Tạp Chí Luật Sư Online / TOP #10 ❤️ Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 8/2022 ❣️ Top View | Bac.edu.vn

Sfam: San Francisco Luật Sư Tạp Chí

Golden Gate University School Of Law, San Francisco, Hoa Kỳ

San Francisco Sẽ Xóa Bỏ Hàng Ngàn Án Tù Liên Quan Đến Cần Sa Từ Năm 1975

Vợ Chồng Gốc Á Mua Đứt Con Phố Ở San Francisco Vướng Kiện Tụng

A’ Design Award And Competition

Download Factors Associated With Alexithymia Among The Lebanese Population: Results Of A Crosssectional Study

SFAM có nghĩa là gì? SFAM là viết tắt của San Francisco luật sư tạp chí. Nếu bạn đang truy cập phiên bản không phải tiếng Anh của chúng tôi và muốn xem phiên bản tiếng Anh của San Francisco luật sư tạp chí, vui lòng cuộn xuống dưới cùng và bạn sẽ thấy ý nghĩa của San Francisco luật sư tạp chí trong ngôn ngữ tiếng Anh. Hãy nhớ rằng chữ viết tắt của SFAM được sử dụng rộng rãi trong các ngành công nghiệp như ngân hàng, máy tính, giáo dục, tài chính, cơ quan và sức khỏe. Ngoài SFAM, San Francisco luật sư tạp chí có thể ngắn cho các từ viết tắt khác.

SFAM = San Francisco luật sư tạp chí

Tìm kiếm định nghĩa chung của SFAM? SFAM có nghĩa là San Francisco luật sư tạp chí. Chúng tôi tự hào để liệt kê các từ viết tắt của SFAM trong cơ sở dữ liệu lớn nhất của chữ viết tắt và tắt từ. Hình ảnh sau đây Hiển thị một trong các định nghĩa của SFAM bằng tiếng Anh: San Francisco luật sư tạp chí. Bạn có thể tải về các tập tin hình ảnh để in hoặc gửi cho bạn bè của bạn qua email, Facebook, Twitter, hoặc TikTok.

Như đã đề cập ở trên, SFAM được sử dụng như một từ viết tắt trong tin nhắn văn bản để đại diện cho San Francisco luật sư tạp chí. Trang này là tất cả về từ viết tắt của SFAM và ý nghĩa của nó là San Francisco luật sư tạp chí. Xin lưu ý rằng San Francisco luật sư tạp chí không phải là ý nghĩa duy chỉ của SFAM. Có thể có nhiều hơn một định nghĩa của SFAM, vì vậy hãy kiểm tra nó trên từ điển của chúng tôi cho tất cả các ý nghĩa của SFAM từng cái một.

Ý nghĩa khác của SFAM

Bên cạnh San Francisco luật sư tạp chí, SFAM có ý nghĩa khác. Chúng được liệt kê ở bên trái bên dưới. Xin vui lòng di chuyển xuống và nhấp chuột để xem mỗi người trong số họ. Đối với tất cả ý nghĩa của SFAM, vui lòng nhấp vào “thêm “. Nếu bạn đang truy cập phiên bản tiếng Anh của chúng tôi, và muốn xem định nghĩa của San Francisco luật sư tạp chí bằng các ngôn ngữ khác, vui lòng nhấp vào trình đơn ngôn ngữ ở phía dưới bên phải. Bạn sẽ thấy ý nghĩa của San Francisco luật sư tạp chí bằng nhiều ngôn ngữ khác như tiếng ả Rập, Đan Mạch, Hà Lan, Hindi, Nhật bản, Hàn Quốc, Hy Lạp, ý, Việt Nam, v.v.

Luật Sư Phe Ông Trump Và Biden Đến Florida Để ‘bảo Vệ Phiếu Bầu’

Hoá Thân Thành “thần Chết” Đi Khắp Các Bãi Biển Để Mọi Người Ở Nhà

Luật Sư Ở Florida Kêu Gọi Đảng Viên Đến Georgia Đăng Ký Bỏ Phiếu Bất Hợp Pháp

Cháy Lớn Tại Chợ Người Việt Ở Footscray: Thiệt Hại Lên Đến Con Số Gần 300 Tỷ

Không Đá Nh, Không M Ắng, Các Trường Mầm Non Ở Mỹ ‘p Hạt’ Trẻ Em Như Thế Nào?

Khai Trương Tạp Chí Điện Tử Luật Sư Việt Nam

Seattle, W Ashington Portland , O Regon Thل”© Sأ،u, Ngأ Y 5 … Hiل”ƒu Vل”پ Luل؛­t Di Trأ؛ Tل”* Chل”©C

Cảnh Sát Trưởng Seattle: “khu Tự Trị” Tràn Ngập Các Vụ Cưỡng Hiếp, Cướp Giật Và Bạo Lực

Chiều Lòng Mỹ, Tq Đưa Ra Dự Luật Cấm Cưỡng Chế Chuyển Giao Công Nghệ

Luật Sư Tiết Lộ Chấn Động Vụ Tmv Cát Tường

Chân Dung Trần Vũ Hải

Tại buổi Lễ, lãnh đạo Liên đoàn Luật sư Việt Nam đã trao các quyết định của Bộ Thông tin và Truyền thông về cấp Giấy phép hoạt động của báo điện tử; Quyết định thành lập Tạp chí điện tử Luật sư Việt Nam; Quyết định bổ nhiệm Tổng biên tập và Phó tổng biên tập Tại chí điện tử Luật sư Việt Nam.

Chủ tịch LĐLSVN Đỗ Ngọc Thịnh trao Giấy phép hoạt động Báo điện tử TBT Tạp chí điện tử LSVN

Tạp chí Luật sư Việt Nam (TCLSVN) được thành lập từ tháng 3/2014 đến nay, với tôn chỉ, mục đích tuyên truyền chủ trương của Đảng; chính sách, phát luật của nhà nước; trao đổi nghiệp vụ, thông tin về hoạt động nghề nghiệp của luật sư; đăng tải các bài lý luận khoa học, hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ của LĐLSVN và là diễn đàn của giới luật sư Việt Nam; cung cấp những kinh nghiệm quản lý, các vấn đề kinh tế – xã hội đến bạn đọc trong nước và quốc tế, góp phần nâng cao vai trò, vị thế của giới luật sư Việt Nam. Tạp chí là cơ quan báo chí đầu tiên của LĐLSVN.

Phát biểu tại buổi khai trương, TS. LS Đỗ Ngọc Thịnh: Kể từ ngày hôm nay, LĐLSVN có thêm một tờ điện tử. Sự kiện này đánh dấu bước phát triển mới của cơ quan ngôn luận LĐLSVN và đội ngũ luật sư Việt Nam. Tạp chí điện tử Luật sư Việt Nam là niềm mong mỏi của đội ngũ luật sư Việt Nam trong việc cung cấp thông tin nhanh, kịp thời, đa dạng về các hoạt động của LĐLSVN và hoạt động nghề nghiệp giới luật sư. Đồng thời, phản ánh những vấn đề nóng trong cộng đồng xã hội góp phần đóng góp tích cực vào công cuộc cải cách tư pháp, thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội, đảm bảo an ninh và an toàn xã hội.

Giao diện Tạp chí điện tử Luật sư Việt Nam (www.lsvn.vn)

Việc Liên đoàn Luật sư Việt Nam và Tạp chí Luật sư Việt Nam được Bộ Thông tin và Truyền thông cấp Giấy phép hoạt động báo điện tử số 164/GP-BTTTT ngày 20/4/2017 có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong hoạt động thông tin, tuyền truyền của LĐLSVN, góp phần tạo điều kiện để giới Luật sư Việt Nam thực hiện tốt sứ mệnh bảo vệ công lý, tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật đến các tầng lớp nhân dân.

PV

Một Phóng Viên Và Hai Cộng Tác Viên Tạp Chí Luật Sư Việt Nam Online Bị Đánh Khi Tác Nghiệp Ở Đắk Lắk

Tổng Đài Công Ty Tư Vấn Về Pháp Luật Đất Đai Qua Điện Thoại Online Miễn Phí Trực Tuyến Do Luật Sư Giỏi Giải Đáp

Tư Vấn Luật Đất Đai Online

Luật Sư Tư Vấn Pháp Luật Đất Đai Online Miễn Phí Qua Tổng Đài

Luật Sư Đỗ Phủ Bất Ngờ Việc Minh Béo Nhận 2 Tội Danh

​giới Thiệu Tạp Chí Nghề Luật

Luật Sư Tư Vấn Ly Hôn Tại Đà Nẵng

Hồ Sơ, Thủ Tục Ly Hôn Tại Quảng Nam, Đà Nẵng

Luật Sư Chuyên Ly Hôn Đà Nẵng Tư Vấn: Án Phí Và Chi Phí Ly Hôn Đơn Phương

Luật Sư Tư Vấn Ly Hôn Tại Tp Hcm

Luật Sư Ly Hôn Tại Tp Hcm Uy Tín, Ly Hôn Nhanh, Trọn Gói Tại Hồ Chí Minh

Tạp chí Nghề luật là cơ quan ngôn luận của Học viện Tư pháp được thành lập theo Quyết định số 2224/QĐ-BTP ngày 16 tháng 11 năm 2005 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp và hoạt động theo Giấy phép hoạt động báo chí số 141/GP-BVHTT ngày 21/10/2005 của Bộ trưởng Bộ Văn hóa – Thông tin với thời hạn hoạt động 05 năm kể từ ngày ký Giấy phép, gia hạn hoạt động theo Giấy pháp hoạt động báo chí số 1144/GP-BTTTT ngày 22/6/2012 của Bộ Thông tin và truyền thông với thời hạn cấp phép 10 năm kể từ ngày ký giấy phép. Kỳ hạn xuất bản 01 kỳ/02 tháng; khuôn khổ 19cm x 26,5 cm, số trang: 60, số lượng tin tối đa 3.000 bản/ 01 kỳ; nơi in tại Hà Nội. Giá bìa hiện nay 15.000đ/số.

Ngày 15 tháng 4 năm 2022, Bộ Thông tin và Truyền thông đã cấp Giấy phép sửa đổi, bổ sung số 195/GP-BTTTT cho phép Tạp chí Nghề luật tăng kỳ xuất bản từ 02 tháng/số lên 01 tháng/số từ tháng 5 năm 2022.

Theo Giấy phép hoạt động, Tạp chí Nghề luật hoạt động với tôn chỉ, mục đích như sau:

– Tuyên truyền, phổ biến về chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước trên lĩnh vực tư pháp;

– Thông tin về hoạt động đào tạo và nghiên cứu khoa học của Học viện Tư pháp;

– Nâng cao trình độ, kỹ năng tác nghiệp của những người làm nghề luật; là diễn đàn cho các chức danh tư háp, những người học tập và nghiên cứu trong lĩnh vực pháp luật

Đối tượng phục vụ của Tạp chí là các nhà lập pháp, giảng viên, học viên Học viện Tư pháp; sinh viên các cơ sở đào tạo luật học; đội ngũ những người giữ các chức danh tư pháp, bổ trợ tư pháp và nhân dân

Tạp chí Nghề luật đã được Hội đồng chức danh giáo sư Nhà nước công nhận là Tạp chí có điểm khoa học tại các Hội đồng chức danh Giáo sư ngành Khoa học An ninh và Hội đồng chức danh Giáo sư ngành Luật học (từ 0-0,5 điểm).

Cơ cấu tổ chức của Tạp chí Nghề luật:

1. Tổng biên tập Tạp chí Nghề luật: TS. Nguyễn Xuân Thu – Phó Giám đốc Học viện Tư pháp(được bổ nhiệm theo Quyết định số 1274/QĐ-BTP ngày 30 tháng 11 năm 2022 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp).

2. Phó Tổng biên tập Tạp chí Nghề luật: chúng tôi Nguyễn Minh Hằng(được bổ nhiệm theo Quyết định số 1276/QĐ-BTP ngày 30 tháng 11 năm 2022 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp).

Phó Tổng biên tập Tạp chí Nghề luật: TS. Nguyễn Thanh Phú ( được bổ nhiệm theo Quyết định số 1275/QĐ-BTP ngày 30 tháng 11 năm 2022 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp).

3. Thư ký Tòa soạn: ThS. Đỗ Thị Thu Hằng-Phó Trưởng Phòng Quản lý khoa học và Trị sự Tạp chí Nghề luật(được bổ nhiệm theo Quyết định số 134/QĐ-HVTP ngày 12 tháng 01 năm 2022 của Giám đốc Học viện Tư pháp)

Ban biên tập:

Theo Quyết định số 422/QĐ-HVTP ngày 6 tháng 5 năm 2022 của Giám đốc Học viện Tư pháp về việc kiện toàn Ban Biên tập Tạp chí Nghề luật và Quyết định số 1011/QĐ-HVTP ngày 14/10/2016 của Giám đốc Học viện Tư pháp về việc bổ sung thành viên Ban Biên tập, hiện nay Ban biên tập có 14 thành viên:

– TS. Đoàn Trung Kiên – Giám đốc Học viện Tư pháp;

– TS. Nguyễn Xuân Thu – P. Giám đốc Học viện Tư pháp;

– TS. Lê Mai Anh – Nguyên Phó Giám đốc Học viện Tư pháp;

– TS. Nguyễn Thanh Phú – Trưởng Phòng QLKH&TSTCNL;

– chúng tôi Nguyễn Minh Hằng – Trưởng Khoa Đào tạo Luật sư;

– TS. Lê Thu Hằng – Khoa Đào tạo Luật sư;

– TS. Trần Thanh Phương – Trưởng Khoa Đào tạo các chức danh thi hành án dân sự;

– ThS. Phạm Thị Thúy Hồng – Phó Trưởng Khoa PT Khoa ĐT Công chứng viên và các chức danh khác;

– ThS. Trần Minh Tiến – Trưởng Phòng Đào tạo và Công tác học viên;

– TS. Ngô Thị Ngọc Vân – Phó Trưởng Khoa ĐT Luật sư;

– TS. Đồng Thị Kim Thoa – Phó Trưởng Khoa ĐT Công chứng viên và các chức danh khác;

– TS. Trần Văn Bách – Giám đốc Trung tâm Khảo thí và Đảm bảo chất lượng;

– TS. Nguyễn Thị Vân Anh – Khoa Đào tạo Luật sư;

– ThS. Đỗ Thị Thu Hằng – P. Trưởng Phòng QLKH&TSTCNL

Ban trị sự

– ThS. Vũ Thị Thu Thủy- Phòng Quản lý khoa học và Trị sự Tạp chí Nghề luật, Trưởng Ban

– CN. Nguyễn Thị Hương- Phòng Quản lý khoa học và Trị sự Tạp chí Nghề luật, Trị sự viên

– CN. Hà Thị Lan Anh- Phòng Quản lý khoa học và Trị sự Tạp chí Nghề luật, Trị sự viên

– BTV. Nguyễn Thị Thanh Hương- Trung tâm Thông tin – Thư viện, Trị sự viên.

Kết quả phát hành Tạp chí

Từ năm 2005 đến tháng 9/2017, Tạp chí Nghề luật đã xuất bản được 79 số thường kỳ và số chuyên đề

Số lượng xuất bản từ năm 2001-2017

Thể Lệ Gửi Bài Cho Tạp Chí Nhà Nước Và Pháp Luật

Vingroup Và Sự Trỗi Dậy Đầy Nghi Vấn Của Một Đế Chế Kinh Tế

Tư Vấn Ly Hôn Miễn Phí Qua Zalo, Facebook

Trang Thơ Lưu Trọng Lư (100 Bài Thơ)

Phân Tích Bài Thơ Tiếng Thu Của Lưu Trọng Lư

Một Phóng Viên Và Hai Cộng Tác Viên Tạp Chí Luật Sư Việt Nam Online Bị Đánh Khi Tác Nghiệp Ở Đắk Lắk

Khai Trương Tạp Chí Điện Tử Luật Sư Việt Nam

Seattle, W Ashington Portland , O Regon Thل”© Sأ،u, Ngأ Y 5 … Hiل”ƒu Vل”پ Luل؛­t Di Trأ؛ Tل”* Chل”©C

Cảnh Sát Trưởng Seattle: “khu Tự Trị” Tràn Ngập Các Vụ Cưỡng Hiếp, Cướp Giật Và Bạo Lực

Chiều Lòng Mỹ, Tq Đưa Ra Dự Luật Cấm Cưỡng Chế Chuyển Giao Công Nghệ

Luật Sư Tiết Lộ Chấn Động Vụ Tmv Cát Tường

Trong lúc tác nghiệp , phóng viên Trương Thế Hùng (tạp chí Luật sư Việt Nam online) cùng 2 cộng tác viên là Lê Thành Tân và Nguyễn Văn Trí bị nhóm côn đồ đánh.

Chiều 4/11, trả lời VTC News , Đại tá Đỗ Văn Xuyền – Trưởng Công an huyện Krông Búk (Đắk Lắk) cho biết, vừa chỉ đạo kiểm tra hiện trường và truy tìm nhóm thanh niên hành hung 1 phóng viên và 2 cộng tác viên khi đang tác nghiệp .

Cũng theo Đại tá Xuyền, 3 người bị đánh đã đến cơ quan điều tra trình báo.

Hai cộng tác viên của tạp chí Luật sư Việt Nam online đến trình báo công an về sự việc.

Khoảng 14h30 cùng ngày, phóng viên Trương Thế Hùng (tạp chí Luật sư Việt Nam online) cùng 2 cộng tác viên là Lê Thành Tân và Nguyễn Văn Trí nhận thông tin phản ánh của người dân về tình trạng khai thác đất trái phép ở Km 54 (xã Chư KPo 500) huyện Krông Búk nên đến ghi hình.

Trong quá trình ghi lại chứng cứ, nhóm phóng viên , cộng tác viên của tạp chí Luật sư Việt Nam online bị một nhóm thanh niên (khoảng 6 người) xông vào đánh tới tấp và đe dọa, yêu cầu nhóm phóng viên xóa hình ảnh.

Hiện trường khai thác đất ở huyện Krông Búk.

Không còn cách nào khác, anh Trương Thế Hùng cùng 2 cộng tác viên xóa hình ảnh trong máy và được nhóm côn đồ này cho về.

“Lúc tôi quay hình có xe múc và 2 xe ben đang chuẩn bị chở đất đi. Phát hiện tôi quay hình, nhóm côn đồ không chịu nghe giải thích mà lao vào đánh khiến tôi bị ê ẩm cả người. Miệng tôi bị sưng và đau khắp người, tôi mong cơ quan chức năng vào cuộc để xử lý”, anh Trương Thế Hùng nói.

THANH HẢI

Theo VTC

Hội Nhà báo Việt Nam đề nghị Đà Nẵng điều tra, làm rõ vụ nhà báo bị doạ giết

Chiều 16/10, ông Phan Hữu Minh – Trưởng ban Kiểm tra Hội Nhà báo Việt Nam đã có công văn gửi UBND TP Đà Nẵng, Công an TP Đà Nẵng đề nghị xử lý vụ việc phóng viên Nguyễn Thanh Ba – Báo điện tử VTCNews bị hành hung, doạ giết khi tác nghiệp tại khu vực bãi rác Khánh Sơn.

Văn bản của Ban Kiểm tra Hội Nhà báo Việt Nam gửi UBND TP Đà Nẵng và Công an Đà Nẵng đề nghị làm rõ vụ việc phóng viên Báo điện tử VTCNews bị doạ giết.

Theo báo cáo của Ban biên tập Báo điện tử VTCNews, chiều ngày 15/10, trong khi đang tác nghiệp tại khu vực bãi rác Khánh Sơn (phường Hòa Khánh Nam, quận Liên Chiểu, TP Đà Nẵng), phóng viên Nguyễn Thanh Ba cùng đồng nghiệp đã bị bảo vệ của Xí nghiệp quản lý bãi và xử lý chất thải, Công ty CP Môi trường Đô thị Đà Nẵng bắt giữ trái phép, hành hung, dọa giết, chôn sống…

Báo cáo của Ban Biên tập Báo điện tử VTCNews cho rằng phóng viên Nguyễn Thanh Ba tác nghiệp đúng quy trình tác nghiệp của tòa soạn và Luật Báo chí.

“Để bảo vệ quyền hành nghề hợp pháp của hội viên – nhà báo, Hội Nhà báo Việt Nam trân trọng đề nghị UBND, Công an TP. Đà Nẵng chỉ đạo các đơn vị chức năng khẩn trương điều tra, làm rõ vụ việc và có hình thức xử lý thích đáng các đối tượng đã tham gia vào vụ việc hành hung, cản trở nhà báo tác nghiệp nêu trên và thông báo kết quả điều tra, xử lý với Hội Nhà báo Việt Nam bằng văn bản”-văn bản do ông Phan Hữu Minh ký nêu rõ.

Như Dân trí đã thông tin, trong đơn trình báo Công an phường Hòa Khánh Nam, phóng viên Nguyễn Thanh Ba cho biết, được sự đồng ý của toà soạn Báo điện tử VTC News, anh đã cùng một đồng nghiệp báo Quân đội nhân dân đến thực tế, tìm hiểu vấn đề ô nhiễm tại bãi rác Khánh Sơn. Đường vào bãi rác không hề có tường rào, cổng ngõ và biển cấm vào.

Sau nửa giờ tác nghiệp tại hiện trường, anh Ba cùng đồng nghiệp di chuyển ra khu vực gửi xe để về thì bị một người mặc trang phục bảo vệ liên tục buông lời tục tĩu, chửi bới, đồng thời lao tới khống chế, đòi đánh.

Phóng viên Nguyễn Thanh Ba trình báo sự việc tại cơ quan công an.

“Khi tiến tới, ông này túm áo, khóa tay tôi lại. Tại hiện trường lúc này còn có một bảo vệ khác và khoảng 7-8 người của công ty phụ trách bãi rác. Tôi liên tục nghe lời hăm dọa từ nhóm người này với nội dung: “Giết, chôn tụi hắn đi..”. Đồng nghiệp đi cùng anh Ba đưa điện thoại lên ghi lại thì bị bảo vệ hất tay, ngăn cản” – phóng viên này tường trình

Chưa dừng lại, theo tường trình, người mặc trang phục bảo vệ ở bãi rác Khánh Sơn còn mở ba lô của nam phóng viên VTCNews tịch thu 1 laptop, rồi khống chế đưa về phòng làm việc của công ty. Sau một giờ làm việc với một người tên Hưng, phóng viên này liên lạc được với đồng nghiệp bên ngoài và được phía công ty cho rời khỏi hiện trường.

Thế Kha

​Theo Dantri

Tổng Đài Công Ty Tư Vấn Về Pháp Luật Đất Đai Qua Điện Thoại Online Miễn Phí Trực Tuyến Do Luật Sư Giỏi Giải Đáp

Tư Vấn Luật Đất Đai Online

Luật Sư Tư Vấn Pháp Luật Đất Đai Online Miễn Phí Qua Tổng Đài

Luật Sư Đỗ Phủ Bất Ngờ Việc Minh Béo Nhận 2 Tội Danh

Luật Sư Đỗ Phủ: Sẽ Cố Gắng Giúp Minh Béo Được Tại Ngoại Hầu Tra

Tạp Chí Xây Dựng Đảng

Đổi Mới, Nâng Cao Chất Lượng Xuất Bản: Tiền Đề Để Phát Triển Văn Hóa Đọc

Sửa Luật Để Dẹp Loạn Thị Trường Xuất Bản

Luật Xuất Bản 2008 Sửa Đổi 12/2008/qh12

Luật Xuất Bản Sửa Đổi 2008

Luật Báo Chí 2022, Luật Số 103/2016/qh13 2022

Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng trao đổi với các đại biểu

Vai trò quản lý nhà nước và chính sách đối với hoạt động xuất bản. Nhiều đại biểu có ý kiến đề nghị cần tăng cường phân cấp quản lý về hoạt động xuất bản giữa trung ương, địa phương và cơ sở; trao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các chủ thể tham gia hoạt động xuất bản; rõ hơn nội dung công tác quản lý nhà nước về hoạt động xuất bản. Đại biểu Trần Thị Diệu Thúy (TP. Hồ Chí Minh) đề nghị nên phân cấp về một số địa phương đọc và chịu trách nhiệm về nội dung một số xuất bản phẩm để giảm tải cho Bộ Thông tin truyền thông. Đối với chính sách của Nhà nước đối với hoạt động xuất bản cần quy định cụ thể chính sách phát triển sự nghiệp xuất bản, các chính sách cần xứng tầm với vị trí, vai trò của hoạt động xuất bản, bảo đảm tính chiến lược và khả thi. Quy định tập trung ưu tiên, hỗ trợ cho lĩnh vực xuất bản, chỉ ưu tiên cho các cơ sở thực hiện các nhiệm vụ phục vụ đối tượng, địa bàn thuộc diện ưu tiên của Nhà nước và các nhiệm vụ chính trị, an ninh, quốc phòng, thông tin đối ngoại. Đại biểu Nguyễn Thành Tâm (Tây Ninh) cho rằng các chính sách được quy định còn rất chung, để đảm bảo có thể áp dụng được trong thực tế đề nghị bổ sung thêm một khoản quy định là Chính phủ quy định cụ thể các chính sách ưu đãi, hỗ trợ được quy định tại điều này, đảm bảo mục tiêu đối tượng hiệu quả và phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế – xã hội của từng thời kỳ. Với đại biểu Lê Đắc Lâm (Bình Thuận) hoạt động xuất bản có tính chất đặc thù nên nhà nước phải có chính sách đối với hoạt động xuất bản là phù hợp trong điều kiện nước ta hiện nay chưa có nhà xuất bản tư nhân. Nhà nước cần có chiến lược quy hoạch phát triển mạng lưới các nhà xuất bản, hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực, ưu đãi về thuế, lãi suất vay vốn, hỗ trợ kinh phí đầu tư xây dựng, ưu đãi về tiền thuê nhà đất, chính sách trợ giá, trợ cước.

Tổ chức bộ máy và nhân sự của nhà xuất bản.Nhiều ý kiến đề nghị không nên bó hẹp đối tượng thành lập nhà xuất bản để phát huy các nguồn lực xã hội đầu tư cho sự nghiệp xuất bản và tạo điều kiện cho ngành xuất bản phát triển năng động hơn. Có đại biểu đề nghị cần quy định rõ trong Luật về các tổ chức khác được thành lập nhà xuất bản. Bên cạnh đó, đại biểu thấy quy định về mô hình hoạt động của nhà xuất bản như trong Dự thảo Luật chưa bao quát được hết các loại hình đang tồn tại trong thực tiễn. Đại biểu Đinh Thị Mai Lan (Cao Bằng) cho rằng đối tượng được quy định trong Luật chưa rõ ràng. Nên quy định rõ ràng, đầy đủ về sản phẩm in, phát hành trong thực tế… Vì hiện tại không thống nhất trong quản lý nhà nước về vấn đề này.

Nhiều ý kiến đề nghị cần quy định về loại hình tổ chức nhà xuất bản mở hơn, tạo nhiều cơ hội lựa chọn hơn về mô hình cho các nhà xuất bản, tạo điều kiện để các nhà xuất bản năng động hơn trên cơ sở phát huy quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong tổ chức sản xuất, kinh doanh. Nhà nước cần quy định chặt chẽ các điều kiện thành lập nhà xuất bản, tránh tình trạng nhiều nhà xuất bản ra đời mà không đủ điều kiện hoạt động dẫn đến chất lượng yếu kém. Đại biểu Lê Hữu Phước (Bình Dương) kiến nghị cần cho phép tư nhân tham gia thành lập Nhà xuất bản để phát huy nguồn lực xã hội nhưng pháp luật cần có quy định chặt chẽ hơn.

Đối với tổ chức, nhân sự của nhà xuất bản nhiều đại biểu đề nghị nên cụ thể tiêu chuẩn, nhiệm vụ và quyền hạn của các chức danh tổng giám đốc (giám đốc), tổng biên tập, biên tập viên của nhà xuất bản. Đại biểu Đinh Thị Mai Lan (Cao Bằng) đánh giá dự thảo Luật lần này đã được mở rộng hơn nhưng vẫn có sự bó hẹp, không nên áp đặt các chức danh mà để nhà xuất bản tự thực hiện… Có đại biểu đề nghị bổ sung quy định cụ thể về tiêu chuẩn, nhiệm vụ và quyền hạn của chức danh chủ tịch hội đồng thành viên trong Dự thảo Luật và thêm tiêu chuẩn về trình độ cao cấp lý luận chính trị cho người lãnh đạo của nhà xuất bản. Đại biểu Phạm Thị Trung (Kon Tum) quan tâm đến đội ngũ đọc lưu chiểu của cơ quan quản lý nhà nước hiện nay là quá mỏng, chính sách còn nhiều hạn chế so với khối lượng xuất bản phẩm và trách nhiệm của họ phải làm. Chất lượng đội ngũ chưa đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ… Vì vậy để nghị dự thảo cần nghiên cứu quy định trong Luật này như vấn đề về tiêu chuẩn, trách nhiệm của đội ngũ đọc lưu chiểu, vấn đề thời hạn nộp tác phẩm trước khi phát hành, thời hạn lưu giữ xuất bản phẩm lưu chiểu. Đồng thời bổ sung những quy định mới nhằm khắc phục các hiện trạng nêu trên.

Việc phát hành xuất bản phẩm, dự thảo Luật đã bỏ quy định về các điều kiện được cấp phép và thủ tục cấp phép hoạt động phát hành xuất bản phẩm; bổ sung quy định cơ sở phát hành đăng ký hoạt động với cơ quan quản lý nhà nước. Về vấn đề này, theo đại biểu Nguyễn Thành Tâm (Tây Ninh) để người dân các khu vực này tiếp cận nhiều hơn với các xuất bản phẩm thì nên đầu tư vào các thư viện, các tủ sách văn hóa tại các địa phương. Làm như vậy vừa giảm áp lực cho các địa phương về bố trí quỹ đất, giảm chi phí xây dựng các nhà xuất bản trong khi các xuất bản phẩm vẫn đến tay người đọc.

Trên 250 Triệu Xuất Bản Phẩm Ra Mắt 6 Tháng Đầu Năm 2022

Quy Định Chi Tiết Và Hướng Dẫn Thi Hành Một Số Điều Của Luật Xuất Bản

Thông Tư Mới Quy Định Chi Tiết Và Hướng Dẫn Thi Hành Một Số Điều Của Luật Xuất Bản

Luật Xuất Bản Hiện Nay

Luật Xuất Bản Số 19/2012/qh13 Năm 2012

Tạp Chí Luật Sư Việt Nam Tuyển Dụng Biên Tập Viên Và Nhân Viên Truyền Thông

An Bình Express Nhập Hàng Pháp Về Việt Nam

Luật Trẻ Em 2022

Giáo Dục Pháp Luật Cho Trẻ Em Ở Việt Nam Hiện Nay

Luật Bảo Vệ, Chăm Sóc Và Giáo Dục Trẻ Em Số 57

Luật Sư Việt Nam Florida

Nhân viên truyền thông và tổ chức sự kiện

– Làm việc tại Tạp chí Luật sư Việt Nam (bao gồm cả hai loại hình: in và điện tử – lsvn.vn)

– Số lượng: 5 người;

– Thời gian thử việc 2 tháng.

Mô tả công việc

– Nghiên cứu, đề xuất các kế hoạch và thực hiện các chiến lược PR của Tạp chí;

– Phụ trách và duy trì mối quan hệ với đối tác;

– Tham gia tổ chức và thực hiện các sự kiện của Tạp chí;

– Một số các công việc chuyên môn cụ thể theo định hướng, yêu cầu của Ban Biên tập.

Yêu cầu

– Tốt nghiệp Đại học chuyên ngành báo chí, truyền thông, quan hệ công chúng;

– Nhanh nhẹn, nhiệt huyết, giao tiếp tốt…;

– Không yêu cầu kinh nghiệm.

QUYỀN LỢI

– Được hưởng đầy đủ các chế độ phúc lợi xã hội như: BHYT, BHXH, BHTN theo quy định của pháp luật và nghỉ mát hàng năm khi được ký hợp đồng chính thức;

– Mức lương khi được ký hợp đồng chính thức theo quy định của pháp luật và quy chế chung của Tòa soạn và thưởng xứng đáng với sự đóng góp của mỗi người. Cơ chế lương, thưởng linh hoạt và khuyến khích sự phát triển của mỗi cá nhân;

– Môi trường làm việc chuyên nghiệp, sáng tạo; được đào tạo nâng cao kỹ năng trong quá trình làm việc, có nhiều cơ hội khẳng định bản thân và thăng tiến trong nghề nghiệp;

– Cơ hội được làm việc ổn định, lâu dài;

– Thời gian làm việc theo quy định, nghỉ thứ 7 và chủ nhật;

– Một số quyền lợi khác khi phỏng vấn trực tiếp.

HỒ SƠ DỰ TUYỂN

– Đơn xin việc (viết tay hoặc đánh máy);

– Bản sơ yếu lý lịch tự thuật có xác nhận chính quyền địa phương (có giá trị trong vòng 6 tháng);

– CV cá nhân bằng tiếng Việt;

– Giấy chứng nhận sức khỏe (trong vòng 6 tháng);

– Các văn bằng, chứng chỉ (bản sao công chứng). Đối với các văn bằng chứng chỉ nước ngoài phải công chứng dịch thuật;

– Hồ sơ đựng trong phong bì cỡ 25x32cm, ghi rõ địa chỉ, email và số điện thoại liên lạc.

THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM NỘP HỒ SƠ

– Thời gian: Từ ngày 14/9/2020 đến hết ngày 30/9/2020 (sáng từ 09h đến 11h30, chiều từ 14h00 đến 17h00);

– Địa điểm: Ban Thư ký biên tập, Tạp chí Luật sư Việt Nam, Tầng 1, Tòa nhà CT13B, KĐT Nam Thăng Long, đường Võ Chí Công, quận Tây Hồ, TP. Hà Nội.

– Điện thoại: 0889335533

– Email: banbientaplsvno@gmail.com

– Ứng viên có thể gửi CV trước qua địa chỉ email.

LSO

Báo Pháp Luật Việt Nam Thông Báo Tuyển Dụng

234 Luật, Bộ Luật Của Việt Nam Còn Hiệu Lực Và Sắp Có Hiệu Lực

Một Số Vấn Đề Về Phòng, Chống Ma Túy Loại Cần Sa Theo Quy Định Của Pháp Luật Việt Nam

Luật Về Cần Sa Ở Canada Năm 2022

Trồng Cần Sa Bị Xử Lý Như Thế Nào ? Hình Phạt Khi Vận Chuyển, Buôn Bán, Tàng Trữ Cần Sa

Tạp Chí Dân Vận Số 3/2019

Thực Hiện Nghị Quyết Số 11

Các Cấp Hội Phụ Nữ Thực Hiện Nghị Quyết Của Đảng

Đổi Mới Nội Dung Và Phương Thức Lãnh Đạo Của Đảng Đối Với Công Tác Vận Động Phụ Nữ Của Hội Liên Hiệp Phụ Nữ Việt Nam Hiện Nay

Tăng Cường Sự Lãnh Đạo Của Đảng Đối Với Công Tác Hội Và Phong Trào Phụ Nữ

Kế Hoạch 01/bcđ138/cp Của Ban Chỉ Đạo Chương Trình Quốc Gia Phòng, Chống Tội Phạm Về Việc Triển Khai Thực Hiện Nghị Quyết Số 09/1998/nq

Văn kiện Đại hội lần thứ XII của Đảng xác định rõ nội dung lãnh đạo công tác phụ nữ là: “Nâng cao trình độ mọi mặt về đời sống vật chất, tinh thần của phụ nữ, thực hiện tốt bình đẳng giới, tạo điều kiện cho phụ nữ phát triển tài năng. Nghiên cứu, bổ sung và hoàn thiện pháp luật và chính sách đổi mới lao động nữ, tạo điều kiện, cơ hội để phụ nữ thực hiện tốt vai trò và trách nhiệm của mình trong gia đình và xã hội. Kiên quyết đấu tranh chống các tệ nạn xã hội và xử lý nghiêm minh theo pháp luật các hành vi bạo lực, buôn bán, xâm hại nhân phẩm phụ nữ”. Đó là những định hướng rất cụ thể, thiết thực về sự lãnh đạo của Đảng và những nội dung để Hội LHPN đổi mới phương thức hoạt động trong thời kỳ mới.

Thực tiễn cho thấy, hơn 30 năm qua phương thức lãnh đạo của Đảng đối với công tác phụ nữ có nhiều đổi mới theo hướng ngày càng dân chủ và đạt hiệu quả cao hơn. Ngày 12/7/1993, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 04-NQ/TW “Về đổi mới và tăng cường công tác vận động phụ nữ trong tình hình mới”. Ngày 19/9/1993, Ban Bí thư ra Chỉ thị số 28-CT/TW để lãnh đạo, chỉ đạo việc thực hiện nghị quyết của Bộ Chính trị về công tác vận động phụ nữ mới ban hành. Đặc biệt, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 11-NQ/TW ngày 27/4/2007 “về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”. Sau 5 năm thực hiện Nghị quyết, Ban Bí thư đã chỉ đạo các cấp, các ngành sơ kết, đánh giá và ban hành Kết luận số 55-KL/TW ngày 18/01/2013 về tiếp tục đẩy mạnh việc thực hiện Nghị quyết số 11-NQ/TW. Qua các nhiệm kỳ Đại hội Đảng toàn quốc, Đảng đều có định hướng rõ nội dung, phương hướng lãnh đạo công tác phụ nữ để các cấp, các ngành trong cả hệ thống chính trị thực hiện. Sau khi có nghị quyết Trung ương, các cấp ủy đều xây dựng chương trình hành động thực hiện nghị quyết. Việc tổ chức học tập, quán triệt đều được tổ chức chặt chẽ, có nhiều đổi mới trong chuyển tải nội dung đến cán bộ, đảng viên nên nhận thức về công tác phụ nữ có chuyển biến tiến bộ.

Trên cơ sở các chủ trương, nghị quyết của Trung ương Đảng, Quốc hội đã thể chế thành các văn bản pháp luật để thực hiện như ban hành: Luật Hôn nhân & Gia đình, Luật Bình đẳng giới, Luật Phòng chống bạo lực gia đình… Chính phủ ban hành nhiều nghị định, đề án để thực hiện.

Trong đổi mới phương thức lãnh đạo, Đảng rất quan tâm đổi mới công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ nữ trong cả hệ thống chính trị, trong đó có cán bộ của các cấp hội. Báo cáo Chính trị Đại hội đại biểu của Đảng các khóa đều ghi rõ tăng tỷ lệ cán bộ nữ, cán bộ dân tộc thiểu số. Nghị quyết số 11-NQ/TW của Bộ Chính trị xác định rõ nhiệm vụ, giải pháp: “Xây dựng đội ngũ cán bộ khoa học nữ có trình độ cao, cán bộ lãnh đạo quản lý nữ đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh sự nghiệp CNH – HĐH”; “Phấn đấu đến năm 2022, cán bộ nữ tham gia cấp ủy đảng các cấp đạt từ 25% trở lên, nữ đại biểu quốc hội và HĐND các cấp từ 35% đến 40%. Các cơ quan đơn vị có tỷ lệ nữ từ 30% trở lên, nhất thiết có cán bộ chủ chốt lãnh đạo là nữ. Cơ quan lãnh đạo cấp cao của Đảng, Quốc hội, Nhà nước, Chính phủ có tỷ lệ nữ phù hợp với mục tiêu bình đẳng giới”.

Thực tế nhiệm kỳ 2022 -2021 ở Trung ương, nhiệm kỳ 2022 – 2022 ở địa phương, tỷ lệ cán bộ nữ trong cả hệ thống chính trị nói chung đều tăng cao hơn các nhiệm kỳ trước. Tỷ lệ cấp ủy cơ sở cả nước là 19,18%, cấp trên cơ sở là 14,63%, cấp tỉnh, thành chiếm 13,1%. Tỷ lệ nữ tham gia đại biểu Quốc hội và HĐND các cấp đều tăng. Hàng năm có nhiều nhà khoa học và doanh nhân nữ được tôn vinh về sự cống hiến trong nghiên cứu khoa học, sáng tạo trong sản xuất kinh doanh.

Thực hiện các đề án của Trung ương, của Chính phủ, đội ngũ cán bộ nữ có triển vọng được đưa vào nguồn quy hoạch để đào tạo, bồi dưỡng ngày càng tăng. Các cấp ủy đảng luôn tăng cường sự lãnh đạo đối với tổ chức Hội Phụ nữ nhiều tỉnh, thành đã phân công các đồng chí ủy viên Ban Chấp hành, Ban Thường vụ trực tiếp phụ trách, theo dõi hoạt động của Hội. Ban Bí thư, thường trực cấp ủy các cấp đều duy trì tốt chế độ làm việc với Đảng đoàn, Ban Thường vụ Hội Phụ nữ theo quy chế công tác dân vận của hệ thống chính trị. Việc bầu cử Ban Chấp hành, Ban Thường vụ, Chủ tịch, các Phó Chủ tịch Hội LHPN các nhiệm kỳ, cấp ủy đảng đều tôn trọng, phát huy dân chủ, bầu cử có số dư. Tổ chức đảng giới thiệu đảng viên ứng cử các chức danh chủ chốt của Hội, không gò ép, áp đặt.

Để tổ chức đưa các chủ trương, nghị quyết của Đảng về công tác phụ nữ vào thực tiễn cuộc sống, các cấp ủy đảng thường xuyên coi trọng công tác kiểm tra, giám sát, nhờ đó nhận thức, trách nhiệm của các cấp ủy đảng, của cán bộ lãnh đạo quản lý đối với công tác vận động phụ nữ, công tác Hội Phụ nữ có chuyển biến rõ nét.

Tuy nhiên việc đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với công tác phụ nữ còn một số mặt hạn chế. Các cấp ủy đảng chưa chỉ đạo sâu sắc và lãnh đạo cụ thể hóa có hiệu quả cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”. Sau khi có Nghị quyết của Trung ương, Quyết định của Bộ Chính trị, Ban Bí thư nhưng việc thể chế hóa thành văn bản pháp luật của Nhà nước để thực hiện có lĩnh vực còn chậm. Công tác nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn về vận động phụ nữ; việc dự báo xu hướng phát triển của phụ nữ, tình hình tư tưởng, tâm tư, nguyện vọng chính đáng của phụ nữ để đổi mới phương thức lãnh đạo, chỉ đạo công tác vận động phụ nữ có hiệu quả hơn chưa được quan tâm đúng mức. Việc bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của hội viên phụ nữ trong một số khu công nghiệp, khu chế xuất, trong doanh nghiệp chưa tốt. Các giải pháp hỗ trợ phụ nữ giảm nghèo, phát triển kinh tế bền vững thiếu đồng bộ. Một số địa phương chưa thực sự tạo điều kiện cho Hội LHPN làm tốt công tác giám sát, phản biện xã hội và tham gia góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền. Tỷ lệ cán bộ nữ tham gia lãnh đạo, quản lý các cấp, các ngành, tham gia cấp ủy các cấp còn thấp so với mục tiêu chỉ tiêu đề ra, chưa tương xứng với năng lực và sự phát triển của lực lượng lao động nữ. Một số lĩnh vực, ngành, địa phương nguồn cán bộ nữ hẫng hụt nhưng việc xây dựng quy hoạch để đào tạo, bồi dưỡng chưa được quan tâm đúng mức…

Để đổi mới phương thức lãnh đạo công tác phụ nữ trong tình hình hiện nay, đề nghị Trung ương Đảng nghiên cứu, xem xét, lãnh đạo các cấp ủy Đảng, Nhà nước thực hiện một số vấn đề sau đây:

Một là, các cấp ủy đảng cần tăng cường việc nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn về công tác phụ nữ. Trên cơ sở đó cụ thể hóa phương châm, nguyên tắc: “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” để bổ sung quan điểm, đường lối lãnh đạo, xây dựng chiến lược công tác phụ nữ phù hợp với từng giai đoạn mới của cách mạng Việt Nam.

Trước sự phát triển nhanh chóng của khoa học công nghệ, kỷ nguyên số hóa, kinh tế tri thức, cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 và xu hướng hội nhập quốc tế… sẽ tác động đến chất lượng, cơ cấu, số lượng lao động nữ, sự chuyển dịch lao động nữ từ lĩnh vực nông nghiệp sang dịch vụ, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp ngày càng tăng. Tình hình tư tưởng, tâm tư, nguyện vọng, thiên chức… của phụ nữ cũng có những tác động thay đổi cần phải nắm bắt, dự báo chủ động để lãnh đạo công tác phụ nữ ngày càng có hiệu quả. Để góp phần đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với công tác phụ nữ, các cấp ủy đảng, các cơ quan chức năng phải khảo sát, điều tra đánh giá thực chất, thực trạng tình hình phụ nữ trên các lĩnh vực để có hình thức, phương thức vận động, tập hợp có kết quả hơn. Vấn đề bạo hành gia đình, phân biệt đối xử, bình đẳng giới, tình trạng buôn bán phụ nữ… diễn ra trong nền kinh tế thị trường cũng cần được nghiên cứu, phân tích khoa học để khắc phục một cách bền vững. Sau hơn 10 năm thực hiện Nghị quyết số 11-NQ/TW của Bộ Chính trị, tình hình thế giới và trong nước đã có sự thay đổi nhanh chóng, rất cần thiết để Trung ương ban hành một nghị quyết mới nhằm tiếp tục đổi mới công tác phụ nữ trong thời gian tới.

Hai là, đổi mới nội dung ban hành nghị quyết và phương pháp tổ chức thực hiện nghị quyết của các cấp ủy đảng về công tác phụ nữ đáp ứng yêu cầu thiết thực, hiệu quả.

Báo cáo Chính trị Đại hội XII của Đảng đặt ra yêu cầu việc ban hành nghị quyết phải ngắn gọn, súc tích, đánh giá rõ thực trạng, nguyên nhân hạn chế, đặt ra nhiệm vụ, giải pháp phải khả thi, trong đó làm rõ việc cân đối các nguồn lực, hình thức tổ chức học tập quán triệt nghị quyết phải sáng tạo, phải kết hợp tất cả các phương tiện truyền thông để làm chuyển nhận thức cho cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân. Hết sức coi trọng lựa chọn nội dung trọng tâm nhất để truyền đạt cũng như tổ chức các lớp học chặt chẽ và chọn cử báo cáo viên có chất lượng. Tăng cường hình thức đối thoại, trao đổi để các đối tượng học tập, quán triệt nghị quyết, nhận thức thấu đáo nội dung. Thành công nghị quyết của Đảng quyết định nhất ở khâu tổ chức thực hiện. Trước hết các quan điểm, đường lối mà nghị quyết nêu phải lãnh đạo Nhà nước thể chế hóa thành pháp luật, thành cơ chế, chính sách kịp thời để mỗi người dân thực hiện. Hàng năm và cả nhiệm kỳ Nhà nước phải cân đối các nguồn lực và đưa vào kế hoạch để thực hiện. Trên từng lĩnh vực, từng chương trình, đề án triển khai phải phân rõ tổ chức nào thực hiện, thời gian hoàn thành và cán bộ nào chịu trách nhiệm chính. Tăng cường công tác kiểm tra việc thực hiện, định kỳ sơ kết, đánh giá thực tế gắn với khen thưởng, biểu dương đảng bộ, đơn vị làm tốt và phê bình, góp ý kịp thời nơi làm kém, chuyển biến chậm. Nếu làm tốt việc nâng cao chất lượng nội dung nghị quyết, nâng cao hiệu quả tuyên truyền, phổ biến, học tập nghị quyết và chỉ đạo tổ chức thực hiện nghị quyết thì công tác phụ nữ sẽ có sự chuyển biến tích cực.

Trên cơ sở luật pháp phải tổ chức tuyên truyền, phổ biến rộng rãi trên các phương tiện truyền thông như: báo viết, báo nói, báo hình, báo điện tử… để mọi người dân đều hiểu pháp luật, làm theo pháp luật. Tăng cường hơn nữa công tác giám sát, kiểm tra việc tổ chức thực hiện pháp luật ở các cấp, các ngành trong đó có luật lao động, luật bảo hiểm, luật bình đẳng giới, luật hôn nhân gia đình, luật phòng chống bạo lực gia đình… Định kỳ cần sơ kết, đánh giá kết quả thực thi pháp luật ở các cấp, các ngành để khen thưởng, biểu dương những nơi làm tốt, đồng thời xử lý nghiêm minh những người vi phạm. Trong điều kiện ngân sách phục vụ cho công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật còn hạn chế mà số lượng luật lại rất nhiều, vì thế cần nghiên cứu phương pháp, cách tuyên truyền có hiệu quả nhất phù hợp với từng đối tượng, các tầng lớp nhân dân.

Theo đánh giá hiện nay, đời sống vật chất và tinh thần của đông đảo nữ công nhân lao động, làm việc trong các khu công nghiệp, khu chế xuất, trong các doanh nghiệp là khó khăn nhất… Hội LHPN cần phối hợp chặt chẽ với Tổng LĐLĐ Việt Nam để giám sát chủ doanh nghiệp trong việc thực hiện pháp luật, tăng cường chức năng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho hội viên. Việc vận động nữ nông dân, thanh niên, trí thức, doanh nhân, nữ lực lượng vũ trang, nữ công nhân viên chức đòi hỏi rất cao vai trò, trách nhiệm chỉ đạo sâu sát của các cấp Hội. Hiện nay, chính sách đối với cán bộ, lao động nữ và hoạt động của các cấp hội còn nhiều bất cập, đòi hỏi các cơ quan chức năng như ngành lao động, tổ chức, nội vụ, giáo dục, y tế, tài chính… phải kịp thời tham mưu chính sách cho Nhà nước để góp phần làm cho công tác phụ nữ có biến chuyển mới.

Năm là, đổi mới và tăng cường hơn nữa việc lãnh đạo, chỉ đạo công tác cán bộ nữ đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ mới.

Thực tế từ xưa đến nay nguồn cán bộ nữ của đất nước rất dồi dào; vấn đề quan trọng là sự quan tâm của các cấp ủy đảng, người đứng đầu các cấp, các ngành, các đơn vị trong việc xây dựng đội ngũ cán bộ nữ. Trên cơ sở các chỉ tiêu Nghị quyết số 11-NQ/TW của Bộ Chính trị (khoá X) về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh CNH-HĐH và tinh thần Nghị quyết Trung ương 7 (khoá XII) về công tác cán bộ để ban hành một số quy định cụ thể về công tác cán bộ nữ cho thời kỳ mới. Trước hết thực hiện quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ nữ cho nhiệm kỳ 2022 – 2025 đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ mới. Cán bộ lãnh đạo quản lý các cấp, các ngành, các đơn vị trong cả hệ thống chính trị nhất thiết phải cơ cấu cán bộ nữ hợp lý. Cấp ủy các cấp phải đạt chỉ tiêu quy định, nếu tỷ lệ cán bộ nữ chưa đạt thì cấp ủy cấp trên chưa phê duyệt đề án nhân sự, trường hợp thật đặc biệt thì cho phép đại hội bầu thiếu số lượng để khi nào chuẩn bị tốt nhân sự cấp uỷ nữ mới bầu bổ sung. Sau các nhiệm kỳ đại hội cần chỉ đạo sơ kết, đánh giá công tác cán bộ nữ, đảng bộ nào thực hiện tốt thì biểu dương, đảng bộ nào thực hiện không tốt thì phê bình. Ngoài cán bộ nữ lãnh đạo, quản lý, các cấp ủy đảng phải tiếp tục lãnh đạo Nhà nước có cơ chế, chính sách để phát huy đội ngũ nữ trí thức, nữ doanh nhân, nữ lao động sản xuất kinh doanh giỏi trên các lĩnh vực để họ đóng góp, cống hiến cho đất nước.

Sáu là, các cấp uỷ đảng tiếp tục đổi mới sự lãnh đạo, chỉ đạo toàn diện việc xây dựng, củng cố tổ chức, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của các cấp Hội LHPN Việt Nam đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong thời kỳ mới.

Trước hết, các cấp ủy đảng phải chủ động có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chủ chốt của Hội LHPN cho nhiều thời kỳ. Ngoài tiêu chuẩn chung cần phải quan tâm lựa chọn những cán bộ tiêu biểu, có tâm huyết, có kinh nghiệm, có khả năng quy tụ, tập hợp được đông đảo hội viên để tạo nguồn. Từng nhiệm kỳ phân công cấp ủy viên nữ có năng lực, phẩm chất tốt, có tín nhiệm cao trực tiếp phụ trách công tác Hội và ứng cử tham gia lãnh đạo tổ chức Hội LHPN đồng cấp. Thường xuyên theo dõi, kiểm tra việc đổi mới nội dung và phương thức hoạt động của Hội để có định hướng lãnh đạo, chỉ đạo công tác Hội sát đúng với từng thời kỳ cách mạng. Định kỳ đánh giá chất lượng, hiệu quả việc vận động, tập hợp hội viên, việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của hội viên và nhiệm vụ tham mưu cho cấp uỷ các chủ trương về công tác vận động phụ nữ. Lãnh đạo các cơ quan nhà nước, các tổ chức chính trị – xã hội tăng cường sự phối hợp với Hội LHPN các cấp để thực hiện tốt chính sách về bình đẳng giới, xây dựng, bổ sung hoàn thiện hệ thống pháp luật, bảo đảm tốt hơn quyền lợi chính đáng của phụ nữ, đặc biệt là chính sách lao động – việc làm, giáo dục – đào tạo, dạy nghề, bảo hiểm xã hội, chăm sóc sức khoẻ, bảo vệ bà mẹ, trẻ em, hôn nhân gia đình…

Chỉ Thị Của Ban Bí Thư Về Tiếp Tục Đẩy Mạnh Công Tác Phụ Nữ Trong Tình Hình Mới

Sơn La: Thực Hiện Hiệu Quả Nghị Quyết Của Đảng Về Công Tác Phụ Nữ

Đổi Mới Phương Thức Lãnh Đạo Của Đảng Đối Với Công Tác Phụ Nữ Trong Tình Hình Hiện Nay

Nhận Thức Về Văn Hóa, Con Người Việt Nam Trong Nghị Quyết Trung Ương 9 Khóa Xi

Sự Phát Triển Lý Luận Của Đảng Về Xây Dụng Nền Văn Hóa Việt Nam ​

Tạp Chí Dân Vận Số 5/2016

Chỉ Thị Về Nhiệm Vụ Chủ Yếu Năm Học 2022

Chương Trình Hành Động Của Chi Bộ Mầm Non Thực Hiện Nghị Quyết Đại Hội Đảng Toàn Quốc Lần Thứ Xi

Xây Dựng Và Phát Triển Giai Cấp Công Nhân Việt Nam Theo Tinh Thần Nghị Quyết Đại Hội Xi Của Đảngpgs, Ts. Phạm Công Nhất

Hà Nội: Tổng Kết 10 Năm Thực Hiện Nghị Quyết Trung Ương Về Xây Dựng Giai Cấp Công Nhân

Chương Trình Hành Động Số 38 Ctrhđ/tu Ngày 08/07/2008 Của Ban Chấp Hành Đảng Bộ Thành Phố Về Thực Hiện Nghị Quyết Số 20

Việt Nam là một quốc gia có nhiều loại hình tín ngưỡng, tôn giáo; với 95% dân số có đời sống tín ngưỡng, tôn giáo, hiện tại có khoảng 25 triệu người theo các tôn giáo khác nhau. Nghị quyết của Đảng khẳng định: “Công tác tôn giáo là vấn đề chiến lược có ý nghĩa rất quan trọng”(1). Bởi quần chúng tôn giáo là một lực lượng quan trọng của cách mạng, có những đóng góp to lớn vào sự nghiệp bảo vệ và xây dựng đất nước. Đồng thời, tôn giáo ở Việt Nam luôn bị các thế lực xấu, thù địch triệt để lợi dụng để thực hiện các lợi ích cá nhân và mưu đồ chính trị.

Thực hiện quan điểm đổi mới của Đảng về tôn giáo và công tác tôn giáo, qua hơn 10 năm thực hiện Nghị quyết số 25-NQ/TW (khóa IX) về công tác tôn giáo và các chủ trương, nhiệm vụ công tác tôn giáo trong Văn kiện Đại hội XI của Đảng, công tác tôn giáo được các cấp ủy đảng quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện, đạt được nhiều kết quả tích cực. Thể hiện rõ nhất là tư tưởng mặc cảm, định kiến với tôn giáo trong xã hội đã giảm rõ rệt; coi đồng bào có tôn giáo là bộ phận quan trọng của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, nhìn nhận sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo cũng là sinh hoạt văn hóa bình thường của nhân dân, quần chúng có đạo. Đặc biệt, việc thể chế hóa chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo phù hợp với quan điểm của Đảng có bước tiến triển mạnh mẽ, với việc Hiến pháp năm 2013 được ban hành thể hiện đúng bản chất quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là quyền con người; trên cơ sở đó, Quốc hội khóa XIII đã đưa vào chương trình xây dựng Dự thảo Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo. Nhằm giải quyết những bất cập trong công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo, Chính phủ đã ban hành Nghị định 92/2012/NĐ-CP về hướng dẫn thi hành Pháp lệnh Tín ngưỡng, Tôn giáo; cơ quan quản lý nhà nước về tôn giáo đã có hướng dẫn cụ thể các quy định về thủ tục hành chính tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân tôn giáo và giúp cho công tác quản lý nhà nước về tôn giáo ngày càng đi vào nền nếp hơn.

Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng chỉ rõ: “Tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo, phát huy những giá trị văn hoá, đạo đức tốt đẹp của các tôn giáo. Quan tâm và tạo điều kiện cho các tổ chức tôn giáo sinh hoạt theo hiến chương, điều lệ của tổ chức tôn giáo đã được Nhà nước công nhận, theo quy định của pháp luật, đóng góp tích cực cho công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước. Đồng thời chủ động phòng ngừa, kiên quyết đấu tranh với những hành vi lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc hoặc những hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trái quy định của pháp luật”(2).

Quán triệt và thực hiện công tác tôn giáo theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XII của Đảng, các cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị – xã hội tập trung thực hiện tốt những nội dung sau:

1- Trước hết, cần tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến, giáo dục nâng cao nhận thức cho đội ngũ cán bộ của hệ thống chính trị và đông đảo quần chúng nhân dân những quan điểm mới của Đảng về tôn giáo và công tác tôn giáo. Khẳng định: Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta; đồng bào tôn giáo là bộ phận quan trọng của khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Từ nhận thức mới này để tiếp tục khắc phục những nhận thức thiển cận về tôn giáo, xoá bỏ mặc cảm, phân biệt đối xử vì lý do tôn giáo, tôn trọng những điểm khác biệt không trái với lợi ích chung của quốc gia – dân tộc; đề cao tinh thần dân tộc, truyền thống yêu nước, nhân nghĩa, khoan dung để tập hợp, đoàn kết mọi người Việt Nam vào mặt trận chung, tăng cường sự đồng thuận xã hội. Chú trọng tới công tác xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc, đoàn kết đồng bào theo các tôn giáo khác nhau, đoàn kết đồng bào theo tôn giáo và đồng bào không theo tôn giáo, trên cơ sở lấy mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” làm điểm tương đồng, tạo động lực, nguồn lực to lớn trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

2- Tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo. Đây là vấn đề quan trọng đưa Nghị quyết của Đảng đi vào cuộc sống, đảm bảo thực sự quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của con người theo Hiến pháp 2013. Mục tiêu của công tác quản lý không chỉ là việc hướng dẫn các hoạt động tôn giáo tuân thủ pháp luật, mà điều có tác dụng cơ bản và lâu dài là phải tạo hành lang pháp lý đẩy đủ cho các hoạt động tôn giáo, thuận lợi cho công tác quản lý nhà nước về tôn giáo.

Thực tế tình hình tôn giáo luôn có những vấn đề mới đặt ra cần phải được điều chỉnh, trong khi các chính sách, pháp luật còn có những bất cập. Vì vậy, nhiệm kỳ 2022 – 2022, Quốc hội dự kiến ban hành Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo; cơ quan quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo cần đẩy mạnh công tác nghiên cứu, tổng kết thực tiễn để kịp thời hướng dẫn, bổ sung, điều chỉnh chính sách, pháp luật cho phù hợp; xây dựng ý thức hoạt động tôn giáo tuân thủ pháp luật. Quan tâm củng cố tổ chức bộ máy làm công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo các cấp theo tinh thần Kết luận số 78-KL/TW, ngày 14/12/2013 của Bộ Chính trị (khóa XI); nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác tôn giáo của hệ thống chính trị, nhất là ở cơ sở.

3- Văn kiện Đại hội XII của Đảng nhấn mạnh: Phát huy những giá trị văn hoá, đạo đức tốt đẹp của các tôn giáo. Thực tế cho thấy, giáo lý, giáo luật và những lời răn dạy của các tôn giáo đều hướng con người làm lành, tránh ác, yêu thương con người, yêu thương đồng loại. Quá trình hội nhập và mở cửa, mặt trái của cơ chế thị trường, của toàn cầu hoá đang làm mai một những giá trị bản sắc văn hoá của dân tộc, tha hoá đạo đức, lối sống của một bộ phận con người thì những răn dạy, hướng thiện đó cũng góp phần vào việc gìn giữ và phát huy bản sắc văn hoá, đạo đức tốt đẹp của dân tộc. Bên cạnh đó, các hoạt động xã hội, từ thiện, nhân đạo của tôn giáo cũng góp phần cùng với các cấp, các ngành chung tay giải quyết những vấn đề bức xúc của xã hội.

Như vậy, cần quan tâm chỉ đạo và có những giải pháp, chính sách tạo điều kiện cho tổ chức, chức sắc, tín đồ tôn giáo phát huy những yếu tố tích cực, hướng thiện trong văn hoá, đạo đức tôn giáo và những hoạt động xã hội, từ thiện phục vụ cho lợi ích của cộng đồng, nhất là các hoạt động y tế, giáo dục, chăm sóc người bị bệnh hiểm nghèo… theo quy định của pháp luật.

4- Thực hiện tốt công tác vận động quần chúng với các nội dung chủ yếu: Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục truyền thống yêu nước, ý thức công dân, quan tâm chăm lo, nâng cao đời sống vật chất, văn hoá, tinh thần cho đồng bào có đạo; tạo điều kiện cho các tổ chức tôn giáo sinh hoạt theo hiến chương, điều lệ của tổ chức tôn giáo đã được Nhà nước công nhận, đúng quy định của pháp luật. Trong đó, các cấp ủy, chính quyền cần quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo giải quyết hợp lý các nhu cầu hoạt động tôn giáo của tổ chức tôn giáo như: Tổ chức lễ nghi, sinh hoạt tôn giáo; việc đào tạo, bổ nhiệm chức sắc; giải quyết đất đai, xây sửa cơ sở thờ tự…. Chú trọng công tác vận động chức sắc, cốt cán tôn giáo nhằm phát huy vai trò của chức sắc, cốt cán trong vận động tín đồ, tổ chức tôn giáo đồng hành cùng dân tộc.

5- Chủ động phòng ngừa, kiên quyết đấu tranh với những hành vi lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo. Tôn trọng và đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, giải quyết đúng đắn và đầy đủ nhu cầu tín ngưỡng, tôn giáo của quần chúng là cơ sở để đấu tranh có hiệu quả chống việc lợi dụng tôn giáo. Đồng thời, chủ động phòng ngừa, kiên quyết đấu tranh chống sự lợi dụng tôn giáo là tạo môi trường sinh hoạt tôn giáo lành mạnh, điều kiện đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo được thực hiện tốt. Đây là hai mặt của một vấn đề có sự tác động qua lại lẫn nhau, trong đó nhấn mạnh việc chủ động quan tâm giải quyết các nhu cầu hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo chính đáng, theo pháp luật của quần chúng tôn giáo, từ đó loại bỏ những nguyên cớ mà các thế lực xấu có thể lợi dụng kích động, xuyên tạc; quần chúng yên tâm, tin tưởng vào sự lãnh đạo, quản lý của Đảng và Nhà nước, tự giác đấu tranh với những hành vi lợi dụng tôn giáo chống đối Đảng, Nhà nước và chế độ.

Làm tốt công tác giáo dục tư tưởng trong các tầng lớp nhân dân, đồng bào có đạo. Thực hiện công tác quy hoạch, bồi dưỡng, đào tạo, bố trí, sử dụng cán bộ có lập trường tư tưởng chính trị vững vàng, có phẩm chất, năng lực làm công tác dân vận, công tác tôn giáo. Quan tâm công tác phát triển đảng viên là người có đạo, xây dựng cốt cán trong tôn giáo; hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện, bảo đảm các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, chủ trương, nhiệm vụ của cấp uỷ các cấp được triển khai thực hiện có hiệu quả.

Các cấp chính quyền kịp thời thể chế hoá chủ trương của Đảng thành chính sách, pháp luật, chương trình, nhiệm vụ cụ thể về công tác tôn giáo. Tăng cường công tác quản lý, hướng dẫn tổ chức, cá nhân hoạt động tôn giáo tuân thủ pháp luật; chăm lo đến đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, trong đó có quần chúng tôn giáo bằng các chính sách phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội; đảm bảo thực hiện nhiệm vụ giữ gìn an ninh, trật tự an toàn xã hội, đấu tranh có hiệu quả với các hành vi vi phạm pháp luật trong hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo.

1. Nghị quyết số 25-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá IX) về công tác tôn giáo.

2. Văn kiện Đại hội XII của Đảng, Nxb CTQG, H.2016, tr.165.

Chính Sách Dân Tộc, Tôn Giáo Của Đảng Là Sự Gắn Bó Giữa “ý Đảng, Lòng Dân”

Khảo Sát Xây Dựng Nghị Quyết Của Ban Chấp Hành Đảng Bộ Khối Các Cơ Quan Trung Ương Về “nâng Cao Hiệu Quả Công Tác Dân Vận Của Đảng Bộ Các Cơ Quan Nhà Nước” Tại Đảng Bộ Bộ Văn Hóa, Thể Thao Và Du Lịch Và Đảng Bộ Cơ Quan Bảo Hiểm Xã Hội Việt Nam

Ngành Du Lịch Cụ Thể Hóa Nghị Quyết Đh Đảng Xii Thành Các Mục Tiêu Hành Động

Một Số Điểm Mới Của Nghị Quyết Số 12

Công Tác Đảng Tại Các Doanh Nghiệp Ngoài Nhà Nước: Nhìn Từ Hà Nội

Tạp Chí Dân Vận Số 3/2016

Đưa Nghị Quyết Của Đảng Về Công Tác Dân Tộc Vào Cuộc Sống

Ban Dân Vận Tỉnh Ủy: Giám Sát Việc Thực Hiện Hiện Nghị Quyết Của Đảng Về Công Tác Dân Trên Địa Bàn Huyện Hớn Quản

Quảng Ninh Sau 10 Năm Thực Hiện Nghị Quyết Của Đảng Về Dân Số, Kế Hoạch Hóa Gia Đình

Triển Khai Nghị Quyết Của Đảng Về Công Tác Dân Số Trong Tình Hình Mới

Thực Hiện Tốt Hơn Nữa Nghị Quyết Của Đảng Về Doanh Nghiệp Nhà Nước Và Kinh Tế Tập Thể Phi Nông Nghiệp

Đây là bài học sâu sắc, là sự kế thừa tư tưởng “dân là gốc” của ông cha ta qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, từ triều đại nhà Lý, nhà Trần, nhà Lê, nhà Nguyễn. Mở đầu “Bình Ngô đại cáo”, Nguyễn Trãi viết: “Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân” và ông là người đã sớm đưa ra nhận định: “Chở thuyền là dân, lật thuyền cũng là dân” để cảnh báo cho những ai đi ngược lại lợi ích của dân, làm trái lòng dân.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII thành công tốt đẹp. Một trong những nhiệm vụ quan trọng về xây dựng Đảng được đề cập trong Nghị quyết là “Tiếp tục đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác dân vận, tăng cường quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân”.

Nghị quyết đưa ra ba mục tiêu rất rõ của công tác dân vận: “Tăng cường và đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác dân vận trong tình hình mới nhằm củng cố vững chắc lòng tin của nhân dân đối với Đảng; tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc và mối quan hệ máu thịt giữa Đảng với nhân dân; tập hợp, vận động nhân dân thực hiện tốt các chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước; phát huy sức mạnh to lớn của nhân dân, tạo thành phong trào cách mạng rộng lớn xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.

Để phấn đấu thực hiện các mục tiêu công tác dân vận của Đảng trong tình hình mới, Nghị quyết Đại hội XII của Đảng đã chỉ rõ cho cấp ủy các cấp phải lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện tốt một số nhiệm vụ và giải pháp sau đây:

1. Tổ chức học tập, quán triệt đến các cấp, các ngành trong cả hệ thống chính trị, đến các tầng lớp nhân dân về Nghị quyết Đại hội XII của Đảng, trong đó có nội dung công tác dân vận của Đảng. Đồng thời, xây dựng và ban hành chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội XII của Đảng về công tác dân vận.

Nội dung cốt lõi Nghị quyết Đại hội XII của Đảng về công tác dân vận là quán triệt quan điểm “Dân là gốc”, đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng về công tác dân vận, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, giải quyết kịp thời, có hiệu quả những bức xúc, kiến nghị chính đáng của nhân dân, kịp thời thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng thành chính sách, pháp luật, về tăng cường và đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả lãnh đạo công tác dân vận của các cơ quan nhà nước, thực hiện tốt Quy chế công tác dân vận của hệ thống chính trị. Quan tâm đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chuyên trách làm công tác dân vận.

Trên cơ sở các nội dung cơ bản của Nghị quyết Đại hội XII và tình hình thực tế của từng đảng bộ, để các cấp, các ngành, các đơn vị xây dựng chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội XII của địa phương, tổ chức mình.

Chương trình hành động phải xác định rõ mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp khả thi nhất để tổ chức đưa nghị quyết vào cuộc sống, trong đó quan tâm các nguồn lực (bao gồm nhân lực, vật lực, tài lực) để có cơ sở, điều kiện thực hiện.

2. Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng về công tác dân vận trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế.

Tiếp tục đẩy mạnh hơn nữa công tác xây dựng Đảng, trọng tâm là kiên quyết, kiên trì thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI), thực hiện mục tiêu: Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức. Đội ngũ cán bộ, đảng viên phải thật sự tin dân, trọng dân, gần dân, hiểu dân, học dân, dựa vào dân, có trách nhiệm với dân. Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội, tôn trọng nguyên tắc hiệp thương dân chủ trong tổ chức và hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Các cấp ủy đảng và chính quyền cần quan tâm, tăng cường công tác dân vận trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số và vùng đồng bào tôn giáo, góp phần xây dựng và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Phát huy mạnh mẽ vai trò, hiệu lực của nhà nước và các tổ chức chính trị – xã hội, xây dựng hệ thống chính trị hoạt động năng động, có hiệu lực và hiệu quả. Trên cơ sở đó, củng cố lòng tin của nhân dân đối với Đảng, để mỗi đảng viên đều nêu gương cho quần chúng noi theo.

Các cấp ủy đảng thường xuyên sâu sát cơ sở, kiểm tra và kịp thời tổng kết, sơ kết các nghị quyết của Đảng về công tác dân vận như nghị quyết 25-NQ/TW (khóa XI), nghị quyết về giai cấp công nhân, thanh niên, phụ nữ, doanh nhân, trí thức, người Việt Nam ở nước ngoài… Trên cơ sở đó để tiếp tục lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức đưa các nghị quyết của Đảng vào cuộc sống có hiệu quả.

Tiếp tục cụ thể hóa phương thức lãnh đạo của Đảng bằng những quy chế, quy định, quy trình cụ thể. Quy định rõ hơn Đảng phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình. Đổi mới phương pháp, phong cách, lề lối làm việc của các cơ quan lãnh đạo từ Trung ương đến cơ sở, xây dựng phong cách làm việc khoa học, tập thể, dân chủ, gần dân, trọng dân, vì dân, bám sát thực tiễn, nói đi đôi với làm.

3. Lãnh đạo, chỉ đạo giải quyết kịp thời, có hiệu quả những bức xúc, kiến nghị chính đáng của nhân dân và khiếu nại, tố cáo của công dân.

Để nắm được những bức xúc, những kiến nghị chính đáng của nhân dân thì các tổ chức cơ sở đảng, các tổ chức chính trị – xã hội, các đại biểu dân cử phải thường xuyên sâu sát cơ sở, sâu sát nhân dân, lắng nghe ý kiến góp ý, phản ảnh của các tầng lớp nhân dân như công nhân, nông dân, trí thức, doanh nhân, thanh niên, sinh viên…

Trên cơ sở trực tiếp gặp nhân dân, qua các cuộc tiếp xúc cử tri, các buổi tiếp dân mà tập hợp những bức xúc, kiến nghị chính đáng của nhân dân để phản ảnh cho cấp ủy, các cơ quan chức năng của nhà nước giải quyết kịp thời. Các cấp ủy đảng, các cơ quan quản lý nhà nước cần lập đường dây nóng, hộp thư điện tử để người dân phản ảnh, kiến nghị nhanh nhất; đồng thời, tạo điều kiện cho các cơ quan thông tấn báo chí hoạt động thuận lợi phản ảnh tâm tư, nguyện vọng của cử tri, của cơ sở. Cấp ủy, chính quyền phải tổ chức đối thoại trực tiếp với dân, nhất là những nơi có những vấn đề bức xúc có thể trở thành “điểm nóng”. Chỉ đạo tốt công tác tiếp nhận và giải quyết kịp thời, đúng pháp luật đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân. Tùy tình hình và mức độ khác nhau ở từng địa phương, nhưng đông đảo nhân dân quan tâm, bức xúc về đời sống, việc làm, đền bù, giải phóng mặt bằng đất đai, tham nhũng, tai nạn giao thông, ô nhiễm môi trường, an toàn thực phẩm, tệ nạn ma túy, … cần được cấp ủy, cơ quan nhà nước tập trung lãnh đạo, chỉ đạo giải quyết có hiệu quả.

4. Lãnh đạo, chỉ đạo Nhà nước kịp thời thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng thành chính sách, pháp luật phù hợp với thực tiễn và đáp ứng lợi ích, nguyện vọng chính đáng của nhân dân.

Trước hết, tiếp tục thể chế hóa, cụ thể hóa mối quan hệ “Đảng lãnh đạo, nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” nhất là nội dung “nhân dân làm chủ” và phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”.

Thực tiễn chứng minh rằng, nghị quyết của Đảng chỉ có thể đi vào cuộc sống khi được nhà nước thể chế hóa thành chính sách, pháp luật, thành kế hoạch, thành các chương trình, đề án và có nguồn lực cụ thể để các tầng lớp nhân dân, các doanh nghiệp, các tổ chức trong hệ thống chính trị thực hiện.

Mặc dù Chính phủ, Quốc hội đã rất tích cực trong việc xây dựng, ban hành các văn bản pháp luật nhưng còn nhiều vấn đề để phát huy sức mạnh to lớn của nhân dân, phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong thực tế cần phải được tiếp tục nghiên cứu, xây dựng chính sách, luật pháp hoặc bổ sung, sửa đổi những vấn đề bất hợp lý trong các văn bản pháp luật đã ban hành.

5. Tiếp tục lãnh đạo, tăng cường và đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác dân vận của các cơ quan nhà nước, thực hiện tốt Quy chế công tác dân vận của hệ thống chính trị

Đẩy mạnh thực hiện chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước theo hướng xây dựng nền hành chính dân chủ, hiện đại, chuyên nghiệp, năng động, phục vụ nhân dân, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả. Hoàn thiện thể chế hành chính dân chủ – pháp quyền, quy định rõ trách nhiệm và cơ chế giải trình của các cơ quan nhà nước; giảm mạnh, bãi bỏ những thủ tục hành chính gây phiền hà cho người dân, doanh nghiệp. Đề cao đạo đức công vụ, trách nhiệm xã hội, siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong chỉ đạo và thực thi công vụ của cán bộ, công chức, đẩy nhanh việc áp dụng Chính phủ điện tử.

6. Quan tâm đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chuyên trách làm công tác dân vận

“Quán triệt và nghiêm túc thực hiện quan điểm Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ, đi đôi với phát huy quyền và trách nhiệm của các tổ chức và người đứng đầu Ban dân vận, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội”(1). “Củng cố ban dân vận các cấp, chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ dân vận của Đảng, đặc biệt là độ ngũ cán bộ tham mưu chiến lược. Có cơ chế, chính sách thu hút người có năng lực, có uy tín, có kinh nghiệm làm công tác dân vận, chú trọng luân chuyển, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, sử dụng đội ngũ cán bộ làm công tác dân vận, khắc phục tình trạng đưa cán bộ phẩm chất, năng lực yếu kém và không có uy tín về công tác dân vận”(2). Tăng tỷ lệ cán bộ là người dân tộc thiểu số, cán bộ nữ, cán bộ trẻ kinh qua thực tiễn cơ sở và có kinh nghiệm làm công tác vận động quần chúng. Hằng năm, mở các lớp bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ về dân vận cho đội ngũ cán bộ mới, nhất là sau đại hội, các nhiệm kỳ của đảng bộ các cấp. Sớm bổ sung các quy chế, quy định về công tác cán bộ, như quy định tiêu chuẩn tuyển chọn cán bộ, đánh giá cán bộ, nhất là người đứng đầu làm công tác dân vận chuyên trách”.

1. Nghị quyết Đại hội XII của Đảng

2. Nghị quyết 25-NQ/TW (khóa XI)

Khảo Sát Xây Dựng Nghị Quyết Của Ban Chấp Hành Đảng Bộ Khối Các Cơ Quan Trung Ương Về “nâng Cao Hiệu Quả Công Tác Dân Vận Của Đảng Bộ Các Cơ Quan Nhà Nước”

Thực Hiện Hiệu Quả Công Tác Dân Vận Theo Nghị Quyết Đại Hội Xii Của Đảng

Nghị Quyết Xii Của Đảng Về Công Tác Dân Vận Trong Tình Hình Mới

Đẩy Mạnh Thực Hiện Nghị Quyết 02 Của Đảng Uỷ Đối Với Công Tác Thanh Niên

Quan Điểm Của Đảng Về Công Tác Thanh Niên Hiện Nay

Tạp Chí Gia Đình Và Trẻ Em

Một Số Bất Cập Trong Quy Định Của Bộ Luật Lao Động (Sửa Đổi) Năm 2012

Quy Định Của Pháp Luật Lao Động Hiện Hành Về Tháng Lương Thứ 13

Lương Tháng 13 Là Gì? Công Thức Tính Lương Tháng Thứ 13 Chi Tiết

Tháng Lương Thứ 13 Và Thưởng Tết Khác Nhau Như Thế Nào?

Xuất Khẩu Lao Động Đài Loan 2022

07:18:54 03/04/2018

Thứ trưởng Doãn Mậu Diệp (ở giữa), bà Tống Thị Minh – Cục trưởng Cục Quan hệ lao động và Tiền lương, ông Nguyễn Mạnh Cường – Vụ trưởng Vụ Hợp tác quốc tế tại buổi làm việc.

Ông Hà Đình Bốn – Vụ trưởng Vụ Pháp chế phát biểu.

Dự án Luật này, lần trước là sửa đổi bổ sung, lần này theo chỉ đạo của Chính phủ cũng như ý kiến của Quốc hội, sẽ thay đổi căn bản và toàn diện và là Bộ luật Lao động sửa đổi, năm mà Dự án Luật được thông qua sẽ là tên thay thế Bộ luật hiện hành 2012.

Ông Hà Đình Bốn cũng cho biết, nội dung Bộ luật Lao động sửa đổi đã được trình lên 10 Nhóm chính sách và đăng tải toàn văn trên Cổng thông tin điện tử của Bộ LĐTBXH. Theo quy định, các góp ý của người dân đều đã được đăng tải và trả lời. Ban soạn thảo cũng đã cập nhật các thông tin đề xuất từ địa phương/ngành, các đánh giá tổng kết 3 năm và sau là 5 năm. Song song với việc trình hồ sơ lên Quốc hội và Chính phủ, Ban soạn thảo cũng chủ động phân công công việc trong nội bộ, đảm bảo hoàn thành từng nhóm vấn đề theo dự kiến chung đã đề ra.

Theo kế hoạch, tháng 5/2019, Quốc hội sẽ có ý kiến thì chậm nhất tháng 12/2018, toàn bộ dự thảo đầy đủ Bộ luật Lao động sửa đổi phải được trình lên Chính phủ.

Ông Yoon Youngmo – Chuyên gia cao cấp của ILO và ông Chang-Hee Lee – Giám đốc Văn phòng ILO tại Việt Nam (từ trái sang phải).

Cho rằng các mốc thời gian đưa ra khá là gấp, ông Chang-Hee Lee – Giám đốc Văn phòng ILO tại Việt Nam đề nghị Bộ LĐTBXH nhanh chóng cùng ILO tiến hành các vòng tham vấn. Để đảm bảo tháng 12/2018, Bộ luật Lao động sửa đổi trình được trình lên Chính phủ thì khoảng tháng 10/2018, Bộ LĐTBXH đã phải có “Dự thảo thô”. Ngoài Dự thảo Luật, Bộ LĐTBXH cũng cần có các báo cáo tác động, báo cáo thực hiện Bộ luật… Phía ILO đề nghị Bộ LĐTBXH đưa ra các khung thời gian cụ thể để đạt được tiến độ như mong muốn, và trao đổi rõ hơn về cách thức làm việc của Ban soạn thảo, Tổ biên tập.

Tiếp thu các ý kiến đóng góp của ILO, Thứ trưởng Doãn Mậu Diệp một lần nữa khẳng định lại kế hoạch trình Bộ luật Lao động sửa đổi lên Chính phủ và Quốc hội. Thứ trưởng Doãn Mậu Diệp cũng cho biết sẽ chỉ có một Ban soạn thảo Bộ luật Lao động sửa đổi nhưng chia thành nhiều nhóm làm việc, nhóm về quan hệ lao động, nhóm về tiền lương… Mỗi nhóm sẽ huy động tối đa sự tham gia của các chuyên gia, cán bộ từ các Cục/Vụ/Viện. Các đánh giá về tác động của Bộ luật cũng đã được Bộ LĐTBXH triển khai. Ban soạn thảo Bộ luật Lao động sửa đổi trong quá trình làm việc đã luôn luôn soi các điều khoản của Luật theo các tiêu chuẩn của ILO sao cho phù hợp với tình hình thực tế Việt Nam.

Thứ trưởng Doãn Mậu Diệp đề nghị Vụ Pháp chế khẩn trương lên kế hoạch khung thời gian xây dựng Bộ luật Lao động sửa đổi cũng như đưa ra các nội dung cần sự hỗ trợ của ILO; giữa Bộ LĐTBXH và ILO cũng sẽ tổ chức một hội thảo nhỏ để bàn cụ thể hơn về vấn đề này.

Có thể nói, Bộ luật Lao động sửa đổi sẽ thay đổi căn bản, toàn diện, vì thế sự hỗ trợ của ILO là cần thiết để Bộ luật Lao động sửa đổi hài hòa, phù hợp với thực tiễn hơn.

Bàn thêm về quá trình xây dựng Bộ luật Lao động sửa đổi, ông Nguyễn Mạnh Cường – Vụ trưởng Vụ Hợp tác quốc tế cho biết, trong quá trình soạn thảo Bộ luật Lao động sửa đổi, bên cạnh sự hỗ trợ của Tổ chức ILO tại Việt Nam, Bộ LĐTBXH cũng đã nhận được sự hỗ trợ của nhiều tổ chức nước ngoài như: Nhật Bản, EU, Úc, Canada, Đức… Tuy nhiên, mỗi tổ chức lại có những mối quan tâm khác nhau: Úc quan tâm đến vấn đề bình đẳng giới trong lao động, các nước EU quan tâm đến vấn đề quan hệ lao động, Nhật Bản và Canada cùng quan tâm đến đối thoại tại nơi làm việc, Chính phủ Đức và Tổ chức hợp tác Đức (GIZ) quan tâm đến bảo hiểm xã hội và thời gian làm thêm…

Sự tham gia của ILO sẽ đảm bảo sự tham vấn xuyên suốt. Trong kế hoạch tổng thể xây dựng Bộ luật Lao động sửa đổi, ông Nguyễn Mạnh Cường sẽ đề xuất Chính phủ trình văn bản chính thức Bộ luật Lao động sửa đổi cho ILO.

Toàn cảnh buổi làm việc.

Chuyên gia Yoon Youngmo cho rằng việc sửa đổi các Nghị định này là cần thiết và quan trọng vì luôn luôn có sự khác biệt giữa Luật và Nghị định, giữa lý thuyết và thực tiễn.

Tiếp theo, Công ước quốc tế 98 và 87 cũng được phía ILO đưa ra bàn thảo. Ông Chang-Hee Lee – Giám đốc Văn phòng ILO tại Việt Nam mong muốn kế hoạch phê chuẩn hai công ước quốc tế sẽ được phản ánh trong Bộ luật Lao động sửa đổi. Mặc dù, việc trình Chính phủ Bộ luật Lao động sửa đổi và việc phê duyệt Công ước được tiến hành hoàn toàn độc lập nhưng vẫn phải có sự gắn kết với nhau. Ông hy vọng, Việt Nam sẽ sớm phê duyệt hai công ước quốc tế quan trọng này.

Đáp lại mong mỏi của ILO, Thứ trưởng Doãn Mậu Diệp cho biết các công ước 98, 87 hay 105 sẽ nằm trong cam kết của Chính phủ Việt Nam. Có thể, Bộ luật Lao động sửa đổi được thông qua trước khi các công ước này được phê duyệt hoặc ngược lại. Rất khó để cả hai cùng được thông qua một lúc, nhưng cho dù điều nào xảy ra trước thì chắc chắn Luật sẽ được xây dựng hài hòa với các công ước.

Bài và ảnh: Thanh Huyền/GĐ&TE

Bộ Luật Lao Động

17 Điểm Mới Trong Bộ Luật Lao Động (Sửa Đổi) Người Lao Động Cần Biết

Bộ Luật Lao Động Sửa Đổi 2002

Quy Định Nghỉ Phép Năm Của Bộ Luật Lao Động

Đi Làm Muộn, Công Ty Có Được Phạt Tiền Không?