Phap Luat Hinh Su Xa Luan Nong / 2023 / Top 13 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 12/2022 # Top View | Bac.edu.vn

Ly Luan Cua Phap Luat Ve Thanh Tra Chuyen Nganh Y Te / 2023

Trong bài viết này, Luận Văn 24 chuyên làm thuê khóa luận xin chia sẻ đến bạn những vấn đề lý luận của pháp luật về thanh tra chuyên ngành y tế.

Những vấn đề lý luận của pháp luật về thanh tra chuyên ngành y tế

Thuật ngữ Thanh tra xuất phát từ gốc tiếng la tinh là”inspectorate”, có nghĩa là “nhìn vào bên trong”, chỉ sự kiểm tra, xem xét từ bên ngoài của chủ thể có thẩm quyền đối với hoạt động của đối tượng nhất định. Theo thuật ngữ này, hoạt động thanh tra chỉ giới hạn trong hoạt động kiểm tra, xem xét, chưa bao gồm vai trò xử lý của chủ thể thanh tra đối với đối tượng thanh tra, các cá nhân, tổ chức sau khi kiểm tra, xem xét.

Tiếp đó, thuật ngữ Thanh tra tiếp tục được giải thích tại các Từ điển Pháp luật của nhiều quốc gia trên thế giới. Theo Từ điển Luật học Đức,thanh tra được hiểu là sự tác động của chủ thể đến đối tượng đã và đang thực hiện thẩm quyền được giao nhằm đạt được mục đích nhất định – sự tác động có tính trực thuộc. Theo giải thích của Từ điển Luật học Đức, hoạt động thanh tra được hiểu với nghĩa rộng về mặt nội dung hoạt động. Bất kể sự tác động nào của chủ thể thanh tra đến đối tượng thanh tra trực thuộc đã và đang thực hiện thẩm quyền được giao để hướng đến một mục đích nhất định đều được hiểu là hoạt động thanh tra. Tuy nhiên, theo nghĩa này, hoạt động thanh tra chỉ được giới hạn giữa chủ thể thanh tra và đối tượng thanh tra trực thuộc, chưa bao gồm đối tượng thanh tra là cơ quan, tổ chức, cá nhân không trực thuộc. Chẳng hạn như hoạt động thanh tra chuyên ngành hiện nay của các cơ quan quản lý ngành đối với các cơ quan, tổ chức, cá nhân không trực thuộc về tổ chức trong việc chấp hành quy định của pháp luật chuyên ngành,…

Theo Từ điển Tiếng Việt, thanh tra được hiểu là kiểm soát, xem xét tại chỗ việc làm của địa phương, cơ quan, xí nghiệp. Theo quan niệm này, thanh tra bao hàm kiểm soát – hoạt động xem xét và phát hiện, ngăn chặn những gì trái với quy định.Tùy thuộc vào chế độ chính trị, cấu trúc Nhà nước và các đặc điểm riêng của quốc gia, dân tộc mà các quốc gia trên thế giới thiết lập cơ quan thực hiện chức năng thanh tra theo những cách khác nhau. Có quốc gia sử dụng Thanh tra của Quốc hội (Thanh tra Quốc Hội Thụy điển, Đan Mạch, Canada, Austraylia..); Thanh tra của Chính phủ – Thanh tra hành pháp (Cơ quan Giám sát Hành chính Ai cập, Bộ Giám sát Trung Quốc,..); kiểm toán (Ủy ban Thanh tra và Kiểm toán Hàn Quốc BAI thực hiện 02 chức năng thanh tra và kiểm toán),…

Như vậy, qua phân tích có thể hiểu: Thanh tra chuyên ngành là hoạt động thanh tra của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo ngành, lĩnh vực đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc chấp hành pháp luật chuyên ngành, quy định về chuyên môn – kỹ thuật, quy tắc quản lý của ngành, lĩnh vực thuộc thẩm quyền quản lý.

Thanh tra chuyên ngành y tế là hoạt động thanh tra của các cơ quan thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành y tế đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân hoạt động thuộc phạm vi quản lý của ngành trong việc chấp hành pháp luật chuyên ngành, quy định về chuyên môn – kỹ thuật, quy tắc quản lý thuộc thẩm quyền quản lý.

Công tác thanh tra chuyên ngành y tế có những đặc điểm cơ bản sau:

Một là, thanh tra chuyên ngành y tế gắn liền với quản lý nhà nước về y tế, đáp ứng yêu cầu và phục vụ mục tiêu quản lý nhà nước về y tế.

Là một chức năng, một khâu trong chu trình quản lý nhà nước về y tế, thanh tra chuyên ngành y tế gắn liền với quản lý nhà nước về y tế. Quản lý nhà nước về y tế và thanh tra chuyên ngành y tế, có điểm chung là nhân danh quyền lực nhà nước thực hiện sự tác động lên các đối tượng bị quản lý. Song, xét theo cơ cấu, chức năng của quản lý nhà nước về y tế thì thanh tra chuyên ngành y tế chỉ là những công cụ, phương tiện phục vụ quản lý nhà nước về y tế. Là một khâu trong chu trình quản lý, thanh tra chuyên ngành y tế bị ràng buộc, chế ước nhưng đồng thời cũng tác động trở lại, góp phần điều chỉnh các cách thức, phương pháp quản lý của chủ thể quản lý nhà nước về y tế. Trong chu trình đó, thanh tra chuyên ngành y tế luôn phản ánh và bảo vệ mục đích công tác quản lý nhà nước về y tế. Một thể chế hành chính và cơ chế quản lý nhà nước sẽ không đầy đủ nếu thiếu thanh tra. Đây là tất yếu đối với quản lý nhà nước nói chung và quản lý nhà nước về y tế nói riêng.

Hai là, tính quyền lực nhà nước của thanh tra chuyên ngành y tế.

Ba là, tính khách quan và độc lập tương đối của thanh tra chuyên ngành y tế.

Đây là đặc điểm vốn có, xuất phát từ bản chất của thanh tra. Đặc điểm này phân biệt thanh tra chuyên ngành y tế với các chức năng khác của hoạt động quản lý nhà nước về y tế. Tính khách quan và độc lập tương đối trong hoạt động thanh tra chuyên ngành y tế được thể hiện trên các điểm sau:

– Tuân theo pháp luật.

– Tự ban hành Quyết định thanh tra, tiến hành thanh tra theo thẩm quyền.

– Khách quan trong quá trình tiến hành thanh tra. Mặc dù bản thân hoạt động thanh tra thông qua con người, mang yếu tố chủ quan, nhưng yêu cầu đặt ra đối với hoạt động thanh tra là luôn phải tôn trọng sự thật khách quan.

– Ra các kết luận, kiến nghị, quyết định xử lý, xử lý vi phạm hành chính theo các quy định của pháp luật, chịu trách nhiệm về hành vi thanh tra của mình.

Bốn là, công tác thanh tra chuyên ngành y tế có tính chuyên sâu về chuyên môn nghiệp vụ của ngành.

Luật Thanh tra năm 2010, Điều 32 về tiêu chuẩn chung của thanh tra viên điểm b, khoản 1 quy định: “Tốt nghiệp đại học, có kiến thức quản lý nhà nước và am hiểu pháp luật; đối với thanh tra viên chuyên ngành còn phải có kiến thức chuyên môn về chuyên ngành đó” [18]; Điều 34 về người được giao thực hiện nhiệm vụ thanh tra chuyên ngành quy định: “Người được giao thực hiện nhiệm vụ thanh tra chuyên ngành phải là công chức của cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành, có chuyên môn, nghiệp vụ phù hợp với chuyên ngành, am hiểu pháp luật, có nghiệp vụ thanh tra” [18]. Như vậy, đối với thanh tra chuyên ngành y tế, tính chuyên sâu về chuyên môn nghiệp vụ y tế là đặc điểm riêng biệt so với thanh tra hành chính nói chung và thanh tra các chuyên ngành khác. Đặc điểm này xuất phát từ tính chuyên môn.

kỹ thuật trong hoạt động của ngành y tế, đòi hỏi chủ thể thanh tra y tế khi tiến hành thanh tra phải có chuyên môn nghiệp vụ, kinh nghiệm công tác chuyên ngành phong phú, sâu sắc bên cạnh những điều kiện tiêu chuẩn khác theo quy định của pháp luật về thanh tra. Có thể hiểu, đối với cá nhân thực hiện chức nhiệm vụ thanh tra chuyên ngành y tế, tính chuyên sâu nghiệp vụ của ngành là điều kiện “cần”, bên cạnh những điều kiện “đủ” của những quy định về điều kiện, tiêu chuẩn khác của pháp luật về thanh tra nói chung. Thực tiễn công tác thanh tra chuyên ngành y tế, chẳng hạn đối với hoạt động thanh tra chuyên ngành về an toàn thực phẩm, khi cần lấy mẫu kiểm nghiệm chất lượng thực phẩm, để bảo đảm tính chủ động, kịp thời trong hoạt động thanh tra đòi hỏi thành viên trong đoàn thanh tra cũng cần có chuyên môn và có chứng chỉ về kỹ thuật lấy mẫu thực phẩm để đảm bảo tính chính xác về chuyên môn – kỹ thuật, tính hợp pháp của việc lấy mẫu thực phẩm. Quy định về lấy mẫu thực phẩm tại Thông tư số 14/2011/TT-BYT ngày 01 tháng 4 năm 2011 của Bộ Y tế Hướng dẫn chung về lấy mẫu thực phẩm phục vụ thanh tra, kiểm tra chất lượng về sinh an toàn thực phẩm, Điều 3 đối với người lấy mẫu điểm 2 quy định: “Được đào tạo và có chứng chỉ về kỹ thuật lấy mẫu thực phẩm”.

Hiện tại, Luận Văn 24 đang cung cấp làm thuê báo cáo thực tập tốt nghiệp , nhận viết essay thuê, hỗ trợ spss , làm tiểu luận thuê chuyên nghiệp nhất thị trường. Hãy liên hệ ngay với chúng tôi để được hỗ trợ từ A-Z.

#LV24 , #luan_van_24 , #luận_văn_24 , #dịch_vụ_chỉnh_sửa_luận_văn , #làm_chuyên_đề_tốt_nghiệp , #giá_làm_luận_văn_tốt_nghiệp

Phap Luat Kinh Doanh Bao Hiem / 2023

Lược thuật Hội thảo “Đánh giá thực trạng và giải pháp phòng chống trục lợi trong bảo hiểm xe cơ giới và bảo hiểm con người” (là 2 loại hình bảo hiểm được nhận định phát sinh nhiều trường hợp trục lợi bảo hiểm nhất) do Cục QLGSBH và Hiệp hội bảo hiểm Việt nam phối hợp tổ chức ngày 17/8/2012

Trục lợi bảo hiểm và thực trạng hiện nay ở Việt Nam

            Trục lợi bảo hiểm là bất kỳ hành vi lừa dối nào nhằm kiếm lợi bất hợp pháp của các chủ thể tham gia vào quan hệ kinh doanh bảo hiểm. Trục lợi bảo hiểm rất đa dạng, dưới nhiều hình thức. Ngành bảo hiểm trên thế giới thông thường chia hành vi trục lợi làm 2 dạng : “Trục lợi cứng” (Hard Fraud) và “Trục lợi mềm”(Soft Fraud).

            “Trục lợi cứng” là hành vi khi một người cố tình lập hồ sơ khiếu nại cho một vụ tổn thất không có thật; hoặc cố tình khởi tạo một vụ tổn thất, tự phá hủy tài sản để đòi bồi thường bảo hiểm (ví dụ cố ý dàn dựng đâm va ô tô, tự đốt cháy tài sản …). “Trục lợi mềm”, hay còn được gọi là “trục lợi cơ hội” (opportunistic fraud), là hành vi người được bảo hiểm khai tăng khiếu nại hợp pháp của họ. Trục lợi “mềm” cũng có thể phát sinh khi bắt đầu mua một hợp đồng bảo hiểm mới, người tham gia bảo hiểm kê khai không trung thực các tình trạng hiện tại hoặc trước đây của đối tượng bảo hiểm nhằm mục đích hưởng lợi bất hợp pháp (như được hưởng một mức phí bảo hiểm rẻ hơn).

            Tổng hợp ý kiến của đại diện các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ và nhân thọ tại Hội thảo “Đánh giá thực trạng và giải pháp phòng chống trục lợi trong bảo hiểm xe cơ giới và bảo hiểm con người” (là 2 loại hình bảo hiểm được nhận định phát sinh nhiều trường hợp trục lợi bảo hiểm nhất) do Cục QLGSBH và Hiệp hội bảo hiểm Việt nam phối hợp tổ chức ngày 17/8/2012, có thể nhận thấy hành vi trục lợi, cả trục lợi “cứng’ và trục lợi “mềm”, đã xuất hiện, ngày càng trở nên phổ biến và nghiêm trọng ở Việt Nam. Đa số trục lợi bảo hiểm là trục lợi “mềm” (trục lợi cơ hội), tuy nhiên cũng đã xuất hiện nhiều trường hợp trục lợi cứng như cố tình đốt cháy tài sản, xe cộ, giả mất cắp xe, ngụy tạo hồ sơ điều trị y tế khống…(*). Hiện tại chưa có một nghiên cứu đầy đủ về trục lợi bảo hiểm, tuy nhiên theo khảo sát của Bộ tài chính tại 5 doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ (PNT) lớn nhất Việt Nam năm 2010 cho thấy trục lợi bảo hiểm (bị phát hiện và từ chối bồi thường) lên tới trên 10%  số tiền bồi thường của doanh nghiệp (Thiệt hại do trục lợi không bị phát hiện và đã giải quyết bồi thường được nhận định cao hơn nhiều so với tỷ lệ này).

Tại sao trục lợi bảo hiểm ngày càng trở nên khó kiểm soát ở Việt Nam?

Đọc tiếp »

Tailieu.vn: Sách Luat Su Nguyen Huu Tho / 2023

Tác phẩm khắc họa chân dung và “hành trình yêu nước “của Luật sư Nguyễn Hữu Thọ – một nhà trí thức tiêu biểu của miền Nam- một tên tuổi lớn gắn liền với các sự kiện lớn của đất nước và các phong trào đấu tranh của nhân dân miền Nam từ những năm 1950 , như : 9 tháng giêng, Phái đoàn đại biểu các giới, Phong trào Bảo vệ Hòa bình, Ngày toàn quốc chống Mỹ, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam; một vị Chủ tịch Quốc hội nước VN thống nhất , Phó Chủ tịch nước, Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc ,…luôn gần dân, vì dân, tâm huyết và trăn trở với việc đại đoàn kết toàn dân và xây dựng nhà nước pháp quyền .

Tác phẩm có 3 phần chính :

1/ Biên niên về cuộc đời hoạt động của LS Nguyễn Hữu Thọ;

2/ 14 chương về hành trình lịch sử của LS Nguyễn Hữu Thọ, từ 1910 đến 1996 + Các Box trích lời của các nhân chứng lịch sử về LS NHT khẳng định mạnh mẽ và khách quan về tầm vóc và nhân cách, sự nghiệp để lại của LS NHT trong mỗi giai đoạn, trong cả quá trình hoạt động của LS Nguyễn Hữu Thọ.

3/ Phần Phụ lục gồm các bài , thư viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi LS Nguyễn Hữu Thọ và Mặt trận DTGPMNVN, một số bài viết của LS Nguyễn Hữu Thọ, thư mục tham khảo.

Qua tác phẩm, chúng ta thấy được hình ảnh ” người hùng” của một thế hệ trẻ những năm 50, một tầm vóc lớn về tài năng , đức độ của vị Chủ tịch Mặt trận DTGPMNVN, Chủ tịch Quốc hội, Phó Chủ tịch nước, Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc VN,…và hiểu vì sao ông trở thành ngọn cờ tập hợp, có sức mạnh hiệu triệu và đoàn kết các tầng lớp đồng bào trong cả thời kỳ chống Pháp, chống Mỹ, cùng những tâm huyết của ông trong xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN, trong nỗ lực nâng cao vị thế Việt Nam trên trường quốc tế.

Phong Xay Dung Va Kiem Tra Van Ban Quy Pham Phap Luat / 2023

PHÒNG VĂN BẢN VÀ QUẢN LÝ XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH

I. Vị trí, chức năng của Phòng Văn bản và Quản lý xử lý vi phạm hành chính

Phòng Văn bản và Quản lý xử lý vi phạm hành chính là phòng chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Sở Tư pháp, chịu sự quản lý chỉ đạo toàn diện về tổ chức và hoạt động của Giám đốc Sở Tư pháp, có chức năng tham mưu, giúp Giám đốc Sở thực hiện quản lý nhà nước về công tác xây dựng, kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật; pháp chế và công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính.

II. Nhiệm vụ và quyền hạn

 Tham mưu cho Giám đốc Sở:

1. Trình Ủy ban nhân dân tỉnh:

a) Dự thảo nghị quyết, quyết định và các văn bản khác thuộc phạm vi thẩm quyền ban hành của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh trong lĩnh vực được Giám đốc Sở phân công;

b) Dự thảo kế hoạch dài hạn, 5 năm, hàng năm và các đề án, dự án, chương trình, biện pháp tổ chức thực hiện nhiệm vụ cải cách tư pháp, xây dựng, kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật; pháp chế và công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính thuộc thẩm quyền ban hành của Ủy ban nhân dân tỉnh.

2. Trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Dự thảo quyết định, chỉ thị thuộc thẩm quyền ban hành của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh trong phạm vi được Giám đốc Sở phân công.

3. Hướng dẫn, kiểm tra và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật, kế hoạch, chương trình, đề án, dự án đã được cấp có thẩm quyền quyết định, phê duyệt thuộc phạm vi, thẩm quyền quản lý nhà nước về công tác tư pháp được Giám đốc Sở giao.

4. Về xây dựng văn bản quy phạm pháp luật

c) Tham gia xây dựng dự thảo các văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền ban hành của Ủy ban nhân dân tỉnh do cơ quan chuyên môn khác của Ủy ban nhân dân tỉnh chủ trì soạn thảo; 

d) Thẩm định dự thảo các văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền ban hành của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân tỉnh theo quy định của pháp luật;

đ) Tổ chức lấy ý kiến Nhân dân về các dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật theo sự chỉ đạo của Ủy ban nhân dân tỉnh và Bộ Tư pháp;

e) Hướng dẫn việc đánh giá tác động thủ tục hành chính trong quá trình đề nghị xây dựng chính sách và soạn thảo nghị quyết của Hội đồng nhân nhân và quyết định của Ủy ban nhân dân theo quy định của pháp luật.

5. Về kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật

a) Giúp Ủy ban nhân dân tỉnh thực hiện việc tự kiểm tra văn bản do Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành theo quy định của pháp luật;

b) Giúp Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh thực hiện kiểm tra văn bản của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp huyện; hướng dẫn Phòng Tư pháp cấp huyện tự kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật và kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn theo quy định của pháp luật;

c) Tham mưu với Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh xử lý văn bản trái pháp luật đã được phát hiện; kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện các biện pháp xử lý văn bản trái pháp luật theo quy định của pháp luật;

d) Thực hiện kiểm tra, xử lý đối với các văn bản có chứa quy phạm pháp luật do Hội đồng nhân dân hoặc Ủy ban nhân dân cấp huyện ban hành nhưng không được ban hành bằng hình thức nghị quyết của Hội đồng nhân dân hoặc quyết định của Ủy ban nhân dân; các văn bản có chứa quy phạm pháp luật hoặc có thể thức như văn bản quy phạm pháp luật do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện, Thủ trưởng các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện ban hành.

6. Về rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật:

a) Tham mưu với Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh tổ chức thực hiện việc rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân tỉnh theo quy định pháp luật;

b) Đôn đốc, hướng dẫn, tổng hợp kết quả rà soát, hệ thống hóa văn bản chung của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh.

7. Về công tác pháp chế:

a) Xây dựng, trình Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành chương trình, kế hoạch công tác pháp chế hàng năm ở địa phương và tổ chức thực hiện sau khi chương trình, kế hoạch được ban hành;

b) Quản lý, kiểm tra công tác pháp chế đối với công chức pháp chế chuyên trách và Phòng Pháp chế trong cơ cấu tổ chức của các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh;

c) Giúp Ủy ban nhân dân tỉnh chủ trì hoặc phối hợp với các bộ, ngành trong việc hướng dẫn, tổ chức bồi dưỡng kỹ năng, chuyên môn, nghiệp vụ về công tác pháp chế đối với công chức pháp chế chuyên trách và Phòng Pháp chế trong cơ cấu tổ chức của các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh;

d) Quản lý, kiểm tra, hướng dẫn, tổ chức bồi dưỡng kỹ năng, chuyên môn, nghiệp vụ về công tác pháp chế đối với tổ chức pháp chế của các doanh nghiệp nhà nước tại địa phương;

đ) Tham mưu, đề xuất với Ủy ban nhân dân tỉnh trong việc xây dựng, củng cố tổ chức pháp chế, thực hiện các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác pháp chế tại địa phương.

8. Về quản lý công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính:

a) Giúp Ủy ban nhân dân tỉnh theo dõi, hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra và báo cáo công tác thi hành pháp luật xử lý vi phạm hành chính tại địa phương; đề xuất việc nghiên cứu, xử lý các quy định xử lý vi phạm hành chính không khả thi, không phù hợp với thực tiễn hoặc chồng chéo, mâu thuẫn với nhau theo quy định của pháp luật;

b) Phổ biến, tập huấn nghiệp vụ áp dụng pháp luật về xử lý vi phạm hành chính thuộc phạm vi quản lý của địa phương;

c) Thực hiện thống kê về xử lý vi phạm hành chính trong phạm vi quản lý của địa phương; xây dựng, quản lý cơ sở dữ liệu về xử lý vi phạm hành chính và tích hợp vào cơ sở dữ liệu quốc gia về xử lý vi phạm hành chính tại Bộ Tư pháp.

9. Kiểm tra đối với các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc thi hành pháp luật trong lĩnh vực được Giám đốc Sở phân công.

10. Thực hiện các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật và theo sự phân công của Giám đốc Sở Tư pháp.

III. Cơ cấu tổ chức và biên chế

1. Phòng Văn bản và Quản lý xử lý vi phạm hành chính có Trưởng phòng, Phó Trưởng phòng và các chuyên viên.

a) Trưởng phòng là người đứng đầu đơn vị, chịu trách nhiệm trước Giám đốc Sở và trước pháp luật về toàn bộ hoạt động của phòng và việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao.

b) Phó Trưởng phòng là người giúp việc cho Trưởng phòng, thực hiện một số nội dung công việc do Trưởng phòng phân công và chịu trách nhiệm trước Trưởng phòng và trước pháp luật về nhiệm vụ được phân công. Khi Trưởng phòng đi vắng, Phó Trưởng phòng được Trưởng phòng ủy quyền điều hành các hoạt động của phòng.

c) Việc bổ nhiệm, miễn nhiệm Trưởng phòng, Phó Trưởng phòng Phòng Văn bản và Quản lý xử lý vi phạm hành chính thực hiện theo quy định của pháp luật.

2. Biên chế của Phòng Văn bản và Quản lý xử lý vi phạm hành chính là biên chế hành chính nhà nước, số lượng do Giám đốc Sở Tư pháp quyết định trên tổng số biên chế hành chính được Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh giao.