Nguyên Văn Bản Di Chúc Của Hồ Chí Minh / TOP #10 Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 8/2022 # Top View | Bac.edu.vn

Di Chúc Của Chủ Tịch Hồ Chí Minh

--- Bài mới hơn ---

  • Di Chúc Của Chủ Tịch Hồ Chí Minh Mãi Mãi Sáng Soi
  • Bác Hồ Viết Di Chúc
  • Người Làm Chứng Di Chúc
  • Di Chúc Không Công Chứng, Chứng Thực Có Hợp Pháp Không?
  • Hướng Dẫn Cách Lập Di Chúc Bằng Văn Bản Để Có Hiệu Lực Pháp Luật
  • (TG)- Năm mươi năm đã trôi qua, kể từ ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩnh biệt chúng ta về với “thế giới người hiền”, cùng với thời gian, Đảng và Nhân dân ta ngày càng nhận thức sâu sắc hơn về giá trị lịch sử và sự kết tinh trí tuệ của một nhà tư tưởng lỗi lạc được thể hiện trong bản Di chúc của Người.

     MỘT TÁC PHẨM BẤT HỦ

    Bản Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh là một văn kiện lịch sử vô giá, được viết từ trái tim, trí tuệ và tư tưởng của một vĩ nhân. Di chúc của Người là sự hội tụ truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc, hòa quyện, chắt lọc tinh hoa văn hóa của nhân loại; đã đi vào lịch sử và trở thành một tài sản vô giá của dân tộc ta.

    Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh là sự kết tinh trí tuệ của một nhà tư tưởng lỗi lạc, bởi trong đó thể hiện tâm huyết của một con người “đại nhân, đại trí, đại dũng”; là tầm cao của một con người đã dành cả cuộc đời phấn đấu hy sinh vì độc lập dân tộc, tự do, hạnh phúc của nhân dân Việt Nam, vì hòa bình, tiến bộ trên toàn thế giới.

    Sự kết tinh trí tuệ trong Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh được thể hiện trước hết trong ngôn từ diễn đạt. Là người mácxít phương Đông, hơn ai hết Hồ Chí Minh am hiểu mục đích, giá trị của thể loại “di chúc” theo truyền thống văn hóa phương Đông. Đồng thời, Người hiểu rõ cuộc đời của mỗi con người, ai cũng phải tuân theo quy luật của tạo hóa: “sinh, lão, bệnh, tử”. Tuy nhiên, trong Di chúc, người ta không thấy có chỗ nào “lâm ly, tử biệt”, mà được diễn đạt, thể hiện một cách tự nhiên, thanh cao, cô đọng và giản dị về ngôn từ, như cách nói của Người, “tôi để sẵn mấy lời này, phòng khi tôi sẽ đi gặp cụ Các Mác, cụ Lênin và các vị cách mạng đàn anh khác”. Đảng là người lãnh đạo, là “trí khôn”, “là bàn chỉ nam” dẫn dắt cách mạng Việt Nam đến thắng lợi. Chính vì vậy, phải thường xuyên chăm lo công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, để Đảng vững mạnh về mọi mặt. Muốn làm cho Đảng thật sự trong sạch, vững mạnh, thì vấn đề đoàn kết trong Đảng phải đặt lên hàng đầu. Trong Di chúc, Người viết: “Đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng và dân ta. Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình”.

    Trong tư duy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, chăm lo, giáo dục thế hệ trẻ, đào tạo, bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và cần thiết. Ngay sau phần nói về Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: “ĐOÀN VIÊN VÀ THANH NIÊN ta nói chung là tốt, mọi việc đều hăng hái xung phong, không ngại khó khăn, có chí tiến thủ. Đảng cần phải chăm lo giáo dục ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG cho họ, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng xã hội chủ nghĩa vừa “hồng”, vừa “chuyên””.

    Nhìn nhận thanh niên là một lực lượng to lớn và mạnh mẽ, Hồ Chí Minh khẳng định: “Thanh niên là người chủ tương lai của nước nhà. Thật vậy, nước nhà thịnh hay suy, yếu hay mạnh, một phần lớn là do các thanh niên”… Phải luôn nhắc nhở, dìu dắt họ, đề phòng rơi vào “chủ nghĩa cá nhân”. Thanh niên là những người đang trong quá trình tích lũy tri thức và hình thành nhân cách, việc giáo dục phẩm chất đạo đức, việc tự tu dưỡng, rèn luyện của mỗi người phải thường xuyên như đánh răng, rửa mặt hằng ngày.

    Trong việc rèn luyện, tu dưỡng đạo đức cách mạng của thanh niên, Hồ Chí Minh chỉ ra cụ thể, đó là lý tưởng sống vì Tổ quốc, vì Nhân dân; kiên quyết vượt qua mọi khó khăn, thử thách, luôn xung phong, gương mẫu trong mọi công việc, hoàn thành mọi nhiệm vụ: “Thực hiện khẩu hiệu “Đâu cần thanh niên có, đâu khó thanh niên làm”. Hồ Chí Minh căn dặn, mỗi người thanh niên phải luôn suy nghĩ về nhiệm vụ của mình trước Tổ quốc, trước nhân dân: “Nhiệm vụ của thanh niên không phải là hỏi nước nhà đã cho mình những gì. Mà phải tự hỏi mình đã làm gì cho nước nhà! Mình phải làm thế nào cho ích nước lợi nhà nhiều hơn? Mình đã vì lợi ích nước nhà mà hy sinh phấn đấu chừng nào”, một trong những tư tưởng lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh được thể hiện trong bản Di chúc là phần nói về con người: “Đầu tiên là công việc đối với con người”. Vì thế, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn lãnh đạo Đảng, Nhà nước phải xác định chiến lược con người là một mục tiêu của sự nghiệp cách mạng. Con người trong tư tưởng của Hồ Chí Minh là Nhân dân, là tất cả những con dân nước Việt; là đồng bào, đồng chí và những người có lòng yêu nước, hướng về dân tộc.

    Tiếp thu tư tưởng của các bậc tiền nhân khi nhìn nhận về vai trò, sức mạnh của Nhân dân: Khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc, đó là thượng sách giữ nước của Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn; học tập tư tưởng thân dân của Nguyễn Trãi: Ý chí của Nhân dân là thành lũy vững chắc (chúng chí thành thành), sức dân như nước, chở thuyền hay lật thuyền cũng do dân: “Phúc chu thủy tín dân do thủy/Thị hiểm nan bằng, mệnh tại thiên” (“Lật thuyền mới rõ dân như nước/Cậy hiểm khôn xoay, mệnh ở trời”). Hồ Chí Minh khẳng định, dân là gốc của nước, là lực lượng chủ yếu của cách mạng, vì dân có số lượng đông, mọi lực lượng đều ở nơi dân. Dân cũng là những người làm ra mọi của cải vật chất và giá trị văn hóa, nuôi sống bộ máy nhà nước và toàn thể xã hội, làm cho xã hội tồn tại và phát triển: “Cơm chúng ta ăn, áo chúng ta mặc, vật liệu chúng ta dùng, đều do mồ hôi nước mắt của nhân dân mà ra”[13]. Cả cuộc đời của Hồ Chí Minh đã hy sinh phấn đấu vì hạnh phúc của Nhân dân, Người nói: “Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”3. Khi sắp phải từ biệt thế giới này, nghĩ về Nhân dân, Người viết: “NHÂN DÂN LAO ĐỘNG ta ở miền xuôi cũng như ở miền núi, đã bao đời chịu đựng gian khổ, bị chế độ phong kiến và thực dân áp bức bóc lột, lại kinh qua nhiều năm chiến tranh.

    GÓP PHẦN CỦNG CỐ TÌNH ĐOÀN KẾT QUỐC TẾ

    Thực hiện Di chúc của Người, trên tinh thần đoàn kết quốc tế vô sản trong sáng; phát huy sức mạnh dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại, tranh thủ sự giúp đỡ của các nước dân chủ, tiến bộ và các nước xã hội chủ nghĩa anh em, Đảng ta đã lãnh đạo Nhân dân ta hoàn thành sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Những kết quả đó là sự ghi nhận, khẳng định tính đúng đắn của đường lối đối ngoại của Đảng và giá trị định hướng của bản Di chúc mà Người đã để lại cho Đảng và Nhân dân ta.

    Không chỉ đề cao vai trò của đoàn kết, xây dựng sự đoàn kết thống nhất trong Đảng và tình đoàn kết với bạn bè quốc tế, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn nhấn mạnh trong Di chúc tầm quan trọng của việc phải giữ gìn và củng cố sự đoàn kết, thống nhất trong nội bộ

    Theo giáo sư, “lời dặn dò” của Chủ tịch Hồ Chí Minh về đoàn kết nội bộ vẫn giữ nguyên giá trị thời đại trong bối cảnh Việt Nam vẫn tiếp tục cuộc đấu tranh bảo vệ nền độc lập, thống và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước.

    Bên cạnh đó, giáo sư Carl Thayer cũng cho rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam “muốn duy trì được vị trí của mình thì phải quyết tâm trong cuộc chiến chống tham nhũng và chống lại sự suy thoái của cán bộ”. Trong bối cảnh Việt Nam đang chuẩn bị Đại hội Đảng lần thứ XIII, các vấn đề này lại càng trở nên cấp thiết.

    Đã tròn 50 năm Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu vĩnh biệt chúng ta. Cả cuộc đời của Người thuộc về Tổ quốc, phụng sự cách mạng và Nhân dân, vì vậy, Người sống mãi trong tâm hồn Nhân dân ta và bè bạn trên thế giới. Cuộc đời, sự nghiệp, trí tuệ và tư tưởng đạo đức vô song của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã và sẽ mãi mãi trở thành tấm gương tỏa sáng cho toàn Đảng, toàn dân ta học tập, noi theo.

    PGS. TS. Trần Minh Trưởng

    Viên trưởng Viện Hồ Chí Minh và các lãnh tụ của Đảng

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hướng Dẫn Bật Tính Năng Tự Động Dịch Thuật Website Trên Chrome
  • Biên Dịch Sang Tiếng Anh
  • Top 03 Phần Mềm Dịch Tiếng Anh Trên Điện Thoại Tốt Nhất
  • Dịch Thuật Tiếng Anh Giá Rẻ Lấy Ngay Tại Hà Nội 2022
  • Dịch Thuật Tiếng Anh Chuyên Ngành Kế Toán
  • Toàn Văn Di Chúc Của Chủ Tịch Hồ Chí Minh

    --- Bài mới hơn ---

  • Nguyên Văn Bản Di Chúc Của Chủ Tịch Hồ Chí Minh Nguyen Van Ban Di Chuc Cua Chu Tich Ho Chi Minh Doc
  • Di Chúc Của Bác Hồ Được Lưu Giữ, Bảo Quản Như Thế Nào?
  • Lời Dặn Đầu Tiên Của Bác Trong Di Chúc
  • Di Chúc Của Chủ Tịch Hồ Chí Minh Công Bố Ở Trong Nước Và Nước Ngoài
  • Toàn Văn Di Chúc Của Chủ Tịch Hồ Chí Minh Công Bố Năm 1969
  • Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh công bố năm 1969, đề ngày 10-5 gồm 4 trang in khổ 14,5×22 cm. Trong lễ tang của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng chí Lê Duẩn, khi đó là Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam đọc lời điếu và công bố Di chúc của Người.

    VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ

    Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

    Cuộc chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta dù phải kinh qua gian khổ, hy sinh nhiều hơn nữa, song nhất định thắng lợi hoàn toàn. Đó là một điều chắc chắn.

    Ông Đỗ Phủ là người làm thơ rất nổi tiếng ở Trung Quốc đời nhà Đường, có câu rằng “Nhân sinh thất thập cổ lai hy”, nghĩa là “Người thọ 70, xưa nay hiếm”.

    Năm nay, tôi vừa 79 tuổi, đã là lớp người “xưa nay hiếm” nhưng tinh thần, đầu óc vẫn rất sáng suốt, tuy sức khoẻ có kém so với vài năm trước đây. Khi người ta đã ngoài 70 xuân, thì tuổi tác càng cao, sức khoẻ càng thấp. Điều đó cũng không có gì lạ. Nhưng ai mà đoán biết tôi còn phục vụ cách mạng, phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân được bao lâu nữa?

    Vì vậy, tôi để sẵn mấy lời này, phòng khi tôi sẽ đi gặp cụ Các Mác, cụ Lênin và các vị cách mạng đàn anh khác, thì đồng bào cả nước, đồng chí trong Đảng và bầu bạn khắp nơi đều khỏi cảm thấy đột ngột.

    TRƯỚC HẾT NÓI VỀ ĐẢNG – Nhờ đoàn kết chặt chẽ, một lòng một dạ phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc, cho nên từ ngày thành lập đến nay, Đảng ta đã đoàn kết, tổ chức và lãnh đạo nhân dân ta hăng hái đấu tranh tiến từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

    Đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng và của dân ta. Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình.

    Trong Đảng thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất để củng cố và phát triển sự đoàn kết và thống nhất của Đảng. Phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau.

    Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thực sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân.

    ĐOÀN VIÊN VÀ THANH NIÊN ta nói chung là tốt, mọi việc đều hăng hái xung phong, không ngại khó khăn, có chí tiến thủ. Đảng cần phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng” vừa “chuyên”. Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết.

    NHÂN DÂN LAO ĐỘNG ta ở miền xuôi cũng như ở miền núi, đã bao đời chịu đựng gian khổ, bị chế độ phong kiến và thực dân áp bức bóc lột, lại kinh qua nhiều năm chiến tranh. Tuy vậy, nhân dân ta rất anh hùng, dũng cảm, hăng hái, cần cù. Từ ngày có Đảng, nhân dân ta luôn luôn đi theo Đảng, rất trung thành với Đảng. Đảng cần phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hóa, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân.

    CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ có thể còn kéo dài. Đồng bào ta có thể phải hy sinh nhiều của, nhiều người. Dù sao, chúng ta phải quyết tâm đánh giặc Mỹ đến thắng lợi hoàn toàn.

    Còn non, còn nước, còn người

    Thắng giặc Mỹ, ta sẽ xây dựng hơn mười ngày nay!

    Dù khó khăn gian khổ đến mấy, nhân dân ta nhất định sẽ hoàn toàn thắng lợi. Đế quốc Mỹ nhất định phải cút khỏi nước ta. Tổ quốc ta nhất định sẽ thống nhất. Đồng bào Nam Bắc nhất định sẽ sum họp một nhà. Nước ta sẽ có vinh dự lớn là một nước nhỏ mà đã anh dũng đánh thắng hai đế quốc to – là Pháp và Mỹ; và đã góp phần xứng đáng vào phong trào giải phóng dân tộc.

    VỀ PHONG TRÀO CỘNG SẢN THẾ GIỚI – là một người suốt đời phục vụ cách mạng, tôi càng tự hào với sự lớn mạnh của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế bao nhiêu, thì tôi càng đau lòng bấy nhiêu vì sự bất hoà hiện nay giữa các đảng anh em! Tôi mong rằng Đảng ta sẽ ra sức hoạt động, góp phần đắc lực vào việc khôi phục lại khối đoàn kết giữa các đảng anh em trên nền tảng chủ nghĩa MácLênin và chủ nghĩa quốc tế vô sản, có lý có tình. Tôi tin chắc rằng các đảng anh em và các nước anh em nhất định sẽ phải đoàn kết lại.

    VỀ VIỆC RIÊNG – Suốt đời tôi hết lòng hết sức phục vụ Tổ quốc, phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân. Nay dù phải từ biệt thế giới này, tôi không có điều gì phải hối hận, chỉ tiếc là tiếc rằng không được phục vụ lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa. Sau khi tôi đã qua đời, chớ nên tổ chức điếu phúng linh đình, để khỏi lãng phí thì giờ và tiền bạc của nhân dân.

    Cuối cùng, tôi để lại muôn vàn tình thân yêu cho toàn dân, toàn Đảng, cho toàn thể bộ đội, cho các cháu thanh niên và nhi đồng. Tôi cũng gửi lời chào thân ái đến các đồng chí, các bầu bạn và các cháu thanh niên, nhi đồng quốc tế.

    Điều mong muốn cuối cùng của tôi là: Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”.

    Hà Nội, ngày 10 tháng 5 năm 1969

    HỒ CHÍ MINH

    --- Bài cũ hơn ---

  • Di Chúc Của Chủ Tịch Hồ Chí Minh: Như Ngọn Đuốc Soi Đường Cho Dân Tộc
  • Mẫu Văn Bản Di Chúc Thừa Kế Tài Sản
  • Top 8 Trang Web Dịch Văn Bản Tốt Nhất Hiện Nay
  • Dịch Văn Bản Tiếng Anh Sang Tiếng Việt Chuẩn Nhất
  • Hãy Phiên Dịch Văn Bản Đăng Ký Của Mọi Người Snags Tiếng Anh
  • Nguyên Văn Bản Di Chúc Của Chủ Tịch Hồ Chí Minh Nguyen Van Ban Di Chuc Cua Chu Tich Ho Chi Minh Doc

    --- Bài mới hơn ---

  • Di Chúc Của Bác Hồ Được Lưu Giữ, Bảo Quản Như Thế Nào?
  • Lời Dặn Đầu Tiên Của Bác Trong Di Chúc
  • Di Chúc Của Chủ Tịch Hồ Chí Minh Công Bố Ở Trong Nước Và Nước Ngoài
  • Toàn Văn Di Chúc Của Chủ Tịch Hồ Chí Minh Công Bố Năm 1969
  • 50 Năm Thực Hiện Di Chúc Bác Hồ: Lời Dặn Đầu Tiên Của Bác
  • Tuyệt đối bí mật Nhân dịp mừng 75 tuổi

    Người làm thơ rất nổi tiếng, ở Trung Quốc đời nhà Đường là cụ Đỗ Phủ có câu thơ rằng “nhân sinh thất thập cổ lai hy”. Nghĩa là: Người thọ 70, xưa nay hiếm.

    Nǎm nay, tôi đã 75 tuổi. Tinh thần vẫn sáng suốt, thân thể vẫn mạnh khỏe. Tuy vậy, tôi cũng đã là lớp người “xưa nay hiếm”.

    Ai đoán biết tôi sẽ sống và phục vụ Tổ quốc, phục vụ cách mạng mấy năm mấy tháng nữa?

    Vì vậy, tôi để lại mấy lời này, chỉ nói tóm tắt vài việc thôi. Phòng khi tôi sẽ đi gặp cụ Các Mác, cụ Lênin và các vị cách mạng đàn anh khác, thì đồng bào cả nước và đồng chí trong Đảng khỏi cảm thấy đột ngột.

    Trước hết nói về Đảng – Nhờ đoàn kết chặt chẽ, một lòng một dạ phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc, cho nên từ ngày thành lập đến nay, Đảng ta đã đoàn kết, tổ chức và lãnh đạo nhân dân ta hǎng hái đấu tranh tiến từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

    Trong Đảng thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất để củng cố và phát triển sự đoàn kết và thống nhất của Đảng. Phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau.

    Đoàn viên thanh niên ta nói chung là tốt, mọi việc đều hằng hái xung phong, không ngại khó khǎn, có chí tiến thủ. Đảng cần phải chǎm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng” vừa “chuyên”.

    Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết.

    Nhân dân lao động ta ở miền xuôi cũng như ở miền núi, đã bao đời chịu đựng gian khổ, bị chế độ phong kiến và thực dân áp bức bóc lột, lại kinh qua nhiều nǎm chiến tranh.

    Tuy vậy, nhân dân ta rất anh hùng, dũng cảm, hǎng hái, cần cù. Từ ngày có Đảng, nhân dân ta luôn luôn đi theo Đảng, rất trung thành với Đảng.

    Đảng cần phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và vǎn hóa, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân .

    Còn non, còn nước, còn người,

    Thắng giặc Mỹ, ta sẽ xây dựng hơn mười ngày nay!

    Về phong trào cộng sản thế giới – là một người suốt đời phục vụ cách mạng, tôi càng tự hào với sự lớn mạnh của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế bao nhiêu, thì tôi càng đau lòng bấy nhiêu vì sự bất hoà hiện nay giữa các đảng anh em!

    Tôi mong rằng Đảng ta sẽ ra sức hoạt động, góp phần đắc lực vào việc khôi phục lại khối đoàn kết giữa các đảng anh em trên nền tảng chủ nghĩa Mác – Lênin và chủ nghĩa quốc tế vô sản, có lý có tình.

    Tôi tin chắc rằng các đảng anh em và các nước anh em nhất định sẽ phải đoàn kết lại.

    Về việc riêng – Sau khi tôi đã qua đời, chớ nên tổ chức đám đình, lãng phí ngày giờ và tiền bạc của nhân dân.

    Tro xương thì tìm một quả đồi mà chôn. Gần Tam Đảo và Ba Vì như hình có nhiều đồi tốt. Trên mộ, nên xây 1 cái nhà giản đơn, rộng rãi, chắc chắn, mát mẻ để những người đến thăm viếng có chỗ nghỉ ngơi.

    Nên có kế hoạch trồng cây trên đồi. Ai đến thăm thì trồng một cây làm kỷ niệm. Trồng cây nào phải tốt cây ấy. Lâu ngày, cây nhiều thành rừng, sẽ tốt cho phong cảnh và lợi cho nông nghiệp .

    Nếu tôi qua đời trước ngày nước ta được thống nhất, thì nên gửi một ít tro xương cho đồng bào miền Nam .

    Cuối cùng, tôi để lại muôn vàn tình thân yêu cho toàn dân, toàn Đảng, cho toàn thể bộ đội, cho các cháu thanh niên và nhi đồng.

    Tôi cũng gửi lời chào thân ái đến các đồng chí, các bầu bạn, và các cháu thanh niên, nhi đồng quốc tế.

    Điều mong muốn cuối cùng của tôi là: Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới.

    Hà nội, ngày 15 tháng 5 nǎm 1965

    Hồ Chí Minh

    --- Bài cũ hơn ---

  • Toàn Văn Di Chúc Của Chủ Tịch Hồ Chí Minh
  • Di Chúc Của Chủ Tịch Hồ Chí Minh: Như Ngọn Đuốc Soi Đường Cho Dân Tộc
  • Mẫu Văn Bản Di Chúc Thừa Kế Tài Sản
  • Top 8 Trang Web Dịch Văn Bản Tốt Nhất Hiện Nay
  • Dịch Văn Bản Tiếng Anh Sang Tiếng Việt Chuẩn Nhất
  • 125 Sinh Nhật Bác: Di Chúc Hồ Chí Minh

    --- Bài mới hơn ---

  • Chứng Thực Văn Bản Di Chúc Để Thừa Kế Tài Sản Gắn Liền Với Đất
  • Ðiều Then Chốt Trong Bản Di Chúc Thiêng Liêng
  • Mẫu Di Chúc Thừa Kế Viết Tay Hợp Pháp, Mẫu Di Chúc Công Chứng 2022
  • Suy Nghĩ Về Một Bảo Vật Quốc Gia
  • Mẫu Văn Bản Di Chúc Thừa Kế
  • Hồ Chí Minh là một nhân vật lịch sử. Đánh giá về các nhân vật lịch, về đóng góp và sai lầm của họ, là công việc của các sử gia chân chính.

    Ở đây, tôi chỉ làm một việc duy nhất: khảo sát các văn bản di chúc của Hồ Chí Minh, trên cơ sở đó chỉ ra một số điều mà văn bản cho phép nhìn thấy. Đúng hơn là các văn bản của Hồ Chí Minh cho phép đặt ra một số nghi vấn mà tôi không có câu trả lời. Tôi cũng không có tham vọng trả lời, tôi chỉ làm công việc đặt ra các câu hỏi.

    Trong bài này, để tiến hành khảo sát các bản di chúc, tôi sử dụng các bản gốc đánh máy năm 1965 và bản gốc viết tay các năm 1968-1969, của Hồ Chí Minh, được công bố trong cuốn ” Toàn văn di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh”, NXB Trẻ, 1999.

    Bản di chúc đầu tiên được đánh máy và ký ngày 15/5/1965, với sự chứng kiến của Lê Duẩn, lúc bấy giờ là Bí thư thứ nhất Ban chấp hành trung ương, có chữ ký của Lê Duẩn trong văn bản đánh máy.

    Bản di chúc thứ hai, được viết tay, bằng mực xanh, vào dịp sinh nhật thứ 78, tức là vào tháng 5 năm 1968, với rất nhiều sửa chữa, gạch xóa bằng mực đỏ, không có chữ ký, không có người chứng kiến.

    Bản thứ ba, đề ngày 10/5/1969, chỉ có một trang viết tay, với nội dung là phần mở đầu của di chúc.

    Như vậy, có thể thấy, Hồ Chí Minh viết hoặc sửa di chúc vào mỗi dịp sinh nhật. Điều này cũng có thể hiểu được : chính là vào dịp sinh nhật mà người ta nghĩ đến quỹ thời gian còn lại của mình, nhất là đối với những người cao tuổi. Hồ Chí Minh đã chuẩn bị cho cái chết của mình một cách đầy ý thức, từ nhiều năm trước khi chết.

    Bản gốc di chúc thứ nhất và thứ hai đều có ghi quốc hiệu : ” Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam / Độc lập-Tự do – Hạnh phúc “. Và đều có ghi chú ở ngay dòng đầu tiên : ” Tuyệt đối bí mật “. Đồng thời việc viết và sửa chữa di chúc nhiều lần, việc sửa chữa, thêm bớt từng chữ một, cho thấy rằng, đối với Hồ Chí Minh, di chúc là một văn bản hết sức quan trọng, hết sức có ý nghĩa đối với ông.

    Tôi xin xác định rõ : ở đây tôi không đi vào phân tích toàn bộ các văn bản di chúc, không phân tích tư tưởng của Hồ Chí Minh, không đánh giá đúng sai. Có thể tôi sẽ làm việc đó vào một lúc khác nhưng không phải lúc này.

    Nhận xét sơ bộ đầu tiên của tôi có thể tóm gọn trong mấy câu hỏi sau đây:

    1. Vì sao từ bản di chúc thứ hai ông chọn hình thức viết tay, chứ không đánh máy nữa ? Liệu ta có thể nghĩ đến một trong những câu trả lời khả dĩ: “để không ai có thể sửa đổi hay đánh tráo được ” ? Ta biết rằng đối với một văn bản đánh máy, trừ trang có chữ ký ra, bất kỳ trang nào cũng có thể bị thay thế mà… không để lại dấu vết gì. Dù sao đấy cũng chỉ là một phỏng đoán. Nhưng nếu quả thật Hồ Chí Minh đã có linh cảm và lo ngại rằng di chúc của ông sẽ bị sửa chữa sau khi ông chết thì linh cảm và lo ngại ấy quả là chính xác, vì đó chính là điều mà Bộ Chính trị đã làm.

    2. Bản di chúc thứ hai, 1968, không có chữ ký, và không có người chứng kiến. Văn bản được công bố với rất nhiều sửa chữa cho phép phỏng đoán rằng đó có thể là một bản nháp. Câu hỏi là : từ sinh nhật 1968 đến sinh nhật 1969 ông Hồ Chí Minh hoàn toàn có thời gian để chép lại văn bản ngắn ấy thành một văn bản hoàn chỉnh, có chữ ký của ông đàng hoàng, như ông đã làm với văn bản thứ nhất, nhưng tại sao ông không làm điều đó ? Tại sao ông mất 5 năm để viết một di chúc, thay đổi, sửa chữa rất nhiều, chứng tỏ nó rất quan trọng đối với ông, mà rốt cuộc ông chỉ để lại một văn bản dang dở và gạch xóa sửa chữa nhằng nhịt như vậy ? Liệu có phải ông Hồ đã viết lại sạch sẽ và ký cẩn thận, nhưng văn bản chính thức có chữ ký đó không còn nữa ?

    3. Văn bản năm 1969 chỉ có một trang viết tay, nội dung cho thấy đó là lời mở đầu di chúc, lặp lại một số nội dung đã từng viết ở phần mở đầu của những di chúc trước. Tuy nhiên trông nó như là bản nháp, vì đầu trang không đề quốc hiệu, cũng không có dòng chữ “Tuyệt đối bí mật”, như hai bản trước. Chẳng lẽ Hồ Chí Minh chỉ viết phần mở đầu mà không viết phần nội dung chính ? Điều này thật đáng ngạc nhiên. Bởi Hồ Chí Minh hiểu rõ tầm quan trọng của di chúc, hiểu rõ rằng di chúc của ông chính là một văn bản lịch sử. Câu hỏi đặt ra là : Liệu có phải văn bản năm 1969 chỉ có chừng đó không ? Liệu có phải Hồ Chí Minh đã viết một bản di chúc thứ ba rất hoàn chỉnh, vào sinh nhật năm 79 tuổi, nhưng chỉ còn lại một trang nháp, và phần chính của nó đã bị thất lạc, hoặc bị hủy bỏ, hoặc không được công bố?

    Tại sao có những câu hỏi này?

    Vì vậy, câu hỏi đặt ra là:

    Liệu có thể xảy ra trường hợp : trong bản di chúc viết năm 1969 Hồ Chí Minh đã có những thay đổi khiến cho người ta không muốn lưu giữ văn bản ấy? Liệu có phải bản di chúc cuối cùng, bản di chúc chính thức của Hồ Chí Minh (viết năm 1969, với chữ ký của ông, và là bản mà ông muốn đưa ra trước toàn dân) đã bị biến mất, đã bị hủy bỏ, hoặc đã bị cất giấu, không được công bố?

    4. Bản đánh máy đầu tiên với đầy đủ tất cả những nghi thức cần thiết cho thấy rằng ông Hồ Chí Minh hiểu rõ thế nào là một bản di chúc. Vậy tại sao những bản di chúc về sau (được nhà nước công bố) lại ở trong tình trạng của bản nháp, gạch xóa, tẩy sửa, thiếu những nghi thức cần thiết đó?

    Và câu hỏi là : bản di chúc nào là bản mà ông Hồ muốn đưa ra trước toàn dân?

    Dĩ nhiên, đó không phải là bản viết năm 1965, bởi nó đã bị thay thế bằng các văn bản khác. Từ những gì đã công bố, ít nhất ta biết rằng ông Hồ đã viết lại hoàn toàn di chúc vào sinh nhật năm 1968. Và trong bản gốc viết tay, ông nói rõ lý do, mặc dù sau khi cân nhắc ông gạch bỏ câu này: ” Tháng 5/1968, khi tôi xem lại thư này thì tình hình trong nước cũng như tình hình thế giới có rất nhiều thay đổi “. Những thay đổi đó đã khiến cho cách nhìn nhận của ông thay đổi, và ông cảm thấy cần phải viết lại hoàn toàn. Cách đánh số trang của bản viết tay năm 1968 cho thấy rằng đó là một bản hoàn chỉnh, có logic riêng, có cấu trúc riêng, độc lập với văn bản năm 1965. Đó là một văn bản mới hoàn toàn. Việc quốc hiệu được ông Hồ ghi đầu trang cũng là một dấu hiệu xác nhận đó là một văn bản mới. Vậy có nghĩa là văn bản năm 1965 đã bị thay thế bởi văn bản năm 1968. Và phải xem bản viết năm 1965 là không còn hiệu lực?

    Và điều quan trọng, xin nhắc lại : Hồ Chí Minh muốn công bố trước toàn dân bản di chúc nào?

    Chúng ta thấy rõ rằng ông viết di chúc cho toàn thể nhân dân. Bản viết năm 1968 cho thấy nhân dân là đối tượng chính mà ông nghĩ đến. Và việc chôn cất ông, theo như ông dặn lại trong di chúc, là việc của đồng bào ba miền, chứ không phải là việc của Bộ Chính trị.

    Thật đáng ngạc nhiên nếu ông muốn công bố cho toàn dân mấy văn bản gạch xóa, thêm bớt nhằng nhịt đó. Tiến hành viết di chúc trong vòng 5 năm hẳn ông phải có một bản hoàn chỉnh, rõ ràng, sạch sẽ, với chữ ký và người chứng kiến, một văn bản có giá trị pháp lý, như là văn bản đầu tiên ? Tại sao không có một văn bản như vậy ? Lẽ nào trước khi mất ông không dặn lại là phải công bố bản di chúc nào ? Phải chăng ông Hồ đã để lại một bản hoàn chỉnh, đảm bảo các thủ tục pháp lý, nhưng bản đó đã không được công bố?

    Hy vọng giới sử học chân chính một ngày nào đó sẽ làm sáng tỏ.

    Trên thực tế chúng ta không biết bản nào là bản di chúc chính thức, chúng ta không biết Hồ Chí Minh muốn công bố bản nào. Hiện tại thì bản cuối cùng tương đối đầy đủ mà chúng ta có là bản thứ hai, bản được viết năm 1968. Và tôi đành phải làm việc trên những gì còn lại và được công bố.

    Có thể các bạn sẽ cảm nhận được sự dối trá đang đè nặng lên cuộc sống của các bạn như thế nào khi các bạn đối chiếu với những gì mà các bạn đang được rao giảng, qua tài liệu của Ban Tuyên giáo soạn cho các bạn. Có thế các bạn sẽ đặt câu hỏi về việc tại sao Đảng, Nhà nước lại chi tiêu tốn kém như vậy cho cái màn kịch khổng lồ đem diễn trên toàn quốc (nhất là trong các trường học) từ nhiều năm nay về việc “học tập” này.

    Paris, 23/4/2015

    Nguyễn Thị Từ Huy

    Nguồn Blog Nguyễn Thị Từ

    --- Bài cũ hơn ---

  • Kết Quả 45 Năm Thực Hiện Di Chúc Của Bác Hồ
  • Bác Hồ Viết ‘di Chúc’ Như Thế Nào?
  • 50 Năm Thực Hiện Di Chúc Bác Hồ: Lời Dặn Đầu Tiên Của Bác
  • Toàn Văn Di Chúc Của Chủ Tịch Hồ Chí Minh Công Bố Năm 1969
  • Di Chúc Của Chủ Tịch Hồ Chí Minh Công Bố Ở Trong Nước Và Nước Ngoài
  • Di Chúc Của Chủ Tịch Hồ Chí Minh Mãi Mãi Sáng Soi

    --- Bài mới hơn ---

  • Bác Hồ Viết Di Chúc
  • Người Làm Chứng Di Chúc
  • Di Chúc Không Công Chứng, Chứng Thực Có Hợp Pháp Không?
  • Hướng Dẫn Cách Lập Di Chúc Bằng Văn Bản Để Có Hiệu Lực Pháp Luật
  • Hướng Dẫn Lập Di Chúc Nha Trang
  •  

    Sau 45 năm công bố, Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn sáng rõ tầm nhìn thời đại và vẹn nguyên giá trị. Di chúc của Người vẫn là những chỉ dẫn quý báu, động lực tinh thần giúp chúng ta vượt qua khó khăn, tận dụng thời cơ, chấp nhận thách thức để tiến tới con đường phát triển bền vững.

    Vài nét về quá trình Bác viết Di chúc

    Nhân dịp sinh nhật lần thứ 75, sáng ngày 10-5-1965, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết những dòng đầu tiên của bản Di chúc. Đến ngày 15-5, bản Di chúc đầu tiên này hoàn thành, dài gần 3 trang, do chính Chủ tịch Hồ Chí Minh đánh máy, có chữ ký của Người và chữ ký chứng kiến của đồng chí Lê Duẩn – lúc đó là Bí thư Thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Từ ngày 10-5-1965 đến lúc kết thúc viết Di chúc ngày 10-5-1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhiều lần chỉnh sửa, bổ sung và viết lại. Năm 1966 và 1967, Chủ tịch Hồ Chí Minh không có bản viết riêng, chỉ có hai bản bổ sung vào Di chúc năm 1965. Năm 1968, Người viết bổ sung một đoạn gồm 6 trang viết tay, ngày 10-5-1969 viết lại toàn bộ phần mở đầu Di chúc, gồm 1 trang viết tay.

    Bản Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh được viết trong bối cảnh cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc ta ở vào giai đoạn ác liệt, song đang trên đà thắng lợi, đòi hỏi sự đoàn kết chặt chẽ, chiến đấu bền bỉ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân hai miền Nam – Bắc với niềm tin vững chắc vào thắng lợi cuối cùng. Đế quốc Mỹ sau thất bại trong chiến lược “Chiến tranh đặc biệt”, chúng tiến hành chiến lược “Chiến tranh cục bộ” ở miền Nam, đồng thời leo thang “Chiến tranh phá hoại” miền Bắc lần thứ nhất; Hội nghị lần thứ 11 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa III tháng 3-1965 đã hạ quyết tâm chiến thắng giặc Mỹ xâm lược. Sau khi đánh bại cuộc phản công chiến lược mùa khô 1965-1966 và 1966-1967, chúng ta mở cuộc Tổng tiến công, nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, buộc đế quốc Mỹ phải tuyên bố ngừng ném bom miền Bắc, chấp nhận đàm phán với ta ở Hội nghị Pa-ri.

    Giá trị to lớn của Di chúc

    Di chúc là tâm nguyện, tình cảm, ý chí, niềm tin, trách nhiệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh với Tổ quốc, nhân dân và sự nghiệp cách mạng.

    Di chúc thể hiện sự tự nhận thức sâu sắc về bản thâncủa Chủ tịch Hồ Chí Minh. Người đón nhận quy luật cuộc sống bằng phong thái ung dung, tự tại, chuẩn bị việc ra đi của mình bằng những lời tâm huyết dặn lại. Tâm nguyện của Người: “Suốt đời tôi hết lòng phụng vụ Tổ quốc, phụng vụ cách mạng, phục vụ nhân dân. Nay dù phải từ biệt thế giới này, tôi không có điều gì phải hối hận, chỉ tiếc là tiếc rằng không được phụng vụ lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa”. Ý chí, niềm tin, tinh thần lạc quan cách mạng, trách nhiệm với nhân dân của Người thể hiện sâu sắc ở dự báo về thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ và ngày thống nhất đất nước, ở những chỉ dẫn về công việc của sự nghiệp cách mạng còn dang dở. Di chúc là tâm sự của một người đã suốt đời hy sinh hạnh phúc riêng tư, hiến dâng trọn cuộc đời cho Tổ quốc và nhân dân; là tấm lòng chung thuỷ với “các nước anh em” và “bầu bạn khắp năm châu”.

    Di chúc là công trình lý luận về xây dựng Đảng cầm quyền

    Trong Di chúc, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định “Đảng ta là Đảng cầm quyền”. Để đáp ứng được nhiệm vụ lãnh đạo xã hội, Đảng phải luôn vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và gắn bó máu thịt với nhân dân, không ngừng nâng cao bản chất giai cấp công nhân, lấy chủ nghĩa Mác – Lênin làm nền tảng tư tưởng, làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động của mình. Di chúc nêu những vấn đề cốt yếu của công tác xây dựng Đảng, đó là: Giữ gìn mối đoàn kết trong Đảng, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, nguyên tắc tự phê bình và phê bình, rèn luyện đạo đức cách mạng, nêu cao tinh thần trách nhiệm, hết lòng phục vụ nhân dân của mỗi cán bộ, đảng viên. Công tác chỉnh đốn Đảng là nhiệm vụ chiến lược, là công việc thường xuyên để giữ vững vai trò lãnh đạo và cầm quyền của Đảng.

    Sự nghiệp cách mạng là một sự nghiệp bền bỉ, dài lâu, tiếp nối từ thế hệ này sang thế hệ khác. Đảng cầm quyền phải chăm lo phát triển lực lượng cho hiện tại và chuẩn bị cho tương lai một thế hệ trẻ vừa “hồng” vừa “chuyên”, có như vậy mới thực hiện thành công lý tưởng xây dựng một xã hội mới, tiến bộ, văn minh. Bác dặn: “Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết”, đó là công việc bồi dưỡng lý tưởng cộng sản, giáo dục truyền thống yêu nước, ý thức rèn luyện đạo đức cách mạng, đào tạo nguồn nhân lực kế tục sự nghiệp xây dựng xã hội chủ nghĩa.

    Cách mạng Việt Nam không thể tách rời cách mạng thế giới. Sự vững mạnh của Đảng còn được khẳng định trong mối quan hệ đoàn kết chặt chẽ với các đảng cộng sản và bè bạn quốc tế. Điều Bác dặn trong Di chúc “về phong trào cộng sản thế giới” chỉ dẫn định hướng quan trọng cho quan hệ đối ngoại của Đảng, đó là nguyên tắc đoàn kết quốc tế dựa trên “nền tảng chủ nghĩa Mác – Lênin và chủ nghĩa quốc tế vô sản, có lý có tình”.

    Di chúc là tác phẩm bàn về xây dựng xã hội XHCN ở Việt Nam, là phác thảo lý luận sự nghiệp đổi mới ở nước ta

    Di chúc là điểm kết tinh tư tưởng của Bác về độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vận dụng chủ nghĩa Mác – Lênin vào hoàn cảnh Việt Nam, mối quan hệ giữa công bằng và tiến bộ xã hội, mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hoá trong xây dựng xã hội mới, sức mạnh đại đoàn kết dân tộc và sức mạnh thời đại, động lực lợi ích và chăm lo chu đáo tới cuộc sống con người, tư tưởng trọng dân, coi dân là gốc, là chủ thể của sự nghiệp xây dựng và đổi mới đất nước.

    Di chúc như một kế hoạch, một chương trình hành động của toàn Đảng, toàn dân về sự nghiệp xây dựng đất nước sau chiến tranh với những chỉ dẫn về quản lý xã hội như: Đào tạo nguồn nhân lực cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội; sửa đổi chế độ giáo dục cho phù hợp hoàn cảnh mới; khôi phục và mở rộng các ngành kinh tế; phát triển công tác vệ sinh, y tế; chính sách miễn thuế nông nghiệp cho nông dân; chính sách xã hội, công bằng xã hội…

    Giá trị văn hoá của Di chúc rất lớn lao, trong đó Bác chỉ dẫn con đường, mục tiêu phát triển của nền văn hoá Việt Nam; trù tính, dự liệu về những cuộc vận động lớn giáo dục văn hoá trong toàn dân, toàn xã hội, lấy văn hoá chính trị của Đảng Cộng sản cầm quyền và văn hoá trong thể chế nhà nước – một nhà nước dân chủ pháp quyền của dân, do dân, vì dân làm sức mạnh tiêu biểu nêu gương thuyết phục nhân dân. Qua lời dặn dò về việc riêng, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn đề cập đến việc xây dựng một đời sống văn hoá mới; một lối sống tiết kiệm, không lãng phí; mối quan hệ giữa con người với thiên nhiên, môi trường sinh thái.

    Di chúc phác thảo những vấn đề quan trọng của sự nghiệp đổi mới đất nước. Chủ tịch Hồ Chí Minh quan niệm, đổi mới là một tất yếu để phát triển; đổi mới là một cuộc đấu tranh bền bỉ, một quá trình xây dựng gian khổ, “là một công việc cực kỳ to lớn, nặng nề và phức tạp”, là “cuộc chiến đấu chống lại những gì đã cũ kỹ, hư hỏng, để tạo ra những cái mới mẻ, tốt tươi”. Người yêu cầu, Đảng cần phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hóa, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân.

    Theo Hồ Chí Minh, xây dựng chủ nghĩa xã hội trong hoàn cảnh, điều kiện nước ta phải đặc biệt chú trọng phát huy khả năng sáng tạo của dân, “động viên toàn dân, tổ chức và giáo dục toàn dân, dựa vào lực lượng vĩ đại của toàn dân”.

    Ý nghĩa sâu sắc của Di chúc

    Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh là văn kiện có giá trị vô cùng to lớn đối với quá trình cách mạng và sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc ta trên nhiều phương diện, nó vạch ra phương hướng cho cách mạng Việt Nam cả hôm nay và trong tương lai, đặc biệt là quan hệ với các Đảng Cộng sản anh em, các nước xã hội chủ nghĩa. Ở vấn đề này, khi hệ thống chủ nghĩa xã hội có nhiều biến đổi, nhất là những diễn biến phức tạp trong khu vực và thế giới gần đây càng cho chúng ta thấy Di chúc của Người có ý nghĩa thời sự sâu sắc.

    Di chúc vừa là văn kiện của một nhà chính trị lớn, lãnh tụ cao nhất của Đảng và dân tộc, người đã sáng tạo ra thời đại mới, “thời đại Hồ Chí Minh”, thời đại của độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội của dân tộc Việt Nam; vừa là tác phẩm nghệ thuật tầm cỡ của một nhà văn hoá lớn. Đây là sự phản ánh thống nhất, cô đọng nhất về toàn bộ cuộc đời, sự nghiệp, tư tưởng Chủ tịch Hồ Chí Minh; thể hiện phẩm chất đạo đức sáng ngời suốt đời phục vụ cách mạng, phục vụ Tổ quốc và nhân dân của người chiến sĩ cộng sản kiệt xuất; thể hiện mong muốn cuối cùng của Người.

    Di chúc thể hiện cô đọng và sâu sắc những tư tưởng đổi mới của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong sự nghiệp xây dựng đất nước Việt Nam, xuất phát từ thực tiễn Việt Nam. Người đã căn dặn toàn Đảng, toàn dân ta những việc to lớn, hệ trọng, cần làm sau khi đất nước thống nhất.

    45 năm qua, Di chúc thiêng liêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn là nguồn cổ vũ, động viên toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta phát huy tinh thần yêu nước, đại đoàn kết toàn dân tộc, vượt qua thử thách, giành những thắng lợi vẻ vang, đưa cả nước bước vào thời kỳ mới, thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Kỷ niệm 45 năm thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh là một dịp để chúng ta tiếp tục ôn lại lời căn dặn tâm huyết cuối cùng của Lãnh tụ kính yêu, Anh hùng dân tộc, Danh nhân văn hóa thế giới trước lúc đi xa.

    Với tất cả tình cảm kính yêu vô hạn và niềm tin tuyệt đối vào lời căn dặn của Người, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đồng lòng quyết tâm thực hiện thắng lợi Di chúc thiêng liêng và con đường cách mạng mà Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã lựa chọn, xây dựng một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa, hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh./.

    Theo Tạp chí Xây dựng Đảng

    Huyền Trang (st)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Di Chúc Của Chủ Tịch Hồ Chí Minh
  • Hướng Dẫn Bật Tính Năng Tự Động Dịch Thuật Website Trên Chrome
  • Biên Dịch Sang Tiếng Anh
  • Top 03 Phần Mềm Dịch Tiếng Anh Trên Điện Thoại Tốt Nhất
  • Dịch Thuật Tiếng Anh Giá Rẻ Lấy Ngay Tại Hà Nội 2022
  • Toàn Văn Di Chúc Của Chủ Tịch Hồ Chí Minh Công Bố Năm 1969

    --- Bài mới hơn ---

  • 50 Năm Thực Hiện Di Chúc Bác Hồ: Lời Dặn Đầu Tiên Của Bác
  • Bác Hồ Viết ‘di Chúc’ Như Thế Nào?
  • Kết Quả 45 Năm Thực Hiện Di Chúc Của Bác Hồ
  • 125 Sinh Nhật Bác: Di Chúc Hồ Chí Minh
  • Chứng Thực Văn Bản Di Chúc Để Thừa Kế Tài Sản Gắn Liền Với Đất
  • Trong Lễ tang của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đồng chí Lê Duẩn – Bí thư Thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam đọc lời điếu và công bố Di chúc của Người.

    Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh

    (công bố năm 1969)

    VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ

    Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

    Cuộc chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta dù phải kinh qua gian khổ, hy sinh nhiều hơn nữa, song nhất định thắng lợi hoàn toàn.

    Đó là một điều chắc chắn.

    Tôi có ý định đến ngày đó, tôi sẽ đi khắp hai miền Nam Bắc, để chúc mừng đồng bào, cán bộ và chiến sĩ anh hùng, thǎm hỏi các cụ phụ lão, các cháu thanh niên và nhi đồng yêu quý của chúng ta.

    Ông Đỗ Phủ là người làm thơ rất nổi tiếng ở Trung Quốc đời nhà Đường, có câu rằng “Nhân sinh thất thập cổ lai hy”, nghĩa là “Người thọ 70, xưa nay hiếm”.

    Nǎm nay, tôi vừa 79 tuổi, đã là lớp người “xưa nay hiếm” nhưng tinh thần, đầu óc vẫn rất sáng suốt, tuy sức khoẻ có kém so với vài nǎm trước đây. Khi người ta đã ngoài 70 Xuân, thì tuổi tác càng cao, sức khoẻ càng thấp. Điều đó cũng không có gì lạ.

    Nhưng ai mà đoán biết tôi còn phục vụ cách mạng, phục vụ tổ quốc, phục vụ nhân dân được bao lâu nữa?

    Vì vậy, tôi để sẵn mấy lời này, phòng khi tôi sẽ đi gặp cụ Các Mác, cụ Lê – nin và các vị cách mạng đàn anh khác, thì đồng bào cả nước, đồng chí trong Đảng và bầu bạn khắp nơi đều khỏi cảm thấy đột ngột.

    TRƯỚC HẾT NÓI VỀ ĐẢNG – Nhờ đoàn kết chặt chẽ, một lòng một dạ phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc, cho nên từ ngày thành lập đến nay, Đảng ta đã đoàn kết, tổ chức và lãnh đạo nhân dân ta hǎng hái đấu tranh tiến từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

    ĐOÀN KẾT là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng và của dân ta. Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình.

    Trong Đảng thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất để củng cố và phát triển sự đoàn kết và thống nhất của Đảng. Phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau.

    Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thực sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân.

    ĐOÀN VIÊN THANH NIÊN ta nói chung là tốt, mọi việc đều hằng hái xung phong, không ngại khó khǎn, có chí tiến thủ. Đảng cần phải chǎm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng” vừa “chuyên”.

    Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết.

    NHÂN DÂN LAO ĐỘNG ta ở miền xuôi cũng như ở miền núi, đã bao đời chịu đựng gian khổ, bị chế độ phong kiến và thực dân áp bức bóc lột, lại kinh qua nhiều nǎm chiến tranh.

    Tuy vậy, nhân dân ta rất anh hùng, dũng cảm, hǎng hái, cần cù. Từ ngày có Đảng, nhân dân ta luôn luôn đi theo Đảng, rất trung thành với Đảng.

    Đảng cần phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và vǎn hóa, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân.

    CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ có thể còn kéo dài. Đồng bào ta có thể phải hy sinh nhiều của, nhiều người. Dù sao, chúng ta phải quyết tâm đánh giặc Mỹ đến thắng lợi hoàn toàn.

    Còn non, còn nước, còn người, thắng giặc Mỹ, ta sẽ xây dựng hơn mười ngày nay!

    Dù khó khǎn gian khổ đến mấy, nhân dân ta nhất định sẽ hoàn toàn thắng lợi. Đế quốc Mỹ nhất định phải cút khỏi nước ta. Tổ quốc ta nhất định sẽ thống nhất. Đồng bào Nam Bắc nhất định sẽ sum họp một nhà. Nước ta sẽ có vinh dự lớn là một nước nhỏ mà đã anh dũng đánh thắng hai đế quốc to – là Pháp và Mỹ; và đã góp phần xứng đáng vào phong trào giải phóng dân tộc.

    VỀ PHONG TRÀO CỘNG SẢN THẾ GIỚI – là một người suốt đời phục vụ cách mạng, tôi càng tự hào với sự lớn mạnh của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế bao nhiêu, thì tôi càng đau lòng bấy nhiêu vì sự bất hoà hiện nay giữa các đảng anh em!

    Tôi mong rằng Đảng ta sẽ ra sức hoạt động, góp phần đắc lực vào việc khôi phục lại khối đoàn kết giữa các đảng anh em trên nền tảng chủ nghĩa Mác – Lênin và chủ nghĩa quốc tế vô sản, có lý, có tình.

    Tôi tin chắc rằng các đảng anh em và các nước anh em nhất định sẽ phải đoàn kết lại.

    VỀ VIỆC RIÊNG – Suốt đời tôi hết lòng hết sức phục vụ Tổ quốc, phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân. Nay dù phải từ biệt thế giới này, tôi không có điều gì phải hối hận, chỉ tiếc là tiếc rằng không được phục vụ lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa.

    Sau khi tôi đã qua đời, chớ nên tổ chức điếu phúng linh đình, để khỏi lãng phí thì giờ và tiền bạc của nhân dân.

    Cuối cùng, tôi để lại muôn vàn tình thân yêu cho toàn dân, toàn Đảng, cho toàn thể bộ đội, cho các cháu thanh niên và nhi đồng.

    Tôi cũng gửi lời chào thân ái đến các đồng chí, các bầu bạn và các cháu thanh niên, nhi đồng quốc tế.

    Điều mong muốn cuối cùng của tôi là: Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Di Chúc Của Chủ Tịch Hồ Chí Minh Công Bố Ở Trong Nước Và Nước Ngoài
  • Lời Dặn Đầu Tiên Của Bác Trong Di Chúc
  • Di Chúc Của Bác Hồ Được Lưu Giữ, Bảo Quản Như Thế Nào?
  • Nguyên Văn Bản Di Chúc Của Chủ Tịch Hồ Chí Minh Nguyen Van Ban Di Chuc Cua Chu Tich Ho Chi Minh Doc
  • Toàn Văn Di Chúc Của Chủ Tịch Hồ Chí Minh
  • Di Chúc Của Chủ Tịch Hồ Chí Minh Công Bố Ở Trong Nước Và Nước Ngoài

    --- Bài mới hơn ---

  • Toàn Văn Di Chúc Của Chủ Tịch Hồ Chí Minh Công Bố Năm 1969
  • 50 Năm Thực Hiện Di Chúc Bác Hồ: Lời Dặn Đầu Tiên Của Bác
  • Bác Hồ Viết ‘di Chúc’ Như Thế Nào?
  • Kết Quả 45 Năm Thực Hiện Di Chúc Của Bác Hồ
  • 125 Sinh Nhật Bác: Di Chúc Hồ Chí Minh
  • VĂN KIỆN LỊCH SỬ QUÝ GIÁ

    Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh là văn kiện lịch sử vô cùng quý giá, kết tinh những tư tưởng lớn mang tính định hướng chiến lược được đúc kết từ thực tiễn cuộc đấu tranh của dân tộc Việt Nam và kinh nghiệm cả cuộc đời hoạt động cách mạng vô cùng phong phú, oanh liệt và cam go của Người. Di chúc thấm đậm tính nhân văn sâu sắc, phản ánh tình cảm chân thành và sự quan tâm đặc biệt của Chủ tịch Hồ Chí Minh đến từng lớp người trong xã hội, cũng như những suy tư, mong ước và hy vọng của Người đối với cách mạng Việt Nam và cách mạng thế giới. Thời gian càng lùi xa, chúng ta càng thấy rõ hơn những giá trị lý luận và thực tiễn trong Di chúc của Hồ Chí Minh.

    Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời là một tổn thất vô cùng to lớn đối với toàn Đảng, toàn dân Việt Nam và bè bạn quốc tế. Hội nghị bất thường của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa III) họp chiều ngày 3/9/1969 đã giao cho Bộ Chính trị trách nhiệm công bố Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Bản Di chúc được công bố chính thức vào tháng 9/1969 sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời là bản do đồng chí Lê Duẩn, Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam đọc tại lễ truy điệu Chủ tịch Hồ Chí Minh vào ngày 9/9/1969.

    Bản Di chúc công bố nam 1969 chủ yếu dựa theo bản Người viết năm 1965, vì đây là bản Di chúc hoàn chỉnh, có chữ ký của Người và bên cạnh có chữ ký của đồng chí Lê Duẩn; trong đó, có một số đoạn được bổ sung hoặc thay thế bằng những đoạn tương ứng Người viết năm 1968 và năm 1969. Đoạn mở đầu lấy nguyên văn toàn bộ đoạn mở đầu Người viết năm 1969, thay cho đoạn mở đầu Người viết năm 1965. Bút tích của Bác về đoạn này đã được chụp lại và công bố đầy đủ năm 1969.

    Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh là văn kiện lịch sử của một nhà chính trị, lãnh tụ cao nhất của Đảng và dân tộc – Người đã sáng tạo ra thời đại mới, “thời đại Hồ Chí Minh”, thời đại đấu tranh giành độc lập dân tộc và đi lên chủ nghĩa xã hội của dân tộc Việt Nam. Đó cũng là tác phẩm nghệ thuật đầy tâm huyết của một nhà văn hoá lớn Hồ Chí Minh, mang đậm dấu ấn của một bậc đại trí, đại nhân, đại dũng.

    Di chúc phản ánh thống nhất, cô đọng nhất về toàn bộ cuộc đời, sự nghiệp, tư tưởng Chủ tịch Hồ Chí Minh; thể hiện phẩm chất đạo đức cách mạng sáng ngời, suốt đời tận tâm, tận lực phục vụ cách mạng, phục vụ Tổ quốc và nhân dân của người chiến sĩ cộng sản kiệt xuất Hồ Chí Minh; thể hiện những trăn trở và mong muốn cuối cùng của Người trước khi đi xa.

    BẢN DI CHÚC ĐƯỢC CÔNG BỐ TRONG NƯỚC

    Báo Nhân Dân

    Trang trọng trên trang nhất báo Nhân Dân, số 5626, ra ngày 10/9/1969 đã đăng Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh và kèm theo bản chụp trang viết tay phần mở đầu Di chúc viết vào ngày 10/5/1969. Di chúc được công bố chính thức khi đó là bản do đồng chí Lê Duẩn, Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam đọc, sau khi đọc Điếu văn tại lễ truy điệu Chủ tịch Hồ Chí Minh được tổ chức trọng thể và trang nghiêm tại Quảng trường Ba Đình lịch sử trước hàng vạn nhân dân Thủ đô, đại biểu các tầng lớp nhân dân các địa phương và đoàn đại biểu nhân dân miền Nam cùng 34 đoàn đại biểu quốc tế.

    Trong bài tường thuật buổi lễ truy điệu có viết: “Đọc xong Lời điếu, đồng chí Lê Duẩn đọc Lời Di chúc của Hồ Chủ tịch. Đồng chí Lê Duẩn vừa mới đọc dòng đầu tiên của những lời căn dặn cuối cùng của Bác Hồ, cả Quảng trường òa lên khóc. Đau thương đến lúc này như không sao nén nổi. Càng nghe lời dặn cuối cùng của Hồ Chủ tịch, càng khóc nhiều. Nhưng không ai dám khóc to, vì còn muốn nghe cho thấm vào lòng từng lời của Bác”.

    Sách Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, xuất bản năm 1969

    Sách gồm 47 trang do Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam xuất bản năm 1969, tiếng Việt. Bìa màu nâu, với tiêu đề: “Đời đời nhớ ơn Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại”. Cuốn sách khổ nhỏ: 9 cm x 13 cm. Trang 3 là ảnh chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh. Cuốn sách gồm 3 phần: Di chúc, Lời kêu gọi và Điếu văn của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam. Phần Di chúc (từ trang 8 đến trang 21) in trang bút tích phần đầu và toàn văn Di chúc năm 1969 đã được đọc tại lễ truy điệu Chủ tịch Hồ Chí Minh.

    Sách Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, xuất bản năm 1969

    Sách xuất bản năm 1969, khổ nhỏ dạng bỏ túi 9 cm x 13 cm, 21 trang, bìa màu nâu có dòng chữ: Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại. Bìa trong có tiêu đề: Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Một trang bút tích phần mở đầu và toàn văn nội dung Di chúc công bố năm 1969. Sách được phát cho đồng bào đến viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

    BẢN DI CHÚC CÔNG BỐ Ở NƯỚC NGOÀI

    Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh đăng tải trên các báo nước ngoài

    Chủ tịch Hồ Chí Minh từ trần đã gây xúc động lớn đối với mọi tầng lớp nhân dân trên thế giới. Hiếm có sự ra đi của vị lãnh đạo đứng đầu nhà nước nào lại gây ra nỗi đau buồn khắp năm châu như Chủ tịch Hồ Chí Minh. Nữ thi sĩ Bungari Blaga Đimitrôva viết: Một trái tim ngừng đập, cả thế giới bỗng lạnh ngắt, tái tê.

    Báo chí nhiều nước vào những ngày đầu tháng 9/1969 đã đưa tin về tang lễ của Chủ tịch Hồ Chí Minh và đăng nhiều bài viết ca ngợi sự nghiệp cách mạng vĩ đại và công lao, đức độ to lớn của Người, cũng như tình cảm, mối quan hệ của Người với bạn bè và nhân dân các nước mà Người đã từng sống và học tập cũng như sau này đến thăm hữu nghị… Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được đăng tải trang trọng trên trang nhất nhiều tờ báo lớn trên thế giới vào sau ngày 9/9/1969, sau lễ truy điệu trọng thể Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Hà Nội.

    Báo Lao động (Liên Xô), số 211, thứ tư ngày 10/9/1969. Báo in tipô, tiếng Nga, cỡ: 42 cm x 60 cm. Tại trang 1 và trang 4 trong bài “Việt Nam tiễn biệt Chủ tịch Hồ Chí Minh” đã đăng toàn văn Điếu văn và Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh do đồng chí Lê Duẩn đọc tại lễ truy điệu Người ngày 9/9/1969. Để tưởng nhớ Chủ tịch Hồ Chí Minh, lãnh tụ vĩ đại của Nhân dân Việt Nam, người bạn lớn của Nhân dân Liên Xô, Liên Xô đã quyết định treo cờ rủ ở Thủ đô Mátxcơva, thành phố Lêningrát, thủ đô các nước cộng hòa và các thành phố khắp Liên bang Xôviết trong ngày 9/9/1969 (ngày cử hành tang lễ Chủ tịch Hồ Chí Minh).

    Bài viết có sử dụng một số thông tin của:

    1) Báo Nhân Dân, cơ quan ngôn luận của Đảng Cộng sản Việt Nam: số 5626, ngày 10/9/1969; số 5627, ngày 11/9/1969 và các số ra từ ngày 04/9/1969 đến ngày 15/9/1969;

    2) Báo chí nước ngoài: Báo Lao động (Liên Xô), Báo Neues Deutschland (Đức), Báo L’Humanité (Nhân đạo) (Pháp), Báo L’Unita (Italia),…

    3) Một số ấn phẩm Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh phát hành ở nước ngoài đang lưu giữ tại Khu di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch, Cục Lưu trữ Trung ương Đảng và Bảo tàng Hồ Chí Minh.

    Báo Quyền lợi đỏ của Tiệp Khắc, ngày 16/9/1969, đăng Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại trang 8.

    Báo Diễn đàn của Đảng Cộng sản Ôxtrâylia, ngày 17/9/1969, trang 3 đăng Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

    ẤN PHẨM DI CHÚC PHÁT HÀNH Ở NƯỚC NGOÀI

    Tờ Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, tiếng Italia, do Đảng Cộng sản Italia xuất bản trong thời gian tang lễ Chủ tịch Hồ Chí Minh. Giấy cứng màu đỏ, kích thước: 33 cm x 42 cm. Phía trên in chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh và hình sao vàng năm cánh. Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh công bố năm 1969 được in với tiêu đề: Độc lập, Tự do, Hạnh phúc.

    Bản Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, tiếng Italia, năm 1972, được in trên hai tờ giấy bìa dày màu trắng gấp đôi, 8 trang, kích thước: 24,6 cm x 34,5 cm. Những trang đầu tiên là tiêu đề cùng hai bức phác họa chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh từ ngực trở lên và chân dung nửa người của họa sĩ người Italia Bruno Caruso. Dưới hai bức họa đều có chữ ký của tác giả. Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh đề ngày 10/5/1969 được in ở trang 4 – 6. Ấn phẩm này được in 100 bản và phát hành tại Roma năm 1972.

    Sách Lời Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh xuất bản tại Cộng hòa Dân chủ Đức, gồm 48 trang, bìa cứng, bọc vải đỏ, kích thước 18,5 cm x 24 cm. Sách in Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Điếu văn của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam. Trang bìa 2 dòng chữ Hồ Chí Minh màu đỏ phía trên và phía dưới chữ: Lời Di chúc in màu đen, trang 3 bìa phụ giống bìa ở trang 2 chỉ đổi màu chữ tiêu đề ngược lại. Trang 4 in chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh trong khung đen. Trang 5 là bản chụp trang viết tay phần đầu Di chúc viết ngày 10/5/1969. Tiếp đến các trang sau in Di chúc và Điếu văn bằng bốn thứ tiếng theo thứ tự: tiếng Việt, tiếng Đức, tiếng Anh và tiếng Pháp.

    Sách Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh xuất bản tại Hà Lan, năm 1969, do Đảng Cộng sản Hà Lan ấn hành năm 1969, kích thước 15 cm x 21 cm, bìa màu xanh cỏ úa. Trong sách có ảnh chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh chụp năm 1966 và bìa sau có hai ảnh: Chủ tịch Hồ Chí Minh với tướng Pháp Leclerk ở Hà Nội tháng 3/1946 và Chủ tịch Hồ Chí Minh ở Chiến khu Việt Bắc năm 1950.

    Sách Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, tiếng Lào, bản công bố năm 1969 được đăng tải từ trang 29 đến trang 36 trong tạp chí Tia sáng – nội san của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào, số ra ngày 19/9/1969. Đây là số đặc biệt về tang lễ của Chủ tịch Hồ Chí Minh phát hành trong vùng giải phóng Lào. Tạp chí gồm 64 trang, kích thước 18,5 cm x 12,5 cm. Trong bài xã luận với tiêu đề “Thương tiếc Chủ tịch Hồ Chí Minh” có đoạn viết: “Chủ tịch Hồ Chí Minh là một nhà mácxít – lêninnít vĩ đại của phong trào cộng sản quốc tế và là người bạn chiến đấu kính yêu nhất của Nhân dân Lào”.

    Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh mang nét độc đáo riêng, vì cho dù bút tích Người ghi rõ “tuyệt đối bí mật”, nhưng đây là tài liệu được công bố rộng rãi nhất ngay từ lần đầu tiên vào những ngày tang lễ Chủ tịch Hồ Chí Minh. 50 năm kể từ ngày công bố bản Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh đầu tiên và 30 năm từ ngày Di chúc của Người được tái bản và công bố toàn văn, được Nhà xuất bản Sự thật ấn hành với số lượng lớn trên 100.000 bản, tới nay, Di chúc của Người đã được tái bản nhiều lần, nhất là những dịp kỷ niệm năm chẵn, với số lượng lớn.

    Điểm lại những bản công bố lần đầu tiên Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh qua báo chí trong nước và nhiều tờ báo lớn trên thế giới cùng những ấn phẩm được phát hành trong và ngoài nước đang lưu giữ tại Khu di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch, Cục Lưu trữ Trung ương Đảng và Bảo tàng Hồ Chí Minh cũng chính là thêm một lần hiểu sâu sắc hơn những giá trị to lớn và trường tồn của bản Di chúc lịch sử cùng những ngày tang lễ Chủ tịch Hồ Chí Minh, khi cả thế giới cùng với Nhân dân Việt Nam ca ngợi và thương tiếc Người – vị lãnh tụ cách mạng vĩ đại của thế kỷ XX.

    Di chúc là một văn kiện lịch sử vô giá, kết tinh trong đó tinh hoa tư tưởng, đạo đức và tâm hồn cao đẹp của Chủ tịch Hồ Chí Minh, một vĩ nhân suốt đời phấn đấu, hy sinh vì Tổ quốc và nhân loại.

    Di chúc là những lời căn dặn và tình cảm thiết tha; là niềm tin sâu sắc của Người gửi lại toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta và các thế hệ mai sau. Di chúc của Người đã trở thành thiêng liêng, thành cương lĩnh hành động của toàn Đảng, toàn dân ta trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc cũng như trong công cuộc đổi mới vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

    Thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, thể hiện sự quyết tâm của Đảng ta làm theo lời dạy của Người về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, làm cho Đảng ta ngày càng trong sạch, vững mạnh, lãnh đạo nhân dân ta vượt qua mọi thử thách, khó khăn, xây dựng Tổ quốc ta ngày càng đàng hoàng hơn, to đẹp hơn như lời căn dặn của Bác Hồ.

    Ths. Nguyễn Văn Dương

    Khu di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch

    . Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, t.15, tr.612, 623.

    . Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.15, tr.630.

    . Di chúc cùng với các kỷ vật quý giá khác của Việt Nam như: cờ Đảng, cờ Tổ quốc, Huy hiệu Bác Hồ, Huy hiệu Interkosmos, Tuyên ngôn độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh năm 1945, Đại cáo Bình Ngô của Nguyễn Trãi, Hịch tướng sĩ của Trần Quốc Tuấn đã được nhà du hành vũ trụ đầu tiên của Việt Nam Phạm Tuân đem theo trong chuyến bay vào vũ trụ của đội bay quốc tế Việt Nam – Liên Xô tháng 6/1980. Nhiều kỷ vật có chữ ký của nhà du hành vũ trụ Phạm Tuân và Anh hùng vũ trụ Liên Xô Gorơbátcô.

    [7]. Đây là 1 trong số 21 tờ báo của các báo: Sự thật, Tin tức, Lao động, Sự thật thanh niên, Xibêri Liên Xô… Số báo này do đồng chí Trần Quân Ngọc, Phó Vụ trưởng Vụ Xây dựng cơ bản – Văn phòng Hội đồng Bộ trưởng tặng Viện Bảo tàng Hồ Chí Minh ngày 16/12/1986 nhân dịp Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng. Đây là bộ sưu tập các báo Liên Xô đăng tin những ngày tang lễ của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Khi Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời, ông Trần Quân Ngọc đang cùng những sinh viên Việt Nam trên tàu liên vận Hà Nội – Mátxcơva sang Liên Xô học tập. Những tờ báo này do ông mua tại các ga tàu để theo dõi tang lễ quê nhà. Đặc biệt, một số nơi biết có đoàn tàu chở học sinh Việt Nam đi qua, bạn bè Liên Xô đã tổ chức những cuộc mít tinh chớp nhoáng để chia sẻ nỗi đau buồn lớn lao với các bạn Việt Nam. Suốt 20 năm, ông Trần Quân Ngọc đã gìn giữ những tờ báo này như những kỷ niệm quý báu, thiêng liêng về Bác. Từ năm 1986 tới nay, những tờ báo do ông tặng đã trở thành hiện vật bảo tàng, thể hiện tấm lòng của bè bạn Liên Xô đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Lời Dặn Đầu Tiên Của Bác Trong Di Chúc
  • Di Chúc Của Bác Hồ Được Lưu Giữ, Bảo Quản Như Thế Nào?
  • Nguyên Văn Bản Di Chúc Của Chủ Tịch Hồ Chí Minh Nguyen Van Ban Di Chuc Cua Chu Tich Ho Chi Minh Doc
  • Toàn Văn Di Chúc Của Chủ Tịch Hồ Chí Minh
  • Di Chúc Của Chủ Tịch Hồ Chí Minh: Như Ngọn Đuốc Soi Đường Cho Dân Tộc
  • Di Chúc Của Chủ Tịch Hồ Chí Minh: Như Ngọn Đuốc Soi Đường Cho Dân Tộc

    --- Bài mới hơn ---

  • Toàn Văn Di Chúc Của Chủ Tịch Hồ Chí Minh
  • Nguyên Văn Bản Di Chúc Của Chủ Tịch Hồ Chí Minh Nguyen Van Ban Di Chuc Cua Chu Tich Ho Chi Minh Doc
  • Di Chúc Của Bác Hồ Được Lưu Giữ, Bảo Quản Như Thế Nào?
  • Lời Dặn Đầu Tiên Của Bác Trong Di Chúc
  • Di Chúc Của Chủ Tịch Hồ Chí Minh Công Bố Ở Trong Nước Và Nước Ngoài
  • GS.TS Hoàng Chí Bảo (nguyên ủy viên Hội đồng lý luận trung ương) – người có hơn 40 năm nghiên cứu và 27 năm chia sẻ các câu chuyện về cuộc đời, tư tưởng, sự nghiệp của Bác Hồ – nói nếu tính từ ngày Bác viết bản di chúc đầu tiên, “số tuổi” Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh đến nay đã là 54.

    Theo những tài liệu lịch sử ghi lại, Bác đã tự tay đánh máy bản di chúc đầu tiên vào ngày 10-5-1965. Khi hoàn thành bản di chúc, Bác đề cuối dòng ngày 15-5-1965. Năm ấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh mừng sinh nhật 75 tuổi.

    Dẫn câu Nhân sinh thất thập cổ lai hy của nhà thơ đời Đường (Trung Quốc) Đỗ Phủ, Bác nói mình thuộc vào lớp người “xưa nay hiếm”. Dù tự nhận “tinh thần vẫn sáng suốt, thân thể vẫn khỏe mạnh”, Bác tự đặt câu hỏi: “Ai đoán biết tôi sẽ sống và phục vụ Tổ quốc, phục vụ cách mạng mấy năm mấy tháng nữa?”.

    Thế nên, “Tôi để lại mấy lời này, chỉ nói tóm tắt vài việc thôi” như một lý do Bác giải thích cho việc bắt tay viết di chúc.

    Lần sửa thứ nhất năm 1968, Bác viết bổ sung một số đoạn. Người viết lại đoạn mở đầu và đoạn nói “về việc riêng” đã viết trong bản năm 1965, và viết thêm một số đoạn khác.

    Đó là các đoạn nói về những công việc cần làm sau khi cuộc chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta hoàn toàn thắng lợi, như: chỉnh đốn lại Đảng, chăm sóc đời sống của các tầng lớp nhân dân, miễn thuế nông nghiệp một năm cho các hợp tác xã nông nghiệp, xây dựng lại thành phố và làng mạc, khôi phục và phát triển kinh tế, văn hóa, củng cố quốc phòng, chuẩn bị thống nhất đất nước.

    Trong đó đoạn viết về chỉnh đốn lại Đảng và chăm sóc đối với thương binh, Bác viết rồi lại gạch chéo. Đoạn nói về xây dựng lại đất nước, phát triển kinh tế, văn hóa, chuẩn bị thống nhất đất nước, Bác gạch dọc ở bên trái ngoài lề.

    Lần thứ hai, Bác sửa di chúc vào ngày 10-5-1969, bốn năm sau khi tự đánh máy bản đầu tiên. Thời điểm này vào khoảng bốn tháng trước khi Bác đi xa mãi mãi. Người viết lại toàn bộ đoạn mở đầu của di chúc.

    Ngày 2-9-1969, Bác qua đời. Bộ Chính trị quyết định công bố Di chúc Chủ tịch Hồ Chí Minh. Bản công bố chính thức chủ yếu dựa theo bản Bác viết năm 1965. Trong đó có một số đoạn được bổ sung hoặc thay thế bằng những đoạn tương ứng Người viết năm 1968 và 1969.

    Bản chính thức này lấy nguyên văn đoạn mở đầu Bác viết năm 1969. Phần giữa, từ đoạn nói về Đảng đến hết đoạn nói về phong trào Cộng sản thế giới, là nguyên văn bản Bác viết năm 1965.

    Trong đoạn “về việc riêng”, năm 1965 Bác dặn dò việc tang và viết về hỏa táng, dặn để lại một phần tro xương cho miền Nam. Đến năm 1968, Bác viết lại đoạn này, dặn để tro vào ba hộp sành, cho Bắc, Trung, Nam mỗi miền một hộp. Ngoài ra Bác bổ sung một đoạn nói về cuộc đời của bản thân.

    Đoạn Bác viết về bản thân năm 1968 được giữ nguyên văn trong bản công bố, trừ đoạn nói về hỏa táng. Đoạn cuối cùng trong Di chúc được Bác viết từ năm 1965 và cả hai lần sửa sau đó Người đều không sửa lại hoặc viết thêm.

    Bộ Chính trị (khóa XI) khẳng định bản Di chúc Chủ tịch Hồ Chí Minh đã công bố bảo đảm trung thành với bản gốc. Và việc chọn bản di chúc Bác viết năm 1965 để công bố là đúng đắn vì là bản duy nhất được viết hoàn chỉnh, có chữ ký của Bác và bên cạnh có chữ ký chứng kiến của ông Lê Duẩn, Bí thư thứ nhất Ban chấp hành Trung ương Đảng lúc đó.

    Trong bản đã công bố, các đoạn đều lấy nguyên văn bản gốc, chỉ sửa lại một câu. Đó là năm 1965 Bác viết: “Cuộc kháng chiến chống Mỹ có thể sẽ kéo dài mấy năm nữa” thì bản công bố chính thức sửa lại thành: “Cuộc kháng chiến chống Mỹ có thể còn kéo dài”.

    Trước đây chưa công bố đoạn Bác viết về yêu cầu hỏa táng. Bộ Chính trị (khóa III) cho rằng cần thiết phải giữ gìn thi hài của Bác để sau này đồng bào cả nước, nhất là miền Nam, bạn bè quốc tế có điều kiện tới viếng Bác, thể hiện tình cảm sâu đậm với Người.

    Vì lẽ đó, chúng ta đã xin phép Bác về điểm này được làm khác với lời Bác dặn. Đó cũng là thể theo nguyện vọng, tình cảm của nhân dân.

    Giữa những ngày cả nước có nhiều hoạt động đợt 50 năm thực hiện Di chúc Chủ tịch Hồ Chí Minh (1969-2019), hẳn mỗi người sẽ có cho mình cách riêng để đọc, ngẫm về những lời dặn dò ấy.

    Chị Phùng Thị Diệu Hương (Trường Đại học Kinh tế – luật, ĐH Quốc gia chúng tôi nói mỗi lời trong Di chúc là từng lời dặn cô đọng mà chị cảm nhận được tâm nguyện, niềm tin, trách nhiệm của Bác với Tổ quốc, nhân dân và sự nghiệp cách mạng.

    “Tôi thấm thía khi Người nói về đoàn viên, thanh niên, những người kế tục sự nghiệp cách mạng của Đảng. Bác nhấn mạnh bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết.

    Đảng cần phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng”, vừa “chuyên”” – chị Diệu Hương chia sẻ.

    Anh Lâm Thanh Minh (Trường Đại học Sư phạm chúng tôi cho rằng Di chúc của Bác là nguồn cổ vũ, động viên toàn Đảng, toàn dân, toàn quân phát huy tinh thần yêu nước, đại đoàn kết toàn dân tộc, vượt qua thử thách.

    Từ góc nhìn của một đảng viên trẻ, anh Minh bày tỏ: “Điều Bác nói về Đảng đến hôm nay vẹn nguyên giá trị. Trong xây dựng Đảng hiện nay, chúng ta phải thẳng thắn phê phán, đấu tranh kiên quyết với những hạn chế, khuyết điểm, những tư tưởng, hành vi không đúng, nhất là chống chủ nghĩa cá nhân, tệ quan liêu, tham nhũng, thoái hóa, biến chất… của một bộ phận cán bộ, đảng viên”.

    Trò chuyện với các bạn trẻ chúng tôi mới đây, chúng tôi Hoàng Chí Bảo nhắn rằng không chỉ hơn nghìn chữ trong Di chúc mà từng câu, từng chữ trong mỗi tác phẩm Bác viết ra đều rất giản dị, dễ hiểu, luôn hàm chứa nhiều ý nghĩa.

    Dẫn Di chúc của Bác khi nói về Đảng, GS Bảo chỉ ra Bác dặn Đảng không chỉ cần đoàn kết, thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên phê bình và tự phê bình, giữ gìn Đảng ta thật sự trong sạch mà mỗi cán bộ, đảng viên phải thực sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư.

    “Điều quan trọng Bác nhấn mạnh chính là “phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau”. Bác không bao giờ nặng lời khi góp ý, phê bình. Bác dặn phê bình việc chứ không phê bình người.

    Nên học Bác phải nhớ rằng Bác xa lạ với chủ nghĩa lãnh tụ, chủ nghĩa quyền uy vì Bác coi mình là người lính vâng lệnh quốc dân đồng bào ra trận” – GS Hoàng Chí Bảo chia sẻ.

    Thiếu tá, TS Lê Hoàng Việt Lâm (Trường Đại học An ninh nhân dân) cho biết dù đã báo cáo nhiều nơi song mỗi lần chuẩn bị các chuyên đề về Bác, anh luôn có cảm xúc đặc biệt và đem điều ấy chia sẻ với mọi người.

    “Tôi luôn cố gắng để mỗi bài nói chuyện của tôi như là bài giảng máu thịt tâm hồn. Tôi muốn truyền sự thấu cảm của mình đến từng người nghe để chúng ta có chung tình cảm “Yêu Bác lòng ta trong sáng hơn”.

    Qua đó, có thể giúp được mỗi người hiểu thêm chiều sâu tư tưởng, đặc biệt là nhân cách văn hóa chân – thiện – mỹ của Hồ Chí Minh. Tôi cho đó là niềm tin, động lực để mỗi chúng ta sống tốt hơn, tử tế hơn và có ý nghĩa hơn” – anh Lâm bộc bạch.

    Thiếu tá Lê Hoàng Việt Lâm nói bản di chúc chỉ hơn 1.000 chữ trên mấy trang giấy mỏng nhưng có đến 17 lần Bác nhắc tới từ Nhân dân, và đều gạch dưới từng chữ Nhân dân đó.

    “Trong từ vựng của Người, chữ Dân có một vị trí chủ đạo, nổi bật, có tần số lặp lại nhiều nhất, lớn nhất. Thực tiễn tình hình đất nước thời gian qua cho chúng ta thấy “an dân” có tầm quan trọng đặc biệt như thế nào. Mà những điều này Bác đã viết, đã dự báo trong Di chúc của mình cách đây 50 năm…” – TS Lâm nói.

    Ngày 1-10-2012, Thủ tướng Chính phủ đã kí quyết định công nhận (đợt 1) 30 hiện vật, nhóm hiện vật là “bảo vật quốc gia”. Đặc biệt trong số này có đến 5 tác phẩm tiêu biểu trong di sản của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

    Toàn văn bản Di chúc chính thức công bố của Chủ tịch Hồ Chí Minh đang dùng hiện nay:

    --- Bài cũ hơn ---

  • Mẫu Văn Bản Di Chúc Thừa Kế Tài Sản
  • Top 8 Trang Web Dịch Văn Bản Tốt Nhất Hiện Nay
  • Dịch Văn Bản Tiếng Anh Sang Tiếng Việt Chuẩn Nhất
  • Hãy Phiên Dịch Văn Bản Đăng Ký Của Mọi Người Snags Tiếng Anh
  • Bật Mí Các Phần Mềm Dịch Tiếng Anh Online Chính Xác Nhất
  • Thể Thức Văn Bản Của Đoàn Tncs Hồ Chí Minh

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài: Bố Cục Của Văn Bản Lớp 8
  • Thế Nào Là Văn Thuyết Minh? Văn Bản Thuyết Minh Cần Được Trình Bảy Chính Xác, Rõ Ràng, Chặt Chẽ Và
  • Bài Thơ Tôi Yêu Em
  • Tin Học 6 Bài Thực Hành 5: Văn Bản Đầu Tiên Của Em
  • Giáo Án Tin Lớp 6 Tiết 40+ 41: Thực Hành 5 Văn Bản Đầu Tiên Của Em
  • I- CÁC THÀNH PHẦN THỂ THỨC BẮT BUỘC 1- Tiêu đề

    Tiêu đề là thành phần thể thức xác định văn bản của Đoàn, tiêu đề trên văn bản của Đoàn là: “ĐOÀN TNCS HỒ CHÍ MINH”.

    Tiêu đề được trình bày góc trái, dòng đầu, trang đầu, bằng chữ in hoa, đứng, chân phương (ô số 1- mẫu 1).

    2- Tên cơ quan ban hành văn bản

    Văn bản từ cấp thành đến cơ sở ghi tên cơ quan ban hành văn bản như sau:

    2.1- Văn bản của Ban Chấp hành, Ban Thường vụ Thành Đoàn và Đoàn trực thuộc: ghi chung là: BAN CHẤP HÀNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH (ô số 2 – mẫu 1), thống nhất viết tắt là: BCH TP. HỒ CHÍ MINH, bằng chữ in hoa, đứng.

    Ví dụ: ĐOÀN TNCS HỒ CHÍ MINH

    2.2- Văn bản của Ban tham mưu giúp việc BCH Thành Đoàn và Đoàn trực thuộc Thành Đoàn.

    Ví dụ: Văn bản của Ban Tuyên giáo

    ĐOÀN TNCS HỒ CHÍ MINH

    BCH TP. HỒ CHÍ MINH

    BAN TUYÊN GIÁO

    Ví dụ: Văn bản liên ban Ban Tổ chức và Ban Tuyên giáo

    ĐOÀN TNCS HỒ CHÍ MINH

    BCH TP. HỒ CHÍ MINH

    BAN TỔ CHỨC – BAN TUYÊN GIÁO 2.4- Văn bản của cấp quận huyện Đoàn và tương đương, Đoàn cơ sở thuộc Thành Đoàn:

    * Quận huyện Đoàn và tương đương:

    ĐOÀN TNCS HỒ CHÍ MINH TP. HỒ CHÍ MINH

    BCH QUẬN PHÚ NHUẬN

    ĐOÀN TNCS HỒ CHÍ MINH TP. HỒ CHÍ MINH

    ĐOÀN TNCS HỒ CHÍ MINH TP. HỒ CHÍ MINH

    BCH TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

    * Đoàn cơ sở trực thuộc Thành Đoàn:

    ĐOÀN TNCS HỒ CHÍ MINH TP. HỒ CHÍ MINH

    BCH ĐOÀN CỤC HẢI QUAN THÀNH PHỐ

    ĐOÀN TNCS HỒ CHÍ MINH

    TP. HỒ CHÍ MINH – QUẬN 10

    BCH ĐOÀN PHƯỜNG 5

    ĐOÀN TNCS HỒ CHÍ MINH

    TP. HỒ CHÍ MINH – KHỐI DOANH NGHIỆP CÔNG NGHIỆP TW

    BCH ĐOÀN CÔNG TY DỆT THẮNG LỢI

    ĐOÀN TNCS HỒ CHÍ MINH

    TP. HỒ CHÍ MINH – QUẬN 3, PHƯỜNG 1

    CHI ĐOÀN KHU PHỐ 2

    CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

    Độc lập – Tự do – Hạnh phúc 3- Số và ký hiệu văn bản

    – Số văn bản là số thứ tự ghi liên tục từ số 01 cho mỗi loại văn bản của Đoàn được ban hành. Số văn bản viết bằng chữ số ả Rập (1,2,3…).

    + Đối với các văn bản nghị quyết, kết luận của Ban Chấp hành, Ban Thường vụ, các văn bản thực hiện cho cả một nhiệm kỳ Đại hội Đoàn thì số văn bản được tính từ ngày liền kề sau ngày bế mạc Đại hội Đoàn lần này đến hết ngày bế mạc Đại hội Đoàn kế tiếp.

    + Các văn bản còn lại của Đoàn, số văn bản sẽ được tính theo năm.

    + Văn bản của liên cơ quan ban hành, số văn bản được ghi theo cùng loại văn bản của một trong số các cơ quan tham gia ban hành văn bản.

    – Ký hiệu các loại văn bản: Báo cáo (BC), Thông báo (TB), Chương trình (CT), Chương trình hành động (CTHĐ), Tờ trình (TTr), Nghị quyết (NQ), Quyết định (QĐ)… Riêng công văn thì không viết ký hiệu văn bản.

    – Ký hiệu tên cơ quan ban hành văn bản: thống nhất ký hiệu tên cơ quan ban hành văn bản của tất cả các cơ sở Đoàn là “ĐTN”.

    – Ký hiệu văn bản gồm 2 nhóm chữ viết tắt có dấu gạch nối (-) giữa tên thể loại văn bản (trừ công văn) và tên cơ quan (hoặc liên cơ quan) ban hành văn bản, ký hiệu văn bản được viết bằng chữ in hoa, giữa số và ký hiệu có dấu gạch chéo (/), phía trên có 3 dấu sao (***) để phân cách với cơ quan ban hành văn bản.

    Đối với báo cáo của Ban Thường vụ Thành Đoàn

    ĐOÀN TNCS HỒ CHÍ MINH

    BCH TP. HỒ CHÍ MINH

    Số: 789 /BC-ĐTN

    Đối với công văn của Ban Thường vụ Thành Đoàn

    ĐOÀN TNCS HỒ CHÍ MINH

    BCH TP. HỒ CHÍ MINH

    Đối với văn bản của ban tham mưu giúp việc, số và ký hiệu (nếu có) được trình bày cân đối dưới tên cơ quan ban hành văn bản (ô số 3 – mẫu 1).

    ĐOÀN TNCS HỒ CHÍ MINH

    BCH TP. HỒ CHÍ MINH

    VĂN PHÒNG

    Đối với văn bản của Quận, huyện Đoàn và tương đương

    ĐOÀN TNCS HỒ CHÍ MINH TP. HỒ CHÍ MINH

    BCH QUẬN PHÚ NHUẬN

    ĐOÀN TNCS HỒ CHÍ MINH TP. HỒ CHÍ MINH

    BCH SỞ GIAO THÔNG VẬN TẢI

    Số: 456 /BC-ĐTN

    ĐOÀN TNCS HỒ CHÍ MINH TP. HỒ CHÍ MINH

    BCH TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

    Số: 123 /TB-ĐTN

    4- Địa điểm và ngày, tháng, năm ban hành văn bản 4.1- Địa điểm ban hành văn bản:

    – Văn bản do Ban Thường vụ Thành Đoàn ban hành: ghi địa điểm ban hành là “TP. Hồ Chí Minh”.

    – Văn bản do các quận, huyện Đoàn và Đoàn xã, phường, thị trấn ban hành: ghi địa điểm ban hành là tên riêng của quận, huyện, xã, phường, thị trấn.

    Địa điểm và ngày, tháng, năm ban hành văn bản được trình bày ở trang đầu, bên phải, giữa địa điểm và ngày, tháng, năm ban hành văn bản có dấu phẩy (ô số 4-mẫu 1).

    Ví dụ: TP. Hồ Chí Minh, ngày 06 tháng 7 năm 2009

    CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

    Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

    Ban Thường vụ Thành Đoàn thành phố Hồ Chí Minh liên tịch với Sở Giáo dục và Đào tạo thành phố Hồ Chí Minh và văn bản do Thành Đoàn lấy số, ban hành:

    5- Tên loại văn bản và trích yếu nội dung văn bản

    Tên loại văn bản được trình bày chính giữa bằng chữ in hoa đứng đậm (ô số 8 – mẫu 1). Trích yếu nội dung văn bản được trình bày dưới tên loại văn bản bằng chữ thường đứng, đậm (ô số 9 – mẫu 1).

    BÁO CÁO Công tác Đoàn và phong trào thanh thiếu nhi thành phố năm 2009

    Riêng công văn thì trích yếu nội dung được ghi dưới số và ký hiệu bằng chữ thường, nghiêng không đậm (ô số 5 – mẫu 1).

    “V/v giới thiệu gương công dân trẻ 6- Phần nội dung văn bản

    Phần nội dung văn bản là phần thể hiện toàn bộ nội dung cụ thể của văn bản. Nội dung văn bản phải phù hợp với thể loại của văn bản.

    Phần nội dung văn bản được trình bày dưới phần tên loại và trích yếu nội dung (ô số 11 – mẫu 1)

    7- Chữ ký, thể thức để ký và dấu cơ quan ban hành TM. ĐOÀN CHỦ TỊCH ĐẠI HỘI Nguyễn Văn A TM. BAN CHẤP HÀNH THÀNH ĐOÀN Nguyễn Văn B TM. BAN THƯỜNG VỤ THÀNH ĐOÀN

    PHÓ BÍ THƯ THƯỜNG TRỰC

    Nguyễn Văn C

    – Đối với một số loại văn bản (như thông báo, báo cáo tháng, quý, công văn hay bản sao), Ban Chấp hành, Ban Thường vụ có thể ủy quyền cho Chánh Văn phòng ký thừa lệnh, hoặc ủy quyền cho Phó Văn phòng thừa lệnh ký thay Chánh Văn phòng.

    TL. BAN THƯỜNG VỤ THÀNH ĐOÀN

    Trần Văn H TL. BAN THƯỜNG VỤ THÀNH ĐOÀN

    – Đối với các văn bản liên tịch, cơ quan nào chịu trách nhiệm lấy số, ban hành thì phần thể thức ký ban hành được đặt ở góc phải, các cơ quan cùng liên tịch thì đặt ở góc trái phía cuối văn bản.

    Ví dụ: Ban Thường vụ Thành Đoàn thành phố Hồ Chí Minh liên tịch với Sở Giáo dục và Đào tạo thành phố Hồ Chí Minh và văn bản do Thành Đoàn lấy số, ban hành:

    TM. SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TP TM. BTV THÀNH ĐOÀN Nguyễn Văn A Nguyễn Văn B

    – Đối với văn bản của các ban tham mưu giúp việc Ban Thường vụ, Ban Chấp hành sẽ do cấp trưởng ký trực tiếp hoặc ủy quyền cho cấp phó ký thay. Khi ký ghi rõ là: ký thay (viết tắt là “KT”)

    Ví dụ: CHÁNH VĂN PHÒNG THÀNH ĐOÀN

    Trần Văn H

    hoặc KT. CHÁNH VĂN PHÒNG THÀNH ĐOÀN

    – Xác nhận pháp nhân, thẩm quyền của cơ quan ban hành văn bản.

    – Tài liệu văn kiện của Đoàn cấp nào, đóng con dấu của cấp ấy. Dấu chỉ được đóng vào văn bản chính thức, đã có chữ ký của người có thẩm quyền.

    – Cấm đóng dấu khống chỉ trên giấy chưa có nội dung, chưa có chữ ký của người có thẩm quyền.

    – Dấu đóng trên văn bản phải đúng chiều, ngay ngắn, rõ ràng, trùm lên khoảng 1/3 đến 1/4 chữ ký ở phía bên trái. Mực dấu có màu đỏ tươi theo quy định của Bộ Nội vụ.

    Thể thức để ký, chức vụ người ký, chữ ký và dấu cơ quan ban hành văn bản được trình bày bên phải, dưới phần nội dung văn bản (các ô số 13, 14, 15 – mẫu 1).

    – Đối với các loại văn bản nơi nhận được trình bày tại góc trái dưới phần nội dung văn bản (ô số 12 – mẫu 1).

    – Đối với công văn thì nơi nhận được ghi trực tiếp sau các cụm từ ” và “Đồng kính gửi:…” (nếu có) trên phần nội dung văn bản (ô số 10 – mẫu 1) và còn được ghi như các loại văn bản khác (ô số 12 – mẫu 1).

    II- CÁC THÀNH PHẦN THỂ THỨC BỔ SUNG

    Ngoài các thành phần thể thức bắt buộc, tùy theo nội dung và tính chất từng văn bản cụ thể, người ký văn bản có thể quyết định bổ sung các thành phần sau đây:

    Dấu chỉ mức độ mật có viền khung hình chữ nhật và được đóng dấu phía dưới số và ký hiệu văn bản (ô số 7 – mẫu 1). Lưu ý: chỉ được đóng dấu, không đánh máy mức độ mật của văn bản.

    2- Dấu chỉ mức độ khẩn

    – Dấu chỉ mức độ khẩn có 3 mức: KHẨN, THƯỢNG KHẨNHỎA TỐC.

    – Dấu chỉ mức độ khẩn được trình bày ở dưới số và ký hiệu văn bản (ô số 7- mẫu 1).

    3- Chỉ dẫn về tài liệu hội nghị, dự thảo văn bản, đường dẫn lưu văn bản

    – Văn bản được sử dụng tại hội nghị do cấp bộ Đoàn triệu tập thì ghi chỉ dẫn “Tài liệu Hội nghị Ban Thường vụ Thành Đoàn lần thứ…” được trình bày ở dưới số và ký hiệu (ô số 6 – mẫu 1).

    – Đối với văn bản dự thảo nhiều lần thì phải ghi đúng lần dự thảo. Chỉ dẫn về dự thảo gồm tên cơ quan dự thảo và ” Dự thảo lần thứ…” được trình bày dưới số và ký hiệu (ô số 6 – mẫu 1).

    – Ký hiệu chỉ dẫn lưu văn bản, mã số văn bản được ghi tại lề trái chân trang (ô số 16 – mẫu 1).

    III- BẢN SAO VÀ CÁC THÀNH PHẦN THỂ THỨC BẢN SAO 1- Các loại bản sao

    Có 3 loại bản sao:

    2- Các hình thức sao 3- Thể thức sao và cách trình bày

    Để đảm bảo giá trị pháp lý và hiệu lực thi hành, các loại bản sao phải có đủ các thành phần thể thức sao và được trình bày phía đường phân cách với nội dung được sao (đường 17 – mẫu 2) như sau:

    – Tên cơ quan sao văn bản trình bày ở trên cùng, góc trái, dưới đường phân cách (ô số 18 – mẫu 2)

    – Số và ký hiệu bản sao: các bản sao được đánh số chung theo nhiệm kỳ, ký hiệu các loại bản sao được ghi là BS (bản sao). Số và ký hiệu bản sao trình bày dưới tên cơ quan sao (ô số 19 – mẫu 2).

    – Địa điểm, ngày, tháng, năm sao văn bản trình bày trên cùng, góc phải, dưới đường phân cách (ô số 20 – mẫu 2).

    – Chỉ dẫn loại bản sao: Tùy thuộc vào loại bản sao đề nghị: “Sao nguyên văn bản chính”, hoặc “Sao lục”, hoặc “Trích sao từ bản chính số….. ngày…..của …..”.

    – Chỉ dẫn loại bản sao được trình bày dưới địa điểm và ngày, tháng, năm sao (ô số 21 – mẫu 2).

    – Chữ ký, thể thức để ký bản sao và dấu cơ quan sao được trình bày dưới chỉ dẫn bản sao (ô số 22 – mẫu 2).

    – Nơi nhận bản sao nếu cần có thể ghi rõ mục đích sao gửi, như để thực hiện, phổ biến v.v…; nơi nhận bản sao được trình bày dưới số và ký hiệu sao (ô số 23 – mẫu 2).

    IV- YÊU CẦU KỸ THUẬT TRÌNH BÀY VĂN BẢN 1- Văn bản được đánh máy và in trên giấy trắng có kích thước 210 x 297mm (trên khổ giấy A4)

    Các loại văn bản như giấy giới thiệu, giấy biên nhận hồ sơ, phiếu chuyển có thể được trình bày trên giấy khổ A5 (148 x 210mm) hoặc trên giấy in sẵn.

    – Văn bản trình bày theo chiều dài của trang giấy khổ A4.

    – Trường hợp nội dung văn bản có các bảng, biểu nhưng không được làm bằng các phụ lục riêng thì văn bản có thể được trình bày theo chiều rộng của trang giấy.

    – Trang mặt sau (nếu in 2 mặt)

    Văn phòng Thành Đoàn đề nghị các Ban – Trung tâm Thành Đoàn, Ban Thường vụ các cơ sở Đoàn trực thuộc chỉ đạo triển khai thực hiện hướng dẫn này. Các văn bản hướng dẫn trước đây trái với Hướng dẫn này đều không có giá trị sử dụng.

    Trong quá trình tổ chức thực hiện, nếu có những điểm chưa phù hợp hoặc vướng mắc, đề nghị các đơn vị trao đổi với Văn phòng Thành Đoàn (bằng văn bản) để nghiên cứu sửa đổi và bổ sung.

    Nơi nhận:

    – Văn phòng TW Đoàn;

    – Các cơ sở Đoàn trực thuộc;

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khái Quát Giá Trị Nội Dung, Nghệ Thuật Bài Động Phong Nha
  • Soạn Bài: Động Phong Nha
  • Soạn Bài Động Phong Nha
  • Động Phong Nha: Nội Dung, Dàn Ý, Tóm Tắt, Bố Cục, Tác Giả
  • Soạn Bài Động Phong Nha (Trần Hoàng)
  • Bác Hồ Viết Di Chúc

    --- Bài mới hơn ---

  • Người Làm Chứng Di Chúc
  • Di Chúc Không Công Chứng, Chứng Thực Có Hợp Pháp Không?
  • Hướng Dẫn Cách Lập Di Chúc Bằng Văn Bản Để Có Hiệu Lực Pháp Luật
  • Hướng Dẫn Lập Di Chúc Nha Trang
  • 13 Phần Mềm Tiện Ích Cho Dân Văn Phòng Trên Iphone 2022
  • (Chinhphu.vn) – Bác Hồ, vị lãnh tụ thiên tài, anh hùng giải phóng dân tộc Việt Nam, nhà văn hóa kiệt xuất, đã cống hiến trọn đời cho độc lập, tự do của Tổ quốc, vì cuộc sống no ấm hạnh phúc của nhân dân. Người để lại cho đất nước, cho Đảng ta, nhân dân ta một văn kiện lịch sử vô giá, đó là bản Di chúc thiêng liêng, mà đến nay và mãi về sau, chúng ta luôn ghi nhớ, học tập và làm theo.

    Bác Hồ viết bản Di chúc – Ảnh tư liệu của Cục Văn thư và Lưu trữ Nhà nước

    Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh là tài sản vô giá của Đảng và nhân dân ta

    Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh được viết trong giai đoạn cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc ta diễn ra hết sức ác liệt nhưng đã đạt được những dấu mốc quan trọng; cách mạng dù còn khó khăn, song đang trên đà thắng lợi, đòi hỏi sự đoàn kết, chiến đấu bền bỉ của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân với niềm tin vững chắc vào thắng lợi cuối cùng.

    Theo đồng chí Vũ Kỳ, Thư ký của Bác Hồ, Bác bắt đầu viết những dòng đầu tiên của bản Di chúc để lại cho muôn đời sau lúc 9 giờ sáng thứ Hai, ngày 10/5/1965, đến 10 giờ, Bác viết xong phần mở đầu. Bác xếp tài liệu lại và chuyển sang làm các công việc thường ngày. Các ngày tiếp theo, ngày 11, 12, 13/5/1965, cũng vào giờ đó (từ 9 giờ đến 10 giờ), Bác viết tiếp các phần còn lại.

    Riêng ngày 14/5/1965, do buổi sáng có lịch đi thăm một hợp tác xã ở ngoại thành Hà Nội và dự một phiên họp của Bộ Chính trị, Bác chuyển viết Di chúc sang buổi chiều với thời gian gấp đôi, từ 14 giờ đến 16 giờ. Đúng 16 giờ, Bác đánh máy xong Bản Di chúc và cho vào phong bì.

    Đến 21 giờ hôm đó, Bác giao chiếc phong bì cho đồng chí Vũ Kỳ và dặn: “Chú cất giữ cẩn thận, vào dịp này sang năm nhớ đưa lại cho Bác”.

    Và cứ đến dịp sinh nhật Bác hằng năm, đồng chí Vũ Kỳ lại đặt bản Di chúc lên bàn làm việc của Bác; sau đó Bác bổ sung và giao lại cho đồng chí Vũ Kỳ. Bác đọc kỹ bản Di chúc xem xét, cân nhắc kỹ từng đoạn, từng câu, từng ý, từng lời và bổ sung thêm vào bản Di chúc tùy theo tình hình đất nước. Đặc biệt là qua tình hình chiến sự miền Nam, Bác lại viết thêm những phần cần thiết vào bản Di chúc.

    Năm 1966, Bác bổ sung thêm phần nói về tự phê bình và phê bình trong Đảng, trong đó Bác nhấn mạnh: “Phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau”. Năm 1967, Bác xem lại bản Di chúc, nhưng không sửa gì. Năm 1968, Bác viết thêm 6 trang, gồm một số đoạn về việc riêng và một số công việc cần làm sau khi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước thắng lợi.

    Năm 1969, Bác xem và viết lại toàn bộ phần mở đầu gồm một trang viết tay. Ngày 19/5/1969, Bác sửa lần cuối. Toàn văn Di chúc được công bố sau ngày Bác Hồ qua đời (ngày 2/9/1969).

    Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh là tài sản vô giá của Đảng và nhân dân ta, có giá trị lý luận và thực tiễn to lớn về nhiều mặt; là sự kết tinh của tinh hoa văn hóa dân tộc với tinh hoa văn hóa của nhân loại, là những chỉ dẫn quý báu, nguồn cổ vũ, động viên to lớn đối với toàn Đảng, toàn dân, toàn quân trong sự nghiệp kháng chiến kiến quốc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Di chúc là những lời căn dặn tâm huyết, toát lên khí phách, tinh thần lạc quan chiến thắng của một bậc “đại trí, đại nhân, đại dũng”, là sự kết tinh tư tưởng, đạo đức, phong cách, tâm hồn cao đẹp của vị lãnh tụ suốt đời phấn đấu hy sinh vì Tổ quốc, vì nhân dân và nhân loại.

    Bản Di chúc cũng là ánh sáng soi đường, là sức mạnh thôi thúc hành động cho cách mạng Việt Nam phát triển đi lên, cho đất nước ta phồn vinh, cho nhân dân được tự do, no ấm và hạnh phúc, không chỉ đối với nhân dân ta mà còn đối với các dân tộc đang đấu tranh cho tự do, độc lập, hòa bình, công lý, vì hạnh phúc của con người.

    Đảng và nhân dân luôn ở trong trái tim của Người

    Là người sáng lập, giáo dục và rèn luyện Đảng ta, Người đã dẫn dắt Đảng và dân tộc ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm căn dặn trong Di chúc: “Trước hết nói về Đảng”. Chỉ rõ “Đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng và của dân ta”, Người tâm huyết nhắc nhở các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ “cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình”. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng chỉ cho chúng ta, muốn làm được việc đó thì trong Đảng phải đoàn kết nhất trí, thực hành dân chủ, tự phê bình và phê bình, phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau.

    Đặc biệt, Người nhấn mạnh: “Đảng ta là một đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”. Trong hai câu văn ngắn gọn nhưng Người liên tiếp sử dụng hai từ “thật sự” và “thật” như một lời nhắn gửi mang tính quy luật, phổ biến, phải làm thường xuyên, liên tục, nếu không Đảng khó lòng mà giữ nổi vai trò cầm quyền của mình. Điều đó cho thấy sự nung nấu, suy tính của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong nhiều năm, chứa đựng chiều sâu của tư tưởng, tình cảm, chiều cao trí tuệ của Người.

    Để thực hiện đoàn kết, thống nhất trong Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu phải thực hiện các nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt của Đảng, làm cho Đảng ta thật sự trong sạch, vững mạnh. Người chỉ rõ: “Việc cần phải làm trước tiên là chỉnh đốn lại Đảng, làm cho mỗi đảng viên, mỗi đoàn viên, mỗi chi bộ đều ra sức làm tròn nhiệm vụ Đảng giao phó cho mình, toàn tâm toàn ý phục vụ nhân dân. Làm được như vậy, thì dù công việc to lớn mấy, khó khăn mấy chúng ta cũng nhất định thắng lợi”.

    Trong Di Chúc Bác Hồ cũng chỉ rõ: “Cuộc kháng chiến chống Mỹ có thể kéo dài mấy năm nữa…” và “Dù khó khăn gian khổ đến mấy, nhân dân ta nhất định sẽ hoàn toàn thắng lợi”. Sau khi chiến tranh kết thúc, Người căn dặn: “Công việc toàn đảng, toàn quân và toàn dân ta phải ra sức làm là mau chóng hàn gắn vết thương nghiêm trọng do đế quốc Mỹ gây ra trong cuộc chiến tranh xâm lược dã man”. Đó là công việc khó khăn, vô cùng phức tạp nên Người rất quan tâm căn dặn trong Di chúc.

    Đối với Đoàn viên thanh niên, trong Di chúc Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ vai trò của thanh niên trong sự nghiệp cách mạng, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, là đội hậu bị của Đảng, là người chủ tương lai của đất nước, do vậy Đảng phải chăm lo bồi dưỡng đạo đức cách mạng cho họ. Đó là thể hiện sự quan tâm sâu sắc của Đảng, Bác Hồ đối với việc bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau. Bác căn dặn và nhấn mạnh: “Đảng cần phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng” vừa “chuyên”.

    Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh: Bản đánh máy ngày 15/5/1969 có sự chứng kiến của Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành trung ương Đảng, Lê Duẩn và bản viết tay sửa chữa, bổ sung năm 1965 và năm 1969 – Ảnh tư liệu của Cục Văn thư và Lưu trữ Nhà nước

    Theo Bác, việc bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết”.

    Dân tộc ta đã trải qua nhiều cuộc chiến tranh chống giặc ngoại xâm bảo vệ nền độc lập dân tộc. Sau mỗi lần chiến thắng, ông cha ta lại có kế sách để bồi dưỡng sức dân, tăng cường lực lượng. Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kế thừa truyền thống lâu đời đó của dân tộc ta. Với tình thương bao la dành cho mọi tầng lớp nhân dân, Bác đặc biệt quan tâm và căn dặn: “Nhân dân lao động ta ở miền xuôi cũng như miền núi, đã bao đời chịu đựng gian khổ, bị chế độ phong kiến và thực dân áp bức bóc lột, lại kinh qua nhiều chiến tranh…

    Theo ý nguyện của Bác, Đảng cần phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hóa, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân.

    Lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về nhân dân chứng tỏ Người hiểu thấu đáo ngọn nguồn về nhân dân, về sức mạnh của nhân dân, Bác thực sự quan tâm lo lắng cho dân và về mối quan hệ giữa Đảng với Dân và Dân với Đảng. Trong tình thương bao la dành cho mọi tầng lớp nhân dân, Bác trăn trở nhiều đến nông dân – tầng lớp chịu nhiều vất vả làm ra của cải vật chất cho xã hội. Người nhấn mạnh những đóng góp to lớn của nông dân, vai trò của nông dân đối với sự nghiệp cách mạng của nước nhà: “Trong bao năm chống thực dân Pháp, tiếp đến chống đế quốc Mỹ, đồng bào ta, nhất là đồng bào nông dân đã luôn hết sức trung thành với Đảng và Chính phủ ta, ra sức góp của góp người, vui lòng chịu đựng mọi khó khăn gian khổ. Nay ta đã hoàn toàn thắng lợi, tôi có ý đề nghị miễn thuế nông nghiệp một năm cho các hợp tác xã sản xuất nông nghiệp để cho đồng bào hỉ hả, mát dạ, mát lòng, thêm nhiều phấn khởi, đẩy mạnh sản xuất”.

    Đối với con người, Bác căn dặn: “Đầu tiên là công việc đối với con người. Đối với những người đã dũng cảm hy sinh một phần xương máu của mình…, Đảng, Chính phủ và đồng bào phải tìm mọi cách làm cho họ có nơi ăn chốn ở yên ổn, đồng thời phải mở những lớp dạy nghề thích hợp với mỗi người để họ có thể dần dần “tự lực cách sinh”. Ngay đối với những nạn nhân của chế độ xã hội cũ, Người cũng nhắc nhở “Nhà nước phải dùng vừa giáo dục, vừa dùng pháp luật để cải tạo họ, giúp đỡ họ trở nên những người lao động lương thiện”.

    Bác đưa ra lời tiên đoán có tính chất khẳng định, như một tất yếu của lịch sử: “Cuộc kháng chiến chống Mỹ có thể kéo dài mấy năm nữa. Đồng bào ta có thể hy sinh nhiều của, nhiều người. Dù sao, chúng ta phải quyết tâm đánh giặc Mỹ đến thắng lợi hoàn toàn”. Trong Di chúc , Bác viết: “…Tôi mong rằng, Đảng ta sẽ ra sức hoạt động, góp phần đắc lực vào việc khôi phục lại khối đoàn kết giữa các đảng anh em trên nền tảng chủ nghĩa Mác-Lênin và chủ nghĩa quốc tế vô sản, có lý, có tình”.

    “Chỉ tiếc là tiếc rằng không được phục vụ lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa”

    Lời cuối cùng trong bản Di chúc có lẽ là tình cảm lắng đọng, gây xúc động mạnh nhất, trở thành đề tài phong phú cho văn học nghệ thuật về tấm lòng của Bác đối với nhân dân. “Để lại muôn vàn tình thân yêu” – cách nói nghe thân thuộc, tha thiết, cháy bỏng. Bác ra đi, không đem theo gì cho mình; tất cả, Bác để lại trọn vẹn cho đồng chí, đồng bào, cho các cháu thiếu niên và nhi đồng: Cuộc sống và tình yêu, lý tưởng và ước nguyện, ham muốn tột bậc đồng bào ta ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành… Bác lo cho đến khi từ biệt thế giới này, không có điều gì phải hối hận, “chỉ tiếc là tiếc rằng không được phục vụ lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa”. Bác “để lại muôn vàn tình thân yêu” cho toàn dân, toàn Đảng, cho toàn thể bộ đội, cho các cháu thanh niên và nhi đồng”.

    Từ ngày Bác Hồ đi xa đến nay, toàn Đảng, toàn dân ta đang ra sức và quyết tâm thực hiện Di chúc thiêng liêng của Bác, lấy nhiệm vụ xây dựng Đảng là then chốt, kinh tế là trọng tâm với phát triển văn hóa là nền tảng tinh thần xã hội. Cách mạng nước ta phải trải qua muôn vàn thử thách, dù thế giới biến đổi khôn lường, toàn Đảng và toàn dân ta nguyện sống chiến đấu, lao động và học tập theo gương Bác Hồ vĩ đại. Đưa miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội, đấu tranh giải phóng miền Nam thống nhất đất nước. Thực hiện đúng như lời thề mà đồng chí Lê Duẩn, Bí thư thứ nhất, tuyên đọc khi vĩnh biệt Bác Hồ, chúng ta quyết tâm thực hiện những điều Bác căn dặn trong Di chúc: “mang lá cờ bách chiến bách thắng của Hồ Chủ tịch tới đích cuối cùng”.

    50 năm thực hiện Di chúc Bác Hồ, Đảng ta và nhân dân ta vui mừng báo cáo với Bác về những thắng lợi và thành tựu đạt được. Song chúng ta cũng xin nhận với Bác rằng chúng ta còn nhiều thiếu sót, yếu kém chưa làm được nhiều điều Bác căn dặn. Trong việc xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước, thực hiện quyền làm chủ của nhân dân và khối đại đoàn kết toàn dân tộc, bên cạnh những thành tựu và ưu điểm đáng kể, chúng ta còn vấp phải không ít sai lầm và khuyết điểm. Sự suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức và lối sống, sự vi phạm các nguyên tắc về tổ chức và sinh hoạt, sự lạm dụng quyền lực, tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí trong một bộ phận cán bộ, đảng viên đã có những tác động tiêu cực đến việc nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, làm giảm sút lòng tin của nhân dân đối với Đảng, với chế độ. Cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng được tiến hành trong nhiều năm qua, đặc biệt là Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” được phát động từ sau Đại hội X đến nay, chính là để Đảng ta khắc phục yếu kém và khuyết điểm, khôi phục và phát huy những phẩm chất cao đẹp vốn có.

    Thực hiện Di chúc của Bác Hồ, cán bộ, đảng viên chúng ta càng luôn luôn nhớ lời Bác căn dặn, phải tu dưỡng đạo đức cách mạng, thật sự “cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư”. Đồng thời, phải có bản lĩnh chính trị vững vàng, lập trường tư tưởng kiên định, mãi mãi đi theo con đường Bác đã chọn, xây dựng Đảng ta thật sự trong sạch, vững mạnh, xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân. Thực hiện một cách tốt nhất lời Bác căn dặn lại trong Di chúc, đó là những chỉ dẫn hết sức quý báu đối với Đảng và nhân dân ta xứng đáng với những điều mong muốn cuối cùng của Bác, cũng là những dòng cuối cùng của Người viết trong Di chúc: “Điều mong muốn cuối cùng là toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”.

    Nguyễn Văn Công

    Giám đốc Khu Di tích Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch

    --- Bài cũ hơn ---

  • Di Chúc Của Chủ Tịch Hồ Chí Minh Mãi Mãi Sáng Soi
  • Di Chúc Của Chủ Tịch Hồ Chí Minh
  • Hướng Dẫn Bật Tính Năng Tự Động Dịch Thuật Website Trên Chrome
  • Biên Dịch Sang Tiếng Anh
  • Top 03 Phần Mềm Dịch Tiếng Anh Trên Điện Thoại Tốt Nhất
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100