Điều 10. Tên Loại Và Trích Yếu Nội Dung Của Văn Bản

Điều 10. Tên loại và trích yếu nội dung của văn bản

1. Thể thức

Tên loại văn bản là tên của từng loại văn bản do cơ quan, tổ chức ban hành. Khi ban hành văn bản đều phải ghi tên loại, trừ công văn.

Trích yếu nội dung của văn bản là một câu ngắn gọn hoặc một cụm từ phản ánh khái quát nội dung chủ yếu của văn bản.

2. Kỹ thuật trình bày

Tên loại và trích yếu nội dung của các loại văn bản có ghi tên loại được trình bày tại ô số 5a; tên loại văn bản (nghị quyết, quyết định, kế hoạch, báo cáo, tờ trình và các loại văn bản khác) được đặt canh giữa bằng chữ in hoa, cỡ chữ 14, kiểu chữ đứng, đậm; trích yếu nội dung văn bản được đặt canh giữa, ngay dưới tên loại văn bản, bằng chữ in thường, cỡ chữ 14, kiểu chữ đứng, đậm; bên dưới trích yếu có đường kẻ ngang, nét liền, có độ dài bằng từ 1/3 đến 1/2 độ dài của dòng chữ và đặt cân đối so với dòng chữ, ví dụ:

QUYẾT ĐỊNH Về việc điều động cán bộ

Trích yếu nội dung công văn được trình bày tại ô số 5b, sau chữ “V/v” bằng chữ in thường, cỡ chữ từ 12 đến 13, kiểu chữ đứng; được đặt canh giữa dưới số và ký hiệu văn bản, cách dòng 6pt với số và ký hiệu văn bản, ví dụ:

Số: 72/VTLTNN-NVĐP

V/v kế hoạch kiểm tra công tác

văn thư, lưu trữ năm 2009

Điều 11. Nội dung văn bản

1. Thể thức

a) Nội dung văn bản là thành phần chủ yếu của văn bản.

Nội dung văn bản phải bảo đảm những yêu cầu cơ bản sau:

– Phù hợp với hình thức văn bản được sử dụng;

– Phù hợp với đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng; phù hợp với quy định của pháp luật;

– Được trình bày ngắn gọn, rõ ràng, chính xác;

– Sử dụng ngôn ngữ viết, cách diễn đạt đơn giản, dễ hiểu;

– Dùng từ ngữ tiếng Việt Nam phổ thông (không dùng từ ngữ địa phương và từ ngữ nước ngoài nếu không thực sự cần thiết). Đối với thuật ngữ chuyên môn cần xác định rõ nội dung thì phải được giải thích trong văn bản;

– Chỉ được viết tắt những từ, cụm từ thông dụng, những từ thuộc ngôn ngữ tiếng Việt dễ hiểu. Đối với những từ, cụm từ được sử dụng nhiều lần trong văn bản thì có thể viết tắt, nhưng các chữ viết tắt lần đầu của từ, cụm từ phải được đặt trong dấu ngoặc đơn ngay sau từ, cụm từ đó;

– Viết hoa trong văn bản hành chính được thực hiện theo Phụ lục VI – Quy định viết hoa trong văn bản hành chính.

b) Bố cục của văn bản

Tùy theo thể loại và nội dung, văn bản có thể có phần căn cứ pháp lý để ban hành, phần mở đầu và có thể được bố cục theo phần, chương, mục, điều, khoản, điểm hoặc được phân chia thành các phần, mục từ lớn đến nhỏ theo một trình tự nhất định, cụ thể:

– Nghị quyết (cá biệt): theo điều, khoản, điểm hoặc theo khoản, điểm;

– Quyết định (cá biệt): theo điều, khoản, điểm; các quy chế (quy định) ban hành kèm theo quyết định: theo chương, mục, điều, khoản, điểm;

– Chỉ thị (cá biệt): theo khoản, điểm;

– Các hình thức văn bản hành chính khác: theo phần, mục, khoản, điểm hoặc theo khoản, điểm.

Đối với các hình thức văn bản được bố cục theo phần, chương, mục, điều thì phần, chương, mục, điều phải có tiêu đề.

2. Kỹ thuật trình bày

Nội dung văn bản được trình bày tại ô số 6.

Phần nội dung (bản văn) được trình bày bằng chữ in thường (được dàn đều cả hai lề), kiểu chữ đứng; cỡ chữ từ 13 đến 14 (phần lời văn trong một văn bản phải dùng cùng một cỡ chữ); khi xuống dòng, chữ đầu dòng phải phải lùi vào từ 1cm đến 1,27cm (1 default tab); khoảng cách giữa các đoạn văn (paragraph) đặt tối thiểu là 6pt; khoảng cách giữa các dòng hay cách dòng (line spacing) chọn tối thiểu từ cách dòng đơn (single line spacing) hoặc từ 15pt (exactly line spacing) trở lên; khoảng cách tối đa giữa các dòng là 1,5 dòng (1,5 lines).

Đối với những văn bản có phần căn cứ pháp lý để ban hành thì sau mỗi căn cứ phải xuống dòng, cuối dòng có dấu “chấm phẩy”, riêng căn cứ cuối cùng kết thúc bằng dấu “phẩy”.

Trường hợp nội dung văn bản được bố cục theo phần, chương, mục, điều, khoản, điểm thì trình bày như sau:

– Phần, chương: Từ “Phần”, “Chương” và số thứ tự của phần, chương được trình bày trên một dòng riêng, canh giữa, bằng chữ in thường, cỡ chữ từ 13 đến 14, kiểu chữ đứng, đậm. Số thứ tự của phần, chương dùng chữ số La Mã. Tiêu đề (tên) của phần, chương được trình bày ngay dưới, canh giữa, bằng chữ in hoa, cỡ chữ từ 13 đến 14, kiểu chữ đứng, đậm;

– Mục: Từ “Mục” và số thứ tự của mục được trình bày trên một dòng riêng, canh giữa, bằng chữ in thường, cỡ chữ từ 13 đến 14, kiểu chữ đứng, đậm. Số thứ tự của mục dùng chữ số Ả – rập. Tiêu đề của mục được trình bày ngay dưới, canh giữa, bằng chữ in hoa, cỡ chữ từ 12 đến 13, kiểu chữ đứng, đậm;

– Điều: Từ “Điều”, số thứ tự và tiêu đề của điều được trình bày bằng chữ in thường, cách lề trái 1 default tab, số thứ tự của điều dùng chữ số Ả-rập, sau số thứ tự có dấu chấm; cỡ chữ bằng cỡ chữ của phần lời văn (13-14), kiểu chữ đứng, đậm;

– Khoản: Số thứ tự các khoản trong mỗi mục dùng chữ số Ả-rập, sau số thứ tự có dấu chấm, cỡ chữ số bằng cỡ chữ của phần lời văn (13-14), kiểu chữ đứng; nếu khoản có tiêu đề, số thứ tự và tiêu đề của khoản được trình bày trên một dòng riêng, bằng chữ in thường, cỡ chữ bằng cỡ chữ của phần lời văn (13-14), kiểu chữ đứng;

– Điểm: Thứ tự các điểm trong mỗi khoản dùng các chữ cái tiếng Việt theo thứ tự abc, sau có dấu đóng ngoặc đơn, bằng chữ in thường, cỡ chữ bằng cỡ chữ của phần lời văn (13-14), kiểu chữ đứng.

Trường hợp nội dung văn bản được phân chia thành các phần, mục, khoản, điểm thì trình bày như sau:

– Phần (nếu có): Từ “Phần” và số thứ tự của phần được trình bày trên một dòng riêng, canh giữa, bằng chữ in thường, cỡ chữ từ 13 đến 14, kiểu chữ đứng, đậm; số thứ tự của phần dùng chữ số La Mã. Tiêu đề của phần được trình bày ngay dưới, canh giữa, bằng chữ in hoa, cỡ chữ từ 13 đến 14, kiểu chữ đứng, đậm;

– Mục: Số thứ tự các mục dùng chữ số La Mã, sau có dấu chấm và được trình bày cách lề trái 1 default tab; tiêu đề của mục được trình bày cùng một hàng với số thứ tự, bằng chữ in hoa, cỡ chữ từ 13 đến 14, kiểu chữ đứng, đậm;

– Khoản: Số thứ tự các khoản trong mỗi mục dùng chữ số Ả-rập, sau số thứ tự có dấu chấm, cỡ chữ số bằng cỡ chữ của phần lời văn (13-14), kiểu chữ đứng; nếu khoản có tiêu đề, số thứ tự và tiêu đề của khoản được trình bày trên một dòng riêng, bằng chữ in thường, cỡ chữ bằng cỡ chữ của phần lời văn (13-14), kiểu chữ đứng, đậm;

– Điểm trình bày như trường hợp nội dung văn bản được bố cục theo phần, chương, mục, điều, khoản, điểm.

Điều 12. Quyền hạn, chức vụ, họ tên và chữ ký của người có thẩm quyền

1. Thể thức

a) Việc ghi quyền hạn của người ký được thực hiện như sau:

– Trường hợp ký thay mặt tập thể thì phải ghi chữ viết tắt “TM.” (thay mặt) vào trước tên tập thể lãnh đạo hoặc tên cơ quan, tổ chức, ví dụ:

– Trường hợp ký thay người đứng đầu cơ quan, tổ chức thì phải ghi chữ viết tắt “KT.” (ký thay) vào trước chức vụ của người đứng đầu, ví dụ:

Trường hợp cấp phó được giao phụ trách thì thực hiện như cấp phó ký thay cấp trưởng;

– Trường hợp ký thừa lệnh thì phải ghi chữ viết tắt “TL.” (thừa lệnh) vào trước chức vụ của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, ví dụ:

– Trường hợp ký thừa ủy quyền thì phải ghi chữ viết tắt “TUQ.” (thừa ủy quyền) vào trước chức vụ của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, ví dụ:

TUQ. GIÁM ĐỐC TRƯỞNG PHÒNG TỔ CHỨC CÁN BỘ

b) Chức vụ của người ký

Chức vụ ghi trên văn bản là chức vụ lãnh đạo chính thức của người ký văn bản trong cơ quan, tổ chức; chỉ ghi chức vụ như Bộ trưởng (Bộ trưởng, Chủ nhiệm), Thứ trưởng, Chủ tịch, Phó Chủ tịch, Giám đốc, Phó Giám đốc, Q. Giám đốc (Quyền Giám đốc) v.v…, không ghi những chức vụ mà Nhà nước không quy định như: cấp phó thường trực, cấp phó phụ trách, v.v…; không ghi lại tên cơ quan, tổ chức, trừ các văn bản liên tịch, văn bản do hai hay nhiều cơ quan, tổ chức ban hành; việc ký thừa lệnh, ký thừa ủy quyền do các cơ quan, tổ chức quy định cụ thể bằng văn bản.

Chức danh ghi trên văn bản do các tổ chức tư vấn (không thuộc cơ cấu tổ chức của cơ quan được quy định tại quyết định thành lập; quyết định quy định chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức của cơ quan) ban hành là chức danh lãnh đạo của người ký văn bản trong ban hoặc hội đồng. Đối với những ban, hội đồng không được phép sử dụng con dấu của cơ quan, tổ chức thì chỉ ghi chức danh của người ký văn bản trong ban hoặc hội đồng, không được ghi chức vụ trong cơ quan, tổ chức.

Chức vụ (Chức danh) của người ký văn bản do hội đồng hoặc ban chỉ đạo của Nhà nước ban hành mà lãnh đạo Bộ Xây dựng làm Trưởng ban hoặc Phó Trưởng ban, Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch Hội đồng được ghi như sau, ví dụ:

Chức vụ (Chức danh) của người ký văn bản do hội đồng hoặc ban của Bộ Xây dựng ban hành mà Thứ trưởng Bộ Xây dựng làm Chủ tịch Hội đồng hoặc Trưởng ban, lãnh đạo các Cục, Vụ thuộc Bộ Xây dựng làm Phó Chủ tịch Hội đồng hoặc Phó Trưởng ban được ghi như sau, ví dụ:

c) Họ tên bao gồm họ, tên đệm (nếu có) và tên của người ký văn bản

Đối với văn bản hành chính, trước họ tên của người ký, không ghi học hàm, học vị và các danh hiệu danh dự khác. Đối với văn bản giao dịch; văn bản của các tổ chức sự nghiệp giáo dục, y tế, khoa học hoặc lực lượng vũ trang được ghi thêm học hàm, học vị, quân hàm.

2. Kỹ thuật trình bày

Quyền hạn, chức vụ của người ký được trình bày tại ô số 7a; chức vụ khác của người ký được trình bày tại ô số 7b; các chữ viết tắt quyền hạn như: “TM.”, “KT.”, “TL.”, “TUQ.” hoặc quyền hạn và chức vụ của người ký được trình bày chữ in hoa, cỡ chữ từ 13 đến 14, kiểu chữ đứng, đậm.

Họ tên của người ký văn bản được trình bày tại ô số 7b; bằng chữ in thường, cỡ chữ từ 13 đến 14, kiểu chữ đứng, đậm, được đặt canh giữa so với quyền hạn, chức vụ của người ký.

Chữ ký của người có thẩm quyền được trình bày tại ô số 7c.

2. Dấu của cơ quan, tổ chức được trình bày tại ô số 8; dấu giáp lai được đóng vào khoảng giữa mép phải của văn bản hoặc phụ lục văn bản, trùm lên một phần các tờ giấy; mỗi dấu đóng tối đa 05 trang văn bản.

Điều 14. Nơi nhận

1. Thể thức

Nơi nhận xác định những cơ quan, tổ chức, đơn vị và cá nhân nhận văn bản và có trách nhiệm như để xem xét, giải quyết; để thi hành; để kiểm tra, giám sát; để báo cáo; để trao đổi công việc; để biết và để lưu.

Nơi nhận phải được xác định cụ thể trong văn bản. Căn cứ quy định của pháp luật; căn cứ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức và quan hệ công tác; căn cứ yêu cầu giải quyết công việc, đơn vị hoặc cá nhân soạn thảo hoặc chủ trì soạn thảo có trách nhiệm đề xuất những cơ quan, tổ chức, đơn vị và cá nhân nhận văn bản trình người ký văn bản quyết định.

Đối với văn bản chỉ gửi cho một số đối tượng cụ thể thì phải ghi tên từng cơ quan, tổ chức, cá nhân nhận văn bản; đối với văn bản được gửi cho một hoặc một số nhóm đối tượng nhất định thì nơi nhận được ghi chung, ví dụ:

– Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ;

– Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương;

Đối với những văn bản có ghi tên loại, nơi nhận bao gồm từ “Nơi nhận” và phần liệt kê các cơ quan, tổ chức, đơn vị và cá nhân nhận văn bản.

Đối với công văn hành chính, nơi nhận bao gồm hai phần:

– Phần thứ nhất bao gồm từ “Kính gửi”, sau đó là tên các cơ quan, tổ chức hoặc đơn vị, cá nhân trực tiếp giải quyết công việc;

2. Kỹ thuật trình bày

Nơi nhận được trình bày tại ô số 9a và 9b.

Phần nơi nhận tại ô số 9a được trình bày như sau:

– Từ “Kính gửi” và tên các cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân nhận văn bản được trình bày bằng chữ in thường, cỡ chữ từ 13 đến 14, kiểu chữ đứng;

– Sau từ “Kính gửi” có dấu hai chấm; nếu công văn gửi cho một cơ quan, tổ chức hoặc một cá nhân thì từ “Kính gửi” và tên cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân được trình bày trên cùng một dòng; trường hợp công văn gửi cho hai cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân trở lên thì xuống dòng; tên mỗi cơ quan, tổ chức, cá nhân hoặc mỗi nhóm cơ quan, tổ chức, cá nhân được trình bày trên một dòng riêng, đầu dòng có gạch đầu dòng, cuối dòng có dấu chấm phẩy, cuối dòng cuối cùng có dấu chấm; các gạch đầu dòng được trình bày thẳng hàng với nhau dưới dấu hai chấm.

Phần nơi nhận tại ô số 9b (áp dụng chung đối với công văn hành chính và các loại văn bản khác) được trình bày như sau:

– Từ “Nơi nhận” được trình bày trên một dòng riêng (ngang hàng với dòng chữ “quyền hạn, chức vụ của người ký” và sát lề trái), sau có dấu hai chấm, bằng chữ in thường, cỡ chữ 12, kiểu chữ nghiêng, đậm;

– Phần liệt kê các cơ quan, tổ chức, đơn vị và cá nhân nhận văn bản được trình bày bằng chữ in thường, cỡ chữ 11, kiểu chữ đứng; tên mỗi cơ quan, tổ chức, đơn vị và cá nhân hoặc mỗi nhóm cơ quan, tổ chức, đơn vị nhận văn bản được trình bày trên một dòng riêng, đầu dòng có gạch đầu dòng sát lề trái, cuối dòng có dấu chấm phẩu; riêng dòng cuối cùng bao gồm chữ “Lưu” sau có dấu hai chấm, tiếp theo là chữ viết tắt “VT” (Văn thư cơ quan, tổ chức), dấu phẩy, chữ viết tắt tên đơn vị (hoặc bộ phận) soạn thảo văn bản và số lượng bản lưu (chỉ trong trường hợp cần thiết), cuối cùng là dấu chấm.

Điều 15. Các thành phần khác

1. Thể thức

a) Dấu chỉ mức độ mật: Việc xác định và đóng dấu độ mật (tuyệt mật, tối mật hoặc mật), dấu thu hồi đối với văn bản có nội dung bí mật nhà nước được thực hiện theo quy định tại Điều 5, 6, 7, 8 của Pháp lệnh Bảo vệ bí mật nhà nước năm 2000.

b) Dấu chỉ mức độ khẩn

Tùy theo mức độ cần được chuyển phát nhanh, văn bản được xác định độ khẩn theo bốn mức sau: khẩn, thượng khẩn, hỏa tốc, hỏa tốc hẹn giờ; khi soạn thảo văn bản có tính chất khẩn, đơn vị hoặc cá nhân soạn thảo văn bản đề xuất mức độ khẩn trình người ký văn bản quyết định.

c) Đối với những văn bản có phạm vi, đối tượng được phổ biến, sử dụng hạn chế, sử dụng các chỉ dẫn về phạm vi lưu hành như “TRẢ LẠI SAU KHI HỌP (HỘI NGHỊ)”, “XEM XONG TRẢ LẠI”, “LƯU HÀNH NỘI BỘ”.

d) Đối với công văn, ngoài các thành phần được quy định có thể bổ sung địa chỉ cơ quan, tổ chức; địa chỉ thư điện tử (E-Mail); số điện thoại, số Telex, số Fax; địa chỉ trang thông tin điện tử (Website).

đ) Đối với những văn bản cần được quản lý chặt chẽ về số lượng bản phát hành phải có ký hiệu người đánh máy và số lượng bản phát hành.

e) Trường hợp văn bản có phụ lục kèm theo thì trong văn bản phải có chỉ dẫn về phụ lục đó. Phụ lục văn bản phải có tiêu đề; văn bản có từ hai phụ lục trở lên thì các phụ lục phải được đánh số thứ tự bằng chữ số La Mã.

g) Văn bản có hai trang trở lên thì phải đánh số trang bằng chữ số Ả-rập.

2. Kỹ thuật trình bày

a) Dấu chỉ mức độ mật

Con dấu các độ mật (TUYỆT MẬT, TỐI MẬT hoặc MẬT) và dấu thu hồi được khắc sẵn theo quy định tại Mục 2 Thông tư số 12/2002/TT-BCA ngày 13 tháng 9 năm 2002 hướng dẫn thực hiện Nghị định số 33/2002/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh Bảo vệ bí mật nhà nước năm 2000. Dấu độ mật được đóng vào ô số 10a, dấu thu hồi được đóng vào ô số 11.

b) Dấu chỉ mức độ khẩn

Con dấu các độ khẩn được khắc sẵn hình chữ nhật có kích thước 30mm x 8mm, 40mm x 8mm và 20mm x 8mm, trên đó các từ “KHẨN”, “THƯỢNG KHẨN”, “HỎA TỐC” và “HỎA TỐC HẸN GIỜ” trình bày bằng chữ in hoa, phông chữ Times New Roman cỡ chữ từ 13 đến 14, kiểu chữ đứng, đậm và đặt cân đối trong khung hình chữ nhật viền đơn. Dấu độ khẩn được đóng vào ô số 10b. Mực để đóng dấu độ khẩn dùng màu đỏ tươi.

c) Các chỉ dẫn về phạm vi lưu hành

Các chỉ dẫn về phạm vi lưu hành trình bày tại ô số 11; các cụm từ “TRẢ LẠI SAU KHI HỌP (HỘI NGHỊ)”, “XEM XONG TRẢ LẠI”, “LƯU HÀNH NỘI BỘ” trình bày cân đối trong một khung hình chữ nhật viền đơn, bằng chữ in hoa, phông chữ Times New Roman, cỡ chữ 13 đến 14, kiểu chữ đứng, đậm.

d) Địa chỉ cơ quan, tổ chức; địa chỉ thư điện tử (E-Mail); số điện thoại, số Telex, số Fax; địa chỉ Trang thông tin điện tử (Website).

Các thành phần này được trình bày tại ô số 14 trang thứ nhất của văn bản, bằng chữ in thường, cỡ chữ từ 11 đến 12, kiểu chữ đứng, dưới một đường kẻ nét liền kéo dài hết chiều ngang của vùng trình bày văn bản.

đ) Ký hiệu người đánh máy và số lượng bản phát hành

Được trình bày tại ô số 13; ký hiệu bằng chữ in hoa, số lượng bản bằng chữ số Ả-rập, cỡ chữ 11, kiểu chữ đứng.

e) Phụ lục văn bản

Phụ lục văn bản được trình bày trên các trang riêng; từ “Phụ lục” và số thứ tự của phụ lục được trình bày thành một dòng riêng, canh giữa, bằng chữ in thường, cỡ chữ 14, kiểu chữ đứng, đậm; tên phụ lục được trình bày canh giữa, bằng chữ in hoa, cỡ chữ từ 13 đến 14, kiểu chữ đứng, đậm.

g) Số trang văn bản

Số trang được trình bày tại góc phải ở cuối trang giấy (phần footer) bằng chữ số Ả-rập, cỡ chữ 13-14, kiểu chữ đứng, không đánh số trang thứ nhất. Số trang của phụ lục được đánh số riêng theo từng phụ lục.

Mẫu chữ và chi tiết trình bày các thành phần thể thức văn bản được minh họa tại Phụ lục IV kèm theo Thông tư này.

Mẫu trình bày một số loại văn bản hành chính được minh họa tại Phụ lục V kèm theo Thông tư này.

THỂ THỨC VÀ KỸ THUẬT TRÌNH BÀY BẢN SAO

Điều 16. Thể thức bản sao

Thể thức bản sao bao gồm:

1. Hình thức sao

“SAO Y BẢN CHÍNH” hoặc “TRÍCH SAO” hoặc “SAO LỤC”.

2. Tên cơ quan, tổ chức sao văn bản

3. Số, ký hiệu bản sao bao gồm số thứ tự đăng ký được đánh chung cho các loại bản sao do cơ quan, tổ chức thực hiện và chữ viết tắt tên loại bản sao theo Bảng chữ viết tắt tên loại văn bản và bản sao kèm theo Thông tư này (Phụ lục I). Số được ghi bằng chữ số Ả-rập, bắt đầu từ số 01 vào ngày đầu năm và kết thúc vào ngày 31 tháng 12 hàng năm.

4. Các thành phần thể thức khác của bản sao văn bản gồm địa danh và ngày, tháng, năm sao; quyền hạn, chức vụ, họ tên và chữ ký của người có thẩm quyền; dấu của cơ quan, tổ chức sao văn bản và nơi nhận được thực hiện theo hướng dẫn tại Điều 9, 12, 13 và 14 của Thông tư này.

Điều 17. Kỹ thuật trình bày

1. Vị trí trình bày các thành phần thể thức bản sao (trên trang giấy khổ A4)

Thực hiện theo sơ đồ bố trí các thành phần thể thức bản sao kèm theo Thông tư này (Phụ lục III).

Các thành phần thể thức bản sao được trình bày trên cùng một tờ giấy, ngay sau phần cuối cùng của văn bản cần sao được photocopy, dưới một đường kẻ nét liền, kéo dài hết chiều ngang của vùng trình bày văn bản.

2. Kỹ thuật trình bày bản sao

a) Cụm từ “SAO Y BẢN CHÍNH”, “TRÍCH SAO” hoặc “SAO LỤC” được trình bày tại ô số 1 (Phụ lục III) bằng chữ in hoa, cỡ chữ từ 13 đến 14, kiểu chữ đứng, đậm.

b) Tên cơ quan, tổ chức sao văn bản (tại ô số 2); số, ký hiệu bản sao (tại ô số 3); địa danh và ngày, tháng, năm sao (tại ô số 4); chức vụ, họ tên và chữ ký của người có thẩm quyền (tại ô số 5a, 5b và 5c); dấu của cơ quan, tổ chức sao văn bản (tại ô số 6); nơi nhận (tại ô số 7) được trình bày theo hướng dẫn trình bày các thành phần thể thức tại Phụ lục III.

Mẫu chữ và chi tiết trình bày các thành phần thể thức bản sao được minh họa tại Phụ lục IV; mẫu trình bày bản sao được minh họa tại Phụ lục V kèm theo Thông tư này.

TỔ CHỨC THỰC HIỆN

Điều 18. Điều khoản thi hành

Thông tư này có hiệu lực sau 45 ngày kể từ ngày ký.

Những quy định về thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản hành chính và bản sao văn bản được quy định tại Thông tư liên tịch số 55/2005/TTLT-BNV-VPCP ngày 06 tháng 5 năm 2005 của Bộ Nội vụ và Văn phòng Chính phủ hướng dẫn thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản hành chính trái với Thông tư này bị bãi bỏ.

Điều 19. Tổ chức thực hiện

Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Tập đoàn kinh tế nhà nước, Tổng công ty nhà nước (91) chịu trách nhiệm tổ chức triển khai thực hiện Thông tư này.

Các Bộ, ngành căn cứ quy định thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản tại Thông tư này để quy định thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản chuyên ngành cho phù hợp.

Nơi nhận:– Thủ tướng, các Phó Thủ tướng Chính phủ;– Văn phòng Trung ương Đảng;– Văn phòng Quốc hội;– Văn phòng Chủ tịch nước;– Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ;– HĐND, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc TW;– Viện kiểm sát nhân dân tối cao;– Tòa án nhân dân tối cao;– Kiểm toán Nhà nước;– Cơ quan Trung ương của các đoàn thể;– Các Tập đoàn kinh tế, Tổng công ty nhà nước (91);– Cục Văn thư và Lưu trữ nhà nước (10b);– Cục Kiểm tra văn bản QPPL (Bộ Tư pháp);– Công báo;– BNV: Bộ trưởng, các Thứ trưởng, các đơn vị thuộc và trực thuộc Bộ;– VPCP: Bộ trưởng CN, các Phó CN;– Website BNV;– Lưu: VT, PC (BNV). 320b

Поделитесь с Вашими друзьями:

Giới Thiệu Những Nội Dung Cơ Bản Của Luật Phá Sản Dưới Dạng Hỏi, Đáp.

Giới thiệu những nội dung cơ bản của Luật Phá sản dưới dạng hỏi, đáp. Luật Phá sản được Quốc hội khóa XII kỳ họp thứ tư thông qua ngày 15/6/2004. Luật Phá sản năm 2004 quy định điều kiện và việc nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản; xác định nghĩa vụ về tài sản và các biện pháp bảo toàn tài sản trong thủ tục phá sản; điều kiện, thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh, thủ tục thanh lý tài sản và tuyên bố phá sản; quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của người nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản của doanh nghiệp, hợp tác xã bị yêu cầu tuyên bố phá sản và của người tham gia giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản. Chuyên mục Hỗ trợ pháp lý xin giới thiệu những nội dung cơ bản của Luật Phá sản dưới dạng hỏi, đáp.

Hỏi: Luật Phá sản quy định về thẩm quyền của Tòa án nhân dân các cấp trong tiến hành thủ tục phá sản như thế nào?

Trả lời: Thẩm quyền của Tòa án nhân dân các cấp trong tiến hành thủ tục phá sản được quy định như sau:

– Toà án nhân dân cấp huyện tiến hành thủ tục phá sản đối với hợp tác xã đã đăng ký kinh doanh tại cơ quan đăng ký kinh doanh cấp huyện.

– Toà án nhân tỉnh cấp tỉnh tiến hành thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã đã đăng ký kinh doanh tại cơ quan đăng ký kinh doanh cấp tỉnh.

Trong trường hợp cần thiết Toà án nhân dân cấp tỉnh có quyền lấy lên để tiến hành thủ tục phá sản đối với hợp tác xã thuộc thẩm quyền của Toà án nhân dân cấp huyện.

– Toà án nhân dân cấp tỉnh nơi đặt trụ sở chính của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam có thẩm quyền tiến hành thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đó.

Hỏi: Quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản của chủ nợ được quy định như thế nào?

Trả lời: Khi nhận thấy doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản thì các chủ nợ không có bảo đảm hoặc có bảo đảm một phần đều có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã đó. Đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản phải có các nội dung chính sau đây:

– Ngày, tháng, năm làm đơn;

– Tên, địa chỉ của người làm đơn;

– Tên, địa chỉ của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản;

– Các khoản nợ không có bảo đảm hoặc có bảo đảm một phần đến hạn mà không được doanh nghiệp, hợp tác xã thanh toán;

– Quá trình đòi nợ;

– Căn cứ của việc yêu cầu mở thủ tục phá sản.

* Đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản được gửi cho Toà án có thẩm quyền

Hỏi: Quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản của người lao động?

Trả lời: Trong trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã không trả được lương, các khoản nợ khác cho người lao động và người lao động nhận thấy doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản, người lao động cử người đại diện hoặc thông qua đại diện công đoàn nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã đó. Đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản phải được gửi cho Toà án có thẩm quyền. Sau khi nộp đơn, đại diện cho người lao động hoặc đại diện công đoàn được coi là chủ nợ.

Hỏi: Nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản?

Trả lời: Khi nhận thấy doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản thì chủ doanh nghiệp hoặc đại diện hợp pháp của doanh nghiệp, hợp tác xã có nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã đó. Đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản được gửi cho Tòa án có thẩm quyền. Khi nộp đơn cho Tòa án phải nộp kèm theo các giấy tờ, tài liệu sau:

– Báo cáo về các biện pháp mà doanh nghiệp, hợp tác xã đã thực hiện, nhưng vẫn không khắc phục được tình trạng mất khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn;

– Bảng kê chi tiết tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã và địa điểm nơi có tài sản nhìn thấy được;

– Danh sách các chủ nợ của doanh nghiệp, hợp tác xã trong đó ghi rõ tên, địa chỉ của các chủ nợ; ngân hàng mà chủ nợ có tài khoản; các khoản nợ đến hạn có bảo đảm và không có bảo đảm; các khoản nợ chưa đến hạn có bảo đảm và không có bảo đảm;

– Danh sách những người mắc nợ của doanh nghiệp, hợp tác xã trong đó ghi rõ tên, địa chỉ của họ; ngân hàng mà họ có tài khoản; các khoản nợ đến hạn có bảo đảm và không có bảo đảm; các khoản nợ chưa đến hạn có bảo đảm và không có bảo đảm;

– Danh sách ghi rõ tên, địa chỉ của các thành viên, nếu doanh nghiệp mắc nợ là một công ty có các thành viên liên đới chịu trách nhiệm về những khoản nợ của doanh nghiệp;

– Những tài liệu khác mà Toà án yêu cầu.

* Trong thời hạn ba tháng, kể từ khi nhận thấy doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản, nếu chủ doanh nghiệp hoặc đại diện hợp pháp của doanh nghiệp, hợp tác xã không nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản thì phải chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật.

Hỏi: Nghĩa vụ, trách nhiệm của người nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản được quy định như thế nào?

Trả lời: Người nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản có nghĩa vụ cung cấp đầy đủ, kịp thời các tài liệu do pháp luật quy định và theo yêu cầu của Toà án. Người nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản do không khách quan gây ảnh hưởng xấu đến danh dự, uy tín, hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã hoặc có sự gian dối trong việc yêu cầu mở thủ tục phá sản thì tuỳ theo tính chất, mức độ mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.

Hỏi: Xác định nghĩa vụ về tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản được quy định như thế nào?

Trả lời: Xác định nghĩa vụ về tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản được xác định bằng:

– Các yêu cầu đòi doanh nghiệp, hợp tác xã thực hiện nghĩa vụ về tài sản được xác lập trước khi Toà án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản mà nghĩa vụ này không có bảo đảm;

– Các yêu cầu đòi doanh nghiệp, hợp tác xã thực hiện nghĩa vụ về tài sản có bảo đảm được xác lập trước khi Toà án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, nhưng quyền ưu tiên thanh toán bị hủy bỏ.

Hỏi: Việc xử lý các khoản nợ chưa đến hạn và các khoản nợ được bảo đảm bằng tài sản thế chấp hoặc cầm cố được quy định như thế nào?

Trả lời: Trường hợp Thẩm phán ra quyết định mở thủ tục thanh lý đối với doanh nghiệp, hợp tác xã thì các khoản nợ chưa đến hạn vào thời điểm mở thủ tục thanh lý được xử lý như các khoản nợ đến hạn, nhưng không được tính lãi đối với thời gian chưa đến hạn. Trường hợp Thẩm phán ra quyết định mở thủ tục thanh lý đối với doanh nghiệp, hợp tác xã thì các khoản nợ được bảo đảm bằng tài sản thế chấp hoặc cầm cố được xác lập trước khi Toà án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản được ưu tiên thanh toán bằng tài sản đó; nếu giá trị tài sản thế chấp hoặc cầm cố không đủ thanh toán số nợ thì phần nợ còn lại sẽ được thanh toán trong quá trình thanh lý tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã; nếu giá trị của tài sản thế chấp hoặc cầm cố lớn hơn số nợ thì phần chênh lệch được nhập vào giá trị tài sản còn lại của doanh nghiệp, hợp tác xã.

Hỏi: Thứ tự phân chia tài sản trong mở thủ tục thanh lý đối với doanh nghiệp, hợp tác xã được quy định như thế nào?

Trả lời: Trường hợp Thẩm phán ra quyết định mở thủ tục thanh lý đối với doanh nghiệp, hợp tác xã thì việc phân chia giá trị tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã theo thứ tự sau đây:

– Phí phá sản;

– Các khoản nợ lương, trợ cấp thôi việc, bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật và các quyền lợi khác theo thoả ước lao động tập thể và hợp đồng lao động đã ký kết;

– Các khoản nợ không có bảo đảm phải trả cho các chủ nợ trong danh sách chủ nợ theo nguyên tắc nếu giá trị tài sản đủ để thanh toán các khoản nợ thì mỗi chủ nợ đều được thanh toán đủ số nợ của mình; nếu giá trị tài sản không đủ để thanh toán các khoản nợ thì mỗi chủ nợ chỉ được thanh toán một phần khoản nợ của mình theo tỷ lệ tương ứng.

* Trường hợp giá trị tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã sau khi đã thanh toán đủ các khoản theo thứ tự nêu trên mà vẫn còn, thì phần còn lại này thuộc về:

– Xã viên hợp tác xã;

– Chủ doanh nghiệp tư nhân;

– Các thành viên của công ty; các cổ đông của công ty cổ phần;

– Chủ sở hữu doanh nghiệp nhà nước.

* Trường hợp Thẩm phán ra quyết định mở thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh đối với doanh nghiệp, hợp tác xã thì việc thanh toán cũng được thực hiện theo thứ tự nêu trên, trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác.

Hỏi: Xác định giá trị của nghĩa vụ không phải là tiền được quy định như thế nào?

Trả lời: Trường hợp đối tượng nghĩa vụ không phải là tiền thì theo yêu cầu của người có quyền hoặc của doanh nghiệp, hợp tác xã, Toà án xác định giá trị của nghĩa vụ đó vào thời điểm ra quyết định mở thủ tục phá sản để đưa vào nghĩa vụ về tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã.

Hỏi: Nghĩa vụ về tài sản trong trường hợp nghĩa vụ liên đới hoặc bảo lãnh được quy định như thế nào?

Trả lời: Trường hợp nhiều doanh nghiệp, hợp tác xã có nghĩa vụ liên đới về một khoản nợ mà một hoặc tất cả các doanh nghiệp, hợp tác xã đó lâm vào tình trạng phá sản thì chủ nợ có quyền đòi bất cứ doanh nghiệp, hợp tác xã nào trong số các doanh nghiệp, hợp tác xã đó thực hiện việc trả nợ cho mình theo quy định của pháp luật.

– Trường hợp người bảo lãnh lâm vào tình trạng phá sản thì người được bảo lãnh phải thực hiện nghĩa vụ về tài sản đối với người nhận bảo lãnh.

– Trường hợp người được bảo lãnh hoặc cả người bảo lãnh và người được bảo lãnh đều lâm vào tình trạng phá sản thì người bảo lãnh phải thực hiện nghĩa vụ về tài sản đối với người nhận bảo lãnh.

Hỏi: Khi Tòa án ra quyết định mở thủ tục thanh lý, tài sản thuê hoặc mượn của doanh nghiệp, hợp tác xã bị sẽ được xử lý như thế nào?

Trả lời: Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày Toà án ra quyết định mở thủ tục thanh lý, chủ sở hữu tài sản cho doanh nghiệp, hợp tác xã bị áp dụng thủ tục thanh lý thuê hoặc mượn tài sản phải xuất trình giấy tờ chứng minh quyền sở hữu, hợp đồng cho thuê hoặc cho mượn với Tổ trưởng Tổ quản lý, thanh lý tài sản để nhận lại tài sản của mình. Trong trường hợp có tranh chấp thì yêu cầu Toà án giải quyết.

– Trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã bị áp dụng thủ tục thanh lý đã trả trước tiền thuê nhưng chưa hết thời hạn thuê thì chủ sở hữu chỉ được nhận lại tài sản sau khi đã thanh toán lại số tiền thuê còn thừa do chưa hết thời hạn để Tổ quản lý, thanh lý tài sản nhập vào khối tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã đó.

– Trường hợp tài sản thuộc quyền đòi lại đã bị doanh nghiệp, hợp tác xã bị áp dụng thủ tục thanh lý chuyển nhượng cho người khác thì chủ sở hữu có quyền yêu cầu bồi thường đối với tài sản đó như khoản nợ có bảo đảm.

Hỏi: Những tài sản nào cấm đòi lại trong mở thủ tục phá sản?

Trả lời: Cá nhân, tổ chức đã giao tài sản cho doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản trước khi Toà án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đều không được đòi lại nếu việc giao tài sản đó nhằm bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của mình đối với doanh nghiệp, hợp tác xã.

Hỏi: Doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản, thì các giao dịch nào bị coi là vô hiệu?

Trả lời: Các giao dịch sau đây của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản được thực hiện trong khoảng thời gian ba tháng trước ngày Toà án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản bị coi là vô hiệu:

– Tặng cho động sản và bất động sản cho người khác;

– Thanh toán hợp đồng song vụ trong đó phần nghĩa vụ của doanh nghiệp, hợp tác xã rõ ràng là lớn hơn phần nghĩa vụ của bên kia;

– Thanh toán các khoản nợ chưa đến hạn;

– Thực hiện việc thế chấp, cầm cố tài sản đối với các khoản nợ;

– Các giao dịch khác với mục đích tẩu tán tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã.

Khi các giao dịch bị tuyên bố vô hiệu thì những tài sản thu hồi được phải nhập vào khối tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã.

Hỏi: Ai có quyền yêu cầu Tòa án ra quyết định đình chỉ thực hiện hợp đồng?

Trả lời: Trong quá trình tiến hành thủ tục phá sản nếu xét thấy việc đình chỉ thực hiện hợp đồng đang có hiệu lực và đang được thực hiện hoặc chưa được thực hiện sẽ có lợi hơn cho doanh nghiệp, hợp tác xã thì hợp đồng đó bị đình chỉ thực hiện. Chủ nợ, doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản, Tổ trưởng Tổ quản lý, thanh lý tài sản có quyền yêu cầu Toà án ra quyết định đình chỉ thực hiện hợp đồng.

Hỏi: Thanh toán, bồi thường thiệt hại khi hợp đồng bị đình chỉ thực hiện được quy định như thế nào?

Trả lời: Tài sản mà doanh nghiệp, hợp tác xã bị lâm vào tình trạng phá sản nhận được từ hợp đồng vẫn còn tồn tại trong khối tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã đó thì bên kia của hợp đồng có quyền đòi lại; nếu tài sản đó không còn thì bên kia của hợp đồng có quyền như một chủ nợ không có bảo đảm. Trường hợp, hợp đồng bị đình chỉ thực hiện thì bên kia của hợp đồng có quyền như một chủ nợ không có bảo đảm đối với khoản thiệt hại do việc đình chỉ thực hiện hợp đồng gây ra.

Hỏi: Chủ nợ và doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản được thực hiện việc bù trừ nghĩa vụ đối với những giao dịch được xác lập trước khi có quyết định mở thủ tục phá sản theo các nguyên tắc nào?

Trả lời: Chủ nợ và doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản được thực hiện việc bù trừ nghĩa vụ đối với những giao dịch được xác lập trước khi có quyết định mở thủ tục phá sản theo các nguyên tắc:

– Trường hợp hai bên có nghĩa vụ với nhau về tài sản cùng loại thì khi đến hạn không phải thực hiện nghĩa vụ đối với nhau và nghĩa vụ được xem là chấm dứt, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác;

– Trường hợp giá trị tài sản hoặc công việc không tương đương với nhau thì các bên thanh toán cho nhau phần giá trị chênh lệch;

– Những vật định giá thành tiền được bù trừ nghĩa vụ trả tiền.

Hỏi: Những tài sản nào của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản?

Trả lời: Tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản bao gồm:

– Tài sản và quyền về tài sản mà doanh nghiệp, hợp tác xã có tại thời điểm Toà án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản;

– Các khoản lợi nhuận, các tài sản và các quyền về tài sản mà doanh nghiệp, hợp tác xã sẽ có do việc thực hiện các giao dịch được xác lập trước khi Toà án thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản;

– Tài sản là vật bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của doanh nghiệp, hợp tác xã. Trường hợp thanh toán tài sản là vật bảo đảm được trả cho các chủ nợ có bảo đảm, nếu giá trị của vật bảo đảm vượt quá khoản nợ có bảo đảm phải thanh toán thì phần vượt quá đó là tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã;

– Giá trị quyền sử dụng đất của doanh nghiệp, hợp tác xã được xác định theo quy định của pháp luật về đất đai.

Hỏi: Việc kiểm kê tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản được quy định như thế nào?

Trả lời: Trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày nhận được quyết định mở thủ tục phá sản, doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản phải tiến hành kiểm kê toàn bộ tài sản theo bảng kê chi tiết đã nộp cho Toà án và xác định giá trị các tài sản đó; Nếu cần thời gian dài hơn, phải có văn bản đề nghị Thẩm phán gia hạn, nhưng không quá hai lần, mỗi lần không quá ba mươi ngày.

– Bảng kiểm kê tài sản đã được xác định giá trị phải gửi ngay cho Toà án tiến hành thủ tục phá sản.

– Trong trường hợp xét thấy việc kiểm kê, xác định giá trị tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã không chính xác thì Tổ quản lý, thanh lý tài sản tổ chức kiểm kê, xác định lại giá trị một phần hoặc toàn bộ tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã. Giá trị tài sản được xác định theo giá thị trường tại thời điểm kiểm kê.

Hỏi: Thời hạn gửi giấy đòi nợ được quy định như thế nào?

Trả lời: Trong thời hạn 60 ngày, kể từ ngày cuối cùng đăng báo về quyết định của Toà án mở thủ tục phá sản, các chủ nợ phải gửi giấy đòi nợ cho Toà án, trong đó nêu cụ thể các khoản nợ, số nợ đến hạn và chưa đến hạn, số nợ có bảo đảm và không có bảo đảm mà doanh nghiệp, hợp tác xã phải trả. Kèm theo giấy đòi nợ là các tài liệu chứng minh về các khoản nợ đó. Hết thời hạn này các chủ nợ không gửi giấy đòi nợ đến Toà án thì được coi là từ bỏ quyền đòi nợ. Trong trường hợp có sự kiện bất khả kháng hoặc có trở ngại khách quan thì thời gian có sự kiện bất khả kháng hoặc có trở ngại khách quan không tính vào thời hạn sáu mươi ngày.

Hỏi: Về lập danh sách chủ nợ được quy định như thế nào?

Trả lời: Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày hết hạn gửi giấy đòi nợ, Tổ quản lý, thanh lý tài sản phải lập xong danh sách chủ nợ và số nợ. Trong danh sách này phải ghi rõ số nợ của mỗi chủ nợ, trong đó phân định rõ các khoản nợ có bảo đảm, nợ không có bảo đảm, nợ đến hạn, nợ chưa đến hạn. Danh sách chủ nợ phải được niêm yết công khai tại trụ sở Toà án và trụ sở chính của doanh nghiệp, hợp tác xã trong thời hạn mười ngày, kể từ ngày niêm yết. Trong thời hạn này, các chủ nợ và doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản có quyền khiếu nại với Toà án về danh sách chủ nợ. Trong trường hợp có sự kiện bất khả kháng hoặc có trở ngại khách quan thì thời gian có sự kiện bất khả kháng hoặc có trở ngại khách quan không tính vào thời hạn mười ngày. Trong thời hạn ba ngày, kể từ ngày nhận được khiếu nại, Toà án phải xem xét, giải quyết khiếu nại; nếu thấy khiếu nại có căn cứ thì sửa đổi, bổ sung vào danh sách chủ nợ.

Hỏi: Danh sách người mắc nợ được quy định như thế nào?

Trả lời: Tổ quản lý, thanh lý tài sản phải lập danh sách những người mắc nợ doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản. Danh sách này phải ghi rõ số nợ của mỗi người mắc nợ, trong đó phân định rõ các khoản nợ có bảo đảm, nợ không có bảo đảm, nợ đến hạn, nợ chưa đến hạn.

– Danh sách người mắc nợ phải được niêm yết công khai tại trụ sở Toà án và trụ sở chính của doanh nghiệp, hợp tác xã trong thời hạn mười ngày, kể từ ngày niêm yết. Trong thời hạn này, người mắc nợ và doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản có quyền khiếu nại với Toà án về danh sách người mắc nợ.

– Trong thời hạn ba ngày, kể từ ngày nhận được khiếu nại, Toà án phải xem xét, giải quyết khiếu nại; nếu thấy khiếu nại có căn cứ thì sửa đổi, bổ sung vào danh sách người mắc nợ.

Hỏi: Trong trường hợp nào áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời?

Trả lời: Trong trường hợp cần thiết theo đề nghị của Tổ quản lý, thanh lý tài sản, Thẩm phán phụ trách tiến hành thủ tục phá sản ra quyết định áp dụng một hoặc một số biện pháp khẩn cấp tạm thời sau đây để bảo toàn tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản:

– Cho bán những hàng hoá dễ bị hư hỏng, hàng hoá sắp hết thời hạn sử dụng, hàng hoá không bán đúng thời điểm sẽ khó có khả năng tiêu thụ;

– Kê biên, niêm phong tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã;

– Phong toả tài khoản của doanh nghiệp, hợp tác xã tại ngân hàng;

Hỏi: Khiếu nại quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời được quy định như thế nào?

Trả lời: Trong thời hạn ba ngày, kể từ ngày nhận được quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của Toà án, người bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời có quyền khiếu nại với Chánh án Toà án. Trong thời hạn ba ngày, kể từ ngày nhận được đơn khiếu nại đối với quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, Chánh án Toà án phải ra một trong các quyết định sau đây:

– Giữ nguyên quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời;

– Huỷ một phần hoặc toàn bộ quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời.

Hỏi: Luật phá sản quy định đình chỉ thi hành án dân sự hoặc giải quyết vụ án như thế nào?

Hỏi: Giải quyết vụ án bị đình chỉ trong thủ tục phá sản được quy định như thế nào?

Trả lời: Ngay sau khi nhận được hồ sơ vụ án do Toà án ra quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án chuyển đến, Toà án đang tiến hành thủ tục phá sản phải xem xét, quyết định nghĩa vụ tài sản mà doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản phải thực hiện hoặc nghĩa vụ tài sản mà bên đương sự phải thực hiện đối với doanh nghiệp, hợp tác xã. Trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản phải thực hiện nghĩa vụ về tài sản thì người được doanh nghiệp, hợp tác xã thực hiện nghĩa vụ về tài sản có quyền yêu cầu được thanh toán trong khối tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã như một chủ nợ không có bảo đảm. Trường hợp bên đương sự phải thực hiện nghĩa vụ về tài sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản thì phải thanh toán cho doanh nghiệp, hợp tác xã giá trị tương ứng với nghĩa vụ tài sản đó.

Hỏi: Nghĩa vụ của Ngân hàng nơi doanh nghiệp, hợp tác xã có tài khoản khi Tòa án áp dụng thủ tục thanh lý?

Trả lời: Kể từ ngày nhận được quyết định của Toà án áp dụng thủ tục thanh lý đối với doanh nghiệp, hợp tác xã, nghiêm cấm ngân hàng nơi doanh nghiệp, hợp tác xã bị áp dụng thủ tục thanh lý có tài khoản thực hiện các hành vi sau đây:

– Thanh toán các khoản nợ của doanh nghiệp, hợp tác xã, trừ việc thanh toán được Thẩm phán phụ trách tiến hành thủ tục phá sản đồng ý bằng văn bản;

– Thực hiện bất kỳ hành vi nào nhằm bù trừ hoặc thanh toán các khoản doanh nghiệp, hợp tác xã vay của ngân hàng.

Hỏi: Nghĩa vụ của nhân viên và người lao động khi nhận được quyết định mở thủ tục phá sản?

Trả lời: Ngay sau khi nhận được quyết định mở thủ tục phá sản, doanh nghiệp, hợp tác xã phải thông báo công khai cho tất cả nhân viên và người lao động của mình biết. Khi được thông báo, tất cả nhân viên và người lao động phải có nghĩa vụ bảo vệ tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã, không được thực hiện bất kỳ hành vi nào nhằm che giấu, tẩu tán hoặc chuyển nhượng tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã./.

PHÒNG KIỂM TRA VĂN BẢN

So Sánh Nội Dung Các File Văn Bản Trực Tuyến

CompareMyDocs đặc biệt cần thiết cho những người làm công tác biên tập thường gặp phải tình huống không mong đợi: nhận thêm file văn bản chỉnh sửa nội dung bài viết của cộng tác viên chỉ một thời gian sau khi nhận file đầu tiên mà mình đã xử lý.

Để khai thác phiên bản Beta của CompareMyDocs, bạn truy cập vào địa chỉ http://secure2.textflow.com/comparemydocs . Trong trang web xuất hiện, bạn bấm nút Choose file ở ô đầu tiên và tìm chọn file văn bản thứ nhất (hỗ trợ định dạng doc, docx, rtf). Bấm tiếp vào nút Choose file ở ô thứ hai và tìm chọn file văn bản thứ hai sẽ so sánh nội dung với file thứ nhất.

Cửa sổ so sánh văn bản

Tương tự, bạn có thể chọn thêm file văn bản thứ ba, thứ tư, thứ năm, thứ sáu, thứ bảy cần so sánh nội dung. Ở đây người viết chỉ so sánh nội dung hai file văn bản với nhau.

Xong bấm nút Compare phía dưới để dịch vụ bắt đầu xử lý.

Lần lượt chọn những file văn bản cần so sánh.

Cửa sổ so sánh văn bản.

Trong cửa sổ so sánh nội dung hai văn bản hiện ra sau đó, những đoạn khác nhau giữa văn bản thứ hai với văn bản thứ nhất sẽ được bôi xanh.

Sửa nhanh một đoạn của file thứ nhất theo file thứ hai

Sửa nhanh một đoạn của file thứ nhất theo file thứ hai.

Nếu muốn sửa nhanh một đoạn của file thứ nhất theo file thứ hai, bạn chỉ việc rê chuột vào hình bôi xanh tương ứng rồi nhấp vào biểu tượng (hoặc nhấp thẳng vào hình bôi xanh có kích thước nhỏ) để dịch vụ thực hiện việc kết hợp.

Nút Undo phía trên cho bạn khôi phục thao tác vừa thực hiện trước đó, còn nút Redo thì có chức năng ngược lại.

Sau cùng, bấm nút Save phía trên và chọn thư mục lưu file văn bản vừa sửa lại hoàn chỉnh (tên file mặc định là textflow – tên của công ty bảo trợ cho CompareMyDocs).

Lưu ý: do phiên bản Beta của CompareMyDocs hiện chưa hỗ trợ so sánh và hiển thị hình ảnh nên bạn cần chèn lại hình vào file văn bản vừa lưu.

Giới Thiệu Nội Dung Luật Biên Giới Quốc Gia Và Các Văn Bản Liên Quan

Trang chủ

Biên giới biển

Văn bản

Lượt xem: 1405

ĐỀ CƯƠNG

Thực hiện kế hoạch của Trung ương, Thường trực UBMTTQ, Ban Chấp hành hội Cựu chiến binh và Bộ chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Nam Định đã xây dựng kế hoạch số 671/KH-MTTQ-CCB-BCHBP ngày13/10/2011 triển khai cuộc thi tìm hiểu pháp luật về Biên giới Quốc gia trên địa bàn tỉnh Nam Định.

            Để hỗ trợ cho cuộc thi tìm hiểu pháp luật về Biên giới Quốc gia (BGQG). Bộ chỉ huy BĐBP tỉnh giới thiệu tóm tắt một số nội dung cơ bản của Luật BGQG và các văn bản lên quan đến BGQG để CBCS và các tầng lớp nhân nhân nghiên cứu tham khảo làm tư liệu tham gia dự thi:

I. LUẬT BIÊN GIỚI QUỐC GIA

1.Biên giới quốc gia (BGQG) là giới hạn lãnh thổ chủ quyền của một quốc gia. Biên giới quốc gia được đánh dấu bằng hệ thống mốc quốc giới, toạ độ trên đất liền hay trên mặt nước và mặt phẳng thẳng đứng để xác định giới hạn phạm vi chủ quyền của một quốc gia đối với lãnh thổ trên đất liền, lãnh thổ trên biển, trên không và dưới lòng đất của mình. Là nơi phân chia chủ quyền lãnh thổ của một quốc gia với các quốc gia khác hoặc với các vùng biển.

2. Luật biên giới quốc gia: được quốc hội  khoá 11, kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 17/6/3003, có hiệu lực từ ngày 1/1/2004, bao gồm 6 chương, 41 điều, khi nghiên cứu về Luật BGQG cần chú ý:

Chương I: Gồm 14 điều, Quy dịnh về BGQG, xác định BGQG, chính sách xây dựng biên giới, khu vực biên giới; trách nhiệm của Nhà nước,công dân, lực lượng nồng cốt chuyên trách trong xây dựng, quản lý, bảo vệ biên giới, khu vực biên giới, cụ thể:

Điều 5: Quy định để hiểu thế nào là biên giới biên giới quốc gia trên đất liền, trên biển, trong lòng đất, trên không.

Điều 6: Xác định khu vực biên giới nứớc Cộng hoà XHCN Việt Nam.

– Khu vực biên giới trên đất liền, gồm: xã, phường, thi trấn có một phần địa giới trùng hợp với biên giới quốc gia trên đất liền.

– Khu vực biên giới trên biển được tính từ biên giới quốc gia trên biển vào hết địa giới hành chính xã, phường, thị trấn giáp biển, đảo,quần đảo.

– Khu vực biên giới trên không gồm: phần không gian dọc theo biên giới quốc gia có chiều rộng 10 km tính từ biên giới quốc gia trở vào.

Chương II. Gồm 10 điều, quy định về chế độ pháp lý về BGQG và khu vực biên giới, như: Quy định về xuất nhập cảnh, quá cảnh, nhập khẩu qua biên giới, quy định người, phương tiện qua lại biên giới, hoạt động và cư trú ở khu vực biên giới, một số quy định cụ thể về tầu thuyền, tầu bay… hoạt động ở khu vực biên giới và thẩm quyền cũng như xử lý các tình huống trong khu vực biên giới.

Chương III: Gồm 10 điều, quy định trách nhiệm của nhà nước, các cơ quan nhà nứớc, tổ chức XH, Bộ quốc phòng, bộ công an, cơ quan ngang bộ,  BĐBP, UBND và của công dân trong xây dựng, quản lý, bảo vệ biên giới, chế độ chính sách trong tham gia bảo vệ biên giới, trong đó:

Điều 28: Quy định nền biên phòng và thế trận biên phòng:

-Nhà nước xây dựng nền biên phòng toàn dân và thế trân biên phòng toàn dân vững mạnh để quản lý,bảo vệ biên giới quốc gia.

– Ngày 3/3 hàng năm là “Ngày biên phòng toàn dân”.

Điều 33: Quy định chế độ chính sách của Nhà nước đối với người, phương tiện, tài sản của tổ chức, cá nhân được huy động làm nhiệm vụ quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia, trong đó nêu rõ:

– Nhà nước có chính sách chế độ ưu đãi đối với người trực tiếp và người được huy động làm nhiệm vụ quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia.

– Người được cơ quan có thẩm quyền huy động tham gia bảo vệ biên giới quốc gia mà hy sinh, bị thương, bị tổn hại về sức khoẻ thì được hưởng chính sách, chế độ như đối với dân quân tự vệ tham gia chiến đấu và phục vụ chiến đấu.

– Tổ chức, cá nhân có phương tiện, tài sản được cơ quan có thẩm quyền huy động trong trường hợp cần thiết để tham gia bảo vệ biên giới quốc gia bị thiệt hai thì được bồi thường theo quy định của pháp luật.

Chương IV: Gồm 03 điều, quy định trách nhiệm quản lý nhà nước về BGQG, như trách nhịêm của nhà nước, chính phủ, các bộ, cơ quan ngang bộ, UBND…

Chương V: Gồm 02 điều, quy định về khen thưởng và xử lý vi phạm trong quản lý bảo vệ BGQG.

II. NGHỊ ĐỊNH 161/2003/NĐ-CP CỦA CHÍNH PHỦ VỀ QUY CHẾ KHU VỰC BIÊN GIỚI BIỂN.

Nghị định 161/2003/NĐ-CP của chính phủ được Chính phủ nước Cộng hoà XHCN Việt Nam ban hành ngày 18/12/2003, quy định hoạt động của người, tàu thuyền của Việt Nam, nước ngoài trong khu vực biên giới nhằm quản lý bảo vệ BGQG trên biển, duy trì an ninh, TTATXH trong khu vực biên giới biển. Đây là văn bản dưới luật để thực hiện Luật BGQG trên biển, Nghị định gồm 5 chương 37 điều, trong đó:

Chương I: Gồm 09 điều, nói về những quy định chung

Điều 1: Quy định đối tượng, phạm vi đìêu chỉnh của Nghị Định

Điều 2: Khu vực biên giới biển được tính từ BGQG trên biển vào hết địa giới hành chính các xã, phường, thị trấn giáp biển và đảo, quần đảo. Danh sách các xã, phường, thị trấn giáp biển và các xã thuộc các đảo được Chính phủ quyết định công nhận (trong đó Nam Định có 18 xã, thị trấn là các xã, thị trấn thuộc khu vực biên giới biển).

Biên giới Quốc gia trên biển được hoạch định và đánh dấu bằng các toạ độ trên hải đồ là danh giới phía ngoài lãnh hải của đất liền, lãnh hải cdủa của đảo, lãnh hải của quần đảo của Việt Nam được xác định theo công ước của Liên hợp quốc về luật biển năm 1982 và các điều ước quốc tế giữa Cộng hoà XHCN Việt NAm và các quốc gia hữu quan.

Điều 4, điều 5: Quy định về người, tầu thuyền của Việt Nam và Nuớc ngoài hoạt động trong khu vực biên giới biển.

Điều 6: Trong khu vực biển giới biển xác lập vùng cấm, phạm vi vùng cấm, khu vực hạn chế hoạt động.

Chương II: Gồm 03 điều, quy định đối với người, tầu thuyền của Việt Nam hoạt động trong khu vực biên giới biển nước Cộng hoà XHCN Việt Nam.

Điều 10: Người, tầu thuyền của Việt Nam hoạt động trong khu vực biên giới biển nước Cộng hoà XHCN Việt Nam phải có đầy đủ giấy tờ sau:

1- Đối với người:

– Giấy tờ tuỳ thân do cơ quan có thẩm quyền cấp (CMND hoặc giấy tờ do công an xã, phường, thị trấn nơi cư trú cấp);

– Chứng chỉ chuyên môn của thuyền viên, sổ thuyền viên theo quy định của pháp luật;

– Giấy phép sử dụng vũ khí (nếu có);

2- Đối với tầu thuyền:

– Giấy chững nhận đăng ký tàu thuyền;

– Giấy chứng nhận về an toàn kỹ thuật theo quy định;

– Biển đăng ký theo quy định;

– Sổ danh bạ thuyền viên;

– Giấy phép sử dụng tần số và thiết bị phát sóng vô tuyến điện;

Điều 11, điều 12: quy định việc điễn tập quân sự, TKCN, thăm dó dầu khí, nghiên cứu khoa học…

Chương III: Quy định đối với người, tầu thuyền của nước ngoài hoạt động trong khu vực biên giới biển nước Cộng hoà XHCN Việt Nam

 Điều 13: Người, tầu thuyền của nước ngoài hoạt động trong khu vực biên giới biển nước Cộng hoà XHCN Việt Nam phải có đầy đủ giấy tờ sau:

– Đối với người:

+ Hộ chiếu hợp lệ hoặc giấy tờ có giá trị tương đương thay đổi hộ chiếu.

+ Các giấy tờ khác theo quy định của pháp luật Việt Nam;

– Đối với tầu thuyền:

+ Giấy chứng nhận đăng ký tầu thuyền;

+ Giấy chứng nhận về an toàn kỹ thuật theo quy định;

+ Danh sách thuyền viên, nhân viên phục vụ và hành khách trên tàu;

+ Giấy phép sử dụng tần số và thiết bị phát sóng vô tuyến điện;

Điều 14: Quy định về người nước ngoài thường trú, tạm trú ở Việt Nam khi đến xã, phường thị trấn giáp biển  hoặc ra vào các đảo, quần đảo (trừ khu du lịch, dịch vụ, khu kinh tế cửa khẩu có quy chế riêng) phải có giấy phép của công an từ cấp tỉnh trở lên cấp và chịu sự kiểm tra kiểm soát của cơ quan có thẩm quyền Việt Nam.

Từ điều 15 đến điều 21: Những quy định đối với tầu thuyền nước ngoài hoạt động trong khu vực biên giới biển, như quy định về treo cờ, quốc kỳ, thực hiện các biện pháp đảm bảo an toàn, quy định về nghiên cứu, khai thác và tình huống xảy ra sự cố, tai nạn trên biển…

Chương IV: Gồm 13 điều, những quy định về quản lý bảo vệ khu vực biên giới biển.

Từ điều 22 đến điều 25 quy định trách nhiệm của nhà nước, các cơ quan nhà nứớc, tổ chức XH, Bộ quốc phòng, Bộ đội biên phòng và của công dân trong xây dựng, quản lý, bảo vệ biên giới.

Từ điều 26 đến điều 30: quy định chức năng, thẩm quyền kiểm tra, kiểm soát, bắt giữ, xử lý …của các lực lượng tham gia  quản lý, bảo vệ biên giới biển.

Từ điều 31 đến điều 33: Quy định đối với tầu thuyền ra, vào, hoạt động trong khu vực biên giới và trách nhiệm của công dân trong phát hiện các trường hợp vi phạm chủ quyền an ninh quốc gia, trật tự ở khu vực biên giới biển.

Điều 34: Nghiêm cấm các hoạt động sau đây trong khu vực biên giới biển.

 - Quay phim, chụp ảnh, vẽ cảnh vật, ghi băng hình hoặc đĩa hình, thu phát vô tuyến điện ở khu vực biển cấm.

– Neo đậu tầu thuyền không đúng nơi quy định hoặc làm cản trở giao thông đường thuỷ.

– Khai thác hải sản, săn bắn trái quy định của pháp luật.

– Tổ chức, chứa chấp, dẫn đường , chuyên chở người xuất nhập cảnh trái phép.

– Đưa người, hàng hoá lên tầu hoặc từ tầu thuyền xuống trái phép.

– Phóng lên các phương tiện hay hạ xuống các tầu thuyền, vật thể khác trái với quy định của pháp luật Việt Nam.

– Mua bán trao đổi, vận chuyển, sử dụng trái phép vũ khí, chất cháy, chất nổ, chất độc hại, ma tuý, hàng hoá, vật phẩm, ngoại hối.

– Khai thác, trục vớt tài sản, đổ vật khí chưa được phép của cơ quan có thẩm quyền Việt Nam.

– Bám, buộc tầu thuyền vào các phao tiêu hoặc có hành vi gây tổn hại đến sự an toàn của công trình thiết bị trong khu vực biên giới biển.

– Thải bỏ các chất độc hại gây ô nhiễm môi trường.

– Các hoạt động khác vi phạm pháp luật Việt Nam.

Chương V: gồm 03 điều, quy định về hiệu lực, điều khoản thi hành.

III. NGHỊ ĐỊNH 34/2000/CP CỦA CHÍNH PHỦ

Nghị định 34/2000/NĐ-CP ngày 18/8/2000 về quy chế khu vực biên giới đất liền nước Cộng hoà XHCN Việt Nam. Đây là văn bản dưới luật, quy định về các hoạt động và công tác quản lý, bảo vệ khu vực biên giới đất liền. Nghị định gồm 05 chương, 27 điều, trong đó:

Chương I: Gồm 03 điều, những quy định chung.

Chương II: Gồm 12 điều, Quy định về  cư trú, đi lại, hoạt động trong khu vực biên giới.

 Điều 4, Quy định:

– Những người được cư trú ở khu vực biên giới ,là công dân Việt Nam có hộ khẩu thường trú ở khu vực biên giới; người có giấy phép của cơ quan Công an tỉnh biên giới cho cư trú ở khu vực biên giới; người thộc cơ quan, tổ chức, đơn vị lực lượng vũ trang có trụ sở làm việc thường xuyên ở khu vực biên giới.

– Những người không được cư trú ở khu vực biên giới là những người không thuộc diện quy định trên, người đang thi hành quyết định của cơ quan có thẩm quyền cấm cư trú ở khu vực biên giới, người nước ngoài (trừ trường hợp điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam ký kết có quyết định khác).

Điều 5 quy định: Công dân có hộ khẩu thường trú ở khu vực biên giới được cấp chứng minh nhân dân biên giới theo quy định của pháp luật.

Điều 6 quy định: Đối với công dân VN khi vào khu vực biên giới phải có giấy chứng minh nhân dân hoặc giấy tờ tùy thân do công an xã, phường, thị trấn nơi cư trú cấp. Đối với cán bộ chiến sĩ lực lượng vũ trang, cán bộ công chức của cơ quan, tổ chức phải có giấy chứng minh nhân dân hoặc chứng minh quân đội, công an, nếu vào khu vực công tác phải có giấy giới thiệu của cơ quan đơn vị trực tiếp quản lý.

Những trường hợp không được vào khu vực biên giới là những người không có các loại giấy tờ quy định trên và người đang bị khởi tố hình sự, đang bị tòa án phạt quản chế ở địa phương (trừ những trường hợp có hộ khẩu thường trú ở khu vực biên giới).

Điều 7: quy định đối với người nước ngoài vào khu vực biên giới:

Nếu người nước ngoài đang công tác tại cơ quan trung ương thì phải có giấy phép do Bộ công an cấp; nếu đang tạm trú tại địa phương phải có giấy phép của công an tỉnh nơi tạm trú cấp.

Các cơ quan, tổ chức của Việt Nam khi đưa người nước ngoài vào khu vực biên giới phải có đầy đủ các loại giấy tờ quy định và phải cử cán bộ đi cùng để hướng dẫn và thông báo cho công an và BĐBP tỉnh nơi đến.

Người nước ngoài khi vào vành đai biên giới phải có giấy phép theo quy định và phải trực tiếp trình báo cho đồn Biên phòng hoặc chính quyền sở tại để thông báo cho đồn Biên phòng.

Trường hợp người nước ngoài đi trong tổ chức của đoàn cấp cao khu vực biên giới thì cơ quan, tổ chức của Việt nam cử cán bộ đi cùng đoàn để hướng dẫn và có trách nhiệm thông báo cho cơ quan công an và BĐBP cấp tỉnh nơi đến biết.

Từ điều 13 đến điều 15: quy định chức năng, quyền hạn của BĐBP và sự phối hợp của các lực lượng trong quản lý bảo vệ biên giới.

Chương III: Gồm 06 điều,  quản lý và bảo vệ biên giới

Từ điều 16 đến điều 20: quy định trách nhiệm của nhà nước, các cơ quan nhà nứớc, tổ chức XH, Bộ quốc phòng, Bộ đội biên phòng và của công dân… trong xây dựng, quản lý, bảo vệ biên giới.

Điều 21: Nghiêm cấm hoạt động ở khu vực biên giới

 1. Làm hư hỏng, xê dịch cột mốc, biên giới, dấu hiệu đường biên giới, biển báo khu vực biên giới, vành đai biên giới, vùng cấm.

2. Làm thay đổi dòng chảy sông, suối biên giới.

3. Xâm canh, xâm cư qua biên giới.

4. Bắn súng qua biên giới, gây nổ, đốt nương rẫy vành đai biên giới.

5. Vượt biên giới quốc gia trái phép, chứa chấp, chỉ đường, chuyên chở che dấu bọn buôn lậu vượt biên giới trái phép.

6. Khai thác trái phép lâm thổ sản và các tài nguyên khác.

7. Buôn lậu, vận chuyển trái phép vũ khí, chất cháy, chất nổ, chất độc hại, ma tuý, văn hoá phẩm độc hại và hàng hoá cấm nhập khẩu, xuất khẩu qua biên giới.

8. Săn bắn thú rừng quý hiếm, đánh bắt cá bằng vật liệu nổ, kích điện, chất độc và các hoạt động gây hại khác trên sông, suối biên giới.

9. Thải bỏ các chất độc hại gây ô nhiễm môi trường hệ sinh thái.

10.Có hành vi khác làm mất trật tự trị an ở khu vực biên giới.

Chương IV: Gồm 2 điều, quy định về khen thưởng và xử lý vi phạm.

Chương V: Gồm 04 điều, quy định hiệu lực, các điều khoản thi hành.

IV. TUYÊN BỐ CỦA CHÍNH PHỦ VIỆT NAM

Căn cứ Công ước của Liên hợp Quốc về luật biển năm 1982, Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nguồn gốc lịch sử của vùng biển, đảo, quần đảo của Việt Nam. Để khảng định quyền chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ và lợi ích Quốc gia, ngày 12/5/1977 chính phủ Việt Nam  ra tuyên bố quy định các vùng biển, thềm lục địa và chế độ pháp lý các vùng biển:

1- Vùng nội thuỷ: Là vùng nước phía trong đường cơ sở và tiếp giáp với bờ biển của nước CHXHCN Việt Nam.

Nhà nước CHXHCN Việt Nam thực hiện đầy đủ, toàn vẹn quyền, chủ quyền vùng nội thuỷ, quyền bất khả xâm phạm.

2- Lãnh hải của nước CHXHCN Việt Nam rộng 12 hải lý, ở phía ngoài đường cơ sở nối liền các điểm nhô ra nhât của bờ biển và cácc điểm ngoài cùng của các đảo ven bờ của Việt Nam tính từ ngấn nước thuỷ chiều thấp nhất trỏ ra.

 Nước Cộng hoà XHCN Việt Nam thực hiện chủ quyền đầy đủ và toàn vẹn đối với lãnh hải của mình cũng như đối với vùng trời, đáy biển và lòng đất dưới đáy biển của lãnh hải.

3- Vùng tiếp giáp lãnh hải là vùng biển tiếp liền phía ngoài lãnh hải Việt Nam có chiều rộng là 12 hải lý hợp với lãnh hải Việt NAm thành một vùng biển rộng 24 hải lý kể từ đường cơ sở.

Chính phủ nước Cộng hoà XHCN Việt Nam thực hiện sự kiểm soát cần thiết trong vùng tiếp giáp lãnh hải của mình, nhằm bảo vệ an ninh, bảo vệ các quyền lợi về hải quan, thuế khoá, đảm bảo sự tôn trọng các quy định về y tế, về di cư nhập cư trên lãnh thổ hoặc trong lãnh hải Việt Nam.

4- Vùng đặc quyền kinh tế tiếp liền lãnh hải Việt Nam và hợp với lãnh hải thành một vùng biển rộng 200 hải lý kể từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải Việt Nam.

Nước Cộng hoà XHCN Việt Nam có chủ quyền hoàn toàn về việc thăm dò, khai thác, bảo vệ và quản lý tất cả các tài nguyên thiên nhiên, sinh vật và không sinh vật ở vùng nước, ở đáy biển và trong lòng đất dưới đáy biển, có quyền và thẩm quyền riêng biệt về các hoạt động khác phục vụ cho việc thăm do và khai thác vùng đặc quyền kinh tế nhằm mục đích kinh tế, có thẩm quyền riêng biệt về nghiên cứu khoa học, có thẩm quyền bảo vệ môi trường chống ô nhiễm.

5- Thềm lục địa của nước Cộng hoà XHCN Việt Nam bao gồm đáy biển và lòng đất dưới đáy biển thuộc phần kéo dài tự nhiên của lục địa Việt Nam mở rộng ra ngoài lãnh hải Việt Nam cho đến bờ ngoài của rìa lục địa (được mở rộng ra 200 hải lý kể từ đường cơ sở đó).

Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam có chủ quyền hoàn toàn về thăm dò, khai thác, bảo vệ và quản lý tất cả các tài nguyên thiên nhiên ở thềm lục địa Việt Nam.

Ngoài ra có các đảo và quần đảo thuộc lãnh thổ Việt Nam ở ngoài vùng lãnh hải (có lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa riêng).

* Đường cơ sở, các vùng nước được quy định trong điều 4 và từ điều 7đến điều 9 của Luật BGQG.

V. NGHỊ ĐỊNH 140/2004/NĐ-CP

  Nghị định 140/2004/NĐ-CP ngày 25/6/2004 của Chính phủ, đây là văn bản dưới luật, Chính phủ nước Cộng hoà XHCN Việt Nam quy định chi tiết một số Điều Luật BGQG, Nghị định gồm 4 chương 35 điều.

Chương I : Gồm 8 điều, những quy định chung.

Từ điều 3 đến điều 7: khái niệm và xác định Biên giới quốc gia, biên giới quốc gia trên đất liền, BGQG trên biển, lãnh hải, đường danh gới phía ngoài lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa.

Điều 8: Khu vực biên giới

Chương II: Xây dụng quản ý bảo vệ biên giới quốc gia và khu vực biên giới, gồm 17 điều.

Điều 9: Xây dựng biên giới

Điều 10: Mốc quốc giới

Điều 11: đầu tưu và phát triển KT-XH ở khu vực biên giới

Điều 12: Xây dựng hệ thống chính trị cơ sở ở khu vực biên giới

Điều 13: Bố trí dân cư ở khu vực biên giới

Điều 14 :Ngày biên phòng toàn dân:

1. Ngày 03/3 là ngày biên phòng toàn dân được tổ chức thực hiện hàng năm trong phạm vi cả nước, nội dung gồm:

– Giáo dục ý thức pháp luật về Biên giới Quốc gia, tôn trọng biên giới, chủ quyền lãnh thổ, tinh thần trách nhiệm của các cấp, các ngành, của cán bộ, nhân viên cơ quan, tổ chức, cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang và của toàn dân; đặc biệt là của cán bộ, nhân viên cơ quan, tổ chức, cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang, chính quyền và nhân dân khu vực biên giới quốc gia, khu vực biên giới.

– Huy động các ngành, các địa phương hướng về biên giới, tích cực tham gia tiềm lực về mọi mặt ở khu vực biên giới, tạo ra sức mạnh toàn dân, giúp đỡ BĐBP và các đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân, các cơ quan chức năng ở khu vực biên giới trong xây dựng quản lý, bảo vệ biên giới quốc gia, giữ gìn an ninh trật tự, an toàn xã hội ở khu vực biên giới.

– Xây dựng biên giới  giới hoà bình, hữu nghị, ổn định lâu dài với các nước láng giềng, phối hợp hai bên biên giới trong quản lý bảo vệ biên giới quốc gia và phòng chống tội phạm.

2. Người đứng đầu các cấp, các ngành, các địa phương có trách nhiệm tổ chức ngày biên phòng toàn dân theo chỉ đạo của chính phủ và hướng dẫn của Bộ quốc phòng.

3. Bộ tư lênh biên phòng có trách nhịêm tham mưu cho Bộ quốc phòng chỉ đạo hướng dẫn các cấp, các ngành, các địa phương tổ chức thực hiện ngày Biên phòng toàn dân.

Điều 15: Quy định về xây dựng nền Biên phòng toàn dân, thế trận biên phòng toàn dân

Điều 16: Xây dựng lực lượng nòng cốt chuyên trách quản lý bảo vệ BGQG.

Điều 17 đến 25: Quy định về quản lý bảo vệ BGQG và khu vực biên giới, giải quyết các vấn đề biên giới, trách nhiệm quản lý bảo vệ BGQG và khu vực biên giới, Của khẩu và hoạt động tại của khẩu, Chế độ chính sách bảo đảm xây dựng, quản lý, bảo vệ BGQG, khu vực biên giới. Quy định về nguồn tài chính, ngân sách trong quản lý bảo vệ BGQG, khu vực biên giới…

Chương III: Gồm 10 điều, quản lý nhà nước về BGQG

Từ điều 26  đến điều 31 quy định trách nhiệm của quy định trách nhiệm của nhà nước, các cơ quan nhà nứớc, tổ chức XH, Bộ quốc phòng, Bộ đội biên phòng trong xây dựng, quản lý, bảo vệ biên giới

Điều 32 : Trách nhiệm của công dân

 Mọi công dân Việt Nam có trách nhiệm và nghĩa vụ bảo vệ biên giới quốc gia của nước Cộng hoà XHCN Việt Nam, xây dựng biên giới, giữ gìn an ninh trật tự an toàn xã hội ở khu vực biên giới. Nếu phát hiện các hành vi vi phạm biên giới, phá hoại an ninh trật tự an toàn xã hội ở khu vực biên giới, phải báo cho Đồn biên phòng hoặc chính quyền địa phương, cơ quan nhà nước nơi gần nhất để thông báo kịp thời cho BĐBP xử lý theo quy định của pháp luật.

Chương IV: Gồm 03 điều, quy định về hiệu lực thi hành, hướng dẫn thi hành, trách nhiệm thi hành.

Tweet

Tin khác

Thể lệ cuộc thi Tìm hiểu về biên giới biển đảo và Bộ đội Biên phòng chào mừng kỷ niệm 60 năm ngày truyền thống BĐBP (03/3/1959 – 03/3/2024) và 30 năm ngày Biên phòng toàn dân (3/3/1989 – 3/32024)

(3281 Lượt xem )

Kế hoạch phối hợp tổ chức cuộc thi tìm hiểu về biên giới biển đảo và Bộ đội Biên phòng chào mừng kỷ niệm 60 năm ngày truyền thống BĐBP (03/3/1959 – 03/3/2024) và 30 năm ngày Biên phòng toàn dân (3/3/1989 – 3/32024)

(3139 Lượt xem )

Thông tri chức sơ kết 10 năm “Ngày Biên phòng toàn dân” giai đoạn 2009-2024 và tổ chức kỷ niệm 60 năm Ngày truyền thống Bộ đội Biên phòng (03/3/1959-03/3/2024)

(3095 Lượt xem )

Chỉ thị V/v công tác Biên phòng năm 2024

(1010 Lượt xem )

Quyết định V/v thành lập Ban chỉ đạo thực hiện Đề án “Tăng cường phổ biến, giáo dục pháp luật cho cán bộ, nhân dân khu vực biên giới biển của tỉnh giai đoạn 2024-2024”

(986 Lượt xem )

1

 2 3 4 5  … 

Tóm Tắt Ngắn Gọn Nội Dung Các Văn Bản Truyện Lớp 9

Tóm tắt ngắn gọn nội dung các văn bản truyện lớp 9

Vũ Nương, tên thật là Vũ Thị Thiết, quê ở Nam Xương, là người con gái thùy mị, nết na, tư dung tốt đẹp nên Trương Sinh đem lòng yêu mến cưới về làm vợ. Biết chồng có tính đa nghi, Vũ Nương luôn giữ gìn khuôn phép, ăn ở đúng mực. Đất nước có chiến tranh, Trương Sinh đi lính, Vũ Nương ở nhà sinh con, nuôi con, chăm sóc mẹ già. Khi mẹ chồng chết, Vũ Nương lo ma chay chu đáo. Hàng đêm, nàng hay đùa với con bằng cách chỉ vào cái bóng của mình trên vách và gọi đó là cha.

Giặc tan, Trương Sinh trở về. Đứa bé ngây thơ cho biết Trương Sinh không phải là cha mà có một người đàn ông khác đêm nào cũng đến. Trương Sinh nghi ngờ, mắng nhiếc và đánh đuối Vũ Nương ra khỏi nhà mặc cho nàng đã hết lời thanh minh. Vũ Nương uất ức tự tử ở bến Hoàng Giang, được Linh Phi – vợ vua Nam Hải cứu sống và đưa về ở trong động rùa. Đêm đến, thấy bóng Trương Sinh in trên vách, đứa bé gọi đó là cha. Trương Sinh mới vỡ lẽ ra nỗi oan của vợ. Nhờ sự giúp đỡ của Linh Phi và Phan Lang (người cùng làng), Vũ Nương được Trương Sinh lập đàn giải oan.

2. Hoàng lê nhất thống chí – Hồi thứ 14: Đánh Ngọc Hồi, quân Thanh bị thua trận Bỏ Thăng Long, Chiêu Thống trốn ra ngoài

Lê Chiêu Thống sợ uy danh của quân Tây Sơn, sang cầu cứu nhà Thanh. Quân Thanh do Tôn Sĩ Nghị cầm đầu kéo quân vào Thăng Long. Ngô Văn Sở, tướng của Tây Sơn cho quân lui về núi Tam Điệp để bảo tồn lực lượng và cho quân cấp báo với Nguyễn Huệ. Thuận theo lòng tướng sĩ, Nguyễn Huệ lên ngôi hoàng đế lấy niên hiệu là Quang Trung sau đó tiến quân ra Nghệ An. Ở Nghệ An, nhà vua lấy thêm quân, mở cuộc duyệt binh lớn, huấn dụ quân sĩ, ai nấy đều đồng sức đồng lòng rồi tiến quân ra Bắc. Đến núi Tam Điệp gặp hai tướng Lân, Sở, Ngô Thời Nhiệm bàn kế hoạch sau khi đánh xong quân Thanh, mở tiệc khao quân. Hẹn với tướng sĩ tối 30 lên đường, ngày mùng 7 Tết tới Thăng Long.

Trận đầu tiên, giặc trấn thủ ở sông Gián chưa đánh đã tan vỡ. Toán quân do thám bị bắt sống hết. Nửa đêm ngày mùng 3 Tốt năm Kỷ Dậu bắt đầu tấn công đồn Hạ Hồi, quân giặc sợ hãi xin hàng. Sau đó tiếp tục tiến công đồn Ngọc Hồi, quân Thanh chống không nổi bỏ chạy tán loạn, rơi vào kế nghi binh của Tây Sơn, bị dồn xuống đầm vực, bị voi giày đạp chết hàng vạn người. Giữa trưa hôm ấy, quân Tây Sơn kéo vào Thăng Long. Tôn Sĩ Nghị nghe tin sợ hãi, không kịp mặc áo giáp chạy trốn. Vua Lê Chiêu Thống đem hoàng thân quốc thích rời kinh thành bỏ chạy theo quân Thanh.

Thúy Kiều là một thiếu nữ tài sắc vẹn toàn, sống êm ấm cùng cha mẹ và 2 em là Thúy Vân và Vương Quan. Trong buổi du xuân, Kiều gặp Kim Trọng, thề nguyền đính ước với nhau. Kim Trọng về quê chịu tang chú, gia đình Kiều bị mắc oan, Kiều phải bán mình chuộc cha. Kiều bị Mã Giám Sinh, Tú Bà, Sở Khanh lừa đẩy vào lầu xanh, được Thúc Sinh cứu khỏi lầu xanh nhưng bị Hoạn Thư ghen, Kiều phải trốn đi nương náu ở chùa Giác Duyên.

Vô tình Kiều lại rơi vào tay Bạc Hạnh, Bạc Bà, phải vào lầu xanh lần thứ 2. Ở đây, Kiều gặp Từ Hải. Từ Hải lấy Kiều làm vợ, giúp Kiều báo ân báo oán. Từ Hải mắc lừa Hồ Tôn Hiến, bị giết chết. Kiều bị bắt ép gả cho tên thổ quan. Nàng tủi nhục trầm mình ở sông Tiền Đường, được sư Giác Duyên cứu, nương nhờ cửa Phật lần thứ 2. Kim Trọng trở lại, kết duyên với Thúy Vân nhưng vẫn đi tìm Kiều. Nhờ sư Giác Duyên, Kim – Kiều gặp nhau, gia đình đoàn tụ. Kim gặp Kiều đối tình yêu thành tình bạn.

Thấy Vân Tiên tài cao, Hâm, Kiệm sinh lòng đố kị, ghen ghét. Lúc sắp vào trường thi, Vân Tiên nhận được tin mẹ mất, liền bỏ thi trở về quê chịu tang, chàng khóc thương đến mù mắt, lại bị Trịnh Hâm lừa đẩy xuống sông. Nhờ giao long dìu đỡ vào bờ, được Du thần và ông Tiều cứu, Vân Tiên may mắn gặp lại Hớn Minh, Hớn Minh đón Vân Tiên về am dưỡng bệnh. Cha con Võ Thể Loan phản bội, đem Vân Tiên thả vào rừng cho thú dữ ăn thịt.

Phần Nguyệt Nga, nghe tin Lục Vân Tiên đã chết, thề thủ tiết suốt đời. Thái sư đương triều hỏi nàng cho con trai không được, đem lòng thù oán, tâu vua bắt Nguyệt Nga đi cống giặc Ô Qua. Thuyền đi tới biên giới, nàng mang theo bức hình Vân Tiên nhảy xuống sông tự vẫn, được Phật Bà Quan Âm cứu vớt. Lục Vân Tiên được tiên cho thuốc, mắt lại sáng, liền trở về thăm nhà. Đen khoa thi, chàng đỗ trạng nguyên và được nhà vua cử đi dẹp giặc Ô Qua. Đánh tan giặc, Vân Tiên một mình lạc trong rừng và gặp lại Nguyệt Nga. Chàng về triều tâu hết sự tình, kẻ gian ác bị trừng trị, người nhân nghĩa được đền đáp, Lục Vân Tiên và Kiều Nguyệt Nga sum vầy hạnh phúc.

Ông Hai là một người nông dân rất yêu làng và tự hào về làng Chợ Dầu của mình. Vì chiến tranh và hoàn cảnh gia đình nên ông phải rời làng đi tản cư, nhưng ông vẫn luôn bứt rứt nhớ về làng Chợ Dầu. Một hôm, nghe được từ một người đàn bà tản cư đưa tin làng Dầu “Việt gian theo Tây”, mặt ông “tê rân rân”, cổ họng ông “nghẹn ắng hẳn lại”, ông “lặng đi tưởng như đến không thở được” rồi chỉ biết cúi gằm mặt xuống mà đi về.

Ông Sáu xa nhà đi kháng chiến. Mãi đến khi con gái lên tám tuổi, ông mới có việc về thăm nhà, thăm con. Bé Thu không nhận ra cha vì vết sẹo trên mặt làm cha em không giống với người trong bức ảnh mà em biết. Em đối xử với cha như người xa lạ. Đến lúc Thu nhận ra cha, tình cha con thức dậy mãnh liệt trong em thì cũng là lúc ông Sáu phải ra đi.

Ở căn cứ, ông Sáu dồn hết tình cảm yêu quý, thương nhớ con làm một chiếc lược bằng ngà để tặng cho con gái bé bỏng. Trong một trận càn, ông hy sinh. Trước lúc nhắm mắt ông đã trao cây lược cho người bạn nhờ gửi lại cho con.

Câu chuyện xoay quanh cuộc gặp gỡ tình cờ của mấy người khách trên chuyến xe với người thanh niên làm công tác khí tượng trên đỉnh núi cao Yên Sơn ở Sa Pa. Trên chuyến xe khách từ Hà Nội lên Lào Cai, ông họa sĩ già, bác lái xe, cô kĩ sư trẻ tình cờ quen nhau. Bác lái xe đã giới thiệu cho ông họa sĩ và cô kĩ sư làm quen với anh thanh niên.

Trong cuộc gặp gỡ 30 phút, anh thanh niên tặng hoa cho cô gái, pha trà và trò chuyện với mọi người vê cuộc sông và công việc của mình. Ông họa sĩ muốn được vẽ chân dung anh. Anh thanh niên từ chối và giới thiệu với ông những người khác mà anh cho là xứng đáng hơn. Những con người tình cờ gặp nhau bỗng trở nên thân thiêt. Khi chia tay, ông họa sĩ hứa sẽ quay trở lại, cô kỹ sư thấy xúc động, yên tâm hơn về quyết định lên Lào Cai công tác, còn anh thanh niên tặng mọi người một làn trứng.

Tổ trinh sát mặt đường gồm ba cô gái thanh niên xung phong (Phương Định, Nho, Thao) còn rất trẻ; Thao lớn tuổi hơn, được cử làm tổ trưởng. Tổ có nhiệm vụ quan sát máy bay giặc ném bom, đánh dấu chồ những quả bom chưa no và phá bom, xác định khối lượng đất đá phải san lấp để thông đường. Đây là công việc rất nguy hiểm, thường xuyên đối mặt với cái chết. Họ phải sống trong một cái hang dưới chân cao điểm, xa đơn vị.

Cuộc sống nghiệt ngã ở chiến trường đã tạo nên sự gắn bó giữa ba cô gái, nhưng không thể dập tắt được sự hồn nhiên, những niềm vui, những giây phút mơ mộng. Phương Định – nhân vật “tôi” – là một cô gái có nhiều cảm xúc, mộng mơ, luôn nhớ đến những kỉ niệm đẹp về gia đình và thành phố. Phần cuối truyện, tác giả tập trung miêu tả tâm trạng và hành động của từng cô gái trong một lần phá bom.