Quy Định Về Luật Phá Sản Ngân Hàng / 2023 / Top 12 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 12/2022 # Top View | Bac.edu.vn

Luật Phá Sản Ngân Hàng Là Gì? Xử Lý Tài Sản Khi Ngân Hàng Phá Sản / 2023

>> Phá sản doanh nghiệp là thủ tục như thế nào? >> Phá sản và giải thể doanh nghiệp có giống nhau?

Ngân hàng bị phá sản là như thế nào?

Phá sản là gì?

Phá sản là tình trạng của doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ chức tín dụng mất khả năng thanh toán và có quyết định tuyên bố phá sản từ tòa án nhân dân có thẩm quyền. Mất khả năng thanh toán được hiểu là doanh nghiệp không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày đến hạn thanh toán.

Yêu cầu mở thủ tục phá sản

Pháp luật quy định chi tiết các chủ thể có quyền, nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đến tòa án nhân dân có thẩm quyền. 

Khi nào được nộp đơn yêu cầu 

Thông qua hướng dẫn tại Điều 98 Luật Phá sản 2014, sau khi Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có văn bản chấm dứt kiểm soát đặc biệt hoặc văn bản chấm dứt áp dụng hoặc không áp dụng biện pháp phục hồi khả năng thanh toán mà tổ chức tín dụng vẫn mất khả năng thanh toán, các chủ thể sau có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản:

Chủ nợ không có bảo đảm, chủ nợ có bảo đảm một phần

Người lao động, công đoàn cơ sở, công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở ở những nơi chưa thành lập công đoàn cơ sở 

Cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu từ 20% số cổ phần phổ thông trở lên trong thời gian liên tục ít nhất 06 tháng

Thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản theo luật phá sản ngân hàng

Theo quy định tại Điều 99 Luật Phá sản 2014: “Tòa án nhân dân thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản tổ chức tín dụng khi đã có văn bản chấm dứt kiểm soát đặc biệt hoặc văn bản chấm dứt áp dụng hoặc không áp dụng biện pháp phục hồi khả năng thanh toán của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam mà tổ chức tín dụng vẫn mất khả năng thanh toán.”

Xử lý tài sản của ngân hàng khi bị phá sản

Nguyên tắc xử lý tài sản khi ngân hàng phá sản

Theo luật phá sản ngân hàng được vay đặc biệt của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam mà bị tuyên bố phá sản thì phải hoàn trả khoản vay đặc biệt này cho Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, tổ chức tín dụng khác trước khi thực hiện việc phân chia tài sản.

Thứ tự phân chia tài sản

Điều 101 Luật Phá sản 2014 có hướng dẫn chi tiết về việc chia tài sản khi phá sản của ngân hàng như sau:

“1. Việc phân chia giá trị tài sản của tổ chức tín dụng thực hiện theo thứ tự như sau:

a) Chi phí phá sản;

b) Khoản nợ lương, trợ cấp thôi việc, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế đối với người lao động, quyền lợi khác theo hợp đồng lao động và thỏa ước lao động tập thể đã ký kết;

c) Khoản tiền gửi; khoản tiền tổ chức bảo hiểm tiền gửi phải trả cho người gửi tiền tại tổ chức tín dụng phá sản theo quy định của pháp luật về bảo hiểm tiền gửi và hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam;

d) Nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước; khoản nợ không có bảo đảm phải trả cho chủ nợ trong danh sách chủ nợ; khoản nợ có bảo đảm chưa được thanh toán do giá trị tài sản bảo đảm không đủ thanh toán nợ.

2. Trường hợp giá trị tài sản của tổ chức tín dụng sau khi đã thanh toán đủ khoản nợ quy định tại khoản 1 Điều này mà vẫn còn thì phần còn lại này thuộc về:

a) Thành viên của tổ chức tín dụng là hợp tác xã;

b) Chủ sở hữu của tổ chức tín dụng là công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên;

c) Thành viên góp vốn của tổ chức tín dụng là công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên; cổ đông của tổ chức tín dụng là công ty cổ phần.

Trường hợp giá trị tài sản không đủ để thanh toán theo quy định tại khoản 1 Điều này thì các đối tượng thuộc cùng một thứ tự ưu tiên được thanh toán theo tỷ lệ phần trăm tương ứng với số nợ.”

Trả lại tài sản nhận ủy thác, nhận giữ hộ

Ngoài việc hoàn trả các khoản vay đặc biệt và thanh lý tài sản theo quy định, ngân hàng phải trả lại những tài sản nhận ủy thác, nhận giữ hộ trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định tuyên bố phá sản cho chủ sở hữu tài sản ủy thác.

PHAN LAW VIETNAM Hotline: 0794.80.8888 – Email: info@phan.vn Liên hệ Văn phòng Luật Sư

Chia sẻ:

Pinterest

Linkedin

Thủ Tục Phá Sản Ngân Hàng Theo Luật Phá Sản 2014 / 2023

1. Cơ sở pháp lý điều chỉnh thủ tục phá sản ngân hàng

Cơ sở pháp lý điều chỉnh thủ tục phá sản ngân hàng là Luật Phá sản 2014.

2. Thủ tục phá sản ngân hàng là một thủ tục đặc biệt

Sự tồn tại và hoạt động của ngân hàng ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế, xã hội, đến lợi ích chung của cộng đồng nên việc phá sản các doanh nghiệp này cũng được pháp luật quy định một cách thận trọng, chặt chẽ. Thủ tục phá sản ngân hàng không giống thủ tục phá sản thông thường áp dụng đối với các doanh nghiệp và hợp tác xã – bạn có thể tham khảo Thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã.

3. Về thời điểm nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản ngân hàng

Việc nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với ngân hàng chỉ thực hiện sau khi Ngân hàng nhà nước có một trong các văn bản sau:

văn bản chấm dứt kiểm soát đặc biệt

văn bản chấm dứt áp dụng biện pháp phục hồi khả năng thanh toán

văn bản không áp dụng biện pháp phục hồi khả năng thanh toán…

Khi ngân hàng có nguy cơ mất khả năng thanh toán, Ngân hàng nhà nước sẽ xem xét, quyết định áp dụng biện pháp kiểm soát, đặc biệt đối với ngân hàng đó. Việc mở thủ tục phá sản đối với ngân hàng sẽ được thực hiện khi ngân hàng không có khả năng khôi phục được khả năng thanh toán.

4. Về quyền, nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản ngân hàng

Nhũng người sau đây được quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với ngân hàng:

Chủ nợ không có bảo đàm, chủ nợ có bảo đảm một phần;

Người lao động, công đoàn cơ sở, công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở ở những nơi chưa thành lập công đoàn cơ sở;

Cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu từ 20% số cổ phần phổ thông trở lên trong thời gian liên tục ít nhất 06 tháng;

Cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu dưới 20% số cổ phần phổ thông trong thời gian liên tục ít nhất 06 tháng trong trường hợp điều lệ ngân hàng có quy định;

Ngân hàng có nghĩa vụ nộp đơn yếu cầu mở thủ tục phá sản; trường hợp ngân hàng không nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản thì Ngân hàng Nhà nước Việt Nam nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sân đốị với ngân hàng đó.

5. Về thụ lí đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản ngân hàng

Toà án nhân dân thụ lí đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản ngân hàng khi đã có một trong các văn bản sau:

văn bản chấm dứt kiểm soát đặc biệt

văn bản chấm dứt áp dụng hoặc không áp dụng biện pháp phục hồi khả năng thanh toán của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

mà ngân hàng vẫn mất khả năng thanh toán.

6. Về hoàn trả khoản vay đặc biệt trong thủ tục phá sản ngân hàng

Nếu ngân hàng bị tuyên bổ phá sản có khoản vay đặc biệt của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, ngân hàng khác theo quy định của Luật Các ngân hàng thì phải hoàn trả khoản vay đặc biệt trước khi thực hiện phân chia tài sản theo quy định.

7. Về hoàn trả tài sản gửi giữ cho khách hàng trong thủ tục phá sản ngân hàng

8. Về giao dịch cùa ngân hàng trong giai đoạn kiểm soát đặc biệt

Các giao dịch của ngân hàng thực hiện trong giai đoạn Ngân hàng Nhà nước Việt Nam áp dụng biện pháp kiểm soát đặc biệt hoặc áp dụng biện pháp phục hồi khả năng thạnh toán sẽ không áp dụng quy định về giao dịch vô hiệu, bởi đó đều là những giao dịch cần thiết cho việc đảm bảo khả năng thanh toán của ngân hàng.

9. Về thứ tự phân chia tài sản trong thủ tục phá sản ngân hàng

Việc phân chịa tài sản cua ngân hàng có những khác biệt so với doanh nghiệp, hợp tác xã thông thường. Thứ tự ưu tiên phân chia tài sản như sau:

a. Nhóm ưu tiên số 1 phân chia tài sản trong thủ tục phá sản ngân hàng

Chi phí phá sản;

Các khoản nợ tiền công, tiền lương đối với người lao động

Các khoản tiền gửi, khoản tiền tổ chức bảo hiểm tiền gửi phải trả

Các khoản nợ ngân sách nhà nước

b. Nhóm ưu tiên số 2 phân chia tài sản trong thủ tục phá sản ngân hàng

Nhóm ưu tiên số 2 gồm chủ sở hữu ngân hàng, các thành viên góp vốn là tổ chức và cá nhân.

Trường hợp giá trị tài sản không đủ để thanh toán theo quy định cho các khoản nợ theo quy định thì các đối tượng thuộc cùng một thứ tự ưu tiên được thanh toán theo tỉ lệ phần trăm tương ứng với số nợ.

10. Về quyết định tuyên bố ngân hàng phá sản

Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày Quản tài viên, doanh nghiệp quản tí, thanh lí tài sản lập xong danh sách chù nợ, danh sách người mắc nợ, bảng kê tài sản của ngân hàng, Toà án nhân dân ra quyết định tuyên bố ngân hàng phá sản.

11. Thi hành quyết định tuyên bố phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã

Các bước thi hành quyết định tuyên bố phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã là:

a) Xác định tài sản phá sản của doanh nghiệp, hợp tác xã

Bạn có thể tìm hiểu thêm khi đọc bài viết Xác định tài sản phá sản của doanh nghiệp, hợp tác xã của chúng tôi.

b) Thi hành quyểt định tuyên bố phá sản

Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định tuyên bổ phá sản, cơ quan thi hành án dân sự có ttách nhiệm ra quyết định thi hành, phân công Chấp hành viên thi hành quyết định tuyên bố phá sản.

Sau khi nhận được quyết định phân công của Thủ ttưởng cơ quan thi hành án dẫn sự, Chấp hành viên thực hiện các nhiệm vụ sau:

Mở một tài khoản tại ngân hàng đứng tên cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền thi hành quyết định tuyên bố phá sản để gửi các khoản tiền thu hồi được của doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản;

Giám sát, Quản tài viên, doanh nghiệp quản lí, thanh lí tài sàn thực hiện thanh lí tài sản;

Thực hiện cưỡng chế để thu hồi tài sần, giao tài sản cho người mua được tài sản trong vụ việc phá sản theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự;

Dựa trên báo cáo của Quản tài viên, doanh nghiệp quản lí, thanh lí tài sản về kết quả thanh lí tài sản, Chấp hành viên thực hiện phương án phân chia tài sản theo quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản. Việc phân chia tài sản phải thực hiện theo thứ tự do pháp luật quy định. Để hiểu thêm, bạn hãy đọc bài viết Thứ tự phân chi tài sản khi phá sản của chúng tôi. Nểu giá trị tài sản không đủ để thanh toán thì từng đối tượng cùng một thứ tự ưu tiên được thanh toán theo tỉ lệ phần trăm tương ứng với số nợ.

13. Dịch vụ luật sư doanh nghiệp của Luật Thái An

Trong bối cảnh kinh doanh sôi động, doanh nghiệp càng phát triển thì việc kinh doanh và quản trị doanh nghiệp càng khó khăn, phức tạp. Một trong các thách thức đối với tất cả các doanh nghiệp là bảo đảm hoạt động kinh doanh và quản trị doanh nghiệp tuân thủ các quy định của pháp luật. Làm được điều này sẽ giúp doanh nghiệp tránh được các rủi ro pháp lý như bị các cơ quan có thẩm quyền xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự, cũng như phòng ngừa ranh chấp lao động, tranh chấp nội bộ doanh nghiệp hoặc các kiện tụng từ phía khách hàng, đối tác…

Nếu bạn cần được tư vấn luật doanh nghiệp, luật đầu tư… hãy tham khảo bài viết Tư vấn pháp luật cho doanh nghiệp của chúng tôi.

Tác giả bài viết:

Tiến sỹ luật học, Luật sư Nguyễn Văn Thanh – Giám đốc Công ty luật Thái An

Thành viên Đoàn Luật sư TP. Hà Nội và Liên đoàn Luật sư Việt Nam

Lĩnh vực hành nghề chính: * Tư vấn pháp luật: Doanh nghiệp, Đầu tư, Xây dựng, Thương mại, Lao động, Dân sự, Hình sự, Đất đai, Hôn nhân và gia đình * Tố tụng và giải quyết tranh chấp: Kinh doanh thương mại, Đầu tư, Xây dựng, Lao động, Bảo hiểm, Dân sự, Hình sự, Hành chính, Đất đai, Hôn nhân và gia đình 

Việt Nam: Ý Kiến Về ‘Phá Sản Ngân Hàng’? / 2023

Một chuyên gia nói tin Việt Nam chính thức cho phá sản ngân hàng từ ngày 15/1 “hợp xu hướng quốc tế” trong lúc người khác cảnh báo “nguy cơ hiệu ứng dây chuyền.”

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Các tổ chức tín dụng chính thức có hiệu lực từ ngày 15/1, lần đầu tiên đưa ra phương án phá sản một ngân hàng để tái cấu trúc hệ thống.

Theo đó, Ngân hàng Nhà nước sẽ trình Chính phủ quyết định chủ trương phá sản ngân hàng được kiểm soát đặc biệt theo quy định tại Luật này.

‘Tín hiệu tốt’

Hôm 16/1, trả lời BBC, ông Nguyễn Việt Khoa, giảng viên Khoa Luật, Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh, nói: “Việc cho phá sản ngân hàng là phù hợp với xu hướng quốc tế, nhưng quan trọng hiện là tái cơ cấu hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam trong một thời gian dài bị lợi ích nhóm chi phối.”

“Một số ngân hàng không đủ chuẩn theo quy định của Ngân hàng Nhà nước hoặc kinh doanh không hiệu quả buộc phải hợp nhất, sáp nhập hoặc buộc phải phá sản bắt buộc.”

“Về lâu dài, tôi cho rằng quy định này mang lại tín hiệu tốt cho nền kinh tế, xoá bỏ mục đích lập ngân hàng để phục vụ lợi ích riêng và làm sân sau cũng cấp vốn cho các ông chủ công ty, tập đoàn kinh tế.”

Đề cập về những quan ngại của người đang gửi tiền tiết kiệm tại các ngân hàng Việt Nam, ông Việt Khoa cho biết: “Ban đầu, tin quy định này có hiệu lực ít nhiều ảnh hưởng đến tâm lý người gửi tiền. Tuy nhiên, hoạt động gửi tiền cũng được xem là một hoạt động kinh doanh, và ngân hàng thương mại cũng là một doanh nghiệp nên việc chịu rủi ro trong kinh doanh cũng là tất yếu.”

“Vì vậy, người gửi tiền buộc phải lựa chọn hoặc phân tán số tiền gửi vào những ngân hàng thương mại làm sao để được an toàn nhất, đó cũng là động lực buộc các ngân hàng thương mại cải tiến đặc biệt là hệ thống quản lý rủi ro để tạo niềm tin cho khách hàng.”

“Tôi cho rằng, với tình hình hiện nay tại Việt Nam, quy định cho phá sản ngân hàng thương mại chẳng ảnh hưởng nhiều đến nền kinh tế. Nền kinh tế không lo thiếu vốn khi đã có những ngân hàng nước ngoài và các quỹ đầu tư đã quen với thị trường Việt Nam.”

“Trong hàng chục năm qua, có thể nói đây là giai đoạn khởi đầu cho việc điều hành hệ thống ngân hàng mà tôi cho là tốt nhất, đi đúng quỹ đạo của nền kinh tế, và là mạch máu đúng nghĩa của nền kinh tế.”

‘Vấn đề lớn’

Trái ngược ý kiến trên, Tiến sĩ Nguyễn Văn Phú nói với Ben Ngô của BBC Tiếng Việt từ Đại học Strasbourg, Pháp:

“Việc một tổ chức tín dụng (ngân hàng) bị thua lỗ đi đến phá sản là một hiện tượng bình thường của nền kinh tế, cũng như các doanh nghiệp khác được lập ra, lớn mạnh lên, và phá sản hoặc biến mất đi vào một thời điểm nào đó.”

“Tuy nhiên, các tổ chức tín dụng lại có nhiều vai trò khác. Nó không chỉ là nơi nhận tiền gởi của khách hàng, mà có vai trò cung cấp vốn cho các hoạt động sản xuất kinh doanh, bảo hiểm.”

“Nếu một tổ chức tín dụng bị phá sản, mà là một ngân hàng lớn thì sẽ có nguy cơ gây hiệu ứng dây chuyền, có thể gây ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế.”

“Theo Luật Các tổ chức tín dụng, khi một ngân hàng bị phá sản, người dân sẽ chỉ được đền bù tối đa là 75 triệu đồng. Đó là về phía người dân. Tuy nhiên, việc phá sản này sẽ gây khó khăn cho các doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp ký gởi tiền hoặc là chủ sở hữu/cổ đông ở đây. Ngoài ra, khi một ngân hàng bị phá sản, nguy cơ là các ngân hàng khác cũng bị liên đới, chẳng hạn vì có sở hữu chéo. Những điều này sẽ gây hiệu ứng dây chuyền và ảnh hưởng rộng lên các hoạt động kinh tế.”

Ông Nguyễn Văn Phú nói thêm: “Tất nhiên, có luật về phá sản của các ngân hàng là tốt, nhưng cho phép một ngân hàng phá sản trên thực tế sẽ là vấn đề lớn trong tình hình hiện nay.”

“Việt Nam nên nghiên cứu kỹ các kinh nghiệm trên thế giới. Ví dụ như qua cuộc khủng hoảng toàn cầu vừa qua, bắt đầu từ việc phá sản của ngân hàng Lehman Brothers năm 2008 ở Hoa Kỳ. Nền kinh tế Iceland bị khủng hoảng trầm trọng khi ba ngân hàng lớn bị phá sản và phải bị quốc hữu hóa, dẫn đến việc nước này nằm trên bờ vực phá sản.”

“Trường hợp của Hy Lạp và Tây Ban Nha trong đợt khủng hoảng vừa qua cũng gần như vậy.”

Theo ông Phú, “Trong trường hợp của Việt Nam, trong khi thông tin thiếu minh bạch, hay nói cách khác là thông tin bất đối xứng, tin đồn có ảnh hưởng rất lớn, việc cho một ngân hàng phá sản là việc phải rất cẩn thận. Cần phải xem xét quy mô của việc này, xem xét ảnh hưởng có thể có lên người dân và doanh nghiệp, nhất là trong môi trường thông tin thiếu minh bạch.”

“Ngoài ra, cũng cần lưu ý là việc cho phá sản một ngân hàng nhiều khi không thực hiện được vì những lý do nêu trên, nên nhà nước phải can thiệp, như là quốc hữu hóa. Đã có tiền lệ là Ngân hàng Nhà nước mua ba ngân hàng GPBank, OceanBank và CBBank với giá 0 đồng. Do đó cần đánh giá hệ lụy có thể có lên ngân sách nhà nước và nợ công của việc quốc hữu hóa các ngân hàng này.”

Liệu việc cho phá sản ngân hàng có thể giúp ngăn ngừa cuộc khủng hoảng ngành tài chính Việt Nam trong tương lai?

Ông Nguyễn Việt Khoa chia sẻ thêm với BBC: “Giá như, quy định cho phá sản ngân hàng có hiệu lực sớm hơn, nghĩa là nếu lãnh đạo Ngân hàng Nhà nước cầu thị trước các ý kiến của các chuyên gia và không bị lợi ích nhóm chi phối thì hàng ngàn tổ chức, cá nhân đã không bị mất tiền oan trước quyết định mua ngân hàng thương mại không đồng, hay việc yêu cầu cổ đông phải ủy quyền không hủy ngang tất cả các cổ phần cho Ngân hàng Nhà nước.”

“Có thể nói hai quyết định trước đây của Ngân hàng Nhà nước nằm ngoài khía cạnh luật pháp để lại hậu quả là hàng nghìn cán bộ, nhân viên ngân hàng thương mại phải đứng trước vành móng ngựa và ít nhiều góp phần làm quá tải nhà tù hiện nay.”

“Và đây có thể nói là một bài học đắt giá trong việc điều hành chính sách, nhưng về lâu dài, Luật Các tổ chức tín dụng cần sửa đổi theo hướng đặt vị trí Ngân hàng Nhà nước độc lập với cơ quan hành pháp, nghĩa là thống đốc trực thuộc Quốc hội và không bị chi phối bởi việc điều hành kinh tế của Chính phủ.”

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật các Tổ chức tín dụng được Quốc hội Việt Nam thông qua hồi tháng 11/2017.

Luật này chính thức có hiệu lực thi hành kể từ 15/01/2018.

Có Luật Cũng Không Dễ Cho Ngân Hàng Phá Sản / 2023

Có luật cũng không dễ cho ngân hàng phá sản

Luật Phá sản mới được Quốc hội thông qua đã dành một chương quy định về thủ tục phá sản của tổ chức tín dụng (TCTD). Nhiều người kỳ vọng điều này sẽ thúc đẩy nhanh quá trình tái cấu trúc hệ thống ngân hàng. Tuy nhiên, thực tế cho thấy cho phá sản đúng nghĩa một TCTD nào đó ở Việt Nam là điều không hề dễ dàng.

* Ngân hàng “thua lỗ thì nhập lại, không cho phá sản”

Nhìn lại quá khứ

Từ trước đến nay, Việt Nam chưa ghi nhận việc một ngân hàng nào bị tòa tuyên bố phá sản. Vào những năm 1990 cũng đã có một đợt tái cấu trúc hệ thống ngân hàng mạnh mẽ khi hệ thống tài chính gặp khó khăn. Rất nhiều ngân hàng bị sáp nhập, hợp nhất, giải thể và chuyển nhượng. Sau giai đoạn này số lượng ngân hàng thương mại giảm từ 51 xuống chỉ còn 39 vào năm 2001.

Năm 2008, hệ thống tài chính Việt Nam một lần nữa đối mặt với khủng hoảng. Không ít ngân hàng rơi vào tình trạng bị kiểm soát đặc biệt. Nhiều vụ sáp nhập ngân hàng của Việt Nam vừa qua về danh nghĩa là theo tinh thần “tự nguyện” nhưng thực chất là cách duy nhất để cứu những ngân hàng này.

Đơn cử, việc Habubank sáp nhập SHB được xem là cách tốt nhất để cứu ngân hàng này khỏi sụp đổ. Báo cáo giám sát đặc biệt của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cho thấy vốn chủ sở hữu của Habubank chỉ còn hơn 195 tỉ đồng, trong khi báo cáo tài chính đã được kiểm toán 2011 vẫn ghi nhận vốn chủ sở hữu là 4.051 tỉ đồng. Habubank gần như mất hoàn toàn khả năng thanh toán. Trước đó, ba ngân hàng bị mất thanh khoản trầm trọng gồm Ngân hàng TMCP Sài Gòn ( SCB), Ngân hàng TMCP Đệ Nhất (FicomBank) và Ngân hàng TMCP Việt Nam Tín Nghĩa (TinnghiaBank) cũng đã hợp nhất để tránh sụp đổ. Ngoài hai thương vụ đình đám này thì cũng có một loạt những cuộc sáp nhập khác diễn ra gần đây.

Liệu ngân hàng Việt Nam có thể thực sự phá sản?

Luật Phá sản sửa đổi năm 2014 đã dành ra một chương quy định về thủ tục phá sản TCTD. Trước đó, dù không có những quy định dành riêng cho TCTD nhưng Luật Phá sản năm 2004 cũng đã bao trùm những quy định việc phá sản của TCTD. Tiếp theo, Nghị định số 05/2010/NĐ-CP ban hành ngày 18-1-2010 hướng dẫn Luật Phá sản 2004 quy định chi tiết thủ tục phá sản TCTD. Như vậy, có thể xem hành lang pháp lý cho việc phá sản ngân hàng cũng đã có từ trước.

Quyền lợi các nhóm lợi ích đan xen và sự thiếu quyết liệt của NHNN đã khiến cho “sức khỏe” thực sự của hệ thống ngân hàng vẫn nằm trong “hộp đen” và chỉ lộ diện khi nào mà NHNN công bố “báo cáo giám sát đặc biệt”.

Tuy nhiên, từ quy định của pháp luật đến thực thi trên thực tế thường là một khoảng cách rất lớn. Luật Phá sản sau 10 năm chính thức ra đời nhưng số vụ phá sản mà tòa tuyên bố chỉ có 83 trường hợp trong số 336 đơn yêu cầu tuyên bố phá sản. Trong khi đó, theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, chỉ riêng năm 2013 đã có tới 60.737 doanh nghiệp dừng hoạt động. Như vậy, trong 10 năm qua đã có tới hàng trăm ngàn doanh nghiệp về thực chất đã phá sản nhưng số vụ phá sản được tòa tuyên chưa đến 1%. Nguyên nhân, không chỉ do sự hạn chế của hệ thống pháp luật mà còn do sự yếu kém của việc thực thi.

Trong khi đó, so với doanh nghiệp bình thường thì việc phá sản của ngân hàng phức tạp và mức độ ảnh hưởng lớn hơn rất nhiều. Ngoài ra, thủ tục phá sản, định giá, thanh lý tài sản có thể phức tạp vượt khả năng kiểm soát và kinh nghiệm xử lý của cơ quan quản lý của Việt Nam hiện nay. Do vậy, việc thực thi các thủ tục và xử lý phá sản ngân hàng ở Việt Nam không hề dễ dàng.

Một nguyên nhân nữa khiến cho việc phá sản ngân hàng ở Việt Nam khó diễn ra là sự mập mờ, kém minh bạch. Nếu như số liệu nợ xấu vào khoảng 15% như dự đoán của một số tổ chức nước ngoài thì trên thực tế nhiều tổ chức tín dụng đã âm vốn chủ sở hữu và đã phá sản về mặt kỹ thuật. Trong khi đó, theo số liệu báo cáo của các TCTD, thì nợ xấu hiện nay chưa đến 4%, tức là vẫn an toàn. Quyền lợi các nhóm lợi ích đan xen và sự thiếu quyết liệt của NHNN đã khiến cho “sức khỏe” thực sự của hệ thống ngân hàng vẫn nằm trong “hộp đen” và chỉ lộ diện khi nào mà NHNN công bố “báo cáo giám sát đặc biệt”. Do đó, không có mấy sức ép để phá sản tái cấu trúc theo cơ chế thị trường đúng nghĩa.

Như vậy, việc phá sản ngân hàng ở Việt Nam là một điều gần như không thể xảy ra. Những ngân hàng yếu kém sẽ tiếp tục được xử lý bằng cách sáp nhập, hợp nhất hoặc tự tái cấu trúc. Tuy nhiên, quá trình này cũng sẽ diễn ra một cách chậm chạp.

Hồ Bá Tình

tbktsg