Quyết Định Giải Quyết Khiếu Nại Có Hiệu Lực Pháp Luật / TOP #10 ❤️ Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 8/2022 ❣️ Top View | Bac.edu.vn

Quyết Định Giải Quyết Khiếu Nại Có Hiệu Lực Pháp Luật

Hoàn Thiện Quy Định Về Việc Thi Hành Quyết Định Giải Quyết Khiếu Nại Hành Chính Có Hiệu Lực Pháp Luật

Bàn Về Giải Quyết Khiếu Nại Cáo Trạng, Quyết Định Truy Tố Của Viện Kiểm Sát Theo Quy Định Của Bộ Luật Tố Tụng Hình Sự Năm 2022

Khiếu Nại Cáo Trạng Và Việc Giải Quyết Khiếu Nại Cáo Trạng Của Viện Kiểm Sát

Thẩm Quyền, Thời Hạn Giải Quyết Khiếu Nại Trong Hoạt Động Tư Pháp Của Viện Kiểm Sát

Vksnd Tỉnh Huỷ Bỏ Quyết Định Giải Quyết Khiếu Nại Của Vksnd Cấp Huyện Do Chưa Thực Hiện Đúng Trình Tự Và Thẩm Quyền Theo Quy Định

Tôi gởi đơn khiếu nại đến cơ quan có thẩm quyền ở cấp huyện, cấp tỉnh, nhưng tôi thấy việc trả lời chưa thỏa đáng. Vậy tôi có khiếu nại tiếp được không?

Theo Luật Khiếu nại năm 2011, khiếu nại là việc công dân, cơ quan, tổ chức hoặc cán bộ, công chức theo thủ tục do Luật này quy định, đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan hành chính Nhà nước, của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính Nhà nước hoặc quyết định kỷ luật cán bộ, công chức khi có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình.

Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền có trách nhiệm tiếp nhận xem xét, giải quyết khiếu nại của tổ chức, công dân theo đúng thẩm quyền, thời hạn do Luật định. Khi quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực pháp luật thì người khiếu nại, người bị khiếu nại đều có nghĩa vụ chấp hành thực hiện theo quyết định.

Theo Điều 44 Luật Khiếu nại, về quyết định giải quyết khiếu nại có hiệu lực pháp luật như sau:

1. Quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu có hiệu lực pháp luật sau 30 ngày, kể từ ngày ban hành mà người khiếu nại không khiếu nại lần hai; đối với vùng sâu, vùng xa đi lại khó khăn thì thời hạn có thể kéo dài hơn nhưng không quá 45 ngày.

2. Quyết định giải quyết khiếu nại lần hai có hiệu lực pháp luật sau 30 ngày, kể từ ngày ban hành; đối với vùng sâu, vùng xa đi lại khó khăn thì thời hạn có thể kéo dài hơn nhưng không quá 45 ngày.

3. Trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại thì có quyền khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật Tố tụng hành chính.

4. Quyết định giải quyết khiếu nại có hiệu lực pháp luật có hiệu lực thi hành ngay.

Theo quy định trên, nếu cơ quan có thẩm quyền ở cấp huyện, cấp tỉnh đã giải quyết khiếu nại và quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực pháp luật thì ông phải có nghĩa vụ chấp hành theo quyết định.

Thi Hành Quyết Định Giải Quyết Khiếu Nại Có Hiệu Lực Pháp Luật

Quyết Định Giải Quyết Khiếu Nại Cuối Cùng Của Ubnd Tỉnh, Vì Sao Không Được Thi Hành?

Giải Quyết Khiếu Nại Trong Tố Tụng Dân Sự: Còn Nhiều Lỗ Hổng Cần Bổ Sung

“quyết Định Giải Quyết Khiếu Nại Cuối Cùng” Chưa Phải Cuối

Xem Xét Lại Quyết Định Giải Quyết Khiếu Nại Cuối Cùng?

Thi Hành Quyết Định Giải Quyết Khiếu Nại Có Hiệu Lực Pháp Luật

Quyết Định Giải Quyết Khiếu Nại Có Hiệu Lực Pháp Luật

Hoàn Thiện Quy Định Về Việc Thi Hành Quyết Định Giải Quyết Khiếu Nại Hành Chính Có Hiệu Lực Pháp Luật

Bàn Về Giải Quyết Khiếu Nại Cáo Trạng, Quyết Định Truy Tố Của Viện Kiểm Sát Theo Quy Định Của Bộ Luật Tố Tụng Hình Sự Năm 2022

Khiếu Nại Cáo Trạng Và Việc Giải Quyết Khiếu Nại Cáo Trạng Của Viện Kiểm Sát

Thẩm Quyền, Thời Hạn Giải Quyết Khiếu Nại Trong Hoạt Động Tư Pháp Của Viện Kiểm Sát

Thi hành quyết định giải quyết khiếu nại có hiệu lực pháp luật. Quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu có hiệu lực pháp luật sau 30 ngày, kể từ ngày

THI HÀNH QUYẾT ĐỊNH GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI CÓ HIỆU LỰC PHÁP LUẬT

Những người có trách nhiệm thực hiện và thi hành quyết định giải quyết khiếu nại có hiệu lực pháp luật.

Quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu có hiệu lực pháp luật sau 30 ngày, kể từ ngày ban hành mà người khiếu nại không khiếu nại lần hai; đối với vùng sâu, vùng xa đi lại khó khăn thì thời hạn có thể kéo dài hơn nhưng không quá 45 ngày.

Quyết định giải quyết khiếu nại lần hai có hiệu lực pháp luật sau 30 ngày, kể từ ngày ban hành; đối với vùng sâu, vùng xa đi lại khó khăn thì thời hạn có thể kếo dài hơn nhưng không quá 45 ngày.

Quyết định giải quyết khiếu nại có hiệu lực pháp luật có hiệu lực thi hành ngay. Trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại thì có quyền khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật tố tụng hành chính.

Người có trách nhiệm thực hiện và thi hành quyết định giải quyết khiếu nại có hiệu lực pháp luật

a. Người giải quyết khiếu nại

Trách nhiệm của người giải quyết khiếu nại trong việc thi hành quyết định giải quyết khiếu nại có hiệu lực pháp luật:

Căn cứ vào nội dung khiếu nại, chức năng quản lý nhà nước, người giải quyết khiếu nại giao cho cơ quan chuyên môn hoặc cơ quan hành chính nhà nước cấp dưới tổ chức thi hành quyết định giải quyết khiếu nại có hiệu lực pháp luật. Việc giao nhiệm vụ được thực hiện bằng văn bản.

Có trách nhiệm theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thi hành quyết định giải quyết khiếu nại có hiệu lực pháp luật; kịp thời xử lý các vướng mắc phát sinh trong quá trình thi hành hoặc kiến nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xử lý.

Người khiếu nại có trách nhiệm trong việc thi hành quyết định giải quyết khiếu nại có hiệu lực pháp luật như sau:

Phối hợp với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền khôi phục quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị quyết định hành chính, hành vi hành chính trái pháp luật xâm phạm (nếu có).

Chấp hành quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khiếu nại nếu quyết định hành chính, hành vi hành chính được người có thẩm quyền kết luận là đúng pháp luật.

Chấp hành các quyết định của cơ quan có thẩm quyền để thực hiện quyết định giải quyết khiếu nại có hiệu lực pháp luật.

Trách nhiệm của người bị khiếu nại trong việc thi hành quyết định giải quyết khiếu nại có hiệu lực pháp luật gồm có:

Ban hành văn bản để thực hiện quyết định giải quyết khiếu nại khi quyết định giải quyết khiếu nại sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ một phần hoặc toàn bộ quyết định hành chính.

Khi quyết định giải quyết khiếu nại kết luận quyết định hành chính là đúng pháp luật, yêu cầu người khiếu nại chấp hành quyết định đó. Trường hợp quyết định giải quyết khiếu nại kết luận quyết định hành chính là trái pháp luật, phải sửa đổi, bổ sung, thay thế quyết định hành chính, đồng thời khôi phục quyền và lợi ích hợp pháp của người khiếu nại.

Khi quyết định giải quyết khiếu nại kết luận hành vi hành chính là đúng pháp luật, yêu cầu người khiếu nại chấp hành. Trường hợp quyết định giải quyết khiếu nại kết luận hành vi hành chính là trái pháp luật, phải chấm dứt hành vi đó.

Tổ chức việc cưỡng chế thi hành quyết định hành chính theo quy định của pháp luật.

Cộng tác với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền trong việc khôi phục quyền, lợi ích hợp pháp của người khiếu nại; khôi phục quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị quyết định hành chính, hành vi hành chính trái pháp luật xâm phạm.

– Quyền và nghĩa vụ của người khiếu nại

– Thẩm quyền giải quyết khiếu nại theo Luật khiếu nại hiện hành

Nếu còn bất cứ vướng mắc nào, bạn vui lòng liên hệ tới Tổng đài tư vấn luật hành chính miễn phí 24/7 :19006500 để gặp trực tiếp luật sư tư vấn và để yêu cầu cung cấp dịch vụ. Hoặc Gửi nội dung tư vấn qua Email: lienhe@luattoanquoc.com. Chúng tôi luôn mong nhận được ý kiến đóng góp để chúng tôi ngày càng trở lên chuyên nghiệp hơn!

Xin chân thành cảm ơn sự đồng hành của quý khách hàng./.

Quyết Định Giải Quyết Khiếu Nại Cuối Cùng Của Ubnd Tỉnh, Vì Sao Không Được Thi Hành?

Giải Quyết Khiếu Nại Trong Tố Tụng Dân Sự: Còn Nhiều Lỗ Hổng Cần Bổ Sung

“quyết Định Giải Quyết Khiếu Nại Cuối Cùng” Chưa Phải Cuối

Xem Xét Lại Quyết Định Giải Quyết Khiếu Nại Cuối Cùng?

Một Số Quy Định Về Giải Quyết Khiếu Nại Trong Tòa Án Nhân Dân Đáng Chú Ý

Quyết Định Về Quy Trình Giải Quyết Khiếu Nại Kiểm Tra Quyết Định Giải Quyết Khiếu Nại Đã Có Hiệu Lực

Giải Quyết Khiếu Nại Trong Tòa Án Nhân Dân

Quyền Khiếu Nại Các Quyết Định Của Tòa Án Trong Quá Trình Xét Xử Sơ Thẩm

Hiểu Sao Về Quyết Định Giải Quyết Khiếu Nại Cuối Cùng?

Một Số Quy Định Về Giải Quyết Khiếu Nại Trong Tòa Án Nhân Dân Đáng Chú Ý

Xem Xét Lại Quyết Định Giải Quyết Khiếu Nại Cuối Cùng?

BAN HÀNH QUY TRÌNH GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO, KIỂM TRA QUYẾT ĐỊNH GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI ĐÃ CÓ HIỆU LỰC PHÁP LUẬT VÀ KIỂM SÁT VIỆC GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO TRONG HOẠT ĐỘNG TƯ PHÁP

VIỆN TRƯỞNG VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỐI CAO – Căn cứ Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014; – Xét đề nghị của Vụ trưởng Vụ Kiểm sát và giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp, QUYẾT ĐỊNH:

Ban hành kèm theo Quyết định này Quy trình giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiểm tra quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực pháp luật và kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp thuộc thẩm quyền của Viện kiểm sát.

Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký.

Thủ trưởng các đơn vị thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện trưởng các Viện kiểm sát nhân dân cấp cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân các quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và Viện trưởng Viện kiểm sát Quân sự các cấp chịu trách nhiệm thi hành quyết định này.

QUY TRÌNH

GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO, KIỂM TRA QUYẾT ĐỊNH GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI ĐÃ CÓ HIỆU LỰC PHÁP LUẬT VÀ KIỂM SÁT VIỆC GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO TRONG HOẠT ĐỘNG TƯ PHÁP (Ban hành kèm theo Quyết định số…, ngày…tháng…năm 2022)

Chương I NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Quy trình này quy định trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiểm tra quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực pháp luật và kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp thuộc thẩm quyền của Viện kiểm sát.

Điều 2. Đối tượng áp dụng

1. Viện kiểm sát các cấp, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên và công chức thuộc Viện kiểm sát các cấp được giao nhiệm vụ giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiểm tra quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực pháp luật và kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp.

Việc giải quyết khiếu nại, tố cáo và kiểm tra quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực pháp luật phải bảo đảm kịp thời, chính xác, khách quan, đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục, thời hạn theo quy định của pháp luật và quy chế của Ngành; bảo vệ lợi ích của Nhà nước, tập thể, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.

Viện kiểm sát tiến hành kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp khi có khiếu nại, tố cáo, hoặc phát hiện việc giải quyết khiếu nại, tố cáo có dấu hiệu vi phạm pháp luật, hoặc theo yêu cầu của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.

Việc ban hành văn bản trong giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiểm tra quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực pháp luật và kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp thực hiện theo mẫu quy định của Ngành.

Điều 4. Giải thích từ ngữ

2. Đơn vị kiểm sát và giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp, sau đây gọi tắt là “đơn vị 12”.

3. Quyết định số 51/QĐ-VKSTC-V12 ngày 02/02/2016 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao ban hành Quy chế tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp, sau đây gọi tắt là “Quy chế số 51”.

Chương II QUY TRÌNH GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI VÀ KIỂM TRA QUYẾT ĐỊNH GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI ĐÃ CÓ HIỆU LỰC PHÁP LUẬT Điều 5. Kiểm tra điều kiện thụ lý và thông báo việc thụ lý

1. Trước khi thụ lý, Viện kiểm sát có thẩm quyền phải tiến hành kiểm tra điều kiện thụ lý khiếu nại, gồm các nội dung sau:

a) Hình thức, nội dung khiếu nại;

b) Thời hiệu khiếu nại;

c) Chủ thể khiếu nại;

d) Thẩm quyền giải quyết khiếu nại;

đ) Hiệu lực của quyết định, hành vi bị khiếu nại.

2. Trong thời hạn 03 ngày, kể từ ngày nhận được khiếu nại đủ điều kiện thụ lý, Viện kiểm sát có thẩm quyền phải thụ lý để giải quyết và thông báo việc thụ lý bằng văn bản đến người khiếu nại. Đối với khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng trong việc giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bắt, tạm giữ, tạm giam thì việc thụ lý và thông báo việc thụ lý trong thời hạn 08 giờ, kể từ khi nhận được khiếu nại.

Trường hợp không thụ lý giải quyết thì phải nêu rõ lý do trong văn bản thông báo cho người khiếu nại.

Thời hạn yêu cầu giải trình, cung cấp hồ sơ, tài liệu không vượt quá thời hạn giải quyết khiếu nại.

2. Qua nghiên cứu nội dung đơn khiếu nại, thông tin, tài liệu, chứng cứ do người khiếu nại cung cấp, hồ sơ, tài liệu và văn bản giải trình của người bị khiếu nại, nếu thấy quyết định, hành vi tố tụng, quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu là đúng quy định của pháp luật thì người giải quyết khiếu nại ra quyết định giải quyết khiếu nại ngay. Nếu thấy chưa đủ căn cứ cho việc giải quyết khiếu nại thì tiến hành xác minh nội dung khiếu nại.

Điều 7. Quyết định xác minh, kế hoạch xác minh

1. Người giải quyết khiếu nại trực tiếp xác minh hoặc ra quyết định phân công người tiến hành xác minh nội dung khiếu nại. Khi cần thiết, người giải quyết khiếu nại quyết định thành lập Đoàn xác minh hoặc Tổ xác minh nội dung khiếu nại (sau đây gọi chung là Tổ xác minh).

2. Người được phân công xác minh nội dung khiếu nại phải lập kế hoạch xác minh trình người có thẩm quyền phê duyệt; trường hợp thành lập Tổ xác minh thì Tổ trưởng Tổ xác minh có trách nhiệm lập kế hoạch xác minh.

3. Trong trường hợp thời hạn xác minh đã hết, nội dung xác minh chưa thực hiện xong, người giải quyết khiếu nại xem xét gia hạn thời hạn xác minh; thời hạn gia hạn không vượt quá thời hạn giải quyết khiếu nại theo quy định của pháp luật.

Điều 8. Xác minh nội dung khiếu nại

1. Công bố quyết định phân công xác minh nội dung khiếu nại

Người được phân công xác minh hoặc Tổ trưởng Tổ xác minh thực hiện việc công bố quyết định phân công xác minh nội dung khiếu nại tại cơ quan, đơn vị của người bị khiếu nại hoặc tại trụ sở cơ quan, đơn vị nơi phát sinh khiếu nại. Việc công bố quyết định phân công xác minh nội dung khiếu nại phải được lập biên bản.

2. Làm việc với người khiếu nại

Trong trường hợp nội dung đơn khiếu nại chưa rõ và thông tin, tài liệu, chứng cứ do người khiếu nại cung cấp chưa đầy đủ, người giải quyết khiếu nại hoặc người được phân công xác minh nội dung khiếu nại làm việc trực tiếp với người khiếu nại hoặc người đại diện, người được ủy quyền, luật sư, trợ giúp viên pháp lý của người khiếu nại để làm rõ nội dung khiếu nại. Nội dung làm việc phải được lập biên bản.

Trường hợp không làm việc trực tiếp với người khiếu nại vì lý do khách quan, người giải quyết khiếu nại hoặc người được phân công xác minh có văn bản yêu cầu người khiếu nại hoặc người đại diện, người được ủy quyền, luật sư, trợ giúp viên pháp lý của người khiếu nại cung cấp bổ sung thông tin, tài liệu, chứng cứ để làm rõ nội dung khiếu nại. Thời hạn yêu cầu cung cấp thông tin, tài liệu, chứng cứ không vượt quá thời hạn giải quyết khiếu nại theo quy định của pháp luật.

3. Làm việc với người bị khiếu nại

Trường hợp không làm việc trực tiếp với người bị khiếu nại vì lý do khách quan, người giải quyết khiếu nại hoặc người được phân công xác minh nội dung khiếu nại có văn bản yêu cầu người bị khiếu nại giải trình bổ sung bằng văn bản. Thời hạn yêu cầu giải trình bổ sung và cung cấp tài liệu, chứng cứ phải trong thời hạn giải quyết khiếu nại theo quy định của pháp luật.

6. Trưng cầu giám định, giám định lại

7. Tổ chức đối thoại

8. Trong quá trình giải quyết khiếu nại, người khiếu nại rút khiếu nại ở bất kỳ giai đoạn nào, người giải quyết khiếu nại ban hành quyết định đình chỉ việc giải quyết khiếu nại và thông báo cho người khiếu nại, người bị khiếu nại biết. Trong quyết định đình chỉ giải quyết khiếu nại phải nêu rõ lý do ra quyết định đình chỉ.

Điều 9. Báo cáo kết quả xác minh

1. Kết thúc việc xác minh nội dung khiếu nại, người được phân công xác minh hoặc Tổ trưởng Tổ xác minh phải có văn bản báo cáo kết quả xác minh và đề xuất giải quyết khiếu nại trình người có thẩm quyền phê duyệt.

2. Đối với những vụ, việc phức tạp mà người được phân công xác minh nội dung khiếu nại thuộc nhiều đơn vị nghiệp vụ tham gia thì các thành viên được phân công phải báo cáo lãnh đạo đơn vị nghiệp vụ của mình có quan điểm chính thức bằng văn bản gửi cho đơn vị chủ trì để tổng hợp báo cáo chung.

3. Trường hợp xác minh để giải quyết khiếu nại lần thứ hai, báo cáo kết quả xác minh phải nêu rõ những nội dung vi phạm và đề xuất việc xử lý đối với cơ quan, đơn vị, cá nhân có hành vi vi phạm trong quá trình giải quyết khiếu nại trước đó (nếu có).

Điều 10. Ban hành quyết định giải quyết khiếu nại

1. Căn cứ quy định của pháp luật, kết quả xác minh, kết quả đối thoại (nếu có), người giải quyết khiếu nại ban hành quyết định giải quyết khiếu nại.

3. Kiến nghị biện pháp phòng ngừa vi phạm và kiến nghị xử lý vi phạm

Qua giải quyết khiếu nại, nếu phát hiện vi phạm nghiêm trọng trong hoạt động tư pháp, ngoài việc ra quyết định hủy hoặc yêu cầu người có thẩm quyền hủy quyết định trái pháp luật, người giải quyết khiếu nại kiến nghị cơ quan có thẩm quyền thực hiện các biện pháp phòng ngừa vi phạm và xử lý đối với người có hành vi vi phạm.

Điều 12. Kiểm tra điều kiện thụ lý Điều 13. Ban hành quyết định kiểm tra, quyết định phân công kiểm tra và Kế hoạch kiểm tra

Sau khi kiểm tra đơn thấy đủ điều kiện thụ lý, Viện trưởng Viện kiểm sát có thẩm quyền ban hành quyết định kiểm tra, quyết định phân công kiểm tra quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực pháp luật.

Người được phân công kiểm tra phải xây dựng kế hoạch kiểm tra trình người có thẩm quyền phê duyệt.

Điều 15. Nội dung kiểm tra

Trên cơ sở đơn đề nghị kiểm tra, các thông tin, tài liệu, chứng cứ do người có đơn đề nghị kiểm tra cung cấp và văn bản giải trình, hồ sơ, tài liệu giải quyết khiếu nại của cơ quan, người có thẩm quyền ban hành quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực pháp luật cung cấp, người có thẩm quyền kiểm tra hoặc người được phân công kiểm tra tiến hành kiểm tra về các nội dung sau:

1. Kiểm tra nội dung đơn đề nghị và những thông tin, tài liệu, chứng cứ do người đề nghị kiểm tra đã cung cấp để chứng minh cho nội dung đề nghị;

2. Kiểm tra về thẩm quyền giải quyết khiếu nại; trình tự, thủ tục thụ lý, thông báo thụ lý khiếu nại; thời hạn giải quyết khiếu nại; hình thức văn bản giải quyết khiếu nại; việc gửi văn bản giải quyết cho người khiếu nại, người bị khiếu nại; việc lập hồ sơ giải quyết khiếu nại.

2. Kiểm tra nội dung văn bản giải trình, các tài liệu, chứng cứ mà cơ quan, người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại đã dùng làm căn cứ để ban hành quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực pháp luật.

Điều 16. Kết thúc kiểm tra

1. Căn cứ kết quả kiểm tra và các thông tin, tài liệu, chứng cứ đã thu thập được, người được phân công kiểm tra báo cáo bằng văn bản kết quả kiểm, đề xuất nội dung kết luận kiểm tra trình người có thẩm quyền quyết định. Căn cứ kết quả kiểm tra đã được phê duyệt, người được phân công kiểm tra dự thảo kết luận kiểm tra quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực pháp luật và văn bản thông báo kết quả kiểm tra để trình người có thẩm quyền ký ban hành.

2. Trường hợp quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực pháp luật có vi phạm nghiêm trọng, vụ việc có dấu hiệu oan, sai hoặc có tình tiết mới làm thay đổi cơ bản về nội dung giải quyết khiếu nại trước đó thì ngoài việc ban hành kết luận kiểm tra còn phải ban hành quyết định hủy bỏ quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực pháp luật. Đối với các quyết định tố tụng có vi phạm pháp luật thì tùy từng lĩnh vực cụ thể, Viện kiểm sát có thẩm quyền kiểm tra căn cứ quy định của pháp luật, ban hành quyết định hủy bỏ hoặc yêu cầu cơ quan có thẩm quyền hủy bỏ để tiến hành giải quyết lại hoặc ban hành quyết định tố tụng theo đúng quy định của pháp luật.

Chương III QUY TRÌNH GIẢI QUYẾT TỐ CÁO Điều 18. Kiểm tra điều kiện thụ lý, thông báo việc thụ lý tố cáo

1. Trước khi thụ lý, Viện kiểm sát có thẩm quyền phải tiến hành kiểm tra điều kiện thụ lý tố cáo, gồm các nội dung sau:

a) Hình thức tố cáo, thủ tục tiếp nhận tố cáo;

b) Thông tin về người tố cáo, người bị tố cáo, hành vi bị tố cáo;

c) Thẩm quyền giải quyết tố cáo;

b) Thời hiệu xử lý hành vi vi phạm bị tố cáo theo quy định của pháp luật.

2. Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được tố cáo đủ điều kiện thụ lý, Viện kiểm sát có thẩm quyền phải thụ lý để giải quyết và thông báo bằng văn bản cho người tố cáo về việc thụ lý nếu họ có yêu cầu. Đối với tố cáo quy định tại khoản 4 Điều 481 Bộ luật tố tụng hình sự thì việc thụ lý và thông báo việc thụ lý trong thời hạn 12 giờ, kể từ khi nhận được tố cáo.

Tố cáo không đủ điều kiện thụ lý thì thông báo bằng văn bản cho người tố cáo về việc không thụ lý giải quyết tố cáo.

Thời hạn yêu cầu cung cấp thông tin, tài liệu, chứng cứ và văn bản giải trình không vượt quá thời hạn giải quyết tố cáo.

2. Sau khi nghiên cứu các thông tin, tài liệu, chứng cứ và văn bản giải trình, nếu thấy hành vi bị tố cáo không vi phạm pháp luật, người giải quyết tố cáo ban hành ngay kết luận nội dung tố cáo (hoặc quyết định giải quyết tố cáo trong tố tụng hình sự), nếu chưa đủ căn cứ cho việc giải quyết thì tiến hành xác minh làm rõ nội dung tố cáo.

Điều 20. Quyết định xác minh, kế hoạch xác minh

1. Người giải quyết tố cáo trực tiếp tiến hành xác minh hoặc quyết định phân công người tiến hành xác minh nội dung tố cáo. Khi cần thiết, người giải quyết tố cáo quyết định thành lập Đoàn xác minh hoặc Tổ xác minh nội dung tố cáo (sau đây gọi chung là Tổ xác minh). Việc phân công người tiến hành xác minh nội dung tố cáo không được tiết lộ họ, tên, địa chỉ, bút tích của người tố cáo và những thông tin khác làm lộ danh tính của người tố cáo

2. Người được phân công xác minh nội dung tố cáo phải xây dựng kế hoạch xác minh, trường hợp thành lập Tổ xác minh thì Tổ trưởng có trách nhiệm lập kế hoạch xác minh trình người có thẩm quyền phê duyệt.

3. Khi thời hạn xác minh nội dung tố cáo đã hết, nhưng nội dung xác minh chưa thực hiện xong thì người giải quyết tố cáo xem xét gia hạn thời hạn xác minh. Thời hạn gia hạn xác minh không vượt quá thời hạn giải quyết tố cáo.

Điều 21. Xác minh nội dung tố cáo

1. Công bố quyết định phân công xác minh nội dung tố cáo

Người được phân công xác minh hoặc Tổ trưởng Tổ xác minh thực hiện việc giao quyết định phân công xác minh nội dung tố cáo cho người bị tố cáo hoặc tổ chức công bố quyết định phân công xác minh nội dung tố cáo tại cơ quan, đơn vị của người bị bị tố cáo. Việc giao quyết định hoặc tổ chức công bố quyết định phân công xác minh nội dung tố cáo phải được lập biên bản.

2. Làm việc với người tố cáo

Trong trường hợp nội dung đơn tố cáo chưa rõ và thông tin, tài liệu, chứng cứ do người tố cáo cung cấp chưa đầy đủ, người giải quyết tố cáo hoặc người được phân công xác minh nội dung tố cáo làm việc trực tiếp với người tố cáo, yêu cầu cung cấp bổ sung thông tin, tài liệu, chứng cứ để làm rõ nội dung tố cáo. Nội dung làm việc với người tố cáo phải được lập biên bản.

3. Làm việc với người bị tố cáo

Trường hợp không làm việc trực tiếp với người bị tố cáo vì lý do khách quan, người giải quyết tố cáo hoặc người được phân công xác minh có văn bản yêu cầu người bị tố cáo giải trình bằng văn bản về nội dung bị tố cáo và cung cấp thông tin, tài liệu, chứng cứ để làm rõ nội dung bị tố cáo và nội dung giải trình. Thời hạn yêu cầu giải trình và cung cấp thông tin, tài liệu, chứng cứ không vượt quá thời hạn giải quyết tố cáo.

5. Áp dụng biện pháp ngăn chặn, bảo vệ người tố cáo

Việc thu giữ tài liệu, vật chứng ( nếu có) phải thực hiện đúng cách thức, phương pháp thu giữ và bảo quản theo quy định của pháp luật.

8. Trong trường hợp tố cáo đã được thụ lý, người tố cáo rút tố cáo thì người giải quyết tố cáo tiến hành giải quyết tố cáo hoặc đình chỉ giải quyết theo quy định của Luật tố cáo.

Điều 22. Báo cáo kết quả xác minh

1. Kết thúc việc xác minh nội dung tố cáo, người được phân công xác minh hoặc Tổ trưởng Tổ xác minh phải có văn bản báo cáo kết quả xác minh và đề xuất giải quyết tố cáo trình người có thẩm quyền phê duyệt.

2. Đối với những vụ, việc phức tạp mà người được phân công xác minh nội dung tố cáo thuộc nhiều đơn vị nghiệp vụ tham gia thì các thành viên được phân công phải báo cáo lãnh đạo đơn vị nghiệp vụ của mình có quan điểm chính thức bằng văn bản gửi cho đơn vị chủ trì để tổng hợp báo cáo chung.

Điều 23. Ban hành kết luận nội dung tố cáo (hoặc quyết định giải quyết tố cáo trong tố tụng hình sự), quyết định xử lý hoặc kiến nghị xử lý hành vi vi phạm pháp luật

1. Căn cứ quy định của pháp luật, nội dung tố cáo và kết quả xác minh, người giải quyết tố cáo ban hành kết luận nội dung tố cáo (hoặc quyết định giải quyết tố cáo trong tố tụng hình sự).

2. Căn cứ kết luận nội dung tố cáo (hoặc quyết định giải quyết tố cáo trong tố tụng hình sự), người giải quyết tố cáo quyết định xử lý theo thẩm quyền hoặc kiến nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xử lý hành vi vi phạm theo quy định của pháp luật.

3. Qua giải quyết tố cáo, nếu phát hiện vi phạm nghiêm trọng trong hoạt động tư pháp, người giải quyết tố cáo kiến nghị cơ quan có thẩm quyền về các biện pháp phòng ngừa vi phạm và xử lý đối với người có hành vi vi phạm.

Điều 24. Công khai kết luận nội dung tố cáo (hoặc quyết định giải quyết tố cáo trong tố tụng hình sự), quyết định xử lý hành vi vi phạm pháp luật

Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày ban hành kết luận nội dung tố cáo (hoặc quyết định giải quyết tố cáo trong tố tụng hình sự), quyết định xử lý hành vi vi phạm pháp luật, người giải quyết tố cáo có trách nhiệm công khai kết luận nội dung tố cáo (hoặc quyết định giải quyết tố cáo trong tố tụng hình sự), quyết định xử lý hành vi vi phạm pháp luật.

Việc công khai kết luận nội dung tố cáo (hoặc quyết định giải quyết tố cáo trong tố tụng hình sự), quyết định xử lý hành vi vi phạm pháp luật phải đảm bảo nguyên tắc không tiết lộ thông tin về người tố cáo và những nội dung thuộc bí mật nhà nước.

Chương IV QUY TRÌNH KIỂM SÁT VIỆC GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO TRONG HOẠT ĐỘNG TƯ PHÁP

Trong thời hạn 03 ngày, kể từ ngày tiếp nhận đơn khiếu nại, tố cáo, thông tin phản ánh về dấu hiệu vi phạm của cơ quan có thẩm quyền trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp hoặc theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, Viện kiểm sát phải kiểm tra, xác định dấu hiệu vi phạm của cơ quan có thẩm quyền để quyết định thụ lý kiểm sát.

Điều 27. Quyết định áp dụng biện pháp kiểm sát

Sau khi thụ lý, căn cứ dấu hiệu vi phạm pháp luật, Viện kiểm sát có thẩm quyền quyết định áp dụng biện pháp kiểm sát phù hợp.

Trường hợp có đủ căn cứ kết luận vi phạm đã được xác định mà không cần áp dụng các biện pháp kiểm sát thì tùy tính chất, mức độ vi phạm, Viện kiểm sát ban hành văn bản kiến nghị hoặc kháng nghị.

a) Khi nhận được đơn khiếu nại, tố cáo cơ quan có thẩm quyền không giải quyết khiếu nại, tố cáo trong thời hạn pháp luật quy định;

c) Có căn cứ xác định cơ quan có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo nhưng không ban hành văn bản giải quyết theo quy định của pháp luật;

a) Khi nhận được đơn khiếu nại, tố cáo và có căn cứ xác định cơ quan có thẩm quyền có dấu hiệu vi phạm trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo nhưng chưa đủ căn cứ kết luận vi phạm;

a) Khi nhận được đơn khiếu nại, tố cáo và qua nghiên cứu nội dung đơn phát hiện dấu hiệu vi phạm của cơ quan có thẩm quyền trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo;

c) Khi nhận được văn bản giải quyết khiếu nại, tố cáo và có căn cứ xác định cơ quan có thẩm quyền t hẩm quyền có dấu hiệu vi phạm trong giải quyết khiếu nại, tố cáo.

a) Khi nhận được đơn khiếu nại, tố cáo và qua nghiên cứu nội dung đơn phát hiện dấu hiệu vi phạm của cơ quan có thẩm quyền trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo;

c) Có căn cứ xác định cơ quan có thẩm quyền có dấu hiệu vi phạm trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo;

2. Biện pháp trực tiếp kiểm sát được áp dụng trong tố tụng hình sự, thi hành án hình sự đối với từng vụ việc khiếu nại, tố cáo hoặc việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong một thời điểm nhất định.

Xác định dấu hiệu vi phạm của cơ quan có thẩm quyền trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo và căn cứ pháp luật để tiến hành trực tiếp kiểm sát;

C ông bố quyết định trực tiếp kiểm sát và chương trình làm việc.

Căn cứ kết quả kiểm sát , người được phân công kiểm sát dự thảo kết luận kiểm sát; nếu có căn cứ kết luận được vi phạm trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của cơ quan được kiểm sát thì dự thảo kiến nghị hoặc kháng nghị..

Chương V TỔ CHỨC THỰC HIỆN

Việc sửa đổi, bổ sung Quy trình này do Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao quyết định.

Quy Định Về Quy Trình Giải Quyết Khiếu Nại, Tố Cáo; Kiểm Tra Quyết Định Giải Quyết Khiếu Nại Đã Có Hiệu Lực Pháp Luật Và Kiểm Sát Việc Giải Quyết Khiếu Nại, Tố Cáo Trong Hoạt Động Tư Pháp

Bàn Về Việc Xem Xét, Giải Quyết Lại Quyết Định Giải Quyết Khiếu Nại Đã Có Hiệu Lực Pháp Luật

Đồng Tháp: 18 Năm Không Ban Hành Quyết Định Giải Quyết Khiếu Nại

Không Ban Hành Quyết Định Giải Quyết Khiếu Nại Hành Chính

Huyện Đan Phượng Thừa Nhận Sai Sót Khi Ban Hành Quyết Định Giải Quyết Khiếu Nại

Bàn Về Việc Xem Xét, Giải Quyết Lại Quyết Định Giải Quyết Khiếu Nại Đã Có Hiệu Lực Pháp Luật

Quy Định Về Quy Trình Giải Quyết Khiếu Nại, Tố Cáo; Kiểm Tra Quyết Định Giải Quyết Khiếu Nại Đã Có Hiệu Lực Pháp Luật Và Kiểm Sát Việc Giải Quyết Khiếu Nại, Tố Cáo Trong Hoạt Động Tư Pháp

Quyết Định Về Quy Trình Giải Quyết Khiếu Nại Kiểm Tra Quyết Định Giải Quyết Khiếu Nại Đã Có Hiệu Lực

Giải Quyết Khiếu Nại Trong Tòa Án Nhân Dân

Quyền Khiếu Nại Các Quyết Định Của Tòa Án Trong Quá Trình Xét Xử Sơ Thẩm

Hiểu Sao Về Quyết Định Giải Quyết Khiếu Nại Cuối Cùng?

Hiện nay, theo quy định của Luật Khiếu nại năm 2011, khi quyết định giải quyết khiếu nại có hiệu lực pháp luật, các bên phải có trách nhiệm thi hành ngay. Luật Khiếu nại không quy định về thẩm quyền xem xét, giải quyết lại các quyết định giải quyết khiếu nại có hiệu lực pháp luật. Tuy nhiên, luật có quy định tại khoản 2 Điều 24 về thẩm quyền của Tổng Thanh tra Chính phủ khi phát hiện có hành vi vi phạm pháp luật về khiếu nại có quyền kiến nghị Thủ tướng Chính phủ hoặc kiến nghị người có thẩm quyền áp dụng biện pháp cần thiết để chấm dứt vi phạm, xem xét trách nhiệm, xử lý đối với người vi phạm. Tại khoản 2 Điều 26 của Luật quy định Thủ tướng Chính phủ có thẩm quyền “xử lý các kiến nghị của Tổng Thanh tra Chính phủ quy định tại khoản 2 Điều 24 của Luật này”. Trên thực tế những năm qua, đã và đang xảy ra tình trạng khiếu nại kéo dài, gay gắt, phức tạp. Thanh tra Chính phủ đã ban hành nhiều kế hoạch để kiểm tra, rà soát, giải quyết các vụ việc khiếu nại phức tạp, tồn đọng, kéo dài, như: Kế hoạch số 319/KH-TTCP ngày 20/2/2009, Kế hoạch số 1130/KH-TTCP ngày 10/5/2012, Kế hoạch số 2100/KH-TTCP ngày 19/9/2013.

Cùng với các Kế hoạch nêu trên, để giải quyết những vướng mắc từ thực tiễn giải quyết khiếu nại, hạn chế tình trạng khiếu nại kéo dài, Thanh tra Chính phủ đã trình Chính phủ ban hành Nghị định số 75/2012/NĐ-CP ngày 03/10/2012 quy định chi tiết một số điều của Luật Khiếu nại, trong đó quy định về thẩm quyền xem xét, giải quyết lại vụ việc giải quyết khiếu nại có vi phạm pháp luật. Điều 20 của Nghị định quy định khi phát hiện việc giải quyết khiếu nại vi phạm pháp luật, gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức hoặc có tình tiết mới làm thay đổi nội dung vụ việc khiếu nại, Thủ tướng Chính phủ có quyền yêu cầu người có thẩm quyền giải quyết lại vụ việc khiếu nại; Tổng Thanh tra Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ kiến nghị người có thẩm quyền giải quyết lại vụ việc khiếu nại. Như vậy, thẩm quyền giải quyết lại vụ việc khiếu nại trong trường hợp này chính là người đã giải quyết khiếu nại. Chủ thể này rất rộng, chẳng hạn như Chủ tịch UBND cấp huyện, cấp tỉnh, Giám đốc sở, thậm chí là Bộ trưởng… Đó là những chủ thể đã giải quyết khiếu nại, quyết định giải quyết của họ đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị phát hiện việc giải quyết có vi phạm pháp luật hoặc vụ việc có tình tiết mới. Quyết định giải quyết khiếu nại của họ bị xem xét, giải quyết lại có thể là quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu hoặc lần hai và đã có hiệu lực pháp luật. Trên thực tế, những quyết định bị xem xét, giải quyết lại chủ yếu là quyết định giải quyết khiếu nại lần hai của Chủ tịch UBND tỉnh nhưng trên bình diện pháp luật, đối tượng bị xem xét, giải quyết lại ở đây là quyết định giải quyết khiếu nại của bất cứ chủ thể nào có thẩm quyền giải quyết khiếu nại.

Theo quy định của Nghị định 75/2012/NĐ-CP, chủ thể yêu cầu xem xét lại quyết định giải quyết khiếu nại có vi phạm pháp luật là Thủ tướng Chính phủ. Bên cạnh đó, Tổng thanh tra Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ là các chủ thể có quyền kiến nghị giải quyết lại vụ việc hoặc báo cáo Thủ tướng Chính phủ. Như vậy, chủ thể yêu cầu hoặc kiến nghị giải quyết lại vụ việc khiếu nại là người đứng đầu các cơ quan quản lý nhà nước ở Trung ương, đặc biệt là vai trò của Thủ tướng Chính phủ. Theo quy định của Điều 20 Nghị định 75/2012/NĐ-CP, khi phát hiện vụ việc giải quyết khiếu nại có vi phạm pháp luật hoặc có tình tiết mới, sẽ có một trong hai cách giải quyết: Một là, người giải quyết khiếu nại giải quyết lại vụ việc đó; Hai là các cơ quan có thẩm quyền kiểm tra, xem xét lại vụ việc. Theo đó, trên cơ sở chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ thì Tổng Thanh tra Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ là các chủ thể có trách nhiệm kiểm tra, xem xét lại vụ việc, báo cáo Thủ tướng Chính phủ. Với quy định này, sẽ đảm bảo cho việc kiểm tra, xem xét lại vụ việc khiếu nại một cách khách quan.

Cũng theo Nghị định 75/2012/NĐ-CP, trên cơ sở kiểm tra, xem xét lại vụ việc khiếu nại của Tổng Thanh tra Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, kết quả kiểm tra, xem xét đó được xử lý như sau:

-Trường hợp Thủ tướng Chính phủ kết luận việc giải quyết khiếu nại là đúng pháp luật, người ra quyết định giải quyết khiếu nại tổ chức thi hành quyết định giải quyết khiếu nại và thông báo công khai chấm dứt việc xem xét, giải quyết vụ việc khiếu nại.

– Trường hợp Thủ tướng Chính phủ kết luận việc giải quyết khiếu nại sai một phần hoặc sai toàn bộ, người ra quyết định giải quyết khiếu nại giải quyết lại vụ việc, sửa sai, khôi phục quyền và lợi ích hợp pháp của người khiếu nại và thông báo công khai việc giải quyết lại vụ việc khiếu nại.

Như vậy, kết luận của Thủ tướng Chính phủ sẽ quyết định đến kết quả của vụ việc giải quyết khiếu nại trước đó. Tuy nhiên, theo quy định này, người đã ra quyết định giải quyết khiếu nại vẫn là người có trách nhiệm giải quyết lại vụ việc đó.

Chúng tôi cho rằng, quy định pháp luật hiện hành về việc xem xét lại việc giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực pháp luật có vi phạm pháp luật còn những bất cập và gây khó khăn cho hoạt động quản lý nhà nước. Cụ thể là:

Một là, về căn cứ để xem xét lại vụ việc giải quyết khiếu nại có hiệu lực pháp luật, hiện nay trong Nghị định 75/2012/NĐ-CP chỉ quy định là việc giải quyết khiếu nại vi phạm pháp luật hoặc có tình tiết mới làm thay đổi nội dung vụ việc khiếu nại. Tuy nhiên, những dấu hiệu của việc giải quyết khiếu nại vi phạm pháp luật là gì thì pháp luật hiện hành chưa quy định, do đó sẽ gây khó khăn, không thống nhất cho các cơ quan trong việc xác định hành vi vi phạm pháp luật trong việc giải quyết khiếu nại.

Hai là, về thẩm quyền giải quyết lại vụ việc khiếu nại. Theo quy định tại Điều 20 của Nghị định số 75/2012/NĐ-CP, kể cả trong trường hợp theo yêu cầu hoặc kết luận của Thủ tướng, hoặc theo kiến nghị của Tổng thanh tra Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ thì cuối cùng người có thẩm quyền giải quyết lại vụ việc vẫn là người đã ban hành kết luận giải quyết khiếu nại. Quy định như vậy sẽ không đảm bảo tính khách quan trong việc giải quyết lại vụ việc khiếu nại. Bởi vì chính người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại đã giải quyết vụ việc đó rồi. Ngoài ra, nếu Thủ tướng Chính phủ kết luận việc giải quyết khiếu nại là sai thì cần chấp hành luôn kết luận đó, không cần giải quyết lại, gây mất nhiều thời gian, công sức một cách không cần thiết, làm cho vụ việc lại kéo dài thêm.

Ba là, trong quy định của Điều 20 Nghị định số 75/2012/ND-CP đã chứa đựng bất cập giữa nhận định đánh giá ban đầu làm cơ sở cho việc xem xét lại việc giải quyết khiếu nại vi phạm pháp luật và kết quả kiểm tra, xem xét lại vụ việc. Nhận định tại điểm 1 Điều 20 để thực hiện xem xét lại là “việc giải quyết khiếu nại vi phạm pháp luật, gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức hoặc có tình tiết mới làm thay đổi nội dung vụ việc khiếu nại” hoàn toàn khác với kết quả “Thủ tướng Chính phủ kết luận việc giải quyết khiếu nại là đúng pháp luật”. Bất cập này dẫn đến hai hệ quả là:

+ Tạo sự đánh giá về năng lực nhận định vụ việc của công chức nhà nước không cao; thiếu sự trao đổi, phối hợp chặt chẽ trong cung cấp thông tin giữa các cấp trong xử lý vụ việc khiếu nại. Từ đó vừa làm vụ việc khiếu nại kéo dài không cần thiết vừa lãng phí thời gian, công sức để xem xét lại vụ việc.

+ Không loại trừ có sự “kết nối” giữa người khiếu nại với công chức nhà nước để vụ việc được đưa vào danh sách xem xét lại.

Bốn là, với quy định về việc xem xét lại vụ việc giải quyết khiếu nại có hiệu lực pháp luật không chặt chẽ dễ dẫn đến tình trạng người khiếu nại cố tình không chấp hành quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực pháp luật, cũng không khởi kiện tại Tòa án mà tiếp tục khiếu nại đến các cơ quan Trung ương, làm vụ việc trở nên phức tạp, nếu chưa thống nhất trong cách giải quyết thì vụ việc sẽ tồn đọng, kéo dài[1]. Do đó, với quy định không cụ thể, chặt chẽ về cơ chế xem xét lại quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực pháp luật dẫn đến khó khăn trong công tác tổ chức thực hiện bởi trên thực tế, một khi người dân tiếp tục khiếu nại lên Trung ương và được xem xét thì quyết định giải quyết khiếu nại cũng không thể tổ chức thi hành.

Năm là, Điều 44 Luật Khiếu nại quy định: “Quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu có hiệu lực pháp luật sau 30 ngày, kể từ ngày ban hành mà người khiếu nại không khiếu nại lần hai; Quyết định giải quyết khiếu nại lần hai có hiệu lực pháp luật sau 30 ngày, kể từ ngày ban hành; Quyết định giải quyết khiếu nại có hiệu lực pháp luật có hiệu lực thi hành ngay”. Trong Luật khiếu nại không có quy định về việc xem xét lại đối với quyết định giải quyết khiếu nại có hiệu lực pháp luật. Trong khi đó, Nghị định số 75/2012/NĐ-CP lại quy định về vấn đề này. Xét về mặt pháp lý, việc quy định về vấn đề này tại văn bản Nghị định là không phù hợp với Luật. Do đó, chúng tôi cho rằng cần nghiên cứu quy định trong Luật cơ chế xem xét lại đối với quyết định giải quyết khiếu nại có hiệu lực pháp luật.

Sáu là, ở góc độ lý luận pháp luật thì việc xem xét lại quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực pháp luật cũng chính là một phương thức xem xét lại quyết định hành chính, hành vi hành chính ban đầu bị khiếu nại. Thế nhưng, phương thức giải quyết này không được quy định cụ thể về trình tự thủ tục, về thời hạn, về những ràng buộc trách nhiệm pháp lý đối với cả người khiếu nại và người xem xét lại, người quyết định kết quả xem xét cuối cùng. Do đó, tạo khó khăn trong thực hiện.

Từ những phân tích trên, để tạo sự nhất quán, đảm bảo hiệu quả thực hiện của quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực pháp luật và hạn chế đến mức thấp nhất phát sinh những vụ việc phức tạp tồn đọng, kéo dài không cần thiết, chúng tôi kiến nghị việc sửa đổi, điều chỉnh cơ chế xem xét lại việc việc giải quyết khiếu nại có hiệu lực pháp luật nhưng có vi phạm pháp luật theo hướng sau:

– Cần sửa đổi Luật khiếu nại năm 2011, trong đó bổ sung quy định về cơ chế xem xét lại vụ việc giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực pháp luật. Như vậy, sẽ nâng cao giá trị pháp lý của chế định này, qua đó góp phần đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức. Trong đó, cần quy định cụ thể các căn cứ để xem xét lại quyết định giải quyết khiếu nại. Đặc biệt, cần cụ thể hóa những dấu hiệu của việc giải quyết khiếu nại vi phạm pháp luật, chẳng hạn như:

+ Quyết định giải quyết khiếu nại không phù hợp với các tình tiết khách quan của nội dung vụ việc khiếu nại;

+ Có vi phạm nghiêm trọng về trình tự, thủ tục khi xác minh, kết luận và ban hành quyết định giải quyết khiếu nại, gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức.

+ Có sai lầm nghiêm trọng về việc áp dụng chính sách, pháp luật trong quá trình giải quyết khiếu nại, gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức;

+ Việc giải quyết khiếu nại không đúng thẩm quyền.

+ Có tài liệu, chứng cứ chứng minh người giải quyết khiếu nại, người có trách nhiệm xác minh nội dung khiếu nại làm sai lệch hồ sơ vụ việc.

Xác định cụ thể những dấu hiệu vi phạm pháp luật sẽ có ý nghĩa quan trọng đảm bảo sự thống nhất trong việc áp dụng pháp luật, làm cơ sở cho các cơ quan có thẩm quyền trong việc rà soát, kiểm tra những hồ sơ khiếu nại đủ điều kiện được xem xét lại. Bên cạnh đó, để đảm bảo tính chặt chẽ của pháp luật, cần quy định cụ thể những trường hợp không xem xét lại việc khiếu nại. Chẳng hạn như, quy định người có thẩm quyền xem xét lại quyết định giải quyết khiếu nại có hiệu lực pháp luật không xem xét lại đối với những vụ việc đã được Tòa án thụ lý giải quyết hoặc đã có bản án, quyết định của Tòa án.

– Cần bổ sung quy định về trách nhiệm của Tổng Thanh tra Chính phủ với tư cách là người đứng đầu cơ quan giúp Chính phủ quản lý nhà nước về công tác giải quyết khiếu nại trong phạm vi cả nước. Chúng tôi cho rằng cần quy định Tổng Thanh tra Chính phủ có trách nhiệm giúp Thủ tướng Chính phủ tiếp nhận, phân loại, xem xét, đề xuất việc giải quyết những đơn thư khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phán ánh đối với các quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực pháp luật của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nhưng phát hiện có vi phạm pháp luật, gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức hoặc có tình tiết mới làm thay đổi nội dung vụ việc khiếu nại.

– Cần quy định chi tiết trình tự, thủ tục xem xét lại vụ việc, trong đó nhất thiết phải có sự phối hợp chặt chẽ trong trao đổi thông tin với cơ quan đã ban hành Quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực pháp luật trước khi quyết định việc xem xét lại vụ việc. Quy định chi tiết trình tự, thủ tục xem xét lại vụ việc sẽ tạo cơ sở pháp lý quan trong cho các cơ quan có thẩm quyền trong việc tổ chức thực hiện, tạo sự thống nhất trong việc xem xét lại đối với các quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực pháp luật nhưng có dấu hiệu vi phạm pháp luật hoặc khi có phát sinh tình tiết mới.

– Quy định cụ thể hình thức giải quyết và giá trị pháp lý khi đã ban hành Thông báo chấm dứt việc xem xét, giải quyết vụ việc khiếu nại. Như vậy, tạo thuận lợi cho các cơ quan nhà nước trong việc xử lý tình trạng công dân khiếu nại kéo dài, mặc dù việc giải quyết khiếu nại đã hết thẩm quyền và đúng pháp luật. Qua đó, xử lý dứt điểm đối với các vụ việc khiếu nại kéo dài, không có căn cứ pháp luật./.

Đồng Tháp: 18 Năm Không Ban Hành Quyết Định Giải Quyết Khiếu Nại

Không Ban Hành Quyết Định Giải Quyết Khiếu Nại Hành Chính

Huyện Đan Phượng Thừa Nhận Sai Sót Khi Ban Hành Quyết Định Giải Quyết Khiếu Nại

Quận Bình Thạnh (Tphcm): Chậm Ban Hành Quyết Định Giải Quyết Khiếu Nại Lần Đầu Đến 318 Ngày

Thủ Tục Khiếu Nại Quyết Định Hành Chính Đã Được Ban Hành Quyết Định Giải Quyết Khiếu Nại Lần Đầu (Trong Trường Hợp Chủ Tịch Ủy Ban Nhân Dân Tỉnh Giải Quyết Khiếu Nại Lần Hai).

Quy Định Về Quy Trình Giải Quyết Khiếu Nại, Tố Cáo; Kiểm Tra Quyết Định Giải Quyết Khiếu Nại Đã Có Hiệu Lực Pháp Luật Và Kiểm Sát Việc Giải Quyết Khiếu Nại, Tố Cáo Trong Hoạt Động Tư Pháp

Quyết Định Về Quy Trình Giải Quyết Khiếu Nại Kiểm Tra Quyết Định Giải Quyết Khiếu Nại Đã Có Hiệu Lực

Giải Quyết Khiếu Nại Trong Tòa Án Nhân Dân

Quyền Khiếu Nại Các Quyết Định Của Tòa Án Trong Quá Trình Xét Xử Sơ Thẩm

Hiểu Sao Về Quyết Định Giải Quyết Khiếu Nại Cuối Cùng?

Một Số Quy Định Về Giải Quyết Khiếu Nại Trong Tòa Án Nhân Dân Đáng Chú Ý

VỀ QUY TRÌNH GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO; KIỂM TRA QUYẾT ĐỊNH GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI ĐÃ CÓ HIỆU LỰC PHÁP LUẬT VÀ KIỂM SÁT VIỆC GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO TRONG HOẠT ĐỘNG TƯ PHÁP

(Ban hành kèm theo Quyết định số 546 ngày 03 tháng 12 năm 2022 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao)

Chương I. NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Quy định này quy định về quy trình giải quyết khiếu nại, tố cáo; kiểm tra quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực pháp luật và kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp.

1. Viện kiểm sát nhân dân, Viện kiểm sát quân sự các cấp.

2. Viện trưởng, Phó Viện trưởng, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên Viện kiểm sát các cấp và Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng, Điều tra viên, Cán bộ điều tra thuộc Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Viện kiểm sát quân sự Trung ương được giao nhiệm vụ giải quyết khiếu nại, tố cáo; kiểm tra quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực pháp luật và kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp.

Điều 3. Nguyên tắc giải quyết khiếu nại, tố cáo; kiểm tra quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực pháp luật và kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp

Việc giải quyết khiếu nại, tố cáo; kiểm tra quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực pháp luật và kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp phải đảm bảo các nguyên tắc sau đây:

1. Đúng quy định của pháp luật và của Ngành, có sự chỉ đạo của Viện trưởng Viện kiểm sát;

2. Khẩn trương, kịp thời, khách quan, chính xác;

4. Bảo đảm sự giám sát, kiểm tra, đánh giá việc thực hiện quy trình.

Điều 4. Từ ngữ sử dụng trong Quy định

1. “Quyết định, hành vi tố tụng” là quyết định, hành vi của cơ quan, người có thẩm quyền trong hoạt động tư pháp được quy định trong các văn bản pháp luật về tố tụng hình sự, tố tụng dân sự, tố tụng hành chính, phá sản doanh nghiệp, trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân, thi hành án hình sự, thi hành án dân sự-hành chính, quản lý thi hành tạm giữ, tạm giam.

2. “Người giải quyết khiếu nại, tố cáo” là Viện kiểm sát hoặc Viện trưởng Viện kiểm sát có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp theo quy định của pháp luật.

Chương II. QUY TRÌNH GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI VÀ KIỂM TRA QUYẾT ĐỊNH GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI ĐÃ CÓ HIỆU LỰC PHÁP LUẬT

Mục 1. QUY TRÌNH GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI

Điều 5. Kiểm tra điều kiện thụ lý khiếu nại

1. Trước khi thụ lý, Viện kiểm sát có thẩm quyền phải kiểm tra điều kiện thụ lý khiếu nại, chi thụ lý giải quyết khiếu nại khi đảm bảo các điều kiện sau:

Trường hợp người khiếu nại đến khiếu nại trực tiếp thì người tiếp nhận khiếu nại hướng dẫn người khiếu nại viết đơn hoặc ghi lại nội dung khiếu nại bằng văn bản và yêu cầu người khiếu nại ký hoặc điểm chỉ xác nhận vào văn bản. Nếu nhiều người đến khiếu nại trực tiếp về một nội dung thì hướng dẫn người khiếu nại cử đại diện để trình bày nội dung khiếu nại và ghi lại việc khiếu nại bằng văn bản.

b) Khiếu nại trong thời hiệu quy định của pháp luật. Trường hợp vì lý do bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan mà người khiếu nại không thực hiện được quyền khiếu nại theo đúng thời hiệu thì thời gian có lý do bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan đó không tính vào thời hiệu khiếu nại, nhưng người khiếu nại phải có giấy tờ, tài liệu chứng minh hoặc văn bản xác nhận của cơ quan có thẩm quyền.

c) Khiếu nại thuộc thẩm quyền giải quyết của Viện kiểm sát theo quy định của pháp luật và Quy chế tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp ban hành kèm theo Quyết định số 51/QĐ-VKSTC-V12 ngày 02/02/2016 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao (sau đây gọi tắt là Quy chế số 51).

d) Người khiếu nại phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ theo quy định của pháp luật, có quyền, lợi ích hợp pháp chịu tác động trực tiếp bởi quyết định tố tụng, hành vi tố tụng, quyết định giải quyết khiếu nại mà mình khiếu nại.

Người khiếu nại có thể tự mình hoặc thông qua người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp hoặc người đại diện thực hiện quyền khiếu nại; trường hợp người khiếu nại là người dưới 18 tuổi, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự mà không thể tự mình khiếu nại thì việc khiếu nại được thực hiện thông qua người đại diện hợp pháp và phải có giấy tờ chứng minh.

d) Việc khiếu nại chưa có quyết định giải quyết khiếu nại có hiệu lực pháp luật và chưa có đơn rút khiếu nại của người khiếu nại.

2. Sau khi kiểm tra, nếu khiếu nại đủ điều kiện thụ lý theo quy định tại Khoản 1 Điều này thì Viện kiểm sát có thẩm quyền phải thụ lý để giải quyết và thông báo việc thụ lý bằng văn bản đến người khiếu nại.

Trường hợp giải quyết khiếu nại lần thứ hai thì phải yêu cầu người giải quyết khiếu nại lần đầu cung cấp hồ sơ giải quyết khiếu nại.

Thời hạn yêu cầu cung cấp hồ sơ, tài liệu và giải trình phải trong thời hạn giải quyết khiếu nại.

2. Qua nghiên cứu nội dung khiếu nại, thông tin, tài liệu, chứng cứ do người khiếu nại cung cấp; hồ sơ, tài liệu và văn bản giải trình của người bị khiếu nại, nếu thấy quyết định tố tụng, hành vi tố tụng, quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu là đúng quy định của pháp luật thì người giải quyết khiếu nại ra quyết định giải quyết khiếu nại ngay. Trường hợp chưa đủ căn cứ cho việc giải quyết khiếu nại thì tiến hành xác minh nội dung khiếu nại.

Điều 7. Quyết định xác minh, kế hoạch xác minh nội dung khiếu nại

1. Người giải quyết khiếu nại trực tiếp xác minh hoặc quyết định phân công người tiến hành xác minh nội dung khiếu nại. Khi cần thiết, người giải quyết khiếu nại quyết định thành lập Đoàn xác minh hoặc Tổ xác minh nội dung khiếu nại (sau đây gọi chung là Tổ xác minh).

2. Người được phân công xác minh nội dung khiếu nại phải lập kế hoạch xác minh trình người có thẩm quyền phê duyệt; trường hợp thành lập Tổ xác minh thì Tổ trưởng Tổ xác minh có trách nhiệm lập kế hoạch xác minh. Kế hoạch xác minh gồm các nội dung sau:

a) Căn cứ pháp lý để tiến hành xác minh;

b) Mục đích, yêu cầu của việc xác minh;

c) Những nội dung cần xác minh;

đ) Các điều kiện, phương tiện phục vụ cho việc xác minh;

e) Dự kiến thời gian thực hiện từng công việc, nhiệm vụ cụ thể của từng thành viên; thời gian dự phòng để xử lý các công việc phát sinh;

g) Việc báo cáo tiến độ thực hiện các nội dung cần xác minh;

h) Các nội dung khác (nếu có).

Điều 8. Xác minh nội dung khiếu nại

1. Công bố quyết định phân công xác minh nội dung khiếu nại

Người được phân công xác minh hoặc Tổ trưởng Tổ xác minh thực hiện việc công bố quyết định phân công xác minh nội dung khiếu nại tại cơ quan, đơn vị của người bị khiếu nại hoặc tại trụ sở cơ quan, đơn vị nơi phát sinh khiếu nại. Việc công bố quyết định phân công xác minh nội dung khiếu nại phải được lập biên bản.

2. Làm việc với người khiếu nại

Trong trường hợp nội dung đơn khiếu nại chưa rõ và thông tin, tài liệu, chứng cứ do người khiếu nại cung cấp chưa đầy đủ, người giải quyết khiếu nại hoặc người được phân công xác minh nội dung khiếu nại làm việc trực tiếp với người khiếu nại hoặc người đại diện, người được ủy quyền, luật sư, trợ giúp viên pháp lý của người khiếu nại để làm rõ nội dung khiếu nại. Nội dung làm việc phải được lập biên bản.

Trường hợp không làm việc trực tiếp với người khiếu nại vì lý do khách quan, người giải quyết khiếu nại hoặc người được phân công xác minh có văn bản yêu cầu người khiếu nại hoặc người đại diện, người được ủy quyền, luật sư, trợ giúp viên pháp lý của người khiếu nại cung cấp bổ sung thông tin, tài liệu, chứng cứ để làm rõ nội dung khiếu nại. Thời hạn yêu cầu cung cấp thông tin, tài liệu, chứng cứ phải trong thời hạn giải quyết khiếu nại theo quy định của pháp luật.

3. Làm việc với người bị khiếu nại

Trường hợp không làm việc trực tiếp với người bị khiếu nại vì lý do khách quan, người giải quyết khiếu nại hoặc người được phân công xác minh nội dung khiếu nại có văn bản yêu cầu người bị khiếu nại giải trình bổ sung bằng văn bản. Thời hạn yêu cầu giải trình bổ sung và cung cấp tài liệu, chứng cứ phải trong thời hạn giải quyết khiếu nại theo quy định của pháp luật.

6. Trưng cầu giám định, giám định lại

7. Áp dụng biện pháp ngăn chặn thiệt hại có thể xảy ra

Trong quá trình giải quyết khiếu nại, người giải quyết khiếu nại trực tiếp áp dụng hoặc đề nghị cơ quan, người có thẩm quyền áp dụng biện pháp cần thiết theo quy định của pháp luật nhằm ngăn chặn thiệt hại có thể xảy ra.

8. Tổ chức đối thoại

9. Khi thời hạn xác minh đã hết nhưng nội dung xác minh chưa thực hiện xong, người giải quyết khiếu nại xem xét gia hạn thời gian xác minh; thời gian gia hạn không vượt quá thời hạn giải quyết khiếu nại theo quy định của pháp luật.

10. Trong quá trình giải quyết khiếu nại, người khiếu nại có đơn xin rút một phần hoặc toàn bộ nội dung khiếu nại ở bất kỳ giai đoạn nào, người giải quyết khiếu nại ban hành quyết định đình chỉ việc giải quyết những nội dung khiếu nại đã rút và thông báo cho người khiếu nại, người bị khiếu nại biết. Trong quyết định đình chỉ giải quyết khiếu nại phải nêu rõ lý do ra quyết định đình chỉ.

Điều 9. Báo cáo kết quả xác minh nội dung khiếu nại

1. Kết thúc việc xác minh nội dung khiếu nại, người được phân công xác minh hoặc Tổ trưởng Tổ xác minh phải có văn bản báo cáo kết quả xác minh và đề xuất giải quyết khiếu nại trình người có thẩm quyền quyết định. Báo cáo kết quả xác minh gồm những nội dung sau:

a) Thông tin về người khiếu nại, người bị khiếu nại; nội dung khiếu nại;

b) Kết quả xác minh; biện pháp ngăn chặn thiệt hại đã áp dụng (nếu có);

c) Kết luận nội dung khiếu nại là đúng toàn bộ, đúng một phần hoặc sai toàn bộ;

2. Đối với những vụ, việc phức tạp mà người được phân công xác minh nội dung khiếu nại thuộc nhiều đơn vị nghiệp vụ tham gia thì các thành viên được phân công phải báo cáo lãnh đạo đơn vị nghiệp vụ của mình có quan điểm chính thức bằng văn bản gửi cho đơn vị chủ trì để tổng hợp báo cáo chung.

3. Trường hợp xác minh để giải quyết khiếu nại lần thứ hai thì báo cáo kết quả xác minh phải nêu rõ những nội dung vi phạm và đề xuất việc xử lý đối với cơ quan, đơn vị, cá nhân có hành vi vi phạm trong quá trình giải quyết khiếu nại trước đó (nếu có).

Điều 10. Ban hành quyết định giải quyết khiếu nại

1. Căn cứ quy định của pháp luật, báo cáo kết quả xác minh nội dung khiếu nại đã được phê duyệt, người được phân công xác minh hoặc Tổ trưởng Tổ xác minh dự thảo Quyết định giải quyết khiếu nại trình người có thẩm quyền ký, ban hành quyết định giải quyết khiếu nại.

3. Kiến nghị biện pháp xử lý, phòng ngừa vi phạm

Qua giải quyết khiếu nại, nếu phát hiện vi phạm pháp luật nghiêm trọng, ngoài việc ra quyết định hủy hoặc yêu cầu người có thẩm quyền hủy quyết định tố tụng, đình chỉ thực hiện hành vi tố tụng trái pháp luật, người giải quyết khiếu nại kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý đối với người có hành vi vi phạm theo quy định của pháp luật và thực hiện các biện pháp phòng ngừa vi phạm.

Điều 11. Lập và lưu trữ Hồ sơ giải quyết khiếu nại

Hồ sơ giải quyết khiếu nại phải được đánh số trang theo thứ tự tài liệu và lưu trữ theo quy định của pháp luật và của Ngành.

Mục 2. KIỂM TRA QUYẾT ĐỊNH GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI ĐÃ CÓ HIỆU LỰC PHÁP LUẬT

Điều 12. Kiểm tra điều kiện thụ lý

Khi tiếp nhận đơn đề nghị kiểm tra quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực pháp luật, Viện kiểm sát có thẩm quyền kiểm tra theo quy định tại khoản 2 Điều 14 Quy chế số 51 phải kiểm tra điều kiện thụ lý đơn; chỉxem xét để thụ lý kiểm tra quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực pháp luật nếu thuộc một trong các trường hợp được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 14 Quy chế số 51.

Điều 13. Ban hành quyết định kiểm tra, quyết định phân công kiểm tra và Kế hoạch kiểm tra

Sau khi kiểm tra đơn thấy đủ điều kiện thụ lý, Viện kiểm sát có thẩm quyền ban hành quyết định kiểm tra, quyết định phân công người tiến hành kiểm tra quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực pháp luật. Quyết định kiểm tra phải gửi cho Viện kiểm sát đã ban hành quyết định giải quyết khiếu nại có hiệu lực pháp luật trước khi tiến hành kiểm tra.

Điều 14. Trình tự, thủ tục tiến hành kiểm tra

Khi tiến hành kiểm tra, Viện kiểm sát có thẩm quyền kiểm tra hoặc người được phân công kiểm tra thực hiện các thủ tục sau:

2. Kiểm tra nội dung đơn đề nghị và những thông tin, tài liệu, chứng cứ do người đề nghị kiểm tra đã cung cấp.

3. Kiểm tra nội dung văn bản giải trình của Viện kiểm sát đã ban hành quyết định giải quyết khiếu nại có hiệu lực pháp luật.

4. Kiểm tra về thẩm quyền, trình tự, thủ tục và nội dung giải quyết khiếu nại.

Trường hợp cần thiết, nếu vụ việc có quyết định tố tụng, hành vi tố tụng bị khiếu nại đang trong quá trình tố tụng thì Viện kiểm sát có thẩm quyền kiểm tra yêu cầu cơ quan tố tụng có thẩm quyền trưng cầu giám định, giám định lại; nếu vụ việc có quyết định tố tụng, hành vi tố tụng bị khiếu nại không còn trong quá trình tố tụng thì Viện kiểm sát có thẩm quyền kiểm tra trưng cầu giám định, giám định lại.

Điều 15. Kết thúc kiểm tra

1. Báo cáo kết quả kiểm tra

Trên cơ sở kết quả kiểm tra và các thông tin, tài liệu, chứng cứ đã thu thập được, người được phân công kiểm tra báo cáo bằng văn bản kết quả kiểm tra trình người có thẩm quyền quyết định. Báo cáo kết quả kiểm tra phải có các nội dung chính sau:

a) Nội dung vụ việc dẫn đến khiếu nại;

b) Quá trình giải quyết khiếu nại;

c) Phân tích, đánh giá thông tin, tài liệu, chứng cứ để chứng minh tính đúng, sai của quyết định tố tụng, hành vi tố tụng bị khiếu nại; kết luận về tính đúng, sai của quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực pháp luật;

2. Ban hành kết luận kiểm tra và thông báo kết quả kiểm tra

Căn cứ báo cáo kết quả kiểm tra đã được phê duyệt, người được phân công kiểm tra dự thảo kết luận kiểm tra quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực pháp luật và văn bản thông báo kết quả kiểm tra gửi người có đơn đề nghị để trình người có thẩm quyền ký ban hành.

Nội dung kết luận kiểm tra gồm: Nội dung vụ việc dẫn đến khiếu nại; kết quả giải quyết khiếu nại trước đó; kết quả xác minh; kết luận về tính đúng, sai của quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực pháp luật.

Trường hợp quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực pháp luật có vi phạm nghiêm trọng, vụ việc có dấu hiệu oan, sai, bỏ lọt tội phạm hoặc có tình tiết mới làm thay đổi cơ bản về nội dung giải quyết khiếu nại trước đó thì ngoài việc ban hành kết luận kiểm tra, Viện kiểm sát có thẩm quyền kiểm tra còn phải ban hành quyết định hủy bỏ quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực pháp luật.

Đối với các quyết định tố tụng có vi phạm pháp luật, Viện kiểm sát có thẩm quyền kiểm tra ban hành quyết định hủy bỏ hoặc yêu cầu cơ quan có thẩm quyền hủy bỏ theo quy định của pháp luật.

Điều 16. Lập và lưu trữ hồ sơ kiểm tra quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực pháp luật

Hồ sơ kiểm tra được đánh số trang theo thứ tự tài liệu và lưu trữ theo quy định của pháp luật và của Ngành.

Chương III. QUY TRÌNH GIẢI QUYẾT TỐ CÁO

Điều 17. Kiểm tra điều kiện thụ lý, thông báo việc thụ lý tố cáo

1. Trước khi thụ lý, Viện kiểm sát có thẩm quyền phải tiến hành kiểm tra điều kiện thụ lý tố cáo, chi thụ lý giải quyết tố cáo khi đảm bảo các điều kiện sau:

a) Nội dung tố cáo là tố cáo trong hoạt động tư pháp; việc tố cáo được thực hiện bằng đơn hoặc được trình bày trực tiếp.

Trường hợp người tố cáo đến tố cáo trực tiếp thì người tiếp nhận tố cáo hướng dẫn viết đơn hoặc ghi lại nội dung tố cáo bằng văn bản và yêu cầu người tố cáo ký tên hoặc điểm chỉ xác nhận vào văn bản. Nếu nhiều người đến tố cáo trực tiếp về một nội dung thì người tiếp nhận hướng dẫn người tố cáo cử đại diện viết đơn tố cáo hoặc ghi lại nội dung tố cáo bằng văn bản và yêu cầu những người tố cáo ký tên hoặc điểm chỉ xác nhận vào văn bản.

b) Tố cáo chưa được giải quyết hoặc đã được giải quyết nhưng có tình tiết mới có thể làm thay đổi nội dung quyết định giải quyết.

Trường hợp khiếu nại đã được giải quyết đúng pháp luật, nhưng người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại nên đã tố cáo người giải quyết khiếu nại thì chỉ thụ lý tố cáo khi người tố cáo cung cấp được thông tin, tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho nội dung tố cáo.

c) Tố cáo thuộc thẩm quyền giải quyết của Viện kiểm sát.

2. Sau khi kiểm tra, nếu tố cáo đủ điều kiện thụ lý theo quy định tại khoản 1 điều này, Viện kiểm sát cóthẩm quyền phải thụ lý để giải quyết và thông báo bằng văn bản cho người tố cáo về việc thụ lý nếu họ có yêu cầu

2. Sau khi nghiên cứu các thông tin, tài liệu, chứng cứ và văn bản giải trình, nếu thấy hành vi bị tố cáo không vi phạm pháp luật, người giải quyết tố cáo ban hành ngay kết luận nội dung tố cáo (hoặc quyết định giải quyết tố cáo trong tố tụng hình sự); nếu chưa đủ căn cứ cho việc giải quyết thì tiến hành xác minh làm rõ nội dung tố cáo.

Điều 19. Quyết định xác minh, kế hoạch xác minh nội dung tố cáo

1. Người giải quyết tố cáo trực tiếp tiến hành xác minh hoặc quyết định phân công người tiến hành xác minh nội dung tố cáo; khi cần thiết, người giải quyết tố cáo quyết định thành lập Đoàn xác minh hoặc Tổ xác minh nội dung tố cáo (sau đây gọi chung là Tổ xác minh). Người giải quyết tố cáo hoặc người được phân công xác minh nội dung tố cáo không được tiết lộ họ, tên, địa chỉ, bút tích của người tố cáo và những thông tin khác làm lộ danh tính của người tố cáo.

2. Người được phân công xác minh nội dung tố cáo phải xây dựng kế hoạch xác minh, trường hợp thành lập Tổ xác minh thì Tổ trưởng có trách nhiệm lập kế hoạch xác minh trình người có thẩm quyền phê duyệt. Kế hoạch xác minh nội dung tố cáo gồm có:

a) Căn cứ pháp lý để tiến hành xác minh;

b) Mục đích, yêu cầu, nội dung xác minh;

c) Cơ quan, tổ chức, cá nhân phải làm việc để xác minh, thu thập các thông tin, tài liệu, chứng cứ;

d) Các điều kiện, phương tiện phục vụ cho việc xác minh;

đ) Dự kiến thời gian thực hiện từng công việc, nhiệm vụ cụ thể của từng thành viên; thời gian dự phòng để xử lý các công việc phát sinh;

e) Việc báo cáo tiến độ thực hiện;

g) Các nội dung khác (nếu có).

Điều 20. Xác minh nội dung tố cáo

1. Công bố quyết định phân công xác minh nội dung tố cáo

Người được phân công xác minh hoặc Tổ trưởng Tổ xác minh thực hiện việc giao quyết định phân công xác minh nội dung tố cáo cho người bị tố cáo hoặc tổ chức công bố quyết định phân công xác minh nội dung tố cáo tại cơ quan, đơn vị của người bị tố cáo. Việc giao quyết định hoặc tổ chức công bố quyết định phân công xác minh nội dung tố cáo phải được lập biên bản.

2. Làm việc với người tố cáo

Trong trường hợp nội dung đơn tố cáo chưa rõ và thông tin, tài liệu, chứng cứ do người tố cáo cung cấp chưa đầy đủ, người giải quyết tố cáo hoặc người được phân công xác minh nội dung tố cáo làm việc trực tiếp với người tố cáo, yêu cầu cung cấp bổ sung thông tin, tài liệu, chứng cứ để làm rõ nội dung tố cáo. Nội dung làm việc với người tố cáo phải được lập biên bản.

Trường hợp không làm việc trực tiếp với người tố cáo vì lý do khách quan, người giải quyết tố cáo hoặc người được phân công xác minh có văn bản yêu cầu người tố cáo cung cấp bổ sung thông tin, tài liệu, chứng cứ để làm rõ nội dung tố cáo. Thời gian yêu cầu cung cấp thông tin, tài liệu, chứng cứ phải trong thời hạn giải quyết tố cáo theo quy định của pháp luật.

3. Làm việc với người bị tố cáo

Trường hợp không làm việc trực tiếp với người bị tố cáo vì lý do khách quan, người giải quyết tố cáo hoặc người được phân công xác minh có văn bản yêu cầu người bị tố cáo giải trình bằng văn bản về nội dung bị tố cáo và cung cấp thông tin, tài liệu, chứng cứ để làm rõ nội dung bị tố cáo và nội dung giải trình. Thời hạn yêu cầu giải trình và cung cấp thông tin, tài liệu, chứng cứ phải trong thời hạn giải quyết tố cáo theo quy định của pháp luật.

5. Áp dụng biện pháp ngăn chặn thiệt hại, bảo vệ người tố cáo

Người giải quyết tố cáo có trách nhiệm áp dụng biện pháp cần thiết theo thẩm quyền hoặc yêu cầu cơ quan có thẩm quyền ngăn chặn kịp thời hành vi bị tố cáo gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức; có biện pháp kịp thời bảo vệ người tố cáo theo quy định của pháp luật và đề nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý đối với người có hành vi đe dọa, trả thù, trù dập người tố cáo.

8. Trong trường hợp tố cáo đã được thụ lý, người tố cáo rút tố cáo thì người giải quyết tố cáo tiến hành giải quyết tố cáo hoặc đình chỉ giải quyết tố cáo theo quy định của pháp luật về tố cáo.

Điều 21. Báo cáo kết quả xác minh nội dung tố cáo

1. Kết thúc việc xác minh, người được phân công xác minh hoặc Tổ trưởng Tổ xác minh phải có văn bản báo cáo kết quả xác minh nội dung tố cáo và đề xuất giải quyết tố cáo trình người có thẩm quyền phê duyệt. Báo cáo kết quả xác minh phải có các nội dung chính sau:

a) Họ tên, địa chỉ người tố cáo, người bị tố cáo, nội dung tố cáo;

b) Nội dung giải trình của người bị tố cáo;

c) Phân tích, đánh giá thông tin, tài liệu, chứng cứ đã thu thập được để chứng minh tính đúng, sai của nội dung tố cáo, việc người tố cáo cố ý tố cáo sai sự thật (nếu có);

d) Xác định đối tượng bị thiệt hại, mức độ thiệt hại do hành vi vi phạm pháp luật gây ra;

e) Những vấn đề còn có ý kiến khác nhau trong Tổ xác minh (nếu có);

g) Đề xuất kết luận nội dung tố cáo và kiến nghị biện pháp xử lý người có hành vi vi phạm (nếu có).

2. Đối với những vụ, việc phức tạp mà người được phân công xác minh nội dung tố cáo thuộc nhiều đơn vị nghiệp vụ tham gia thì các thành viên được phân công phải báo cáo lãnh đạo đơn vị nghiệp vụ của mình có quan điểm chính thức bằng văn bản gửi cho đơn vị chủ trì để tổng hợp báo cáo chung.

Điều 22. Ban hành kết luận nội dung tố cáo (hoặc quyết định giải quyết tố cáo trong tố tụng hình sự), quyết định xử lý hoặc kiến nghị xử lý hành vi vi phạm pháp luật

1. Căn cứ quy định của pháp luật và báo cáo kết quả xác minh đã được phê duyệt, người được phân công xác minh dự thảo kết luận nội dung tố cáo (hoặc quyết định giải quyết tố cáo trong tố tụng hình sự) trình người có thẩm quyền ký ban hành. Kết luận nội dung tố cáo (hoặc quyết định giải quyết tố cáo trong tố tụng hình sự) phải có các nội dung sau:

a) Họ tên, địa chỉ người bị tố cáo, nội dung tố cáo;

b) Kết quả xác minh, căn cứ pháp luật để xác định có hay không có hành vi vi phạm pháp luật;

c) Kết luận về nội dung tố cáo là đúng, đúng một phần hoặc tố cáo sai;

2. Căn cứ kết luận nội dung tố cáo (hoặc quyết định giải quyết tố cáo trong tố tụng hình sự), người giải quyết tố cáo quyết định xử lý theo thẩm quyền hoặc kiến nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xử lý hành vi vi phạm theo quy định của pháp luật.

3. Qua giải quyết tố cáo, nếu phát hiện vi phạm nghiêm trọng trong hoạt động tư pháp, người giải quyết tố cáo kiến nghị cơ quan có thẩm quyền về các biện pháp phòng ngừa vi phạm.

Điều 23. Công khai kết luận nội dung tố cáo (hoặc quyết định giải quyết tố cáo trong tố tụng hình sự), quyết định xử lý hành vi vi phạm pháp luật

1. Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày ban hành kết luận nội dung tố cáo (hoặc quyết định giải quyết tố cáo trong tố tụng hình sự), quyết định xử lý hành vi vi phạm pháp luật (nếu có), người giải quyết tố cáo có trách nhiệm công khai kết luận nội dung tố cáo (hoặc quyết định giải quyết tố cáo trong tố tụng hình sự), quyết định xử lý hành vi vi phạm pháp luật tại nơi làm việc của người bị tố cáo. Việc công khai được thực hiện bằng một trong các hình thức sau:

a) Công bố kết luận nội dung tố cáo (hoặc quyết định giải quyết tố cáo trong tố tụng hình sự), quyết định xử lý hành vi vi phạm tại cuộc họp cơ quan, đơn vị nơi người bị tố cáo công tác, làm việc;

b) Gửi kết luận nội dung tố cáo (hoặc quyết định giải quyết tố cáo trong tố tụng hình sự), quyết định xử lý vi phạm cho cơ quan, đơn vị quản lý người bị tố cáo, người bị xử lý biết;

c) Thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng gồm: Báo nói, báo hình, báo viết hoặc báo điện tử. Người có thẩm quyền giải quyết tố cáo có thể lựa chọn một trong các hình thức thông báo trên để thực hiện việc công khai.

d) Gửi kết luận nội dung tố cáo (hoặc quyết định giải quyết tố cáo trong tố tụng hình sự), quyết định xử lý vi phạm (nếu có) hoặc văn bản thông báo kết quả giải quyết tố cho người tố cáo nếu họ có yêu cầu. Văn bản thông báo kết quả giải quyết tố cáo phải nêu được kết quả xác minh, kết luận nội dung tố cáo, nội dung quyết định xử lý vi phạm (nếu có).

2. Việc công khai kết luận nội dung tố cáo (hoặc quyết định giải quyết tố cáo trong tố tụng hình sự), quyết định xử lý hành vi vi phạm pháp luật (nếu có) phải đảm bảo nguyên tắc không tiết lộ thông tin về người tố cáo và những nội dung thuộc bí mật nhà nước.

Điều 24. Lập và lưu trữ hồ sơ giải quyết tố cáo

Hồ sơ giải quyết tố cáo được đánh số trang theo thứ tự tài liệu và lưu trữ theo quy định của pháp luật và của Ngành.

Chương IV. QUY TRÌNH KIỂM SÁT VIỆC GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO TRONG HOẠT ĐỘNG TƯ PHÁP

Điều 25. Kiểm tra điều kiện thụ lý kiểm sát

Khi tiếp nhận đơn khiếu nại, tố cáo, thông tin phản ánh về dấu hiệu vi phạm của cơ quan có thẩm quyền trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp hoặc theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền kèm theo đơn khiếu nại, tố cáo, Viện kiểm sát có thẩm quyền kiểm sát phải kiểm tra, xác định dấu hiệu vi phạm của cơ quan có thẩm quyền để quyết định thụ lý kiểm sát.

Điều 26. Quyết định áp dụng biện pháp kiểm sát

Sau khi thụ lý kiểm sát, căn cứ dấu hiệu vi phạm pháp luật, Viện kiểm sát có thẩm quyền quyết định áp dụng biện pháp kiểm sát phù hợp.

Trường hợp có đủ căn cứ kết luận vi phạm mà không cần áp dụng các biện pháp kiểm sát thì tùy tính chất, mức độ vi phạm, Viện kiểm sát ban hành văn bản kiến nghị hoặc kháng nghị.

Điều 27. Áp dụng biện pháp yêu cầu cơ quan có thẩm quyền ra văn bản giải quyết khiếu nại, tố cáo

1. Viện kiểm sát ban hành văn bản yêu cầu cơ quan có thẩm quyền ra văn bản giải quyết khiếu nại, tố cáo trong các trường hợp sau:

a) Khi nhận được đơn khiếu nại, tố cáo kèm theo tài liệu chứng minh việc cơ quan, người có thẩm quyền không giải quyết khiếu nại, tố cáo khi đã hết thời hạn;

b) Theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền kèm theo đơn khiếu nại, tố cáo;

c) Có căn cứ khác xác định cơ quan, người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo không ban hành văn bản giải quyết theo quy định của pháp luật;

2. Biện pháp yêu cầu ra văn bản giải quyết có thể áp dụng đối với một việc khiếu nại, tố cáo, cũng có thể áp dụng đối với nhiều việc khiếu nại, tố cáo và được áp dụng trong tất cả các lĩnh vực hoạt động tư pháp.

Điều 28. Áp dụng biện pháp yêu cầu cơ quan có thẩm quyền tự kiểm tra việc giải quyết khiếu nại, tố cáo và thông báo kết quả cho Viện kiểm sát

1. Viện kiểm sát ban hành văn bản yêu cầu cơ quan có thẩm quyền tự kiểm tra việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của cấp mình và cấp dưới, thông báo kết quả cho Viện kiểm sát trong các trường hợp sau:

a) Khi nhận được đơn khiếu nại, tố cáo và có căn cứ xác định cơ quan có thẩm quyền có dấu hiệu vi phạm trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo nhưng chưa đủ căn cứ kết luận vi phạm;

b) Theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền kèm theo đơn khiếu nại, tố cáo;

2. Biện pháp yêu cầu tự kiểm tra việc giải quyết khiếu nại, tố cáo có thể áp dụng đối với một vụ việc khiếu nại, tố cáo hoặc nhiều vụ việc khiếu nại, tố cáo trong một thời điểm và được áp dụng trong tất cả các lĩnh vực hoạt động tư pháp.

Điều 29. Áp dụng biện pháp yêu cầu cơ quan có thẩm quyền cung cấp hồ sơ, tài liệu giải quyết khiếu nại, tố cáo

1. Viện kiểm sát ban hành văn bản yêu cầu cơ quan có thẩm quyền cung cấp hồ sơ, tài liệu giải quyết khiếu nại, tố cáo trong các trường hợp sau:

a) Khi nhận được đơn khiếu nại, tố cáo và qua nghiên cứu nội dung đơn phát hiện dấu hiệu vi phạm của cơ quan, người có thẩm quyền trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo;

b) Theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền kèm theo đơn khiếu nại, tố cáo;

c) Khi nhận được văn bản giải quyết khiếu nại, tố cáo và có căn cứ xác định dấu hiệu vi phạm của cơ quan, người có thẩm quyền trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo.

2. Biện pháp yêu cầu cung cấp hồ sơ, tài liệu giải quyết khiếu nại, tố cáo có thể áp dụng đối với một việc khiếu nại, tố cáo, cũng có thể áp dụng đối với nhiều việc khiếu nại, tố cáo và được áp dụng trong tất cả các lĩnh vực hoạt động tư pháp.

Điều 30. Áp dụng biện pháp trực tiếp kiểm sát

1. Viện kiểm sát áp dụng biện pháp trực tiếp kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong các trường hợp sau:

a) Khi nhận được đơn khiếu nại, tố cáo và qua nghiên cứu nội dung đơn phát hiện dấu hiệu vi phạm của cơ quan, người có thẩm quyền trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo;

b) Theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền kèm theo đơn khiếu nại, tố cáo;

c) Có căn cứ khác xác định cơ quan có thẩm quyền có dấu hiệu vi phạm trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo;

2. Biện pháp trực tiếp kiểm sát được áp dụng trong tố tụng hình sự, thi hành án hình sự, đối với từng vụ việc khiếu nại, tố cáo hoặc việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong một thời điểm nhất định.

3. Trình tự, thủ tục tiến hành trực tiếp kiểm sát như sau:

a) Chuẩn bị kiểm sát

Xác định dấu hiệu vi phạm của cơ quan có thẩm quyền trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo và căn cứ pháp luật để tiến hành trực tiếp kiểm sát;

Ban hành quyết định trực tiếp kiểm sát, chương trình làm việc và nội dung yêu cầu báo cáo. Quyết định trực tiếp kiểm sát, chương trình làm việc và nội dung yêu cầu báo cáo gửi đến cơ quan được kiểm sát ít nhất 05 ngày làm việc trước khi trực tiếp kiểm sát.

b) Tổ chức thực hiện việc trực tiếp kiểm sát

Công bố quyết định trực tiếp kiểm sát và chương trình làm việc;

c) Tổ chức xác minh thu thập tài liệu, chứng cứ

Điều 31. Kết thúc kiểm sát

Kết thúc việc áp dụng một trong các biện pháp kiểm sát nêu tại Điều 28, Điều 29, Điều 30 của Quy định này, căn cứ kết quả kiểm sát, người được phân công kiểm sát dự thảo kết luận kiểm sát. Trường hợp áp dụng nhiều biện pháp kiểm sát đối với một vụ việc thì chỉ ban hành kết luận kiểm sát khi kết thúc biện pháp kiểm sát cuối cùng. Tổ chức họp với cơ quan được kiểm sát để thông báo dự thảo kết luận kiểm sát.

Khi có có căn cứ kết luận vi phạm trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của cơ quan được kiểm sát, tùy tính chất mức độ vi phạm, người được phân công kiểm sát dự thảo kiến nghị hoặc kháng nghị trình Viện trưởng quyết định.

Kết luận kiểm sát, kiến nghị hoặc kháng nghị (nếu có) phải gửi đến Thủ trưởng cơ quan được kiểm sát và Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày ban hành.

Chương V. TỔ CHỨC THỰC HIỆN

Điều 32. Hiệu lực thi hành

Quy định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký.

Những nội dung đã được quy định tại Quy chế số 51 và được quy định cụ thể, chi tiết hơn tại Quy định này thì được thực hiện theo Quy định này.

Những nội dung đã được quy định tại Quy chế số 51 mà không có trong Quy định này thì thực hiện theo Quy chế số 51.

Điều 33. Trách nhiệm tổ chức thực hiện

1. Thủ trưởng các đơn vị thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân và Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự các cấp chịu trách nhiệm tổ chức thi hành Quy định này.

2. Vụ Kiểm sát và giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp có trách nhiệm tham mưu, giúp Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện Quy định này trong toàn ngành Kiểm sát.

Điều 34. Sửa đổi, bổ sung Quy định

Trong quá trình thực hiện Quy định này, nếu phát sinh vướng mắc hoặc những vấn đề mới cần sửa đổi, bổ sung thì các đơn vị thuộc Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân và Viện kiểm sát quân sự các cấp báo cáo Viện kiểm sát nhân dân tối cao (thông qua Vụ Kiểm sát và giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp) để hướng dẫn, tổng hợp đề xuất sửa đổi, bổ sung kịp thời. Việc sửa đổi, bổ sung Quy định này do Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao quyết định./.

Bàn Về Việc Xem Xét, Giải Quyết Lại Quyết Định Giải Quyết Khiếu Nại Đã Có Hiệu Lực Pháp Luật

Đồng Tháp: 18 Năm Không Ban Hành Quyết Định Giải Quyết Khiếu Nại

Không Ban Hành Quyết Định Giải Quyết Khiếu Nại Hành Chính

Huyện Đan Phượng Thừa Nhận Sai Sót Khi Ban Hành Quyết Định Giải Quyết Khiếu Nại

Quận Bình Thạnh (Tphcm): Chậm Ban Hành Quyết Định Giải Quyết Khiếu Nại Lần Đầu Đến 318 Ngày

Hoàn Thiện Quy Định Về Việc Thi Hành Quyết Định Giải Quyết Khiếu Nại Hành Chính Có Hiệu Lực Pháp Luật

Bàn Về Giải Quyết Khiếu Nại Cáo Trạng, Quyết Định Truy Tố Của Viện Kiểm Sát Theo Quy Định Của Bộ Luật Tố Tụng Hình Sự Năm 2022

Khiếu Nại Cáo Trạng Và Việc Giải Quyết Khiếu Nại Cáo Trạng Của Viện Kiểm Sát

Thẩm Quyền, Thời Hạn Giải Quyết Khiếu Nại Trong Hoạt Động Tư Pháp Của Viện Kiểm Sát

Vksnd Tỉnh Huỷ Bỏ Quyết Định Giải Quyết Khiếu Nại Của Vksnd Cấp Huyện Do Chưa Thực Hiện Đúng Trình Tự Và Thẩm Quyền Theo Quy Định

Ninh Thuận: Giữ Nguyên Quyết Định Giải Quyết Khiếu Nại Của Ubnd Huyện Ninh Phước

Thực tiễn này xuất phát từ nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân từ yếu tố pháp lý. Trong phạm vi bài viết này, tác giả chủ yếu phân tích một số vấn đề đặt ra từ các quy định pháp luật hiện hành về nội dung trách nhiệm, thủ tục thi hành và chế tài xử lý vi phạm trong thi hành quyết định giải quyết khiếu nại hành chính (QĐGQKNHC) có hiệu lực pháp luật.

Theo quy định tại Luật Khiếu nại năm 2011 và Nghị định số 75/2012/NĐ-CP ngày 3/10/2012 quy định chi tiết một số điều của Luật Khiếu nại (sau đây viết tắt là Nghị định số 75/2012/NĐ-CP), trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc thi hành QĐGQKNHC gồm:

Trách nhiệm thi hành QĐGQKNHC trước hết thuộc về người giải quyết khiếu nại. Người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại hành chính ở Việt Nam theo quy định tại Luật Khiếu nại bao gồm:

– Ở cấp Trung ương: Thủ tướng Chính phủ lãnh đạo công tác giải quyết khiếu nại của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, UBND các cấp; xử lý các kiến nghị của Tổng Thanh tra Chính phủ; chỉ đạo xử lý tranh chấp về thẩm quyền giải quyết giữa các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, UBND các cấp.

Ngoài ra, Thủ tướng Chính phủ còn chỉ đạo giải quyết các vụ việc khiếu nại đông người, phức tạp, kéo dài, vụ việc dư luận xã hội quan tâm, vụ việc mà các bộ, ngành, địa phương có ý kiến khác nhau. Tham mưu giúp Thủ tướng Chính phủ trong công tác giải quyết khiếu nại là Thanh tra Chính phủ, ngoài ra, các bộ, ngành theo chức năng, nhiệm vụ có trách nhiệm tham mưu giúp Thủ tướng giải quyết những vụ việc khiếu nại thuộc phạm vi quản lý Nhà nước.

– Ở các bộ, ngành: Tham mưu giúp bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ, thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ giải quyết khiếu nại là thanh tra bộ và một số đơn vị chức năng thuộc bộ.

– Ở cấp tỉnh: Tham mưu giúp chủ tịch UBND cấp tỉnh giải quyết khiếu nại là thanh tra tỉnh và các sở, ngành chức năng. Chủ tịch UBND cấp tỉnh căn cứ nội dung, tính chất vụ việc khiếu nại để giao chánh thanh tra cấp tỉnh hoặc thủ trưởng cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh hoặc giao chánh thanh tra chủ trì, phối hợp với thủ trưởng cơ quan chuyên môn tiến hành xác minh, kết luận và kiến nghị việc giải quyết khiếu nại.

Ở các sở, ngành, đơn vị tham mưu cho giám đốc sở giải quyết là thanh tra sở và các đơn vị phòng, ban chuyên môn.

– Ở cấp huyện: Tham mưu giúp chủ tịch UBND cấp huyện giải quyết khiếu nại là thanh tra huyện và các phòng, ban chuyên môn (Phòng Tài nguyên và Môi trường, Phòng Quản lý đô thị…). Chủ tịch UBND cấp huyện căn cứ nội dung, tính chất vụ việc khiếu nại để giao chánh thanh tra cấp huyện hoặc thủ trưởng cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện hoặc giao chánh thanh tra chủ trì, phối hợp với thủ trưởng cơ quan chuyên môn tiến hành xác minh, kết luận và kiến nghị việc giải quyết khiếu nại.

– Ở cấp xã: Tham mưu giúp chủ tịch UBND cấp xã giải quyết khiếu nại là cán bộ chuyên môn (cán bộ địa chính, cán bộ tư pháp…).

Người khiếu nại là công dân, cơ quan, tổ chức có trách nhiệm có ba trách nhiệm sau: (1) Cộng tác với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền trong việc khôi phục quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị QĐHC, HVHC trái pháp luật xâm phạm. (2) Chấp hành QĐHC, HVHC bị khiếu nại đã được cơ quan có thẩm quyền giải quyết công nhận QĐHC, HVHC đó là đúng pháp luật. (3) Chấp hành quyết định xử lý của cơ quan có thẩm quyền để thi hành QĐGQKNHC có hiệu lực pháp luật. Ba trách nhiệm này của người khiếu nại cũng được quy định trong Nghị định 75/2012/NĐ-CP.

Theo Khoản 5 Điều 2 Luật Khiếu nại, người bị khiếu nại là cơ quan hành chính Nhà nước hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính Nhà nước có QĐHC, HVHC bị khiếu nại. Luật Khiếu nại năm 2011 hiện nay không đề cập đến trách nhiệm của người bị khiếu nại. Tuy nhiên, Nghị định 75/2012/NĐ-CP có quy định chi tiết về trách nhiệm của người bị khiếu nại trong việc thi hành QĐGQKNHC có hiệu lực pháp luật tại Điều 14.

– Quy định về trách nhiệm của người giải quyết khiếu nại chưa thống nhất với quy định tương ứng tại Nghị định 75/2012/NĐ-CP, Luật Khiếu nại chưa đề cập đến trường hợp người giải quyết khiếu nại giao cho cơ quan chuyên môn hoặc cơ quan hành chính Nhà nước cấp dưới tổ chức thi hành QĐGQKNHC có hiệu lực pháp luật.

Trách nhiệm thứ ba của người giải quyết khiếu nại là hoặc phối hợp với tổ chức, cơ quan hữu quan thực hiện biện pháp nhằm khôi phục quyền, lợi ích hợp pháp của người khiếu nại chưa được quy định chi tiết trong Nghị định 75/2012/NĐ-CP.

– Chưa có quy định về tính chịu trách nhiệm và mức độ chịu trách nhiệm của người khiếu nại trong trường hợp không thi hành QĐHC, HVHC được người có thẩm quyền kết luận là đúng pháp luật. Chưa đề cập đến trách nhiệm pháp lý của người khiếu nại khi không chấp hành QĐGQKNHC có hiệu lực pháp luật. Các biện pháp cưỡng chế thi hành, tính chất, mức độ vi phạm cũng chưa được quy định hay hướng dẫn cụ thể dẫn đến những hạn chế trong việc áp dụng quy định pháp luật này và chưa tạo hiệu lực răn đe, nghiêm minh đối với các hành vi cố ý không thi hành QĐGQKNHC có hiệu lực pháp luật.

2. Quy định về thủ tục thi hành

Ngoài quy định tại Điều 44 Luật Khiếu nại năm 2011, pháp luật hiện nay chưa có quy định cụ thể nào về phương thức và trình tự thi hành QĐGQKNHC có hiệu lực pháp luật. Điều 44 cũng chỉ mới đề cập đến thời hạn có hiệu lực pháp luật của QĐGQKNHC lần đầu và lần hai; trường hợp khởi kiện vụ án hành chính ra Tòa án khi người khiếu nại không đồng ý với QĐGQKNHC và thời điểm QĐGQKNHC có hiệu lực thi hành. Trong khi đó, văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn như Nghị định 75/2012/NĐ-CP cũng chỉ tập trung làm rõ trách nhiệm của các chủ thể trong việc thi hành QĐGQKNHC có hiệu lực pháp luật.

Việc quy định chi tiết điều khoản về trình tự, thủ tục thi hành QĐGQKNHC có hiệu lực pháp luật khá phức tạp bởi lẽ một phần do có rất nhiều chủ thể có trách nhiệm trong việc thi hành quyết định giải quyết có hiệu lực pháp luật.

3. Quy định về chế tài xử lý vi phạm

Mặc dù Luật Khiếu nại năm 2011 có quy định một chương về xử lý vi phạm gồm hai điều (Điều 67, 68) nhưng mới chỉ xác định về đối tượng có hành vi vi phạm và nguyên tắc chung về xử lý hành vi vi phạm. Trong khi đó, chưa có quy định nào đề cập đến chế tài xử lý vi phạm cũng như các phương thức, trình tự cưỡng chế thi hành QĐGQKNHC có hiệu lực pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Tại Nghị định 75/2012/NĐ-CP mới chỉ quy định người bị khiếu nại có trách nhiệm trong việc tổ chức cưỡng chế thi hành QĐHC đúng pháp luật trong trường hợp người khiếu nại chậm thi hành, không thi hành hoặc thi hành không đúng QĐHC đó.

Để hoàn thiện pháp luật quy định về việc thi hành QĐGQKNHC có hiệu lực pháp luật, tác giả đề xuất một số giải pháp sau:

Một là, hoàn thiện pháp luật quy định về nội dung trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong thi hành QĐGQKNHC.

– Sửa đổi thống nhất giữa quy định của Luật Khiếu nại và Nghị định số 75/2012/NĐ-CP về trách nhiệm của người giải quyết khiếu nại trong việc tự mình hoặc giao cơ quan tổ chức thi hành hoặc cơ quan thanh tra Nhà nước cùng cấp theo dõi, đôn đốc, thanh tra, kiểm tra, giám sát việc thi hành QĐGQKNHC. Trên cơ sở đó, cần quy định rõ ràng hơn phạm vi, giới hạn trách nhiệm giúp Thủ trưởng cơ quan quản lý Nhà nước theo dõi, kiểm tra, đôn đốc việc thi hành các QĐGQKNHC có hiệu lực pháp luật của cơ quan thanh tra Nhà nước.

– Nghiên cứu sửa đổi Nghị định 75/2012/NĐ-CP nhằm xác định rõ trách nhiệm của người giải quyết khiếu nại là tổ chức thi hành hoặc phối hợp với tổ chức, cơ quan hữu quan thực hiện biện pháp nhằm khôi phục quyền, lợi ích hợp pháp của người khiếu nại.

– Nghiên cứu bổ sung trong Luật Khiếu nại quy định về tính chịu trách nhiệm và mức độ chịu trách nhiệm của người khiếu nại trong trường hợp không thi hành QĐHC, HVHC được người có thẩm quyền kết luận là đúng pháp luật.

– Cần sớm có các quy định hướng dẫn cụ thể về những biện pháp cưỡng chế thi hành, tính chất, mức độ vi phạm nhằm tạo sự thống nhất trong việc áp dụng pháp luật này và tạo hiệu lực răn đe, nghiêm minh đối với các hành vi cố ý không thi hành QĐGQKNHC có hiệu lực pháp luật.

– Xem xét, nghiên cứu phân tách quy định về trách nhiệm của người bị khiếu nại theo giải quyết khiếu nại lần một và giải quyết khiếu nại lần hai bởi trách nhiệm của người bị khiếu nại ở hai lần giải quyết khiếu nại này là khác nhau. Việc phân tách trách nhiệm theo hướng này sẽ tránh sự trùng lắp với trách nhiệm của người giải quyết khiếu nại khi người bị khiếu nại đồng thời là người giải quyết khiếu nại; đồng thời, tránh được sự khó hiểu, rắc rối trong việc xác định trách nhiệm của các chủ thể khác trong việc thi hành QĐGQKNHC có hiệu lực pháp luật như cơ quan, tổ chức quản lý cán bộ, công chức; cơ quan được giao tổ chức thi hành QĐGQKNHC có hiệu lực pháp luật.

Hai là, hoàn thiện pháp luật quy định về thủ tục thi hành QĐGQKNHC.

– Sửa đổi, bổ sung thêm quy định về trách nhiệm của người bị khiếu nại trong việc báo cáo, chịu trách nhiệm trước pháp luật, trước người giải quyết khiếu nại và cơ quan, tổ chức có thẩm quyền về việc thi hành QĐGQKNHC có hiệu lực pháp luật; nếu vi phạm pháp luật thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý theo quy định. Việc bổ sung này để ràng buộc và nâng cao khả năng chịu trách nhiệm của người bị khiếu nại trong việc thi hành QĐGQKNHC có hiệu lực pháp luật.

Để có cơ sở pháp lý rõ ràng hơn, cần quy định các biện pháp cụ thể cưỡng chế và xử lý hành vi vi phạm đối với người bị khiếu nại tùy từng trường hợp: Trong trường hợp khiếu nại lần đầu, người bị khiếu nại đồng thời là người giải quyết khiếu nại thì có thể áp dụng các hình thức xử lý kỷ luật đối với người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại. Tuy nhiên, trong trường hợp khiếu nại lần hai, người bị khiếu nại khác người giải quyết khiếu nại thì biện pháp cưỡng chế và xử lý vi phạm vẫn còn là khoảng trống trong quy định pháp luật về khiếu nại nói chung cần được hoàn thiện.

Thứ ba, hoàn thiện pháp luật quy định về xử lý vi phạm trong thi hành QĐGQKNHC có hiệu lực pháp luật.

Thứ hai, nghiên cứu sửa đổi, bổ sung quy định về thanh tra, kiểm tra, giám sát việc thi hành QĐGQKNHC rõ ràng hơn.

Viện Khoa học Thanh tra

Bổ sung, hoàn thiện các văn bản hướng dẫn về thanh tra trách nhiệm và nghiên cứu đưa nội dung đánh giá về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao của các cơ quan hành chính Nhà nước, của đội ngũ cán bộ, công chức trong các cơ quan hành chính Nhà nước; trong đó có việc thực hiện pháp luật về thi hành QĐGQKNHC là một trong những tiêu chí đánh giá năng lực để quản lý, sử dụng cán bộ, công chức.

Sửa đổi Luật Khiếu nại theo hướng quy định rõ hơn chủ thể nào có trách nhiệm giám sát thi hành; hình thức giám sát, quy trình giám sát trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong thi hành QĐGQKNHC có hiệu lực pháp luật.

Có thể nghiên cứu giao cho đơn vị giám sát, thẩm định và xử lý sau thanh tra thuộc cơ quan thanh tra Nhà nước có chức năng giúp thủ trưởng cơ quan thanh tra giám sát, kiểm tra, đôn đốc, hướng dẫn, tổng hợp báo cáo về tình hình thi hành QĐGQKNHC có hiệu lực.

Trước hết, Chính phủ cần điều chỉnh những nội dung của Nghị định 34/2011/NĐ-CP theo hướng cụ thể hơn và xử lý nghiêm khắc hơn các sai phạm của cán bộ, công chức trong thi hành công vụ. Trên cơ sở này, nghiên cứu hoàn thiện những quy định cụ thể về nguyên tắc xử lý hành vi vi phạm, quy định các cấu thành về hành vi vi phạm, tương ứng với các chế tài cụ thể để áp hình thức xử lý cho từng hành vi vi phạm pháp luật khiếu nại. Theo đó, sửa đổi, bổ sung các quy định về xử lý vi phạm trong việc thi hành QĐGQKNHC có hiệu lực pháp luật theo hướng phân định rõ các loại hành vi vi phạm gắn với những hình thức chế tài cụ thể.

Thi hành QĐGQKNHC có hiệu lực pháp luật là khâu quan trọng và cũng là khâu cuối cùng đánh giá tính hiệu quả của công tác giải quyết khiếu nại hành chính; thể hiện tính nghiêm minh, kỷ cương pháp luật nhằm khôi phục và bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng, hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân… Do đó, nâng cao hiệu quả thi hành QĐGQKNHC phải là sự tổng hòa của nhiều biện pháp khác nhau từ nâng cao nhận thức đến việc tổ chức thực hiện, trong đó vấn đề nền tảng trước mắt là cần phải hoàn thiện khuôn khổ pháp lý quy định về vấn đề này./.

Quyết Định Giải Quyết Khiếu Nại Có Hiệu Lực Pháp Luật

Thi Hành Quyết Định Giải Quyết Khiếu Nại Có Hiệu Lực Pháp Luật

Quyết Định Giải Quyết Khiếu Nại Cuối Cùng Của Ubnd Tỉnh, Vì Sao Không Được Thi Hành?

Giải Quyết Khiếu Nại Trong Tố Tụng Dân Sự: Còn Nhiều Lỗ Hổng Cần Bổ Sung

“quyết Định Giải Quyết Khiếu Nại Cuối Cùng” Chưa Phải Cuối

Các Yếu Tố Bảo Đảm Việc Thi Hành Quyết Định Giải Quyết Khiếu Nại Hành Chính Có Hiệu Lực Pháp Luật

Giải Quyết Khiếu Nại (Kn) Quyết Định Hành Chính, Hành Vi Hành Chính

Giải Quyết Khiếu Nại Lần Đầu (Quyết Định Hành Chính, Hành Vi Hành Chính)

Giải Quyết Khiếu Nại Quyết Định Hành Chính

Hủy Quyết Định Giải Quyết Khiếu Nại Do Vi Phạm Nghiêm Trọng Trình Tự Thủ Tục Tố Tụng

Mẫu Quyết Định Giải Quyết Thư Khiếu Nại Kỷ Luật Đảng Viên

Thực tiễn thời gian qua cho thấy, việc tổ chức thi hành quyết định giải quyết khiếu nại hành chính có hiệu lực pháp luật tại một số nơi mặc dù đã được quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo và triển khai nghiêm túc nhưng nhiều nơi vẫn còn hiện tượng thi hành chậm, thiếu quyết liệt.

Có thể thấy rằng, thi hành quyết định giải quyết khiếu nại hành chính có hiệu lực pháp luật có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo đảm hiệu lực giải quyết khiếu nại, hiệu quả quản lý nhà nước, góp phần khắc phục tình trạng khiếu nại tồn đọng, phức tạp, kéo dài. Đây là nhiệm vụ hết sức quan trọng mà hiện nay Đảng và Nhà nước rất quan tâm, bởi lẽ nếu chỉ làm tốt nhiệm vụ giải quyết khiếu nại là chưa đủ, nếu quyết định giải quyết đó chưa được đảm bảo thực thi vào thực tế để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người dân, giúp ổn định tình hình chính trị, trật tự an toàn xã hội.

ThS. Tạ Thu Thủy – Viện Khoa học Thanh tra

Theo Thông báo số 357/TB-BPCP về nội dung kết luận, chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Hội nghị toàn quốc về công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo.

Quy Trình Khiếu Nại Quyết Định Hành Chính, Hành Vi Hành Chính

Luận Án: Quyết Định Giải Quyết Khiếu Nại Hành Chính Tỉnh Phú Yên

Khiếu Nại: Trình Tự, Thủ Tục Và Thời Hiệu

Thẩm Quyền Và Thời Hạn Giải Quyết Khiếu Nại Đối Với Quyết Định Trúng Tuyển Nhập Ngũ

Thời Hạn Giải Quyết Khiếu Nại ? Soạn Đơn Khiếu Nại Như Thế Nào ?

Về Xem Xét Quyết Định Giải Quyết Khiếu Nại Đã Có Hiệu Lực Của Viện Kiểm Sát

Thu Hồi, Hủy Bỏ Quyết Định Số 267 Ngày 22 1 2022 Đúng Quy Định

Công Khai Quyết Định Giải Quyết Khiếu Nại Được Quy Định Như Thế Nào?

Thủ Tục Khiếu Nại Quyết Định Hành Chính Đã Được Ban Hành Quyết Định Giải Quyết Khiếu Nại Lần Đầu (Trong Trường Hợp Chủ Tịch Ủy Ban Nhân Dân Tỉnh Giải Quyết Khiếu Nại Lần Hai).

Quận Bình Thạnh (Tphcm): Chậm Ban Hành Quyết Định Giải Quyết Khiếu Nại Lần Đầu Đến 318 Ngày

Huyện Đan Phượng Thừa Nhận Sai Sót Khi Ban Hành Quyết Định Giải Quyết Khiếu Nại

Quy chế số 51/QĐ-VKSTC ngày 02/02/2016 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) tối cao quy định về công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và kiểm sát việc giải quyết khiếu nại tố cáo trong hoạt động tư pháp (Quy chế số 51) đã quy định cụ thể về cơ chế kiểm tra quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực pháp luật. Đây là điểm mới rất quan trọng, là “thủ tục đặc biệt” của Viện kiểm sát trong công tác giải quyết khiếu nại về tư pháp thuộc thẩm quyền.

Tuy nhiên, đặc trưng riêng rất căn bản, yếu tố làm nên sự khác biệt về tên gọi giữa hai thủ tục này là tính bắt buộc về trách nhiệm xem xét, giải quyết, cụ thể:

Đối với giải quyết khiếu nại, theo quy định của các bộ luật và luật về tư pháp, khi chưa có quyết định giải quyết khiếu nại cuối cùng mà đương sự có đơn khiếu nại thì đồng thời phát sinh trách nhiệm xem xét, thụ lý, giải quyết của cơ quan có thẩm quyền. Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 không quy định thời hiệu khiếu nại tiếp theo (lần hai), cho nên, sau khi nhận quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu về quyết định, hành vi tố tụng, nếu đương sự khiếu nại tiếp thì cơ quan có thẩm quyền giải quyết; trừ khiếu nại thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân, các khiếu nại khác trong tố tụng hình sự đều do Viện kiểm sát giải quyết cuối cùng. Song Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2022 đã quy định rõ về thời hiệu khiếu nại lần hai (Điều 474, 476), theo đó, sau khi nhận được quyết định giải quyết lần đầu, trong thời hạn 03 ngày, đương sự có quyền khiếu nại tiếp và cơ quan có thẩm quyền phải xem xét để thụ lý, giải quyết. Sau thời hạn này mà đương sự mới gửi đơn thì thuộc trường hợp không đủ điều kiện thụ lý để giải quyết khiếu nại; nếu quyết định giải quyết khiếu nại đó do VKSND ban hành, có thể được xem xét theo thủ tục “xem xét quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực pháp luật” khi đủ các điều kiện theo quy định tại Điều 14 Quy chế số 51.

– Trường hợp thứ nhất, qua kiểm tra thấy việc giải quyết khiếu nại đã khách quan, đúng pháp luật, đảm bảo tính chặt chẽ thì trong nội dung Kết luận nêu rõ nội dung, nhận xét, đánh giá và khẳng định rõ tính đúng đắn, thuyết phục của quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực pháp luật.

– Trường hợp thứ hai, quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực pháp luật tuy đã đúng quan điểm, đường lối nhưng thiếu chặt chẽ và tính thuyết phục thì cùng với việc nêu rõ nội dung, đưa ra tài liệu chứng cứ chứng minh, bản Kết luận phải đánh giá, chỉ rõ những thiếu sót đó. Một mặt, để đương sự thấy rõ bản chất của việc giải quyết là đúng, mà chỉ sai về cách lập luận và thiếu thuyết phục; mặt khác, giúp Viện kiểm sát đã ban hành quyết định giải quyết thấy được hạn chế, thiếu sót để khắc phục, sửa chữa, rút kinh nghiệm. Sau kết luận, Viện kiểm sát đã kiểm tra quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực pháp luật có thể ban hành văn bản rút kinh nghiệm đối với Viện kiểm sát cấp dưới.

– Trường hợp thứ ba, qua kiểm tra phát hiện quyết định, hành vi tố tụng có vi phạm nghiêm trọng (quan điểm, nội dung; thẩm quyền, trình tự, thủ tục hoặc cả hai) mà quá trình giải quyết khiếu nại không hủy bỏ, khắc phục; hoặc chính quyết định giải quyết khiếu nại có vi phạm, sai sót nghiêm trọng thì Viện kiểm sát có thẩm quyền kiểm tra phải hủy bỏ quyết định giải quyết khiếu nại đã được kiểm tra. Trong trường hợp này, theo quy định tại Điều 7 Luật tổ chức VKSND năm 2014 và Điều 41 Bộ luật Tố tụng hình sự hiện hành, Viện trưởng VKSND cấp trên có quyền hủy bỏ các quyết định không có căn cứ và trái pháp luật của VKSND cấp dưới. Tuy các điều luật này không quy định rõ về thẩm quyền hủy bỏ, nhưng để phù hợp với quy định về thẩm quyền giải quyết khiếu nại tại Chương XXXIII Bộ luật Tố tụng hình sự, VKSND cấp trên chỉ nên hủy quyết định giải quyết khiếu nại, quyết định tố tụng vi phạm của VKS cấp dưới trực tiếp, trừ trường hợp đặc biệt. Đồng thời, xác định rõ sai sót, vi phạm từ quyết định, hành vi nào thì hủy, bác bỏ để cơ quan đã ban hành, thực hiện khắc phục vi phạm từ hoạt động đó.

Có thể thấy rằng, việc quy định và thực hiện xem xét quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực pháp luật của Viện kiểm sát có ý nghĩa tháo gỡ “nút thắt” cuối cùng của trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại thuộc thẩm quyền Viện kiểm sát khi cần thiết, nhằm giải thích, giúp người khiếu nại nhận thức đúng quy định của pháp luật về nội dung khiếu nại và sự phù hợp thực tiễn của vấn đề; mặt khác, giải quyết, khắc phục sai sót, vi phạm trong quá trình tiến hành tố tụng hoặc các hoạt động tư pháp khác và giải quyết khiếu nại của Viện kiểm sát có thẩm quyền. Qua hai năm thực hiện Quy chế số 51 về kiểm tra quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực pháp luật tại VKSND tối cao (Vụ 12), nhiều vụ việc được VKSND cấp tỉnh ra quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực pháp luật có sai sót, vi phạm phải hủy hoặc rút kinh nghiệm. Vì vậy, đây là hoạt động nghiệp vụ hữu hiệu của Viện kiểm sát nhân dân nhằm giảm thiểu khiếu kiện về tư pháp, thể hiện sự cầu thị của người thi hành công vụ thuộc Viện kiểm sát, đem lại lòng tin của nhân dân với ngành mà các Viện kiểm sát cần tích cực thực hiện./.

Ubnd Tỉnh Thu Hồi, Hủy Bỏ Quyết Định Giải Quyết Kn Nhưng Đề Nghị Xem Xét Giải Quyết Lại!? (Kỳ 3)

Hủy Bỏ Quyết Định Giải Quyết Khiếu Nại Để… “né Lỗi”

Người Dân Được Quyền Khởi Kiện Quyết Định Giải Quyết Khiếu Nại

Không Đồng Ý Với Quyết Định Giải Quyết Khiếu Nại Lần 2 Của Ct Ubnd Cấp Tỉnh, Bộ Trưởng Tn&mt Thì Có Được Khởi Kiện Không?

Mẫu Đơn Khiếu Nại Bản Cập Nhật Năm 2022? Hướng Dẫn Viết Đơn Khiếu Nại ?

Khiếu Nại Quyết Định Xử Lý Vụ Việc Cạnh Tranh Chưa Có Hiệu Lực Pháp Luật

Quy Định Về Đơn Khiếu Nại Quyết Định Xử Lý Vụ Việc Cạnh Tranh Theo Luật Cạnh Tranh 2022

Khiếu Nại Là Gì? Những Điều Cần Biết Về Khiếu Nại

Khiếu Nại Và Giải Quyết Khiếu Nại Quyết Định Hành Chính

Trình Tự, Thời Gian Giải Quyết Đơn Từ Khiếu Nại

Nhận Diện Đối Tượng Khởi Kiện Vụ Án Hành Chính Về Quản Lý Đất Đai Qua Công Tác Kiểm Sát Giải Quyết Vụ Án Hành Chính

Khiếu nại quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh chưa có hiệu lực pháp luật. Giải quyết tranh chấp khi cạnh tranh không lành mạnh.

Cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền khiếu nại đối với quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của cơ quan có thẩm quyền chưa có hiệu lực pháp luật trong trường hợp không đồng ý với quyết định xứ lý vụ việc cạnh tranh.

Các trường hợp khiếu nại: Luật Cạnh tranh 2004 quy định như sau:

-Trường hợp không nhất trí một phần hoặc toàn bộ nội dung quyết định xử lý vụ việc của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh, thì các bên có quyền khiếu nại lên Hội đồng cạnh tranh

-Trường hợp không nhất trí với một phần hoặc toàn bộ nội dung quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Thủ trưởng cơ quan quản lý cạnh tranh, các bên có quyền khiếu nại lên Bộ trưởng Bộ Thương mại

Bên không đồng ý với quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của cơ quan có thẩm quyền thì đơn khiếu nại quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh cho cơ quan đã ban hành quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh gồm các nội dung chính sau đây:

– Ngày, tháng, năm làm đơn khiếu nại;

– Tên, địa chỉ của bên làm đơn khiếu nại;

– Số, ngày, tháng, năm của quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh bị khiếu nại;

– Chữ ký, con dấu (nếu có) của bên làm đơn khiếu nại.

Bên khiếu nại nộp theo các chứng cứ bổ sung (nếu có) chứng minh cho khiếu nại của mình là có căn cứ và hợp pháp.

Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận đơn, cơ quan đã ban hành quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh phải kiểm tra tính hợp lệ của đơn khiếu nại

Hiệu lực quyết định giải quyết khiếu nại: Quyết định giải quyết khiếu nại quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh có hiệu lực kể từ ngày cơ quan có thẩm quyền ký.

THAM KHẢO CÁC DỊCH VỤ CÓ LIÊN QUAN CỦA LUẬT DƯƠNG GIA:

Quyết Định Giải Quyết Khiếu Nại Quyết Định Xử Lý Vụ Việc Cạnh Tranh

Quyết Định Giải Quyết Khiếu Nại Về Quyết Định Xử Lý Vụ Việc Cạnh Tranh

Mẫu Đơn Khiếu Nại Giải Quyết Tranh Chấp Đất Với Ubnd Xã

Thủ Tục Giải Quyết Khiếu Nại Lần Đầu Tại Cấp Xã

Giải Quyết Khiếu Nại Lần Đầu (Ủy Ban Nhân Dân Ấp Xã)

Quyết Định Kỷ Luật Đảng, Quyết Định Giải Quyết Khiếu Nại Kỷ Luật Đảng Chấm Dứt Hiệu Lực Khi Nào?

Kiện Quyết Định Giải Quyết Khiếu Nại Khi Nào?

Giải Quyết Khiếu Nại Về Việc Trả Lại Đơn Khởi Kiện

Khiếu Nại, Kiến Nghị Và Giải Quyết Khiếu Nại, Kiến Nghị Về Việc Trả Lại Đơn Khởi Kiện Được Quy Định Như Thế Nào?

Khiếu Nại Việc Trả Lại Đơn Kiện Trong Vụ Án Hành Chính

Công Khai Các Quyết Định Giải Quyết Khiếu Nại

Ngày 12/12/2018, tổ chức đảng ra quyết định khai trừ đối với tôi. Sau đó tôi đã khiếu nại về quyết định khai trừ này. Ngày 12/3/2019, tổ chức đảng có thẩm quyền ra quyết định giải quyết khiếu nại kỷ luật, thay đổi bằng hình thức kỷ luật cảnh cáo. Tôi cảm thấy không phục nên đã tiếp tục khiếu nại đối với quyết định thay đổi hình thức kỷ luật, hiện nay tổ chức đảng đang xem xét giải quyết đơn khiếu nại của tôi. Cho tôi hỏi đối với trường hợp của tôi thì hiệu lực thi hành kỷ luật chấm dứt tại thời điểm nào? Xin cảm ơn

Dương Lộc (090***)

Khoản 9 Điều 39 Quy định 30-QĐ/TW năm 2022 quy định: Trong khi chờ giải quyết khiếu nại, tổ chức đảng và đảng viên bị kỷ luật phải chấp hành nghiêm chỉnh quyết định kỷ luật.

Mặt khác, Điểm 3.2 Khoản 3 Điều 40 Quy định 30-QĐ/TW năm 2022 quy định:

Sau một năm, kể từ ngày công bố quyết định kỷ luật hoặc quyết định giải quyết khiếu nại kỷ luật (trừ quyết định kỷ luật khai trừ), nếu đảng viên không khiếu nại, không tái phạm hoặc không có vi phạm mới đến mức phải xử lý kỷ luật thì quyết định kỷ luật đương nhiên chấm dứt hiệu lực.

Nội dung này được hướng dẫn bởi dấu sao thứ ba Điều 40 Hướng dẫn 01-HD/UBKTTW năm 2022 như sau:

Sau một năm, kể từ ngày công bố quyết định kỷ luật hoặc quyết định giải quyết khiếu nại kỷ luật (trừ quyết định kỷ luật khai trừ), nếu đảng viên không khiếu nại, không tái phạm hoặc không có vi phạm mới đến mức phải xử lý kỷ luật thì quyết định kỷ luật đương nhiên chấm dứt hiệu lực

– Trong thời gian chấp hành quyết định, kỷ luật hoặc quyết định giải quyết khiếu nại kỷ luật, nếu đảng viên khiếu nại thì thời gian chấm dứt hiệu lực kỷ luật được tính là sau một năm kể từ ngày công bố quyết định giải quyết khiếu nại kỷ luật cuối cùng đối với đảng viên đó.

– Một năm được tính theo tháng (đủ 12 tháng).

Căn cứ theo các quy định nêu trên thì Anh/Chị bị kỷ luật khai trừ, có khiếu nại, tổ chức đảng cấp trên quyết định giảm hình thức kỷ luật, từ khai trừ xuống hình thức kỷ luật cảnh cáo thì Anh/Chị phải chấp hành quyết định kỷ luật cảnh cáo.

Anh/Chị tiếp tục có khiếu nại và tổ chức đảng cấp có thẩm quyền đang giải quyết thì trong thời gian giải quyết khiếu nại, Anh/Chị phải chấp hành quyết định kỷ luật cảnh cáo của tổ chức đảng có thẩm quyền; hiệu lực kỷ luật chỉ chấm dứt sau một năm kể từ ngày công bố quyết định giải quyết khiếu nại kỷ luật cuối cùng đối với Anh/Chị.

Ban biên tập thông tin đến Anh/Chị!

Trân trọng!

Mẫu Quyết Định Giải Quyết Thư Khiếu Nại Kỷ Luật Đảng Viên

Hủy Quyết Định Giải Quyết Khiếu Nại Do Vi Phạm Nghiêm Trọng Trình Tự Thủ Tục Tố Tụng

Giải Quyết Khiếu Nại Quyết Định Hành Chính

Giải Quyết Khiếu Nại Lần Đầu (Quyết Định Hành Chính, Hành Vi Hành Chính)

Giải Quyết Khiếu Nại (Kn) Quyết Định Hành Chính, Hành Vi Hành Chính