Sắc Luật Là Gì / 2023 / Top 20 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 12/2022 # Top View | Bac.edu.vn

Luật Pháp Là Gì? Tìm Hiểu Về Luật Pháp Là Gì? / 2023

1 – Luật Pháp là gì?

“Luật pháp” là “những quy chuẩn giúp con người sống chuẩn mực”, có nguyên tắc và tuân theo để tạo nên một xã hội công bằng, bình đẳng và văn minh. Luật pháp dưới góc độ luật học được hiểu như là tổng thể các quy tắc xử sự có tính bắt buộc chung, do Nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận, thể hiện ý chí của giai cấp cầm quyền, được Nhà nước đảm bảo thực hiện bằng các biện pháp giáo dục, thuyết phục, và cưỡng chế.

2 – Pháp Luật được xây dựng và thực thi như thế nào?

Luật pháp thông thường được thực thi thông qua một hệ thống tòa án trong đó quan tòa sẽ nghe tranh tụng từ các bên và áp dụng các quy định để đưa ra phán quyết công bằng và hợp lý.

Cách thức mà luật pháp được thực thi được biết đến như là hệ thống pháp lý, thông thường phát triển trên cơ sở tập quán tại mỗi quốc gia.Phần lớn các quốc gia dựa vào cảnh sát pháp lý để thi hành luật pháp.

Cảnh sát pháp lý nói chung phải được đào tạo chuyên nghiệp về các kiến thức, kỹ năng thực thi luật pháp trước khi được cho phép có các hành vi nhân danh pháp luật, chẳng hạn như đưa ra các cảnh báo và trát đòi hầu tòa, thực thi việc tìm kiếm hay ra các lệnh khác cũng như thực hiện việc tạm giam, tạm giữ.

Những người hành nghề pháp lý nói chung phải được đào tạo chuyên nghiệp về các kiến thức pháp lý trước khi được phép biện hộ cho các bên tại tòa án. Luật pháp dưới góc độ luật học được hiểu như là tổng thể các quy tắc xử sự có tính bắt buộc chung, do Nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận, thể hiện ý chí của giai cấp cầm quyền, được Nhà nước đảm bảo thực hiện bằng các biện pháp giáo dục, thuyết phục, và cưỡng chế.

Luật pháp thông thường được thực thi thông qua một hệ thống các cơ quan thực thi, bao gồm các cơ quan như Công an (cảnh sát), tòa án, Việc kiểm sát, thi hành án. Tuy nhiên, cũng cần hiểu rằng, chỉ những hành vi vi phạm pháp luật gây hậu quả xấu cho xã hội và đến một mức độ cần thiết mới có thể bị đưa ra Toà án.

Hình 2: Pháp Luật được xây dựng và thực thi như thế nào?

Về cơ bản, luật pháp được thực thi thông qua các biện pháp hành chính là nhiều hơn cả, ví dụ như: cảnh sát giao thông xử phạt người vi phạm, thanh tra xây dựng thanh tra và xử phạt vi phạm.

Trong xã hội dân dự, mặc dù Toà án vừa đóng vai trò là cơ quan thực thi nhưng cũng vừa là một người trọng tài để đưa ra các phán xét của mình về tính hợp pháp của hành vi.

Tuy vậy, ở Việt Nam và đại đa số các nước Châu Á nói chung, việc đưa vụ việc đến Toà án chưa trở thành một thói quan và văn hoá pháp luật. Phần lớn các quốc gia dựa vào cảnh sát pháp lý để thi hành luật pháp.

Cảnh sát pháp lý nói chung phải được đào tạo chuyên nghiệp về các kiến thức, kỹ năng thực thi luật pháp trước khi được cho phép có các hành vi nhân danh pháp luật, chẳng hạn như đưa ra các cảnh báo và trát đòi hầu tòa, thực thi việc tìm kiếm hay ra các lệnh khác cũng như thực hiện việc tạm giam, tạm giữ.

Những người hành nghề pháp lý nói chung phải được đào tạo chuyên nghiệp về các kiến thức pháp lý trước khi được phép biện hộ cho các bên tại tòa án, dự thảo các văn bản pháp lý hay đưa ra các tư vấn pháp lý.

3 – Bản chất của Luật Pháp là gì?

Nếu không luật pháp sẽ bi chống đối. Luật pháp có tính dân tộc, nghĩa là phù hợp với truyền thống, tập quán, giá trị đạo đức của các dân tộc trong đất nước.

Hình 3: Bản chất của Luật Pháp là gì?

4 – Thuộc tính của Luật Pháp là gì?

Về mặt nội dung, luật pháp có tính quy phạm phổ biến. Luật pháp là do Nhà nước đặt ra, nên đối tượng điều chỉnh của nó phổ biến hơn (rộng rãi hơn) các quy phạm xã hội khác. Về mặt hình thức, luật pháp có tính chặt chẽ. Để dân chúng biết được và phải biết ý chí của Nhà nước, thì ý chí này phải được thể hiện dưới các hình thức chặt chẽ.

Có 3 hình thức luật pháp cơ bản, đó là tập quán pháp, tiền lệ pháp, và văn bản quy phạm pháp luật. Luật pháp được đảm bảo bằng Nhà nước. Sau khi đặt ra luật pháp, Nhà nước đưa luật pháp vào đời sống thông qua các cơ quan Nhà nước, các thiết chế chính trị, các cán bộ, nguồn lực tài chính, các phương pháp quản lý đặc biệt là phương pháp cưỡng chế.

5 – Các hệ thống Pháp Luật là gì?

6 – Các bộ phận của Luật Pháp là gì?

7 – Kết luận

“Luật pháp” là “những quy chuẩn giúp con người sống chuẩn mực”, có nguyên tắc và tuân theo để tạo nên một xã hội công bằng, bình đẳng và văn minh. Luật pháp dưới góc độ luật học được hiểu như là tổng thể các quy tắc xử sự có tính bắt buộc chung, do Nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận, thể hiện ý chí của giai cấp cầm quyền, được Nhà nước đảm bảo thực hiện bằng các biện pháp giáo dục, thuyết phục, và cưỡng chế.

Luật Sư Là Gì ? / 2023

1. Khái niệm nghề luật sư:

1.1- Quan niệm hoạt động luật sư như một nghề nghiệp trong xã hội không phải đã được thừa nhận trong hệ thống pháp luật thực định ở nước ta trong suốt một thời gian dài cho đến trước thời điểm ban hành Pháp lệnh luật sư năm 2001. Thực tế này có căn nguyên về mặt lịch sử và từ quan niệm chung của xã hội, nhất là khi nước ta trải qua một quá trình lịch sử dài lâu đấu tranh giành độc lập dân tộc. Về mặt khoa học, khái niệm nghề luật nói chung và nghề luật sư nói riêng chưa xuất hiện phổ biến trong các tác phẩm khoa học pháp lý, trong các văn bản pháp quy và đời sống xã hội. Thực tế, khi đánh giá cả một quá trình lịch sử, thời gian gần đây có ý kiến nhận định ở Việt Nam, nghề luật cũng được coi trọng, nhất là từ sau năm 1945 và hệ thống văn bản về nghề và hành nghề luật đã tương đối hoàn chỉnh1. Ý kiến này tuy có cơ sở lịch sử của nó, nhưng chưa phản ánh được bản chất và nội hàm hoàn chỉnh của khái niệm nghề luật sư. Chỉ vào cuối năm 2001, khi ban hành Pháp lệnh luật sư mới, Trường Đào tạo các chức danh tư pháp thuộc Bộ Tư pháp mới mở khóa đầu tiên chính thức đào tạo luật sư. Khi bàn tới khái niệm nghề luật sư, về phương diện lý luận, cần đặt nó trong bối cảnh so với các nghề nghiệp khác của xã hội, các giá trị, chuẩn mực nghề nghiệp và vị trí, vai trò của nó trong sự phát triển của xã hội.

Tuy nhiên, xác định hoạt động luật sư như là một nghề cao quý không thể thiếu trong xã hội và cơ chế pháp lý điều chỉnh hoạt động nghề nghiệp này như thế nào vẫn đang là những vấn đề lý luận và thực tiễn pháp lý cần nghiên cứu thấu đáo nhằm đưa ra các giải pháp cho sự hoàn thiện và phát triển của nghề luật sư. Trước hết, hiện nay trong một số văn kiện của Đảng và pháp luật của Nhà nước, hoạt động luật sư được coi là hoạt động “bổ trợ tư pháp” . Quan niệm này xuất phát từ thực tiễn là hành nghề của luật sư thường gắn rất chặt với hoạt động tư pháp mà trọng tâm là hoạt động xét xử của Tòa án. Vì thế, tổ chức nghề nghiệp của luật sư (Đoàn, Hội luật sư) thường được thành lập trong phạm vi thẩm quyền tài phán của một Tòa án địa phương theo công thức: Tòa án địa phương/ Đoàn luật sư địa phương/ luật sư địa phương. Cũng vì lý do đó mà nhiều nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam đã coi luật sư là một hoạt động “bổ trợ tư pháp”5. Trong hệ thống các quy định pháp luật về tố tụng, luật sư được xác định là “người tham gia tố tụng”, có địa vị pháp lý hoàn toàn khác so với những người tiến hành tố tụng. Trong khi đó, xét về bản chất thì chức năng bào chữa tồn tại độc lập và đối trọng với chức năng công tố như là một tất yếu khách quan tự thân của tranh tụng hình sự. Xét ở một bình diện khác, một quan điểm rất đáng chú ý là trong luật tố tụng hình sự thực định hiện hành, chức năng bào chữa không chỉ thuộc về bên bào chữa mà còn thuộc về cả bên buộc tội và cơ quan xét xử nữa6.

Vì thế, xếp hoạt động luật sư vào khuôn khổ của các hoạt động “bổ trợ tư pháp” vô hình trung đã làm giảm nhẹ đi ý nghĩa sâu xa và các giá trị xã hội mà hoạt động này mang lại cho sự phát triển của dân chủ nói chung và hoạt động tư pháp nói riêng. Thực tế cho thấy khi giải quyết tranh chấp giữa cá nhân và cá nhân hay giữa cá nhân với cơ quan Nhà nước, hầu hết các nước trên thế giới đều có thành lập 3 định chế: Một là công tố nghiêng về buộc tội; hai là ngọn đèn khách quan soi sáng sự thật dưới mọi khía cạnh để cho cơ quan xét xử thực hành thiên chức của mình một cách công bằng. Định chế thứ ba bắt buộc phải là định chế luật sư, độc lập với cơ quan buộc tội và cơ quan xét xử. Tính chất độc lập này không thể chỉ giới hạn trong phạm vi tranh tụng tại phiên tòa, mà còn mở rộng đến các lĩnh vực của đời sống xã hội. Ngay như ở Nhật Bản, một nước châu Á, chỉ đến 5 năm gần đây, trong nhận thức của giới tư pháp đã bắt đầu có những cải cách thật sự khi xác định luật sư là một chức danh tư pháp và chế định về luật sư được coi là một trong ba chiếc cánh nâng đỡ nền tư pháp Nhật Bản. Trong điều kiện phát triển của xã hội hiện nay và yêu cầu của chiến lược cải cách tư pháp, một điều dễ nhận thấy là luật sư đã được nhìn nhận như là một chủ thể độc lập và quan trọng trong quá trình tranh tụng, là những người hành nghề chuyên nghiệp về pháp luật. Theo các quy định của Pháp lệnh luật sư năm 2001, họ còn được đào tạo nghề nghiệp và phải qua kỳ thi và thời gian tập sự mới được cấp chứng chỉ hành nghề luật sư. Xét về vị trí, vai trò của luật sư trong xã hội, họ còn có sứ mạng bảo vệ Hiến pháp và pháp luật, bảo đảm việc thực thi pháp luật được đúng đắn, bảo vệ công bằng và chính nghĩa. Có thể khẳng định rằng, giá trị của hoạt động nghề nghiệp luật sư không khác gì với những người làm công tác giám sát và thực thi pháp luật khác. Nếu như chúng ta đưa ra các tiêu chí như luật sư không được coi là “công chức”, hay họ không phải là người được Nhà nước trả lương và các khoản bảo hiểm xã hội khác, hoặc bản chất nghề nghiệp không tạo ra cho họ thứ “quyền lực” mà các nhân viên điều tra, kiểm sát viên hay thẩm phán đã có để làm căn cứ phân biệt tính chất nghề nghiệp luật sư thì hoàn toàn không đúng cả về phương diện lý luận và thực tiễn.

1.2- Về mặt ngữ nghĩa, khái niệm nghề luật sư bao gồm hai cụm từ: Nghề với tính chất là một nghề nghiệp và luật sư chỉ những người đủ điều kiện hành nghề luật sư theo quy định của pháp luật về luật sư. Theo Từ điển tiếng Việt, nghề là “công việc chuyên làm theo sự phân công của xã hội” hoặc hiểu theo nghĩa thứ hai là “thành thạo trong một công việc nào đó”. Nghề nghiệp được hiểu là “nghề nói chung”, còn nghề tự do có nghĩa là “nghề tự mình làm để sinh sống, không thuộc tổ chức, cơ quan nào7. Nếu theo giải thích của Từ điển tiếng Việt nêu trên, cách hiểu nghề luật sư như một nghề tự do lại không hoàn toàn phản ánh đầy đủ bản chất và đặc trưng của nghề nghiệp này. Luật sư hoạt động trong khuôn khổ của pháp luật và cùng với việc được cấp chứng chỉ hành nghề, phải đăng ký hoạt động trong một tổ chức hành nghề luật sư nhất định và sinh hoạt trong một tổ chức xã hội nghề nghiệp nhất định nơi địa phương mình cư ngụ. Mặt khác, khái niệm “nghề tự do” nói trên mới đặt nặng khía cạnh “kiếm sống” mà không bao hàm được vị trí, vai trò của nghề nghiệp trong sự phát triển của xã hội. Trong luật thực định của một số nước, luật sư được coi là một chủ thể độc lập trong hoạt động tư pháp, nhưng họ quan niệm tính chất của nghề nghiệp là tự do. Theo quan điểm của chúng tôi, hiện nay về mặt lý luận, chúng ta chưa làm rõ được tính chất “tự do” của nghề nghiệp và luật sư là người hoạt động trong lĩnh vực pháp luật, bởi đây là hai khái niệm hoàn toàn khác nhau. Nói tới tính chất là nói tới thuộc tính cơ bản của một sự vật, trong trường hợp này, luật sư là chủ thể độc lập trong hoạt động tư pháp, là người thực thi và truyền bá pháp luật của Nhà nước nên không thể nói tính chất của nghề nghiệp này là nghề tự do. Tính chất độc lập cần phải được coi là thuộc tính của nghề nghiệp luật sư, còn nói tới tự do là nói tới phương thức hành nghề tự do của luật sư, như có thời gian và không gian hoạt động tự do, có quyền tự do lựa chọn khách hàng, không bị những hạn chế, bó buộc như một công chức Nhà nước.

Từ những phân tích, kiến giải nêu trên, lần đầu tiên chúng tôi khái quát hóa và định nghĩa khái niệm nghề luật sư như sau: “Nghề luật sư là một nghề luật, trong đó các luật sư bằng kiến thức pháp luật của mình, độc lập thực hiện các hoạt động tư vấn pháp lý và bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật và quy chế trách nhiệm nghề nghiệp, nhằm mục đích phụng sự công lý, góp phần tích cực bảo vệ pháp chế và xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa”.

2- Đặc điểm của nghề luật sư:

Nghề luật sư rất chú ý đến vai trò cá nhân, uy tín nghề nghiệp của luật sư và phương thức tự do trong hành nghề luật sư . Nhiều ý kiến quan niệm nghề luật sư có những điểm tương đồng với nghề bác sỹ. Nghề luật sư cần có kiến thức pháp luật, thông thạo nghề nghiệp để chăm sóc những “con bệnh pháp luật” của mình. Có tác giả quan niệm: “Nghề luật sư đòi hỏi tiêu chuẩn đạo đức nghề nghiệp cao, tương tự như nghề y. Luật sư mang trên vai gánh nặng niềm tin mà xã hội và khách hàng ủy thác cho họ. Nếu như người bệnh tin tưởng, phó thác sức khỏe và cuộc sống của mình vào người bác sỹ vì người bệnh hy vọng rằng chính bác sỹ mới là người có đủ khả năng cứu giúp họ thì cũng tương tự như vậy, khách hàng đặt quyền lợi vật chất hoặc cao hơn nữa là sinh mạng chính trị, tự do, danh dự, nhân phẩm…của mình vào người luật sư”8. Cách nhìn và so sánh như trên được nhiều người tán đồng. Tuy nhiên, theo quan điểm của chúng tôi, cũng cần chỉ ra sự khác biệt rất quan trọng của hai nghề này, phương thức “tác động” của nghề nghiệp đối với khách hàng của mình khác nhau: Bác sỹ có thể chủ động và chịu trách nhiệm về số phận của bệnh nhân, thông qua hành vi, thao tác mổ xẻ, điều trị trực tiếp; còn luật sư giúp đỡ cho khách hàng của mình về phương diện pháp lý, nhưng nhiều trường hợp, số phận của khách hàng lại không phụ thuộc vào sự trợ giúp của luật sư, mà chịu sự định đoạt của pháp luật.

Đã có một số tác giả đề cập đến các đặc trưng của nghề luật nói chung, nhưng đối với nghề luật sư, việc xác định các đặc điểm riêng có cần phải xuất phát từ bản chất, vị trí, vai trò của nghề luật sư trong toàn bộ các định chế chính trị và tư pháp ở thượng tầng kiến trúc và các quan niệm mang tính phổ biến được hình thành trong lịch sử thế giới và ở Việt Nam.

Theo quan niệm đó, có thể xem xét các đặc điểm của nghề luật sư trên các bình diện sau đây:

Tính chất dịch vụ của nghề luật sư không phải đã được thừa nhận rộng rãi. Nhiều người quan niệm không nên đề cập đến tính chất dịch vụ như một trong những đặc điểm của nghề luật sư bởi sự cao quý của nghề nghiệp này. Hơn nữa, hiểu dịch vụ như là “đổi trao, mua bán” thứ hàng hóa là “kiến thức – kỹ năng pháp luật” sẽ hạ thấp vai trò của luật sư trong việc thúc đẩy sự phát triển dân chủ trong hoạt động tư pháp và xã hội nói chung.

Tính chất dịch vụ của nghề luật sư là một loại dịch vụ đặc biệt, khác với quan niệm về dịch vụ thông thường. Theo Điều 5.5 Luật Thương mại, dịch vụ thương mại được hiểu gồm những dịch vụ gắn với việc mua bán hàng hóa. Trong Hiệp định thương mại Việt- Mỹ, lại xuất hiện khái niệm thương mại dịch vụ, được định nghĩa là việc cung cấp một dịch vụ (a) từ lãnh thổ của một bên vào lãnh thổ bên kia; (b) tại lãnh thổ của một bên cho người sử dụng dịch vụ của bên kia và (c) bởi một nhà cung cấp dịch vụ của một bên, thông qua sự hiện diện của các thể nhân của một bên tại lãnh thổ của bên kia. Trong Bộ luật dân sự Việt Nam, hợp đồng dịch vụ được hiểu là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên làm dịch vụ thực hiện một công việc cho bên thuê dịch vụ, còn bên thuê dịch vụ phải trả tiền công cho bên làm dịch vụ. Đối tượng của hợp đồng dịch vụ phải là công việc có thể thực hiện được, không bị pháp luật cấm, không trái đạo đức xã hội. Theo Điều 527 Bộ luật dân sự, “bên thuê dịch vụ phải trả tiền công theo thỏa thuận, khi công việc đã hoàn thành; nếu không thỏa thuận về mức tiền công, thì mức tiền công là mức trung bình đối với công việc cùng loại tại thời điểm và địa điểm hoàn thành công việc”.

<< Tác giả bài viết (Bên trái)

Có thể nói, nghề luật sư, cũng như các nghề luật khác, từ bao đời nay được coi là một nghề nghiệp gắn bó với số phận của con người. Đồng chí Lê Duẩn từng căn dặn cán bộ ngành KS,TA,CA: “Lý tưởng của chúng ta là chống áp bức, bóc lột, một lòng một dạ vì nhân dân mà phục vụ. Phải thấu suốt lý tưởng đó, kiên quyết không dung thứ những điều oan ức và không làm điều oan cho bất cứ một ai. Một người bị tội oan, chẳng những người ấy đau khổ, mà gia đình con cái họ càng đau khổ hơn. Làm điều oan cho một người nào đó thì chúng ta không còn lẽ sống nữa, bởi vì chúng ta là những người cộng sản. Cán bộ các ngành CA,TA,KS phải thấy hết trách nhiệm cao cả và nặng nề của mình” (phát biểu tại Hội nghị toàn ngành Kiểm sát tháng 3-1967).

Phần nhiều các ý kiến đều quan niệm luật sư có nhiệm vụ bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp cho bị can, bị cáo đồng thời với nhiệm vụ bảo vệ pháp chế XHCN, tôn trọng sự thật và pháp luật. Hai nhiệm vụ trên không mâu thuẫn với nhau, trái lại gắn bó hữu cơ và mật thiết với nhau. Tuy nhiên, có tác giả lại quan niệm sứ mạng cao cả và thiêng liêng của luật sư là bênh vực và bảo vệ kẻ yếu. “Kẻ yếu” ở đây được hiểu là “người dân trong quan hệ với cơ quan công quyền, người kém hiểu biết hơn và nghèo hơn trong quan hệ với người hiểu biết hơn và giàu hơn…Kẻ yếu, để làm tăng sức mạnh của mình thì có một cách tốt là sử dụng luật sư”10. Quan niệm như trên không phải là một quan niệm đúng cả về phương diện lịch sử và bản chất nghề nghiệp luật sư. Không thể quan niệm quyền lợi người dân như là “kẻ yếu” chỉ vì họ kém hiểu biết hoặc nghèo hơn người khác. Phải nhìn nhận rằng, dân chủ và nhân đạo là bản chất của chế độ XHCN. Nhà nước ta coi trọng quyền của con người. Những quyền này được Hiến pháp quy định (Điều 70): “Công dân có quyền được pháp luật bảo hộ về tính mạng, tài sản, danh dự và nhân phẩm”. Quyền này được nêu thành nguyên tắc cơ bản trong Bộ luật TTHS và được xếp lên hàng đầu. Sự gắn bó của nghề nghiệp luật sư với số phận của con người, bất luận trong trường hợp nào, cũng được coi là sự kết nối tự nhiên, mang tính bản chất. Đối tượng của nghề nghiệp luật sư, vì thế không đơn thuần mang tính dịch vụ và chỉ nghĩ đến việc kiếm lời từ dịch vụ đó, mà trước hết chính là nhằm đáp ứng nhu cầu chính đáng của người dân cần được sự trợ giúp về mặt pháp lý.

Cũng như bất cứ hoạt động nghề nghiệp nào khác, nền tảng hoạt động của nghề luật sư phải dựa trên pháp luật và các quy chế trách nhiệm nghề nghiệp. Pháp luật về luật sư được coi là hệ thống các quy phạm pháp luật xác định vị trí, vai trò của luật sư trong xã hội, quy định các quyền và nghĩa vụ của luật sư trong hành nghề, phạm vi quản lý Nhà nước đối với hoạt động luật sư và tính tự quản trong tổ chức nghề nghiệp luật sư; xử lý vi phạm trong hoạt động nghề nghiệp… Tuy nhiên, khi nói tới quy chế trách nhiệm nghề nghiệp như chuẩn mực nền tảng đạo đức và kỷ luật của hoạt động luật sư thì cũng không có nghĩa là quy chế này “chi phối luật sư cả trong công việc và đời sống riêng của họ” như có tác giả đã đề cập. Ở đây, chúng ta chỉ có thể nói đến sự chi phối trong hoạt động nghề nghiệp và những tác động của hành vi ứng xử của luật sư trong cuộc sống riêng có thể làm ảnh hưởng đến uy tín, danh dự của luật sư.

Tuy đối tượng và phạm vi điều chỉnh của pháp luật và quy chế trách nhiệm nghề nghiệp luật sư có khác nhau, nhưng giữa chúng có mối liên hệ mật thiết và chi phối lẫn nhau. Pháp luật về luật sư có tác dụng như “hành lang”, “khuôn mẫu chung” cho luật sư hoạt động với các quyền và nghĩa vụ cụ thể trước pháp luật, còn quy chế trách nhiệm nghề nghiệp luật sư lại chủ yếu điều chỉnh hành vi ứng xử của luật sư trong hoạt động nghề nghiệp và trong xã hội, tuy không hoàn toàn mang tính bắt buộc nhưng cũng đòi hỏi phải được sự tôn trọng từ phía các luật sư. Trong nhiều trường hợp, đối với nghề nghiệp luật sư, các quy tắc ứng xử thuộc về phạm trù đạo đức lại chi phối và có tác động lớn lao đến uy tín, danh dự của luật sư và ảnh hưởng chi phối rất nhiều đến chất lượng dịch vụ cung cấp cho khách hàng. Sự cộng hưởng qua lại giữa pháp luật và quy tắc trách nhiệm nghề nghiệp trong hoạt động của luật sư là một trong những minh chứng cho mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức nói chúng tôi nhiên, điều chúng tôi muốn bàn thêm chính là ở chỗ, khi xem xét mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức nói chung, người ta không thể không đề cập đến một vấn đề lý luận rất quan trọng là với sự trùng khớp về nội hàm của hai khái niệm này trong mục đích điều chỉnh hành vi của xã hội, cần phải nhìn thấy “tính pháp lý” của các quy phạm đạo đức và “tính đạo đức” của các quy phạm pháp luật. Nhìn lại lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật Việt Nam nói chung và pháp luật về bảo đảm quyền bào chữa của công dân, về luật sư nói riêng, đã có một giai đoạn khá dài trong lịch sử, nhiều quan hệ xã hội được điều chỉnh chủ yếu bằng các hương ước, luật tục và trong nhiều trường hợp, tính “vượt trội” của thứ lệ làng này cao hơn phép nước. Các quy phạm xã hội như hương ước, luật tục đã không chỉ tồn tại dưới dạng truyền khẩu, bất thành văn, mà đã được nâng lên một bước với việc được in ấn dưới nhiều hình thức khác nhau. Nói cách khác, các quy phạm xã hội này được “luật hóa” thông qua việc thể hiện bằng các văn bản mang tính chế ước, có tác dụng cưỡng chế nhất định, thứ cưỡng chế không xuất phát từ quyền lực Nhà nước. Ở chiều ngược lại, nhiều quy phạm pháp luật lại mang tính định hướng, giáo dục hơn là răn đe, trừng phạt.

Vấn đề này có ý nghĩa lý luận to lớn ở chỗ, không chỉ đôi khi các giá trị đạo đức có ý nghĩa ràng buộc trách nhiệm công dân lớn hơn pháp luật, mà thật sự nền tảng phát triển của pháp luật trong đời sống sẽ có một “dung môi” tốt hơn nếu tính tự giác và ý thức pháp luật được hình thành từ đạo lý, từ bề dày lịch sử truyền thống văn hóa của dân tộc. Bất luận trong trường hợp nào, vấn đề cốt lõi là làm sao cho người dân nhận ra được nhu cầu về dịch vụ pháp lý một cách trung thực và lựa chọn được hình thức dịch vụ thích hợp nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Tính chất quốc tế của hoạt động nghề nghiệp luật sư hình thành cùng với sự phát triển của nghề luật sư trong lịch sử. Cùng với sự phát triển của các hình thái kinh tế- xã hội của loài người, các cuộc chiến tranh liên miên đã kéo theo sự xê dịch của các nền văn hóa và pháp lý. Ngày nay, cùng với sự phát triển kinh tế và chủ động hội nhập đời sống quốc tế, luật sư các nước trên thế giới đã mở rộng phạm vi và lĩnh vực hoạt động ra khỏi biên giới quốc gia, đóng một vai trò ngày càng quan trọng trong việc thúc đẩy các quan hệ kinh tế, chính trị, xã hội giữa các nước. Người ta đã quen với hình ảnh bên cạnh các doanh nghiệp quốc tế đến làm ăn tại Việt Nam có một đội ngũ luật sư giúp tư vấn và soạn thảo hợp đồng, tham gia giải quyết tranh chấp. Các hiệp ước song phương và đa phương ký kết giữa các nước có sự tham gia soạn thảo của các luật sư giàu kinh nghiệm. Trong điều kiện đất nước chủ động tham gia tiến trình hội nhập quốc tế, Việt Nam đã ban hành nhiều văn bản pháp quy điều chỉnh hoạt động hành nghề tư vấn pháp luật của tổ chức luật sư nước ngoài tại Việt Nam, theo đó các luật sư nước ngoài chỉ được tư vấn về pháp luật nước ngoài, pháp luật quốc tế trong lĩnh vực đầu tư, kinh doanh, thương mại, không được tư vấn pháp luật Việt Nam, không tham gia tố tụng trước Tòa án Việt Nam. Nhiều luật sư Việt Nam đã tham gia giải quyết các vụ kiện tranh chấp có yếu tố nước ngoài tại các Tòa án, trọng tài quốc tế…

Pháp lệnh luật sư năm 2001 đã cho phép các Văn phòng luật sư, Công ty luật hợp danh được thuê luật sư nước ngoài, hợp tác với tổ chức luật sư nước ngoài theo quy định của pháp luật về hành nghề của luật sư nước ngoài tại Việt Nam; đặt cơ sở hành nghề ở nước ngoài theo quy định của Chính phủ. Nghị định số 94/2001/NĐ-CP ngày 12-12-2001 của Chính phủ đã quy định chi tiết các điều kiện mà tổ chức hành nghề luật sư được đặt cơ sở hành nghề ở nước ngoài, cũng như cử luật sư thực hiện dịch vụ pháp lý ở nước ngoài. Các quy định pháp lý nêu trên đã mở ra khả năng to lớn cho việc nâng cao sức cạnh tranh của đội ngũ luật sư Việt Nam trên trường quốc tế.

Tài liệu tham khảo 1 TS. Phan Hữu Thư, Nghề và nghề luật, Đặc san Nghề luật, Trường Đào tạo các chức danh tư pháp, Số 1/2001, tr. 4. 2 TS. Hà Hùng Cường, Pháp lệnh về hành nghề luật sư ở Việt Nam, Bài giảng vào ngày 26-6-2002 tại Khóa I Lớp đào tạo nguồn luật sư các tỉnh phía Nam tổ chức tại TPHCM. 3 Trường Đào tạo các chức danh tư pháp, Kỹ năng hành nghề luật sư, tập I, Nhà xuất bản Công an nhân dân, Hà Nội, 2001, tr. 11-12. 4 TS. Nguyễn Đình Lộc, Về Pháp lệnh Luật sư năm 2001, Số chuyên đề về Pháp lệnh Luật sư năm 2001, Bộ Tư pháp và Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, tr. 6. 5 TS. Hà Hùng Cường, Pháp lệnh luật sư năm 2001 với việc đáp ứng yêu cầu hội nhập khu vực và thế giới, Số chuyên đề về Pháp lệnh Luật sư năm 2001, Sđd, tr. 23. 6 TS. Phạm Hồng Hải, Về chức năng bào chữa trong tố tụng hình sự, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, Viện Nhà nước và Pháp luật, Số 2 (85), 1994, tr.27. 7 Nguyễn Như Ý (chủ biên), Đại từ điển tiếng Việt, Nhà xuất bản Văn hóa thông tin, Hà Nội, 1999, tr. 1192. 8 TS. Hà Hùng Cường, Pháp lệnh luật sư năm 2001 với việc đáp ứng yêu cầu hội nhập khu vực và thế giới, Sđd, tr. 19. 9 Lê Hồng Sơn- Dương Thu Phương, Hành nghề tư vấn pháp luật của luật sư nước ngoài tại Việt Nam, Số chuyên đề về Pháp lệnh luật sư năm 2001, Sđd, tr. 107-111. 10 Nguyễn Tiến Lập, Tham luận tại Hội thảo Đạo đức nghề nghiệp luật sư, Bộ Tư pháp, TPHCM 3/2001.

Luật Xây Dựng Là Gì? / 2023

Luật xây dựng là gì?

Luật xây dựng quy định về quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, các nhân và quản lý nhà nước trong hoạt động đầu tư xây dựng.

Đối tượng áp dụng: áp dụng đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong nước; tổ chức cá nhân nước ngoài hoạt động đầu tư xây dựng trên lãnh thổ Việt Nam.

Những điểm mới trong Luật xây dựng sửa đổi

Luật xây dựng thay đổi để khắc phục những hạn chế tồn tại và để phù hợp hơn so với Luật hiện hành.

Đặc biệt, 6 nội dung ” cốt lõi” của Luật xây dựng sửa đổi, đặc biệt nhấn mạnh đến yếu tố chống lãng phí đầu tư vốn ngan sách sẽ được siết chặt.

, đa số các Thứ nhấtdự án sử dụng vốn nhà nước đều lựa chọn áp dụng mô hình tổ chức ban quản lý dự án để trực tiếp quản lý từng dự án đầu tư xây dựng đơn lẻ. Cách làm này dẫn đến gia tăng về số lượng ban quản lý dự án, nhưng hạn chế về năng lực.

Để khắc phục, Luật đã bổ sung quy định hình thức ban quản lý chuyên nghiệp, ban quản lý khu vực đối với các công trình đầu tư công.

Không chỉ áp dụng với các dự án vốn ngân sách, những dự án chuyên ngành sử dụng vốn nhà nước ngoài ngân sách của tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước cũng phải vận hành theo cơ chế này.

Thứ hai, Luật tập trung vào vấn đề đổi mới kiểm soát, quản lý chất lượng xây dựng ở tất cả các khâu của quá trình đầu tư.

Trong đó, yêu cầu cơ quan chuyên môn về xây dựng phải tăng cường kiểm soát quá trình xây dựng trong tất cả các khâu nhằm chống thất thoát lãng phí, nâng cao chất lượng công trình xây dựng.

Để khắc phục tình trạng thiếu trách nhiệm trong việc quản lý dự án, Luật xây dựng sửa đổi đã đưa ra 5 hình thức quản lý dự án.

Nét đổi mới chính là yêu cầu phải thành lập các ban quản lý chuyên nghiệp, trong đó có Ban quản lý khu vực, Ban quản lý chuyên ngành thay vì trước đây các ban quản lý được thành lập chủ yếu theo công trình xây dựng.

Với điểm mới này, sẽ giúp giảm bớt đi nhiều số lượng các ban quản lý dự án, tiết kiệm kinh phí, khắc phục tình trạng kéo dài dự án, đội giá, chất lượng kém, thất thoát.

Thứ ba, phạm vi điều chỉnh của Luật xây dựng các hoạt động đầu tư xây dựng từ khâu quy hoạch xây dựng, lập báo cáo nghiên cứu tiến khả thi, báo cáo nghiên cứu khả thi, thẩm định, phê duyệt dự án đầu tư xây dựng cho đến khảo sát, thiết kế thi công xây dựng, nghiệm thu, bàn giao bảo hành, bảo trì các công trình xây dựng. Sự điều chỉnh này áp dụng đối với các dự án đầu tư xây dựng thuộc mọi nguồn vốn.

Đây chính là điểm cốt lõi của Luật xây dựng sửa đổi nhằm quản lý chặt chẽ đối với các dự án sử dụng vốn nhà nước, khắc phục lãng phí thất thoát, nâng cao chất lượng công trình.

Thứ 4, đổi mới cơ chế quản lý chi phí nhằm quản lý chặt chẽ chi phí đầu tư xây dựng nguồn vốn nhà nước, bảo đảm sự bình đẳng về quyền và nghĩa vụ từ các chủ thể tham gia qua hợp đồng xây dựng.

Thứ năm, thống nhất quản lý nhà nước về trật tự xây dựng thông qua việc cấp giấy phép xây dựng, bảo đảm công khai, minh bạch về quy trình, thủ tục cấp giấy phép xây dựng.

Điểm mới chính là quy định trường hợp được miễn giấy phép xây dựng cho nhiều trường hợp, cụ thể: công trình xây dựng thuộc dự án khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao có quy hoạch chi tiết 1/500 đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt; nhà ở thuộc dự án phát triển đô thị, dự án phát triển có quy mô dưới 7 tầng và tổng diện tích sàn dưới 500m2.

Thứ sáu, Luật xây dựng sửa đổi xác định rõ trách nhiệm quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu tưu xây dựng, phân công, phân cấp hợp lý giữa các bộ, ngành, địa phương.

Những quy định mới sẽ xoay quanh nội dung quản lý nhà nước về hoạt động đầu tư xây dựng, trách nhiệm của Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương.

Tất cả những điều ở trên là những điều Luật xây dựng được sửa đổi mới để phù hợp với hiện tại, giúp giảm đi nhiều số lượng các ban quản lý dự án, tiết kiệm kinh phí, khắc phục tình trạng dự án kéo dài, chất lượng kém, thất thoát.

Ân Xá Là Gì? Đặc Xá Là Gì? Đại Xá Là Gì? / 2023

Ân xá hiện nay chưa được pháp luật quy định là gì nhưng ta có thể hiểu ân xá là đặc ân của nhà nước trong việc miễn giảm trách nhiệm hình sự hoặc hình phạt với người phạm tội, thể hiện chính sách nhân đạo của nhà nước ta với những người phạm tội, mở ra cho những người phạm tội khả năng ăn năn hối cải, cải tạo, giáo dục trở thành người có ích cho xã hội và nhanh chóng tái hòa nhập cộng đồng.

Ân xá có hai hình thức thể hiện là đại xá và đặc xá, cụ thể:

Đại xá là sự khoan hồng của Nhà nước do Quốc hội quyết định nhằm tha tội hoàn toàn và triệt để cho một số loại tội phạm nhất định đối với hàng loạt người phạm tội nhân sự kiện quan trọng trong đời sống chính trị của đất nước.

Đặc xá là sự khoan hồng đặc biệt của Nhà nước do Chủ tịch nước quyết định tha tù trước thời hạn cho người bị kết án phạt tù có thời hạn, tù chung thân nhân sự kiện trọng đại, ngày lễ lớn của đất nước hoặc trong trường hợp đặc biệt. (quy định tại Khoản 1 Điều 3 Luật Đặc xá 2018).

Đặc xá: Quyết định số 2230/2016/QĐ-CTN về đặc xá năm 2016 quy định thực hiện đặc xá tha tù trước thời hạn cho người bị kết án phạt tù có thời hạn, tù chung thân nhân dịp Quốc khánh nước CHXHCN Việt Nam (2-9-2016)

Đại xá: Thông tư về sắc lệnh đại xá ngày 20 tháng 10 năm 1945 của Chủ tịch chính phủ lâm thời.

2. Trình tự thủ tục đề nghị đặc xá, đại xá

Hồ sơ đề nghị

Đơn đề nghị đặc xá.

Tài liệu chứng minh về cá nhân, hoàn cảnh gia đình của người được đề nghị đặc xá.

Tài liệu chứng minh đã chấp hành xong hình phạt bổ sung là phạt tiền, đã nộp án phí. Trường hợp được miễn chấp hành hình phạt tiền, miễn nộp án phí phải có quyết định của Tòa án có thẩm quyền.

Bản cam kết không vi phạm pháp luật, chấp hành đầy đủ hình phạt bổ sung không phải là hình phạt tiền, nghĩa vụ trả lại tài sản, bồi thường thiệt hại, nghĩa vụ dân sự khác sau khi được đặc xá.

Văn bản đề nghị đặc xá của Giám thị trại giam, Giám thị trại tạm giam thuộc Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu.

Tờ trình của Chủ tịch nước đề nghị Quốc hội quyết định đại xá;

Dự thảo nghị quyết về đại xá;

Báo cáo của Ủy ban tư pháp của Quốc hội thẩm tra Tờ trình của Chủ tịch nước và dự thảo nghị quyết;

Lập hồ sơ, danh sách người đủ điều kiện được đề nghị đặc xá

Thẩm định hồ sơ đề nghị đặc xá

Thẩm tra, duyệt, kiểm tra hồ sơ đề nghị đặc xá và trình Chủ tịch nước danh sách đề nghị đặc xá

Thực hiện Quyết định đặc xá

Chủ tịch nước trình Quốc hội quyết định đại xá;

Ủy ban tư pháp của Quốc hội trình Quốc hội báo cáo thẩm tra;

Ủy ban thường vụ Quốc hội phối hợp với Chủ tịch nước chỉ đạo, tổ chức việc nghiên cứu, giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo Nghị quyết;

Ủy ban thường vụ Quốc hội báo cáo Quốc hội về việc giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo nghị quyết;

LSX là thương hiệu hàng đầu về dịch vụ luật sư tranh tụng tại Việt Nam

Nội dung tư vấn pháp luật mà LSX cung cấp, Quý vị chỉ nên xem như nguồn tài liệu tham khảo. Để có những những tư vấn rõ ràng và cụ thể hơn, hãy liên hệ với chúng tôi ngay