Quyết Định Khởi Tố Vụ Án Hình Sự Quyết Định Khởi Tố Bị Can Phải Được Gửi Cho Viện Kiểm Sát Phê Chuẩn / TOP #10 Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 8/2022 # Top View | Bac.edu.vn

Về Kiểm Sát Quyết Định Khởi Tố Vụ Án Hình Sự

--- Bài mới hơn ---

  • Thời Hạn Tổ Chức Lễ Kết Nạp Đảng Viên
  • Quyết Định Kết Nạp Đoàn Viên Công Đoàn
  • Mẫu Quyết Định Kết Nạp Đoàn Viên Công Đoàn 2022
  • Quyết Định Công Nhận Ly Hôn Tòa Án Sẽ Giao Cho Vợ Hay Chồng?
  • Xin Sao Lục Bản Án, Quyết Định Ly Hôn Để Cấp Giấy Xác Nhận Tình Trạng Hôn Nhân
  • Theo quy định tại Điều 166 BLTTHS năm 2022, Quy chế tạm thời công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát việc khởi tố, điều tra và truy tố (Điều 12) và Thông tư liên tịch số 04/2018/TTLT- VKSTC- BCA- BQP (Điều 7), hoạt động kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự được tiến hành như sau:

    Trong thời hạn ba ngày làm việc, kể từ khi nhận được quyết định khởi tố vụ án của CQĐT hoặc cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra (gọi tắt là CQĐT), Viện trưởng, Phó Viện trưởng hoặc Lãnh đạo đơn vị có thẩm quyền kiểm sát điều tra phải cử Kiểm sát viên tiến hành kiểm tra tính có căn cứ và tính hợp pháp của quyết định khởi tố vụ án.

    Kiểm sát viên được cử kiểm tra tính có căn cứ và tính hợp pháp của quyết định khởi tố vụ án phải kiểm tra chặt chẽ các tài liệu, chứng cứ để xác định xem quyết định khởi tố vụ án hình sự của CQĐT có căn cứ, có hợp pháp hay không?

    Kiểm tra tính có căn cứ của quyết định khởi tố vụ án hình sự

    – Kiểm sát viên phải vào sổ thụ lý vụ án hình sự.

    – Nghiên cứu kỹ các tài liệu dùng làm căn cứ để khởi tố vụ án hình sự bao gồm: Tài liệu về tố giác, tin báo tội phạm và kiến nghị khởi tố do cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp; các tài liệu khi CQĐT, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra tiến hành kiểm tra, xác minh thu thập được; biên bản khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, biên bản khám xét, biên bản bắt người phạm tội quả tang… cùng các tài liệu, vật chứng thu thập được khi tiến hành khám nghiệm; đơn yêu cầu khởi tố, kết luận giám định, biên bản lấy lời khai bị hại, người làm chứng.

    Kiểm tra tính hợp pháp của quyết định khởi tố vụ án hình sự

    – Kiểm sát viên kiểm tra trình tự, thủ tục tiến hành thu thập các tài liệu, chứng cứ làm căn cứ để khởi tố vụ án hình sự của CQĐT, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có đúng quy định của BLTTHS hay không?

    – Kiểm tra thẩm quyền ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, hình thức và nội dung quyết định khởi tố vụ án hình sự của CQĐT có đúng quy định của BLTTHS hay không?

    Sau khi kiểm tra tính có căn cứ, tính hợp pháp của quyết định khởi tố vụ án hình sự của CQĐT, Kiểm sát viên cần tổng hợp, phân tích, đánh giá xem có hay không vụ việc có tính chất hình sự xảy ra trên thực tế. Các tài liệu, chứng cứ thu thập được có đủ để chứng minh sự việc xảy ra có dấu hiệu tội phạm hay chưa? Nếu có thì thuộc điều, khoản nào của BLHS? Phương thức, thủ đoạn thực hiện hành vi ra sao? Mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra như thế nào? Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự còn hay hết…

    Sau khi kiểm tra tính có căn cứ và hợp pháp của quyết định khởi tố, Kiểm sát viên phải báo cáo kết quả nghiên cứu, đánh giá quyết định khởi tố với Viện trưởng, Phó Viện trưởng hoặc Lãnh đạo đơn vị kiểm sát điều tra để xem xét, xử lý.

    Viện trưởng, Phó Viện trưởng hoặc Lãnh đạo đơn vị kiểm sát điều tra căn cứ vào báo cáo kết quả nghiên cứu quyết định khởi tố của Kiểm sát viên, căn cứ Quy chế tạm thời công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát việc khởi tố, điều tra và truy tố (Điều 12) và Thông tư liên tịch số 04/2018/TTLT- VKSTC- BCA- BQP (Điều 7) để xử lý như sau:

    – Nếu thấy quyết định khởi tố vụ án hình sự có căn cứ và hợp pháp thì ra quyết định phân công Kiểm sát viên, Kiểm tra viên thực hành quyền công tố, kiểm sát việc khởi tố, điều tra vụ án và gửi cho Cơ quan điều tra;

    – Nếu thấy chưa rõ căn cứ để khởi tố vụ án thì có văn bản yêu cầu Cơ quan điều tra bổ sung chứng cứ, tài liệu để làm rõ;

    – Nếu thấy quyết định khởi tố vụ án hình sự không có căn cứ thì có văn bản yêu cầu Cơ quan điều tra ra quyết định hủy bỏ quyết định đó; trường hợp Cơ quan điều tra không nhất trí hoặc là quyết định khởi tố vụ án hình sự của Thủ trưởng Cơ quan điều tra thì Viện kiểm sát ra quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố vụ án hình sự theo quy định tại khoản 6 Điều 159 và khoản 1 Điều 161 Bộ luật Tố tụng hình sự.

    Trường hợp Kiểm sát viên sau khi nghiên cứu quyết định khởi tố vụ án hình sự của CQĐT nếu thấy tội phạm đã khởi tố không đúng với hành vi phạm tội hoặc còn có tội phạm khác chư­a được khởi tố thì Kiểm sát viên thụ lý giải quyết vụ án báo cáo, đề xuất lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện yêu cầu cơ quan đã ra quyết định khởi tố ra quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự; nếu cơ quan đã ra quyết định khởi tố không nhất trí thì báo cáo, đề xuất lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện ra quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự. Trong thời hạn 24 giờ, kể từ khi ra quyết định thay đổi hoặc bổ sung, Kiểm sát viên gửi các quyết định này cho cơ quan đã ra quyết định khởi tố để tiến hành điều tra theo quy định tại khoản 2 Điều 156 Bộ luật Tố tụng hình sự./.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Quyết Định Không Khởi Tố Vụ Án Hình Sự, Quyết Định Hủy Bỏ Quyết Định Khởi Tố Vụ Án Hình Sự
  • Thay Đổi Hoặc Bổ Sung Quyết Định Khởi Tố Vụ Án Hình Sự
  • Mẫu Quyết Định Khen Thưởng Học Sinh Tiểu Học
  • Các Mẫu Quyết Định Khen Thưởng Học Sinh Giỏi 2022
  • Mẫu Quyết Định Kỷ Luật Đảng Viên Cấp Chi Bộ
  • Phân Biệt Quy Định Khởi Tố Vụ Án Hình Sự Và Khởi Tố Bị Can

    --- Bài mới hơn ---

  • Quyết Định Ly Thân Hay Ly Hôn
  • Bất Động Sản Chơn Thành “Hưởng Lợi” Khi Chơn Thành Chính Thức Lên Thị Xã
  • Tải Mẫu Quyết Định Tăng Lương 2022
  • Quốc Lộ 50 – Mới Quy Hoạch Và Các Dự Án Xung Quanh
  • Tập Trung Vốn Đầu Tư Công Cho Dự Án Giao Thông Huyết Mạch
  • Phân biệt quy định khởi tố vụ án và khởi tố bị can

    Cơ sở pháp lý: Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2022

    Tiêu chí

    Khởi tố vụ án

    Khởi tố bị can

    Đối tượng khởi tố

    Khởi tố về hành vi có dấu hiệu phạm tội.

     

     

    Khởi tố người hoặc pháp nhân có hành vi phạm tội cụ thể.

    Căn cứ khởi tố

    Chỉ được khởi tố vụ án khi đã xác định có dấu hiệu tội phạm. Việc xác định dấu hiệu tội phạm dựa trên những căn cứ:

    Tố giác của cá nhân;

    Tin báo của cơ quan, tổ chức, cá nhân;

    Tin báo trên phương tiện thông tin đại chúng;

    Kiến nghị khởi tố của cơ quan nhà nước;

    Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trực tiếp phát hiện dấu hiệu tội phạm;

    Người phạm tội tự thú.

    (Điều 143 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2022)

    Sau khi đã có quyết định khởi tố vụ án, cơ quan điều tra sẽ tiến hành điều tra vụ án. Từ đó, nếu có đủ căn cứ để xác định một người hoặc pháp nhân đã thực hiện hành vi mà Bộ luật hình sự quy định là tội phạm thì Cơ quan điều tra ra quyết định khởi tố bị bị can. Quyết định khởi tố bị can phải được sự phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp với cơ quan điều tra.

    (Điều 179 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2022)

    Thẩm quyền ra quyết định khởi tố

    Có 04 cơ quan:

    – Cơ quan điều tra;

    – Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra;

    – Viện kiểm sát;

    – Hội đồng xét xử.

    Có 03 cơ quan:

    – Cơ quan điều tra;

    – Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra;

    – Viện kiểm sát.

     

     

    Các giai đoạn ra quyết định khởi tố

    Có 04 giai đoạn có thể khởi tố:

    – Giai đoạn khởi tố;

    – Giai đoạn điều tra;

    – Giai đoạn truy tố;

    – Giai đoạn xét xử.

    (Điều 153 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2022)

    Có 02 giai đoạn có thể khởi tố:

    – Giai đoạn điều tra;

    – Giai đoạn truy tố.

    (Điều 179 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2022)

     

     

    Kết thúc khởi tố

    Thời điểm kết thúc của giai đoạn khởi tố vụ án được tính từ khi ra quyết định khởi tố vụ án hình sự (trong trường hợp xác định có dấu hiệu tội phạm), hoặc quyết định không khởi tố vụ án hình sự (khi xác định không có dấu hiệu tội phạm).

    Khởi tố bị can không phải là giai đoạn tố tụng mà chỉ là hành vi tố tụng tại giai đoạn điều tra của người có thẩm quyền ra quyết định khởi tố bị can khi đã xác định được một người cụ thể có hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong pháp luật hình sự, cần phải tiến hành các hoạt động điều tra đối với họ theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự

    Mối liên hệ giữa quyết định khởi tố vụ án và khởi tố bị can

    Quyết định khởi tố vụ án hình sự phải có trước quyết định khởi tố bị can bởi sau khi khởi tố vụ án bước vào giai đoạn điều tra thì cơ quan có thẩm quyền mới điều tra căn cứ xác định 04 yếu tố cấu thành tội phạm để có căn cứ khởi tố bị can.

    Tuy nhiên, trong thực tế giải quyết vụ án hình sự, cơ quan có thẩm quyền có thể ban hành hai quyết định này cùng một thời điểm ngay khi xác định tại sự việc, sự kiện phạm tội có dấu hiệu tội phạm thì cũng đồng thời xác định được ngay người thực hiện hành vi phạm tội. (như  trường hợp bắt tội phạm quả tang)

    Liên hệ với FBLAW theo thông tin sau:

    Tel: 038.595.3737 – Hotline: 0973.098.987

    Email: luatsu@fblaw.vn

    Địa chỉ: 45 Đàm Văn Lễ, phường Trường Thi, Thành Phố Vinh, tỉnh Nghệ An

    Trân trọng ./.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hoàn Thiện Thủ Tục Khởi Tố Vụ Án, Khởi Tố Bị Can Trong Tố Tụng Hình Sự Đáp Ứng Yêu Cầu Cải Cách Tư Pháp
  • Khởi Tố Vụ Án Hình Sự
  • Quy Trình Xử Lý Kỷ Luật Đảng Viên
  • Steve Jobs: Định Nghiệp Như Những Dấu Chấm
  • Thông Báo Hủy Giấy Chứng Nhận
  • Bàn Về Quy Định Thay Đổi Quyết Định Khởi Tố Vụ Án Hình Sự Và Thay Đổi Quyết Định Khởi Tố Bị Can

    --- Bài mới hơn ---

  • Thành Lập Ban Quản Lý Xây Dựng Ntm Cấp Xã
  • Kiện Toàn Bcđ Chương Trình Mtqg Xây Dựng Nông Thôn Mới
  • Thủ Tướng Chính Phủ Quyết Định Kiện Toàn Ban Chỉ Đạo Chương Trình Mục Tiêu Quốc Gia Xây Dựng Nông Thôn Mới
  • Quyết Định Về Việc Kiện Toàn Ban Chỉ Đạo Phong Trào “toàn Dân Đoàn Kết Xây Dựng Đời Sống Văn Hóa” Tỉnh Hà Nam
  • Quyết Định Kiện Toàn Ban Chỉ Đạo Phòng Cháy Chữa Cháy Trường Mầm Non An Khánh Năm Học 2022
  • Để khắc phục vấn đề trên, Thông tư liên tịch số 05/2005/TTLT-VKSTC-BCA-BQP ngày 07/9/2005, của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an và Bộ Quốc phòng về quan hệ phối hợp giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát trong việc thực hiện một số quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003 (sau đây gọi tắt là Thông tư liên tịch số 05) đã quy định về các trường hợp áp dụng hai chế định này. Tuy nhiên, qua nghiên cứu các quy định trên của Thông tư liên tịch số 05 và so sánh với thực tiễn công tác, chúng tôi thấy nếu thực hiện như vậy, sẽ nảy sinh nhiều mâu thuẫn và các hệ quả pháp lý phức tạp. Với mục đích trao đổi nhận thức và đóng góp ý kiến góp phần hoàn thiện các chế định pháp luật nêu trên, chúng tôi xin nêu một số vấn đề xung quanh việc áp dụng các quy định này để bạn đọc và đồng nghiệp tham khảo.

    Tại Mục 8.2 của Thông tư quy định như sau: “Chỉ thay đổi quyết định khởi tố vụ án trong trường hợp thay đổi tội danh. Không áp dụng việc thay đổi quyết định khởi tố vụ án nếu qua điều tra xác định được hành vi của bị can phạm vào tội nặng hơn hoặc nhẹ hơn trong cùng một tội danh đã khởi tố”. Và tại Mục 11.1 của Thông tư quy định: “Trường hợp thay đổi quyết định khởi tố bị can thì phải thay đổi quyết định khởi tố vụ án hình sự… Cần lưu ý là không thay đổi quyết định khởi tố bị can trong trường hợp điều tra xác minh được hành vi của bị can phạm vào tội nặng hơn hoặc nhẹ hơn trong cùng một tội danh đã khởi tố đối với bị can”.

    Theo chúng tôi, quy định như trên của Thông tư liên tịch số 05 là không những chưa đúng với quy định tại Điều 106 và 127 Bộ luật Tố tụng Hình sự, mà còn làm nảy sinh những hậu quả pháp lý phức tạp khác. Trong thực tiễn quy định như vậy chỉ đem lại tác dụng không đáng kể cho hoạt động điều tra, đó là giảm bớt thao tác ra quyết định thay đổi quyết định khởi tố vụ án và quyết định thay đổi quyết định khởi tố bị can đối với một trong hai trường hợp cần thay đổi. Xin dẫn chứng như sau:

    Tại khoản 1 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự quy định: “Khi có căn cứ xác định tội phạm đã khởi tố không đúng với hành vi phạm tội xảy ra hoặc còn có tội phạm khác thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát ra quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự”. Khoản 1 Điều 127 Bộ luật Tố tụng Hình sự quy định: “Khi tiến hành điều tra, nếu có căn cứ xác định hành vi phạm tội của bị can không phạm vào tội đã bị khởi tố hoặc còn hành vi phạm tội khác thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát ra quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can”.

    Rõ ràng, căn cứ để thay đổi quyết định khởi tố vụ án là tội phạm đã khởi tố không đúng với hành vi phạm tội đã xảy ra, căn cứ để thay đổi quyết định khởi tố bị can là hành vi phạm tội của bị can không phạm vào tội đã khởi tố. Nội dung “không đúng” và “không phạm” mà các điều luật đề cập trong thực tiễn nằm ở một trong hai trường hợp là không đúng, không phạm về tội danh (tội danh khác) hoặc không đúng, không phạm về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội (ít nghiêm trọng, nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng). Vì vậy, việc thay đổi quyết định khởi tố vụ án, quyết định khởi tố bị can, không chỉ được áp dụng trong trường hợp hành vi phạm tội của bị can không đúng tội danh đã khởi tố, mà phải được áp dụng cả trong trường hợp hành vi phạm tội của bị can phạm vào tội nặng hoặc nhẹ hơn trong cùng một tội danh đã khởi tố.

    Mặt khác, quyết định khởi tố vụ án, quyết định khởi tố bị can là căn cứ trực tiếp của nhiều quyết định và hoạt động tố tụng khác của Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát. Vì vậy, khi các quyết định khởi tố vụ án và khởi tố bị can bị thay đổi thì những quyết định cũng như các hoạt động tố tụng phát sinh từ các quyết định khởi tố cũ có thể bị mất đi hoặc thay đổi, cũng có thể phát sinh những quyết định và hoạt động tố tụng mới. Do vậy, việc thay đổi đúng và kịp thời các quyết định khởi tố vụ án cũng như quyết định khởi tố bị can có ý nghĩa quan trọng, quyết định sự chính xác của các quyết định và hiệu quả của hoạt động tố tụng tiếp theo trong quá trình điều tra vụ án.

    Như vậy, nếu chỉ quy định thay đổi quyết định khởi tố vụ án và quyết định khởi tố bị can trong trường hợp thay đổi về tội danh (như quy định của Thông tư liên tịch số 05) là không đúng với tinh thần của các điều luật. Tuy nhiên, vấn đề trên sẽ là không đặt ra nếu như việc không thay đổi các quyết định khởi tố vụ án hoặc quyết định khởi tố bị can trong trường hợp hành vi của bị can phạm vào tội nặng hơn hoặc nhẹ hơn trong cùng một tội danh đã khởi tố, không để lại những hậu quả pháp lý phức tạp sau đây:

    Thứ nhất: Không có căn cứ xác lập hoặc huỷ bỏ quyền yêu cầu khởi tố vụ án và rút yêu cầu của người bị hại (hoặc người đại diện…) cũng như quyền quyết định việc tiến hành tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Toà án, trong các vụ án chỉ được khởi tố theo yêu cầu của người bị hại.

    Để thấy rõ vấn đề trên, chúng ta xem xét các tình huống sau:

    Tình huống 1: Theo yêu cầu và kết quả giám định thương tích của người bị hại, Cơ quan điều tra khởi tố vụ án và bị can theo Khoản 1 Điều 105 Bộ luật Hình sự (tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh), nhưng sau khi trưng cầu giám định lại, thương tích của bị hại là 61%. Như vậy, hành vị của bị can đã phạm vào khoản 2 Điều 105 Bộ luật Hình sự.

    Như vậy, nếu căn cứ quyết định khởi tố vụ án và quyết định khởi tố bị can thì quyền tiến hành tố tụng (yêu cầu khởi tố và rút yêu cầu) đối với vụ án là của người bị hại. Ngược lại, nếu căn cứ vào hành vi phạm tội của bị can thì quyền quyết định tiến hành tố tụng là của các cơ quan tiến hành tố tụng.

    Theo quy định của Thông tư liên tịch số 05, trường hợp này không phải thay đổi quyết định khởi tố vụ án.Tuy nhiên, nếu không thay đổi quyết định khởi tố vụ án sẽ không có căn cứ pháp luật để loại trừ quyền yêu cầu khởi tố và rút yêu cầu của người bị hại. Đồng thời, cũng không có căn cứ pháp luật để xác lập quyền quyết định việc tiến hành tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng.

    Tình huống 2: Trong trường hợp ngược lại, vụ án được khởi tố theo khoản 2 Điều 105 Bộ luật Hình sự, nhưng kết quả trưng cầu giám định lại, thương tích của bị hại là 60%. Như vậy, hành vi phạm tội của bị can thuộc khoản 1 Điều 105 Bộ luật Hình sự.

    ở tình huống này, lại nảy sinh vấn đề ngược lại và theo quy định của Thông tư liên tịch số 05, trường hợp này cũng không phải thay đổi quyết định khởi tố vụ án. Tuy nhiên, nếu không thay đổi quyết định khởi tố vụ án sẽ không có căn cứ pháp luật để xác lập quyền yêu cầu khởi tố và rút yêu cầu của người bị hại. Đồng thời, cũng không có căn cứ pháp luật để loại trừ quyền quyết định việc tiến hành tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Toà án.

    Thứ hai: Mâu thuẫn về căn cứ pháp luật trong việc áp dụng biện pháp ngăn chặn.

    Đối với một hành vi phạm tội, điều, khoản của Bộ luật Hình sự được áp dụng trong quyết định khởi tố vụ án và quyết định khởi tố bị can phải thống nhất và là căn cứ pháp luật để áp dụng biện pháp ngăn chặn. Trong nhiều trường hợp bị can không phạm vào khoản như đã khởi tố mà không thay đổi quyết định khởi tố vụ án và quyết định khởi tố bị can, sẽ gây ra những mâu thuẫn pháp luật khi cần áp dụng biện pháp ngăn chặn.

    Trở lại tình huống 1 như đã nêu ở trên cho thấy: Hành vi của bị can phạm vào khoản 2 Điều 105 Bộ luật Hình sự, tội phạm có mức cao nhất của khung hình phạt là đến 5 năm tù và là tội phạm nghiêm trọng. Do vậy, theo quy định tại Điều 88 Bộ luật Tố tụng Hình sự, bị can có thể bị áp dụng biện pháp tạm giam. Tuy nhiên, nếu áp dụng biện pháp này, sẽ nảy sinh mâu thuẫn là bị can chỉ bị khởi tố ở khoản 1, tội phạm có mức cao nhất của khung hình phạt là đến 2 năm tù và theo quy định tại Điều 88 Bộ luật Tố tụng Hình sự thì trường hợp này lại không được áp dụng biện pháp tạm giam.

    Thứ ba: Phức tạp trong việc xác định thời hạn điều tra và việc chấp hành quy định về thời hạn điều tra.

    Điều 104 Bộ luật Tố tụng Hình sự quy định: Trong quyết định khởi tố vụ án hình sự phải ghi rõ điều khoản của Bộ luật Hình sự được áp dụng. Việc ghi rõ điều khoản của Bộ luật Hình sự trong quyết định khởi tố vụ án là căn cứ để xác định hành vi phạm tội bị khởi tố là tội phạm gì, thuộc loại nào (ít nghiêm trọng, nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hay đặc biệt nghiêm trọng) và đến lượt nó, loại tội phạm được xác định trong quyết định khởi tố vụ án sẽ là căn cứ để xác định thời hạn điều tra vụ án.

    Thời hạn điều tra sẽ chi phối hoạt động tố tụng và là căn cứ để Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát quyết định các vấn đề quan trọng khác như: Xác định thời hạn điều tra, tạm đình chỉ điều tra, kết thúc điều tra hoặc gia hạn thời hạn điều tra khi hết thời hạn điều tra.

    Như vậy, nếu việc khởi tố vụ án không đúng khoản trong cùng một tội danh mà không được thay đổi sẽ nảy sinh một số vấn đề là: Nếu thời hạn điều tra vụ án được xác định theo tội phạm áp dụng trong quyết định khởi tố vụ án, sẽ không phù hợp với hành vi phạm tội của bị can và ngược lại; đồng thời sẽ khó thống nhất trong việc xác định thời điểm hết thời hạn điều tra và có thể kéo theo những “trục trặc” khác giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát, và vì vậy, làm giảm hiệu quả công tác của từng cơ quan cũng như quan hệ phối hợp giữa hai cơ quan.

    Ngoài những vấn đề trên, quy định đã nêu của Thông tư liên tịch số 05 còn có thể làm nảy sinh những vấn đề phức tạp trong việc xác định thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra các cấp, cũng như việc đảm bảo quyền bào chữa của bị can trong trường hợp hành vi của bị can phạm vào tội có mức cao nhất của khung hình phạt là tử hình, trong khi bị can chỉ bị khởi tố ở khoản nhẹ hơn. Đồng thời, với quy định như vậy đã tạo điều kiện cho tình trạng áp dụng pháp luật không đúng và phổ biến hiện nay là Cơ quan điều tra chỉ quyết định khởi tố vụ án cũng như khởi tố bị can theo điều của Bộ luật Hình sự chứ không ghi căn cứ theo khoản nào của điều luật ấy.

    Những mâu thuẫn nêu trên, theo chúng tôi, sẽ không nảy sinh nếu trong hoạt động thực tiễn, Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát thực hiện đúng quy định tại Điều 106 và 127 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Vì vậy, chúng tôi đề nghị sửa đổi nội dung của Thông tư liên tịch số 05, theo hướng quy định phải thay đổi quyết định khởi tố vụ án, quyết định khởi tố bị can trong trường hợp thay đổi tội danh cũng như qua xác minh hành vi phạm tội của bị can phạm vào tội nặng hoặc nhẹ hơn trong cùng một tội danh đã khởi tố./.

    ThS. Huỳnh Quốc Hùng – Viện kiểm sát quân sự Trung ương

    --- Bài cũ hơn ---

  • Công An Huyện Đã Hủy Quyết Định Không Khởi Tố Vụ Án Hình Sự
  • Hủy Hàng Chục Quyết Định Không Khởi Tố Vụ Án Hình Sự
  • Vai Trò, Trách Nhiệm Của Viện Kiểm Sát Trong Khởi Tố Vụ Án Hình Sự
  • Kêu Cứu Vì Bị Tung Ảnh Khỏa Thân: Có Căn Cứ Khởi Tố Vụ Tàng Trữ Súng
  • Có Được Thay Đổi Bổ Sung Quyết Định Khởi Tố Vụ Án Hình Sự?
  • Về Kiểm Sát Việc Ra Quyết Định Không Khởi Tố Vụ Án Hình Sự

    --- Bài mới hơn ---

  • Công Ty Có Được Hủy Quyết Định Tăng Lương Do Nhầm Lẫn?
  • Vksnd Huyện Vân Canh Hủy Bỏ Quyết Định Khởi Tố Bị Can
  • Hủy Bỏ Quyết Định Khởi Tố Bị Can Với Nguyên Phó Chủ Tịch Hà Nội Phí Thái Bình
  • Viện Ksnd Huyện Phù Mỹ Hủy Bỏ Quyết Định Khởi Tố Bị Can Của Cơ Quan Điều Tra
  • Viện Kiểm Sát Hủy Quyết Định Khởi Tố Của Công An
  • Ngày 29/12/2017, VKSND tối cao có quyết định số: 03/QĐ-VKSTC về việc ban hành Quy chế tạm thời về công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát việc khởi tố, điều tra và truy tố (gọi tắt là Quy chế tạm thời số 03) để áp dụng thống nhất chung trong toàn ngành. Trong khuôn khổ bài viết này, tác giả trao đổi thêm một số ý kiến về công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát việc ra Quyết định không khởi tố vụ án hình sự như sau.

    Về vị trí của hoạt động thực hành quyền công tố, kiểm sát việc ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự

    – Quan điểm thứ nhất cho rằng, thực hành quyền công tố, kiểm sát việc ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự là hoạt động được thực hiện trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự. Bởi lẽ, ngay từ tên gọi, theo bố cục lập pháp, hoạt động này được quy định tại Phần II (Khởi tố, điều tra vụ án hình sự) của BLTTHS năm 2022 và Chương II (thực hành quyền công tố, kiểm sát việc khởi tố vụ án hình sự và khởi tố bị can) của Quy chế tạm thời số 03. Rõ hơn nữa, khoản 2 Điều 14 Luật Tổ chức viện kiểm sát nhân dân năm 2014 cũng quy định trong nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND khi thực hành quyền công tố ở giai đoạn điều tra vụ án hình sự có hoạt động hủy bỏ quyết định không khởi tố vụ án trái pháp luật. Vì quyết định không khởi tố vụ án hình sự có vị trí tương tự như quyết định khởi tố vụ án hình sự (chỉ khác nhau ở hậu quả pháp lý đối lập) nên hoạt động thực hành quyền công tố, kiểm sát đối với hai loại quyết định này cũng tương tự nhau, đều được thực hiện trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự.

    – Quan điểm thứ hai cho rằng, thực hành quyền công tố, kiểm sát việc ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự là hoạt động được thực hiện trong giai đoạn giải quyết tin báo, tố giác tội phạm. Bởi lẽ, Điều 147 BLTTHS 2022 quy định về thời hạn, thủ tục giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố như sau:

    “Trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày nhận được tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải kiểm tra, xác minh và ra một trong các quyết định: a) Quyết định khởi tố vụ án hình sự; b) Quyết định không khởi tố vụ án hình sự; c) Quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố.”

    Theo đó, quyết định khởi tố vụ án hình sự; quyết định không khởi tố vụ án hình sự và quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố chính là các kết quả của quá trình giải quyết tin báo, tố giác tội phạm. Trong đó, quyết định khởi tố vụ án hình sự có vị trí đặc biệt, được coi như “bản lề” của 2 giai đoạn tố tụng khác nhau vì nó đóng lại giai đoạn giải quyết tin báo, tố giác tội phạm và mở ra quá trình điều tra. Tuy nhiên, quyết định không khởi tố vụ án hình sự lại không có tính chất như vậy, nó chỉ đơn thuần là kết quả cuối cùng, đóng lại quá trình giải quyết tin báo, tố giác tội phạm. Nên cũng cần đánh giá, về bản chất, hoạt động thực hành quyền công tố, kiểm sát việc ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự phải thuộc giai đoạn giải quyết tin báo, tố giác tội phạm. Việc quy định theo kết cấu các văn bản pháp luật đã trích dẫn như quan điểm thứ nhất là để thuận lợi cho quá trình thực hiện, thể hiện tính liên tục giữa 2 giai đoạn: Giải quyết tin báo, tố giác tội phạm và điều tra mà không có ý nghĩa xác định hoạt động thực hành quyền công tố, kiểm sát việc ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự được tiến hành trong giai đoạn điều tra.

    c) Nếu thấy đủ căn cứ thì thông báo bằng văn bản cho cơ quan đã ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự”.

    Theo đó, những nội dung cần làm để thực hành quyền công tố, kiểm sát việc ra Quyết định không khởi tố vụ án hình sự đã được quy định rất cụ thể. Tuy nhiên, với trường hợp xử lý khi quyết định không khởi tố vụ án hình sự ch­ưa đủ căn cứ, hiện nay vẫn còn một số ý kiến trái chiều như sau.

    Quy định như vậy sẽ dẫn tới 2 cách hiểu khác nhau:

    – Quan điểm thứ nhất cho rằng, trong trường hợp này, Cơ quan được yêu cầu chỉ được bổ sung tài liệu chứng cứ trong thời gian 3 ngày kể từ khi giao quyết định không khởi tố vụ án hình sự cho Viện kiểm sát. Nếu theo phương án này, thời hạn bổ sung tài liệu chứng cứ là quá ít. Cá biệt, nếu Kiểm sát viên nghiên cứu mất phần lớn thời gian (ví dụ như 2 ngày) thì kể từ khi nhận được yêu cầu, Cơ quan đã ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự chỉ còn rất ít thời gian để bổ sung tài liệu, chứng cứ (1 ngày). Nếu như vậy thì việc thực hiện yêu cầu của Viện kiểm sát là không khả thi.

    – Quan điểm thứ hai cho rằng, 3 ngày là thời hạn để Kiểm sát viên nghiên cứu hồ sơ, kiểm tra tính có căn cứ và hợp pháp của quyết định đó và báo cáo, đề xuất lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo Viện phương án giải quyết là: yêu cầu cơ quan đã ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự bổ sung tài liệu, chứng cứ để làm rõ. Cơ quan đã ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự sẽ bổ sung tài liệu, chứng cứ ngoài thời hạn 3 ngày này. Theo quan điểm thứ hai, cũng có 2 cách hiểu về tính thời hạn bổ sung tài liệu, chứng cứ khác nhau. Thứ nhất, thời hạn này không bị hạn chế, chỉ kết thúc khi cơ quan này bổ sung xong tài liệu, chứng cứ, đủ làm căn cứ để quyết định giữ nguyên quyết định không khởi tố vụ án hình sự hoặc hủy bỏ quyết định đó. Thứ hai, thời hạn bổ sung tài liệu, chứng cứ không thể vượt quá thời hạn giải quyết tin báo, tố giác tội phạm. Nếu hết thời hạn trên, các tài liệu, chứng cứ bổ sung được không đủ để làm căn cứ khởi tố vụ án, cũng không thuộc trường hợp tạm đình chỉ thì theo nguyên tắc trách nhiệm chứng minh thuộc về cơ quan tiến hành tố tụng và nguyên tắc suy đoán vô tội, cần phải giữ nguyên Quyết định không khởi tố vụ án.

    Về trình tự, thủ tục thu thập và giá trị chứng minh của những tài liệu, chứng cứ được bổ sung: Theo quy định tại Điều 13 Quy chế, sau khi khởi tố vụ án, nếu chưa thấy đủ căn cứ, Viện kiểm sát có thể yêu cầu cơ quan đã ra quyết định bổ sung tài liệu, chứng cứ để làm rõ. Như đã phân tích ở trên, tuy Quyết định khởi tố vụ án hình sự đã khép lại quá trình giải quyết tin báo, tố giác tội phạm nhưng lại mở ra giai đoạn điều tra, nên mọi hoạt động tố tụng tiếp theo, trong đó có cả việc bổ sung tài liệu, chứng cứ (nếu có) sẽ được diễn ra và tuân theo các trình tự, thủ tục tố tụng trong giai đoạn điều tra. Vì vậy, những tài liệu, chứng cứ này hoàn toàn hợp pháp và đầy đủ giá trị để Viện kiểm sát làm căn cứ đánh giá, xem xét có phải hủy Quyết định khởi tố vụ án hay không.

    Theo quan điểm của cá nhân tôi, BLTTHS 2022 đã quy định rất chặt chẽ về thủ tục tố tụng ( Điều 87: “Những gì có thật nhưng không được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật quy định này thì không có giá trị pháp lý…”). Cũng không có Điều nào trong Bộ luật này quy định về thủ tục bổ sung tài liệu, chứng cứ cho Quyết định Không khởi tố vụ án hình sự chưa có đủ căn cứ. Do đó, cần đặc biệt thận trọng. Dù là “mạnh tay” nhưng trong trường hợp này, khi Quyết định Không khởi tố vụ án hình sự chưa có đủ căn cứ, Viện kiểm sát nên yêu cầu cơ quan đã ban hành Quyết định này phải hủy bỏ hoặc tự mình hủy bỏ để trở lại xác minh, làm rõ theo thủ tục chung. Có như vậy, mới đảm bảo trình tự, thủ tục tố tụng và theo đó, bảo đảm giá trị chứng minh của tất cả những tài liệu, chứng cứ thu thập được.

    Trường hợp thấy Quyết định không khởi tố vụ án ch­ưa đủ căn cứ, Viện kiểm sát có văn bản yêu cầu cơ quan đã ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự bổ sung tài liệu, chứng cứ để làm rõ là quy định không mới, hoàn toàn được kế thừa từ Quy chế kiểm sát điều tra năm 2008 của ngành Kiểm sát. Tuy nhiên, với những thay đổi lớn của BLHS 2022, BTTHS 2022 với những yêu cầu vô cùng khắt khe về trình tự, thủ tục tố tụng, nên chăng, cần đặt ra thêm giải pháp hợp lý hơn cho vấn đề này để đảm bảo tính hợp pháp, giá trị chứng minh của tài liệu, chứng cứ, đảm bảo cơ sở vững chắc cho các hoạt động và quyết định tố tụng.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Quyết Định Hủy Bỏ Quyết Định Không Khởi Tố Vụ An Hình Sự
  • Vụ Thuê Villa Bị Đuổi Ra Ngoài Ở Huyện Phú Quốc, Tỉnh Kiên Giang: Viện Ksnd Huyện Thừa Nhận Ông Công, Ông Tuấn Vi Phạm Pháp Luật; Nhưng Giải Quyết Chưa Đầy Đủ
  • Sở Khoa Học Và Công Nghệ Ninh Bình Hủy Bỏ Quyết Định Bổ Nhiệm Hai Cán Bộ
  • Thanh Hóa: Hủy Bỏ Nhiều Quyết Định Bổ Nhiệm Lãnh Đạo Trái Quy Định
  • Hủy Bỏ Quyết Định Bổ Nhiệm Phó Giám Đốc Sở ‘siêu Tốc’
  • Viện Kiểm Sát Ra Quyết Định Khởi Tố Vụ Án Hình Sự Trong Những Trường Hợp Nào?

    --- Bài mới hơn ---

  • Tư Vấn Thay Đổi Hoặc Bổ Sung Quyết Định Khởi Tố Vụ Án Hình Sự
  • Việc Thay Đổi Hoặc Bổ Sung Quyết Định Khởi Tố Vụ Án Hình Sự Được Quy Định Như Thế Nào?
  • Có Được Thay Đổi Bổ Sung Quyết Định Khởi Tố Vụ Án Hình Sự?
  • Kêu Cứu Vì Bị Tung Ảnh Khỏa Thân: Có Căn Cứ Khởi Tố Vụ Tàng Trữ Súng
  • Vai Trò, Trách Nhiệm Của Viện Kiểm Sát Trong Khởi Tố Vụ Án Hình Sự
  • Viện kiểm sát ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, Viện kiểm sát ra quyết định khởi tố vụ án hình sự trong những trường hợp nào

    Viện kiểm sát ra quyết định khởi tố vụ án hình sự

    Câu hỏi của bạn:

    Tôi có câu hỏi như sau: Viện Kiểm sát huyện A sau khi tiếp nhận tin báo, tố giác tội phạm về vụ việc trộm cắp tài sản đã tiến hành các biện pháp giải quyết, xác minh tin báo, tố giác. Sau khi xác định sự việc có dấu hiệu của tội phạm, Viện kiểm sát huyện A đã trực tiếp ra quyết định khởi tố vụ án về tội trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS năm 2022. Xin Luật sư cho biết trường hợp này Viện kiểm sát huyện A làm như vậy có đúng không?

    Câu trả lời của Luật sư:

    Căn cứ pháp lý:

    Nội dung tư vấn về Viện kiểm sát ra quyết định khởi vụ án hình sự

    1. Khái niệm và căn cứ khởi tố vụ án hình sự

    Trước hết, khởi tố vụ án hình sự là giai đọna của quá trìn tố tụng hình sự, trong đó cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm, xác định có hay không có dấu hiệu của tội phạm để quyết định không khởi tố vụ án hình sự hoặc khởi tố vụ án hình sự, là cơ sở để chấm dứt hoạt động tố tụng hình sự hay thực hiện các hoạt động tố tụng tiếp theo của quá trình giải quyết vụ án hình sự.

    Điều 143 Bộ luật tố tụng hình sự quy định về căn cứ khởi tố vụ án hình sự như sau:

    2. Quy định của pháp luật về Viện kiểm sát ra quyết định khởi tố vụ án hình sự

    Bộ luật tố tụng hình sự năm 2022 quy định về thẩm quyết ra quyết định khởi tố vụ án hình sự của Viện kiểm sát như sau:

    Như vậy, căn cứ vào quy định trên, có ba trường hợp Viện kiểm sát được ra quyết định khởi tố vụ án hình sự. Đối với trường hợp Viện kiểm sát trực tiếp giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố cần lưu ý: Theo quy định tại điểm c khoản 3 điều 145 BLTTHS năm 2022, Viện kiểm sát chỉ tự mình trực tiếp giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố trong trường hợp phát hiện Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong hoạt động kiểm tra, xác minh tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố hoặc có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm mà Viện kiểm sát đã yêu cầu bằng văn bản nhưng không được khắc phục.

    Do đó, ngoài trường hợp trên, theo quy định tại khoản 2 Điều 146 BLTTHS năm 2022, nếu Viện kiểm sát đã tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố thì Viện kiểm sát phải chuyển ngay cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền.

    3. Tư vấn cụ thể về vấn đề Viện kiểm sát ra quyết định khởi tố vụ án hình sự

    Như chúng tôi đã phân tích ở trên, đối với trường hợp của bạn, khi Viện kiểm sát huyện A tiếp nhận tin báo, tố giác tội phạm về vụ việc trộm cắp tài sản thì phải chuyển ngay cho Cơ quan điều ra có thẩm quyền (cụ thể là Cơ quan điều tra huyện A) để giải quyết theo quy định của pháp luật. Viện kiểm sát huyện A chỉ mình xác minh tin báo, tố giác tội phạm về vụ việc trộm cắp tài sản này trong trường hợp phát hiện Cơ quan điều tra huyện X có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong hoạt động kiểm tra, xác minh.

    Tuy nhiên, theo tình huống sau khi tiếp nhận tin báo, Viện kiểm sát huyện A đã tự mình tiến hành các biện pháp giải quyết, xác minh tin báo, tố giác sau đó trực tiếp ra quyết định khởi tố vụ án về tội trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS năm 2022. Như vậy, trường hợp này, Viện kiểm sát huyện A làm như vậy là không đúng theo quy định của pháp luật.

    Ngoài ra bạn có thể tham khảo các bài viết sau:

    quý khách vui lòng liên hệ tới Để được tư vấn vấn chi tiết về Viện kiểm sát ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, Tổng đài tư vấn Luật hình sự: 19006500 để được tư vấn chi tiết hoặc gửi câu hỏi về Email: . Chúng tôi sẽ giải đáp toàn bộ câu hỏi của quý khách một cách tốt nhất. lienhe@luattoanquoc.com

    --- Bài cũ hơn ---

  • Trao Đổi: “về Kiểm Sát Việc Ra Quyết Định Không Khởi Tố Vụ Án Hình Sự”
  • Khiếu Nại Quyết Định Không Khởi Tố Vụ Án Hình Sự
  • Căn Cứ Không Khởi Tố Vụ Án Hình Sự Theo Quy Định Bộ Luật Tố Tụng Hình Sự Năm 2022
  • Khiếu Nại Quyết Định Không Khởi Tố Vụ Án Hình Sự Ở Đâu?
  • Quy Định Mới Về Quy Trình Khởi Tố Bị Can?
  • Quyết Định Không Khởi Tố Vụ Án Hình Sự, Quyết Định Hủy Bỏ Quyết Định Khởi Tố Vụ Án Hình Sự

    --- Bài mới hơn ---

  • Về Kiểm Sát Quyết Định Khởi Tố Vụ Án Hình Sự
  • Thời Hạn Tổ Chức Lễ Kết Nạp Đảng Viên
  • Quyết Định Kết Nạp Đoàn Viên Công Đoàn
  • Mẫu Quyết Định Kết Nạp Đoàn Viên Công Đoàn 2022
  • Quyết Định Công Nhận Ly Hôn Tòa Án Sẽ Giao Cho Vợ Hay Chồng?
  • 1. Khái niệm quyết định không khởi tố vụ án hình sự, quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố vụ án hình sự

    Theo quy định tại Điều 158 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2022 như sau:

    Quyết định không khởi tố vụ án hình sự là sự khẳng định thái độ của người có thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự dựa trên những căn cứ pháp lý xác đáng, quyết định không triển khai hoặc chấm dứt mọi hoạt động và huỷ bỏ mọi hình thức phản ánh mang tính chất tố tụng hình sự đối với một sự kiện, vấn đề hay những mức thông tin cụ thể mà trước đó bị nghi là có dấu hiệu tội phạm.

    – Pháp luật quy định khi có một trong những căn cứ ghi ở Điều 157 tức là khi có một trong bảy căn cứ không được khởi tố vụ án hình sự (không có sự việc phạm tội; hành vi không cấu thành tội phạm; người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự; người mà hành vi phạm tội của họ đã có bản án hoặc quyết định đình chỉ vụ án có hiệu lực pháp luật; đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự; tội phạm đã được đại xá; người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã chết, trừ trường hợp cần tái thẩm đối với người khác), thì người có quyền khởi tố vụ án ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự hoặc quyết định huỷ bỏ quyết định khởi tố vụ án hình sự.

    Tuỳ theo trường hợp cụ thể mà việc quyết định không khởi tố vụ án hình sự có thể chuyển thành các trường hợp: xử lý bằng các biện pháp pháp lý khác như hành chính, kỷ luật, dân sự hoặc không có hình thức xử lý nào và các biện pháp khác (hoà giải ở cơ sở…).

    Quyết định không khởi tố vụ án hình sự được áp đụng cho một trong hai trường hợp: quyết định không khởi tố vụ án hình sự hoặc quyết định huỷ bỏ quyết định khởi tố vụ án hình sự. Dù trường hợp nào, thì hành vi tố tụng của người quyết định không khởi tố vụ án hình sự cũng phải tuân theo đúng quy định của pháp luật về thủ tục, hình thức văn bản, nội dung và thẩm quyền người ký. Căn cứ vào nội dung của Điều luật, thì cần hiểu rằng: cơ quan có quyền khởi tố, người có quyền khởi tố vụ án hình sự thì cũng là cơ quan, người có quyền ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự hoặc huỷ bỏ quyết định khởi tố vụ án hình sự.

    Theo quy định tại khoản 1 điều này và những quy định tại Khoản 1 Điều 163 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2022 thì:

    Cơ quan điều tra trong Công an nhân dân ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự hoặc ra quyết định huỷ bỏ quyết định khởi tô vụ án hình sự đối với tất cả các tội phạm trừ những tội phạm thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân và Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

    Cơ quan điều tra trong Quân đội nhân dân ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự hoặc ra quyết định huỷ bỏ quyết định khởi tố vụ án hình sự đối với những tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự.

    Cơ quan điều tra của Viện Kiểm sát nhân dân tối cao ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự hoặc ra quyết định huỷ bỏ quyết định khởi tố vụ án hình sự đối với một số loại tội xâm phạm hoạt động tư pháp mà người phạm tội là cán bộ thuộc các cơ quan tư pháp

    – Cơ quan điều tra có thẩm quyền ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự hoặc ra quyết định huỷ bỏ quyết định khởi tố vụ án hình sự đối với tội phạm xảy ra trên địa phận của mình. Trong trường hợp không xác định được địa điểm xảy ra tội phạm thì việc ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự hoặc ra quyết định huỷ bỏ quyết định khởi tố vụ án hình sự đối với tội phạm thuộc trách nhiệm của Cơ quan điều tra nơi nhận được tin báo tố giác về tội phạm hoặc nơi người bị tô’ giác, người bị tạm giữ cư trú.

    Thẩm quyền ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự hoặc ra quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố vụ án hình sự của Cơ quan điều tra do Thủ trưởng, Phó thủ trưởng cơ quan điều tra được phân công điều tra vụ án (khoản 2, khoản 3, Điều 36, Bộ luật tố tụng hình sự) thực hiện.

    – Thủ trưởng đơn vị Bộ đội biên phòng, Cơ quan Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển và Thủ trưởng các cơ quan khác của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự hoặc hủy bỏ quyết định khởi tố vụ án hình sự đối với những trường hợp phù hợp các chủ thể này đã khởi tố vụ án hình sự theo qui định tại Điều 164 của Bộ luật tố tụng hình sự.

    – Viện trưởng hoặc Phó Viện trưởng Viện kiểm sát ra quyết định không khởi tố vụ án trong trường hợp Viện kiểm sát đã khởi tố vụ án sau khi huỷ bỏ quyết định không khởi tố vụ án của Cơ quan điều tra, Bộ đội biên phòng, Hải quan Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển, các cơ quan khác của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra.

    – Hội đồng xét xử ra quyết định không khởi tố vụ án nếu Hội đồng xét xử đã khởi tố vụ án trong quá trình xét xử tại phiên toà mà phát hiện được tội phạm hoặc người phạm tội mới.

    Trong những trường hợp này, cơ quan đã khởi tố và người có thẩm quyền khởi tố phải huỷ bỏ quyết định khởi tố và thông báo cho cơ quan, tổ chức đã báo tin hoặc người đã tố giác tội phạm biết rõ lí do huỷ bỏ quyết định khởi tố. Các cơ quan, tổ chức, cá nhân đã tố giác tội phạm có quyền khiếu nại quyết định không khởi tố vụ án hình sự. Khoản 2 của điều luật qui định việc khiếu nại quyết định không khởi tố vụ án hình sự. Người có quyền khiếu nại là cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân đã tố giác hoặc báo tin về tội phạm.

    Điều luật quy định, nếu xét cần xử lý bằng biện pháp khác thì chuyển hồ sơ cho cơ quan, tổ chức hữu quan giải quyết, có nghĩa là nếu sự vụ không cho phép khởi tố vụ án hình sự và cơ quan, đơn vị, người có quyền khởi tố thấy rằng có dấu hiệu của vi phạm pháp luật, nhưng không phải là vi phạm pháp luật hình sự, hoặc chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự mà xét cần xử lí bằng các biện pháp phù hợp nhằm bảo đảm giữ nghiêm pháp chế thì chuyển hồ sơ cho cơ quan hoặc tổ chức hữu quan giải quyết. Cơ quan, tổ chức hữu quan nói trong điều luật là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền quyết định các hình thức xử lý hành chính, vi phạm kỷ luật hoặc vi phạm pháp luật khác đối với người có hành vi vi phạm.

    Trong quyết định không khởi tố vụ án hình sự phải nêu rõ lí do không khởi tố hoặc huỷ bỏ quyết định khởi tố vụ án hình sự.

    Trong trường hợp cần tư vấn thêm, bạn có thể liên hệ với Luật sư của Luật Hoàng Phi qua TỔNG ĐÀI TƯ VẤN LUẬT MIỄN PHÍ 19006557 để được tư vấn.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thay Đổi Hoặc Bổ Sung Quyết Định Khởi Tố Vụ Án Hình Sự
  • Mẫu Quyết Định Khen Thưởng Học Sinh Tiểu Học
  • Các Mẫu Quyết Định Khen Thưởng Học Sinh Giỏi 2022
  • Mẫu Quyết Định Kỷ Luật Đảng Viên Cấp Chi Bộ
  • Mẫu Quyết Định Xử Lý Kỷ Luật
  • Phân Biệt Khởi Tố Vụ Án Và Khởi Tố Bị Can

    --- Bài mới hơn ---

  • Khởi Tố Bị Can Là Gì? Từ A =
  • Khi Nào Thì Khởi Tố Bị Can?
  • Kê Biên Tài Sản Của Người Phải Thi Hành Án Dân Sự Theo Quy Định Hiện Nay
  • Kê Biên Tài Sản Là Gì ? Khái Niệm Về Kê Biên Tài Sản
  • Kê Biên, Xử Lý Tài Sản Thi Hành Án
  • Khởi tố vụ án và khởi tố bị can là hai hoạt động trong tố tụng hình sự. Khởi tố vụ án và khởi tố bị can có điểm giống nhau đều là quyết định bắt đầu điều tra công khai theo trình tự thủ tục TTHS, nhưng khác nhau về thời điểm, yêu cầu và căn cứ khởi tố

    Đối tượng của quyết định khởi tố

    Khởi tố về HÀNH VI có dấu hiệu phạm tội.

    Khởi tố NGƯỜI hoặc PHÁP NHÂN có dấu hiệu phạm tội.

    Căn cứ khởi tố

    Chỉ được khởi tố vụ án khi đã xác định có dấu hiệu tội phạm. Việc xác định dấu hiệu tội phạm dựa trên những căn cứ:

    Tố giác của cá nhân;

    Tin báo của cơ quan, tổ chức, cá nhân;

    Tin báo trên phương tiện thông tin đại chúng;

    Kiến nghị khởi tố của cơ quan nhà nước;

    Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trực tiếp phát hiện dấu hiệu tội phạm;

    Người phạm tội tự thú.

    (Điều 143 BLTTHS 2022)

    Sau khi đã có quyết định khởi tố vụ án, cơ quan điều tra sẽ tiến hành điều tra vụ án. Từ đó, nếu có đủ căn cứ để xác định một người hoặc pháp nhân đã thực hiện hành vi mà Bộ luật hình sự quy định là tội phạm thì Cơ quan điều tra ra quyết định khởi tố bị bị can. Quyết định khởi tố bị can phải được sự phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp với cơ quan điều tra.

    (Điều 179 BLTTHS 2022)

    Thẩm quyền ra quyết định khởi tố

    Có 04 cơ quan:

    – Cơ quan điều tra.

    – Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra;

    – Viện kiểm sát;

    – Hội đồng xét xử.

    Có 03 cơ quan:

    – Cơ quan điều tra.

    – Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra;

    – Viện kiểm sát.

    Các giai đoạn ra quyết định khởi tố

    Có 04 giai đoạn có thể khởi tố:

    – Giai đoạn khởi tố;

    – Giai đoạn điều tra;

    – Giai đoạn truy tố;

    – Giai đoạn xét xử.

    (Điều 153 BLTTHS 2022)

    Có 02 giai đoạn có thể khởi tố:

    – Giai đoạn điều tra;

    – Giai đoạn truy tố.

    (Điều 179 BLTTHS 2022)

    Kết thúc khởi tố

    Thời điểm kết thúc của giai đoạn khởi tố vụ án được tính từ khi ra quyết định khởi tố vụ án hình sự (trong trường hợp xác định có dấu hiệu tội phạm), hoặc quyết định không khởi tố vụ án hình sự (khi xác định không có dấu hiệu tội phạm).

    Khởi tố bị can không phải là giai đoạn tố tụng mà chỉ là hành vi tố tụng tại giai đoạn điều tra của người có thẩm quyền ra quyết định khởi tố bị can khi đã xác định được một người cụ thể có hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong pháp luật hình sự, cần phải tiến hành các hoạt động điều tra đối với họ theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự

    Mối quan hệ

    Quyết định khởi tố vụ án hình sự phải có trước quyết định khởi tố bị can. (vì sau khi khởi tố vụ án bước vào giai đoạn điều tra thì cơ quan có thẩm quyền mới điều tra căn cứ xác định 04 yếu tố cấu thành tội phạm để có căn cứ khởi tố bị can).

    Tuy nhiên, trong thực tế giải quyết vụ án hình sự, cơ quan có thẩm quyền có thể ban hành hai quyết định này cùng một thời điểm ngay khi xác định tại sự việc, sự kiện phạm tội có dấu hiệu tội phạm thì cũng đồng thời xác định được ngay người thực hiện hành vi phạm tội. (như trường hợp bắt tội phạm quả tang)

    GỬI YÊU CẦU TƯ VẤN

    --- Bài cũ hơn ---

  • Mẫu Văn Bản Quyết Định Kỷ Luật Cán Bộ
  • Quyết Định Kỷ Luật Là Gì
  • Chất Sinh Miễn Dịch Và Kháng Nguyên
  • Thế Nào Là Kháng Nguyên, Kháng Thể?
  • Quyết Định Về Việc Kiện Toàn Ban Tổ Chức Hội Khỏe Phù Đổng Toàn Quốc Lần Thứ Ix Năm 2022 Của Tỉnh Nghệ An
  • Viện Kiểm Sát Hủy Quyết Định Khởi Tố Của Công An

    --- Bài mới hơn ---

  • Thư Bạn Đọc: Cần Hủy Bỏ Quyết Định Khởi Tố Bị Can Nguyễn Văn Mạnh
  • Từ Bị Hại Trở Thành Bị Can: Hủy Bỏ Quyết Định Khởi Tố
  • Đà Nẵng Hủy Bỏ Quyết Định Hỗ Trợ Lãi Suất 10% Tiền Sử Dụng Đất
  • Mẫu Quyết Định Thu Hồi, Hủy Bỏ Giấy Khai Sinh Cấp Trái Pháp Luật
  • Người Bị Kiện Tự Mình Sửa Đổi, Hủy Bỏ Quyết Định Hành Chính, Hoặc Dừng, Khắc Phục Hành Vi Hành Chính Bị Khởi Kiện Trong Giai Đoạn Xét Xử Sơ Thẩm, Phúc Thẩm Vụ Án Hành Chính
  • Ngày 21-5, một nguồn tin xác nhận VKSND huyện Vân Canh (Bình Định) vừa ban hành quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố bị can của Cơ quan CSĐT công an huyện này đối với Nguyễn Văn Thiện (37 tuổi, ngụ thị trấn Vân Canh, huyện Vân Canh) về tội chống người thi hành công vụ.

    Trước đó, ngày 7-5, Cơ quan CSĐT Công an huyện Vân Canh ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, quyết định khởi tố bị can đối với Thiện về tội chống người thi hành công vụ theo quy định tại Điều 330 BLHS.

    Ngày 8-5, VKSND huyện Vân Canh có công văn yêu cầu Cơ quan CSĐT công an huyện bổ sung tài liệu, chứng cứ làm rõ việc thi hành công vụ của tổ công tác; động cơ, mục đích, ý thức của Thiện khi thực hiện hành vi, những mâu thuẫn trong hồ sơ vụ án cùng các tài liệu, chứng cứ khách quan khác ngoài lời khai để chứng minh việc khởi tố là có căn cứ pháp luật.

    Tuy nhiên, Cơ quan CSĐT Công an huyện Vân Canh có công văn phúc đáp không bổ sung tài liệu, chứng cứ, tiếp tục đề nghị VKSND cùng cấp phê chuẩn quyết định khởi tố bị can đối với Nguyễn Văn Thiện.

    Lãnh đạo VKSND huyện Vân Canh cho biết nhận thấy vụ án còn nhiều điểm chưa được làm rõ, kiểm sát viên đã trực tiếp tiến hành thu thập tài liệu, chứng cứ, trực tiếp hỏi cung bị can nhằm đảm bảo tính thận trọng trước khi xem xét phê chuẩn.

    Sau khi xem xét, đánh giá toàn diện các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, VKSND huyện Vân Canh xét thấy hành vi của Nguyễn Văn Thiện không đủ yếu tố cấu thành tội chống người thi hành công vụ.

    Do đó, mới đây VKSND huyện Vân Canh đã ra quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố bị can đối với Nguyễn Văn Thiện, đồng thời có công văn yêu cầu cơ quan điều tra hủy bỏ quyết định khởi tố vụ án hình sự.

    Theo VKSND huyện Vân Canh, việc thi hành công vụ của tổ công tác với ba công an viên thuộc Công an thị trấn Vân Canh chưa đảm bảo, tuân thủ quy định, dẫn đến Thiện không biết rõ các công an viên đang thi hành công vụ. Mặt khác, tại quán của Thiện không xảy ra vụ việc đánh bạc, đánh nhau nào.

    VKS cho rằng hành vi của Thiện không nhằm cản trở, chống đối, tấn công người thi hành công vụ mà do mâu thuẫn cá nhân, xảy ra sau nhiệm vụ của tổ công tác đã hoàn thành. Ngoài lời khai của các bên, không có tài liệu, chứng cứ nào khác.

    Cũng theo nguồn tin trên, trước đó, liên ngành tố tụng gồm Công an huyện, VKSND huyện, TAND huyện Vân Canh đã tiến hành họp bàn về việc giải quyết tin báo của vụ án trên.

    Cả VKSND, TAND huyện đều không đồng ý khởi tố vụ án vì chưa đủ tài liệu, chứng cứ. Trước khi khởi tố vụ án, khởi tố bị can, cơ quan điều tra có trao đổi với VKSND huyện và viện có quan điểm không thống nhất việc khởi tố.

    Người bị khởi tố đã bị phạt tù trong vụ án khác

    Nguyễn Văn Thiện đã bị TAND huyện Vân Canh phạt 18 tháng tù cũng về tội chống người thi hành công vụ trong phiên tòa ngày 24-4.

    Theo bản án sơ thẩm này, Thiện đã dùng phảng phát bờ đe dọa, đuổi đánh, chửi bới, xúc phạm các thành viên tổ công tác phòng, chống dịch bệnh COVID-19 của thị trấn Vân Canh khi tổ công tác đến vận động thực hiện giãn cách tại quán cà phê do Thiện làm chủ.

    Đây là vụ án được điều tra, truy tố, xét xử áp dụng thủ tục rút gọn theo tinh thần công văn của TAND Tối cao ban hành ngày 30-3.

    Theo cơ quan công an, Nguyễn Văn Thiện từng có ba tiền án về tội cố ý gây thương tích và một lần đi tập trung giáo dưỡng 18 tháng.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Viện Ksnd Huyện Phù Mỹ Hủy Bỏ Quyết Định Khởi Tố Bị Can Của Cơ Quan Điều Tra
  • Hủy Bỏ Quyết Định Khởi Tố Bị Can Với Nguyên Phó Chủ Tịch Hà Nội Phí Thái Bình
  • Vksnd Huyện Vân Canh Hủy Bỏ Quyết Định Khởi Tố Bị Can
  • Công Ty Có Được Hủy Quyết Định Tăng Lương Do Nhầm Lẫn?
  • Về Kiểm Sát Việc Ra Quyết Định Không Khởi Tố Vụ Án Hình Sự
  • Hưỡng Dẫn Về Khởi Tố Bị Can, Thay Đổi Hoặc Bổ Sung Quyết Định Khởi Tố Bị Can Trong Tố Tụng Hình Sự

    --- Bài mới hơn ---

  • Khởi Tố Bị Can Là Gì?
  • Quy Định Mới Về Quy Trình Khởi Tố Bị Can?
  • Khiếu Nại Quyết Định Không Khởi Tố Vụ Án Hình Sự Ở Đâu?
  • Căn Cứ Không Khởi Tố Vụ Án Hình Sự Theo Quy Định Bộ Luật Tố Tụng Hình Sự Năm 2022
  • Khiếu Nại Quyết Định Không Khởi Tố Vụ Án Hình Sự
  • Nội dung này được Ban biên tập Thư Ký Luật tư vấn như sau:

    Hưỡng dẫn về khởi tố bị can, thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can trong tố tụng hình sự quy định tại tại Điều 9 Thông tư liên tịch 04/2018/TTLT-VKSNDTC-BCA-BQP quy định về phối hợp giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát trong việc thực hiện quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự do Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao – Bộ trưởng Bộ Công an Bộ Quốc phòng ban hành, cụ thể như sau:

    1. Việc khởi tố bị can, thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can được thực hiện theo quy định tại các điều 179, 180 và 433 Bộ luật Tố tụng hình sự.

    Sau khi khởi tố bị can, việc hỏi cung bị can, lấy lời khai người đại diện theo pháp luật của pháp nhân thương mại được thực hiện theo quy định tại Điều 183, Điều 442 Bộ luật Tố tụng hình sự.

    3. Trường hợp Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát thay đổi quyết định khởi tố bị can theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 180 Bộ luật Tố tụng hình sự hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can, nếu quyết định khởi tố vụ án hình sự chưa khởi tố về tội đó thì trước khi ra quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can phải ra quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự.

    Ví dụ 1: Cơ quan điều tra quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can đối với Nguyễn Văn A về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Quá trình điều tra xác định hành vi của A cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, thì trước khi Cơ quan điều tra ra quyết định thay đổi quyết định khởi tố bị can đối với A từ tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản sang tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, Cơ quan điều tra phải ra quyết định thay đổi quyết định khởi tố vụ án hình sự từ tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản sang tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

    Ví dụ 2: Cơ quan điều tra quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can đối với Nguyễn Văn B về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Quá trình điều tra xác định B còn thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản, thì trước khi Cơ quan điều tra ra quyết định bổ sung quyết định khởi tố bị can đối với B về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, Cơ quan điều tra phải ra quyết định bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

    4. Không thay đổi quyết định khởi tố bị can khi quá trình điều tra làm rõ hành vi của bị can phạm vào khoản khác trong cùng tội danh, điều luật đã khởi tố đối với bị can.

    5. Viện kiểm sát quyết định khởi tố bị can, quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can khi đã yêu cầu bằng văn bản nhưng Cơ quan điều tra không thực hiện. Trường hợp Viện kiểm sát khởi tố bị can thì việc thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố bị can do Viện kiểm sát quyết định.

    6. Việc ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự, bổ sung quyết định khởi tố bị can trong trường hợp bị can có nhiều hành vi phạm tội nhưng cùng tội danh và trường hợp bị can phạm nhiều tội, được thực hiện như sau:

    a) Nếu một người thực hiện nhiều hành vi phạm tội nhưng cùng một tội danh và bị phát hiện cùng một thời điểm, thì chỉ ra một quyết định khởi tố vụ án hình sự, một quyết định khởi tố bị can đối với tất cả các lần phạm tội đó. Nếu trong quá trình điều tra, truy tố phát hiện bị can còn thực hiện hành vi phạm tội có cùng tội danh mà chưa bị khởi tố thì ra quyết định bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự về hành vi phạm tội đó;

    b) Nếu tại một thời điểm mà một người thực hiện nhiều hành vi phạm tội khác nhau và được phát hiện cùng thời điểm, thì chỉ ra một quyết định khởi tố vụ án hình sự, một quyết định khởi tố bị can đối với tất cả các hành vi phạm tội, trong đó ghi rõ từng tội danh và điều, khoản của Bộ luật Hình sự được áp dụng;

    d) Nếu một người thực hiện nhiều hành vi phạm tội ở những thời điểm khác nhau và thuộc nhiều tội danh khác nhau nhưng bị phát hiện cùng một thời điểm, thì chỉ ra một quyết định khởi tố vụ án hình sự, một quyết định khởi tố bị can đối với các hành vi phạm tội, trong đó ghi rõ từng tội danh và điều, khoản của Bộ luật Hình sự được áp dụng;

    đ) Khi phát hiện bị can phạm nhiều tội, trong đó có tội phạm thuộc thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra cấp trên thì Cơ quan điều tra cấp dưới phải trao đổi, thống nhất với Viện kiểm sát cùng cấp để chuyển toàn bộ vụ án cho Cơ quan điều tra cấp trên tiến hành điều tra.

    7. Sau khi nhận hồ sơ vụ án và bản kết luận điều tra của Cơ quan điều tra, nếu Viện kiểm sát phát hiện thấy có cá nhân, pháp nhân thương mại đã thực hiện hành vi phạm tội trong vụ án chưa bị khởi tố hoặc có căn cứ xác định hành vi phạm tội của bị can không phạm vào tội đã bị khởi tố hoặc còn hành vi phạm tội khác chưa bị khởi tố, thì Viện kiểm sát xem xét, quyết định việc khởi tố bị can theo quy định tại khoản 4 Điều 179 Bộ luật Tố tụng hình sự hoặc trả hồ sơ cho Cơ quan điều tra để điều tra bổ sung, yêu cầu Cơ quan điều tra ra quyết định khởi tố bị can, quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can và tiến hành các hoạt động điều tra theo thủ tục chung. Nếu đã yêu cầu mà Cơ quan điều tra không thực hiện thì Viện kiểm sát ra quyết định khởi tố bị can, quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can và gửi cho Cơ quan điều tra để tiến hành điều tra.

    Ban biên tập phản hồi thông tin đến bạn.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cần Có Văn Bản Hướng Dẫn Thống Nhất Về Tư Cách Bị Can Theo Quy Định Của Bltths
  • Quan Hệ Phối Hợp, Kiểm Soát Giữa Cơ Quan Điều Tra Và Viện Kiểm Sát Trong Khởi Tố, Điều Tra Vụ Án Hình Sự
  • Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Của Viện Kiểm Sát Trong Giai Đoạn Điều Tra Vụ Án Hình Sự
  • Quyết Định Khen Thưởng Trường Thcs
  • Qđ Thành Lập Hội Đồng Thi Đua Khen Thưởng Nh 2022
  • Vai Trò, Trách Nhiệm Của Viện Kiểm Sát Trong Khởi Tố Vụ Án Hình Sự

    --- Bài mới hơn ---

  • Hủy Hàng Chục Quyết Định Không Khởi Tố Vụ Án Hình Sự
  • Công An Huyện Đã Hủy Quyết Định Không Khởi Tố Vụ Án Hình Sự
  • Bàn Về Quy Định Thay Đổi Quyết Định Khởi Tố Vụ Án Hình Sự Và Thay Đổi Quyết Định Khởi Tố Bị Can
  • Thành Lập Ban Quản Lý Xây Dựng Ntm Cấp Xã
  • Kiện Toàn Bcđ Chương Trình Mtqg Xây Dựng Nông Thôn Mới
  • Viện kiểm sát và kiểm sát viên có vai trò rất quan trọng trong quá trình giải quyết vụ án hình sự nói chung và trong giai đoạn khởi tố vụ án hình sự nói riêng.

    Viện kiểm sát là cơ quan có chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Viện kiểm sát có trách nhiệm khởi tố vụ án, cụ thể trong trường hợp Tòa án yêu cầu Viện kiểm sát khởi tố và trường hợp Viện kiểm sát hủy bỏ quyết định không khởi tố vụ án hình sự của cơ quan điều tra. Tuy nhiên, Viện kiểm sát chủ yếu thực hiện chức năng kiểm sát tính có căn cứ và tính hợp pháp của việc khởi tố và xử lý vụ án hình sự.

    Thứ nhất, Viện kiểm sát khởi tố vụ án hình sự

    Khoản 3 Điều 153 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định như sau: ” 3. Viện kiểm sát ra quyết định khởi tố vụ án hình sự trong trường hợp: ( a) Viện kiểm sát hủy bỏ quyết định không khởi tố vụ án hình sự của Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra; ( b) Viện kiểm sát trực tiếp giải quyết , c) Viện kiểm sát trực tiếp phát hiện tin báo về tội phạm , kiến nghị khởi tố ; ( dấu hiệu tội phạm hoặc theo yêu cầu khởi tố của Hội đồng xét xử.”

    Như vậy, Viện kiểm sát có thể trực tiếp ra quyết định khởi tố vụ án hình sự khi: Viện kiểm sát hủy bỏ quyết định không khởi tố vụ án hình sự của Cơ quan điều tra; trực tiếp giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố; trực tiếp phát hiện dấu hiệu phạm tội; có yêu cầu khởi tố của Hội đồng xét xử.

    Thứ hai, Viện kiểm sát giám sát việc khởi tố

    Tuy không quy định có quyền phê chuẩn quyết định khởi tố vụ án hình sự nhưng với việc cho phép Viện kiểm sát yêu cầu Cơ quan điều tra ra quyết định hủy bỏ hoặc tự ra quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố vụ án hình sự của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát có quyền và trách nhiệm rất lớn trong việc đảm bảo tính có căn cứ của quyết định khởi tố vụ án hình sự. Một trường hợp khác thường gặp trong thực tiễn, đó là khi các tài liệu, chứng cứ đủ để khởi tố vụ án nhưng không có căn cứ để khởi tố về tội phạm được khởi tố mà là một tội phạm khác hoặc cần bớt đi một tội phạm khác vì không đủ căn cứ để khởi tố đối với tội phạm đó hoặc cần khởi tố bổ sung với một tội phạm khác, Viện kiểm sát sẽ yêu cầu Cơ quan điều tra thì Viện kiểm sát có văn bản yêu cầu Cơ quan điều tra ra quyết định; nếu đã yêu cầu mà Cơ quan điều tra không nhất trí thì Viện kiểm sát ra quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự

    Đặc biệt, với trường hợp Cơ quan điều tra ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự – một quyết định rất có thể ẩn chứa những yếu tố tiêu cực, pháp luật tố tụng hình sự đã cho phép Viện kiểm sát hủy bỏ nếu không thấy có căn cứ và sau đó, tự mình ra quyết định khởi tố vụ án và chuyển lại cho Cơ quan điều tra để tiến hành điều tra.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Kêu Cứu Vì Bị Tung Ảnh Khỏa Thân: Có Căn Cứ Khởi Tố Vụ Tàng Trữ Súng
  • Có Được Thay Đổi Bổ Sung Quyết Định Khởi Tố Vụ Án Hình Sự?
  • Việc Thay Đổi Hoặc Bổ Sung Quyết Định Khởi Tố Vụ Án Hình Sự Được Quy Định Như Thế Nào?
  • Tư Vấn Thay Đổi Hoặc Bổ Sung Quyết Định Khởi Tố Vụ Án Hình Sự
  • Viện Kiểm Sát Ra Quyết Định Khởi Tố Vụ Án Hình Sự Trong Những Trường Hợp Nào?
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100