Quyết Định Khởi To Vụ An Hình Sự Của Cơ Quan Điều Tra Phải Được Viện Kiểm Sát Phê Chuẩn / TOP #10 ❤️ Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 8/2022 ❣️ Top View | Bac.edu.vn

Quan Hệ Phối Hợp, Kiểm Soát Giữa Cơ Quan Điều Tra Và Viện Kiểm Sát Trong Khởi Tố, Điều Tra Vụ Án Hình Sự

Cần Có Văn Bản Hướng Dẫn Thống Nhất Về Tư Cách Bị Can Theo Quy Định Của Bltths

Hưỡng Dẫn Về Khởi Tố Bị Can, Thay Đổi Hoặc Bổ Sung Quyết Định Khởi Tố Bị Can Trong Tố Tụng Hình Sự

Khởi Tố Bị Can Là Gì?

Quy Định Mới Về Quy Trình Khởi Tố Bị Can?

Khiếu Nại Quyết Định Không Khởi Tố Vụ Án Hình Sự Ở Đâu?

Tóm tắt: Trong giai đoạn khởi tố, điều tra vụ án hình sự, Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát tuy có chức năng, nhiệm vụ khác nhau nhưng có mối quan hệ tố tụng chặt chẽ với nhau. Đây là mối quan hệ quan trọng và cần được pháp luật tố tụng hình sự (TTHS) quy định rõ ràng, rành mạch để tránh chồng chéo, đồng thời bảo đảm sự phối hợp kiểm soát giữa các cơ quan trong thực hiện quyền tư pháp ở giai đoạn khởi tố, điều tra vụ án hình sự. Bài viết tập trung phân tích một số quy định của Bộ luật TTHS về quan hệ phối hợp, kiểm soát giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát.

Từ khóa: Viện kiểm sát; Cơ quan điều tra; khởi tố, điều tra án hình sự.

Abstract: Although the Investigation Agencies and the People’s Procuracy have different functions and responsibilities, they have closed legal relationship during the stage of investigation and prosecution in the criminal cases. This is an important criminal procedure relationship which must be clearly and explicitly defined by the criminal procedure law in order to avoid the overlapped functions and tasks between the Investigation Agencies and the People’s Procuracy. This article focuses on the analysis of the provisions of the Criminal Procedure Code related to criminal procedure relationships between the Investigation Agencies and the People’s Procuracy.

Keywords: The People’s Procuracy; Investigation Agency; investigation of criminal cases.

Khởi tố, điều tra án hình sự là giai đoạn đầu tiên của TTHS, có vai trò, ý nghĩa quan trọng đối với toàn bộ quá trình TTHS. Trong hoạt động khởi tố, điều tra án hình sự, Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát có mối quan hệ chặt chẽ và là các chủ thể chính tiến hành hoạt động này. Đây là mối quan hệ tố tụng quan trọng trong TTHS, là biểu hiện của nguyên tắc phân công, phối hợp, kiểm soát việc thực hiện quyền lực nhà nước trong hoạt động tư pháp. Mối quan hệ này được hình thành ngay từ khi có tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong toàn bộ quá trình điều tra (kể cả điều tra lại, điều tra bổ sung). Nếu quan hệ này được vận hành tốt, nhịp nhàng, hiệu quả sẽ góp phần bảo đảm việc phát hiện tội phạm, điều tra, xử lý các vụ án hình sự đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để xảy ra oan, sai hoặc bỏ lọt tội phạm, tiết kiệm thời gian và chi phí vật chất trong hoạt động TTHS.

Bộ luậtTTHS năm 2022 đã có nhiều quy định nhằm đổi mới mối quan hệ tố tụng giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát theo hướng tăng cường quan hệ phối hợp nhưng có sự kiểm tra, kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện quyền tư pháp.

1. Trong quan hệ phối hợp khởi tố, điều tra vụ án hình sự

Phối hợp là một trong các hình thức và nguyên tắc hoạt động không thể thiếu giữa các cơ quan nhà nước. Trong TTHS, Viện kiểm sát có quan hệ phối hợp trực tiếp với Tòa án, Cơ quan điều tra và Cơ quan thi hành án.

Trong giai đoạn khởi tố, điều tra vụ án hình sự, Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát có quan hệ phối hợp nhằm bảo đảm phát hiện, điều tra và xử lý tội phạm một cách nhanh chóng, kịp thời, hiệu quả và đúng pháp luật. Tuy nhiên, mỗi cơ quan có chức năng, nhiệm vụ khác nhau, nên sự phối hợp giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát biểu hiện bằng sự ràng buộc, phụ thuộc lẫn nhau trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ.

Trong giai đoạn điều tra, Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát đều được giao những nhiệm vụ, quyền hạn rất cụ thể. Hoạt động điều tra chủ yếu do Cơ quan điều tra tiến hành nhưng phải phối hợp với Viện kiểm sát để Viện kiểm sát thực hiện kiểm sát điều tra, bảo đảm hoạt động điều tra tuân thủ đúng quy định của pháp luật.

Theo quy định tại các điều 183, 189, 190, 191, 201, 202, 204 Bộ luậtTTHS năm 2022, khi tiến hành các hoạt động hỏi cung, đối chất, nhận dạng, nhận biết giọng nói, khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, thực nghiệm điều tra, Cơ quan điều tra phải báo cho Viện kiểm sát cùng cấp biết và cử kiểm sát viên tham gia các hoạt động điều tra trên; Cơ quan điều tra cũng phải thông báo, cung cấp cho Viện kiểm sát các tài liệu, chứng cứ thu thập được, tiến độ giải quyết vụ án hình sự, các vấn đề phức tạp phát sinh để phối hợp giải quyết; Cơ quan điều tra có trách nhiệm lập hồ sơ vụ án hình sự nhưng phải phối hợp chặt chẽ với Viện kiểm sát, vì hồ sơ vụ án là căn cứ pháp lý quan trọng để Viện kiểm sát ban hành các quyết định TTHS và thực hành quyền công tố tại phiên tòa.

Trong quá trình kiểm sát điều tra, Viện kiểm sát cũng phải có trách nhiệm phối hợp chặt chẽ với Cơ quan điều tra. Đối với các hoạt động điều tra bắt buộc phải có sự tham gia của Viện kiểm sát, khi nhận được thông báo của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát phải kịp thời cử kiểm sát viên có mặt để kiểm sát hoạt động điều tra; thông báo kịp thời ban hành các quyết định, yêu cầu bảo đảm cho hoạt động điều tra được tiến hành một cách khẩn trương, đầy đủ, chính xác; kiểm tra các thủ tục tố tụng để phát hiện vi phạm và yêu cầu Cơ quan điều tra khắc phục, bổ sung. Trong công tác phối hợp, Viện kiểm sát cũng phải tuân thủ các quy định của Bộ luậtTTHS, cân nhắc một cách toàn diện giữa yêu cầu chính trị, pháp luật, nghiệp vụ để phối hợp với Cơ quan điều tra khám phá, điều tra vụ án hình sự, không vì kiểm sát điều tra mà cản trở hoặc làm chậm tiến độ điều tra vụ án hình sự.

Bên cạnh yêu cầu phân công rõ ràng, rành mạch về chức năng, nhiệm vụ, trong quan hệ phối hợp giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát đòi hỏi phải có nguyên tắc để làm cơ sở hình thành những chuẩn mực pháp lý và cách ứng xử của các chủ thể trong quá trình giải quyết vụ án hình sự. Về nguyên tắc của quan hệ phối hợp, Điều 20 Bộ luậtTTHS năm 2022 quy định “Viện kiểm sát thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong TTHS, quyết định việc buộc tội, phát hiện vi phạm pháp luật nhằm bảo đảm mọi hành vi phạm tội, người phạm tội, pháp nhân phạm tội, vi phạm pháp luật đều phải được phát hiện và xử lý kịp thời, nghiêm minh, việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm và người phạm tội, pháp nhân phạm tội, không làm oan người vô tội”. Điều đó có nghĩa là Viện kiểm sát là cơ quan “quyết định việc buộc tội”, quyền năng pháp lý mà Nhà nước giao cho duy nhất cơ quan công tố thực hiện. Quy định này có tính nguyên tắc, khẳng định rõ hơn vị trí, vai trò của Viện kiểm sát trong việc thực hiện quyền tư pháp. Cùng với Viện kiểm sát, Cơ quan điều tra cũng tham gia buộc tội nhưng Viện kiểm sát đóng vai trò là cơ quan quyết định. Viện kiểm sát cần sử dụng kết quả hoạt động điều tra của Cơ quan điều tra để quyết định việc luận tội bị can tại phiên tòa. Bằng các biện pháp điều tra theo quy định của pháp luật, Cơ quan điều tra phải thu thập đầy đủ chứng cứ để chứng minh tội phạm, làm sáng tỏ toàn bộ nội dung vụ án, lập hồ sơ vụ án, làm cơ sở để Viện kiểm sát quyết định ra bản cáo trạng truy tố bị can trước phiên tòa; nếu quá trình điều tra không thu thập được đầy đủ chứng cứ, có thiếu sót thì Viện kiểm sát sẽ không tiến hành buộc tội bị can mà yêu cầu Cơ quan điều tra điều tra bổ sung, tạm đình chỉ hoặc đình chỉ điều tra theo quy định của pháp luật.

Là cơ quan “quyết định việc buộc tội” nên Viện kiểm sát quyết định tội danh mà người phạm tội phải bị truy cứu theo quy định của Bộ luật Hình sự. Điều này được thể hiện qua việc Viện kiểm sát thực hiện phê chuẩn quyết định khởi tố bị can của Cơ quan điều tra, nếu thấy Cơ quan điều tra khởi tố bị can chưa đủ căn cứ hoặc chưa phù hợp với tài liệu, chứng cứ thu thập được thì Viện kiểm sát yêu cầu Cơ quan điều tra hủy bỏ quyết định khởi tố bị can hoặc ra quyết định khởi tố bị can về một tội danh khác phù hợp hơn. Ngay cả khi Cơ quan điều tra đã hoàn tất việc điều tra, ra bản kết luận điều tra đề nghị truy tố bị can, nhưng nếu xét thấy không đủ căn cứ buộc tội, Viện kiểm sát sẽ trả hồ sơ cho Cơ quan điều tra để điều tra bổ sung hoặc quyết định đình chỉ vụ án, quyết định đình chỉ vụ án đối với bị can nếu có căn cứ theo quy định của pháp luật.

Để tạo cơ sở pháp lý cho Viện kiểm sát thực hiện vai trò “quyết định buộc tội”, Bộ luậtTTHS năm 2022 bổ sung cho Viện kiểm sát nhiều chức năng, nhiệm vụ mới, đặc biệt là quy định Viện kiểm sát thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật ngay từ giai đoạn giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố. Theo đó, khi Cơ quan điều tra tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố, Viện kiểm sát có quyền đề ra yêu cầu kiểm tra, xác minh và yêu cầu Cơ quan điều tra thực hiện; hủy bỏ quyết định tạm giữ, quyết định khởi tố vụ án hình sự, quyết định không khởi tố vụ án hình sự, quyết định tạm đình chỉ giải quyết nguồn tin về tội phạm và các quyết định tố tụng khác trái pháp luật của Cơ quan điều tra và nhiệm vụ, quyền hạn khác trong việc thực hành quyền công tố và kiểm sát việc giải quyết nguồn tin về tội phạm theo quy định của Bộ luật này nhằm chống bỏ lọt tội phạm, chống làm oan người vô tội (các điều 159, 160). Đến giai đoạn điều tra, Viện kiểm sát đề ra yêu cầu điều tra và yêu cầu Cơ quan điều tra thực hiện để làm rõ tội phạm, người phạm tội; trực tiếp tiến hành các hoạt động điều tra để bổ sung tài liệu, chứng cứ khi phát hiện có dấu hiệu oan, sai, bỏ lọt tội phạm, vi phạm pháp luật mà Viện kiểm sát đã yêu cầu bằng văn bản nhưng không được khắc phục hoặc trường hợp để kiểm tra, bổ sung tài liệu, chứng cứ khi quyết định việc truy tố (Điều 165); tham gia cùng Cơ quan điều tra tiến hành các hoạt động điều tra như: khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, hỏi cung, đối chất, nhận dạng,…

2- Trong quan hệ kiểm soát việc thực hiện quyền lực nhà nước ở giai đoạn khởi tố, điều tra vụ án hình sự

Xét cho cùng, những nhiệm vụ, quyền hạn nêu trên của Viện kiểm sát nhằm bảo đảm cho Viện kiểm sát chủ động nắm chắc và kiểm sát chặt chẽ toàn bộ quá trình điều tra vụ án, đưa ra quyết định buộc tội bị can đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, thuyết phục, hạn chế oan, sai ngay từ những giai đoạn đầu của TTHS.

Kiểm soát quyền lực cũng là một nguyên tắc cơ bản của quá trình tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước. Bất cứ lĩnh vực nào có quyền lực nhà nước cũng cần phải có cơ chế kiểm tra, giám sát việc thực hiện.

Theo quy định tại Điều 20 Bộ luậtTTHS năm 2022, Viện kiểm sát là cơ quan thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong TTHS, nhằm phát hiện vi phạm pháp luật, bảo đảm mọi hành vi phạm tội, người phạm tội, pháp nhân phạm tội, vi phạm pháp luật đều phải được phát hiện và xử lý kịp thời, nghiêm minh, việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm và người phạm tội, pháp nhân phạm tội, không làm oan người vô tội.

Thực chất hoạt động kiểm sát hoạt động điều tra, xét xử và thi hành án của Viện kiểm sát là việc kiểm soát quyền lực nhà nước trong hoạt động tư pháp hình sự. Để thực hiện chức năng hiến định quan trọng này, pháp luật TTHS trao cho Viện kiểm sát các quyền hạn nhất định trong hoạt động điều tra, đó là: quyền giám sát, quyền yêu cầu và quyền hủy bỏ các quyết định, hành vi tố tụng không có căn cứ pháp luật của Cơ quan điều tra. Nghiên cứu các quy định của Bộ luậtTTHS năm 2022 cho thấy, các quyền năng này của Viện kiểm sát được biểu hiện dưới các hình thức chủ yếu như sau:

– Viện kiểm sát thực hiện quyền giám sát hoạt động điều tra của Cơ quan điều tra một cách trực tiếp, như việc kiểm sát các hoạt động: khám nghiệm hiện trường (Điều 201), khám nghiệm tử thi (Điều 202), hỏi cung bị can (Điều 183)… hoặc giám sát gián tiếp thông qua việc nghiên cứu hồ sơ, tài liệu phản ánh hoạt động điều tra. Quyền giám sát của Viện kiểm sát thể hiện rõ nhất trong việc kiểm sát việc thực hiện các quyền năng, hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra bằng việc nhất trí hoặc không nhất trí với Cơ quan điều tra thông qua việc phê chuẩn hoặc không phê chuẩn các quyết định tố tụng quan trọng của Cơ quan điều tra như: quyết định khởi tố bị can (Điều 179, Điều 180); quyết định áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt (Điều 225); quyết định áp dụng các biện pháp bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp (Điều 110), bắt bị can để tạm giam (Điều 113), gia hạn tạm giữ (Điều 118),…

Từ trước đến nay, Viện kiểm sát thực hiện quyền giám sát hoạt động điều tra của Cơ quan điều tra vẫn được coi là một nguyên tắc trong TTHS. Bởi vì, bất kỳ cơ chế hoạt động nào, quyền hạn nào cũng cần có sự kiểm tra, giám sát. Qua thực hiện quyền giám sát, Viện kiểm sát mới có cơ sở để xác định được hoạt động điều tra được thực hiện đúng hay sai, có khách quan, đầy đủ không.

Cơ quan điều tra có trách nhiệm phải thực hiện các yêu cầu, quyết định của Viện kiểm sát.

– Viện kiểm sát có quyền huỷ bỏ các quyết định trái pháp luật của Cơ quan điều tra. Đây là một trong những quyền năng quan trọng mà pháp luật quy định cho Viện kiểm sát, là phương tiện của hoạt động kiểm sát, bảo đảm cho việc kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động điều tra. Theo quy định của Bộ luậtTTHS, Viện kiểm sát có quyền: hủy bỏ quyết định áp dụng biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế, biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt; hủy bỏ quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết nguồn tin về tội phạm của Cơ quan điều tra (Điều 41); hủy bỏ quyết định khởi tố, quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự, quyết định không khởi tố vụ án hình sự và các quyết định tố tụng khác không có căn cứ và trái pháp luật của Cơ quan điều tra (Điều 161, Điều 165).

Có thể nói rằng, quyền giám sát và quyền hủy bỏ của Viện kiểm sát đối với các quyết định trái pháp luật của Cơ quan điều tra là các quyền độc lập của Viện kiểm sát nhưng có mối liên hệ chặt chẽ, hỗ trợ lẫn nhau. Vì nếu chỉ có quyền giám sát mà không có quyền hủy bỏ thì quyền yêu cầu chỉ là hình thức; ngược lại, kết quả thực hiện quyền giám sát là tiền đề để Viện kiểm sát thực hiện quyền yêu cầu, quyền hủy bỏ. Thực tế cho thấy, không phải lúc nào Viện kiểm sát cũng thực hiện đầy đủ các quyền năng trên, nhất là khi hoạt động điều tra đã tuân thủ các quy định của pháp luật thì Viện kiểm sát chỉ thực hiện quyền giám sát đối với Cơ quan điều tra; khi Cơ quan điều tra tiến hành điều tra vụ án chưa đầy đủ hoặc có hoạt động tố tụng không có căn cứ, Viện kiểm sát sẽ thực hiện cả quyền giám sát, yêu cầu và hủy bỏ. Tuy nhiên, về mặt pháp lý, Viện kiểm sát cần có đầy đủ các quyền năng trên mới có khả năng kiểm soát trực tiếp, toàn diện và hữu hiệu hoạt động điều tra vụ án hình sự của Cơ quan điều tra, góp phần quan trọng làm cho hoạt động điều tra tuân thủ các quy định của pháp luật, đồng thời phát huy được vai trò là cơ quan “quyết định việc buộc tội”, tăng cường trách nhiệm công tố trong giai đoạn điều tra, hạn chế oan, sai, bảo đảm quyền, lợi ích của cá nhân, tổ chức trong TTHS theo quy định của pháp luật./.

Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Của Viện Kiểm Sát Trong Giai Đoạn Điều Tra Vụ Án Hình Sự

Quyết Định Khen Thưởng Trường Thcs

Qđ Thành Lập Hội Đồng Thi Đua Khen Thưởng Nh 2022

Quyết Định Khen Thưởng Học Sinh Giỏi Cấp Trường

Quyết Định Khen Thưởng Cuối Năm Học 2022

Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Của Viện Kiểm Sát Trong Giai Đoạn Điều Tra Vụ Án Hình Sự

Quan Hệ Phối Hợp, Kiểm Soát Giữa Cơ Quan Điều Tra Và Viện Kiểm Sát Trong Khởi Tố, Điều Tra Vụ Án Hình Sự

Cần Có Văn Bản Hướng Dẫn Thống Nhất Về Tư Cách Bị Can Theo Quy Định Của Bltths

Hưỡng Dẫn Về Khởi Tố Bị Can, Thay Đổi Hoặc Bổ Sung Quyết Định Khởi Tố Bị Can Trong Tố Tụng Hình Sự

Khởi Tố Bị Can Là Gì?

Quy Định Mới Về Quy Trình Khởi Tố Bị Can?

1. Quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự theo Bộ luật Tố tụng hình sự 2022

Theo quy định tại Điều 165 Bộ luật Tố tụng hình sự 2022:

” 1. Yêu cầu Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra khởi tố hoặc thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can.

2. Phê chuẩn hoặc hủy bỏ quyết định khởi tố, quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can không có căn cứ và trái pháp luật. 3. Khởi tố, thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can trong các trường hợp do Bộ luật này quy định. 4. Phê chuẩn, không phê chuẩn lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, gia hạn tạm giữ, việc tạm giam, bảo lĩnh, đặt tiền để bảo đảm, khám xét, thu giữ, tạm giữ đồ vật, thư tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm, áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt; phê chuẩn, không phê chuẩn các quyết định tố tụng khác không có căn cứ và trái pháp luật của Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra theo quy định của Bộ luật này; hủy bỏ các quyết định tố tụng không có căn cứ và trái pháp luật của Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra. Trường hợp không phê chuẩn hoặc hủy bỏ thì trong quyết định không phê chuẩn hoặc hủy bỏ phải nêu rõ lý do. 5. Quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế theo quy định của Bộ luật này. 6. Đề ra yêu cầu điều tra và yêu cầu Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra tiến hành điều tra để làm rõ tội phạm, người phạm tội; yêu cầu Cơ quan điều tra truy nã bị can, áp dụng biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt. 7. Trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra trong trường hợp để kiểm tra, bổ sung tài liệu, chứng cứ khi xét phê chuẩn lệnh, quyết định của Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra hoặc trường hợp phát hiện có dấu hiệu oan, sai, bỏ lọt tội phạm, vi phạm pháp luật mà Viện kiểm sát đã yêu cầu bằng văn bản nhưng không được khắc phục hoặc trường hợp để kiểm tra, bổ sung tài liệu, chứng cứ khi quyết định việc truy tố. 8. Khởi tố vụ án hình sự khi phát hiện hành vi của người có thẩm quyền trong việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong việc khởi tố, điều tra có dấu hiệu tội phạm; yêu cầu Cơ quan điều tra khởi tố vụ án hình sự khi phát hiện hành vi của người có thẩm quyền trong việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong việc khởi tố, điều tra có dấu hiệu tội phạm. 9. Quyết định việc gia hạn thời hạn điều tra, thời hạn tạm giam; quyết định chuyển vụ án, áp dụng thủ tục rút gọn, áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh; hủy bỏ quyết định tách, nhập vụ án.

10. Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác trong việc thực hành quyền công tố theo quy định của Bộ luật này.”

Khác với việc kiểm sát điều tra thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra thực chất là gắn trách nhiệm của Viện kiểm sát vào quá trình điều tra vụ án. Viện kiểm sát không còn là người ngoài cuộc, chỉ “thổi còi”, đưa ra yêu cầu, kiến nghị.v.v. như khi tiến hành kiểm sát việc tuân theo pháp luật, mà trực tiếp đi sâu vào hoạt động điều tra, thực hiện các hành vi và đưa ra các quyết định ảnh hưởng đến cục diện điều tra. Có nghĩa là Viện kiểm sát đang tiến dần đến việc giữ vai trò của cơ quan công tố: không chỉ chịu trách nhiệm về truy tố, mà còn là về khởi tố, điều tra vụ án hình sự.

Điều 165 không quy định phân biệt nhiệm vụ và quyền hạn của Viện kiểm sát. Trong trường hợp này có thể hiểu quyền hạn của Viện kiểm sát cũng là nhiệm vụ và ngược lại.

Tuy điều luật quy định chung là nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát, nhưng điều đó không có nghĩa là việc thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn này tùy nghi theo sự phân công của Viện kiểm sát. Do Luật tố tụng hình sự, xét cho cùng là luật quy định quyền hạn, trách nhiệm của các chức danh tư pháp trong tố tụng cũng như quyền, nghĩa vụ của người tham gia tố tụng, nên những quyền hạn, nhiệm vụ của Viện kiểm sát khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra đều được quy về cho những chủ thể cụ thể thực hiện. Các điều 41, 42 của Bộ luật này đã quy định chi tiết nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát và Kiểm sát viên trong giai đoạn điều tra theo khuynh hướng: những quyết định quan trọng phải do Viện trưởng hoặc Phó Viện trưởng Viện kiểm sát ban hành và chịu trách nhiệm.

Thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra là hoạt động tố tụng quan trọng, phức tạp của Viện kiểm sát. Căn cứ vào thực tiễn và yêu cầu tăng cường vai trò công tố của Viện kiểm sát trong tố tụng hình sự, Điều 165 quy định 6 nhóm nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát trong giai đoạn điều tra như sau:

– Khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can; yêu cầu Cơ quan điều tra khởi tố hoặc thay đổi quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự;

– Đề ra yêu cầu điều tra và yêu cầu Cơ quan điều tra tiến hành điều tra; khi xét thấy cần thiết, trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự;

– Yêu cầu Thủ trưởng Cơ quan điều tra thay đổi Điều tra viên theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; nếu hành vi của Điều tra viên có dấu hiệu tội phạm thì khởi tố về hình sự;

– Quyết định áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp bắt, tạm giữ, tạm giam và các biện pháp ngăn chặn khác; quyết định phê chuẩn, quyết định không phê chuẩn các quyết định của Cơ quan điều tra theo quy định của Bộ luật này. Trong trường hợp không phê chuẩn thì trong quyết định không phê chuẩn phải nêu rõ lý do;

– Hủy bỏ các quyết định không có căn cứ và trái pháp luật của Cơ quan điều tra; yêu cầu Cơ quan điều tra truy nã bị can;

– Quyết định việc truy tố bị can; quyết định đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án.

Để bảo đảm cho các quyết định của Viện kiểm sát có hiệu lực, Điều 167 khẳng định trách nhiệm của Cơ quan điều tra trong việc thực hiện các yêu cầu và quyết định của Viện kiểm sát. Theo Điều luật này thì Cơ quan điều tra có trách nhiệm thực hiện các yêu cầu và quyết định của Viện kiểm sát. Đối với các yêu cầu và quyết định thì ngay cả khi không nhất trí, Cơ quan điều tra vẫn phải chấp hành và có quyền kiến nghị với Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp.

Trong trường hợp cần tư vấn thêm, bạn có thể liên hệ với Luật sư của Luật Hoàng Phi qua TỔNG ĐÀI để được tư vấn.

Quyết Định Khen Thưởng Trường Thcs

Qđ Thành Lập Hội Đồng Thi Đua Khen Thưởng Nh 2022

Quyết Định Khen Thưởng Học Sinh Giỏi Cấp Trường

Quyết Định Khen Thưởng Cuối Năm Học 2022

Quyết Định Khen Thưởng Học Sinh Cuối Năm

Vai Trò, Trách Nhiệm Của Viện Kiểm Sát Trong Khởi Tố Vụ Án Hình Sự

Hủy Hàng Chục Quyết Định Không Khởi Tố Vụ Án Hình Sự

Công An Huyện Đã Hủy Quyết Định Không Khởi Tố Vụ Án Hình Sự

Bàn Về Quy Định Thay Đổi Quyết Định Khởi Tố Vụ Án Hình Sự Và Thay Đổi Quyết Định Khởi Tố Bị Can

Thành Lập Ban Quản Lý Xây Dựng Ntm Cấp Xã

Kiện Toàn Bcđ Chương Trình Mtqg Xây Dựng Nông Thôn Mới

Viện kiểm sát và kiểm sát viên có vai trò rất quan trọng trong quá trình giải quyết vụ án hình sự nói chung và trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự nói riêng.

Viện kiểm sát là cơ quan có chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Viện kiểm sát có trách nhiệm khởi tố vụ án, cụ thể trong trường hợp Tòa án yêu cầu Viện kiểm sát khởi tố và trường hợp Viện kiểm sát hủy bỏ quyết định không khởi tố vụ án hình sự của cơ quan điều tra. Tuy nhiên, Viện kiểm sát chủ yếu thực hiện chức năng kiểm sát tính có căn cứ và tính hợp pháp của việc khởi tố và xử lý vụ án hình sự.

Thứ nhất, Viện kiểm sát khởi tố vụ án hình sự

Khoản 3 Điều 153 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định như sau: ” 3. Viện kiểm sát ra quyết định khởi tố vụ án hình sự trong trường hợp: ( a) Viện kiểm sát hủy bỏ quyết định không khởi tố vụ án hình sự của Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra; ( b) Viện kiểm sát trực tiếp giải quyết , c) Viện kiểm sát trực tiếp phát hiện tin báo về tội phạm , kiến nghị khởi tố ; ( dấu hiệu tội phạm hoặc theo yêu cầu khởi tố của Hội đồng xét xử.”

Như vậy, Viện kiểm sát có thể trực tiếp ra quyết định khởi tố vụ án hình sự khi: Viện kiểm sát hủy bỏ quyết định không khởi tố vụ án hình sự của Cơ quan điều tra; trực tiếp giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố; trực tiếp phát hiện dấu hiệu phạm tội; có yêu cầu khởi tố của Hội đồng xét xử.

Thứ hai, Viện kiểm sát giám sát việc khởi tố

Tuy không quy định có quyền phê chuẩn quyết định khởi tố vụ án hình sự nhưng với việc cho phép Viện kiểm sát yêu cầu Cơ quan điều tra ra quyết định hủy bỏ hoặc tự ra quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố vụ án hình sự của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát có quyền và trách nhiệm rất lớn trong việc đảm bảo tính có căn cứ của quyết định khởi tố vụ án hình sự. Một trường hợp khác thường gặp trong thực tiễn, đó là khi các tài liệu, chứng cứ đủ để khởi tố vụ án nhưng không có căn cứ để khởi tố về tội phạm được khởi tố mà là một tội phạm khác hoặc cần bớt đi một tội phạm khác vì không đủ căn cứ để khởi tố đối với tội phạm đó hoặc cần khởi tố bổ sung với một tội phạm khác, Viện kiểm sát sẽ yêu cầu Cơ quan điều tra thì Viện kiểm sát có văn bản yêu cầu Cơ quan điều tra ra quyết định; nếu đã yêu cầu mà Cơ quan điều tra không nhất trí thì Viện kiểm sát ra quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự

Đặc biệt, với trường hợp Cơ quan điều tra ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự – một quyết định rất có thể ẩn chứa những yếu tố tiêu cực, pháp luật tố tụng hình sự đã cho phép Viện kiểm sát hủy bỏ nếu không thấy có căn cứ và sau đó, tự mình ra quyết định khởi tố vụ án và chuyển lại cho Cơ quan điều tra để tiến hành điều tra.

Kêu Cứu Vì Bị Tung Ảnh Khỏa Thân: Có Căn Cứ Khởi Tố Vụ Tàng Trữ Súng

Có Được Thay Đổi Bổ Sung Quyết Định Khởi Tố Vụ Án Hình Sự?

Việc Thay Đổi Hoặc Bổ Sung Quyết Định Khởi Tố Vụ Án Hình Sự Được Quy Định Như Thế Nào?

Tư Vấn Thay Đổi Hoặc Bổ Sung Quyết Định Khởi Tố Vụ Án Hình Sự

Viện Kiểm Sát Ra Quyết Định Khởi Tố Vụ Án Hình Sự Trong Những Trường Hợp Nào?

Về Kiểm Sát Quyết Định Khởi Tố Vụ Án Hình Sự

Thời Hạn Tổ Chức Lễ Kết Nạp Đảng Viên

Quyết Định Kết Nạp Đoàn Viên Công Đoàn

Mẫu Quyết Định Kết Nạp Đoàn Viên Công Đoàn 2022

Quyết Định Công Nhận Ly Hôn Tòa Án Sẽ Giao Cho Vợ Hay Chồng?

Xin Sao Lục Bản Án, Quyết Định Ly Hôn Để Cấp Giấy Xác Nhận Tình Trạng Hôn Nhân

Theo quy định tại Điều 166 BLTTHS năm 2022, Quy chế tạm thời công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát việc khởi tố, điều tra và truy tố (Điều 12) và Thông tư liên tịch số 04/2018/TTLT- VKSTC- BCA- BQP (Điều 7), hoạt động kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự được tiến hành như sau:

Trong thời hạn ba ngày làm việc, kể từ khi nhận được quyết định khởi tố vụ án của CQĐT hoặc cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra (gọi tắt là CQĐT), Viện trưởng, Phó Viện trưởng hoặc Lãnh đạo đơn vị có thẩm quyền kiểm sát điều tra phải cử Kiểm sát viên tiến hành kiểm tra tính có căn cứ và tính hợp pháp của quyết định khởi tố vụ án.

Kiểm sát viên được cử kiểm tra tính có căn cứ và tính hợp pháp của quyết định khởi tố vụ án phải kiểm tra chặt chẽ các tài liệu, chứng cứ để xác định xem quyết định khởi tố vụ án hình sự của CQĐT có căn cứ, có hợp pháp hay không?

Kiểm tra tính có căn cứ của quyết định khởi tố vụ án hình sự

– Kiểm sát viên phải vào sổ thụ lý vụ án hình sự.

– Nghiên cứu kỹ các tài liệu dùng làm căn cứ để khởi tố vụ án hình sự bao gồm: Tài liệu về tố giác, tin báo tội phạm và kiến nghị khởi tố do cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp; các tài liệu khi CQĐT, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra tiến hành kiểm tra, xác minh thu thập được; biên bản khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, biên bản khám xét, biên bản bắt người phạm tội quả tang… cùng các tài liệu, vật chứng thu thập được khi tiến hành khám nghiệm; đơn yêu cầu khởi tố, kết luận giám định, biên bản lấy lời khai bị hại, người làm chứng.

Kiểm tra tính hợp pháp của quyết định khởi tố vụ án hình sự

– Kiểm sát viên kiểm tra trình tự, thủ tục tiến hành thu thập các tài liệu, chứng cứ làm căn cứ để khởi tố vụ án hình sự của CQĐT, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có đúng quy định của BLTTHS hay không?

– Kiểm tra thẩm quyền ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, hình thức và nội dung quyết định khởi tố vụ án hình sự của CQĐT có đúng quy định của BLTTHS hay không?

Sau khi kiểm tra tính có căn cứ, tính hợp pháp của quyết định khởi tố vụ án hình sự của CQĐT, Kiểm sát viên cần tổng hợp, phân tích, đánh giá xem có hay không vụ việc có tính chất hình sự xảy ra trên thực tế. Các tài liệu, chứng cứ thu thập được có đủ để chứng minh sự việc xảy ra có dấu hiệu tội phạm hay chưa? Nếu có thì thuộc điều, khoản nào của BLHS? Phương thức, thủ đoạn thực hiện hành vi ra sao? Mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra như thế nào? Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự còn hay hết…

Sau khi kiểm tra tính có căn cứ và hợp pháp của quyết định khởi tố, Kiểm sát viên phải báo cáo kết quả nghiên cứu, đánh giá quyết định khởi tố với Viện trưởng, Phó Viện trưởng hoặc Lãnh đạo đơn vị kiểm sát điều tra để xem xét, xử lý.

Viện trưởng, Phó Viện trưởng hoặc Lãnh đạo đơn vị kiểm sát điều tra căn cứ vào báo cáo kết quả nghiên cứu quyết định khởi tố của Kiểm sát viên, căn cứ Quy chế tạm thời công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát việc khởi tố, điều tra và truy tố (Điều 12) và Thông tư liên tịch số 04/2018/TTLT- VKSTC- BCA- BQP (Điều 7) để xử lý như sau:

– Nếu thấy quyết định khởi tố vụ án hình sự có căn cứ và hợp pháp thì ra quyết định phân công Kiểm sát viên, Kiểm tra viên thực hành quyền công tố, kiểm sát việc khởi tố, điều tra vụ án và gửi cho Cơ quan điều tra;

– Nếu thấy chưa rõ căn cứ để khởi tố vụ án thì có văn bản yêu cầu Cơ quan điều tra bổ sung chứng cứ, tài liệu để làm rõ;

– Nếu thấy quyết định khởi tố vụ án hình sự không có căn cứ thì có văn bản yêu cầu Cơ quan điều tra ra quyết định hủy bỏ quyết định đó; trường hợp Cơ quan điều tra không nhất trí hoặc là quyết định khởi tố vụ án hình sự của Thủ trưởng Cơ quan điều tra thì Viện kiểm sát ra quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố vụ án hình sự theo quy định tại khoản 6 Điều 159 và khoản 1 Điều 161 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Trường hợp Kiểm sát viên sau khi nghiên cứu quyết định khởi tố vụ án hình sự của CQĐT nếu thấy tội phạm đã khởi tố không đúng với hành vi phạm tội hoặc còn có tội phạm khác chư­a được khởi tố thì Kiểm sát viên thụ lý giải quyết vụ án báo cáo, đề xuất lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện yêu cầu cơ quan đã ra quyết định khởi tố ra quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự; nếu cơ quan đã ra quyết định khởi tố không nhất trí thì báo cáo, đề xuất lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện ra quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự. Trong thời hạn 24 giờ, kể từ khi ra quyết định thay đổi hoặc bổ sung, Kiểm sát viên gửi các quyết định này cho cơ quan đã ra quyết định khởi tố để tiến hành điều tra theo quy định tại khoản 2 Điều 156 Bộ luật Tố tụng hình sự./.

Quyết Định Không Khởi Tố Vụ Án Hình Sự, Quyết Định Hủy Bỏ Quyết Định Khởi Tố Vụ Án Hình Sự

Thay Đổi Hoặc Bổ Sung Quyết Định Khởi Tố Vụ Án Hình Sự

Mẫu Quyết Định Khen Thưởng Học Sinh Tiểu Học

Các Mẫu Quyết Định Khen Thưởng Học Sinh Giỏi 2022

Mẫu Quyết Định Kỷ Luật Đảng Viên Cấp Chi Bộ

Viện Kiểm Sát Ra Quyết Định Khởi Tố Vụ Án Hình Sự Trong Những Trường Hợp Nào?

Tư Vấn Thay Đổi Hoặc Bổ Sung Quyết Định Khởi Tố Vụ Án Hình Sự

Việc Thay Đổi Hoặc Bổ Sung Quyết Định Khởi Tố Vụ Án Hình Sự Được Quy Định Như Thế Nào?

Có Được Thay Đổi Bổ Sung Quyết Định Khởi Tố Vụ Án Hình Sự?

Kêu Cứu Vì Bị Tung Ảnh Khỏa Thân: Có Căn Cứ Khởi Tố Vụ Tàng Trữ Súng

Vai Trò, Trách Nhiệm Của Viện Kiểm Sát Trong Khởi Tố Vụ Án Hình Sự

Viện kiểm sát ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, Viện kiểm sát ra quyết định khởi tố vụ án hình sự trong những trường hợp nào

Viện kiểm sát ra quyết định khởi tố vụ án hình sự

Câu hỏi của bạn:

Tôi có câu hỏi như sau: Viện Kiểm sát huyện A sau khi tiếp nhận tin báo, tố giác tội phạm về vụ việc trộm cắp tài sản đã tiến hành các biện pháp giải quyết, xác minh tin báo, tố giác. Sau khi xác định sự việc có dấu hiệu của tội phạm, Viện kiểm sát huyện A đã trực tiếp ra quyết định khởi tố vụ án về tội trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS năm 2022. Xin Luật sư cho biết trường hợp này Viện kiểm sát huyện A làm như vậy có đúng không?

Câu trả lời của Luật sư:

Căn cứ pháp lý:

Nội dung tư vấn về Viện kiểm sát ra quyết định khởi vụ án hình sự

1. Khái niệm và căn cứ khởi tố vụ án hình sự

Trước hết, khởi tố vụ án hình sự là giai đọna của quá trìn tố tụng hình sự, trong đó cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm, xác định có hay không có dấu hiệu của tội phạm để quyết định không khởi tố vụ án hình sự hoặc khởi tố vụ án hình sự, là cơ sở để chấm dứt hoạt động tố tụng hình sự hay thực hiện các hoạt động tố tụng tiếp theo của quá trình giải quyết vụ án hình sự.

Điều 143 Bộ luật tố tụng hình sự quy định về căn cứ khởi tố vụ án hình sự như sau:

2. Quy định của pháp luật về Viện kiểm sát ra quyết định khởi tố vụ án hình sự

Bộ luật tố tụng hình sự năm 2022 quy định về thẩm quyết ra quyết định khởi tố vụ án hình sự của Viện kiểm sát như sau:

Như vậy, căn cứ vào quy định trên, có ba trường hợp Viện kiểm sát được ra quyết định khởi tố vụ án hình sự. Đối với trường hợp Viện kiểm sát trực tiếp giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố cần lưu ý: Theo quy định tại điểm c khoản 3 điều 145 BLTTHS năm 2022, Viện kiểm sát chỉ tự mình trực tiếp giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố trong trường hợp phát hiện Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong hoạt động kiểm tra, xác minh tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố hoặc có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm mà Viện kiểm sát đã yêu cầu bằng văn bản nhưng không được khắc phục.

Do đó, ngoài trường hợp trên, theo quy định tại khoản 2 Điều 146 BLTTHS năm 2022, nếu Viện kiểm sát đã tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố thì Viện kiểm sát phải chuyển ngay cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền.

3. Tư vấn cụ thể về vấn đề Viện kiểm sát ra quyết định khởi tố vụ án hình sự

Như chúng tôi đã phân tích ở trên, đối với trường hợp của bạn, khi Viện kiểm sát huyện A tiếp nhận tin báo, tố giác tội phạm về vụ việc trộm cắp tài sản thì phải chuyển ngay cho Cơ quan điều ra có thẩm quyền (cụ thể là Cơ quan điều tra huyện A) để giải quyết theo quy định của pháp luật. Viện kiểm sát huyện A chỉ mình xác minh tin báo, tố giác tội phạm về vụ việc trộm cắp tài sản này trong trường hợp phát hiện Cơ quan điều tra huyện X có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong hoạt động kiểm tra, xác minh.

Tuy nhiên, theo tình huống sau khi tiếp nhận tin báo, Viện kiểm sát huyện A đã tự mình tiến hành các biện pháp giải quyết, xác minh tin báo, tố giác sau đó trực tiếp ra quyết định khởi tố vụ án về tội trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS năm 2022. Như vậy, trường hợp này, Viện kiểm sát huyện A làm như vậy là không đúng theo quy định của pháp luật.

Ngoài ra bạn có thể tham khảo các bài viết sau:

quý khách vui lòng liên hệ tới Để được tư vấn vấn chi tiết về Viện kiểm sát ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, Tổng đài tư vấn Luật hình sự: 19006500 để được tư vấn chi tiết hoặc gửi câu hỏi về Email: . Chúng tôi sẽ giải đáp toàn bộ câu hỏi của quý khách một cách tốt nhất. lienhe@luattoanquoc.com

Trao Đổi: “về Kiểm Sát Việc Ra Quyết Định Không Khởi Tố Vụ Án Hình Sự”

Khiếu Nại Quyết Định Không Khởi Tố Vụ Án Hình Sự

Căn Cứ Không Khởi Tố Vụ Án Hình Sự Theo Quy Định Bộ Luật Tố Tụng Hình Sự Năm 2022

Khiếu Nại Quyết Định Không Khởi Tố Vụ Án Hình Sự Ở Đâu?

Quy Định Mới Về Quy Trình Khởi Tố Bị Can?

Viện Kiểm Sát Hủy Quyết Định Khởi Tố Của Công An

Thư Bạn Đọc: Cần Hủy Bỏ Quyết Định Khởi Tố Bị Can Nguyễn Văn Mạnh

Từ Bị Hại Trở Thành Bị Can: Hủy Bỏ Quyết Định Khởi Tố

Đà Nẵng Hủy Bỏ Quyết Định Hỗ Trợ Lãi Suất 10% Tiền Sử Dụng Đất

Mẫu Quyết Định Thu Hồi, Hủy Bỏ Giấy Khai Sinh Cấp Trái Pháp Luật

Người Bị Kiện Tự Mình Sửa Đổi, Hủy Bỏ Quyết Định Hành Chính, Hoặc Dừng, Khắc Phục Hành Vi Hành Chính Bị Khởi Kiện Trong Giai Đoạn Xét Xử Sơ Thẩm, Phúc Thẩm Vụ Án Hành Chính

Ngày 21-5, một nguồn tin xác nhận VKSND huyện Vân Canh (Bình Định) vừa ban hành quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố bị can của Cơ quan CSĐT công an huyện này đối với Nguyễn Văn Thiện (37 tuổi, ngụ thị trấn Vân Canh, huyện Vân Canh) về tội chống người thi hành công vụ.

Trước đó, ngày 7-5, Cơ quan CSĐT Công an huyện Vân Canh ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, quyết định khởi tố bị can đối với Thiện về tội chống người thi hành công vụ theo quy định tại Điều 330 BLHS.

Ngày 8-5, VKSND huyện Vân Canh có công văn yêu cầu Cơ quan CSĐT công an huyện bổ sung tài liệu, chứng cứ làm rõ việc thi hành công vụ của tổ công tác; động cơ, mục đích, ý thức của Thiện khi thực hiện hành vi, những mâu thuẫn trong hồ sơ vụ án cùng các tài liệu, chứng cứ khách quan khác ngoài lời khai để chứng minh việc khởi tố là có căn cứ pháp luật.

Tuy nhiên, Cơ quan CSĐT Công an huyện Vân Canh có công văn phúc đáp không bổ sung tài liệu, chứng cứ, tiếp tục đề nghị VKSND cùng cấp phê chuẩn quyết định khởi tố bị can đối với Nguyễn Văn Thiện.

Lãnh đạo VKSND huyện Vân Canh cho biết nhận thấy vụ án còn nhiều điểm chưa được làm rõ, kiểm sát viên đã trực tiếp tiến hành thu thập tài liệu, chứng cứ, trực tiếp hỏi cung bị can nhằm đảm bảo tính thận trọng trước khi xem xét phê chuẩn.

Sau khi xem xét, đánh giá toàn diện các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, VKSND huyện Vân Canh xét thấy hành vi của Nguyễn Văn Thiện không đủ yếu tố cấu thành tội chống người thi hành công vụ.

Do đó, mới đây VKSND huyện Vân Canh đã ra quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố bị can đối với Nguyễn Văn Thiện, đồng thời có công văn yêu cầu cơ quan điều tra hủy bỏ quyết định khởi tố vụ án hình sự.

Theo VKSND huyện Vân Canh, việc thi hành công vụ của tổ công tác với ba công an viên thuộc Công an thị trấn Vân Canh chưa đảm bảo, tuân thủ quy định, dẫn đến Thiện không biết rõ các công an viên đang thi hành công vụ. Mặt khác, tại quán của Thiện không xảy ra vụ việc đánh bạc, đánh nhau nào.

VKS cho rằng hành vi của Thiện không nhằm cản trở, chống đối, tấn công người thi hành công vụ mà do mâu thuẫn cá nhân, xảy ra sau nhiệm vụ của tổ công tác đã hoàn thành. Ngoài lời khai của các bên, không có tài liệu, chứng cứ nào khác.

Cũng theo nguồn tin trên, trước đó, liên ngành tố tụng gồm Công an huyện, VKSND huyện, TAND huyện Vân Canh đã tiến hành họp bàn về việc giải quyết tin báo của vụ án trên.

Cả VKSND, TAND huyện đều không đồng ý khởi tố vụ án vì chưa đủ tài liệu, chứng cứ. Trước khi khởi tố vụ án, khởi tố bị can, cơ quan điều tra có trao đổi với VKSND huyện và viện có quan điểm không thống nhất việc khởi tố.

Người bị khởi tố đã bị phạt tù trong vụ án khác

Nguyễn Văn Thiện đã bị TAND huyện Vân Canh phạt 18 tháng tù cũng về tội chống người thi hành công vụ trong phiên tòa ngày 24-4.

Theo bản án sơ thẩm này, Thiện đã dùng phảng phát bờ đe dọa, đuổi đánh, chửi bới, xúc phạm các thành viên tổ công tác phòng, chống dịch bệnh COVID-19 của thị trấn Vân Canh khi tổ công tác đến vận động thực hiện giãn cách tại quán cà phê do Thiện làm chủ.

Đây là vụ án được điều tra, truy tố, xét xử áp dụng thủ tục rút gọn theo tinh thần công văn của TAND Tối cao ban hành ngày 30-3.

Theo cơ quan công an, Nguyễn Văn Thiện từng có ba tiền án về tội cố ý gây thương tích và một lần đi tập trung giáo dưỡng 18 tháng.

Viện Ksnd Huyện Phù Mỹ Hủy Bỏ Quyết Định Khởi Tố Bị Can Của Cơ Quan Điều Tra

Hủy Bỏ Quyết Định Khởi Tố Bị Can Với Nguyên Phó Chủ Tịch Hà Nội Phí Thái Bình

Vksnd Huyện Vân Canh Hủy Bỏ Quyết Định Khởi Tố Bị Can

Công Ty Có Được Hủy Quyết Định Tăng Lương Do Nhầm Lẫn?

Về Kiểm Sát Việc Ra Quyết Định Không Khởi Tố Vụ Án Hình Sự

Viện Ksnd Huyện Phù Mỹ Hủy Bỏ Quyết Định Khởi Tố Bị Can Của Cơ Quan Điều Tra

Viện Kiểm Sát Hủy Quyết Định Khởi Tố Của Công An

Thư Bạn Đọc: Cần Hủy Bỏ Quyết Định Khởi Tố Bị Can Nguyễn Văn Mạnh

Từ Bị Hại Trở Thành Bị Can: Hủy Bỏ Quyết Định Khởi Tố

Đà Nẵng Hủy Bỏ Quyết Định Hỗ Trợ Lãi Suất 10% Tiền Sử Dụng Đất

Mẫu Quyết Định Thu Hồi, Hủy Bỏ Giấy Khai Sinh Cấp Trái Pháp Luật

Viện KSND huyện Phù Mỹ hủy bỏ Quyết định khởi tố bị can của Cơ quan điều tra

Theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, phê chuẩn Quyết định khởi tố bị can là trách nhiệm của Viện kiểm sát nhân dân nhằm tránh để xảy ra oan sai hay bỏ lọt tội phạm, nên quyết định phê chuẩn hay hủy bỏ các Quyết định khởi tố bị can là nhiệm vụ hết sức nặng nề của Viện kiểm sát nhân dân khi thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra vụ án hình sự.

Diễn biến vụ án: Khoảng 23 giờ ngày 17/7/2014, Trần Duy Mỹ – sinh ngày 20/01/1996, trú tại An Giang Tây, Mỹ Đức, Phù Mỹ, Bình Định và Lương Nhật Lượng – sinh ngày 14/10/1996, trú tại Phú Hà, Mỹ Đức, Phù Mỹ, Bình Định cùng rủ đi trộm cắp tài sản gồm: Máy vi tính xách tay DELL 3420 i3, 01 điện thoại di động Nokia màu đen, một ví tiền có 8.000 đồng, 01 CMND, 01 thẻ ATM, 01 GPLX mô tô của anh Lê Đức Hoàng – sinh năm 1983, ở Vạn An, Mỹ Châu, Phù Mỹ. Đến khoảng 06 giờ ngày 18/7/2014 Mỹ chở Lượng đến nhà của Đỗ Ngọc Sơn – sinh năm 1995, ở An Giang Tây, Mỹ Đức, Phù Mỹ, Bình Định bảo Sơn lấy xe máy của gia đình chở Mỹ, Lượng đi công chuyện, Sơn đồng ý. Chở đi được một đoạn thì Mỹ bảo Sơn dừng xe lại, Mỹ xuống xe lấy một túi xách để trước xe rồi bảo Sơn chạy tiếp. Đi một đoạn, Sơn hỏi trong xách là cái gì, Mỹ và Lượng nói Laptop lấy trộm hồi hôm, bảo Sơn chở đi tìm chỗ bán lấy tiền nhậu. Sơn đồng ý nên tiếp tục chở Mỹ và Lượng đi tìm chỗ bán Laptop, xe máy của Lượng và Mỹ đang đi mang BKS 77M4-2833 để lại nhà Sơn. Sơn chở Mỹ và Lượng vào Phù Cát, Bình Định để tìm chỗ bán máy Laptop, nhưng không ai mua nên quay về thị trấn Phù Mỹ. Thấy tiệm điện tử Viễn Thông gần đèn đỏ, Lượng vào hỏi có cầm cố Laptop không, chủ tiệm chấp nhận nên Lượng bảo Mỹ và Sơn đem máy vào hai bên thỏa thuận cầm cố với giá 4 triệu đồng. Mỹ nhận tiền và chủ tiệm viết giấy hẹn sau 1 tháng đến lấy lại, Sơn ký tên Hoàng vào giấy và đưa cho Mỹ cầm rồi cùng đi nhậu. Số tiền còn lại Mỹ chia cho Sơn 1 triệu đồng, Lượng 800.000 đồng, Mỹ 1 triệu đồng. Điện thoại di động Mỹ nhờ Sơn cầm đồ tại tiệm Phong Đạt – thị trấn Bình Dương, Phù Mỹ với giá 200.000 đồng, Sơn đem tiền về cho Mỹ, Sơn không biết điện thoại của ai.

Kết quả định giá: Hội đồng định giá kết luận Laptop có giá trị 5.500.000 đồng.

Kết quả điều tra: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Phù Mỹ đã khởi tố vụ án hình sự số 62 ngày 15/10/2014, về tội Trộm cắp tài sản theo Điều 138 BLHS và tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có theo Điều 250 BLHS. Quyết định khởi tố bị can số 121, 122 ngày 15/10/2014, đối với Trần Duy Mỹ, Lương Nhật Lượng, về tội Trộm cắp tài sản theo Điều 138 BLHS. Quyết định khởi tố bị can số 123 ngày 15/10/2014 đối với Đỗ Ngọc Sơn, về tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có và đề nghị Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Mỹ phê chuẩn các quyết định khởi tố bị can nêu trên.

Kết quả kiểm sát điều tra: Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Mỹ xét thấy, hành vi của Đỗ Ngọc Sơn đã giúp sức cho Mỹ và Lượng tiêu thụ tài sản do chính Mỹ và Lượng phạm tội mà có nên hành vi của Sơn có dấu hiệu không tố giác tội phạm nhưng vì hành vi phạm tội trộm cắp tài sản của Trần Duy Mỹ và Lương Nhật Lượng dưới 50.000.000 đồng nên không đủ yếu tố cấu thành tội không tố giác tội phạm theo Điều 314 BLHS. Do vậy, hành vi của Đỗ Ngọc Sơn không phạm tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có nên Viện KSND huyện Phù Mỹ đã ra Quyết định số 01/QĐ-KSĐT ngày 17/11/2014: Hủy bỏ quyết định khởi tố bị can số 123 ngày 15/10/2014 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Phù Mỹ, vì hành vi của Đỗ Ngọc Sơn không cấu thành tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có theo Điều 250 BLHS. Đồng thời, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Mỹ ban hành Yêu cầu số 01/YC-KSĐT ngày 17/11/2014: Yêu cầu Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Phù Mỹ thay đổi Quyết định khởi tố vụ án hình sự số 62 ngày 15/10/2014, khởi tố vụ án hình sự về tội: Trộm cắp tài sản quy định tại Điều 138 BLHS để điều tra theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

Thanh Nghị

Hủy Bỏ Quyết Định Khởi Tố Bị Can Với Nguyên Phó Chủ Tịch Hà Nội Phí Thái Bình

Vksnd Huyện Vân Canh Hủy Bỏ Quyết Định Khởi Tố Bị Can

Công Ty Có Được Hủy Quyết Định Tăng Lương Do Nhầm Lẫn?

Về Kiểm Sát Việc Ra Quyết Định Không Khởi Tố Vụ Án Hình Sự

Quyết Định Hủy Bỏ Quyết Định Không Khởi Tố Vụ An Hình Sự

Về Kiểm Sát Việc Ra Quyết Định Không Khởi Tố Vụ Án Hình Sự

Công Ty Có Được Hủy Quyết Định Tăng Lương Do Nhầm Lẫn?

Vksnd Huyện Vân Canh Hủy Bỏ Quyết Định Khởi Tố Bị Can

Hủy Bỏ Quyết Định Khởi Tố Bị Can Với Nguyên Phó Chủ Tịch Hà Nội Phí Thái Bình

Viện Ksnd Huyện Phù Mỹ Hủy Bỏ Quyết Định Khởi Tố Bị Can Của Cơ Quan Điều Tra

Viện Kiểm Sát Hủy Quyết Định Khởi Tố Của Công An

Ngày 29/12/2017, VKSND tối cao có quyết định số: 03/QĐ-VKSTC về việc ban hành Quy chế tạm thời về công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát việc khởi tố, điều tra và truy tố (gọi tắt là Quy chế tạm thời số 03) để áp dụng thống nhất chung trong toàn ngành. Trong khuôn khổ bài viết này, tác giả trao đổi thêm một số ý kiến về công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát việc ra Quyết định không khởi tố vụ án hình sự như sau.

Về vị trí của hoạt động thực hành quyền công tố, kiểm sát việc ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự

– Quan điểm thứ nhất cho rằng, thực hành quyền công tố, kiểm sát việc ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự là hoạt động được thực hiện trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự. Bởi lẽ, ngay từ tên gọi, theo bố cục lập pháp, hoạt động này được quy định tại Phần II (Khởi tố, điều tra vụ án hình sự) của BLTTHS năm 2022 và Chương II (thực hành quyền công tố, kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự và khởi tố bị can) của Quy chế tạm thời số 03. Rõ hơn nữa, khoản 2 Điều 14 Luật Tổ chức viện kiểm sát nhân dân năm 2014 cũng quy định trong nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND khi thực hành quyền công tố ở giai đoạn điều tra vụ án hình sự có hoạt động hủy bỏ quyết định không khởi tố vụ án trái pháp luật. Vì quyết định không khởi tố vụ án hình sự có vị trí tương tự như quyết định khởi tố vụ án hình sự (chỉ khác nhau ở hậu quả pháp lý đối lập) nên hoạt động thực hành quyền công tố, kiểm sát đối với hai loại quyết định này cũng tương tự nhau, đều được thực hiện trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự.

– Quan điểm thứ hai cho rằng, thực hành quyền công tố, kiểm sát việc ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự là hoạt động được thực hiện trong giai đoạn giải quyết tin báo, tố giác tội phạm. Bởi lẽ, Điều 147 BLTTHS 2022 quy định về thời hạn, thủ tục giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố như sau:

“Trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày nhận được tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải kiểm tra, xác minh và ra một trong các quyết định: a) Quyết định khởi tố vụ án hình sự; b) Quyết định không khởi tố vụ án hình sự; c) Quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố.”

Theo đó, quyết định khởi tố vụ án hình sự; quyết định không khởi tố vụ án hình sự và quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố chính là các kết quả của quá trình giải quyết tin báo, tố giác tội phạm. Trong đó, quyết định khởi tố vụ án hình sự có vị trí đặc biệt, được coi như “bản lề” của 2 giai đoạn tố tụng khác nhau vì nó đóng lại giai đoạn giải quyết tin báo, tố giác tội phạm và mở ra quá trình điều tra. Tuy nhiên, quyết định không khởi tố vụ án hình sự lại không có tính chất như vậy, nó chỉ đơn thuần là kết quả cuối cùng, đóng lại quá trình giải quyết tin báo, tố giác tội phạm. Nên cũng cần đánh giá, về bản chất, hoạt động thực hành quyền công tố, kiểm sát việc ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự phải thuộc giai đoạn giải quyết tin báo, tố giác tội phạm. Việc quy định theo kết cấu các văn bản pháp luật đã trích dẫn như quan điểm thứ nhất là để thuận lợi cho quá trình thực hiện, thể hiện tính liên tục giữa 2 giai đoạn: Giải quyết tin báo, tố giác tội phạm và điều tra mà không có ý nghĩa xác định hoạt động thực hành quyền công tố, kiểm sát việc ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự được tiến hành trong giai đoạn điều tra.

c) Nếu thấy đủ căn cứ thì thông báo bằng văn bản cho cơ quan đã ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự”.

Theo đó, những nội dung cần làm để thực hành quyền công tố, kiểm sát việc ra Quyết định không khởi tố vụ án hình sự đã được quy định rất cụ thể. Tuy nhiên, với trường hợp xử lý khi quyết định không khởi tố vụ án hình sự ch­ưa đủ căn cứ, hiện nay vẫn còn một số ý kiến trái chiều như sau.

Quy định như vậy sẽ dẫn tới 2 cách hiểu khác nhau:

– Quan điểm thứ nhất cho rằng, trong trường hợp này, Cơ quan được yêu cầu chỉ được bổ sung tài liệu chứng cứ trong thời gian 3 ngày kể từ khi giao quyết định không khởi tố vụ án hình sự cho Viện kiểm sát. Nếu theo phương án này, thời hạn bổ sung tài liệu chứng cứ là quá ít. Cá biệt, nếu Kiểm sát viên nghiên cứu mất phần lớn thời gian (ví dụ như 2 ngày) thì kể từ khi nhận được yêu cầu, Cơ quan đã ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự chỉ còn rất ít thời gian để bổ sung tài liệu, chứng cứ (1 ngày). Nếu như vậy thì việc thực hiện yêu cầu của Viện kiểm sát là không khả thi.

– Quan điểm thứ hai cho rằng, 3 ngày là thời hạn để Kiểm sát viên nghiên cứu hồ sơ, kiểm tra tính có căn cứ và hợp pháp của quyết định đó và báo cáo, đề xuất lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện phương án giải quyết là: yêu cầu cơ quan đã ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự bổ sung tài liệu, chứng cứ để làm rõ. Cơ quan đã ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự sẽ bổ sung tài liệu, chứng cứ ngoài thời hạn 3 ngày này. Theo quan điểm thứ hai, cũng có 2 cách hiểu về tính thời hạn bổ sung tài liệu, chứng cứ khác nhau. Thứ nhất, thời hạn này không bị hạn chế, chỉ kết thúc khi cơ quan này bổ sung xong tài liệu, chứng cứ, đủ làm căn cứ để quyết định giữ nguyên quyết định không khởi tố vụ án hình sự hoặc hủy bỏ quyết định đó. Thứ hai, thời hạn bổ sung tài liệu, chứng cứ không thể vượt quá thời hạn giải quyết tin báo, tố giác tội phạm. Nếu hết thời hạn trên, các tài liệu, chứng cứ bổ sung được không đủ để làm căn cứ khởi tố vụ án, cũng không thuộc trường hợp tạm đình chỉ thì theo nguyên tắc trách nhiệm chứng minh thuộc về cơ quan tiến hành tố tụng và nguyên tắc suy đoán vô tội, cần phải giữ nguyên Quyết định không khởi tố vụ án.

Về trình tự, thủ tục thu thập và giá trị chứng minh của những tài liệu, chứng cứ được bổ sung: Theo quy định tại Điều 13 Quy chế, sau khi khởi tố vụ án, nếu chưa thấy đủ căn cứ, Viện kiểm sát có thể yêu cầu cơ quan đã ra quyết định bổ sung tài liệu, chứng cứ để làm rõ. Như đã phân tích ở trên, tuy Quyết định khởi tố vụ án hình sự đã khép lại quá trình giải quyết tin báo, tố giác tội phạm nhưng lại mở ra giai đoạn điều tra, nên mọi hoạt động tố tụng tiếp theo, trong đó có cả việc bổ sung tài liệu, chứng cứ (nếu có) sẽ được diễn ra và tuân theo các trình tự, thủ tục tố tụng trong giai đoạn điều tra. Vì vậy, những tài liệu, chứng cứ này hoàn toàn hợp pháp và đầy đủ giá trị để Viện kiểm sát làm căn cứ đánh giá, xem xét có phải hủy Quyết định khởi tố vụ án hay không.

Theo quan điểm của cá nhân tôi, BLTTHS 2022 đã quy định rất chặt chẽ về thủ tục tố tụng ( Điều 87: “Những gì có thật nhưng không được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật quy định này thì không có giá trị pháp lý…”). Cũng không có Điều nào trong Bộ luật này quy định về thủ tục bổ sung tài liệu, chứng cứ cho Quyết định Không khởi tố vụ án hình sự chưa có đủ căn cứ. Do đó, cần đặc biệt thận trọng. Dù là “mạnh tay” nhưng trong trường hợp này, khi Quyết định Không khởi tố vụ án hình sự chưa có đủ căn cứ, Viện kiểm sát nên yêu cầu cơ quan đã ban hành Quyết định này phải hủy bỏ hoặc tự mình hủy bỏ để trở lại xác minh, làm rõ theo thủ tục chung. Có như vậy, mới đảm bảo trình tự, thủ tục tố tụng và theo đó, bảo đảm giá trị chứng minh của tất cả những tài liệu, chứng cứ thu thập được.

Trường hợp thấy Quyết định không khởi tố vụ án ch­ưa đủ căn cứ, Viện kiểm sát có văn bản yêu cầu cơ quan đã ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự bổ sung tài liệu, chứng cứ để làm rõ là quy định không mới, hoàn toàn được kế thừa từ Quy chế kiểm sát điều tra năm 2008 của ngành Kiểm sát. Tuy nhiên, với những thay đổi lớn của BLHS 2022, BTTHS 2022 với những yêu cầu vô cùng khắt khe về trình tự, thủ tục tố tụng, nên chăng, cần đặt ra thêm giải pháp hợp lý hơn cho vấn đề này để đảm bảo tính hợp pháp, giá trị chứng minh của tài liệu, chứng cứ, đảm bảo cơ sở vững chắc cho các hoạt động và quyết định tố tụng.

Quyết Định Hủy Bỏ Quyết Định Không Khởi Tố Vụ An Hình Sự

Vụ Thuê Villa Bị Đuổi Ra Ngoài Ở Huyện Phú Quốc, Tỉnh Kiên Giang: Viện Ksnd Huyện Thừa Nhận Ông Công, Ông Tuấn Vi Phạm Pháp Luật; Nhưng Giải Quyết Chưa Đầy Đủ

Sở Khoa Học Và Công Nghệ Ninh Bình Hủy Bỏ Quyết Định Bổ Nhiệm Hai Cán Bộ

Thanh Hóa: Hủy Bỏ Nhiều Quyết Định Bổ Nhiệm Lãnh Đạo Trái Quy Định

Hủy Bỏ Quyết Định Bổ Nhiệm Phó Giám Đốc Sở ‘siêu Tốc’

Trao Đổi: “về Kiểm Sát Việc Ra Quyết Định Không Khởi Tố Vụ Án Hình Sự”

Viện Kiểm Sát Ra Quyết Định Khởi Tố Vụ Án Hình Sự Trong Những Trường Hợp Nào?

Tư Vấn Thay Đổi Hoặc Bổ Sung Quyết Định Khởi Tố Vụ Án Hình Sự

Việc Thay Đổi Hoặc Bổ Sung Quyết Định Khởi Tố Vụ Án Hình Sự Được Quy Định Như Thế Nào?

Có Được Thay Đổi Bổ Sung Quyết Định Khởi Tố Vụ Án Hình Sự?

Kêu Cứu Vì Bị Tung Ảnh Khỏa Thân: Có Căn Cứ Khởi Tố Vụ Tàng Trữ Súng

Về vị trí của hoạt động thực hành quyền công tố, kiểm sát việc ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự: Tôi đồng ý với quan điểm là “quyết định khởi tố vụ án hình sự; quyết định không khởi tố vụ án hình sự và quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố chính là các kết quả của quá trình giải quyết tin báo, tố giác tội phạm. Trong đó, quyết định khởi tố vụ án hình sự có vị trí đặc biệt, được coi như “bản lề” của 2 giai đoạn tố tụng khác nhau vì nó đóng lại giai đoạn giải quyết tin báo, tố giác tội phạm và mở ra quá trình điều tra. Tuy nhiên, quyết định không khởi tố vụ án hình sự lại không có tính chất như vậy, nó chỉ đơn thuần là kết quả cuối cùng, đóng lại quá trình giải quyết tin báo, tố giác tội phạm. Nên cũng cần đánh giá, về bản chất, hoạt động thực hành quyền công tố, kiểm sát việc ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự phải thuộc giai đoạn giải quyết tin báo, tố giác tội phạm. Việc quy định theo kết cấu các văn bản pháp luật đã trích dẫn như quan điểm thứ nhất là để thuận lợi cho quá trình thực hiện, thể hiện tính liên tục giữa 2 giai đoạn: Giải quyết tin báo, tố giác tội phạm và điều tra mà không có ý nghĩa xác định hoạt động thực hành quyền công tố, kiểm sát việc ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự được tiến hành trong giai đoạn điều tra.”

Theo tôi, tuy việc giải quyết tin báo, tố giác tội phạm đã tạm dừng nhưng một số hoạt động tố tụng vẫn được phép tiến hành như giám định, định giá tài sản hoặc tương trợ tư pháp… Nên tài liệu, chứng cứ được thu thập theo trình tự này là hoàn toàn hợp pháp vì xét về bản chất, chứng cứ là những thông tin, tài liệu hay những gì có thật được cơ quan tiến hành tố tụng thu thập, kiểm tra và đánh giá theo quy định của pháp luật nhằm phục vụ cho việc giải quyết đúng đắn vụ án hình sự. Theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự thì một thông tin, tài liệu chỉ có thể được coi là chứng cứ của vụ án khi nó có đủ ba thuộc tính sau:

– Tính khách quan: Là những gì có thật và phản ánh trung thực những tình tiết của vụ án hình sự đã xảy ra.

– Tính hợp pháp: Tất cả những gì có thật phải được cung cấp, thu thập, nghiên cứu, bảo quản theo một trình tự do luật định. Đây là trình tự nhằm bảo đảm giá trị chứng minh của chứng cứ.

Như vậy sau khi đã ra Quyết định không khởi tố vụ án hình sự, tất cả những hoạt động thu thập tài liệu, chứng cứ sẽ không có giá trị chúng minh nếu như không đảm bảo đủ 03 thuộc tính trên.

Trong thực tế, quá trình chứng minh trong giai đoạn tin báo nói riêng và các giai đoạn tố tụng nói chung, hoạt động sử dụng chứng cứ gắn liền với hoạt động đánh giá chứng cứ, đánh giá chứng cứ và sử dụng chứng cứ có mối quan hệ chặt chẽ không tách rời. Đánh giá chứng cứ là tiền đề, là điều kiện cho sử dụng chứng cứ. Sử dụng chứng cứ là sự kiểm nghiệm, xác định lại kết quả của hoạt động đánh giá chứng cứ. Nên Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng chỉ được sử dụng những chứng cứ đã được phát hiện, thu thập theo đúng qui định của pháp luật tố tụng hình sự. Các tài liệu, chứng cứ thu thập được qua biện pháp điều tra, trinh sát, phải được chuyển hóa thành chứng cứ hợp pháp mới được sử dụng. Những tài liệu, chứng cứ phải được kiểm tra, xác minh đầy đủ, phải đảm bảo đầy đủ ba thuộc tính của chứng cứ, phải phù hợp với thực tế khách quan, đảm bảo sự tin cậy vững chắc và có đủ căn cứ mới sử dụng được.

Khiếu Nại Quyết Định Không Khởi Tố Vụ Án Hình Sự

Căn Cứ Không Khởi Tố Vụ Án Hình Sự Theo Quy Định Bộ Luật Tố Tụng Hình Sự Năm 2022

Khiếu Nại Quyết Định Không Khởi Tố Vụ Án Hình Sự Ở Đâu?

Quy Định Mới Về Quy Trình Khởi Tố Bị Can?

Khởi Tố Bị Can Là Gì?

Những Điểm Mới Cơ Bản Của Luật Tổ Chức Cơ Quan Điều Tra Hình Sự

An Ninh Hình Sự 24H: Bản Án Cho Kẻ Giết Họ Hàng Vì Xếp Gạch Trước Cổng; Bắt Cán Bộ Hải Quan Trong Vụ Buôn Lậu Ở Lào Cai

Các Căn Cứ Không Khởi Tố Vụ Án Hình Sự

Trường Hợp Vi Phạm Pháp Luật Hình Sự

5 Vụ Án Hình Sự Nhiều Người Quan Tâm Năm 2014

Hành Chính, Dân Sự Hay Hình Sự?

1. Về tổ chức bộ máy, thẩm quyền của Cơ quan điều tra, Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự đã hợp nhất Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về tham nhũng, Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự quản lý kinh tế và chức vụ thành Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về tham nhũng, kinh tế và chức vụ và thành lập mới Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm, xâm phạm sở hữu trí tuệ (Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về buôn lậu).

Đồng thời, trong tổ chức bộ máy Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp tỉnh sẽ thành lập mới Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm, xâm phạm sở hữu trí tuệ (Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về buôn lậu); không quy định Cơ quan Cảnh sát điều tra có “bộ máy giúp việc” và quy định thành lập “Đội điều tra tổng hợp” ở Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an cấp huyện.

2. Thu gọn đầu mối cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra thuộc lực lượng Cảnh sát nhân dân. Theo đó, Luật đã giảm 4 đầu mối, cụ thể là: hợp nhất Cục Cảnh sát giao thông đường bộ – đường sắt và Cục Cảnh sát giao thông đường thuỷ thành 1 đầu mối là Cục Cảnh sát giao thông; hợp nhất Phòng Cảnh sát giao thông đường bộ – đường sắt, Phòng Cảnh sát giao thông đường thuỷ thành 1 đầu mối là Phòng Cảnh sát giao thông; bỏ quy định Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội, Cục Cảnh sát bảo vệ và hỗ trợ tư pháp, Phòng Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội, Phòng Cảnh sát bảo vệ và hỗ trợ tư pháp, Trại tạm giam là cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra; bổ sung quy định Cục Cảnh sát phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao, Phòng Cảnh sát phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao Công an cấp tỉnh, Cảnh sát phòng cháy và chữa cháy tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương là cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra.

3. Để phù hợp với xu thế chung về tuyển dụng, bổ nhiệm cán bộ, công chức, đặc biệt là việc bổ nhiệm các chức danh tư pháp khác như Thẩm phán, Kiểm sát viên, Luật tổ chức cơ quan điều tra hình sự đã bỏ cơ chế bổ nhiệm Điều tra viên qua tuyển chọn theo Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2006, năm 2009) và thay bằng cơ chế thi tuyển Điều tra viên.

Trên cơ sở đó, Luật đã thay quy định về Hội đồng tuyển chọn Điều tra viên bằng Hội đồng thi tuyển Điều tra viên các ngạch trong CAND.

4. Để bảo đảm thực hiện chế định về cán bộ điều tra mới được bổ sung vào Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2022, Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự đã quy định cụ thể về tiêu chuẩn bổ nhiệm, việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cấp, thu hồi Giấy chứng nhận cán bộ điều tra, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Cán bộ điều tra.

Cán bộ điều tra được bố trí ở Cơ quan điều tra và Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra. Do tính chất công việc khác nhau nên tiêu chuẩn bổ nhiệm, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của cán bộ điều tra ở hai cơ quan này có sự khác nhau.

Cán bộ điều tra thuộc các cơ quan điều tra chuyên trách là người có đủ các tiêu chuẩn theo quy định tại khoản 1, 2, 3 và 5 Điều 46 (Tiêu chuẩn chung đối với Điều tra viên) Luật tổ chức cơ quan điều tra hình sự thì có thể được bổ nhiệm để giúp Điều tra viên thực hiện một số hoạt động điều tra hình sự.

Còn Cán bộ điều tra thuộc cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra là cán bộ làm việc kiêm nhiệm, được giao nhiệm vụ giúp Thủ trưởng cơ quan tiến hành một số hoạt động điều tra, thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự và Luật Tổ chức cơ quan điều tra hình sự.

Cán bộ điều tra thuộc cơ quan được giao tiến hành một số hoạt động điều tra do Thủ trưởng cơ quan phân công theo từng vụ, việc.

6. Bổ sung 1 Chương (Chương IX) quy định về trách nhiệm của Chính phủ, các Bộ, ngành và UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong công tác điều tra hình sự. Theo đó, Chính phủ thống nhất quản lý về công tác điều tra hình sự và giao Bộ Công an giúp Chính phủ thực hiện.

Trung tướng, GS Nguyễn Ngọc Anh, Cục trưởng Cục Pháp chế và cải cách hành chính tư pháp, Bộ Công an

Địa Chỉ Công An Huyện Quốc Oai

Về Tòa Án Nhân Dân Huyện Quốc Oai, Thành Phố Hà Nội

Một Số Vấn Đề Lý Luận Về Mối Quan Hệ Giữa Luật Hình Sự Và Luật Tố Tụng Hình Sự

Những Điểm Cần Biết Về Luật Tố Tụng Hình Sự

Tố Tụng Hình Sự Là Gì? Những Quy Định Về Luật Tố Tụng Hình Sự