Quyết Định Quản Lý Nhà Nước Được Ban Hành Hợp Pháp Nhưng Không Bảo Đảm Tính Hợp Lý / Top 5 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 2/2023 # Top View | Bac.edu.vn

Tính Hợp Pháp Và Hợp Lý Trong Quản Lý Hành Chính Nhà Nước

Ngày đăng: 26/05/2016 03:04

Đoàn công tác của Bộ Nội vụ kiểm tra Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả của UBND thành phố Hòa Bình tháng 1/2016. Ảnh: moha.gov.vn

QLHCNN có đạt hiệu quả hay không phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, trước hết là tính hợp pháp và hợp lý trong hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước.

Tính hợp pháp của QLHCNN là sự phù hợp của các hoạt động điều hành, chấp hành của cơ quan QLHCNN với thẩm quyền được pháp luật quy định. Nội dung, hình thức, phương pháp quản lý của các chủ thể quản lý phải trong khuôn khổ pháp luật quy định.

QLHCNN phải có nội dung và mục đích phù hợp với những quy định của pháp luật, không được trái với Hiến pháp và luật cũng như các văn bản quy phạm pháp luật, văn bản chỉ đạo của cơ quan nhà nước cấp trên.

QLHCNN phải được thực hiện bởi các chủ thể có thẩm quyền, theo đúng trình tự, thủ tục do pháp luật quy định. Tính hợp pháp đặt ra các yêu cầu sau:

– QLHCNN phải phù hợp với nội dung và mục đích của văn bản pháp luật cấp trên.

– Cơ quan quản lý hành chính ban hành văn bản và hành động phải trong phạm vi thẩm quyền được quy định cho chủ thể mang thẩm quyền hành chính nhà nước.

– Văn bản quản lý phải được ban hành đúng hình thức và thủ tục do pháp luật quy định.

Tính hợp lý của QLHCNN là sự thể hiện phương án được lựa chọn để điều chỉnh đối tượng quản lý một cách tối ưu nhất. Quyết định đó biểu hiện tính khả thi và hiệu quả cao nhất về kinh tế, chính trị, xã hội; được sự đồng thuận của mọi người.

QLHCNN được thực hiện phải đảm bảo lợi ích nhà nước và nguyện vọng của nhân dân, xuất phát từ nhu cầu khách quan của cuộc sống, giải quyết được các nhiệm vụ hiện tại và có tính dự báo cho tương lai. Để đảm bảo tính hợp lý, QLHCNN cần phải đáp ứng các yêu cầu sau:

– Hài hoà giữa lợi ích nhà nước, lợi ích tập thể và cá nhân. Cơ quan nhà nước, cán bộ nhà nước có thẩm quyền phải dựa trên quyền và lợi ích hợp pháp của công dân như một tiêu chí hàng đầu trong việc thực hiện quyền hành pháp.

– Phải có tính cụ thể, phù hợp với từng vấn đề, đối tượng thực hiện.

– Đảm bảo tính hệ thống, toàn diện. Đó là việc xem xét tất cả các mặt của đời sống xã hội: kinh tế, văn hoá, xã hội; xem xét mục đích trước mắt, mục đích lâu dài; tác dụng trực tiếp và tác dụng gián tiếp.

– Ngôn ngữ, văn phong trong văn bản và giao tiếp hành chính phải rõ ràng, dễ hiểu, ngắn gọn, chính xác, không đa nghĩa.

Tính hợp pháp và tính hợp lý của QLHCNN có mối liên hệ chặt chẽ với nhau. QLHCNN chỉ có giá trị pháp lý và giá trị áp dụng thực tế khi bảo đảm đủ hai tính chất hợp pháp và hợp lý. Nói cách khác, QLHCNN sẽ khả thi và được xã hội chấp nhận.

Sự hài hòa giữa tính hợp pháp và tính hợp lý là rất quan trọng và cần thiết. Do đó, quản lý nhà nước không thể tách rời tính hợp pháp với tính hợp lý và tính khả thi của các biện pháp được đề ra.

Tính hợp pháp và tính hợp lý có mối quan hệ chặt chẽ nhưng không có nghĩa là đồng nhất với nhau. QLHCNN đáp ứng yêu cầu hợp pháp đơn giản hơn đối với yêu cầu về tính hợp lý vì tính hợp pháp có những tiêu chí định lượng rõ ràng; trong khi đó, tính hợp lý lại phụ thuộc nhiều vào tiêu chí định tính. Những biểu hiện của tính hợp pháp được pháp luật quy định khá cụ thể nên dễ nhận biết. Ngược lại, thước đo của tính hợp lý được rút ra từ những nguyên tắc chung của pháp luật lẫn các quy tắc chung của cuộc sống nên nhiều khi phụ thuộc vào quan điểm cá nhân của mỗi người. Do đó, việc đánh giá quản lý nhà nước có hợp lý hay không có thể gây ra nhiều tranh cãi hơn so với việc đánh giá tính hợp pháp của nó. Trong một phương án hợp pháp có thể có nhiều giải pháp nhưng chỉ có một giải pháp tối ưu nhất, hợp lý nhất. Tuy nhiên, việc tìm kiếm giải pháp tối ưu không phải lúc nào cũng dễ dàng. Có nhiều lý do dẫn đến tình trạng mâu thuẫn giữa tính hợp pháp và tính hợp lý. Ví dụ:

– Quyết định quản lý và hành vi hành chính có thể hợp lý, hợp pháp tại thời điểm ban hành, nhưng do thời gian hoặc những thay đổi khách quan của điều kiện kinh tế – xã hội diễn ra mạnh mẽ trong khi cơ quan quản lý hành chính chưa kịp điều chỉnh nên trở thành bất cập.

– Các quyết định hành chính khi được ban hành có thể phù hợp với địa phương này nhưng không phù hợp với địa phương khác do những điều kiện đặc thù của vùng, miền.

– Kỹ thuật lập pháp hạn chế cũng là một lý do dẫn đến sự mâu thuẫn giữa tính hợp pháp và tính hợp lý.

Khi có sự mâu thuẫn giữa tính hợp pháp và tính hợp lý thì ưu tiên thuộc về tính hợp pháp. Có thể do cơ quan ban hành chưa kịp sửa chữa quyết định lỗi thời, hoặc không tính toán hết được những đặc điểm của từng địa phương, từng đối tượng nên quyết định hành chính và hành vi hành chính có thể phù hợp với địa phương này, đối tượng này nhưng không khả thi, không phù hợp với địa phương khác, đối tượng khác. Trong trường hợp này, cơ quan có thẩm quyền áp dụng vẫn phải thi hành nghiêm chỉnh quyết định của cấp trên, đồng thời kiến nghị cơ quan cấp trên bãi bỏ hoặc sửa đổi cho phù hợp với tình hình thực tế của địa phương. Bởi vì, tính “chấp hành” của QLHCNN không cho phép cơ quan hành chính nhà nước cấp dưới tự ý ban hành văn bản trái với quyết định của cấp trên.

Trong quan hệ giữa tính hợp pháp và tính hợp lý, trên cơ sở nguyên tắc pháp chế, tồn tại nguyên tắc ưu thế của tính hợp pháp so với tính hợp lý trong hoạt động QLHCNN. Khi tính hợp lý được đặt ra ngoài khuôn khổ pháp luật sẽ không được đón nhận và không được gọi là pháp luật.

Do sự phức tạp của yêu cầu về tính hợp lý nên trên thực tế, khi phải lựa chọn giữa tính hợp pháp và tính hợp lý, chủ thể quản lý phải tuân theo các yêu cầu về tính hợp pháp.

Những nguyên nhân khách quan hay chủ quan đã làm cho hoạt động QLHCNN không hợp lý nhưng không làm cho hoạt động đó trở nên không hợp pháp. Trong trường hợp này, đối tượng quản lý vẫn phải chấp hành, không thể dựa vào lý do không hợp lý mà coi thường các quyết định và hành vi hành chính của cơ quan quản lý hành chính, tức là coi thường tính hợp pháp. Nếu không, quản lý nhà nước sẽ rơi vào tình trạng rối loạn, pháp chế bị coi thường. Khi tính hệ thống, thứ bậc của pháp luật bị phá vỡ, tính hợp lý trong trường hợp này chỉ là hình thức vì cho phép sự tồn tại và chấp nhận một hoạt động không hợp pháp là điều không hợp lý. Trong trường hợp các cơ quan quản lý nhận thấy quyết định và hành vi của cấp trên không phù hợp với điều kiện cụ thể của cấp mình, về nguyên tắc, họ vẫn phải thi hành nghiêm chỉnh nhưng đồng thời cần đề nghị cấp trên bãi bỏ, sửa đổi quyết định hoặc hành vi cho phù hợp.

Sự “tác động” ngược lại của tính hợp lý đối với tính hợp pháp. Trong quản lý nhà nước, tính chủ động, sáng tạo là rất cần thiết. Thực tế đã có nhiều hoạt động quản lý được ban hành không hợp pháp, rơi vào tình trạng “xé rào”, chủ yếu xảy ra ở các cơ quan hành chính ở địa phương. Với lý do cần một sự hợp lý kịp thời do văn bản của trung ương không đáp ứng nhu cầu của địa phương nên các địa phương đã chủ động “tự cởi trói cho mình” bằng cách ban hành các văn bản “vượt ra ngoài” thẩm quyền luật định để đáp ứng những đòi hỏi bức thiết, dù biết là vi phạm pháp chế. Đặc biệt là trong lĩnh vực xử phạt vi phạm hành chính, có địa phương không chỉ quy định các vi phạm hành chính theo đặc điểm địa phương, mà còn định ra các tổ chức xử phạt hành chính, tăng thẩm quyền xử phạt và quy định cả chế tài xử phạt mới. Những việc làm này đã gây rối loạn hệ thống pháp luật nhà nước, chưa kể việc sử dụng biện pháp mạnh của mỗi địa phương còn thể hiện sự vi phạm trật tự kỷ cương, phép nước ngay trong bộ máy nhà nước và vi phạm quyền công dân.

Tuy nhiên, trong một chừng mực nào đó, cơ quan cấp trên cũng cần nhìn nhận những điểm hợp lý trong các văn bản và hành vi “xé rào”. Xét trên phương diện pháp chế, tính hợp pháp cần được bổ sung kịp thời bởi tính hợp lý, bằng một quyết định hợp lý. Bởi lẽ, để đảm bảo tính pháp chế thì rất khó để nói rằng hợp pháp mà lại không khả thi, khó thực hiện – tức là thiếu tính hợp lý. Thấy được những ưu điểm đó để kịp thời sửa đổi, bổ sung các quy định của cấp có thẩm quyền, nhằm tạo điều kiện cho sự ra đời của những quyết định quản lý vừa hợp pháp lại vừa hợp lý.

Để đảm bảo tính hợp pháp và hợp lý trong QLHCNN, cần thực hiện một số giải pháp sau:

Một là, phân quyền cho địa phương, cấp dưới. Một số loại hành vi có thể quy định mức chung cho cả nước, song cũng nên lựa chọn một số loại hành vi giao cho cơ quan nhà nước ở địa phương quy định. Như vậy, hệ thống pháp luật sẽ đảm bảo tính thống nhất, pháp chế và vẫn bảo đảm sự hợp lý, tương thích với điều kiện của địa phương. Cần đề cao tính chủ động, sáng tạo của cấp dưới trong hoạt động chấp hành – điều hành, hạn chế hiện tượng “xé rào” và tình trạng mâu thuẫn, chồng chéo của các văn bản. Mỗi cấp quản lý có mục tiêu, nhiệm vụ riêng, đồng thời có những công cụ, phương tiện cần thiết để thực hiện một cách tốt nhất những mục tiêu, nhiệm vụ đó. Việc phân cấp quản lý phải trên cơ sở trung ương có quyền quyết định những vấn đề then chốt, quan trọng nhất và có ý nghĩa chiến lược trên phạm vi toàn quốc; địa phương được trung ương trao quyền tích cực, chủ động nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của mình.

Hai là, tăng cường sự tham gia của các cơ quan dân cử, các tổ chức chính trị – xã hội và nhân dân địa phương vào công tác giám sát, kiểm tra hoạt động quản lý nhà nước của các chủ thể quản lý. Hiện nay, các cơ quan dân cử chủ yếu giám sát về tính hợp pháp của các quyết định quản lý và hành vi hành chính mà chưa chú trọng nhiều đến tính hợp lý.

Bốn là, kiện toàn, đồng thời nâng cao trình độ chuyên môn, kiến thức thực tiễn và trình độ pháp lý cho đội ngũ cán bộ, công chức. Soạn thảo, ban hành quyết định quản lý là một hoạt động đặc thù, quan trọng của cơ quan QLHCNN. Những người tham gia công tác này đòi hỏi phải có trình độ chuyên môn và pháp lý vững vàng, kinh nghiệm tốt trong quản lý và nắm vững kỹ năng soạn thảo văn bản. Bởi vì, quyết định quản lý có những yêu cầu rất cụ thể, rõ ràng về tính hợp pháp và tính hợp lý. Hiện nay, trình độ chuyên môn, trình độ tham mưu của các cơ quan soạn thảo còn hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu đặt ra. Do đó, cần tiếp tục kiện toàn, nâng cao trình độ chuyên môn, kiến thức thực tiễn và trình độ pháp lý cho đội ngũ cán bộ, công chức, đồng thời phát huy vai trò và khả năng tham mưu của đội ngũ chuyên gia khi tham gia vào việc soạn thảo, ban hành, thi hành quyết định quản lý nhà nước. Bên cạnh đó, cần có cơ chế huy động trí tuệ tập thể, đánh giá một cách toàn diện những ưu và khuyết điểm của mỗi phương án để tìm ra phương án khả thi, hợp lý nhất.

ThS. Nguyễn Văn Viên – Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

tcnn.vn

Tính Hợp Pháp Và Hợp Lý Của Quyết Định Hành Chính

Quyết định hành chính là loại quyết định được nhiều chủ thể thực hiện quyền lực nhà nước ban hành nhưng chủ yếu là những chủ thể thực hiện quyền hành pháp trong hệ thống cơ quan hành chính nhà nước thực hiện trên cơ sở luật và để thi hành luật.

1. Yêu cầu về tính hợp pháp của quyết định hành chính

Bất kì quyết định hành chính nào cũng phải đáp ứng các yèu cầu sau:

– Quyết định hành chính phải được ban hành bới những chủ thể có thẩm quyền theo quy định của pháp luật thực hiện quyền hành pháp.

– Quyết định hành chính phái phù hợp với luật về nội dung cũng như mục đích bởi lẽ đầy là những quyết định dưới luật. Điều đó cũng còn có nghĩa là các quyết định hành chính không được trái với các quyết định của Quổc hội cũng như quvết định của hội đồng nhân dân và các quyết định của cơ quan hành chính nhà nước cấp trên.

– Quyết định hành chính phải được ban hành theo đúng trình tự, thủ tục và hình thức do pháp luật quy định.

2. Yêu cầu về tính hợp lí của quyết định hành chính

Đây là những yêu cầu xuất phát từ thực tiễn của hoạt động quản lí hành chính cũng như trên cơ sở của sự kiểm chứng khoa học:

– Quyết định hành chính phải đảm bảo được lợi ích của Nhà nước và nguyện vọng của nhân dân, không được tách rời giữa lợi ích của Nhà nước với nguvện vọng của nhân dân.

– Quyết định hành chính phải xuất phát từ yêu cầu khách quan của việc thực hiện nhiệm vụ quản lí hành chính nhà nước.

– Ngôn ngữ của quyết định phải rõ ràng, dễ hiểu, ngắn gọn, các thuật ngữ pháp lí phái chính xác, không được đa nghĩa.

– Quyết định hành chính phải có lính dự báo.

– Quvốt định hành chính phải có tính khả thi.

Trong việc ban hành quyết định quy phạm, nếu chủ thể có thẩm quyển không luân thủ các yêu cầu vồ tính hợp pháp (cả về hình thức lần nội dung) thì có thể bị cơ quan nhà nước có thẩm quyén ra quvết định dinh chỉ, sửa đổi hoặc bãi bỏ tùv theo mức độ không tuân thủ. Việc xử lí quvết định quy phạm trái pháp luật được quy định như sau:

Quốc hội giám sát xử lí văn bản trái pháp luật của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ dưới hình thức bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ văn bản nếu văn bản đó trái với hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội.

Ủy ban thường vụ Quốc hội giám sát, xử lí văn bản trái pháp luật của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ dưới hình thức đình chí việc thi hành một phần hoặc toàn bộ ván bản của Chính phú. Thú tướng Chính phủ trái với hiến pháp, luật, nghị quyết cùa Quốc hội và trình Quốc hội quvết định Việc hủy bỏ một phần hoặc toàn bộ Văn bản dó.

Chính phủ kiểm tra văn bản của bộ, cơ quan ngang bộ và ùy ban nhân dân cấp tính. Thủ trướng Chính phủ xem xét, quyết định bãi bỏ hoặc đình chỉ việc thi hành một phần hoặc toàn bộ văn bản của bộ trướng, thủ trướng cư quan ngang bộ, ủy ban nhân dân cấp linh trái với hiến pháp, luật và các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên.

Bộ trướng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ quản lí ngành, lĩnh vực có quycn kiến nghị với bộ trường, thủ trưởng cơ quan ngang bộ đã ban hành văn bản trái với văn bản về ngành, lĩnh vực do mình phụ trách bãi bỏ hoặc đình chỉ việc thi hành một phẩn hoặc toàn bộ văn bản đó; nếu kiến nghị không được chấp nhận thì trình Thủ tướng Chính phủ quyết định; đình chí việc thi hành và đề nghị Thú tướng Chính phủ bãi bỏ quyết định, chí thị của ủy ban nhân dân cấp tỉnh trái với văn bản về ngành, lĩnh vực do mình phụ trách hoặc kiến nghị với Thủ tướng Chính phủ.

Đối với những quyết định cá biệt thì về nguvên tắc cơ quan nhà nước cấp trên có quyền sửa đổi hoặc hủy bỏ quyết định của cơ quan cấp dưới nếu trái pháp luật trên cơ sở khiếu nại của công dân hoặc kết quả kiểm tra, giám sát của cơ quan có thẩm quyền.

Mặt khác, một số loại quyết định cá biệt còn có thể bị hủy toàn bộ hay một phần thông qua hoạt động xét xử vụ án hành chính của tòa án nhân dân .

Tổ bộ môn Luật Hành chính – Khoa Luật Trường Đại học Hòa Bình, tổng hợp

Bảo Đảm Tính Hợp Hiến, Hợp Pháp Trong Hoạt Động Ban Hành Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật

Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một nhà nước đơn nhất, được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ. Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến, lập pháp. Do đó, để đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp, các văn bản của các cơ quan nhà nước khác không được trái văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội.

Một VBQPPL được xem là hợp hiến, hợp pháp khi văn bản đó bảo đảm đủ các điều kiện sau đây:

Ban hành đúng căn cứ pháp lý: khi ban hành VBQPPL, cơ quan ban hành phải xác định căn cứ pháp lý cho việc ban hành văn bản. Những văn bản làm căn cứ pháp lý phải là những văn bản đang có hiệu lực thi hành.

Ban hành đúng thẩm quyền: Luật BHVBQPPL và Luật BHVBQPPL của HĐND và UBND năm 2004 đã quy định cụ thể về thẩm quyền ban hành loại văn bản cũng như nội dung văn bản. Do đó, khi ban hành văn bản các cơ quan nhà nước chỉ được quy định những vấn đề thuộc thẩm quyền của mình.

Nội dung của văn bản phù hợp với quy định của pháp luật: nội dung của VBQPPL được ban hành phải phù hợp với Hiến pháp, luật; văn bản của cơ quan cấp dưới phải phù hợp với văn bản của cơ quan cấp trên; văn bản của UBND phải phù hợp với văn bản của HĐND.

Văn bản được ban hành đúng trình tự, thủ tục, thể thức và kỹ thuật trình bày theo quy định của pháp luật: VBQPPL phải được ban hành theo trình tự, thủ tục được quy định trong Luật BHVBQPPL và Luật BHVBQPPL của HĐND và UBND dân 2004.

2. Thực tiễn vi phạm yêu cầu về tính hợp hiến, hợp pháp trong việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật

Thực tiễn những năm qua cho thấy, nguyên tắc bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp trong hoạt động ban hành VBQPPL ở nước ta chưa được bảo đảm. Tình trạng văn bản trái Hiến pháp, trái luật còn khá phổ biến. Theo số liệu của Bộ Tư pháp, sau 5 năm thực hiện quy định của Chính phủ về kiểm tra và xử lý văn bản pháp luật (2003-2008), đã có 6.900 văn bản trái pháp luật, chiếm tỷ lệ 12% số văn bản được kiểm tra. Chỉ riêng trong 800 văn bản của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã có khoảng 200 văn bản trái luật. Con số này tại Bộ Giao thông vận tải là 12 trong số gần 60 văn bản được kiểm tra[1]… Năm 2010, Bộ Tư pháp kiểm tra và phát hiện gần 7.000 văn bản (trong tổng số hơn 90.000 văn bản) có dấu hiệu vi phạm pháp luật. Bộ Tư pháp đã kiến nghị xử lý hơn 6.500 văn bản, chiếm 94,5% trên tổng số văn bản phát hiện có sai sót. Tỷ lệ vi phạm về ban hành văn bản trái luật do các địa phương tự kiểm tra phát hiện trong 5 năm qua cũng khá lớn. Trong hơn 35.800 văn bản tiếp nhận do các đơn vị ban hành, Bộ Tư pháp đã phát hiện hơn 4.300 văn bản sai luật[2]. Ngày 19/6/2012, báo cáo một số kết quả công tác tư pháp 6 tháng đầu năm 2012, Bộ Tư pháp cho biết, qua kiểm tra hơn 17.000 văn bản quy phạm pháp luật ở các bộ, ngành và 63 tỉnh, thành phố, Bộ đã phát hiện 2.541 văn bản có dấu hiệu vi phạm pháp luật[3].

Nghiên cứu về những vi phạm trong thực tiễn ban hành VBQPPL ở nước ta trong thời gian qua cho thấy có các hình thức sai phạm sau:

2.1. Vi phạm về thẩm quyền

Nhiều cơ quan nhà nước khi ban hành VBQPPL đã không xác định đúng thẩm quyền của cơ quan mình nên vượt quá giới hạn thẩm quyền, như: Nghị quyết số 23/2011/NQ-HĐND về nhiệm vụ năm 2012 của của HĐND TP. Đà Nẵng được thông qua ngày 23/12/2011 có quy định xử phạt nặng học sinh chưa đủ 16 tuổi điều khiển xe gắn máy và đề xuất tạm giữ xe 60 ngày[4]. Quy định trên là trái với quy định của Chính phủ về thời hạn tạm giữ phương tiện và không đúng thẩm quyền vì theo Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính 2002, chỉ có Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ mới được quy định hành vi nào là vi phạm hành chính và mức phạt đối với từng hành vi. Hay Quyết định 33/2008/QĐ-BYT về tiêu chuẩn sức khỏe người điều khiển phương tiện giao thông cơ giới đường bộ do Bộ Y tế ban hành ngày 30/9/2008 quy định, người cân nặng dưới 40 kg hoặc cao dưới 1,45 mét thì không đủ điều kiện điều khiển môtô từ 50 phân khối trở lên. Người có chiều cao dưới 1,5 mét hoặc nặng dưới 40 kg không đủ điều kiện lấy giấy phép lái xe hạng B1. Đây cũng là một văn bản được ban hành trái thẩm quyền vì quy định tiêu chuẩn sức khỏe người điều khiển phương tiện giao thông cơ giới đường bộ phải được ban hành dưới hình thức Thông tư liên tịch giữa Bộ Y tế và Bộ Giao thông Vận tải.

Tuy nhiên, dưới góc độ ban hành VBQPPL thì quy định của HĐND TP. Đà Nẵng về tạm dừng giải quyết đăng ký thường trú mới vào khu vực nội thành đối với các trường hợp chỗ ở là nhà thuê, mượn, ở nhờ mà không có nghề nghiệp hoặc có nhiều tiền án, tiền sự là trái với quyền tự do cư trú của công dân đã được ghi nhận tại Điều 68 của Hiến pháp 1992: “Công dân có quyền tự do đi lại và cư trú ở trong nước, có quyền ra nước ngoài và từ nước ngoài về nước theo quy định của pháp luật” và các quy định của Luật Cư trú (các điều 3, 8, 9, 10) về quyền tự do cư trú của người dân và nghiêm cấm những hành vi hạn chế quyền tự do cư trú của người dân.

3. Nguyên nhân của những sai phạm

Theo chúng tôi, để xảy ra tình trạng nhiều VBQPPL của các cơ quan trung ương cũng như của các cấp chính quyền địa phương không đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp là do những nguyên nhân sau:

3.1. Không tuân thủ quy trình soạn thảo văn bản

Mặc dù Luật BHVBQPPL và Luật BHVBQPPL của HĐND và UBND đã đưa ra quy trình soạn thảo VBQPPL hết sức chặt chẽ và khoa học, nhưng trên thực tế, các cơ quan có thẩm quyền thực hiện không đúng quy trình luật định và việc thực hiện đôi khi mang tính hình thức.

Theo quy trình, khi soạn thảo VBQPPL, cơ quan được giao chủ trì soạn thảo phải nghiên cứu hệ thống pháp luật hiện hành đang điều chỉnh lĩnh vực mà dự thảo đề cập để đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất của hệ thống pháp luật. Tuy nhiên, do cơ quan có thẩm quyền đã thiếu chú trọng vấn đề này nên đã để xảy ra những sai phạm như Nghị quyết 23/2011/NQ-HĐND của HĐND TP. Đà Nẵng. Nếu như trước khi ban hành, HĐND TP. Đà Nẵng nghiên cứu kỹ Hiến pháp, Luật Cư trú thì sẽ không mắc sai sót trên.

Như vậy, tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất của hệ thống pháp luật là một trong những nội dung phải tiến hành thẩm định khi ban hành VBQPPL.

Trách nhiệm thẩm định cũng đã được ghi nhận cụ thể trong Luật Ban hành VBQPPL. Theo khoản 3, Điều 67, 68 Luật này thìBộ Tư pháp có trách nhiệm thẩm định dự thảo quyết định của Thủ tướng Chính phủ; tổ chức pháp chế của bộ, cơ quan ngang bộ có trách nhiệm thẩm định dự thảo văn bản theo các nội dung quy định tại khoản 3 Điều 36 của Luật này. Việc thẩm định VBQPPL của chính quyền địa phương được nêu tại khoản 1 Điều 24, khoản 1 Điều 38 Luật Ban hành VBQPPL của HĐND và UBND. Theo đó, dự thảo nghị quyết của HĐND cấp tỉnh do UBND cùng cấp trình phải được cơ quan tư pháp cùng cấp thẩm định trước khi trình UBND và dự thảo quyết định, chỉ thị của UBND cấp tỉnh phải được cơ quan tư pháp cùng cấp thẩm định trước khi trình UBND…

Việc văn bản trái pháp luật được ban hành chiếm tỷ lệ rất cao hiện nay có thể có lý do từ trình độ, năng lực của cơ quan thẩm định, của cán bộ, công chức làm công tác thẩm định. Mặc dù được giao thực hiện công tác thẩm định các VBQPPL, nhưng một số cán bộ, công chức chưa được đào tạo pháp luật, hoặc được đào tạo nhưng kiến thức chắp vá, không cơ bản, do đó không nắm vững được những quy định của pháp luật hiện hành, nghiên cứu pháp luật không sâu, dẫn đến không phát hiện được những sai phạm trong dự thảo. Hoặc cũng có thể do tinh thần, trách nhiệm của cơ quan thẩm định, người thẩm định chưa cao, thẩm định mang tính hình thức vì nếu có sai thì họ cũng không phải chịu trách nhiệm gì.

3.3. Trình độ, năng lực của một số Ban soạn thảo, cán bộ, công chức làm công tác tham mưu còn yếu

Việc soạn thảo văn bản pháp luật đòi hỏi các thành viên ban soạn thảo, người làm công tác tham mưu soạn thảo phải là những người am hiểu về lĩnh vực mà dự thảo đề cập đến, phải am hiểu về hệ thống pháp luật hiện hành. Tuy nhiên, trên thực tế, nhiều khi thành viên ban soạn thảo các VBQPPL của các cơ quan hành chính, đặc biệt là các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương không đảm bảo những yêu cầu nêu trên nên chất lượng văn bản chưa cao, có nhiều sai phạm không đáng có.

3.4. Ảnh hưởng bởi lợi ích cục bộ

Việc ban hành các VBQPPL dưới luật như thông tư, quyết định, chỉ thị ở nước ta hiện nay được giao cho các bộ, ngành, UBND các cấp ban hành. Vì vậy, tính cục bộ trong qui định cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến việc văn bản không đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp. Nhiều văn bản được ban hành xuất phát từ lợi ích của ngành, của địa phương mà đưa ra những quy định trái hiến pháp, trái luật, trái văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên. Cụ thể, trong ưu đãi doanh nghiệp, thu hút đầu tư, nhiều tỉnh, thành – để thu hút các nhà đầu tư – đã có những quy định ưu đãi về thuế, các khoản thu từ đất; sử dụng ngân sách nhà nước để hỗ trợ cho các nhà đầu vượt mức quy định của Chính phủ. Ví dụ: mặc dù Thủ tướng Chính phủ đã có quyết định hủy bỏ một quyết định ưu đãi đầu tư của tỉnh Vĩnh Phúc, tuy nhiên, UBND tỉnh Vĩnh Phúc vẫn ban hành văn bản giữ nguyên hiệu lực của các giấy chứng nhận ưu đãi đầu tư đã cấp, cho các doanh nghiệp được hưởng ưu đãi vượt khung, trái pháp luật với tổng số tiền trên 28,5 tỉ đồng và 210.296 USD[5].

3.5. Việc xử lý đối với cơ quan, người có thẩm quyền ban hành văn bản và người làm công tác tham mưu ban hành VBQPPL chưa đầy đủ, chưa nghiêm

Mặc dù tình trạng ban hành VBQPPL trái Hiến pháp, pháp luật ở nước ta trong thời gian qua là khá phổ biến nhưng việc xử lý vi phạm thì rất ít. Các cơ quan có chức năng giám sát, kiểm tra và xử lý VBQPPL có dấu hiệu trái pháp luật như Quốc hội, Chính phủ, các bộ, cơ quan ngang bộ khi phát hiện các VBQPPL được ban hành trái pháp luật thì chỉ “bãi bỏ hoặc đình chỉ việc thi hành một phần hoặc toàn bộ văn bản đó”.

Đối với việc kiểm tra xử lý VBQPPL do các cơ quan hành chính nhà nước ban hành hoặc phối hợp ban hành, Chính phủ đã ban hành nghị định số 40/2010/NĐ-CP ngày 12/4/2010 về kiểm tra và xử lý VBQPPL. Tại khoản 2 Điều 34 của Nghị định này đã đưa ra các chế tài để xem xét, xử lý trách nhiệm đối với người, cơ quan ban hành văn bản trái pháp luật:

“2. Việc xem xét trách nhiệm tập thể, trách nhiệm cá nhân được thực hiện như sau:

a) Cơ quan ban hành văn bản có nội dung trái pháp luật phải tổ chức việc kiểm điểm, xác định trách nhiệm của tập thể và báo cáo cơ quan cấp trên có thẩm quyền xem xét, quyết định theo quy định của pháp luật, đồng thời, xem xét trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan trong việc ban hành văn bản có nội dung trái pháp luật;

b) Cán bộ, công chức trong quá trình tham mưu soạn thảo, thẩm định, thẩm tra, thông qua văn bản có nội dung trái pháp luật, tùy theo tính chất, mức độ lỗi và nội dung trái pháp luật của văn bản, phải chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật về kỷ luật cán bộ, công chức…

c) Trường hợp cán bộ, công chức có hành vi vi phạm trong quá trình soạn thảo, ban hành văn bản gây hậu quả nghiêm trọng thì có thể bị đề nghị xem xét, truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật”.

Tuy nhiên, trên thực tế hầu như chưa có cơ quan hoặc cán bộ công chức nào bị xử lý về hành vi ban hành VBQPPL trái pháp luật. Trong khi đó, hậu quả của những VBQPPL không đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp không chỉ dẫn đến những sai lầm trong quản lý mà còn trực tiếp tác động đến nền kinh tế và đời sống của người dân. “Chi phí của những quy định pháp lý không tốt ở nhiều nước được tính chiếm khoảng 15% GDP, còn ở nước ta, tuy chưa tính được cụ thể, nhưng theo một số chuyên gia phải vào khoảng 25% GDP. Đó là chưa tính đến những chi phí khác như cơ hội kinh doanh bị mất, những sáng tạo bị bỏ lỡ…”[6]

Một nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật trước hết phải có một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất. Để làm được điều đó phải tăng cường hơn nữa trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, cán bộ công chức trong hoạt động xây dựng và ban hành VBQPPL, tăng cường công tác giám sát, kiểm tra hoạt động này, đồng thời phải xử lý nghiêm minh những cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức thiếu tinh thần trách nhiệm ban hành VBQPPL trái pháp luật

Quyết Định Quản Lý Hành Chính Nhà Nước

Quyết định quản lý hành chính nhà nước Khái quát về quyết định quản lý hành chính nhà nước Yêu cầu hợp pháp và hợp lý của quyết định quản lý hành chính nhà nước và hậu quả của chúng Nâng cao chất lượng ra quyết định quản lý hành chính nhà nước I.Khái quát về Quyết định quản lý hành chính Nhà nước 1. Khái niệm Là ý chí của chủ thể quản lý hành chính nhà nước Được bảo đảm thực hiện bằng quyền lực nhà nước Được ban hành theo thẩm quyền lập quy, dựa trên cơ sở luật và nhằm thực hiện luật Trình tự và hình thức theo quy định của pháp luật Để thực hiện các nhiệm vụ và chức năng quản lý nhà nước Khái quát về Quyết định quản lý hành chính Nhà nước Đặc điểm – Mang tính dưới luật – Được ban hành để thực hiện hoạt động chấp hành và điều hành 2. Các loại quyết định hành chính Nhà nước(Theo tính chất và phạm vi tác động) Quyết định chính sách QUYếT ĐịNH QUY PHạM qUYếT ĐịNH Cá BIệT 1.qUYếT ĐịNH RA LệNH 2.qUYếT ĐịNH CHO PHéP cHO PHéP CáI Gí? aI CHO PHéP? – cHO PHéP NHƯ THế NàO? Quan niệm về Quyết định quản lý hành chính Nhà nước 3. Phân biệt quyết đinh QLHC với các loại quyết định của các cơ quan NN khác Phân biệt với các văn bản Luật; Phân biệt với quyết định của toà án trong xét xử và của viện kiểm sát trong công tố; Phân biệt với giấy tờ, công văn hành chính II. Yêu cầu hợp pháp và hợp lý của quyết định quản lý hành chính Nhà nước và hậu quả của chúng Các yêu cầu của tính hợp pháp – Không vi luật – Không vi quyền – Xuất phát từ những lý do xác thực – Đúng hình thức và thủ tục do pháp luật qui định II. Yêu cầu hợp pháp và hợp lý của quyết định quản lý hành chính Nhà nước và hậu quả của chúng 2. Các yêu cầu của tính hợp lý – Đảm bảo hài hoà ba lợi ích – Cụ thể và phù hợp với vấn đề, đối tượng thực hiện – Đảm bảo tính hệ thống toàn diện – Đảm bảo kỹ thuật lập quy Quyết định QLHC bất hợp pháp bất hợp lý Cơ quan HC cấp trên Cơ quan ban hành ra QĐ Cơ quan nhà nước khác Công dân Tổ chức Quyết định QLHC bất hợp pháp, bất hợp lý Làm gì? Quyết định QLHC bất hợp pháp, bất hợp lýLàm gì? Đình chỉ hoặc bãi bỏ quyết định QLHCNN Khôi phục lại hiện trạng cũ do việc thực hiện QĐ trái pháp luật gây ra Truy cứu trách nhiệm người có lỗi V/ Phương thức xử lý một quyết định bất hợp pháp,bất hợp lý 2. Khôi phục hiện trạng cũ do việc thực hiện các quyết định trái pháp luật gây ra 3. Truy cứu trách nhiệm người có lỗi -Người có lỗi là người ban hành các quyết định trái pháp luật. .Người thi hành chỉ bị truy cứu trách nhiệm khi thi hành trái QĐ Các trách nhiệm phải chịu là: -Trách nhiệm vật chất – Trách nhiệm kỷ luật – Trách nhiệm hình sự Với những QĐQLHCNN bất hợp pháp về hình thức và thủ tục, bất hợp lý chỉ áp dụng bước 1 và 3 Kết quả xử lý văn bản trỏi phỏp luật phải được cụng bố cụng khai, đưa tin trờn cỏc phương tiện thụng tin đại chỳng và phải được đăng cụng bỏo, đăng trờn trang thụng tin điện tử của cơ quan ban hành hoặc niờm yết tại trụ sở cơ quan ban hành hoặc cỏc địa điểm khỏc do Chủ tịch Ủy ban nhõn dõn cấp huyện, Chủ tịch Ủy ban nhõn dõn cấp xó quyết định, chậm nhất là sau 3 (ba) ngày làm việc, kể từ ngày cú quyết định xử lý. ( Trớch điều 8 Nghị định số 40/2010/NĐ-CP của Chớnh Phủ Về kiểm tra và xử lý văn bản quy phạm phỏp luật.) Công dân, cơ quan, tổ chức có quyền khiếu nại quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan HCNN, của người có thẩm quyền trong cơ quan HCNN khi có căn cứ cho rằng quyết định, hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình Công dân có quyền tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về hành vi trái pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe doạ gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức. Khiếu nại, khiếu kiện các quyết định hành chính bất hợp pháp, bất hợp lý Khiếu nại hành chính Là phương thức theo đó công dân yêu cầu chính cơ quan ban hành QĐHC bất hợp pháp sửa đổi hoặc bãi bỏ quyết định đó hoặc yêu cầu cơ quan hành chính hoặc công chức đã gây tổn hại cho họ phải bồi thường (Khiếu nại lần đầu) Nếu không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu thì công dân có quyền yêu cầu cơ quan cấp trên của cơ quan đó xem xét và giải quyết hoặc khởi kiện vụ án hành chính. Khiếu nại, khiếu kiện các quyết định hành chính bất hợp pháp, bất hợp lý Quy trình ban hành và tổ chức thực hiện quyết định QLHCNN Giai đoạn tổ chức thực hiên quyết định Bước 1: Triển khai quyết định Bước2: Tổ chức lực lượng thực hiện quyết định Bước 3: Xử lý thông tin phản hồi, điều chỉnh quyết định kịp thời Giai đoạn ban hành quyết định Bước 1: Điều tra nghiên cứu, thu thập và xử lý thông tin. Phân tích đánh giá, lập và chọn phương án tối ưu Bước 2: Soạn thảo quyết định. Bước 3: Thông qua quyết định. Bước 4: Công bố hiêu lực quyêt định Giai đoạn kiểm tra việc thực hiện quyết định Giai đoạn tổng kết, đánh giá việc thực hiện quyết định