí tố tụng khác cho đến khi có quy định mới của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

    Đối với vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động được giải quyết theo thủ tục rút gọn thì áp dụng mức án phí thấp hơn so với mức án phí áp dụng đối với vụ án giải quyết theo thủ tục thông thường. “

    Như vậy theo quy định trên ta thấy về nguyên tắc luật hình thức sẽ được áp dụng tại thời điểm mà luật tố tụng hiện hành có hiệu lực để giải quyết các vụ án dân sự (theo nghĩa rộng) mà không phụ thuộc và quan hệ pháp luật đó phát sinh khi nào

    2. Nguyên tắc áp dụng pháp luật nội dung

    Luật ban hành các văn bản quy phạm pháp luật quy định như sau:

    Điều 156 Áp dụng văn bản quy phạm pháp luật

    “1. Văn bản quy phạm pháp luật được áp dụng từ thời điểm bắt đầu có hiệu lực. Văn bản quy phạm pháp luật được áp dụng đối với hành vi xảy ra tại thời điểm mà văn bản đó đang có hiệu lực. Trong trường hợp quy định của văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực trở về trước thì áp dụng theo quy định đó.

    2. Trong trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn.

    3. Trong trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật do cùng một cơ quan ban hành có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng quy định của văn bản quy phạm pháp luật ban hành sau.

    4. Trong trường hợp văn bản quy phạm pháp luật mới không quy định trách nhiệm pháp lý hoặc quy định trách nhiệm pháp lý nhẹ hơn đối với hành vi xảy ra, trước ngày văn bản có hiệu lực thì áp dụng văn bản mới.

    5. Việc áp dụng văn bản quy phạm pháp luật trong nước không được cản trở việc thực hiện điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên. Trong trường hợp văn bản quy phạm pháp luật trong nước và điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế đó, trừ Hiến pháp.”

    Theo quy định trên, khi lựa chọn văn bản quy phạm pháp luật để áp dụng, cần lưu ý một số điểm sau:

    Thứ nhất, về thời điểm có hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật. Văn bản quy phạm pháp luật được quy định áp dụng theo các nguyên tắc sau đây:

    Văn bản quy phạm pháp luật được áp dụng từ thời điểm có hiệu lực thi hành. Theo quy định thì thời điểm có hiệu lực của toàn bộ hoặc một phần văn bản quy phạm pháp luật được quy định tại văn bản đó nhưng không sớm hơn 45 ngày kể từ ngày thông qua hoặc ký ban hành đối với văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước trung ương; không sớm hơn 10 ngày kể từ ngày ký ban hành đối với văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân; Ủy ban nhân dân cấp tỉnh; không sớm hơn 07 ngày kể từ ngày ký ban hành đối với văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp huyện và cấp xã.

    Đối với ăn bản quy phạm pháp luật được ban hành theo trình tự, thủ tục rút gọn thì có thể có hiệu lực kể từ ngày thông qua hoặc ký ban hành, đồng thời phải được đăng ngay trên Cổng thông tin điện tử của cơ quan ban hành và phải được đưa tin trên phương tiện thông tin đại chúng; đăng Công báo nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hoặc Công báo tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương chậm nhất là sau 03 ngày kể từ ngày công bố hoặc ký ban hành.

    Văn bản quy phạm pháp luật được áp dụng đối với hành vi xảy ra tại thời điểm mà văn bản đó đang có hiệu lực. Trong trường hợp văn bản có quy định hiệu lực trở về trước, thì áp dụng theo quy định đó.

    Thứ hai, về lựa chọn áp dụng văn bản pháp luật:

    Trong trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật có quy định khác nhau về cùng một vấn đề, thì áp dụng văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn. Hiệu lực pháp lý của từng nhóm văn bản quy định pháp luật được trình bày ở trên.

    Trong trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật về cùng một vấn đề do cùng một cơ quan ban hành mà có quy định khác nhau, thì áp dụng quy định của văn bản được ban hành sau.

    Trong trường hợp văn bản quy phạm pháp luật mới không quy định trách nhiệm pháp lý hoặc quy định trách nhiệm pháp lý nhẹ hơn đối với hành vi xảy ra trước ngày văn bản có hiệu lực, thì áp dụng văn bản mới. Đây là quy định thể hiện tính nhân đạo của hệ thống pháp luật nước ta, là hiện thân tính nhân dân, tính nhân văn của đường lối, chính sách của Đảng.

    Trong trường hợp văn bản quy phạm pháp luật của hội đồng nhân dân, uỷ ban nhân dân cùng cấp có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng văn bản quy phạm pháp luật của hội đồng nhân dân.

    Trong trường hợp các nghị quyết của cùng một hội đồng nhân dân có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng quy định của nghị quyết được ban hành sau.

    Trong trường hợp các quyết định, chỉ thị của cùng một uỷ ban nhân dân có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng quy định của quyết định, chỉ thị được ban hành sau.

    Bạn có thể tham khảo một số bài viết:

    Xin chân thành cảm ơn sự đồng hành của mọi người.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nguyên Tắc Áp Dụng Văn Bản Pháp Luật Quy Định Như Thế Nào
  • Các Biện Pháp Xử Lý Văn Bản Pháp Luật Khiếm Khuyết, Thẩm Quyền Và Điều Kiện Áp Dụng
  • Khái Niệm Áp Dụng Pháp Luật? Các Trường Hợp Áp Dụng Pháp Luật?
  • Áp Dụng Văn Bản Pháp Luật Nào Lúc ‘giao Thời’?
  • Những Vấn Đề Mang Tính Nguyên Tắc Trong Luật Ban Hành Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật
  • Văn Bản Áp Dụng Pháp Luật Và Đặc Điểm Của Văn Bản Áp Dụng Pháp Luật

    --- Bài mới hơn ---

  • Nguyên Tắc Chung Về Áp Dụng Pháp Luật Khi Xét Xử
  • Khái Niệm, Các Yếu Tố Cấu Thành Quan Hệ Pháp Luật Hành Chính. Ví Dụ?
  • Quan Hệ Pháp Luật Là Gì? Ví Dụ Về Quan Hệ Pháp Luật Cụ Thể Và Phân Tích
  • Quan Hệ Pháp Luật Là Gì? Yếu Tố Cấu Thành Quan Hệ Pháp Luật?
  • Chủ Thể Và Khách Thể Của Quan Hệ Pháp Luật Hành Chính
  • Văn bản áp dụng pháp luật và đặc điểm của văn bản áp dụng pháp luật? Văn bản áp dụng pháp luật là gì? Văn bản áp dụng pháp luật có đặc điểm gì?

    1. Khái niệm văn bản áp dụng pháp luật

    Văn bản áp dụng pháp luật được nhìn nhận dưới nhiều góc độ khác nhau nên sẽ được định nghĩa một cách khái quát và tổng quan nhất.

    Xét văn bản áp dụng pháp luật dưới góc độ lý luận chung về Nhà nước và pháp luật thì loại Văn bản áp dụng pháp luật này được xác định cụ thể đó là loại là văn bản pháp lý có nội dung, tính chất của văn bản mang tính cá biệt, mang nội dung có tính chất quyền lực mà được lập, xác lập dựa trên yêu cầu vụ việc mà các chủ thể có thẩm quyền (cơ quan nhà nước; nhà chức trách hoặc tổ chức xã hội được nhà nước trao quyền) đưa ra quyết định ban hành dựa trên cơ sở pháp luật, pháp lý thực hiện theo trình tự, thủ tục mà luật định nhằm điều chỉnh cá biệt đối với các tổ chức, cá nhân cụ thể đã xác định được danh tính cụ thể và trong những trường hợp cụ thể.

    Nghiên cứu khác mà xét dưới góc độ xây dựng văn bản pháp luật thì loại văn bản áp dụng pháp luật được hiểu như sau: Văn bản áp dụng pháp luật được xác định là văn bản do các chủ thể có đủ tư cách về thẩm quyền ban hành theo hình thức cũng như các nội dung trình tự thủ tục do pháp luật quy định, nhằm cá biệt hóa các quy phạm pháp luật thành những mệnh lệnh cụ thể, áp dụng một lần đối với cá nhân, tổ chức nhất định.

    2. Đặc điểm của văn bản pháp luật

    Từ khái niệm trên, có thể thấy văn bản áp dụng pháp luật có những đặc điểm sau:

    Thứ nhất, văn bản áp dụng pháp luật ban hành ra dưới dạng quy định do những cơ quan nhà nước, cá nhân hoặc tổ chức xã hội được nhà nước ủy quyền áp dụng pháp luật ban hành và được bảo đảm thực hiện trong trường hợp cần thiết bằng cưỡng chế nhà nước. Chỉ những chủ thể có có thẩm quyền về những nội dung trong văn bản do pháp luật quy định mới có thẩm quyền ban hành văn bản áp dụng pháp luật. Nếu văn bản áp dụng pháp luật mà nội dung ban hành xác định về nội dung được ban hành bởi cá nhân hay tổ chức mà pháp luật không quy định về thẩm quyền ban hành thuộc cá nhân hay cơ quan tổ chức ban hành đó thì văn bản áp dụng pháp luật đó không có hiệu lực pháp luật.

    Thứ hai, văn bản áp dụng pháp luật được thể hiện trong những hình thức pháp lí dưới các dang hình thức nhất định nhất định như : bản án, quyết định, lệnh,…

    Hình thức của văn bản pháp luật bao gồm tên gọi và thể thức của văn bản pháp luật. Đối với văn bản áp dụng pháp luật thì tên gọi do pháp luật quy định, tùy thuộc vào tính chất công việc mà văn bản áp dụng pháp luật có tên gọi khác nhau, đồng thời thông qua tên gọi của văn bản áp dụng pháp luật ta có thể nhận biết được cơ quan nào có thẩm quyền ban hành văn bản áp dụng pháp luật đó.

    Thứ ba, văn bản áp dụng pháp luật được ban hành theo trình tự, thủ tục mà đã được bên nội dung trong quy định pháp luật. Thủ tục xây dựng văn bản áp dụng pháp luật sẽ bao bao gồm một số hoạt động có nội dung chuyên môn như: về hình thức soạn thảo văn bản áp dụng pháp luật, về vấn đề trình, sau đó được thông qua đối với văn bản áp dụng pháp luật, ban hành văn bản áp dụng pháp luật. Điều này đề cập đến với nội dung xuất phát từ mục đích ban hành văn bản áp dụng pháp luật đó là giải quyết về vấn đề, công việc cụ thể do vậy mỗi một hoạt động chuyên môn trên không yêu cầu, đòi hỏi nhiều chủ thể tham gia, và văn bản áp dụng pháp luật này được tiến hành trong khoảng thời gian ngắn.

    Thứ tư, văn bản áp dụng pháp luật có tính chất áp dụng khá cá biệt, các văn bản áp dụng pháp luật thì xác định sẽ được áp dụng một lần đối với tổ chức, cá nhân. Khác với văn bản quy phạm pháp luật có nội dung chứa đựng các quy phạm pháp luật (các quy tắc xử sự chung) và các văn bản quy phạm pháp luật thì sẽ được áp dụng nhiều lần trên thực tiễn thì nội dung của văn bản áp dụng pháp luật lại chứa đựng các mệnh lệnh cụ thể đối với những đối tượng đã được xác định trong văn bản, được áp dụng một lần đối với tổ chức, cá nhân. Nội dung của văn bản áp dụng pháp luật chỉ rõ cụ thể cá nhân nào, tổ chức nào phải thực hiện hành vi gì.

    3. Thẩm quyền ban hành văn bản áp dụng pháp luật

    Thứ năm, văn bản áp dụng pháp luật phải hợp pháp và phù hợp với thực tế, phải phù hợp với luật và dựa trên những quy định của pháp luật cụ thể. Bất cứ văn bản pháp luật nào được ban hành cũng đều phải đảm bảo tính hợp pháp và phù hợp với thực tế. Nội dung của văn bản áp dụng pháp luật được thể hiện ở việc các mệnh lệnh đưa ra phải phù hợp với các quy phạm pháp luật về nội dung và mục đích điều chỉnh, nếu không có sự phù hợp trên thì văn bản áp dụng pháp luật có thể bị đình chỉ hoặc hủy bỏ. Văn bản áp dụng pháp luật được ban hành không những phải hợp pháp mà còn phải phù hợp với thực tế, nếu không phù hợp với thực tế thì nó khó có thể được thi hành hoặc thi hành mà không mang lại kết quả cao.

    Văn bản áp dụng pháp luật được lập, ban hành thuộc về thẩm quyền quyết định của những cá nhân có thẩm quyền ban hành và cơ quan có thẩm quyền ban hành. Tuy nhiên trên thực tế pháp luật hiện nay thì có thể thấy những văn bản áp dụng pháp luật này thường do các cá nhân có thẩm quyền ban hành loại văn bản trên.

    – Đối với nội dung về hình thức thì chủ yếu được thể hiện dưới các hình thức văn bản như quyết định, hay dưới hình thức bản án, hay dưới hình thức các lệnh…

    – Đối với nội dung về tên gọi thì hiện nay lại chưa được pháp điển hóa tập trung đối với nội dung về tên gọi của loại văn bản áp dụng pháp luật.

    5. Cơ sở ban hành, trình tự ban hành văn bản áp dụng pháp luật

    – Trong khi văn bản quy phạm pháp luật thì ta có thể thấy về vấn đề phạm vi áp dụng thì văn bản quy phạm pháp luật được áp dụng đối với tất cả các đối tượng thuộc đối tượng điều chỉnh trong phạm vi toàn quốc hoặc áp dụng đối với một đơn vị hành chính đã được chỉ định trong văn bản. Tuy nhiên đối với văn bản áp dụng pháp luật thì loại văn bản này lại chỉ có hiệu lực áp dụng với những đối tượng cụ thể, hoặc một số đối tượng đã xác định rõ danh tính, chỉ định đích danh trong văn bản áp dụng pháp luật đó (ví dụ: bản án có hiệu lực pháp luật của Tòa án đã tuyên, quyết định đã có hiệu lực của Tòa án đã ra quyết định…)

    – Văn bản áp dụng pháp luật thường có hiệu lực trong khoảng thời gian không dài, và thường áp dụng theo vụ việc (ví dụ: bảng giá đất tại mỗi địa phương thường hết hạn vào cuối năm tài chính đó là ngày 31/12 hàng năm).

    – Trình tự ban hành văn bản áp dụng pháp luật hiện nay không có bất cứ một trình tự áp dụng theo luật định nào. Tuy nhiên thì xác định văn bản quy phạm pháp luật hiện nay lại được ban hành một cách trình tự và đúng thủ tục mà luật đã định cụ thể tại Luật xây dựng văn bản quy phạm pháp luật.

    – Đối với vấn đề hủy bỏ, hay sửa đổi văn bản áp dụng pháp luật thì thường do các cơ quan tổ chức, hay cá nhân ban hành ra các văn bản áp dụng pháp luật này ra quyết định hủy bỏ hoặc sửa đổi.

    Xin trân thành cảm ơn!

    --- Bài cũ hơn ---

  • Quy Định Về Áp Dụng Quy Phạm Pháp Luật Hành Chính
  • Áp Dụng Pháp Luật Là Gì? Đặc Điểm Của Áp Dụng Pháp Luật?
  • Phân Tích Khái Niệm Áp Dụng Pháp Luật? Các Trường Hợp Áp Dụng Pháp Luật? Cho Ví Dụ?
  • Lấy Ví Dụ Và Phân Tích Điều Kiện Áp Dụng Tập Quán Pháp Ở Việt Nam
  • Hợp Đồng Đối Tác Công Tư Là Gì Theo Quy Định Của Pháp Luật?
  • Văn Bản Áp Dụng Pháp Luật Là Gì? Đặc Điểm Của Văn Bản Áp Dụng Pháp Luật

    --- Bài mới hơn ---

  • Các Giai Đoạn Trong Quá Trình Ban Hành Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật
  • Ban Hành Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật
  • Luận Văn Thực Trạng Ban Hành Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật Của Các Cơ Quan Nhà Nước Ở Trung Ương
  • B: So Sánh Giữa 2 Loại Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật Và Văn Bản Ấp Dụng Pháp Luật So Sanh Van Ban Quy Pham Phap Luat Va Van Ban Ap Dung Phap Luat 9117 Doc
  • Phân Biệt Văn Bản Quy Phạm Với Văn Bản Áp Dụng Pháp Luật
  • Văn bản áp dụng pháp luật là văn bản pháp lý cá biệt, mang tính quyền lực do các chủ thể có thẩm quyền (cơ quan nhà nước; nhà chức trách hoặc tổ chức xã hội được nhà nước trao quyền) ban hành trên cơ sở pháp luật, theo trình tự, thủ tục luật định nhằm điều chỉnh cá biệt đối với các tổ chức, cá nhân cụ thể trong những trường hợp cụ thể .

    Ở góc độ khác thì văn bản áp dụng pháp luật là văn bản do chủ thể có thẩm quyền ban hành theo hình thức và trình tự thủ tục do pháp luật quy định, nhằm cá biệt hóa các quy phạm pháp luật thành những mệnh lệnh cụ thể, áp dụng một lần đối với cá nhân, tổ chức nhất định.

    Đặc điểm của văn bản áp dụng pháp luật

    – Văn bản áp dụng pháp luật do cơ quan nhà nước, cá nhân, tổ chức xã hội được nhà nước ủy quyền áp dụng pháp luật ban hành và bảo đảm thực hiện trong trường hợp cần thiết bằng cưỡng chế nhà nước. Do đó có thể hiểu rằng, chủ thể nào được trao quyền thì chủ thể đó mới được phép ban hành văn bản áp dụng pháp luật.

    – Được ban hành theo trình tự, thủ tục do luật định, cụ thể là: soạn thảo văn bản áp dụng pháp luật, trình,thông qua văn bản áp dụng pháp luật, ban hành văn bản áp dụng pháp luật.

    – Văn bản áp dụng pháp luật tồn tại dưới hình thức cụ thể, nhất định là bản án, quyết định, lệnh,…

    Theo đó, hình thức của một văn bản áp dụng pháp luật sẽ bao gồm tên gọi và thể thức cụ thể.

    • Văn bản pháp luật mang tính chất cá biệt, được áp dụng một lần đối với tổ chức, cá nhân. Theo đó, văn bản áp dụng pháp luật sẽ chỉ rõ cụ thể cá nhân, tổ chức nào phải thực hiện hành vi gì.
    • Văn bản áp dụng pháp luật phải hợp pháp và phù hợp với thực tế, phải phù hợp với luật và dựa trên những quy định của pháp luật cụ thể.

    Trong phần nội dung của văn bản áp dụng pháp luật, các mệnh lệnh đưa ra phải phù hợp với các quy phạm pháp luật về nội dung và mục đích điều chỉnh, nếu không có sự phù hợp trên thì văn bản áp dụng pháp luật có thể bị đình chỉ hoặc hủy bỏ.

    Thông tin liên hệ:

    Địa chỉ trụ sở chính: CÔNG TY LUẬT NHÂN DÂN VIỆT NAM

    Số 16, ngõ 84 Chùa Láng, phường Láng Thượng, quận Đống Đa, TP Hà Nội

    Hotline tư vấn pháp luật miễn phí:

    Mobile: 0966.498.666

    Tel: 02462.587.666

    Cập nhật ngày 25/12/2019

    Yêu Cầu Gửi Báo Giá Tổng Đài Tư Vấn Luật 024 6258 7666

    Luật sư Nguyễn Anh Văn thuộc đoàn luật sư Hà Nội, với hơn 10 năm kinh nghiệm đã giải quyết thành công nhiều yêu cầu pháp lý của khách hàng trong các lĩnh vực đất đai, hôn nhân, doanh nghiệp, đầu tư, dân sự, hình sự, sở hữu trí tuệ…, là Thành viên sáng lập và Giám đốc điều hành tại công ty Luật Nhân Dân. Luật sư Nguyễn Anh Văn sẽ chia sẻ đến bạn những kiến thức hữu ích về pháp luật thông qua các bài viết.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Quy Trình Quản Lý Văn Bản Đi Và Văn Bản Đến
  • Quy Trình Xử Lý Văn Bản
  • Giải Pháp Quản Lý Công Văn Tài Liệu & Điều Hành Tác Nghiệp
  • Khóa Học Kỹ Thuật Soạn Thảo Văn Bản & Xây Dựng Hệ Thống Tài Liệu Quản Lý Nội Bộ
  • Lớp Soạn Thảo Văn Bản & Xây Dựng Hệ Thống Tài Liệu Quản Lý Nội Bộ
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100