Siêu Văn Bản Là Gì Nêu Sự Khác Nhau Giữa Siêu Văn Bản Và Trang Web / Top 4 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 2/2023 # Top View | Bac.edu.vn

Sự Khác Nhau Giữa Pdf Và Doc, Văn Bản Pdf Và Word

Các tài liệu đóng một vai trò quan trọng trong cách mà mọi người chia sẻ thông tin với nhau. Theo định nghĩa, tài liệu có chứa văn bản để lưu trữ và chia sẻ các thông tin. Cả PDF và Doc đều có nhiệm vụ là lưu trữ văn bản, tài liệu. Tuy nhiên, có những sự khác nhau giữa PDF và Doc để phân bổ chúng cho những nhiệm vụ riêng biệt.

Sự khác nhau giữa PDF và Doc, phân biệt PDF và Doc

Về bản chất, tài liệu cũng hoạt động như một bản ghi để ghi lại tất cả các loại giao dịch và thông tin liên lạc giữa 2 hoặc nhiều cá nhân hoặc một nhóm. Với các công ty và tổ chức trên thế giới, việc tạo và xử lý tài liệu được coi là nhiệm vụ “cốt lõi” cho mỗi hoạt động của họ.

Cả PDF hay còn gọi là Portable Document Format và DOC đều là định dạng file lưu trữ bất kỳ loại tài liệu nào. Ngay cả với người dùng không có nhiều kinh nghiệm cũng có thể gửi, truy cập và đọc nội dung trong các file PDF và DOC.

Tuy nhiên cũng có những đặc điểm mà người dùng nên biết để phân biệt PDF và Doc. Trước hết, mỗi định dạng được phát triển bởi các công ty khác nhau. PDF là “sản phẩm trí tuệ” của Adobe Systems , còn DOC là “sự sáng tạo” của gã khổng lồ phần mềm Microsoft . Mỗi công ty cũng sản xuất phần mềm sử dụng để tạo và chỉnh sửa tài liệu tương ứng với các định dạng file; Acrobat của Adobe và Word của Microsoft.

Sự khác biệt tiếp theo giữa PDF và DOC là nền tảng chỉnh sửa nội dung của mỗi định dạng. File DOC có thể được tạo ra bằng cách sử dụng Microsoft Word, và có thể được lưu ở định dạng PDF. Khi người dùng muốn chỉnh sửa file này, họ có thể chuyển PDF sang Word và chỉnh sửa trên đó.

Ngược lại, Adobe tạo ra Acrobat để tạo các file PDF nhưng hạn chế khả năng chỉnh sửa nội dung. Điều này là bởi vì PDF được phát triển dưới định dạng phân phối nhiều hơn và được tất cả các nền tảng công nhận.

Đó là lý do tại sao rất ít người dùng sử dụng Acrobat để tạo các tài liệu. Ngoài ra PDF cũng là một nguồn mở vì vậy bất kỳ một cá nhân hay nhà phát triển nào cũng có thể sử dụng PDF để tạo ra các công cụ chỉnh sửa, trái ngược hoàn toàn với DOC – độc quyền của Microsoft.

Sự khác nhau giữa PDF và Doc lớn nhất là việc chuyển giao nội dung. Các tài liệu được tạo trong file DOC thường ít chính xác và nhất quán hơn so với file PDF – giữ lại tất cả những gì mà tác giả viết trong tài liệu. Và bởi vì Microsoft sở hữu độc quyền phần mềm của mình, đòi hỏi có các thiết lập cụ thể để chuyển giao cùng một nội dung từ người dùng này sang người dùng khác.

Ví dụ điển hình cho trường hợp này là khi một người gửi sử dụng font chữ không được cài đặt trên máy tính người nhận để soạn tài liệu. Khi người nhận mở tài liệu, máy tính sẽ tự động thay thế bằng một font chữ khác mà không phải là font chữ ban đầu người gửi đã sử dụng. Chính vì thế mà nhiều người sau khi đã tao văn bản trên Word thường chuyển Word sang PDF để gửi cho bạn bè, có rất nhiều cách để chuyển Word sang PDF mà các bạn có thể áp dụng.

Đôi khi điều này có thể gây ra một số vấn đề, đặc biệt là các file yêu cầu độ chính xác cao, chẳng hạn như logo công ty hay tiêu đề thư, ….

Việc biết được những điểm khác biệt quan trọng giữa PDF và DOC có thể giúp nhân viên văn phòng và nhà quản lý lựa chọn sử dụng các định dạng file một cách khôn ngoan khi xử lý văn bản.

Tóm lại Sự khác nhau giữa PDF và Doc là:

1. DOC là định dạng file được tạo ra bởi Microsoft còn PDF là định dạng file văn bản phổ biến của Adobe Systems.

2. Microsoft Word được sử dụng để tạo và chỉnh sửa các file DOC, còn Adobe Acrobat sử dụng để tạo các file PDF.

3. Có thể sử dụng Word để chỉnh sửa các tài liệu được tạo ra bằng Word nhưng lưu ở định dạng PDF. Còn việc chỉnh sửa file PDF được tạo bằng Acrobat phải thông qua ứng dụng của bên thứ 3.

4. Về bản chất, DOC là độc quyền và PDF là nguồn mở.

https://thuthuat.taimienphi.vn/su-khac-nhau-giua-pdf-va-doc-23764n.aspx 5. Việc chuyển giao nội dung trong file DOC thường kém chính xác hơn, trong khi đó file PDF có thể giữ nguyên chính xác nội dung và hình thức của tài liệu.

1. Hãy Nêu Các Bước Sao Chép Phần Văn Bản? 2. Định Dạng Văn Bản Là Gì? Có Mấy Loại? 3. Con Trỏ Soạn Thảo Là Gì? Hãy Nêu Sự Khác Nhau Và Giống Nhau Về Ý Ngĩa Củ

1. Bước 1: Trong tài liệu Word, các bạn chọn (bôi đen) đoạn văn bản hay hình ảnh, bảng biểu cần sao chép. Sau đó các bạn nhấn phím Shift + F2, phía dưới bên trái của Word sẽ xuất hiện thông báo Copy to Where?. Bước 2: Tiếp theo các bạn cần di chuyển và đặt con trỏ chuột vào vị trí cần sao chép

2.-Là trình bày các phần văn bản nhằm mục đích cho văn bản được rõ ràng và đẹp hơn, nhấn mạnh được phần quan trọng, giúp người đọc nắm bắt dễ hơn các nội dung chủ yếu của văn bản.

– Có 3 loại định dạng:định dạng ký tự, đoạn , trang văn bản.

3.- Giống nhau: Chúng đều là con trỏ trong cửa sổ làm viêc của Word.

– Khác nhau:

+ Con trỏ soạn thảo là một vạch đứng nhấp nháy trên vùng soạn thảo, cho biết vị trí soạn thảo hiện thời.

+ Con trỏ chuột lại có dạng chữ I trên vùng soạn thảo và hình dáng con trỏ chuột có thể thay đổi thành dạng mũi tên hay mũi tên ngược hoặc các dạng khác nhau khi ta di chuyển con trỏ chuột đến những vùng khác nhau trên màn hình.

* Khi ta di chuyển chuột, con trỏ soạn thảo không di chuyển theo.

4. Điều chỉnh hình ảnh trong Word 2016

.Khi cắt ảnh, một phần hình ảnh sẽ bị loại bỏ. Cắt ảnh sẽ hữu ích khi bạn phải xử lý hình ảnh quá to và chỉ muốn sử dụng/lấy một phần của ảnh đó.

Để cắt ảnh đã chèn trong Word 2016 bạn làm theo các bước sau:

Bước 1: Chọn ảnh muốn cắt, tab Format sẽ xuất hiện

Bước 2: Trên tab Format chọn Crop

Bước 3: Khung cắt ảnh hiện ra, bạn nhấp vào nút đen trên cạnh và kéo đến vị trí mong muốn để cắt ảnh. Vì các vị trí của nút cắt ảnh rất gần với nút thay đổi kích thước ảnh, hãy cẩn thận để không nhấn nhầm. Nút đen ở góc sẽ tiện khi bạn cần cắt ảnh theo chiều ngang hoặc dọc.

Bước 4: Để xác nhận, nhấp vào Crop lần nữa, hình ảnh sẽ bị cắt

Nêu Những Điểm Giống Và Khác Nhau Giữa Văn Nghị Luận Trung Đại Và Văn Nghị Luận Hiện Đại

GIỐNG:

– Văn bản nghị luận trung đại và hiện đại đều được viết có lí, có tình, có chứng cứ và sức thuyết phục cao:

+ Có lí: có hệ thống luận điểm chặt chẽ

+ Có tình: thể hiện cảm xúc mà tác giả gửi gắm trong tác phẩm của mình

+ Có chứng cứ: có dẫn chứng thực tế để chứng minh cho luận điểm trở nên thuyết phục

Ba yếu tố trên kết hợp chặt chẽ với nhau tạo nên tác phẩm văn nghị luận trung đại cũng như văn nghị luận hiện đại một cách hoàn chỉnh.

Ví dụ:

– Với tác phẩm văn nghị luận trung đại “Hịch tướng sĩ” của Trần Quốc Tuấn và tác phẩm văn nghị luận hiện đại “Bài toán dân số” của Thái An, chúng ta có thể thấy được 2 tác phẩm này đều có chung những đặc điểm trên.

KHÁC:

– Hình thức của văn nghị luận trung đại thường được cố định ở một số thể loại riêng biệt như: chiếu, hịch, cáo, tấu…

– Còn trong nghị luận hiện đại thì hình thức co duỗi tự nhiên, câu văn sinh động, phong phú, có nhiều yếu tố khác cùng tham gia vào quá trình lập luận (chẳng hạn như biểu cảm, tự sự, miêu tả, …)

– Nghị luận trung đại: có nhiều từ ngữ cổ, cách diễn đạt cổ: nhiều hình ảnh và hình ảnh thường có tính chất ước lệ, câu văn biền ngẫu sóng đôi nhịp nhàng(Hịch tướng sĩ, Nước Đại Việt ta), dùng nhiều điển tích, điển cố,…Văn phong ấy khá gần với văn phong sáng tác, nên người ta đã nói ở thời trung đại “văn sử triết bất phân”.

– Văn nghị luận hiện đại viết giản dị, câu văn gần lời nói thường, gần đời sống hơn.

Văn nghị luận trung đại còn mang đậm dấu ấn của thế giới quan con người trung đại: tư tưởng thiên mệnh, đạo thần chủ, tâm lí sùng cổ dẫn đến việc sử dụng điển cổ, điển tích một cách phổ biến, …

– Về nội dung:

+ Văn nghị luận trung đại thường bàn tới những vấn đề to lớn, quan hệ tới quốc kế, dân an.

+ Văn nghị luận hiện đại có đề tài rộng hơn, phong phú hơn. Những vấn đề đời thường cũng được đưa ra đề nghị luận. Chẳng hạn “Ôn dịch thuốc lá”,…

Http Là Gì ? Giao Thức Truyền Siêu Văn Bản Tạo Nên Mạng Internet

HTTP được Tim Berners-Lee khởi xướng tại CERN năm 1989. Phát triển HTTP ban đầu là nỗ lực phối hợp của Internet Engineering Task Force (IETF) và Hiệp hội mạng toàn cầu (W3C), sau đó công việc được chuyển sang IETF thực hiện.

HTTP/1.1 lần đầu tiên được ghi nhận trong RFC 2068 vào năm 1997. Đặc điểm kỹ thuật đó đã bị RFC 2616 thay thế vào năm 1999, và sau đó là RFC 7230 vào năm 2014.

HTTP/2 là một phiên bản giao thức hiệu quả hơn được công bố vào năm 2015; hiện được hỗ trợ bởi các máy chủ web và trình duyệt chính qua lớp vận chuyển bảo mật (TLS) bằng cách sử dụng tiện ích mở rộng Application-Layer Protocol Negotiation (ALPN) yêu cầu TLS 1.2 hoặc mới hơn.

HTTP/3 là sự kế thừa được đề xuất cho HTTP/2, đã được sử dụng trên web, sử dụng UDP thay vì TCP cho giao thức truyền tải cơ bản. Giống như HTTP/2, nó không bị lỗi thời trước các phiên bản chính của giao thức. Hỗ trợ cho HTTP/3 đã được thêm vào Cloudflare và Google Chrome (bản dựng Canary) vào tháng 9 năm 2019.

Tổng quan kỹ thuật giao thức HTTP

Các chức năng HTTP cung cấp giao thức truyền trong mô hình máy chủ – khách. Một trình duyệt web có thể là khách và một máy tính lưu trữ trang web có thể là máy chủ. Máy khách gửi một thông báo yêu cầu HTTP đến máy chủ. Máy chủ, cung cấp các tài nguyên như tệp HTML và nội dung khác hoặc thực hiện các chức năng khác thay cho máy khách, trả về thông báo phản hồi cho máy khách. Phản hồi chứa thông tin trạng thái hoàn thành về yêu cầu và cũng có thể chứa nội dung được yêu cầu.

Trình duyệt web là một ví dụ về tác nhân người dùng (UA). Các loại tác nhân người dùng khác bao gồm phần mềm lập chỉ mục được sử dụng bởi các nhà cung cấp dịch vụ tìm kiếm (trình thu thập dữ liệu web ), trình duyệt giọng nói, ứng dụng di động và phần mềm khác truy cập, hiển thị nội dung web.

HTTP được thiết kế để làm gì ?

Cho phép các thành phần mạng liên lạc giữa máy khách và máy chủ. Các trang web lưu lượng truy cập cao thường được sử dụng các bộ đệm web cung cấp nội dung thay cho các máy chủ thật để cải thiện thời gian phản hồi. Các trình duyệt web lưu trữ tài nguyên web đã truy cập trước đó và sử dụng lại chúng khi có thể, để giảm lưu lượng mạng. Các máy chủ proxy HTTP tại các mạng riêng có thể tạo kết nối cho máy khách bằng cách chuyển tiếp gói tin với các máy chủ bên ngoài.

HTTP là một giao thức lớp ứng dụng được thiết kế trong bộ giao thức Internet, có chức năng vận chuyển cơ bản và đáng tin cậy

HTTP được xác định bằng các Uniform Resource Locators (URL). Ví dụ: bao gồm tất cả các thành phần tùy chọn:

HTTP/1.1 là bản sửa đổi của HTTP gốc (HTTP/1.0). Trong HTTP/1.0, một kết nối riêng biệt gửi đến cùng một máy chủ cho mọi yêu cầu tài nguyên. HTTP/1.1 có thể sử dụng lại kết nối nhiều lần để tải xuống hình ảnh, scripts, stylesheets, v.v … sau khi trang được gửi. Do đó, phiên bản HTTP/1.1 có độ trễ ít hơn do việc thiết lập kết nối TCP tốn thời gian đáng kể.

Tìm kiếm bởi Google

http request là gì

http protocol là gì

https và http là gì

http có nghĩa là gì

siêu văn bản http là gì