Quyết Định Hành Chính Quy Phạm Là Gì / Top 8 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 1/2023 # Top View | Bac.edu.vn

Quyết Định Hành Chính Là Gì?

Trong quá trình giải quyết các công việc hành chính thì các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền liên tục phải ban hành ra các văn bản để hướng dẫn chỉ đạo công tác trên thực tế.

Quyết định hành chính là gì?

Theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành thì có thể hiểu Quyết định hành chính là loại văn bản pháp luật được ban hành bởi các cơ quan nhà nước hoặc các cá nhân có thẩm quyền trong công tác quản lý hành chính.

– Do quyết định hành chính là nội dung chủ yếu của Luật hành chính nên nó cũng mang các đặc điểm mệnh lệnh – phục tùng, quyền lực chỉ xuất phát từ một phía là các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền ban hành, tức là những đối tượng chịu sự điều chỉnh của Quyết định hành chính bắt buộc phải thực hiện theo nội dung của Quyết định hành chính đó

– Nội dung của quyết định hành chính là sự thể hiện ý chí của nhà nước. Quyết định hành chính được ban hành ra nhằm giải quyết các công việc, vấn đề phát sinh trên thực tế mà cần có sự tham gia giải quyết của cơ quan Nhà nước

– Việc ban hành Quyết định hành chính phải đảm bảo được thực hiện theo đúng trình tự, thủ tục mà pháp luật quy định.

Đặc điểm của quyết định hành chính?

Quyết định hành chính cũng là một loại của quyết định pháp luật nên ngoài những đặc điểm riêng biệt thì nó còn mang một số đặc điểm chung nhất định như:

– Khác với các loại văn bản thông thường, Quyết định hành chính nói riêng và Quyết định pháp luật nói chung đều mang tính quyền lực nhà nước.

Do vậy, không phải bất cứ cá nhân tổ chức nào cũng được quyền ban hành ra Quyết định hành chính, mà chỉ những cơ quan, cá nhân được nhà nước trao quyền mới được ban hành ra Quyết định trong một số trường hợp nhất định

Tính quyền lực nhà nước ở trong các Quyết định hành chính nhằm đảm bảo cho việc thực hiện các nội dung trong Quyết định trên thực tế, nếu không chấp hành thì sẽ có thể bị áp dụng các biện pháp cưỡng chế

– Ngoài việc mang tính quyền lực nhà nước thì Quyết định hành chính còn mang tính chất pháp lý cao.

+ Sự xuất hiện của Quyết định hành chính đã tác động đến cơ chế điều chỉnh pháp luật, nó có thể đưa ra các biện pháp hoặc chủ trương trong việc quản lý hoạt động hành chính

+ Đồng thời Quyết định hành chính có thể làm xuất hiện quy phạm pháp luật mới, thay đổi hoặc hủy bỏ những quy phạm pháp luật đã tồn tại trước đó.

+ Việc ban hành Quyết định hành chính có thể làm phát sinh hoặc chấm dứt một mối quan hệ pháp luật

– Quyết định hành chính có giá trị pháp lý thấp hơn Luật, là những văn bản dưới Luật. Tức là một Quyết định hành chính được ban hành phải đảm bảo về hình thức, nội dung phù hợp với Hiến pháp, luật, pháp lệnh đã có hiệu lực trước đó

– Về chủ thể ban hành Quyết định hành chính khá là đa dạng. Những cơ quan hành chính nhà nước từ Trung ương đến địa phương đều có quyền ban hành các quyết định hành chính tùy thuộc vào thẩm quyền quản lý theo quy định của pháp luật

– Mục đích và nội dung của Quyết định hành chính rất đa dạng, không riêng về một vấn đề nhất định nào đấy.

Trên thực tế, Quyết định hành chính sẽ có nhiều tên gọi khác như: Nghị quyết, nghị định, quyết định, thông tư…

Còn về nội dung của Quyết định hành chính thì phụ thuộc vào thẩm quyền quản lý của cơ quan, tổ chức ban hành.

Ví dụ quyết định hành chính

– Quyết định cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

– Quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ

– Thông tư liên tịch

– Nghị quyết số 42/NQ-CP ngày 09 tháng 4 năm 2020 về Các biện pháp hỗ trợ người dân gặp khó khăn do đại dịch Covid – 19

Các loại quyết định hành chính

Có nhiều cách phân loại các quyết định ra thành các nhóm khác nhau, chủ yếu phụ thuộc vào đặc điểm của Quyết định hành chính

– Căn cứ vào từng lĩnh vực:

Quyết định được chia ra làm các loại theo các lĩnh vực chính là Kinh tế, Văn hóa, Y tế, giáo dục

– Căn cứ theo cấp hành chính thì gồm có: Quyết định hành chính ở Trung ương và Quyết định hành chính ở địa phương

– Căn cứ vào tính chất pháp lý thì quyết định hành chính được chia ra thành 3 loại:

+ Quyết định hành chính chủ đạo

+ Quyết định hành chính quy phạm

+ Quyết định hành chính cá biệt

– Căn cứ vào thẩm quyền ban hành thì quyết định hành chính sẽ gồm:

+ Quyết định hành chính của Thủ tướng chính phú

+ Quyết định hành chính của Chủ tịch nước

+ Quyết định hành chính của UBND huyện, xã….

CHÚNG TÔI LUÔN SẴN SÀNG LẮNG NGHE – TƯ VẤN – GIẢI ĐÁP CÁC THẮC MẮC

1900 6557 – “Một cuộc gọi, mọi vấn đề”

Quyết Định Hành Chính Là Gì? Đặc Điểm Của Quyết Định Hành Chính?

Quyết định hành chính là gì? Phân tích khái niệm, đặc điểm và phân loại các quyết định hành chính?

Quyết định hành chính là một dạng cụ thể của quyết định pháp luật do chủ thể quản lý hành chính nhà nước có thẩm quyền ban hành nhằm đề ra các chủ trương, chỉnh sách, các quy tắc xử sự chung hay giải quyết các công việc cụ thể phát sinh trong quả trình quản lý hành chính nhà nước.

Trong quá trình thực hiện hoạt động quản lý hành chính nhà nước, để điều khiển hành vi của đối tượng quản lý, chủ thể quản lý phải sử dụng các phương tiện chuyển tải mệnh lệnh của mình đến đối tượng quản lý. Cách thức chuyển tải mệnh lệnh của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý rất đa dạng, nó phụ thuộc vào nội dung của mệnh lệnh cũng như đối tượng phải thực hiện mệnh lệnh đó. Các mệnh lệnh của chủ thể quản lý có thể được thể hiện thông qua lời nói, hành động hoặc dưới dạng viết (văn bản), và đối tượng quản lý phải có nghĩa vụ phục tùng mệnh lệnh của chủ thể quản lý. Các mệnh lệnh được thế hiện dưới hình thức văn bản – quyết định hành chính được thực hiện phổ biến và quan trọng nhất.

Thuật ngữ “quyết định” theo nghĩa chung có nghĩa là sự giải quyết, phán quyết hay sự phân xử một vấn đề nào đó. Trong quản lý hành chính, chủ thể quản lý khi tiến hành hoạt động quản lý hay nói cách khác là để giải quyết các công việc phát sinh trong quá trình quản lý hành chính nhà nước phải đưa ra các quyết định của mình. Các quyết định này có thể là sự giải quyết một nhiệm vụ cụ thể nào đó cũng có thể là sự phân xử hay phán quyết của chủ thể có thẩm quyền đối với các đối tượng quản lý. Theo nghĩa này, thì quyết định hành chính là cách thức giải quyết công việc của chủ thể quản lý và nó có thể được thể hiện dưới hình thức viết hoặc các hình thức khác như là lời nói hoặc hành vi.

Theo Từ điển bách khoa Việt Nam, NXB Từ điển Bách Khoa, 2011 thì thuật ngữ quyết định quản lý được định nghĩa là: “Chủ trương, chính sách, chương trình hành động do chủ thể quản lý (người lãnh đạo cơ quan quản lý) định ra mà đối tượng quản lý phải thực hiện để giải quyết một vấn đề của hệ thống quản lý, trên cơ sở hiểu biết các quy luật vận động khách quan của đối tượng bị quản lý và phân tích các thông tin về hiện tượng của hệ thống. Là khâu mấu chốt trong quá trình quản lý và mở đầu cho quy trình quản lý.”

Như vậy, theo định nghĩa này thì quyết định quản lý được xem là chủ trương, chính sách hay chương trình hành động do chủ thể quản lý định ra mà đối tượng quản lý phải thực hiện nhằm đạt được mục tiêu chung của hoạt động quản lý. Chủ thể quản lý không tùy tiện đưa ra các chủ trương, chính sách mà phải tuân thủ các quy luật vận động khách quan của đối tượng quản lý để các chính sách, chủ trương này đảm bảo hiệu quả một cách tốt nhất. Bất kỳ chủ thể quản lý nào cũng có quyền đưa ra các quyết định quản lý ví dụ như giám đốc công ty hay người đứng đầu một tổ chức. Như vậy, khi tiến hành hoạt động quản lý hành chính nhà nước thì chủ thể quản lý có quyền ban hành các quyết định quản lý.

Tuy nhiên, hoạt động quản lý hành chính là hoạt động do chủ thể có thẩm quyền, nhân danh nhà nước và sử dụng quyền lực nhà nước thực hiện nên các quyết định quản lý do các chủ thể này ban hành có phạm vi khái niệm hẹp hơn so với khái niệm quyết định quản lý nói chung nghĩa là không phải tất cả các quyết định quản lý đều là quyết định quản lý hành chính nhà nước.

Quyết định quản lý hành chính nhà nước phải do chủ thể quản lý hành chính nhà nước ban hành và có nội dung là đề ra các chủ trương, chính sách hay giải quyết các công việc cụ thể phát sinh trong quá trình quản lý hành chính nhà nước. Quyết định quản lý hành chính phải đảm bảo tính quyền lực nhà nước và tính pháp lý. Như vậy, quyết định quản lý hành chính nhà nước là một dạng cụ thể của quyết định pháp luật và nó có thể là các quyết định quy phạm hoặc các quyết định cá biệt.

Tuy nhiên, theo Luật Khiếu nại năm 2011 thì khái niệm quyết định hành chính là quyết định bằng văn bản của cơ quan hành chính nhà nước hoặc của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước được áp dụng một lần đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể về một vấn đề cụ thể trong hoạt động quản lý hành chính. Theo quy định này, thì khái niệm quyết định hành chính chỉ là những quyết định cá biệt được chủ thể quản lý ban hành khi giải quyết các công việc cụ thể trong quá trình quản lý. Như vậy, cần làm rõ khái niệm quyết định quản lý, quyết định quản lý hành chính nhà nước và quyết định hành chính. Khái niệm quyết định hành chính được định nghĩa trong Luật Khiếu nại năm 2011 là một khái niệm hẹp bởi vì nó giới hạn đối tượng của khiếu nại, tố cáo chỉ là các quyết định hành chính cá biệt. Tuy nhiên, khi tiến hành hoạt động quản lý nói chung và hoạt động quản lý hành chính nhà nước nói riêng, các chủ thể quản lý hành chính nhà nước cần ban hành chủ trương, chính sách hay các quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung đối với đối tượng quản lý do đó, các quyết định này mang tính quy phạm hay còn gọi là các văn bản quy phạm pháp luật. Do đó, dưới góc độ quản lý hành chính nhà nước, khái niệm quyết định quản lý hành chính hay gọi chung là quyết định hành chính là khái niệm rộng hơn nó bao gồm cả quyết định quy phạm và quyết định cá biệt.

2. Đặc điểm của quyết định hành chính

Quyết định hành chính có những đặc điểm sau:

2.1. Quyết định hành chính là quyết định pháp luật

Đặc điểm này để phân biệt quyết định hành chính với các quyết định quản lý nói chung. Hoạt động quản lý hành chính nhà nước là hoạt động do các chủ thể có thẩm quyền nhân danh Nhà nước và sử dụng quyền lực nhà nước tiến hành, do đó chỉ có chủ thể có thẩm quyền do pháp luật quy định mới có thẩm quyền ban hành các quyết định hành chính (tính pháp lý), bên cạnh đó, quản lý hành chính có đặc trưng là mệnh lệnh phục tùng nên các quyết định hành chính phải được đảm bảo thực hiện trên thực tế bằng các biện pháp cưỡng chế nhà nước (tính quyền lực nhà nước). Còn các quyết định quản lý do các chủ thể khác ban hành vi dụ như giám đốc công ty tư nhân không được đảm bảo thực hiện bằng các biện pháp cưỡng chế nhà nước và không thể hiện tính quyền lực nhà nước.

2.2. Quyết định hành chính cỏ tỉnh dưới luật

Hoạt động quản lý hành chính nhà nước còn gọi là hoạt động chấp hành – điều hành. Do đó, các chủ thể quản lý hành chính nhà nước khi tiến hành các hoạt động quản lý hành chính đều phải tuân thủ Hiến pháp và các văn bản luật, pháp lệnh do cơ quan quyền lực nhà nước ban hành. Tính chất chấp hành – điều hành được thế hiện trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước đó là các văn bản do chủ thể quản lý hành chính nhà nước ban hành có nội dung là giải thích, hướng dẫn và tổ chức thực hiện các văn bản luật và pháp lệnh do đó nó có hiệu lực thấp hơn luật. Các quyết định có nội dung trái với quy định của luật, pháp lệnh đều bị xem là quyết định trái pháp luật.

2.3. Quyết định hành chính do chủ thể cỏ thẩm quyền quản lý hành chính nhà nước ban hành

Khi tiến hành hoạt động quản lý hành chính nhà nước, chủ thể quản lý phải ban hành quyết định hành chính để đưa ra các mệnh lệnh, chỉ thị, chủ trương, chính sách, hay giải quyết các công việc cụ thể phát sinh trong quá trình quản lý. Các quyết định này là một dạng cụ thể của quyết định pháp luật mang tính quyền lực và tính pháp lý, do đó phải được ban hành bởi chủ thể có thẩm quyền theo pháp luật quy định.

2.4. Quyết định hành chính được ban hành theo thủ tục hành chính

Hoạt động quản lý hành chính nhà nước được thực hiện theo thủ tục hành chính. Hoạt động ban hành quyết định hành chính cũng là một trong các hoạt động quản lý hành chính nhà nước vì vậy nó cũng phải tuân theo một trình tự, thủ tục nhất định do pháp luật quy định. Tuy nhiên, quyết định hành chính do nhiều chủ thể có thẩm quyền ban hành, và thế hiện dưới nhiều hình thức tên gọi khác nhau, nên trình tự thủ tục ban hành các loại quyết định hành chính cũng khác nhau.

Ví dụ, trình tự ban hành nghị định của Chính phủ được thực hiện khác với trình tự ban hành quyết định của Ủy ban nhân dân các cấp.

2.5. Quyết định hành chính có hình thức và nội dung phong phú

Đây là một đặc điểm để phân biệt quyết định hành chính với các loại quyết định pháp luật khác như quyết định lập pháp hay quyết định tư pháp. Hoạt động quản lý hành chính nhà nước do nhiều chủ thể có thẩm quyền thực hiện và diễn ra trên các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội. Nội dung của quyết định hành chính không chỉ là việc hướng dẫn, giải thích các văn bản luật, pháp lệnh mà còn đề ra các chủ trương, chính sách hay giải quyết các công việc cụ thế phát sinh trong quá trình quản lý hành chính nhà nước. Xuất phát từ mỗi nội dung công việc cụ thể cần quản lý mà quyết định hành chính được thể hiện dưới các hình thức tên gọi khác nhau theo quy định của pháp luật như nghị định, quyết định hay chỉ thị v.v…

Tóm lại, quyết định hành chính chỉ do các chủ thể quản lý hành chính nhà nước có thẩm quyền ban hành theo thủ tục hành chính và được thể hiện dưới nhiều hình thức, tên gọi khác nhau, có nội dung gắn liền với hoạt động quản lý hành chính nhà nước. Nó là phương tiện quan trọng để chủ thể quản lý tiến hành hoạt động quản lý. Hiệu quả và hiệu lực của ngành quản lý phần lớn phụ thuộc vào quyết định hành chính. Quyết định hành chính phải bảo đảm các yêu cầu của một quyết định pháp luật nói chung (tính hợp pháp) và phải phù hợp với nội dung cần quản lý, có tính khả thi để áp dụng có hiệu quả trong thực tiễn quản lý hành chính nhà nước.

3. Các loại quyết định hành chính

Hoạt động quản lý hành chính nhà nước hay còn gọi là hoạt động chấp hành – điều hành được thực hiện trên các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội. Hơn nữa, các hoạt động này do nhiều chủ thể quản lý thực hiện hàng ngày, hàng giờ nên các quyết định hành chính có nội dung rất phong phú, đa dạng và có số lượng lớn.

Việc phân loại các quyết định hành chính chỉ mang tính chất tương đối và phụ thuộc vào các tiêu chí phân loại.

3.1. Căn cứ vào tính chất pháp lý:

Theo căn cứ này thì có thể chia quyết định hành chính thành 03 loại:

a) Quyết định chủ đạo

Hoạt động quản lý hành chính nhà nước không chỉ là hoạt động hướng dẫn, giải thích các văn bản pháp luật của cơ quan quyền lực nhà nước mà xuất phát từ yêu cầu thực tiễn của quản lý hành chính nhà nước, các chủ thể quản lý hành chính nhà nước có quyền đặt ra các chủ trương, chính sách mang tính định hướng, giải pháp trong quản lý hành chính nhà nước.

b) Quyết định quy phạm

Quyết định quy phạm là văn bản có nội dung chứa đựng các quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung (quy phạm pháp luật) để áp dụng chung đối với các đối tượng quản lý. Quyết định quy phạm được các chủ thể có thẩm quyền ban hành chủ yếu nhằm hướng dẫn thi hành các văn bản luật, pháp lệnh của cơ quan quyền lực nhà nước. Tuy nhiên, quyết định quy phạm còn được ban hành trong trường hợp khi có những vấn đề xã hội mới nảy sinh hoặc chưa có các văn bản luật, pháp lệnh quy định.

c) Quyết định cá biệt

Để giải quyết các công việc cụ thể, phát sinh hàng ngày trong quá trình quản lý hành chính nhà nước, chủ thể có thẩm quyền cần phải căn cứ vào quy định của pháp luật hiện hành và xem xét nội dung vụ việc phát sinh trên thực tế đưa ra các giải pháp, quyết định cụ thể đối với từng vụ việc, từng đối tượng quản lý. Các giải pháp này cần phải được ghi nhận dưới hình thức văn bản và phải được bảo đảm thi hành trong thực tiễn. Dó đó, quyết định cá biệt là một dạng cụ thế của quyết định pháp luật (văn bản áp dụng quy phạm pháp luật) do chủ thể có thẩm quyền ban hành nhằm giải quyết các công việc cụ thể phát sinh trong thực tiễn quản lý, hiệu lực của văn bản này sẽ chấm dứt sau khi được thực hiện trên thực tế.

Quyết định cá biệt là căn cứ làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của đối tượng quản lý, nó có thể trực tiếp xâm hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của đối tượng quản lý. ví dụ như quyết định xử phạt vi phạm hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc công chức.

Quyết định cá biệt có đặc trưng là áp dụng một lần, với một hay một số đối tượng quản lý cụ thể và được đảm bảo thực hiện bằng các biện pháp cưỡng chế nhà nước.

3.2. Căn cứ vào chủ thể ban hành

Hoạt động quản lý hành chính nhà nước được chia thành 03 nhóm chính, dựa vào cách chia nhóm này để phân loại các quyết định hành chính như sau:

a) Quyết định hành chính do cơ quan hành chính nhà nước ban hành

Cơ quan hành chính nhà nước là chủ thể quan trọng, chủ yếu nhất trong quản lý hành chính nhà nước, do đó hầu hết các quyết định hành chính đều do cơ quan hành chính nhà nước ban hành và có nội dung rất phong phú, đa dạng. Quyết định hành chính do cơ quan hành chính nhà nước ban hành có thể là quyết định chủ đạo, quyết định quy phạm và quyết định cá biệt. Pháp luật quy định cụ thế về thẩm quyền ban hành quyết định hành chính của cơ quan hành chính nhà nước.

b) Quyết định hành chính do các cơ quan nhà nước khác ban hành

Các cơ quan nhà nước khác như Văn phòng Quốc hội, Tòa án và Viện kiểm sát cũng thực hiện hoạt động quản lý hành chính nhà nước trong lĩnh vực công tác tổ chức nội bộ. Dó đó, các cơ quan này cũng có thẩm quyền ban hành các quyết định hành chính để tiến hành hoạt động quản lý.

c) Quyết định hành chính do cá nhân, tổ chức được nhà nước trao quyền ban hành

Chủ thể quản lý hành chính nhà nước không chỉ là các cơ quan nhà nước mà còn bao gồm cả các cá nhân, tổ chức được Nhà nước trao quyền trong những trường hợp cụ thể nhất định theo quy định của pháp luật. Do đó, các chủ thể này khi tiến hành hoạt động quản lý cũng có thẩm quyền ban hành các quyết định hành chính. Các quyết định hành chính do chủ thể này ban hành là các quyết định hành chính cá biệt, ví dụ như quyết định tạm giữ người theo thủ tục hành chính của người chỉ huy máy bay, tầu biển khi máy bay tầu biển rời khỏi sân bay, bến cảng.

d) Quyết định hành chính liên tịch

Các chủ thể quản lý hành chính nhà nước không chỉ thực hiện hoạt động quản lý một cách độc lập mà còn có sự phối hợp để hoạt động quản lý theo ngành kết hợp với quản lý theo chức năng hay quản lý liên ngành. Khi kết hợp thực hiện hoạt động quản lý, các chủ thể này cũng có thẩm quyền ban hành quyết định hành chính. Các quyết định này thường là các thông tư liên tịch giữa các bộ, cơ quan ngang bộ hay giữa các bộ với các tổ chức chính trị xã hội.

3.3. Căn cứ vào hình thức tên gọi

Tên gọi của quyết định hành chính cũng có thể được xem là một trong các tiêu chí để phân loại quyết định hành chính. Theo quy định của pháp luật hiện hành, mỗi loại văn bản pháp luật được thể hiện dưới một hình thức tên gọi nhất định và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành.

Ví dụ như nghị định chỉ do Chính phủ có thẩm quyền ban hành.

Quyết Định Hành Chính Là Gì? Phân Biệt Với Quyết Định Khác?

Quyết định hành chính là gì? Các đặc điểm của quyết định hành chính? Quyết định hành chính có mấy loại, phân loại quyết định hành chính? Phân biệt quyết định hành chính với quyết định khác?

Quyết định pháp luật được chia thành quyết định lập pháp, quyết định hành chính và quyết định tư pháp. Trong thời gian qua, quyết định hành chính đã phát huy được vai trò nhất định của mình trong quản lí hành chính nhà nước, góp phần tích cực vào việc thúc đẩy công cuộc đổi mới. Trong đó, hoạt động ban hành quyết định hành chính là hoạt động đặc biệt quan trọng. Đồng thời theo sự phân công thực hiện quyền lực giữa các cơ quan trong bộ máy Nhà nước, mỗi nhóm quyết định chủ yếu được ban hành bởi loại cơ quan nhất định phù hợp với chức năng của cơ quan đó. Trong đó quyết định hành chính chủ yếu được được ban hành bởi cơ quan có chức năng quản lí hành chính Nhà nước-cơ quan hành chính nhà nước. Các quyết định hành chính của cơ quan này ban hành phản ánh đầy đủ ,rõ ràng những tính chất, đặc điểm, yêu cầu của quản lí hành chính Nhà nước trong từng lĩnh vực, từng thời kì cụ thể. Về quyết định hành chính, hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau và những quan điểm này không chỉ khác nhau về tên gọi của quyết định mà còn khác nhau cả về tính chất cũng như nội dung của quyết định.

Theo Từ điển Luật Học: “Quyết định hành chính là kết quả của sự thể hiện ý chí quyền lực đơn phương của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, những người có chức vụ, các tổ chức và cá nhân nhà nước được Nhà nước trao quyền thực hiện trên cơ sở luật và để thi hành pháp luật, theo trình tự và hình thức do pháp luật quy định hướng tới việc thực hiện nhiệm vụ quản lý hành chính trong lĩnh vực hoặc vấn đề được phân công phụ trách”.

Quyết định hành chính nhà nước Việt Nam là kết quả sự thể hiện ý chí quyền lực đơn phương của các cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền trong các cơ quan đó và những tổ chức, cá nhân được nhà nước trao quyền trên cơ sở và để thi hành Hiến pháp, luật, pháp lệnh, các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên, của cơ quan quyền lực nhà nước cùng cấp, của chính mình, theo thủ tục và hình thức do pháp luật quy định, nhằm đặt ra chủ trương, đường lối, nhiệm vụ lớn có tính chất định hướng; hoặc đặt ra, đình chỉ, sửa đổi, bãi bỏ các quy phạm pháp luật hành chính… hay làm thay đổi phạm vi hiệu lực của chúng; hoặc làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt các quan hệ pháp luật hành chính, những quan hệ pháp luật khác cụ thể, để thực hiện các nhiệm vụ, chức năng của quyền lực hành chính nhà nước.

Quyết định hành chính là biện pháp giải quyết công việc của chủ thể quản lý hành chính trước một tình huống đang đặt ra, là sự phản ứng của chủ thể quản lý hành chính Nhà nước trước một tình huống đòi hỏi phải có sự giải quyết của Nhà nước theo thẩm quyền do luật định.

Việc ban hành quyết định hành chính là nhiệm vụ của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền nhằm định ra chính sách, quy định, sửa đổi hoặc của những người có chức vụ, người đại diện cho quyền lực hành chính nhất định. Như vậy, quyết định hành chính là kết quả của sự thể hiện ý chí quyền lực nhà nước của cơ quan hành chính Nhà nước hoặc của những người có chức vụ, người đại diện cho quyền lực hành chính nhất định.

Quyết định hành chính là một dạng quyết định pháp luật nên ngoài những đặc điểm quyết định hành chính còn mang đặc điểm chung của một quyết định pháp luật

+ Quyết định hành chính mang tính quyền lực Nhà nước

Có thể nói một đặc điểm không thể không có của bất kỳ quyết định nào đó là tính quyền lực nhà nước. Việc thực hiện quyền lực nhà nước thường thể hiện dưới hình thức là những quyết định bằng văn bản, trong số những quyết định thành văn đó thì quyết định do các chủ thể quản lý hành chính ban hành rất nhiều. Tính quyền lực nhà nước trước hết có thể thấy ngay ở hình thức của quyết định. Theo quy định của pháp luật thì chỉ cơ quan nhà nước mới được đơn phương ra các quyết định pháp luật xuất phát từ lợi ích chung. Tính quyền lực, đơn phương của quyết định thể hiện rất rõ ở nội dung và mục đích của quyết định. Các quyết định được ban hành vốn để thực thi quyền hành pháp trên cơ sở luật và để thi hành luật. Quyết định hành chính luôn thể hiện tính mệnh lệnh rất cao. Chính vì vậy, quyền lực nhà nước còn thể hiện ở tính đảm bảo thi hành của quyết định. Quyết định sẽ được Nhà nước đảm bảo thi hành bằng những biện pháp cưỡng chế của Nhà nước khi cần thiết.

+ Quyết định hành chính mang tính chất pháp lý. Quyết định hành chính xuất hiện đã tác động ngay đến cơ chế điều chỉnh pháp luật, quyết định hành chính có thể đưa ra biện pháp hoặc những chủ trương lớn trong lĩnh vực quản lý hành chính. Quyết định hành chính còn thể hiện ở việc làm xuất hiện quy phạm pháp luật, thay thế hoặc hủy bỏ quy phạm pháp luật hoặc làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt một mối quan hệ pháp luật cụ thể.

+ Quyết định hành chính mang tính dưới luật. Nội dung và hình thức của quyết định hành chính phải được ban hành phù hợp với thẩm quyền của chủ thể ban hành và tuân thủ hiến pháp, luật, pháp lệnh về mặt pháp lý. Quyết định hành chính do các chủ thể có thẩm quyền trong hệ thống hành chính nhà nước ban hành là những văn bản dưới luật, nhằm thi hành luật. Quyết định hành chính phải được ban hành trên cơ sở luật và để thi hành luật, theo hình thức và trình tự do pháp luật quy định.

+ Quyết định hành chính đa dạng về chủ thể có thẩm quyền ban hành. Chủ thể của quyết định hành chính là những cơ quan hành chính nhà nước. Đó là các chủ thể từ Trung ương đến địa phương, những chủ thể có thẩm quyền chung cũng như những chủ thể có thẩm quyền riêng.

+ Quyết định hành chính có những mục đích và nội dung hết sức phong phú. Quyết định hành chính là những quyết định mà về mặt hình thức có những tên gọi khác nhau theo quy định của pháp luật như nghị quyết, nghị định, quyết định, chỉ thị, thông tư…

Để phân loại quyết định hành chính chúng ta phải căn cứ vào tính chất quyết định hành chính để xác định tiêu chí phân loại. Việc phân loại quyết định hành chính nhằm mục đích đi sâu nghiên cứu và đồng thời để tổ chức ban hành thực hiện quyết định có hiệu quả.

+ Dựa theo tính chất pháp lý và nội dung quyết định

Đây là cách phân loại cơ bản nhất và có tính thực tiễn. Dựa vào tiêu chí này, quyết định hành chính được chia thành các loại sau: Quyết định chủ đạo; quyết định hành chính quy phạm; quyết định hành chính nhà nước cá biệt.

Quyết định hành chính phân chia thành Quyết định hành chính của Chính phủ; quyết định hành chính của Thủ tướng chính phủ; Quyết định hành chính của các Bộ và cơ quan ngang bộ; Quyết định hành chính của UBND các cấp; Quyết định hành chính của các cơ quan chuyên môn thuộc UBND; Quyết định hành chính liên tịch.

+ Dựa theo tính chất của mệnh lệnh trong quyết định

Theo tiêu chí này thì các quyết định hành chính phân chia thành các loại: Quyết định cấm đoán; Quyết định cho phép; Quyết định điều chỉnh sửa đổi.

+ Căn cứ vào cấp hành chính: Quyết định hành chính được chia thành: Quyết định hành chính của cấp hành chính trung ương; Quyết định hành chính của cấp hành chính địa phương.

+ Căn cứ vào thời hạn có hiệu lực thì quyết định hành chính chia thành quyết định có hiệu lực lâu dài; Quyết định có hiệu lực trong thời gian nhất đinh; Quyết định có hiệu lực một lần.

+ Quyết định dựa theo thể thức, hình thức thực hiện: Gồm quyết định hành chính thể hiện dưới dạng văn bản; Quyết định hành chính nhà nước hoặc để giải quyết những việc khẩn cấp, gấp rút; Quyết định hành chính thể hiện dưới dạng ký hiệu, biển báo, tín hiệu.

4. Phân biệt quyết định hành chính với các loại quyết định khác

+ Phân biệt quyết định hành chính với quyết định của cơ quan lập pháp

Đây là hai loại quyết định do các chủ thể thuộc hai hệ thống cơ quan quyền lực nhà nước khác nhau ban hành để thực hiện quyền lực nhà nước. Việc phân biệt hai loại quyết định này trước tiên là căn cứ vào thủ tục, trình tự ban hành.

+ Phân biệt quyết định hành chính với quyết định của cơ quan tư pháp

Đây là hai loại quyết định do hai hệ thống cơ quan khác nhau ban hành. Những quyết định của cơ quan tư pháp chủ yếu là những quyết định cá biệt dưới hình thức là những bản án hoặc quyết định của Tòa án, quyết định của Viện kiểm sát. Tuy nhiên để thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình các cơ quan này còn được quyền ra các quyết định hành chính quy phạm song rất hạn chế về chủ thể. Ngoài các quyết định nêu trên, các cơ quan tư pháp còn ra các quyết định hành chính để giải quyết công việc nội bộ hoặc thực hiện một số quyền quản lý hành chính được pháp luật quy định.

Trình tự, thủ tục xây dựng ban hành hai loại quyết định này cũng khác nhau. Quyết định của cơ quan tư pháp phải tiến hành các thủ tục theo quy định của Luật tố tụng

Điểm khác biệt quan trọng với quyết định hành chính là tất cả các loại giấy tờ nói ở đây đều không có chức năng pháp lý là làm thay đổi cơ chế điều chỉnh pháp luật dù dưới bất cứ hình thức nào.

Khác với các loại hợp đồng, các quyết định hành chính do các chủ thể hoạt động hành chính có thẩm quyền ban hành một cách đơn phương; còn hợp đồng, như tên gọi của nó, là sự thỏa thuận của các bên, mang tính bình đẳng.

Vi Phạm Hành Chính Là Gì ? Nguyên Tắc Xử Lý Vi Phạm Hành Chính? Các Trường Hợp Xử Lý Vi Phạm Hành Chính

Vi phạm hành chính là hành vi có lỗi do cá nhân, tổ chức thực hiện, vi phạm quy định của pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt vi phạm hành chính.

Ví dụ: Người nào đánh nhau hoặc xúi giục người khác đánh nhau sẽ bị phạt tiền 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng. Đây là hành vi vi phạm quản hành chính về lĩnh vực an ninh trật tự, an toàn xã hội.

Khoản 1 Điều 3 Luật xử lý vi phạm hành chính quy định nguyên tắc xử phạt bao gồm:

– Mọi vi phạm hành chính phải được phát hiện, ngăn chặn kịp thời và phải bị xử lý nghiêm minh, mọi hậu quả do vi phạm hành chính gây ra phải được khắc phục theo đúng quy định của pháp luật;

– Việc xử phạt vi phạm hành chính được tiến hành nhanh chóng, công khai, khách quan, đúng thẩm quyền, bảo đảm công bằng, đúng quy định của pháp luật;

– Việc xử phạt vi phạm hành chính phải căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả vi phạm, đối tượng vi phạm và tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng;

– Chỉ xử phạt vi phạm hành chính khi có hành vi vi phạm hành chính do pháp luật quy định.

+ Một hành vi vi phạm hành chính chỉ bị xử phạt một lần.

+ Nhiều người cùng thực hiện một hành vi vi phạm hành chính thì mỗi người vi phạm đều bị xử phạt về hành vi vi phạm hành chính đó.

+ Một người thực hiện nhiều hành vi vi phạm hành chính hoặc vi phạm hành chính nhiều lần thì bị xử phạt về từng hành vi vi phạm;

– Người có thẩm quyền xử phạt có trách nhiệm chứng minh vi phạm hành chính. Cá nhân, tổ chức bị xử phạt có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp chứng minh mình không vi phạm hành chính;

– Đối với cùng một hành vi vi phạm hành chính thì mức phạt tiền đối với tổ chức bằng 02 lần mức phạt tiền đối với cá nhân.

Trân trọng./.

Với vấn đề bạn đang gặp phải chúng tôi xin được tư vấn như sau :

Khoản 8 Điều 24 Nghị định 100/2019/NĐ-CP quy định về mức xử phạt người điều khiển xe ô tô tải, máy kéo và các loại xe tương tự xe ô tô vận chuyển hàng hóa vượt trọng tải như sau:

Phạt tiền từ 8.000.000 đồng đến 12.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:

a) Điều khiển xe (kể cả rơ moóc và sơ mi rơ moóc) chở hàng vượt trọng tải (khối lượng hàng chuyên chở) cho phép tham gia giao thông được ghi trong Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường của xe trên 150%;

b) Điều khiển xe kéo theo rơ moóc, sơ mi rơ moóc mà khối lượng toàn bộ (bao gồm khối lượng bản thân rơ moóc, sơ mi rơ moóc và khối lượng hàng chuyên chở) của rơ moóc, sơ mi rơ moóc vượt khối lượng cho phép kéo theo được ghi trong giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường của xe trên 150%

Ngoài ra, khi xe vượt quá tải trọng cho phép thì không chỉ người điều khiển xe mà cả chủ xe cũng sẽ bị xử phạt theo điểm a, khoản 12 Điều 30 Nghị định 100/2019/ND-CP:

– Tỉ lệ quá tải trên 150% thì cá nhân sẽ bị xử phạt từ 18.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng; tổ chức sẽ bị xử phạt từ 36.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng.”

Nếu bạn vừa là chủ phương tiện, đồng thời là người điều khiển xe thì bạn sẽ bị xử phạt với mức phạt đối với chủ phương tiện từ 18.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng kèm theo hình phạt bổ sung tước quyền sử dụng giấy phép lái xe từ 03 đến 05 tháng.

Trân trọng./.

3. Xử phạt vi phạm hành chính hành vi đánh nhau

Thưa luật sư, em có tham gia một vụ đánh nhau với đám bạn và bị công an xã bắt được, yêu cầu về trụ sở để giải quyết. Hậu quả hai bên chỉ bị tím và trầy xước nhẹ. Luật sư cho em hổi trong trường hợp này, em bị xử phạt hành chính hay bị truy cứu TNHH ạ?

Trả lời:

Để xác định xem hành vi của bạn bị chỉ xử phạt vi phạm hành chính, bồi thường dân sự hay bị truy cứu trách nhiệm hình sự thì phải căn cứ vào tỉ lệ thương tật mà hành vi đánh đạp này gây ra. Vì vậy, chúng tôi đưa ra các cở pháp lý sau để bạn tham khảo về trường hợp của bạn.

– Điều 5 Nghị định 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình xử phạt vi phạm quy định về trật tự công cộng như sau

Điều 5. Vi phạm quy định về trật tự công cộng…2. Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:a) Đánh nhau hoặc xúi giục người khác đánh nhau;……3. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:a) Tàng trữ, cất giấu trong người, đồ vật, phương tiện giao thông các loại dao, búa, các loại công cụ, phương tiện khác thường dùng trong lao động, sinh hoạt hàng ngày nhằm mục đích gây rối trật tự công cộng, cố ý gây thương tích cho người khác;b) Lôi kéo hoặc kích động người khác gây rối, làm mất trật tự công cộng;c) Thuê hoặc lôi kéo người khác đánh nhau

– Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định về Tội cố ý gây thương tích như sau:

Điều 134. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:a) Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người;b) Dùng a-xít nguy hiểm hoặc hóa chất nguy hiểm;c) Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;d) Đối với ông, bà, cha, mẹ, thầy giáo, cô giáo của mình, người nuôi dưỡng, chữa bệnh cho mình;e) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;g) Trong thời gian đang bị giữ, tạm giữ, tạm giam, đang chấp hành án phạt tù, đang chấp hành biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng hoặc đang chấp hành biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào trường giáo dưỡng hoặc đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc;h) Thuê gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do được thuê;i) Có tính chất côn đồ;k) Đối với người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 06 năm:a) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31 % đến 60%;b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 11% đến 30%;c) Phạm tội 02 lần trở lên;d) Tái phạm nguy hiểm;đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:a) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên, nếu không thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản 4 Điều này;b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60%;c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31 % đến 60% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này;d) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 14 năm:a) Làm chết người;b) Gây thương tích làm biến dạng vùng mặt của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên;d) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61 % trở lên nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này;đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.5. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:a) Làm chết 02 người trở lên;b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.6. Người nào chuẩn bị vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm, a-xít nguy hiểm, hóa chất nguy hiểm hoặc thành lập hoặc tham gia nhóm tội phạm nhằm gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.

Vì vậy, bạn cần căn cứ vào mức độ thương tật do cơ quan giám định sức khỏe xác định để biết hành vi của bạn chỉ bị xử phạt vi phạm hành chính hay bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Xin cảm ơn!

4. Xử phạt hành chính khi lấn chiếm đất đai

Thưa Luật sư, hàng xóm lấn chiếm 10 m2 đất ở cuả gia đình tôi thì có bị xử ohajt hành chính về hành vi lấn chiếm đất đai không ạ?

Tôi xin cảm ơn Luật Minh Khuê đã tư vấn.

Trả lời:

Theo khoản 4 Điều 14 Nghị định 91/2019/NĐ-CP của chính phủ quy định về xử phạt hành chính trong lĩnh vực đất đai:

4. Trường hợp lấn, chiếm đất phi nông nghiệp, trừ trường hợp quy định tại khoản 6 Điều này tại khu vực nông thôn thì hình thức và mức xử phạt như sau:

a) Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng nếu diện tích đất lấn, chiếm dưới 0,05 héc ta;

b) Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng nếu diện tích đất lấn, chiếm từ 0,05 héc ta đến dưới 0,1 héc ta;

c) Phạt tiền từ 40.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng nếu diện tích đất lấn, chiếm từ 0,1 héc ta đến dưới 0,5 héc ta;

d) Phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng nếu diện tích đất lấn, chiếm từ 0,5 héc ta đến dưới 01 héc ta;

đ) Phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng nếu diện tích đất lấn, chiếm từ 01 héc ta trở lên.

Như vậy, hàng xóm nhà bạn có thể bị phạt từ 10 triệu đồng đến 20 triệu đồng về hành vi lấn chiếm đất ở (đất phi nông nghiệp).

5. Hành vi ngoại tình bị xử phạt hành chính thế nào?

Hành vi “ngoại tình” tùy theo mức độ mà có cách xử lý khác nhau (không xử lý, xử lý vi phạm hành chính hoặc hình sự). Với trường hợp xử lý vi phạm hành chính, từ ngày 01/9/2020, những hành vi sau đây sẽ bị tăng nặng mức phạt theo Nghị định 82/2020/NĐ-CP của Chính phủ:​

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hành chính – Công ty luật Minh Khuê