Theo Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm Các Loại Bảo Hiểm Gồm / TOP #10 ❤️ Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 8/2022 ❣️ Top View | Bac.edu.vn

Các Loại Bảo Hiểm Theo Quy Định Của Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm

Câu Hỏi Nhận Định Đúng Sai Môn Chủ Thể Kinh Doanh (Có Đáp Án)

Câu Hỏi Bán Trắc Nghiệm Luật Kinh Doanh (Có Đáp Án)

Phân Loại Các Loại Hình Bảo Hiểm

Các Loại Hợp Đồng Bảo Hiểm

Nguyên Lý Bảo Hiểm Và Phân Loại Bảo Hiểm

Các loại bảo hiểm theo quy định của Luật kinh doanh bảo hiểm. Bạn được lựa chọn những gói bảo hiểm nào khi mua bảo hiểm dịch vụ?

Cùng với sự phát triển ngày càng mạnh mẽ của nền kinh tế, trong đời sống hàng ngày luôn phát sinh những rủi ro đối với con người ở trên nhiều phương diện như sức khỏe, tài sản, hoạt động sản xuất, kinh doanh,…Khi xảy ra những rủi ro này, mỗi người đều phải đối mặt với nguy cơ khó khăn đặc biệt là về vấn đề tài chính để giải quyết những về đó, điều này phát sinh nhu cầu chia sẻ rủi ro để giảm bớt gánh nặng trở nên cấp thiết hơn.

Nắm bắt được điều này, kinh doanh bảo hiểm xuất hiện cung cấp các dịch vụ bảo hiểm nhằm đáp ứng nhu cầu cho các cá nhân cũng như tổ chức mua bảo hiểm đảm bảo sự an toàn và ổn định về mặt tài chính khi xảy ra các sự kiện bảo hiểm. Để đảm bảo hành lang pháp lý điều chỉnh những vấn đề phát sinh trong lĩnh vực này, Luật kinh doanh bảo hiểm đã ra đời. Vậy, hiện nay pháp luật quy định có những loại bảo hiểm nào? Luật Dương Gia sẽ cùng quý bạn đọc tìm hiểu về vấn đề này.

1. Khái niệm về kinh doanh bảo hiểm

Theo quy định của Luật kinh doanh bảo hiểm năm 2000, có thể hiểu một cách khái quát nhất về kinh doanh bảo hiểm chính là việc các doanh nghiệp hoạt động về lĩnh vực này nhằm mục đích lợi nhuận. Bản chất của hoạt động kinh doanh này chính là việc thông qua các loại hình bảo hiểm của doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm, người có nhu cầu sẽ mua bảo hiểm mà mình cần và đóng phí cho doanh nghiệp, doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận rủi ro từ người mua và thực hiện việc trả tiền bảo hiểm cho người được bồi thường hoặc người thụ hưởng khi sự kiện bảo hiểm phát sinh.

Trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm cần hiểu rõ một số khái niệm sau đây:

Thứ nhất, doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm là những doanh nghiệp có lĩnh vực hoạt động là bảo hiểm, các doanh nghiệp này phải được thành lập và có cơ cấu tổ chức cũng như hoạt động tuân theo quy định của Luật kinh doanh bảo hiểm.

Thứ hai, trong kinh doanh bảo hiểm, các tổ chức, cá nhân khi có nhu cầu mua bảo hiểm sẽ thực hiện việc giao kết hợp đồng và có nghĩa vụ đóng phí với doanh nghiệp bảo hiểm, gọi chung là bên mua bảo hiểm. Người được bảo hiểm là người có tài sản, trách nhiệm dân sự hay tính mạng được bảo hiểm. Người thụ hưởng là người được chỉ định nhận tiền bảo hiểm đối với hợp đồng bảo hiểm về con người.

Bên mua bảo hiểm có thể mua bảo hiểm cho chính mình hoặc mua cho người khác và mình đóng vai trò là người thụ hưởng.

Thứ ba, sự kiện bảo hiểm là cơ sở để phát sinh trách nhiệm của doanh nghiệp trong hợp đồng bảo hiểm chính là những sự kiện khách quan đã được các bên thỏa thuận hoặc được pháp luật quy định.

Thứ tư, để tham gia bảo hiểm, bên mua bảo hiểm phải đóng một khoản phí cho doanh nghiệp bảo hiểm theo phương thức và lộ trình mà các bên đã thỏa thuận, đây gọi là phí bảo hiểm.

Theo quy định tại Điều 7 Luật kinh doanh bảo hiểm năm 2000 (Sửa đổi bổ sung năm 2010) và Hướng dẫn tại Điều 4 Nghị định 73/2016/NĐ-CP, hiện nay có các loại bảo hiểm được phân loại như sau:

– Bảo hiểm trọn đời: Đây là hình thức bảo hiểm được người mua bảo hiểm lựa chọn cho trường hợp người được bảo hiểm phát sinh sự kiện chết trong suốt cuộc đời của họ.

– Bảo hiểm sinh kỳ: Ngược lại với bảo hiểm tử kỳ, đây là loại bảo hiểm sử dụng trong trường hợp người mua bảo hiểm ký hợp đồng với doanh nghiệp bảo hiểm về sự kiện người được bảo hiểm sống đến thời hạn được thỏa thuận. Cụ thể khi người được bảo hiểm có thể sống đến thời hạn được thỏa thuận giữa người mua bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm thì người thụ hưởng sẽ được thanh toán bảo hiểm.

– Bảo hiểm tử kỳ: Đây là loại hình bảo hiểm có sự kiện bảo hiểm chính là người được bảo hiểm chết trong thời hạn được người mua bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm

– Bảo hiểm hỗn hợp; Bảo hiểm hỗn hợp là nghiệp vụ bảo hiểm kết hợp bảo hiểm sinh kỳ và bảo hiểm tử kỳ

– Bảo hiểm trả tiền định kỳ: Là hình thức bảo hiểm khi người được bảo hiểm sống đến một thời hạn nhất định theo thỏa thuận của người mua bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm thì người thụ hưởng sẽ được trả tiền bảo hiểm dịnh kỳ.

– Bảo hiểm hưu trí: Đây được coi là loại hình bảo hiểm được sử dụng khi người mua bảo hiểm có nhu cầu muốn bảo đảm về vấn đề an sinh cho người được mua bảo hiểm thông qua hình thức người được bảo hiểm sẽ được trả tiền bảo hiểm sau khi họ đạt độ tuổi xác định.

Thứ hai, bảo hiểm phi nhân thọ bao gồm các nghiệp vụ bảo hiểm nằm ngoài phạm vi của bảo hiểm nhân thọ như bảo hiểm về tài sản, trách nhiệm dân sự,…và các loại hình khác. Cụ thể như:

– Bảo hiểm tài sản và bảo hiểm thiệt hại

– Bảo hiểm hàng hoá vận chuyển đường bộ, đường biển, đường thủy nội địa, đường sắt và đường hàng không

– Bảo hiểm hàng không

– Bảo hiểm xe cơ giới

– Bảo hiểm thân tàu và trách nhiệm dân sự của chủ tàu

– Bảo hiểm trách nhiệm

– Bảo hiểm tín dụng và rủi ro tài chính

– Bảo hiểm thiệt hại kinh doanh

– Bảo hiểm nông nghiệp: Đây là hình thức bảo hiểm được áp dụng cho đối tượng là những người sản xuất trong các ngành nông, lâm, ngư nghiệp. Theo đó, khi xảy ra sự kiện bảo hiểm trong lĩnh vực này, doanh nghiệp bảo hiểm sẽ thực hiện việc trả tiền bảo hiểm theo thỏa thuận.

– Nghiệp vụ bảo hiểm bảo lãnh: Đây được coi là hình thức bảo hiểm mà doanh nghiệp bảo hiểm sẽ chấp nhận những rủi ro của bên được bảo lãnh. Theo đó, bên được bảo lãnh sẽ trả một khoản phí bảo hiểm để doanh nghiệp bảo hiểm thực hiện nghĩa vụ thay cho họ khi đến hạn thực hiện mà bên được bảo lãnh không thực hiện được hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ của mình. Ngược lại, bên được bảo lãnh phải nhận nợ và thực hiện nghĩa vụ hoàn trả cho doanh nghiệp bảo hiểm theo như thỏa thuận đã giao kết trong hợp đồng.

Ngoài cách phân loại bảo hiểm theo lĩnh vực như ở trên, Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000 còn quy định về những loại hình bảo hiểm mang tính chất bắt buộc tại Điều 8 như sau:

Thứ nhất, đặc thù của bảo hiểm bắt buộc chính là việc xác định về điều kiện bảo hiểm, mức phí cũng như số tiền bảo hiểm tối thiểu sẽ không do các bên thỏa thuận mà do pháp luật quy định.

– Bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới, bảo hiểm trách nhiệm dân sự của người vận chuyển hàng không đối với hành khách

– Bảo hiểm cháy, nổ.

Đối với bảo hiểm bắt buộc việc thực hiện phải đảm bảo các nguyên tắc sau:

– Các doanh nghiệp bảo hiểm nói chung được kinh doanh về bảo hiểm bắt buộc phải đảm bảo việc bán bảo hiểm khi đối tượng bảo hiểm đã đáp ứng được điều kiện mua theo quy định, không được phép từ chối.

– Những cá nhân, tổ chức thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm bắt buộc phải có nghĩa vụ tham gia. Việc cố ý không tham gia theo quy định sẽ có chế tài xử lý

Chào luật sư! Tôi đang có một vấn đề cần luật sư giải đáp như sau:

Tôi có phương tiện là xe máy, trong quá trình tham gia giao thông khi được kiểm tra hành chính, tôi có bị đồng chí cảnh sát giao thông xử phạt về lỗi không có giấy chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới. Cảnh sát giao thông có giải thích cho tôi đây là loại giấy tờ bắt buộc phải có? Và tôi phải tham gia bảo hiểm này bằng cách nào? Vậy luật sư cho tôi được biết như vậy có đúng hay không?

Cám ơn bạn đã gửi câu hỏi của mình đến Ban biên tập – Phòng tư vấn trực tuyến của Công ty LUẬT DƯƠNG GIA. Với thắc mắc của bạn, Công ty LUẬT DƯƠNG GIA xin được đưa ra quan điểm tư vấn của mình như sau:

– Luật kinh doanh bảo hiểm năm 2000 (Sửa đổi bổ sung năm 2010)

– Nghị định 73/2016/NĐ-CP

– Thông tư 22/2016/TT-BTC

Thứ nhất, căn cứ theo Luật kinh doanh bảo hiểm năm 2000 (Sửa đổi bổ sung năm 2010) có quy định về bảo hiểm bắt buộc như sau:

1. Bảo hiểm bắt buộc là loại bảo hiểm do pháp luật quy định về điều kiện bảo hiểm, mức phí bảo hiểm, số tiền bảo hiểm tối thiểu mà tổ chức, cá nhân tham gia bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm có nghĩa vụ thực hiện.

Bảo hiểm bắt buộc chỉ áp dụng đối với một số loại bảo hiểm nhằm mục đích bảo vệ lợi ích công cộng và an toàn xã hội.

2. Bảo hiểm bắt buộc bao gồm:

a) Bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới, bảo hiểm trách nhiệm dân sự của người vận chuyển hàng không đối với hành khách;

b) Bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp đối với hoạt động tư vấn pháp luật;

c) Bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp của doanh nghiệp môi giới bảo hiểm;

3. Căn cứ vào nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội từng thời kỳ, Chính phủ trình ủy ban thường vụ Quốc hội quy định loại bảo hiểm bắt buộc khác”.

Như vậy, căn cứ theo quy định này trường hợp của bạn là chủ của phương tiện nằm trong đối tượng phải tham gia bảo hiểm bắt buộc.

Thứ hai, Thông tư 22/2016/TT-BTC để tham gia bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới bạn có thể liên hệ đến doanh nghiệp bảo hiểm, đại lý bảo hiểm hoặc môi giới để tham gia:

4. Doanh nghiệp bảo hiểm được quyền chủ động bán bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới dưới các hình thức sau:

b) Thông qua đại lý bảo hiểm, môi giới bảo hiểm.

c) Các hình thức khác phù hợp với quy định của pháp luật.

Doanh nghiệp bảo hiểm không được sử dụng đại lý bán bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới của doanh nghiệp bảo hiểm khác trừ trường hợp doanh nghiệp bảo hiểm đó chấp thuận bằng văn bản và doanh nghiệp bảo hiểm phải đào tạo và cấp chứng chỉ đại lý bảo hiểm theo đúng quy định”.

Khái Quát Một Số Văn Bản Pháp Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm

Những Điểm Mới Trong Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm 2022

Câu Hỏi Trắc Nghiệm Môn Bảo Hiểm

Một Số Câu Nhận Định Và Bài Tập Chứng Khoán Và Kinh Doanh Bảo Hiểm

Thông Qua Luật Sửa Đổi Kinh Doanh Bảo Hiểm Và Sở Hữu Trí Tuệ

Pháp Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm Về Loại Trừ Trách Nhiệm Bảo Hiểm

Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm Số 24/2000/qh10: Khen Thưởng Và Xử Lý Vi Phạm

Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm Năm 2000 Sửa Đổi, Bổ Sung Năm 2010

Văn Bản Hợp Nhất Số 12/vbhn

Điều Kiện Kinh Doanh Bảo Hiểm

Giới Thiệu Sách Luật Kế Toán Và Chế Độ Kế Toán Dành Cho Doanh Nghiệp

Posted on by Civillawinfor

Để bảo đảm yêu cầu như đã đề cập ở trên, đối với pháp luật về hợp đồng kinh doanh bảo hiểm hiện hành phải xem xét một số quy định cụ thể mà trong đó cần có sự quan tâm đặc biệt đến những quy định tồn tại mang tính bản chất, thể hiện đặc thù của hoạt động thương mại đặc biệt này. Những quy định này mang tính cá biệt hoá nội dung pháp luật kinh doanh bảo hiểm so với nội dung pháp luật về các hoạt động thương mại khác. Nguyên tắc bình đẳng-tự do-tự nguyện cam kết, thoả thuận được ghi nhận tại khoản 1, khoản 2 Điều 3 của Bộ luật Dân sự thì nội dung của hợp đồng là hoàn toàn do các bên quyết định và phụ thuộc vào ý chí của các bên, các quy định về nội dung hợp đồng trong Bộ Luật Dân sự chỉ mang tính chất khuyến nghị các bên trong quan hệ hợp đồng thoả thuận để hạn chế được phần nào những tranh chấp, bất đồng trong quá trình thực hiện hợp đồng. Trong khi đó, nội dung của hợp đồng bảo hiểm theo quy định tại Điều 13 của Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000, được sửa đổi, bổ sung năm 2010 (sau đây gọi là Luật Kinh doanh bảo hiểm) có quy định: “…Điều khoản loại trừ trách nhiệm bảo hiểm…” là bắt buộc, không thể thiếu, buộc các phải ghi nhận trong hợp đồng.

…. TRA CỨU BÀI VIẾT ĐẦY ĐỦ TẠI ĐÂY SOURCE: Kỷ yếu Hội thảo về “Pháp luật kinh doanh bảo hiểm và giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực bảo hiểm phi nhân thọ”. Tòa án nhân dân tối cao. Nha Trang, 8/2019.

Xét về tính chất của kinh doanh bảo hiểm thì kinh doanh bảo hiểm bản chất là hoạt động thương mại đặc thù, có đối tượng hợp đồng cũng đặc thù, được quy định tại khoản 2 Điều 6 Luật Kinh doanh bảo hiểm, đó là “Doanh nghiệp bảo hiểm phải bảo đảm các yêu cầu về tài chính để thực hiện các cam kết của mình đối với bên mua bảo hiểm”. Vì vậy, những nội dung của hợp đồng mà Luật Kinh doanh bảo hiểm quy định như phân tích nêu trên phải được thỏa thuận bắt buộc và phải được ghi nhận tại trong hợp đồng kinh doanh bảo hiểm. Việc ghi nhận “Điều khoản loại trừ trách nhiệm bảo hiểm” trong hợp đồng sẽ giúp cho người mua bảo hiểm xác định được rõ ràng quyền và nghĩa vụ của mình khi ký hợp đồng bảo hiểm. Tuy nhiên, quy định về “Điều khoản loại trừ trách nhiệm bảo hiểm” trong Luật Kinh doanh bảo hiểm hiện nay chưa hợp lý, chưa bảo đảm được nguyên tắc cân bằng quyền lợi của các chủ thể khi tham gia quan hệ kinh doanh bảo hiểm. Cụ thể, theo quy định tại Điều 16 Luật Kinh doanh bảo hiểm hiện nay thì điều khoản loại trừ trách nhiệm bảo hiểm được hiểu là các trường hợp doanh nghiệp bảo hiểm không phải trả tiền hoặc không phải bồi thường khi có sự kiện bảo hiểm xảy ra. Nghĩa là, khi sự kiện bảo hiểm xảy ra thì doanh nghiệp bảo hiểm được loại trừ trách nhiệm bảo hiểm, bên mua bảo hiểm sẽ không nhận được bất kỳ khoản thanh toán nào của bên bán bảo hiểm. Quy định này nhằm hướng tới mục đích bảo đảm ghi nhận bản chất của hoạt động kinh doanh bảo hiểm là luôn dựa trên nguyên tắc lấy số đông để bù chi trả cho thiểu số. Hoạt động chi trả tiền bảo hiểm của doanh nghiệp chỉ có thể được tiến hành khi số lượng người mua bảo hiểm gấp nhiều lần số người gặp những rủi ro. Ngược lại, khi số lượng người tham gia mua bảo hiểm không đáng kể mà doanh nghiệp phải thực hiện nghĩa vụ chi trả bảo hiểm thì việc chi trả này của doanh nghiệp bảo hiểm sẽ không rơi vào trạng thái đối mặt với nguy cơ mất khả năng thanh toán khi xảy ra những sự kiện bảo hiểm như thiên tai, chiến tranh… Bởi lẽ, những sự kiện bảo hiểm này sẽ gây ra hàng loạt những thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ, tài sản của con người trên phạm vi rộng và quy mô vô cùng lớn. Vì vậy, doanh nghiệp bảo hiểm lúc này có thể sẽ không đủ khả năng tài chính để chi trả các khoản tiền bảo hiểm và tiền bồi thường cho những tổn thất mà người mua bảo hiểm phải gánh chịu. Thậm chí xấu hơn là doanh nghiệp bảo hiểm có thể phải đối mặt với nguy cơ phá sản khi rơi vào tình trang mất khả năng thanh toán. Do đó, có thể khẳng định quy định về điều khoản “loại trừ trách nhiệm bảo hiểm” là quy định bắt buộc phải có trong hợp đồng nhưng thực tế tồn tại hạn chế, vướng mắc sau đây:

Pháp Luật Tổ Chức Và Hoạt Động Kinh Doanh Bảo Hiểm

Các Thuật Ngữ Khi Tham Gia Quan Hệ Pháp Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm

Bảo Hiểm Bắt Buộc Theo Quy Định Của Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm

Nguyên Tắc Trung Thực Tuyệt Đối Trong Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm

Quy Định Pháp Luật Về Hoạt Động Kinh Doanh Bảo Hiểm

Chuyển Giao Hợp Đồng Bảo Hiểm Theo Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm

Câu Hỏi Về Kinh Doanh Bảo Hiểm

Tìm Hiểu Pháp Luật Liên Quan Đến Bảo Hiểm Quy Định Chung

Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm Sửa Đổi, Bổ Sung Ngày 24 Tháng 11 Năm 2010

Đặt Điều Kiện Với Ngành Kinh Doanh Dịch Vụ Phụ Trợ Bảo Hiểm

Dự Thảo Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm

Bên cạnh những ưu điểm, Luật Kinh doanh bảo hiểm vẫn còn những hạn chế nhất định. Một trong những hạn chế đó là quy định của Luật Kinh doanh bảo hiểm về chuyển giao hợp đồng bảo hiểm còn rất chung chung, chưa rõ ràng dẫn đến nhiều khó khăn, lúng túng cho doanh nghiệp bảo hiểm, cơ quan quản lý nhà nước về bảo hiểm và người mua bảo hiểm trong việc áp dụng các quy định này vào thực tiễn. Do đó, vai trò của chuyển giao hợp đồng bảo hiểm không được phát huy, quyền và lợi ích chính đáng của doanh nghiệp bảo hiểm và khách hàng không được bảo đảm. Xuất phát từ thực tiễn này, bài viết tập trung vào các nội dung sau đây: i) phân tích, làm rõ thế nào là chuyển giao hợp đồng bảo hiểm và vai trò của chuyển giao hợp đồng bảo hiểm; ii) chỉ ra những hạn chế của Luật Kinh doanh bảo hiểm về chuyển giao hợp đồng bảo hiểm; iii) đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định của Luật Kinh doanh bảo hiểm về chuyển giao hợp đồng bảo hiểm.

Từ khóa: Chuyển giao hợp đồng bảo hiểm, Luật Kinh doanh bảo hiểm.

Đặt vấn đề

Hoạt động kinh doanh bảo hiểm tại Việt Nam chịu sự điều chỉnh của pháp luật kinh doanh bảo hiểm. Trong đó, văn bản quan trọng nhất là Luật Kinh doanh bảo hiểm số 24/2000/QH10 được Quốc hội thông qua ngày 9/12/2000 có hiệu lực từ ngày 01/4/2001, và các Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kinh doanh bảo hiểm vào các năm 2010 và 2022. Luật Kinh doanh bảo hiểm số 24/2000/QH10 cùng các Luật sửa đổi, bổ sung (sau đây gọi là Luật Kinh doanh bảo hiểm) và các Nghị định, Thông tư hướng dẫn thi hành đã tạo nên một khung pháp lý tương đối hoàn chỉnh đối với hoạt động kinh doanh bảo hiểm, tạo điều kiện cho thị trường bảo hiểm từng bước phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu về bảo hiểm của nền kinh tế.

1. Khái quát về chuyển giao hợp đồng bảo hiểm và vai trò của chuyển giao hợp đồng bảo hiểm

Hợp đồng bảo hiểm (HĐBH), trước hết là một hợp đồng dân sự, chịu sự điều chỉnh của pháp luật dân sự. Tuy nhiên, Bộ luật Dân sự 2022, (BLDS 2022), hiện không quy định về khái niệm HĐBH như BLDS 2005 trước đây.

HĐBH được nhận diện và phân biệt với các loại hợp đồng khác ở các đặc trưng sau:

nội dung của HĐBH là những điều khoản quy định về quyền và nghĩa vụ của DNBH và các bên tham gia bảo hiểm. Thông thường, nội dung của một HĐBH bao gồm: điều khoản về thông tin của DNBH, bên mua bảo hiểm, người được bảo hiểm hoặc người thụ hưởng; điều khoản về đối tượng bảo hiểm, số tiền bảo hiểm; điều khoản về phạm vi bảo hiểm, điều kiện bảo hiểm; điều khoản loại trừ trách nhiệm bảo hiểm; điều khoản về mức phí bảo hiểm, phương thức đóng phí bảo hiểm; điều khoản về thời hạn, phương thức trả tiền bảo hiểm hoặc bồi thường; các quy định về giải quyết tranh chấp phát sinh nếu có. Một HĐBH có thể bao gồm nhiều loại tài liệu khác nhau như: giấy/đơn yêu cầu bảo hiểm, quy tắc bảo hiểm, điều khoản bổ sung, phụ lục hợp đồng, giấy/đơn chứng nhận bảo hiểm. Do tính chất phức tạp của nghiệp vụ bảo hiểm, các HĐBH phải được lập thành văn bản để minh thị rõ ràng quyền và nghĩa vụ của các bên, là cơ sở cho việc thực hiện hợp đồng cũng như là căn cứ để giải quyết tranh chấp phát sinh giữa các bên nếu có.

HĐBH được thiết lập giữa DNBH và người mua bảo hiểm là sự cụ thể hóa mong muốn từ phía người mua bảo hiểm, được DNBH chi trả, bồi thường tài chính khi rủi ro phát sinh; ngược lại, từ phía DNBH là một chủ thể kinh doanh, mục tiêu hàng đầu của DNBH là lợi nhuận thông qua hoạt động đầu tư từ nguồn vốn là phí bảo hiểm. Tuy nhiên, hoạt động kinh doanh của DNBH chịu sự tác động của rất nhiều yếu tố khác nhau như diễn biến thị trường trong và ngoài nước, tình hình tài chính, nhân sự của doanh nghiệp,… Theo đó, DNBH có thể gặp phải những khó khăn dẫn đến không thể tiếp tục thực hiện các HĐBH đã ký kết, hoặc việc tiếp tục thực hiện HĐBH đã ký kết sẽ không làm DNBH đạt được mục tiêu lợi nhuận như kỳ vọng. Lúc này, chuyển giao HĐBH là một biện pháp nhằm giúp tháo gỡ khó khăn cho DNBH. Vậy chuyển giao HĐBH là gì?

Một cách cụ thể hơn, chuyển giao HĐBH được nhận diện bởi hai đặc trưng: Một là, về chủ thể, chuyển giao HĐBH là sự thay đổi DNBH trong HĐBH. Thông thường, HĐBH được giao kết khi phù hợp với hoạt động kinh doanh và mục tiêu lợi nhuận của DNBH. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện HĐBH, DNBH có thể rơi vào tình huống DNBH không đáp ứng được điều kiện, phương tiện, năng lực tài chính,… để tiếp tục hoàn thành các nghĩa vụ đã giao kết với người mua bảo hiểm. Khi đó, chuyển giao HĐBH sẽ giúp DNBH rút ra khỏi HĐBH, giải phóng hoàn toàn khỏi các quyền và nghĩa vụ phát sinh từ HĐBH; một DNBH khác là doanh nghiệp nhận chuyển giao sẽ tiếp tục thực hiện các quyền và nghĩa vụ đã xác lập giữa DNBH chuyển giao và bên còn lại trong hợp đồng, tức người mua bảo hiểm. Như vậy, chuyển giao HĐBH chỉ dẫn đến hệ quả pháp lý là thay đổi DNBH – bên bán bảo hiểm trong HĐBH, còn toàn bộ nội dung của HĐBH là quyền và nghĩa vụ mà các bên đã thống nhất ban đầu vẫn phải đảm bảo được giữ nguyên. Hai là, đối tượng được chuyển giao là các quyền và nghĩa vụ của DNBH đã được các bên thỏa thuận, ghi nhận trong HĐBH, ví dụ như quyền thu phí bảo hiểm đầy đủ theo đúng thời hạn và phương thức đã thỏa thuận trong HĐBH; nghĩa vụ bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm,…

Đối với người mua bảo hiểm, việc chuyển giao HĐBH là biện pháp bảo đảm quyền lợi cho họ khi DNBH rơi vào tình huống khó khăn có thể phải dừng việc thực hiện HĐBH đã ký kết. Bởi nội dung quan trọng nhất khi chuyển giao HĐBH là DNBH nhận chuyển giao phải kế thừa toàn bộ các quyền và nghĩa vụ của DNBH chuyển giao như đã thỏa thuận từ đầu với bên mua bảo hiểm khi giao kết HĐBH. Điều này đảm bảo rằng, người mua bảo hiểm vẫn đạt được mục đích của mình khi tham gia bảo hiểm là được chi trả, bồi thường khi xảy ra sự kiện bảo hiểm.

Tóm lại, chuyển giao HĐBH là một phương thức hiệu quả để giải quyết vấn đề về tài chính của DNBH và là cơ chế đảm bảo việc bồi thường bảo hiểm, bảo vệ người mua bảo hiểm khi rủi ro xảy ra. Đồng thời, chuyển giao HĐBH góp phần làm giảm số lượng tranh chấp phát sinh khi chấm dứt hợp đồng, bởi lẽ “các quyền và nghĩa vụ không bị chấm dứt, mà được chuyển từ bên chuyển giao sang bên nhận chuyển giao”, hệ quả của quá trình sáp nhập, hợp nhất DNBH là DNBH hợp nhất, DNBH nhận sáp nhập được hưởng các quyền và lợi ích hợp pháp, chịu trách nhiệm về các khoản nợ chưa thanh toán, hợp đồng lao động và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp bị sáp nhập/bị hợp nhất, trong đó bao gồm nghĩa vụ về các “khoản nợ” tiền phí bảo hiểm mà người mua bảo hiểm đã đóng. Nghĩa là, khi DNBH tiến hành sáp nhập/hợp nhất thì đương nhiên doanh nghiệp đó phải chuyển giao cả HĐBH cho DNBH nhận sáp nhập/hợp nhất kế thừa và thực hiện. Như vậy, chuyển giao HĐBH là một hệ quả đương nhiên của quá trình sáp nhập, hợp nhất. Thêm vào đó, biện pháp chuyển giao HĐBH hướng đến việc đảm bảo khả năng chi trả bảo hiểm của DNBH khi xảy ra sự kiện bảo hiểm. Pháp luật quy định trường hợp DNBH phải chuyển giao HĐBH khi tiến hành sáp nhập/hợp nhất là nhằm bảo vệ quyền lợi chính đáng của khách hàng khi nội bộ của DNBH đang có sự thay đổi. Tuy nhiên, bản chất kinh tế của sáp nhập và hợp nhất DNBH là tích tụ tư bản nhằm tăng sức mạnh thị trường, tăng quy mô vốn cho DNBH. Theo đó, doanh nghiệp mới sau khi được sáp nhập, hợp nhất hoàn toàn có khả năng thực hiện cam kết chi trả cho người mua bảo hiểm mà không cần phải chuyển giao HĐBH cho DNBH khác.

Từ phân tích trên, tác giả cho rằng, quy định về trường hợp DNBH phải chuyển giao HĐBH cho DNBH khác khi sáp nhập hay hợp nhất là không cần thiết. Vì vậy, tác giả kiến nghị bỏ quy định về việc phải chuyển giao HĐBH khi DNBH tiến hành hợp nhất, sáp nhập tại Khoản 1 Điều 74 Luật Kinh doanh bảo hiểm.

Thứ hai, về trường hợp DNBH có nguy cơ mất khả năng thanh toán, giải thể mà không thỏa thuận được việc chuyển giao HĐBH cho DNBH khác thì Bộ Tài chính chỉ định DNBH nhận chuyển giao.

Việc thay đổi DNBH trong HĐBH là một sự kiện pháp lý rất quan trọng có thể ảnh hưởng đến quyền lợi của bên mua bảo hiểm, ảnh hưởng đến việc thực hiện HĐBH, vì DNBH là chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường cho người được bảo hiểm khi có sự kiện bảo hiểm xảy ra. Vì vậy, pháp luật bảo hiểm của các nước đều quy định việc chuyển giao HĐBH chỉ được tiến hành khi có sự chấp thuận của cơ quan quản lý về bảo hiểm. Cụ thể, pháp luật về bảo hiểm của Pháp quy định Cơ quan giám sát và giải quyết thận trọng (ACPR) là cơ quan chấp thuận việc chuyển giao HĐBH. Ở Việt Nam, Bộ Tài chính là cơ quan quản lý mọi hoạt động kinh doanh của DNBH, bao gồm hoạt động chuyển giao HĐBH.. Do nhận chuyển giao HĐBH là một kênh gia tăng khách hàng mà tiết kiệm được nhiều thời gian và chi phí nên có thể xảy ra trường hợp nhiều DNBH cùng yêu cầu được nhận chuyển giao HĐBH. Lúc này, Bộ Tài chính sẽ căn cứ vào tiêu chí nào để chọn ra DNBH nhận chuyển giao phù hợp?

Tác giả cho rằng, những bất cập trên sẽ được giải quyết nếu Bộ Tài chính cho các DNBH đấu thầu để nhận chuyển giao HĐBH, vì: i) việc lựa chọn DNBH nhận chuyển giao thông qua hình thức đấu thầu sẽ bảo đảm sự cạnh tranh lành mạnh, công bằng giữa các DNBH, đồng thời giảm thiểu sự can thiệp của Bộ Tài chính vào hoạt động của các DNBH bằng các mệnh lệnh hành chính; ii) thông qua đấu thầu, BTC sẽ chọn được DNBH phù hợp nhất, đủ năng lực tài chính để tiếp tục thực hiện các HĐBH đã được ký kết một cách rõ ràng và minh bạch nhất, từ đó củng cố niềm tin cho người mua bảo hiểm, tạo điều kiện cho thị trường bảo hiểm phát triển một cách ổn định.

Xuất phát từ những phân tích nêu trên, tác giả kiến nghị quy định tại khoản 2 Điều 74 Luật Kinh doanh bảo hiểm cần phải bổ sung thêm nội dung là Bộ Tài chính sẽ tiến hành đấu thầu để chọn DNBH nhận chuyển giao HĐBH trước khi tiến hành chỉ định DNBH nhận chuyển giao. Cụ thể, khoản 2 Điều 74 Luật Kinh doanh bảo hiểm sau khi được sửa đổi sẽ có nội dung như sau: ” Trong trường hợp doanh nghiệp bảo hiểm có nguy cơ mất khả năng thanh toán, giải thể mà không thỏa thuận được việc chuyển giao hợp đồng bảo hiểm cho doanh nghiệp bảo hiểm khác thì Bộ Tài chính tiến hành đấu thầu để chọn doanh nghiệp bảo hiểm nhận chuyển giao. Bộ Tài chính chỉ tiến hành chỉ định doanh nghiệp bảo hiểm nhận chuyển giao khi việc đấu thầu không thể thực hiện được.”.

2.2. Về điều kiện chuyển giao hợp đồng bảo hiểm

Như đã phân tích, việc chuyển giao HĐBH là thay đổi DNBH trong HĐBH sẽ ảnh hưởng rất lớn đến quyền lợi của bên mua bảo hiểm. Tuy nhiên, quy định tại Điều 74 Luật Kinh doanh bảo hiểm cho thấy việc chuyển giao HĐBH hoàn toàn là quyền của DNBH mà không cần có sự đồng ý của người mua bảo hiểm. Sau khi được Bộ Tài chính phê chuẩn và hoàn tất thủ tục chuyển giao HĐBH, DNBH chỉ cần thông báo cho bên mua bảo hiểm biết về việc chuyển giao này. Tác giả cho rằng quy định này là chưa hợp lý vì những lý do sau:

Thứ nhất, HĐBH là một hợp đồng song vụ, bên mua bảo hiểm và DNBH là các bên có quyền lợi và nghĩa vụ tương xứng nhau trong quan hệ hợp đồng. Trong thời hạn có hiệu lực của HĐBH, mọi sự thay đổi từ phía DNBH hoặc bên mua đều phải được hai bên thỏa thuận và thống. Do vậy, nếu việc chuyển giao HĐBH, một sự kiện pháp lý quan trọng làm thay đổi bên bán trong hợp đồng, cụ thể là sự rút khỏi hợp đồng của bên chịu trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ chi trả tài chính, một trong những nghĩa vụ đặc trưng, cốt lõi của bảo hiểm mà bên mua bảo hiểm chỉ được thông báo khi đã có sự chấp thuận từ phía Bộ Tài chính là không hợp lý. Quy định này rõ ràng đã làm mất đi quyền tự do ý chí của bên mua bảo hiểm trong quá trình thực hiện HĐBH.

Thứ hai, bên cạnh việc quy định về chuyển giao HĐBH, Luật Kinh doanh bảo hiểm còn quy định về trường hợp chuyển nhượng HĐBH. Như vậy, việc DNBH được quyền chuyển giao HĐBH mà không cần có sự đồng ý của bên mua bảo hiểm là một quy định chưa tương xứng, chưa bảo đảm quyền lợi cho bên mua bảo hiểm.

Vì vậy, tác giả cho rằng Điều 75 Luật Kinh doanh bảo hiểm cần được sửa đổi theo hướng bổ sung thêm điều kiện để chuyển giao HĐBH. Cụ thể, bổ sung điều kiện thứ tư tương ứng với khoản 4 Điều 75 như sau: ” Việc chuyển giao hợp đồng bảo hiểm phải có sự đồng ý của bên mua bảo hiểm. Bên mua bảo hiểm có thể từ chối sự chuyển giao nhưng phải chứng minh được việc thay đổi doanh nghiệp bảo hiểm sẽ gây bất lợi đến việc tiếp tục thực hiện hợp đồng bảo hiểm.”

3. Kết luận

Năm 2022 đánh dấu cột mốc 20 năm Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000 chính thức có hiệu lực. Trong suốt thời gian qua, Luật Kinh doanh bảo hiểm và các Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kinh doanh bảo hiểm đã tạo được nền tảng pháp lý giúp thị trường bảo hiểm hình thành và phát triển. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng Luật Kinh doanh bảo hiểm cho thấy nhiều quy định của Luật còn hạn chế, chưa theo kịp sự thay đổi của kinh tế-xã hội. Thông qua bài viết, tác giả đề xuất một số kiến nghị nhằm khắc phục các hạn chế của Luật Kinh doanh bảo hiểm về chuyển giao HĐBH. Những kiến nghị này sẽ góp phần hoàn thiện quy định của Luật Kinh doanh bảo hiểm về chuyển giao HĐBH, từ đó phát huy vai trò của chuyển giao HĐBH là biện pháp hiệu quả giúp các DNBH giải quyết khó khăn về tài chính, đa dạng hóa nghiệp vụ kinh doanh, đồng thời góp phần bảo vệ quyền và lợi chính đáng cho người mua bảo hiểm, giúp củng cố lòng tin của người dân về hoạt động bảo hiểm tại Việt Nam.

Tài liệu trích dẫn:

1BLDS 2022 chỉ quy định về khái niệm hợp đồng. Cụ thể, Điều 385, BLDS 2022 quy định: ” Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự. “

2 Điều 12 Luật Kinh doanh bảo hiểm.

3 Khoản 5 Điều 3 Luật Kinh doanh bảo hiểm.

4Bùi Thị Hằng Nga (2015), Pháp luật Kinh doanh bảo hiểm, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, tr.29.

5 Điều 64 Luật Kinh doanh bảo hiểm.

6 Khoản 11 Điều 3 Luật Kinh doanh bảo hiểm.

7 Điều 13 Luật Kinh doanh bảo hiểm.

8 Điều 14 Luật Kinh doanh bảo hiểm.

9Đào Thị Thu Hiền, Nguyễn Minh Hằng, Đỗ Văn Đại (2010), Bộ nguyên tắc của UNIDROIT về hợp đồng thương mại quốc tế 2004, Nhà xuất bản Tư pháp, tr. 579.

11 Xem Điều 428 BLDS 2022.

Ngô Quốc Chiến (2013), “Bộ luật Dân sự cần bổ sung quy định về chuyển giao hợp đồng”, Nghiên cứu lập pháp, Văn phòng Quốc hội, số 2-3 (234-235), tr. 69-77.

Khoản 3 Điều 75 Luật Kinh doanh bảo hiểm.

14T.Galvao (1951), La cession du contrat, Tạp chí Pháp luật quốc tế so sánh (RIDC), số 2, trang 217.

Xem Điều 200 Luật Doanh nghiệp 2022 về hợp nhất doanh nghiệp, Điều 201 Luật Doanh nghiệp 2022 về sáp nhập doanh nghiệp.

Tại Thụy Sĩ, Cơ quan giám sát thị trường tài chính (Autorité indépendante de surveillance des marchés financiers suisses) là cơ quan giám sát độc lập các công ty bảo hiểm tại Thụy Sĩ.

Xem Điều 120, Điều 121 Luật Kinh doanh bảo hiểm; Điều 1 Nghị định số 87/2017/NĐ-CP ngày 26/7/2017 về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tài chính.

“Website của các doanh nghiệp Bảo hiểm”, https://www.mof.gov.vn/webcenter/portal/cqlgsbh/r/m/ngttbh6?_afrLoop=67210203539606636#!%40%40%3F_afrLoop%3D67210203539606636%26centerWidth%3D100%2525%26leftWidth%3D0%2525%26rightWidth%3D0%2525%26showFooter%3Dfalse%26showHeader%3Dfalse%26_adf.ctrl-state%3D163ngyn5xy_149

20 Xem Điều 26 Luật Kinh doanh bảo hiểm về chuyển nhượng HĐBH, Điều 74 Luật Kinh doanh bảo hiểm về chuyển giao HĐBH.

21 Khoản 2 Điều 26 Luật Kinh doanh bảo hiểm.

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

Quốc hội (2015), Bộ Luật Dân sự 2022.

Quốc hội (2000), Luật Kinh doanh bảo hiểm 2000 (Luật số 24/2000/QH10).

Quốc hội (2010), Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kinh doanh bảo hiểm

Quốc hội (2019), Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Kinh doanh bảo hiểm, Luật Sở hữu trí tuệ 2022.

Quốc hội (2020), Luật Doanh nghiệp 2022.

Chính phủ (2017), Nghị định số 87/2017/NĐ-CP ngày 26/7/2017 về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Tài chính.

Ngô Quốc Chiến (2013), “Bộ luật Dân sự cần bổ sung quy định về chuyển giao hợp đồng”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, Văn phòng Quốc hội, số 2-3 (234-235).

Đào Thị Thu Hiền, Nguyễn Minh Hằng, Đỗ Văn Đại (2010), Bộ nguyên tắc của UNIDROIT về hợp đồng thương mại quốc tế 2004, Nhà xuất bản Tư pháp.

Bùi Thị Hằng Nga (2015), Pháp luật Kinh doanh bảo hiểm, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh.

Galvao (1951), La cession du contrat, Tạp chí Pháp luật quốc tế so sánh (RIDC), số 2.

Keywords: Transfer of insurance contracts, Law on Insurance Business.

[Tạp chí Công Thương – Các kết quả nghiên cứu khoa học và ứng dụng côngnghệ, Số 20, tháng 8 năm 2022]

Nguyên Lý Bảo Hiểm Và Phân Loại Bảo Hiểm

Các Loại Hợp Đồng Bảo Hiểm

Phân Loại Các Loại Hình Bảo Hiểm

Câu Hỏi Bán Trắc Nghiệm Luật Kinh Doanh (Có Đáp Án)

Câu Hỏi Nhận Định Đúng Sai Môn Chủ Thể Kinh Doanh (Có Đáp Án)

Bảo Hiểm Bắt Buộc Theo Quy Định Của Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm

Các Thuật Ngữ Khi Tham Gia Quan Hệ Pháp Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm

Pháp Luật Tổ Chức Và Hoạt Động Kinh Doanh Bảo Hiểm

Pháp Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm Về Loại Trừ Trách Nhiệm Bảo Hiểm

Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm Số 24/2000/qh10: Khen Thưởng Và Xử Lý Vi Phạm

Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm Năm 2000 Sửa Đổi, Bổ Sung Năm 2010

Bảo hiểm bắt buộc theo quy định của Luật Kinh doanh bảo hiểm Kinh doanh bảo hiểm là hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm nhằm mục đích sinh lợi, theo đó …

Bảo hiểm bắt buộc theo quy định của Luật Kinh doanh bảo hiểm

Bảo hiểm bắt buộc theo quy định của Luật Kinh doanh bảo hiểm hiện hành

Điều 5 Luật Kinh doanh bảo hiểm quy định:

Điều 5. Bảo hiểm bắt buộc

1. Doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài được kinh doanh bảo hiểm bắt buộc không được từ chối bán bảo hiểm bắt buộc trong trường hợp đối tượng bảo hiểm đã đáp ứng đủ điều kiện mua bảo hiểm bắt buộc theo quy định pháp luật.

2. Tổ chức, cá nhân thuộc đối tượng thực hiện bảo hiểm bắt buộc có nghĩa vụ tham gia bảo hiểm bắt buộc theo quy định pháp luật.

Kinh doanh bảo hiểm là hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm nhằm mục đích sinh lợi, theo đó doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận rủi ro của người được bảo hiểm, trên cơ sở bên mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm để doanh nghiệp bảo hiểm trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm.

Bảo hiểm bắt buộc là loại bảo hiểm do pháp luật quy định về điều kiện bảo hiểm, mức phí bảo hiểm, số tiền bảo hiểm tối thiểu mà tổ chức, cá nhân tham gia bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm có nghĩa vụ thực hiện.

Bảo hiểm bắt buộc chỉ áp dụng đối với một số loại bảo hiểm nhằm mục đích bảo vệ lợi ích công cộng và an toàn xã hội.

Bảo hiểm bắt buộc bao gồm:

a) Bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới, bảo hiểm trách nhiệm dân sự của người vận chuyển hàng không đối với hành khách;

b) Bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp đối với hoạt động tư vấn pháp luật;

c) Bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp của doanh nghiệp môi giới bảo hiểm;

d) Bảo hiểm cháy, nổ.

Doanh nghiệp bảo hiểm, chi nhánh nước ngoài được kinh doanh bảo hiểm bắt buộc không được từ chối bán bảo hiểm bắt buộc trong trường hợp đối tượng bảo hiểm đã đáp ứng đủ điều kiện mua bảo hiểm bắt buộc theo quy định pháp luật.

Tổ chức, cá nhân thuộc đối tượng thực hiện bảo hiểm bắt buộc có nghĩa vụ tham gia bảo hiểm bắt buộc theo quy định pháp luật.

Xin chân thành cảm ơn sự đồng hành của mọi người.

Nguyên Tắc Trung Thực Tuyệt Đối Trong Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm

Quy Định Pháp Luật Về Hoạt Động Kinh Doanh Bảo Hiểm

Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm Sửa Đổi, Bổ Sung Năm 2010 Số 61/2010/qh12

Luật Sửa Đổi, Bổ Sung Một Số Điều Của Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm Số 61/2010/qh12

Tải Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm Sửa Đổi Số 61/2010/qh12 Năm 2010 Miễn Phí

Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm: Hợp Đồng Bảo Hiểm

Điều 3 Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm

Quy Định Về Các Loại Bảo Hiểm Bắt Buộc Trong Xây Dựng

Luật 42/2019/qh14 Sửa Đổi, Bổ Sung Một Số Điều Của Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm, Luật Sở Hữu Trí Tuệ

Khoản 9 Điều 12 Luật Bảo Hiểm Y Tế

Bình Luận Khoa Học Bộ Luật Lao Động

Am hiểu pháp luật khi đi tư vấn bảo hiểm là cách thức để Anh chị tư vấn bảo vệ chính mình và khách hàng của mình. Chúng tôi hy vọng rằng Anh chị sẽ là những chuyên gia tư vấn hàng đầu được khách hàng tin yêu và tôn trọng.

Kính chúc Anh chị thành công.

Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân tham gia bảo hiểm; đẩy mạnh hoạt động kinh doanh bảo hiểm; góp phần thúc đẩy và duy trì sự phát triển bền vững của nền kinh tế – xã hội, ổn định đời sống nhân dân; tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh bảo hiểm;

Căn cứ vào Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992;

Luật này quy định về kinh doanh bảo hiểm.

Luật số 24/2000/QH10 của Quốc hội : Kinh doanh Bảo hiểm

CHƯƠNG II: HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM MỤC 1: QUY ĐỊNH CHUNG VỀ HỢP ĐỒNG BẢO HIỂM Điều 12. Hợp đồng bảo hiểm

1. Hợp đồng bảo hiểm là sự thoả thuận giữa bên mua bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm, theo đó bên mua bảo hiểm phải đóng phí bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm.

2. Các loại hợp đồng bảo hiểm bao gồm:

A) Hợp đồng bảo hiểm con người;

B) Hợp đồng bảo hiểm tài sản;

C) Hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự.

3. Hợp đồng bảo hiểm hàng hải được áp dụng theo quy định của Bộ luật hàng hải; đối với những vấn đề mà Bộ luật hàng hải không quy định thì áp dụng theo quy định của Luật này.

Điều 13. Nội dung của hợp đồng bảo hiểm

1. Hợp đồng bảo hiểm phải có những nội dung sau đây:

A) Tên, địa chỉ của doanh nghiệp bảo hiểm, bên mua bảo hiểm, người được bảo hiểm hoặc người thụ hưởng;

B) Đối tượng bảo hiểm;

C) Số tiền bảo hiểm, giá trị tài sản được bảo hiểm đối với bảo hiểm tài sản;

D) Phạm vi bảo hiểm, điều kiện bảo hiểm, điều khoản bảo hiểm;

Đ) Điều khoản loại trừ trách nhiệm bảo hiểm;

E) Thời hạn bảo hiểm;

G) Mức phí bảo hiểm, phương thức đóng phí bảo hiểm;

H) Thời hạn, phương thức trả tiền bảo hiểm hoặc bồi thường;

I) Các quy định giải quyết tranh chấp;

K) Ngày, tháng, năm giao kết hợp đồng.

2. Ngoài những nội dung quy định tại khoản 1 Điều này, hợp đồng bảo hiểm có thể có các nội dung khác do các bên thoả thuận.

Điều 14. Hình thức hợp đồng bảo hiểm

Hợp đồng bảo hiểm phải được lập thành văn bản.

Bằng chứng giao kết hợp đồng bảo hiểm là giấy chứng nhận bảo hiểm, đơn bảo hiểm, điện báo, telex, fax và các hình thức khác do pháp luật quy định.

Điều 15. Thời điểm phát sinh trách nhiệm bảo hiểm

Trách nhiệm bảo hiểm phát sinh khi hợp đồng bảo hiểm đã được giao kết hoặc khi có bằng chứng doanh nghiệp bảo hiểm đã chấp nhận bảo hiểm và bên mua bảo hiểm đã đóng phí bảo hiểm, trừ trường hợp có thoả thuận khác trong hợp đồng bảo hiểm.

Điều 16. Điều khoản loại trừ trách nhiệm bảo hiểm

1. Điều khoản loại trừ trách nhiệm bảo hiểm quy định trường hợp doanh nghiệp bảo hiểm không phải bồi thường hoặc không phải trả tiền bảo hiểm khi xẩy ra sự kiện bảo hiểm.

2. Điều khoản loại trừ trách nhiệm bảo hiểm phải được quy định rõ trong hợp đồng bảo hiểm. Doanh nghiệp bảo hiểm phải giải thích rõ cho bên mua bảo hiểm khi giao kết hợp đồng.

3. Không áp dụng điều khoản loại trừ trách nhiệm bảo hiểm trong các trường hợp sau đây:

A) Bên mua bảo hiểm vi phạm pháp luật do vô ý;

B) Bên mua bảo hiểm có lý do chính đáng trong việc chậm thông báo cho doanh nghiệp bảo hiểm về việc xảy ra sự kiện bảo hiểm.

Điều 17. Quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp bảo hiểm 1. Doanh nghiệp bảo hiểm có quyền:

A) Thu phí bảo hiểm theo thoả thuận trong hợp đồng bảo hiểm;

C) Đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng bảo hiểm theo quy định tại khoản 2 Điều 19, khoản 2 Điều 20, khoản 2 Điều 35 và khoản 3 Điều 50 của Luật này;

D) Từ chối trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc từ chối bồi thường cho người được bảo hiểm trong trường hợp không thuộc phạm vi trách nhiệm bảo hiểm hoặc trường hợp loại trừ trách nhiệm bảo hiểm theo thoả thuận trong hợp đồng bảo hiểm;

E) Yêu cầu người thứ ba bồi hoàn số tiền bảo hiểm mà doanh nghiệp bảo hiểm đã bồi thường cho người được bảo hiểm do người thứ ba gây ra đối với tài sản và trách nhiệm dân sự;

G) Các quyền khác theo quy định của pháp luật.

2. Doanh nghiệp bảo hiểm có nghĩa vụ:

A) Giải thích cho bên mua bảo hiểm về các điều kiện, điều khoản bảo hiểm; quyền, nghĩa vụ của bên mua bảo hiểm;

B) Cấp cho bên mua bảo hiểm giấy chứng nhận bảo hiểm, đơn bảo hiểm ngay sau khi giao kết hợp đồng bảo hiểm;

C) Trả tiền bảo hiểm kịp thời cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm;

D) Giải thích bằng văn bản lý do từ chối trả tiền bảo hiểm hoặc từ chối bồi thường;

Đ) Phối hợp với bên mua bảo hiểm để giải quyết yêu cầu của người thứ ba đòi bồi thường về những thiệt hại thuộc trách nhiệm bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm;

E) Các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật.

Điều 18. Quyền và nghĩa vụ của bên mua bảo hiểm 1. Bên mua bảo hiểm có quyền:

A) Lựa chọn doanh nghiệp bảo hiểm hoạt động tại Việt Nam để mua bảo hiểm;

B) Yêu cầu doanh nghiệp bảo hiểm giải thích các điều kiện, điều khoản bảo hiểm; cấp giấy chứng nhận bảo hiểm hoặc đơn bảo hiểm;

C) Đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng bảo hiểm theo quy định tại khoản 3 Điều 19, khoản 1 Điều 20 của Luật này;

D) Yêu cầu doanh nghiệp bảo hiểm trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm theo thoả thuận trong hợp đồng bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm;

Đ) Chuyển nhượng hợp đồng bảo hiểm theo thoả thuận trong hợp đồng bảo hiểm hoặc theo quy định của pháp luật;

E) Các quyền khác theo quy định của pháp luật.

2. Bên mua bảo hiểm có nghĩa vụ:

A) Đóng phí bảo hiểm đầy đủ, theo thời hạn và phương thức đã thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm;

C) Thông báo những trường hợp có thể làm tăng rủi ro hoặc làm phát sinh thêm trách nhiệm của doanh nghiệp bảo hiểm trong quá trình thực hiện hợp đồng bảo hiểm theo yêu cầu của doanh nghiệp bảo hiểm;

D) Thông báo cho doanh nghiệp bảo hiểm về việc xảy ra sự kiện bảo hiểm theo thoả thuận trong hợp đồng bảo hiểm;

E) Các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật.

2. Doanh nghiệp bảo hiểm có quyền đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng bảo hiểm và thu phí bảo hiểm đến thời điểm đình chỉ thực hiện hợp đồng bảo hiểm khi bên mua bảo hiểm có một trong những hành vi sau đây:

A) Cố ý cung cấp thông tin sai sự thật nhằm giao kết hợp đồng bảo hiểm để được trả tiền bảo hiểm hoặc được bồi thường;

B) Không thực hiện các nghĩa vụ trong việc cung cấp thông tin cho doanh nghiệp bảo hiểm theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 18 của Luật này.

3. Trong trường hợp doanh nghiệp bảo hiểm cố ý cung cấp thông tin sai sự thật nhằm giao kết hợp đồng bảo hiểm thì bên mua bảo hiểm có quyền đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng bảo hiểm; doanh nghiệp bảo hiểm phải bồi thường thiệt hại phát sinh cho bên mua bảo hiểm do việc cung cấp thông tin sai sự thật.

Điều 20. Thay đổi mức độ rủi ro được bảo hiểm

1. Khi có sự thay đổi những yếu tố làm cơ sở để tính phí bảo hiểm, dẫn đến giảm các rủi ro được bảo hiểm thì bên mua bảo hiểm có quyền yêu cầu doanh nghiệp bảo hiểm giảm phí bảo hiểm cho thời gian còn lại của hợp đồng bảo hiểm. Trong trường hợp doanh nghiệp bảo hiểm không chấp nhận giảm phí bảo hiểm thì bên mua bảo hiểm có quyền đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng bảo hiểm, nhưng phải thông báo ngay bằng văn bản cho doanh nghiệp bảo hiểm.

2. Khi có sự thay đổi những yếu tố làm cơ sở để tính phí bảo hiểm, dẫn đến tăng các rủi ro được bảo hiểm thì doanh nghiệp bảo hiểm có quyền tính lại phí bảo hiểm cho thời gian còn lại của hợp đồng bảo hiểm. Trong trường hợp bên mua bảo hiểm không chấp nhận tăng phí bảo hiểm thì doanh nghiệp bảo hiểm có quyền đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng bảo hiểm, nhưng phải thông báo ngay bằng văn bản cho bên mua bảo hiểm.

Điều 21. Giải thích hợp đồng bảo hiểm

Trong trường hợp hợp đồng bảo hiểm có điều khoản không rõ ràng thì điều khoản đó được giải thích theo hướng có lợi cho bên mua bảo hiểm.

Điều 22. Hợp đồng bảo hiểm vô hiệu

1. Hợp đồng bảo hiểm vô hiệu trong các trường hợp sau đây:

A) Bên mua bảo hiểm không có quyền lợi có thể được bảo hiểm;

B) Tại thời điểm giao kết hợp đồng bảo hiểm, đối tượng bảo hiểm không tồn tại;

C) Tại thời điểm giao kết hợp đồng bảo hiểm, bên mua bảo hiểm biết sự kiện bảo hiểm đã xảy ra;

D) Bên mua bảo hiểm hoặc doanh nghiệp bảo hiểm có hành vi lừa dối khi giao kết hợp đồng bảo hiểm;

Đ) Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật.

Điều 23. Chấm dứt hợp đồng bảo hiểm

Ngoài các trường hợp chấm dứt hợp đồng theo quy định của Bộ luật dân sự, hợp đồng bảo hiểm còn chấm dứt trong các trường hợp sau đây:

1. Bên mua bảo hiểm không còn quyền lợi có thể được bảo hiểm;

2. Bên mua bảo hiểm không đóng đủ phí bảo hiểm hoặc không đóng phí bảo hiểm theo thời hạn thoả thuận trong hợp đồng bảo hiểm, trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác;

3. Bên mua bảo hiểm không đóng đủ phí bảo hiểm trong thời gian gia hạn đóng phí bảo hiểm theo thoả thuận trong hợp đồng bảo hiểm.

2. Trong trường hợp chấm dứt hợp đồng bảo hiểm theo quy định tại khoản 2 Điều 23 của Luật này, bên mua bảo hiểm vẫn phải đóng đủ phí bảo hiểm đến thời điểm chấm dứt hợp đồng bảo hiểm. Quy định này không áp dụng đối với hợp đồng bảo hiểm con người.

3. Trong trường hợp chấm dứt hợp đồng bảo hiểm theo quy định tại khoản 3 Điều 23 của Luật này, doanh nghiệp bảo hiểm vẫn phải chịu trách nhiệm bồi thường cho người được bảo hiểm khi sự kiện bảo hiểm xảy ra trong thời gian gia hạn đóng phí; bên mua bảo hiểm vẫn phải đóng phí bảo hiểm cho đến hết thời gian gia hạn theo thoả thuận trong hợp đồng bảo hiểm. Quy định này không áp dụng đối với hợp đồng bảo hiểm con người.

Điều 25. Sửa đổi, bổ sung hợp đồng bảo hiểm

1. Bên mua bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm có thể thoả thuận sửa đổi, bổ sung phí bảo hiểm, điều kiện, điều khoản bảo hiểm, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

2. Mọi sửa đổi, bổ sung hợp đồng bảo hiểm phải được lập thành văn bản.

Điều 26. Chuyển nhượng hợp đồng bảo hiểm

1. Bên mua bảo hiểm có thể chuyển nhượng hợp đồng bảo hiểm theo thoả thuận trong hợp đồng bảo hiểm.

2. Việc chuyển nhượng hợp đồng bảo hiểm chỉ có hiệu lực trong trường hợp bên mua bảo hiểm thông báo bằng văn bản cho doanh nghiệp bảo hiểm về việc chuyển nhượng và doanh nghiệp bảo hiểm có văn bản chấp thuận việc chuyển nhượng đó, trừ trường hợp việc chuyển nhượng được thực hiện theo tập quán quốc tế.

Điều 27. Trách nhiệm trong trường hợp tái bảo hiểm

1. Doanh nghiệp bảo hiểm chịu trách nhiệm duy nhất đối với bên mua bảo hiểm theo hợp đồng bảo hiểm, kể cả trong trường hợp tái bảo hiểm những trách nhiệm đã nhận bảo hiểm.

2. Doanh nghiệp nhận tái bảo hiểm không được yêu cầu bên mua bảo hiểm trực tiếp đóng phí bảo hiểm cho mình, trừ trường hợp có thoả thuận khác trong hợp đồng bảo hiểm.

3. Bên mua bảo hiểm không được yêu cầu doanh nghiệp nhận tái bảo hiểm trả tiền bảo hiểm hoặc bồi thường cho mình, trừ trường hợp có thoả thuận khác trong hợp đồng bảo hiểm.

Điều 28. Thời hạn yêu cầu trả tiền bảo hiểm hoặc bồi thường

1. Thời hạn yêu cầu trả tiền bảo hiểm hoặc bồi thường theo hợp đồng bảo hiểm là một năm, kể từ ngày xảy ra sự kiện bảo hiểm. Thời gian xảy ra sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan khác không tính vào thời hạn yêu cầu trả tiền bảo hiểm hoặc bồi thường.

2. Trong trường hợp bên mua bảo hiểm chứng minh được rằng bên mua bảo hiểm không biết thời điểm xảy ra sự kiện bảo hiểm thì thời hạn quy định tại khoản 1 Điều này được tính từ ngày bên mua bảo hiểm biết việc xảy ra sự kiện bảo hiểm đó.

3. Trong trường hợp người thứ ba yêu cầu bên mua bảo hiểm bồi thường về những thiệt hại thuộc trách nhiệm bảo hiểm theo thoả thuận trong hợp đồng bảo hiểm thì thời hạn quy định tại khoản 1 Điều này được tính từ ngày người thứ ba yêu cầu.

Điều 29. Thời hạn trả tiền bảo hiểm hoặc bồi thường

Khi xảy ra sự kiện bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm hoặc bồi thường theo thời hạn đã thoả thuận trong hợp đồng bảo hiểm; trong trường hợp không có thoả thuận về thời hạn thì doanh nghiệp bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm hoặc bồi thường trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được đầy đủ hồ sơ hợp lệ về yêu cầu trả tiền bảo hiểm hoặc bồi thường.

Điều 30. Thời hiệu khởi kiện

Thời hiệu khởi kiện về hợp đồng bảo hiểm là ba năm, kể từ thời điểm phát sinh tranh chấp.

Khoản 1 Điều 23 Luật Bảo Hiểm Xã Hội

Khoản 1 Điều 5 Luật Bảo Hiểm Xã Hội

Khoản 2 Điều 135 Luật Bảo Hiểm Xã Hội

Trách Nhiệm Cung Cấp Trong Kinh Doanh Bảo Hiểm

Điều 31 Luật Bảo Hiểm Xã Hội

Các Loại Hợp Đồng Bảo Hiểm

Nguyên Lý Bảo Hiểm Và Phân Loại Bảo Hiểm

Chuyển Giao Hợp Đồng Bảo Hiểm Theo Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm

Câu Hỏi Về Kinh Doanh Bảo Hiểm

Tìm Hiểu Pháp Luật Liên Quan Đến Bảo Hiểm Quy Định Chung

Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm Sửa Đổi, Bổ Sung Ngày 24 Tháng 11 Năm 2010

Thứ nhất, dựa trên ý chí của người tham gia bảo hiểm. Hợp đồng bảo hiểm được chia thành hai loại.

– Hợp đồng bảo hiểm tự nguyện. Đây là những hợp đồng mà chủ thể được quyền hoàn toàn tự nguyện trong việc có tham gia hay không tham gia hợp đồng bảo hiểm. Đồng thời, nếu tham gia, bên được bảo hiểm cũng được thỏa thuận về nội dung hợp đồng theo ý chí của mình dựa trên nguyên tắc bình đẳng, các bên cùng có lợi

– Hợp đồng bảo hiểm bắt buộc. Đây là những hợp đồng mà theo quy định của pháp luật, một số chủ thể nhất định buộc phải tham gia hợp đồng này trong những trường hợp nhất định nhằm bảo vệ lợi ích công cộng và an toàn xã hội. Đồng thời, khi tham gia hợp đồng, các bên phải tuân thủ các điều kiện mà pháp luật đã quy định trước.

Thứ hai, dựa trên đối tượng bảo hiểm. Hợp đồng bảo hiểm được chia thành bốn loại

– Hợp đồng bảo hiểm tài sản. Đây là loại hợp đồng bảo hiểm trong đó đối tượng được bảo hiểm là tài sản, bao gồm vật có thực, tiền, giấy tờ trị giá được bằng tiền và các quyền tài sản.

– Hợp đồng bảo hiểm con người. Đây là một hợp đồng bảo hiểm trong đó có đối tượng được bảo hiểm là tuổi thọ, tính mạng, sức khỏe và tai nạn con người. Trong đó, hợp đồng có đối tượng bảo hiểm là tuổi thọ, tính mạng con người là hợp đồng bảo hiểm nhân thọ, trường hợp còn lại trong nhóm bảo hiểm này là hợp đồng bảo hiểm phi nhân thọ.

– Hợp đồng bảo hiểm kết hợp. Đây là hợp đồng bảo hiểm có đối tượng bảo hiểm là tài sản của con người tham gia bảo hiểm và trách nhiệm dân sự của chủ sở hữu tài sản đó với người thứ ba. Nói cách khác, hợp đồng này bao gồm đối tượng của hai loại hợp đồng khác nhau là hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự và hợp đồng bảo hiểm tài sản.

Ba là, dựa trên giá trị bảo hiểm. Hợp đồng bảo hiểm chia làm ba loại.

– Hợp đồng bảo hiểm đúng giá trị. Đây là loại hợp đồng mà việc bảo hiểm được thực hiện trên cơ sở số tiền bảo hiểm bằng với giá trị thực tế của toàn bộ đối tượng bảo hiểm. Trong trường hợp này, số tiền bảo hiểm được xác định trên cơ sở giá trị của tài sản vào thời điểm giao kết hợp đồng.

– Hợp đồng bảo hiểm dưới giá trị. Đây là loại hợp đồng mà theo đó, việc bảo hiểm được thực hiện trên cơ sở số tiền bảo hiểm thấp hơn giá trị của tài sản được bảo hiểm vào thời điểm giao kết hợp đồng.

– Hợp đồng bảo hiểm trên giá trị. Theo quy định tại điều 42, Luật kinh doanh bảo hiểm năm 2000 đã được sửa đổi, bổ sung bằng năm 2010, quy định Luật kinh doanh bảo hiểm sửa đổi, bổ sung

“Hợp đồng bảo hiểm tài sản trên giá trị là hợp đồng trong đó số tiền bảo hiểm cao hơn giá thị trường của tài sản được bảo hiểm tại thời điểm giao kết hợp đồng. Doanh nghiệp bảo hiểm và bên mua bảo hiểm không được giao kết hợp đồng bảo hiểm tài sản trên giá trị”.

Như vậy, tất cả các hợp đồng bảo hiểm tài sản mà trong đó, mức bảo hiểm lớn hơn giá thị trường của tài sản vào thời điểm giao kết hợp đồng đều được coi là bảo hiểm trên giá trị và về nguyên tắc, các bên không được giao kết hợp đồng này.

Phân Loại Các Loại Hình Bảo Hiểm

Câu Hỏi Bán Trắc Nghiệm Luật Kinh Doanh (Có Đáp Án)

Câu Hỏi Nhận Định Đúng Sai Môn Chủ Thể Kinh Doanh (Có Đáp Án)

Các Loại Bảo Hiểm Theo Quy Định Của Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm

Khái Quát Một Số Văn Bản Pháp Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm

Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm 24/2000/qh10: Doanh Nghiệp Bảo Hiểm

Luật 42/2019/qh14 Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm, Luật Sở Hữu Trí Tuệ Sửa Đổi 2022

Law 42/2019/qh14 Amendments Of Law On Insurance Business And Law On Intellectual Property

Tải Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm Sửa Đổi Số 61/2010/qh12 Năm 2010 Miễn Phí

Luật Sửa Đổi, Bổ Sung Một Số Điều Của Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm Số 61/2010/qh12

Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm Sửa Đổi, Bổ Sung Năm 2010 Số 61/2010/qh12

CHƯƠNG III

DOANH NGHIỆP BẢO HIỂM

MỤC 1

CẤP GIẤY PHÉP THÀNH LẬP VÀ HOẠT ĐỘNG

Điều 59. Các loại hình doanh nghiệp bảo hiểm

Các loại hình doanh nghiệp bảo hiểm bao gồm:

1. Doanh nghiệp bảo hiểm nhà nước;

2. Công ty cổ phần bảo hiểm;

3. Tổ chức bảo hiểm tương hỗ;

4. Doanh nghiệp bảo hiểm liên doanh;

5. Doanh nghiệp bảo hiểm 100% vốn đầu tư nước ngoài.

Điều 60. Nội dung hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm

1. Nội dung hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm bao gồm:

A) Kinh doanh bảo hiểm, kinh doanh tái bảo hiểm;

B) Đề phòng, hạn chế rủi ro, tổn thất;

C) Giám định tổn thất;

D) Đại lý giám định tổn thất, xét giải quyết bồi thường, yêu cầu người thứ ba bồi hoàn;

Đ) Quản lý quỹ và đầu tư vốn;

E) Các hoạt động khác theo quy định của pháp luật.

2. Doanh nghiệp bảo hiểm không được phép đồng thời kinh doanh bảo hiểm nhân thọ và bảo hiểm phi nhân thọ, trừ trường hợp doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ kinh doanh nghiệp vụ bảo hiểm sức khoẻ và bảo hiểm tai nạn con người bổ trợ cho bảo hiểm nhân thọ.

Điều 61. Nội dung kinh doanh tái bảo hiểm

Kinh doanh tái bảo hiểm bao gồm:

1. Chuyển một phần trách nhiệm đã nhận bảo hiểm cho một hay nhiều doanh nghiệp bảo hiểm khác;

2. Nhận bảo hiểm lại một phần hay toàn bộ trách nhiệm mà doanh nghiệp bảo hiểm khác đã nhận bảo hiểm.

2. Việc cấp giấy phép thành lập và hoạt động cho doanh nghiệp bảo hiểm phải phù hợp với quy hoạch, kế hoạch định hướng phát triển thị trường bảo hiểm, thị trường tài chính của Việt Nam.

Điều 63. Điều kiện để được cấp giấy phép thành lập và hoạt động

Các điều kiện để được cấp giấy phép thành lập và hoạt động bao gồm:

1. Có số vốn điều lệ đã góp không thấp hơn mức vốn pháp định theo quy định của Chính phủ;

2. Có hồ sơ xin cấp giấy phép thành lập và hoạt động theo quy định tại Điều 64 của Luật này;

3. Có loại hình doanh nghiệp và điều lệ phù hợp với quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật;

4. Người quản trị, người điều hành có năng lực quản lý, chuyên môn, nghiệp vụ về bảo hiểm.

Điều 64. Hồ sơ xin cấp giấy phép thành lập và hoạt động

Hồ sơ xin cấp giấy phép thành lập và hoạt động bao gồm:

1. Đơn xin cấp giấy phép thành lập và hoạt động;

2. Dự thảo điều lệ doanh nghiệp;

3. Phương án hoạt động năm năm đầu, trong đó nêu rõ phương thức trích lập dự phòng nghiệp vụ, chương trình tái bảo hiểm, đầu tư vốn, hiệu quả kinh doanh, khả năng thanh toán của doanh nghiệp bảo hiểm và lợi ích kinh tế của việc thành lập doanh nghiệp;

4. Danh sách, lý lịch, các văn bằng chứng minh năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của người quản trị, người điều hành doanh nghiệp;

6. Quy tắc, điều khoản, biểu phí, hoa hồng bảo hiểm của loại sản phẩm bảo hiểm dự kiến tiến hành.

Điều 65. Thời hạn cấp giấy phép

Trong thời hạn 60 ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ xin cấp giấy phép thành lập và hoạt động, Bộ Tài chính phải cấp hoặc từ chối cấp giấy phép. Trong trường hợp từ chối cấp giấy phép, Bộ Tài chính phải có văn bản giải thích lý do.

Giấy phép thành lập và hoạt động đồng thời là giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.

Điều 66. Lệ phí cấp giấy phép

Doanh nghiệp bảo hiểm được cấp giấy phép thành lập và hoạt động phải nộp lệ phí cấp giấy phép theo quy định của pháp luật.

Điều 67. Công bố nội dung hoạt động

Sau khi được cấp giấy phép thành lập và hoạt động, doanh nghiệp bảo hiểm phải công bố nội dung hoạt động kinh doanh theo quy định của pháp luật.

Điều 68. Thu hồi giấy phép thành lập và hoạt động

1. Doanh nghiệp bảo hiểm có thể bị thu hồi giấy phép thành lập và hoạt động khi xảy ra một trong những trường hợp sau đây:

A) Hồ sơ xin cấp giấy phép thành lập và hoạt động có thông tin cố ý làm sai sự thật;

B) Sau 12 tháng kể từ ngày được cấp giấy phép thành lập và hoạt động mà không bắt đầu hoạt động;

C) Giải thể theo quy định tại Điều 82 của Luật này;

D) Chia, tách, hợp nhất, sáp nhập, phá sản, chuyển đổi hình thức doanh nghiệp;

Đ) Hoạt động sai mục đích hoặc không đúng với nội dung quy định trong giấy phép thành lập và hoạt động;

E) Không bảo đảm các yêu cầu về tài chính để thực hiện các cam kết với bên mua bảo hiểm.

2. Trong trường hợp bị thu hồi giấy phép thành lập và hoạt động theo quy định tại các điểm a, b, c, đ và e khoản 1 Điều này, doanh nghiệp bảo hiểm phải đình chỉ ngay việc giao kết hợp đồng bảo hiểm mới, nhưng vẫn có trách nhiệm trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm và phải thực hiện các hợp đồng bảo hiểm đã giao kết trước ngày bị thu hồi giấy phép thành lập và hoạt động.

Trong trường hợp bị thu hồi giấy phép thành lập và hoạt động theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều này, quyền và nghĩa vụ của các bên được thực hiện theo quy định của pháp luật.

3. Quyết định thu hồi giấy phép thành lập và hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm được Bộ Tài chính công bố trên các phương tiện thông tin đại chúng.

Điều 69. Những thay đổi phải được chấp thuận

1. Doanh nghiệp bảo hiểm phải được Bộ Tài chính chấp thuận bằng văn bản khi thay đổi một trong những nội dung sau đây:

A) Tên doanh nghiệp;

B) Vốn điều lệ;

C) Mở hoặc chấm dứt hoạt động của chi nhánh, văn phòng đại diện;

D) Địa điểm đặt trụ sở chính, chi nhánh, văn phòng đại diện;

Đ) Nội dung, phạm vi và thời hạn hoạt động;

E) Chuyển nhượng cổ phần, phần vốn góp chiếm 10% số vốn điều lệ trở lên;

G) Chủ tịch Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc (Giám đốc);

H) Chia, tách, sáp nhập, hợp nhất, giải thể, chuyển đổi hình thức doanh nghiệp.

2. Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày Bộ Tài chính chấp thuận việc thay đổi theo quy định tại khoản 1 Điều này, doanh nghiệp bảo hiểm phải công bố các nội dung thay đổi đã được chấp thuận theo quy định của pháp luật.

(Còn nữa…)

Theo chinhphu.vn

Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm Số: 24/2000/qh10

Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm Số 24/2000/qh10 Của Quốc Hội

Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm Số 24/2000/qh10

Doanh Nghiệp Bảo Hiểm Phá Sản

Nếu Công Ty Bảo Hiểm Nhân Thọ Phá Sản Thì Quyền Lợi Khác Hàng Sẽ Ra Sao?

Tiểu Luận Khái Quát Về Kinh Doanh Bảo Hiểm & Pháp Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm

Đbqh Góp Ý Kiến Về Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm Và Luật Sở Hữu Trí Tuệ

Có Bao Nhiêu Loại Bảo Hiểm Và Phân Biệt Các Loại Như Thế Nào?

Bảo Hiểm Là Gì? Các Thuật Ngữ Cơ Bản Nhất Trong Bảo Hiểm Bạn Nên Biết

Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm Và Luật Sở Hữu Trí Tuệ (Sửa Đổi)

Dự Thảo Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm Sửa Đổi, Luật Sở Hữu Trí Tuệ Sửa Đổi

KHÁI QUÁT VỀ KINH DOANH BẢO HIỂM & PHÁP LUẬT KINH DOANH BẢO HIỂM.

Phần I : TỔNG QUAN VỀ BẢO HIỂM – PHÁP LUẬT VỀ KINH DOANH BẢO HIỂM

I. KHÁI NIỆM KINH DOANH BẢO HIỂM VÀ PHÁP LUẬT KINH DOANH BẢO HIỂM.

1/ Khái niệm chung về bảo hiểm và kinh doanh bảo hiểm

Dù phương thức sản xuất nào, con người và tài sản cũng luôn bị đe doạ bởi thiên tai và

các tai biến bất ngờ phát sinh ngay trong hoạt động của con người.

Dù muốn hay không nhiều loại rủi ro đã xuất hiện vẫn tồn tại và sẽ còn chi phối đến

cuộc sống của mỗi người, mỗi gia đình, DN và toàn xã hội. Chính sự tồn tại của rủi ro là

nguồn gốc phát sinh tồn tại của bảo hiểm. Nguyên nhân gây ra những rủi ro là yếu tố tự nhiên,

kỹ thuật và yếu tố xã hội khác. Suốt trong lịch sử của mình, loài người đã phải chịu đựng và

chứng kiến biết bao hiểm hoạ, nào là động đất, núi lửa, bão lụt, hạn hán, sóng thần, dịch bệnh,

chiến tranh, tai nạn giao thông, hoả hoạn, phóng xạ, ô nhiễm. ..

Rủi ro, hiểm hoạ bất ngờ xảy ra không biết trước về thời gian, địa điểm, quy mô, mức

độ thiệt hại, điều đó ảnh hưởng đến cuộc sống, cũng như quá trình sản xuất kinh doanh ở từng

cá nhân, gia đình, tổ chức và cũng ảnh hưởng đến sự ổn định chung của xã hội. Đứng trước

thực trạng đó, con người luôn có những hành động tích cực, chủ động để ngăn ngừa, khắc

phục có hiệu quả những tổn thất do thiên tai, tai nạn bất ngờ xảy ra với tất cả khả năng của

mình, nhằm giảm tới mức thấp nhất những thiệt hại để sớm phục hồi quá trình sản xuất kinh

doanh và đời sống. Các biện pháp phổ biến được con người sử dụng là:

-Biện pháp phòng ngừa: là biện pháp do con người sử dụng do nhận thức được quy luật

của tự nhiên như đắp đê chống lũ, trồng rừng phòng hộ, xây dựng các trạm phòng cháy, xây

dựng hệ thống dự báo thời tiết…

-Biện pháp cứu trợ: biện pháp này được thực hiện khi đã có rủi ro xảy ra để khắc phục

hậu quả của rủi ro. Biện pháp này có thể do chính quyền nhà nước thực hiện hoặc do các tổ

chức, cá nhân thực hiện trên tinh thần nhân đạo và mang tính tự nguyện nhằm giúp đỡ các tổ

chức, cá nhân gặp rủi ro khắc phục các hậu quả.

-Biện pháp dự trữ – bảo hiểm: Bảo hiểm là biện pháp phòng xa để nhằm hạn chế tới

mức thấp nhất những rủi ro gây ra. Mần mống của bảo hiểm có từ xa xưa khi con người chưa

biết đến bảo hiểm nhưng họ đã có ý thức được việc làm cần thiết để bảo đảm cho sự sinh tồn

như dự trữ lương thực, vật nuôi trong ngày săn bắn được nhiều để dùng cho những ngày mưa

rét không đi săn bắn và hái lượm được. Đó là là những dấu hiệu đầu tiên về hoạt động bảo

hiểm mang tính chất tự bảo hiểm.

Bảo hiểm thực chất là việc con người phải dành ra một phần sản phẩm trong kết quả lao

động hàng năm của mình để lập ra quỹ dự trữ đủ lớn về vật tư hoặc bằng tiền (quỹ đó gọi là

quỹ dự trữ bảo hiểm ) nhằm :

-Hỗ trợ tài chính cho việc đề phòng và hạn chế tổn thất khi hiểm hoạ chưa hoặc đang

xảy ra.

1

-Bù đắp và bồi thường kịp thời những thiệt hại và tổn thất về người và tài sản, sau khi

xảy ra hiểm hoạ.

Có 3 loại quỹ được thành lập và chi dùng cho mục đích nêu trên là :

-Quỹ dự trữ nhà nước được lập ra từ ngân sách nhà nước (quỹ dự phòng trong ngân

sách, quỹ dự trữ quốc gia, quỹ dự trữ tài chính ). Quỹ này thuộc sở hữu nhà nước do nhà nước

quản lý, nó được sử dụng để bù đắp những thiệt hại do thiên tai, tai nạn bất ngờ gây ra trên

diện rộng quy mô lớn, vì phạm vi hoạt động rộng, nên chỉ sử dụng khi có những biến cố rủi ro

lớn trên nhiều vùng, ảnh hưởng tới nhiều tầng lớp dân cư. quỹ này không được sử dựng khi rủi

ro thiệt hại mang tính cá biệt. Do đó nó không đáp ứng đầy đủ các nhu cầu của từng tổ chức,

gia đình, cá nhân.

-Quỹ dự phòng riêng của từng tổ chức, cá nhân, gia đình: ( Quỹ dự trữ phân tán) Quỹ

này do các doanh nghiệp, gia đình, cá nhân tự lập ra bằng thu nhập của mình, họ tự quản lý, sử

dụng cho nên nó có thể đáp ứng kịp thời, nhanh chóng chủ động đối với những tổn thất vừa và

nhỏ, nhưng vì quy mô quỹ không lớn, không thể bù đắp cho những tổn thất lớn, không phát

huy được tính cộng đồng tương trợ, nó chỉ đóng khung trong từng đơn vị, không cơ động, có

thể dẫn đến tình trạng ứ đọng vốn, lãng phí vốn, hiệu quả kinh tế không cao.

-Quỹ bảo hiểm tập trung do đông đảo những người tham gia bảo hiểm đóng góp theo

một chế độ thống nhất và bình đẳng (Quỹ dự trữ tập trung mang tính cộng đồng ). Quỹ này

được lập bằng tiền do những tổ chức, cá nhân có cùng khả năng gặp những biến cố nào đó

đóng góp, tạo lập quỹ. Nó được sử dụng để phòng ngừa và bù đắp những tổn thất cho các tổ

chức, cá nhân tham gia lập quỹ khi có sự kiện bảo hiểm xuất hiện. Phương thức tạo lập và sử

dụng quỹ này trên nguyên tắc ” lấy số đông bù cho số ít ” nên nó mang tính kinh tế, tính xã hội

cao. Bởi vì: Giúp cho người tham gia bảo hiểm khắc phục nhanh chóng những thiệt hại, đảm

bảo cho quá trình sản xuất và đời sống phát triển bình thường. Nó là biện pháp dự trữ bảo hiểm

có hiệu quả kinh tế cao nhất, có khả năng thanh toán nhanh, bù đắp lớn. Đối với mỗi cá nhân

hàng năm chỉ phải chi ra một lượng tiền nhỏ để đóng phí bảo hiểm, không ảnh hưởng đến đời

sống của mình. Đối với các cơ sở sản xuất kinh doanh thì phí bảo hiểm là một chi phí xã hội

cần thiết nó được hạch toán vào giá thành sản phẩm. Nếu đem số phí đó phân ra theo từng đơn

vị sản phẩm và phân bổ cho cả năm tài chính thì số phí baỏ hiểm phải gánh chịu trên một đơn

vị sản phẩm là không đáng kể. Trong trường hợp có xảy ra rủi ro thì người tham gia bảo hiểm

được đền bù toàn bộ hay một phần thiệt hại, vốn kinh doanh được bảo toàn, đời sống ổn định.

Hình thức dự trữ bảo hiểm này sẽ đáp ứng một cách đầy đủ, linh hoạt nhất đối với mọi nhu cầu

đa dạng của mọi tổ chức, cá nhân trong nền kinh tế.

Dưới góc độ kinh tế tài chính thì bảo hiểm là phương pháp lập quỹ dự trữ bằng tiền do

những tổ chức, cá nhân có cùng khả năng gặp những sự cố nào đó đóng góp và để từ quỹ đó sử

dụng để đề phòng, ngăn ngừa và bù đắp những tổn thất cho những tổ chức, cá nhân tham gia

lập quỹ khi họ gặp những rủi ro bảo hiểm hoặc để thực hiện những chính sách xã hôi.

Như vậy, việc tạo lập quỹ bảo hiểm là một yếu tố, một yêu cầu không thể thiếu được để

đảm bảo cho nền kinh tế -xã hội phát triển bình thường khi gặp phải tổn thất do những yếu tố

khách quan bất ngờ gây ra. Người ta ví “không có bảo hiểm như cầu thang không có tay vịn”

Cùng với sự phát triển của xã hội loài người do nhu cầu ổn định sản xuất và đời sống

các loại bảo hiểm khác nhau đã ra đời. Đặc biệt khi nền kinh tế hàng hoá phát triển nhu cầu

bảo hiểm ngày càng đòi hỏi đa dạng, con người đã đã xây dựng các quỹ dự trữ bảo hiểm khác

2

nhau. Nhưng để đạt hiệu quả kinh tế -xã hội cao trong hoạt động bảo hiểm, kinh doanh dịch vụ

bảo hiểm ra đời và nó không ngừng phát triển trong nền kinh tế hàng hoá -tiền tệ. Bảo hiểm

không chỉ đơn thuần làm lá chắn cho sự phát triển kinh tế và ổn định đời sống, mà còn thực sự

trở thành một lĩnh vực kinh doanh đặc biệt để thu lợi nhuận cao cho các doanh nghiệp. Hai

mục đích đó vừa là tiền đề, vừa là điều kiện để hoạt động bảo hiểm tồn tại và phát triển.

Do tính chất đa dạng của các loại rủi ro xâm hại đến lợi ích của nhiều chủ thể đòi hỏi

phải có nhiều loại hình bảo hiểm:

– Căn cứ vào đối tượng bảo hiểm có bảo hiểm tài sản, bảo hiểm con người, bảo hiểm

TNDS;

-Căn cứ vào tính chất pháp lý trong baỏ hiểm có bảo hiểm bắt buộc bảo hiểm tự

nguyện;

* căn cứ vào tính chất, phương thức và mục đích sử dụng các loại quỹ bảo hiểm tập

trung mang tính cộng đồng, người ta chia bảo hiểm thành hai loại bảo hiểm mang tính kinh

doanh và bảo hiểm phi kinh doanh:

Bảo hiểm không mang tính kinh doanh là loại hình bảo hiểm do nhà nước thực hiện

nhằm thực hiện chính sách kinh tế xã hội. Nó đặt dưới sự bảo trợ của nhà nước, Mục đích của

hoạt động bảo hiểm này không đặt ra mục tiêu kinh doanh lấy lợi nhuận. Loại hình bảo hiểm

phi kinh doanh ở nước ta hiện nay là bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm tiền gửi …

Bảo hiểm có tính kinh doanh là hoạt động bảo hiểm do doanh nghiệp bảo hiểm thực

hiện thông qua việc lập quỹ bảo hiểm từ nguồn thu phí bảo hiểm của các tổ chức, cá nhân tham

gia, sau đó quỹ này được sử dụng để bồi thường, chi trả cho các trường hợp thuộc diện được

bảo hiểm khi có sự kiện bảo hiểm.

Nếu so sánh giữa bảo hiểm không mang tính kinh doanh mà điển hình là bảo hiểm xã

hội với loại hình kinh doanh bảo hiểm thì giữa chúng có những diểm giống nhau đó là: chúng

đều có mục đích giúp ổn định kinh tế, đảm bảo đời sống, khắc phục khó khăn do nguyên nhân

khách quan gây ra. Người tham gia đều có trách nhiệm đóng phí bảo hiểm. Bên cạnh đó,

chúng có điểm khác nhau cơ bản sau:

Nội dung

ph

ân

biệ

t

Bản chất

Bảo hiểm xã hội (một loại hình bảo

hiểm không mang tính kinh doanh)

Kinh doanh bảo hiểm

Là một chính sách thuộc lĩnh vực đảm Là một dịch vụ tài chính xuất phát

bảo xã hội của một nhà nước

từ nhu cầu được bảo vệ, ngoài sự

đảm bảo chung của xã hội

Đối tượng Là người lao động, người làm công, ăn Con người, tài sản, trách nhiệm dân

bảo hiểm

lương

sự

Phạm vi

bảo hiểm

Trong giới hạn một quốc gia

Vượt ra ngoài phạm vi quốc gia(Tái

bảo hiểm ).

3

Nguồn

Chủ yếu huy động sự đóng góp của Được tạo lập từ sự đóng góp phí

hình thành người lao động,người sử dụng lao động của tổ chức, cá nhân có nhu cầu

quỹ

và có thể một phần trợ cấp từ ngân được bảo hiểm.

sách.

bảo hiểm

Mục đích

sử

quỹ

Để trợ cấp cho người lao động khi họ Chi bồi thường cho những tổ chức,

dụng tạm thời hay vĩnh viễn mất sức lao cá nhân tham gia gặp rủi ro thuộc

động.

phạm vi trách nhiệm bảo hiểm.

Không vì lợi nhuận mà vì quyền lợi của Nhằm mục tiêu kinh doanh lấy lợi

người Lao động và của cả cộng đồng.

nhuận

thể Do cơ quan nhà nước quản lý theo quy

quỹ chế chung thống nhất.

Doanh nghiệp bảo hiểm

Luật điều Bộ luật lao động và VBPL về bảo hiểm Luật kinh doanh bảo hiểm

chỉnh

xã hội khác

2/ Khái niệm chung về kinh doanh bảo hiểm

Theo nghĩa rộng kinh doanh bảo hiểm là hoạt động có mục đích sinh lời của các chủ thể

kinh doanh trên thị trường bảo hiểm để nhằm tới việc ký kết và thực hiện tốt được các hợp

đồng bảo hiểm.

Tại Điều 3, Luật kinh doanh BH năm 2000: “Kinh doanh bảo hiểm là hoạt động của

doanh nghiệp bảo hiểm nhằm mục đích sinh lời, theo đó doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận rủi

ro của người được bảo hiểm, trên cơ sở bên mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm để doanh

nghiệp bảo hiểm trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho ngươì được bảo

hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm”.

Một số khái niệm được sử dụng trong định nghĩa trên được pháp luật giải thích như sau:

– Bên mua bảo hiểm là tổ chức, cá nhân giao kết hợp đồng bảo hiểm với doanh nghiệp

bảo hiểm và đóng phí bảo hiểm. Bên mua bảo hiểm có thể đồng thời là người được bảo hiểm

hoặc người thụ hưởng.

– Người được bảo hiểm là tổ chức, cá nhân có tài sản, trách nhiệm dân sự, tính mạng

được bảo hiểm theo hợp đồng bảo hiểm. Người được bảo hiểm có thể đồng thời là người thụ

hưởng.

– Người thụ hưởng bảo hiểm là tổ chức cá nhân được bên mua bảo hiểm chỉ định để

nhận tiền bảo hiểm theo hợp đồng bảo hiểm con người.

-Sự kiện bảo hiểm là sự kiện khách quan do các bên thoả thuận hoặc pháp luật quy định

mà khi có sự kiện đó xảy ra thì doanh nghiệp bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm cho người thụ

hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm.

4

5

6

Doanh nghiệp bảo hiểm

Doanh nghiệp môi giới bảo hiểm

Đại lý bảo hiểm

7

* Pháp luật về hợp đồng bảo hiểm; Bao gồm tất cả quy định chung về hợp đồng bảo

hiểm

* Pháp luật về chế độ bảo hiểm cụ thể

PL về bảo hiểm con người

Pl về bảo hiểm tài sản

PL về bảo hiểm trách nhiệm dân sự

2.3. Các nguyên tắc pháp lý trong kinh doanh bảo hiểm.

Tại điều 6 Luật kinh doanh bảo hiểm có quy định các nguyên tắc cơ bản trong kinh

doanh bảo hiểm gồm:

Thứ nhất, tổ chức, cá nhân có nhu cầu bảo hiểm phải tham gia bảo hiểm tại doanh

nghiệp bảo hiểm được thành lập và hoạt động tại Việt Nam

Việc đặt ra nguyên tắc này nhằm bảo vệ lợi ích quốc gia, tạo điều kiện cho sự phát triển

lành mạnh và lâu dài của thị trường bảo hiểm Việt Nam, đồng thời bảo đảm sự quản lý chặt

chẽ của Nhà nước và phù hợp với các quy định của pháp luật hiện hành và tập quán quốc tế.

Tuy nhiên do thực trạng phát triển của thị trường bảo hiểm ở Việt Nam chưa đáp ứng được hết

nhu cầu bảo hiểm của xã hội, Tại Điều 3 Nghị định quy định chi tiết thi hành một số điều của

luật kinh doanh bảo hiểm có quy định về điều kiện, nguyên tắc tham gia bảo hiểm:

1. Tổ chức, cá nhân muốn hoạt động kinh doanh bảo hiểm, kinh doanh tái bảo hiểm,

hoạt động môi giới bảo hiểm tại việt nam phải được bộ tài chính cấp giấy phép thành lập và

hoạt động theo quy định của luật kinh doanh bảo hiểm.

2. Tổ chức, cá nhân có nhu cầu bảo hiểm có quyền lựa chọn doanh nghiệp bảo hiểm và

chỉ được tham gia bảo hiểm tại doanh nghiệp bảo hiểm được phép hoạt động tại việt nam.

không một tổ chức, cá nhân nào được phép can thiệp trái pháp luật đến quyền lựa chọn doanh

nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm của bên mua bảo hiểm.

Tổ chức, cá nhân có nhu cầu bảo hiểm có thể tham gia bảo hiểm tại doanh nghiệp bảo

hiểm không có trụ sở ở Việt Nam trong những trường hợp: Các doanh nghiệp bảo hiểm hoạt

động ở Việt Nam chưa cung cấp được loại sản phẩm bảo hiểm mà tổ chức, cá nhân có nhu cầu

tham gia bảo hiểm hoặc theo quy định của các điều ước quốc tế mà Chính phủ Việt Nam đã ký

kết hoặc tham gia. Hợp đồng bảo hiểm được giao kết giữa các tổ chức, cá nhân Việt Nam với

doanh nghiệp bảo hiểm không có trụ sở ở Việt Nam trái với các quy định trên đều bị coi là vô

hiệu.

Thứ hai, Doanh nghiệp bảo hiểm phải duy trì khả năng tài chính phù hợp với quy mô

kinh doanh của mình để bảo vệ quyền lợi của tổ chức, cá nhân tham gia bảo hiểm.

Với tính chất là hoạt động kinh doanh rủi ro và mang tính xã hội hoá cao, với vai trò

quan trọng của kinh doanh bảo hiểm đối với nền kinh tế và sự ổn định của đời sống xã hội việc

bảo đảm khả năng tài chính của doanh nghiệp bảo hiểm để bảo đảm quyền lợi cho các tổ chức,

cá nhân tham gia bảo hiểm là rất quan trọng, bởi nó không chỉ tạo uy tín tạo ra khả năng kinh

doanh có hiệu quả cho doanh nghiệp bảo hiểm mà nó còn có ý nghĩakinh tế xã hội lớn. Với

việc quy định nguyên tắc chung cơ bản này trong Luật kinh doanh bảo hiểm, để trên cơ sở đó

8

9

kho¶n 5 ®iÒu 3 luËt kinh doanh b¶o hiÓm n¨m 2000.

10

doanh nghiệp bảo hiểm phải xây dựng các quỹ dự phòng để bảo đảm các cam kết của mình

trước những người tham gia bảo hiểm khi có các sự cố bảo hiểm xảy ra. Các quỹ này là nguồn

quan trọng để tham gia đầu tư nhằm tăng khả năng tài chính của doanh nghiệp bảo hiểm nhưng

phải đảm bảo nguyên tắc tính an toàn, tính sinh lời, và tính thanh khoản của các khoản vốn đầu

tư. Thông thường thì tính bồi thường tổn thất thực tế cho người được bảo hiểm trong một hợp

đồng bảo hiểm thường rất lớn, lớn gấp nhiều lần so với số phí bảo hiểm đã đóng. Vì thế, để

đảm bảo và ổn định nguồn tài chính cho việc bù đắp tổn thất, trong hoạt động bảo hiểm phải

áp dụng nguyên tắc lấy số đông bù số ít, tức là phải cung cấp nhiều sản phẩm bảo hiểm cho

nhiều loại khách hàng, trên nhiều vùng thị trường khác nhau… để lấy phí bảo hiểm đóng góp

từ nhiều người nhằm bù đắp cho một số ít người gặp rủi ro. Trên thực tế, đối với những hợp

đồng có giá trị lớn hoặc trường hợp có khả năng doanh nghiệp bảo hiểm phải bồi thường cho

nhiều người được bảo hiểm trong cùng một sự cố, để giảm bớt trách nhiệm tài chính đối với

rủi ro bảo hiểm doanh nghiệp bảo hiểm thường phải thực hiện nghiệp vụ tái bảo hiểm hoặc

đồng bảo hiểm. Mặt khác, để giảm bớt chi phí bồi thường, doanh nghiệp bảo hiểm phải tăng

cường giám sát các biện pháp phòng ngừa hạn chế tổn thất bảo hiểm.

Thứ hai, Doanh nghiệp bảo hiểm được tổ chức thành lập và hoạt động theo các qui định

của Luật kinh doanh bảo hiểm và các qui định khác của pháp luật. Xuất phát từ tính chất đặc

thù của hoạt động kinh doanh bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm được coi là một tổ chức kinh

doanh ngành nghề đặc biệt, nên pháp luật phải có những qui định riêng áp dụng cho doanh

nghiệp bảo hiểm, đó là Luật kinh doanh bảo hiểm. Trong việc tổ chức thành lập và hoạt động

của mình doanh nghiệp bảo hiểm phải tuân theo Luật kinh doanh bảo hiểm.

Tuy nhiên, bên cạnh việc áp dụng các qui định trong Luật kinh doanh bảo hiểm, doanh

nghiệp bảo hiểm còn phải tuân thủ theo các qui định khác của pháp luật trong hệ thống pháp

luật Việt Nam – nếu như vấn đề nào đó Luật kinh doanh bảo hiểm không quy định, không điều

chỉnh trực tiếp …Chẳng hạn doanh nghiệp bảo hiểm là công ty cổ phần thì việc tổ chức và

hoạt động của doanh nghiệp phải tuân theo các qui định trong Luật kinh doanh bảo hiểm đồng

thời còn phải tuân thủ các qui định dành cho công ty cổ phần quy định Luật doanh nghiệp …

Thứ ba, Doanh nghiệp bảo hiểm chịu sự quản lý trực tiếp của Bộ Tài Chính. Để quản lý

hoạt động kinh doanh bảo hiểm hầu hết các quốc gia trên thế giới đều giao cho một cơ quan

quản lý nhà nước nhất định. Một số nước ở Châu á như Singapor, Philipin, cơ quan quản lý

nhà nước về hoạt động kinh doanh bảo hiểm có tên gọi là Uỷ ban giám sát bảo hiểm. Các nước

khác như Anh, Nhật Bản, cơ quan này là một phòng trực thuộc vụ quản lý các ngân hàng.

ở Việt Nam, công tác quản lý nhà nước về hoạt động bảo hiểm được Chính phủ giao

cho Bộ Tài chính thống nhất lãnh đạo và quản lý công tác bảo hiểm. Trước đây do tính độc

quyền trong kinh doanh bảo hiểm, lúc đó Bộ tài chính đã giao cho Bảo Việt thực hiện hai chức

năng quản lý và trực tiếp kinh doanh bảo hiểm. Sau khi đất nước ta chuyển đổi sang kinh tế thị

trường thì để đáp ứng yêu cầu quản lý trong cơ chế kinh tế này, ngày 15 tháng 5 năm 1992 Bộ

trưởng Bộ tài chính đã ra quyết định số 223TC/ QĐ- BTC thành lập phòng quản lý bảo hiểm

trực thuộc vụ tài chính ngân hàng và tổ chức tài chính, Như vậy, bằng qui định trên Bộ Tài

Chính đã tách chức năng quản lý và chức năng kinh doanh bảo hiểm của Bảo Việt. Từ thời

điểm đó cho đến nay Bộ Tài chính là cơ quan của Chính phủ trực tiếp thực hiện chức năng

quản lý nhà nước về hoạt động kinh doanh bảo hiểm. Điều này đã được Luật kinh doanh bảo

hiểm qui định cụ thể: “Bộ Tài chính chịu trách nhiệm trước Chính Phủ thực hiện quản lý nhà

nước về kinh doanh bảo hiểm “(Khoản 2, Điều 121)

11

Đây là đặc điểm giúp ta phân biệt doanh nghiệp bảo hiểm với doanh nghiệp khác trong

nền kinh tế. Bởi vì, trong khi các doanh nghiệp kinh doanh trong các lĩnh vực ngành nghề khác

chịu sự quản lý của các cơ quan quản lý nhà nước khác như các tổ chức tín dụng chịu sự quản

lý nhà nước trực tiếp của Ngân hàng nhà nước, các doanh nghiệp kinh doanh chứng khoán

chịu sự quản lý nhà nước của Uỷ ban chứng khoán nhà nước …

1.2. Các loại hình doanh nghiệp bảo hiểm.

Trước đây, trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung lĩnh vực bảo hiểm rủi ro là lĩnh vực độc

quyền của nhà nước (gọi tên là bảo hiểm nhà nước). ở nước ta chỉ duy nhất có Tổng công ty

bảo hiểm Việt Nam (bảo Việt). Cơ quan “Bảo Việt” thực hiện đồng thời cả hai chức năng quản

lý nhà nước và kinh doanh bảo hiểm rủi ro. Chuyển sang cơ chế kinh tế mới – cơ chế kinh tế

thị trường, Nhà nước không còn giữ độc quyền trong lĩnh vực bảo hiểm rủi ro mà cho phép các

thành phần kinh kế được tham gia kinh doanh bảo hiểm-. Nhà nước có phân định rạch ròi giữa

chức năng quản lý và chức năng kinh doanh trong bảo hiểm rủi ro – Thị trường bảo hiểm đã

hình thành và phát triển cùng với sự phát triển của kinh tế xã hội. Nhiều loại hình doanh

nghiệp bảo hiểm ra đời, sản phẩm bảo hiểm phát triển rất đa dạng để đáp ứng nhu cầu của xã

hội. Vì vậy, việc phân loại các loại hình doanh nghiệp bảo hiểm là rất cần thiết. Có nhiều tiêu

chí để phân loại doanh nghiệp bảo hiểm, mỗi cách phân loại có ý nghĩa và mục đích riêng.

* Nếu căn cứ vào tính chất sở hữu vốn điều lệ trong doanh nghiệp bảo hiểm (cách phân

loại này theo Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000 chưa sửa đổi bổ sung) thì có các loại hình

doanh nghiệp bảo hiểm sau:

– Doanh nghiệp bảo hiểm nhà nước là một tổ chức kinh doanh bảo hiểm do nhà nước

đầu tư vốn, thành lập và tổ chức quản lý, thực hiện kinh doanh bảo hiểm và thực hiện những

nhiệm vụ nhà nước giao. Bên cạnh việc áp dụng các qui định của Luật kinh doanh bảo hiểm,

doanh nghiệp bảo hiểm nhà nước còn phải tuân thủ các qui định trong các văn bản pháp luật

dành riêng cho doanh nghiệp nhà nước. Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ

nghĩa ở nước ta những doanh nghiệp nhà nước nói chung và doanh nghiệp bảo hiểm nhà nước

nói riêng đóng vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế, luôn được Đảng và Nhà nước ta quan

tâm, tạo điều kiện khuyến khích phát triển để nó trở thành thành phần kinh tế chủ đạo trong

những ngành, lĩnh vực then chốt của nền kinh tế.

– Công ty cổ phần bảo hiểm: là loại doanh nghiệp bảo hiểm trong đó các thành viên

cùng góp vốn để kinh doanh bảo hiểm, cùng chia nhau lợi nhuận, cùng chịu lỗ tương ứng với

phần vốn góp và chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi phần vốn

góp của mình góp vào công ty.Thực chất thì công ty cổ phần bảo hiểm là những công ty cổ

phần kinh doanh trong lĩnh vực bảo hiểm. Việc tổ chức và hoạt động của công ty cổ phần bảo

hiểm luôn chịu sự điều chỉnh của Luật kinh doanh bảo hiểm và Luật doanh nghiệp.

– Tổ chức bảo hiểm tương hỗ; Tổ chức bảo hiểm tương hỗ là tổ chức có tư cách pháp

nhân được thành lập để kinh doanh bảo hiểm nhằm tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau giữa các thành

viên. Thành viên tổ chức bảo hiểm tương hỗ vừa là chủ sở hữu vừa là bên mua bảo hiểm”.

Theo quy định của pháp luật hiện hành,Thành viên tổ chức bảo hiểm tương hỗ là Tổ chức,

công dân Việt Nam từ đủ 18 tuổi trở lên, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, hoạt động trong

cùng một lĩnh vực, ngành nghề, có nhu cầu bảo hiểm đều có quyền tham gia thành lập tổ chức

bảo hiểm tương hỗ với tư cách là thành viên sáng lập. Chỉ các tổ chức, cá nhân giao kết hợp

đồng bảo hiểm với tổ chức bảo hiểm tương hỗ mới có thể trở thành thành viên của tổ chức bảo

12

hiểm tương hỗ. Việc thành lập, tổ chức và hoạt động của tổ chức bảo hiểm tương hỗ do Chính

phủ quy định.

Trên thế giới, phần lớn các doanh nghiệp bảo hiểm được tổ chức dưới hình thức công ty

bảo hiểm tương hỗ. Đây là loại hình doanh nghiệp được thành lập nhằm tương trợ, giúp đỡ lẫn

nhau giữa các thành viên, mục đích kinh doanh chỉ là thứ yếu. ở Việt Nam, thị trường bảo

hiểm mới ở giai đoạn đầu của sự phát triển thì đây là một mô hình mới, chưa hề có một tổ chức

bảo hiểm tương hỗ nào tồn tại trên thực tế. Việc qui định loại hình doanh nghiệp bảo hiểm này

ở Việt Nam hiện nay là cần thiết, phù hợp với tính chất và đặc thù của nền kinh tế Việt Nam.

Bởi vì đối với một số lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng, đánh bắt thuỷ sản tại Việt

Nam là những lĩnh vực mà ta có thế mạnh mà các doanh nghiệp bảo hiểm hiện chưa phục vụ

được hoặc hoạt động không có hiệu quả. nếu chúng ta có doanh nghiệp bảo hiểm tương hỗ

trong những lĩnh vực như vậy có nhiều lợi thế. Việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống các văn

bản qui phạm về tổ chức bảo hiểm tương hỗ là hết sức cần thiết, tạo điều kiện để loại hình

doanh nghiệp này phát triển.

Doanh nghiệp bảo hiểm có vốn đầu tư nước ngoài (gồm doanh nghiệp bảo hiểm liên

doanh; Doanh nghiệp bảo hiểm 100% vốn đầu tư nước ngoài). Là doanh nghiệp bảo hiểm

được thành lập có một phần vốn hoặc 100% vốn điều lệ của doanh nghiệp bảo hiểm nước

ngoài để kinh doanh bảo hiểm tại Việt Nam. Doanh nghiệp bảo hiểm có vốn đầu tư nước ngoài

tại Việt Nam là pháp nhân Việt Nam hoạt động theo pháp luật Việt Nam.

-Doanh nghiệp bảo hiểm liên doanh: Là doanh nghiệp bảo hiểm được thành lập trên cơ

sở góp vốn của bên Việt Nam và bên nước ngoài. (Tỷ lệ góp vốn của bên Việt Nam trong

doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm liên doanh không được thấp hơn

30% vốn điều lệ.)

Doanh nghiệp bảo hiểm 100% vốn đầu tư nước ngoài: Là doanh nghiệp bảo hiểm do tổ

chức bảo hiểm nước ngoài đầu tư 100% vốn, thành lập tại Việt Nam. Doanh nghiệp này hoàn

toàn do chủ đầu tư là bên nước ngoài sở hữu và kiểm soát, không có sự tham gia của bên Việt

Nam.

Theo pháp luật hiện hành, doanh nghiệp bảo hiểm có vốn đầu tư nước ngoài không bị

hạn chế về nội dung, phạm vi hoạt động khi bán sản phẩm bảo hiểm cho các doanh nghiệp có

vốn đầu tư nước ngoài, tổ chức và cá nhân nước ngoài; các doanh nghiệp ngoài quốc doanh;

các sản phẩm phục vụ cho những chương trình phát triển nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp

và bảo hiểm rủi ro tài chính, bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp. Tuy nhiên, việc mở rộng nội

dung, phạm vi hoạt động sẽ được thực hiện theo hướng dẫn của Bộ Tài chính, phù hợp với nhu

cầu phát triển thị trường và các điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia. Cụ thể:

Trong năm hoạt động đầu tiên, doanh nghiệp bảo hiểm có vốn đầu tư nước ngoài chỉ được

phép mở một chi nhánh ngoài trụ sở chính để tiến hành hoạt động kinh doanh bảo hiểm. Sau 3

năm kể từ khi hoạt động, doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm có vốn đầu

tư nước ngoài được phép mở thêm 2 chi nhánh để tiến hành hoạt động kinh doanh bảo hiểm,

môi giới bảo hiểm. Sau 5 năm kể từ khi hoạt động, việc mở thêm chi nhánh của doanh nghiệp

bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm có vốn đầu tư nước ngoài được thực hiện theo nhu

cầu phát triển thị trường và điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia.

Theo điều 59 Luật kinh doanh bảo hiểm được sửa đổi bổ sung năm 2010 quy định:

Các tổ chức kinh doanh bảo hiểm bao gồm:

13

– Công ty cổ phần bảo hiểm.

– Công ty trách nhiệm hữu hạn bảo hiểm.

– Hợp tác xã bảo hiểm.

– Tổ chức bảo hiểm tương hỗ.

* Căn cứ vào nghiệp vụ bảo hiểm mà doanh nghiệp bảo hiểm được thực hiện thì các

doanh nghiệp bảo hiểm được chia thành hai loại là doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ và doanh

nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ.

– Doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ là doanh nghiệp kinh doanh nghiệp vụ bảo hiểm

nhân thọ. Bảo hiểm nhân thọ là chế độ bảo hiểm cho tuổi thọ con người. Mặc dù đối tượng bảo

hiểm nhân thọ là con người, nhưng so với các loại hình bảo hiểm con người khác nó có một số

dâú hiệu đặc trưng sau: bảo hiểm nhân thọ thời hạn hợp đồng dài và luôn có tính đền bù. Bảo

hiểm nhân thọ là sự kết hợp giữa hình thức bảo hiểm và hình thức tiết kiệm vừa là hình thức

đầu tư.

Do thời hạn bảo hiểm dài, mức phí bảo hiểm thường lớn, pháp luật có quy định cho phù

hợp với tính chất và đặc điểm của loại hình nghiệp vụ bảo hiểm này, nhằm bảo vệ quyền lợi

cho các bên tham gia quan hệ bảo hiểm. Chẳng hạn các quy định về đóng phí bảo hiểm của

bên mua bảo hiểm, hoặc pháp luật quy định về vấn đề đầu tư vốn của loại hình doanh nghiệp

bảo hiểm nhân thọ có sự khác biệt với hoạt động đầu tư vốn của doanh nghiệp bảo hiểm phi

nhân thọ để bảo vệ sự an toàn trong thanh toán, tính hiệu quả trong hoạt động đầu tư cho

doanh nghiệp bảo hiểm, bảo vệ quyền, lợi ích cho người tham gia bảo hiểm và cho cả doanh

nghiệp bảo hiểm…

– Doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ là doanh nghiệp kinh doanh nghiệp vụ bảo hiểm

phi nhân thọ. Bảo hiểm phi nhân thọ là loại nghiệp vụ bảo hiểm tài sản, trách nhiệm dân sự và

các nghiềp vụ bảo hiểm khác không thuộc bảo hiểm nhân thọ.

Do sự khác nhau về tính chất, đặc điểm của mỗi loại nghiệp vụ bảo hiểm trên mà Điều

60 khoản 2 Luật kinh doanh bảo hiểm quy định ” Doanh nghiệp bảo hiểm không được phép

đồng thời kinh doanh bảo hiểm nhân thọ và bảo hiểm phi nhân thọ, trừ trường hợp doanh

nghiệp bảo hiểm nhân thọ kinh doanh nghiệp vụ bảo hiểm sức khoẻ và bảo hiểm tai nạn con

người bổ trợ cho bảo hiểm nhân thọ”. Vì thế trong các doanh nghiệp bảo hiểm ở nước ta hiện

nay có hai loại hình doanh nghiệp bảo hiểm là doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ và doanh

nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ. Chúng khác nhau không chỉ về tên gọi, nghiệp vụ kinh doanh

mà trong những chế độ cụ thể, pháp luật có những quy định cho chúng khác nhau, đặc biệt là

trong chế độ tài chính đối với hai loại hình doanh nghiệp bảo hiểm này .

1.3 Quy chế cấp giấy phép thành lập hoạt động, kiểm soát đặc biệt, giải thể, phá

sản doanh nghiệp bảo hiểm,

Pháp luật hiện hành có quy định về điều kiện và thủ tục để được cấp giấy phép thành

lập và hoạt động đối với các doanh nghiệp bảo hiểm. Trong đó có một số điều kiện quan trọng

như điều kiện về vốn điều kiện về nhân sự như:

– Không thuộc các đối tượng bị cấm theo quy định tại khoản 2 Điều 13 của Luật Doanh

nghiệp;

14

– Phải có số vốn điều lệ đã góp không thấp hơn mức vốn pháp định theo quy định của

Chính phủ (kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ: 300 tỷ đồng Việt Nam; Kinh doanh bảo hiểm

nhân thọ: 600 tỷ đồng Việt Nam);

– Người quản trị, người điều hành có năng lực quản lý, chuyên môn, nghiệp vụ về bảo

hiểm…cụ thể: Chủ tịch Hội đồng quản trị của doanh nghiệp bảo hiểm phải là người có uy tín,

đạo đức nghề nghiệp và kinh nghiệm về hoạt động kinh doanh bảo hiểm. Tổng giám đốc

(Giám đốc) của doanh nghiệp bảo hiểm phải là người có uy tín, đạo đức nghề nghiệp, có thực

tiễn quản lý kinh doanh hay quản lý nhà nước về bảo hiểm ít nhất 3 năm và phải thường trú tại

Việt Nam trong thời gian đương nhiệm…

– Có hồ sơ xin cấp giấy phép thành lập và hoạt động theo quy định tại Điều 64 của Luật

này;

– Có loại hình doanh nghiệp và điều lệ phù hợp với quy định của Luật này và các quy

định khác của pháp luật;

* Doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài đầu tư thành lập doanh nghiệp bảo hiểm 100%

vốn đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp bảo hiểm liên doanh giữa doanh nghiệp bảo hiểm nước

ngoài với doanh nghiệp Việt Nam phải đáp ứng các điều kiện sau:

– Doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài được cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài cho

phép hoạt động kinh doanh bảo hiểm trong lĩnh vực dự kiến tiến hành tại Việt Nam;

– Doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài đang hoạt động hợp pháp ít nhất 10 năm theo quy

định của nước nơi doanh nghiệp đóng trụ sở chính tính tới thời điểm nộp hồ sơ xin cấp Giấy

phép;

– Doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài có tổng tài sản tối thiểu tương đương 2 tỷ đô la

Mỹ vào năm trước năm nộp hồ sơ xin cấp Giấy phép;

– Doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài không vi phạm nghiêm trọng các quy định về hoạt

động kinh doanh bảo hiểm và các quy định pháp luật khác của nước nơi doanh nghiệp đóng trụ

sở chính trong vòng 3 năm liền kề năm nộp hồ sơ xin cấp Giấy phép.

* Về Hồ sơ xin cấp Giấy phép thành lập và hoạt động thực hiện theo quy định tại Luật

Doanh nghiệp, Điều 64 của Luật Kinh doanh bảo hiểm cụ thể hoá trong 7 NĐ bao gồm:

a) Đơn xin cấp Giấy phép thành lập và hoạt động theo mẫu do Bộ Tài chính quy định;

b) Dự thảo điều lệ doanh nghiệp phù hợp với quy định tại Luật Doanh nghiệp, Luật

Kinh doanh bảo hiểm và các văn bản hướng dẫn thi hành. Dự thảo Điều lệ doanh nghiệp phải

có đầy đủ chữ ký của người đại diện theo pháp luật, của các cổ đông sáng lập hoặc người đại

diện theo uỷ quyền của cổ đông sáng lập;

c) Danh sách cổ đông sáng lập và các giấy tờ kèm theo

d) Xác nhận của ngân hàng được phép hoạt động tại Việt Nam về mức vốn điều lệ gửi

tại tài khoản phong toả mở tại ngân hàng đó;

đ) Phương án hoạt động 5 năm đầu phù hợp với lĩnh vực kinh doanh xin cấp Giấy

phép, trong đó nêu rõ phương thức trích lập dự phòng nghiệp vụ, chương trình tái bảo hiểm,

đầu tư vốn, hiệu quả kinh doanh, khả năng thanh toán của doanh nghiệp bảo hiểm và lợi ích

kinh tế của việc thành lập doanh nghiệp kèm theo các quy trình nghiệp vụ, quy trình kiểm soát

15

16

độc lập về tình hình hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm

nước ngoài nơi đóng trụ sở chính trong 3 năm gần nhất;

– Văn bản của cơ quan có thẩm quyền của nước nơi doanh nghiệp đóng trụ sở chính:

+ Cho phép doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm thành lập doanh

nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm tại Việt Nam. Trường hợp quy định của

nước nơi doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm đóng trụ sở chính không

yêu cầu phải có văn bản chấp thuận thì phải có bằng chứng xác nhận việc này;

+ Xác nhận doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm đang hoạt động

kinh doanh bảo hiểm, môi giới bảo hiểm trong lĩnh vực dự kiến tiến hành hoạt động ở Việt

Nam;

+ Xác nhận doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm đang trong tình

trạng tài chính lành mạnh và đáp ứng đầy đủ các yêu cầu quản lý tại nước nơi doanh nghiệp

bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm đóng trụ sở chính.

Hồ sơ xin cấp Giấy phép của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm

được lập thành 3 (ba) bộ trong đó có 1 (một) bộ là bản chính, 2 (hai) bộ là bản sao. Hồ sơ đề

nghị cấp Giấy phép của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm có vốn đầu

tư nước ngoài được lập thành 3 (ba) bộ, mỗi bộ gồm 1 (một) bản bằng tiếng Việt và 1 (một)

bản bằng tiếng nước ngoài thông dụng. Các bản sao tiếng Việt và các bản dịch từ tiếng nước

ngoài ra tiếng Việt phải được cơ quan công chứng Việt Nam xác nhận theo quy định của pháp

luật về công chứng. Chủ đầu tư phải chịu trách nhiệm về tính chính xác của hồ sơ xin cấp Giấy

phép.

Pháp luật quy định rõ cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp và thu hồi giấy phép thành

lập và hoạt động cho các doanh nghiệp bảo hiểm cụ thể: Bộ Tài chính cấp giấy phép thành lập

và hoạt động cho doanh nghiệp bảo hiểm theo quy định. Trong thời hạn 60 ngày, kể từ ngày

nhận đủ hồ sơ xin cấp giấy phép thành lập và hoạt động, Bộ Tài chính phải cấp hoặc từ chối

cấp giấy phép. Trong trường hợp từ chối cấp giấy phép, Bộ Tài chính phải có văn bản giải

thích lý do. Giấy phép thành lập và hoạt động đồng thời là giấy chứng nhận đăng ký kinh

doanh.

Pháp luật còn quy định: Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày được cấp Giấy phép thành

lập và hoạt động, doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm phải đăng báo hàng

ngày của báo trung ương và báo địa phương nơi doanh nghiệp đặt trụ sở chính trong 5 số báo

liên tiếp về những nội dung chủ yếu như sau: Tên, địa chỉ trụ sở chính, Chi nhánh, Văn phòng

đại diện của doanh nghiệp bảo hiểm; Nội dung, phạm vi và thời hạn hoạt động; Mức vốn điều

lệ và số vốn điều lệ đã góp; Họ, tên của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp; Số

Giấy phép và ngày cấp Giấy phép thành lập và hoạt động; Các nghiệp vụ bảo hiểm, nghiệp vụ

môi giới bảo hiểm được phép kinh doanh.

Trong thời hạn 12 tháng, kể từ ngày được cấp Giấy phép thành lập và hoạt động, doanh

nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm phải hoàn tất các thủ tục cần thiết theo quy

định của pháp luật để chính thức hoạt động kinh doanh bảo hiểm, môi giới bảo hiểm. Nếu quá

thời hạn này mà doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm không bắt đầu hoạt

động thì bị thu hồi Giấy phép thành lập và hoạt động.

17

Doanh nghiệp bảo hiểm phải được Bộ Tài chính chấp thuận bằng văn bản khi thay đổi

một trong những nội dung sau đây: Tên doanh nghiệp; Vốn điều lệ; Mở hoặc chấm dứt hoạt

động của chi nhánh, văn phòng đại diện; Địa điểm đặt trụ sở chính, chi nhánh, văn phòng đại

diện; Nội dung, phạm vi và thời hạn hoạt động; Chuyển nhượng cổ phần, phần vốn góp chiếm

10% số vốn điều lệ trở lên; Chủ tịch Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc (Giám đốc); Chia, tách,

sáp nhập, hợp nhất, giải thể, chuyển đổi hình thức doanh nghiệp…

Doanh nghiệp bảo hiểm có thể bị thu hồi giấy phép thành lập và hoạt động khi xảy ra

một trong những trường hợp như: Hồ sơ xin cấp giấy phép thành lập và hoạt động có thông tin

cố ý làm sai sự thật; Sau 12 tháng kể từ ngày được cấp giấy phép thành lập và hoạt động mà

không bắt đầu hoạt động; Giải thể, chia, tách, hợp nhất, sáp nhập, phá sản, chuyển đổi hình

thức doanh nghiệp; Hoạt động sai mục đích hoặc không đúng với nội dung quy định trong giấy

phép thành lập và hoạt động; Không bảo đảm các yêu cầu về tài chính để thực hiện các cam

kết với bên mua bảo hiểm; doanh nghiệp bảo hiểm có vốn đầu tư nước ngoài có thể bị thu hồi

giấy phép thành lập và hoạt động khi doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài nơi đóng trụ sở chính

bị thu hồi giấy phép thành lập và hoạt động.

Trong trường hợp Bộ Tài chính cấp, thu hồi giấy phép thành lập và hoạt động, chấp

thuận cho doanh nghiệp bảo hiểm thay đổi một trong những nội dung quy định, Bộ Tài chính

thông báo ngay bằng văn bản kèm theo bản sao giấy phép thành lập và hoạt động, quyết định

thu hồi giấy phép thành lập và hoạt động hoặc quyết định chấp thuận việc sửa đổi, bổ sung

giấy phép thành lập và hoạt động cho cơ quan đăng ký kinh doanh cấp tỉnh nơi doanh nghiệp

đặt trụ sở chính, chi nhánh, văn phòng đại diện.

Doanh nghiệp bảo hiểm phải luôn duy trì khả năng thanh toán trong suốt quá trình hoạt

động kinh doanh bảo hiểm. Doanh nghiệp bảo hiểm được coi là có đủ khả năng thanh toán khi

đã trích lập đầy đủ dự phòng nghiệp vụ theo quy định và có biên khả năng thanh toán không

thấp hơn biên khả năng thanh toán tối thiểu theo quy định của Chính phủ. Trong trường hợp có

nguy cơ mất khả năng thanh toán (khi biên khả năng thanh toán của doanh nghiệp đó thấp hơn

biên khả năng thanh toán tối thiểu theo quy định) thì doanh nghiệp bảo hiểm phải chủ động

thực hiện ngay các biện pháp tự khôi phục khả năng thanh toán đồng thời phải báo cáo nguy cơ

mất khả năng thanh toán cho Bộ Tài chính trong đó nói rõ về thực trạng tài chính, nguyên nhân

dẫn đến nguy cơ mất khả năng thanh toán và các biện pháp khắc phục….Trong trường hợp

doanh nghiệp bảo hiểm không khôi phục được khả năng thanh toán theo phương án đã được

chấp thuận, thì Bộ Tài chính có quyền yêu cầu doanh nghiệp bảo hiểm thực hiện khôi phục khả

năng thanh toán, gồm những biện pháp như: Bổ sung nguồn vốn chủ sở hữu; Tái bảo hiểm; thu

hẹp nội dung, phạm vi và địa bàn hoạt động; đình chỉ một phần hoặc toàn bộ hoạt động; Củng

cố tổ chức bộ máy và thay đổi người quản trị, điều hành của doanh nghiệp; Yêu cầu chuyển

giao hợp đồng bảo hiểm; Các biện pháp khác.

Trong trường hợp doanh nghiệp bảo hiểm không khôi phục được khả năng thanh toán

theo yêu cầu của Bộ Tài chính thì Bộ Tài chính ra quyết định thành lập Ban kiểm soát khả

năng thanh toán để áp dụng các biện pháp khôi phục khả năng thanh toán của doanh nghiệp

bảo hiểm.

Ban kiểm soát khả năng thanh toán có những nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:

– Chỉ đạo và giám sát việc triển khai thực hiện các biện phục khả năng thanh toán theo

phương án đã được chấp thuận;

18

19

Tổ chức hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm bao

gồm:

– Trụ sở chính;

– Chi nhánh, sở giao dịch, hội sở, công ty thành viên hạch toán phụ thuộc (được gọi là

Chi nhánh) trực thuộc doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm, có nhiệm vụ

thực hiện toàn bộ hoặc một phần chức năng của doanh nghiệp kể cả chức năng đại diện theo

uỷ quyền;

– Văn phòng đại diện là đơn vị phụ thuộc của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp

môi giới bảo hiểm, có nhiệm vụ đại diện theo uỷ quyền cho lợi ích của doanh nghiệp và bảo vệ

các lợi ích đó;

– Địa điểm kinh doanh, phòng giao dịch (được gọi là địa điểm kinh doanh) là nơi hoạt

động kinh doanh cụ thể, trực thuộc Chi nhánh của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi

giới bảo hiểm.

Doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm muốn mở Chi nhánh, Văn

phòng đại diện phải đáp ứng các điều kiện sau:

– Vốn điều lệ thực có phải đảm bảo theo quy định của Bộ Tài chính;

– Bộ máy quản trị, điều hành và hệ thống kiểm tra, kiểm soát nội bộ hoạt động có hiệu

quả;

– Không vi phạm nghiêm trọng các quy định của pháp luật trong 3 năm liên tục ngay

trước năm nộp hồ sơ. Doanh nghiệp bảo hiểm không vi phạm quy định về khả năng thanh

toán;

– Có Quy chế tổ chức và hoạt động của Chi nhánh, Văn phòng đại diện;

– Người điều hành Chi nhánh, Văn phòng đại diện có kinh nghiệm và kiến thức chuyên

môn về hoạt động kinh doanh bảo hiểm và không thuộc các đối tượng bị cấm theo quy định

của pháp luật;

– Có hồ sơ xin mở Chi nhánh, Văn phòng đại diện theo quy định

Hồ sơ xin mở Chi nhánh, Văn phòng đại diện bao gồm:

– Đơn xin mở Chi nhánh, Văn phòng đại diện có chữ ký của người đại diện có thẩm quyền

của doanh nghiệp, trong đó trình bày tóm tắt sự cần thiết, tên gọi, địa điểm, nội dung, phạm vi hoạt

động của Chi nhánh, Văn phòng đại diện;

– Phương án hoạt động 3 năm đầu của Chi nhánh, Văn phòng đại diện trong đó nêu rõ

nhu cầu khách hàng; dự báo thị trường; nội dung, phạm vi hoạt động, các sản phẩm bảo hiểm

dự kiến kinh doanh; dự kiến kết quả kinh doanh; tổ chức bộ máy, nhân sự; địa điểm đặt Chi

nhánh, Văn phòng đại diện và cơ sở vật chất kỹ thuật;

– Giấy tờ hợp lệ chứng minh doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm

đáp ứng các điều kiện quy định.

Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được đầy đủ hồ sơ hợp lệ, Bộ Tài chính phải

trả lời bằng văn bản về việc chấp thuận hoặc từ chối chấp thuận. Trong trường hợp từ chối

chấp thuận, Bộ Tài chính phải có văn bản giải thích lý do.

20

Giáo Trình Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm

Khái Niệm Chung Về Kinh Doanh Bảo Hiểm

Quy Định Pháp Luật Về Kinh Doanh Bảo Hiểm

Fahasa Bị Tố Chiêu Trò Khi Bán Sách Giá 1.000 Đồng

Tiki Vàký Kết Hợp Tác Chiến Lược

Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm Là Gì ? Tìm Hiểu Về Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm

Bảo Hiểm Xã Hội Tiếng Anh Là Gì?

Các Thuật Ngữ Tiếng Anh Ngành Bảo Hiểm (Insurance)

Điểm Mới Của Luật Sửa Đổi Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm Và Luật Sở Hữu Trí Tuệ

Quốc Hội Thông Qua Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm Và Sở Hữu Trí Tuệ

Quốc Hội Thông Qua Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm Sửa Đổi Và Sở Hữu Trí Tuệ

Luật kinh doanh bảo hiểm là đạo luật quy định tổ chức và hoạt động kinh doanh bảo hiểm, quyền, nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân tham gia bảo hiểm, được Quốc hội Khoá X, kì họp thứ 8 thông qua ngày 09.12.2000 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01.4.2001.

Ở Việt Nam, trong thời kì thực dân Pháp đô hộ, hầu hết các hoạt động kinh doanh bảo hiểm do các công tỉ bảo hiểm Pháp tiến hành.

Trong cơ chế kinh tế kế hoạch hoá tập trung, tương tự các nước xã hội chủ nghĩa khác, ở Việt Nam, hoạt động kinh doanh bảo hiểm do Nhà nước thực hiện nên được gọi là bảo hiểm nhà nước. Văn bản pháp luật đầu tiên về kinh doanh bảo hiểm là Quyết

định số 179/CP của Hội đồng Chính phủ ban hành ngày 17.12.1964 quy định thành lập Công ti bảo hiểm Việt Nam (Bảo Việt) trực thuộc Bộ Tài chính, chuyên trách hoạt động bảo hiểm nhà nước. Trong điều kiện đất nước có chiến tranh và nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, hoạt động của Bảo Việt vừa mang tính kinh doanh, vừa mang tính quản lí nhà nước. Các quy tắc bảo hiểm do Bảo Việt quy định trong một thời gian dài được áp dụng như quy phạm pháp luật.

Chuyển sang nền kinh tế thị trường, Nhà nước thực hiện chính sách phát triển nhiều thành phần kinh tế kinh doanh bảo hiểm. Để thúc đẩy hoạt động kinh doanh bảo hiểm và tăng cường quản lí nhà nước đối với hoạt động kinh doanh bảo hiểm, phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội, ngày 18.12.1993 Chính phủ ban hành Nghị định số 100/CP về kinh doanh bảo hiểm. Đây là văn bản pháp luật đầu tiên quy định tương đối có hệ thống về hoạt động kinh doanh bảo hiểm theo hướng phát triển thị trường bảo hiểm trong điều kiện nền kinh tế thị trường.

Luật kinh doanh bảo hiểm năm 2000 có mục đích là bảo vệ quyển và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân tham gia bảo hiểm; phát triển thị trường bảo hiểm; thúc đẩy và góp phần duy trì sự phát triển một cách bền vững của nền kinh tế – xã hội; tăng cường hiệu lực quản lí của Nhà nước trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm. Phạm vi điều chỉnh của Luật kinh doanh bảo hiểm là quan hệ tổ chức và hoạt động kinh doanh bảo hiểm, quy định quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân tham gia bảo hiểm.

Luật gồm lời nói đầu, 9 chương, 189 điều, có những nội dung cơ bản sau đây: quy định nguyên tắc và phạm vi kinh doanh bảo hiểm; quy định hình thức tổ chức kinh doanh bảo hiểm, các loại sản phẩm bảo hiểm; quy định về hợp đồng kinh doanh bảo hiểm; quy định quản lí nhà nước về kinh doanh bảo hiểm.

Luật kinh doanh bảo hiểm năm 2000 là đạo luật đầu tiên đặt nền móng cho việc xây dựng pháp luật kinh doanh bảo hiểm trong điều kiện nền kinh tế thị trường ở Việt Nam. Khác với Luật kinh doanh bảo hiểm của nhiều nước, Luật kinh doanh bảo hiểm năm 2000 của Việt Nam không áp dụng với các hoạt động bảo hiểm y tế, bảo hiểm tiền gửi và các loại bảo hiểm khác do Nhà nước thực hiện không mang tính kinh doanh. Tương tự ở nhiều nước, Luật kinh doanh bảo hiểm năm 2000 của Việt Nam áp dụng chung cho cả hoạt động kinh doanh bảo hiểm nhân thọ và phi nhân thọ. Ở một số nước, về kĩ thuật lập pháp có sự phân biệt giữa đạo luật điều chỉnh quan hệ kinh doanh bảo hiểm nhân thọ và đạo luật điều chỉnh quan hệ kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ. Ví dụ: Thái Lan có hai đạo luật về kinh doanh bảo hiểm: Đạo luật bảo hiểm nhân thọ năm (1992) (B.E 2535), Đạo luật bảo hiểm phi nhân thọ năm (1992) (B.E 2502).

Tải Về Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm Và Văn Bản Hướng Dẫn Thi Hành Sách Miễn Phí Pdf * Thư Viện Sách Hướng Dẫn

Quyền Lợi Khách Hàng Ra Sao Khi Công Ty Bảo Hiểm Aia Phá Sản?

Vụ Bảo Hiểm Aia Từ Chối Chi Trả: ‘cần Trung Thực Khi Điền Hồ Sơ Bảo Hiểm’

Tìm Việc Làm, Tuyển Dụng Công Ty Tnhh Bảo Hiểm Nhân Thọ Aia (Việt Nam)

Mua Bảo Hiểm, Chết Không Được Bồi Thường Vì Sai Chữ Ký

Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm 2010

Luật Sửa Đổi Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm, Luật Sở Hữu Trí Tuệ 2022 2022

Mách Bạn Nơi Mua Sách Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm

Luật Bảo Hiểm Xã Hội 2022

Kinh Doanh Bảo Hiểm (Insurance Business) Là Gì? Hoạt Động Kinh Doanh Tái Bảo Hiểm

Từ Điển Thuật Ngữ Kinh Doanh Bảo Hiểm

SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA LUẬT KINH DOANH BẢO HIỂM

Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 51/2001/QH10;

Quốc hội ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật kinh doanh bảo hiểm số 24/2000/QH10.

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật kinh doanh bảo hiểm.

“19. Bảo hiểm hưu trí là nghiệp vụ bảo hiểm cho trường hợp người được bảo hiểm đạt đến độtuổi xác định được doanh nghiệp bảo hiểm trả tiền bảo hiểm theo thỏa thuận trong hợp đồngbảo hiểm.

20. Bảo hiểm sức khoẻ là loại hình bảo hiểm cho trường hợp người được bảo hiểm bị thương tật, tai nạn, ốm đau, bệnh tật hoặc chăm sóc sức khỏe được doanh nghiệp bảohiểm trả tiền bảo hiểm theo thỏa thuận trong hợp đồng bảo hiểm.”

“1. Tổ chức, cá nhân có nhu cầu bảo hiểm chỉ được tham gia bảo hiểm tại doanh nghiệp bảo hiểm hoạt động tại Việt Nam; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, người nước ngoài làmviệc tại Việt Nam có nhu cầu bảo hiểm được lựa chọn tham gia bảo hiểm tại doanh nghiệpbảo hiểm hoạt động tại Việt Nam hoặc sử dụng dịch vụ bảo hiểm qua biên giới.”

“Điều 7. Các loại nghiệp vụ bảo hiểm

1. Bảo hiểm nhân thọ bao gồm:

đ) Bảo hiểm trả tiền định kỳ;

e) Bảo hiểm liên kết đầu tư;

2. Bảo hiểm phi nhân thọ bao gồm:

a) Bảo hiểm tài sản và bảo hiểm thiệt hại;

b) Bảo hiểm hàng hoá vận chuyển đường bộ, đường biển, đường thủy nội địa, đường sắt và đường hàng không;

e) Bảo hiểm thân tàu và trách nhiệm dân sự của chủ tàu;

h) Bảo hiểm tín dụng và rủi ro tài chính;

i) Bảo hiểm thiệt hại kinh doanh;

k) Bảo hiểm nông nghiệp.

3. Bảo hiểm sức khoẻ bao gồm:

a) Bảo hiểm tai nạn con người;

c) Bảo hiểm chăm sóc sức khoẻ.

4. Các nghiệp vụ bảo hiểm khác do Chính phủ quy định.

Doanh nghiệp bảo hiểm có thể tái bảo hiểm cho doanh nghiệp bảo hiểm khác, bao gồm cả doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài, tổ chức nhận tái bảo hiểm nước ngoài. Doanh nghiệp bảohiểm nước ngoài, tổ chức nhận tái bảo hiểm nước ngoài phải đạt hệ số tín nhiệm theo xếp hạngcủa công ty đánh giá tín nhiệm quốc tế do Bộ Tài chính quy định.”

“Điều 10. Hợp tác, cạnh tranh và đấu thầu trong kinh doanh bảo hiểm

1. Doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm được hợp tác trong việc tái bảo hiểm, đồng bảo hiểm, giám định tổn thất, giải quyết quyền lợi bảo hiểm, đề phòng và hạnchế tổn thất, phát triển nguồn nhân lực, phát triển sản phẩm bảo hiểm, đào tạo và quản lý đạilý bảo hiểm, chia sẻ thông tin để quản trị rủi ro.

2. Doanh nghiệp bảo hiểm được cạnh tranh về điều kiện, phạm vi, mức trách nhiệm, mức phí,chất lượng dịch vụ, năng lực bảo hiểm và năng lực tài chính.

Việc cạnh tranh phải theo quy định của pháp luật về cạnh tranh và bảo đảm an toàn tàichính của doanh nghiệp bảo hiểm; mức phí bảo hiểm phải phù hợp với điều kiện, phạm vi,mức trách nhiệm bảo hiểm.

3. Dự án sử dụng vốn nhà nước, tài sản thuộc sở hữu nhà nước hoặc của doanh nghiệp nhà nước phải thực hiện đấu thầu về điều kiện, phạm vi, mức trách nhiệm, mức phí, chất lượng dịchvụ, năng lực bảo hiểm và năng lực tài chính của doanh nghiệp bảo hiểm.

Việc đấu thầu phải bảo đảm công khai, minh bạch theo quy định của Luật này và pháp luật về đấu thầu.

4. Nghiêm cấm các hành vi sau đây:

a) Cấu kết giữa các doanh nghiệp bảo hiểm hoặc giữa doanh nghiệp bảo hiểm với bên mua bảo hiểm nhằm phân chia thị trường bảo hiểm, khép kín dịch vụ bảo hiểm;

b) Can thiệp trái pháp luật vào việc lựa chọn doanh nghiệp bảo hiểm;

c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn chỉ định, yêu cầu, ép buộc, ngăn cản tổ chức, cá nhân tham gia bảohiểm;

đ) Tranh giành khách hàng dưới các hình thức ngăn cản, lôi kéo, mua chuộc, đe dọa nhân viên hoặc khách hàng của doanh nghiệp bảo hiểm, đại lý bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảohiểm khác;

e) Khuyến mại bất hợp pháp;

g) Hành vi bất hợp pháp khác trong hợp tác, cạnh tranh và đấu thầu.”

“Điều 15. Thời điểm phát sinh trách nhiệm bảo hiểm

Trách nhiệm bảo hiểm phát sinh khi có một trong những trường hợp sau đây:

1. Hợp đồng bảo hiểm đã được giao kết và bên mua bảo hiểm đã đóng đủ phí bảo hiểm;

2. Hợp đồng bảo hiểm đã được giao kết, trong đó có thỏa thuận giữa doanh nghiệp bảo hiểm và bên mua bảo hiểm về việc bên mua bảo hiểm nợ phí bảo hiểm;

3. Có bằng chứng về việc hợp đồng bảo hiểm đã được giao kết và bên mua bảo hiểm đã đóng đủ phí bảo hiểm.”

“Điều 59. Các tổ chức kinh doanh bảo hiểm

Các tổ chức kinh doanh bảo hiểm bao gồm:

1. Công ty cổ phần bảo hiểm;

2. Công ty trách nhiệm hữu hạn bảo hiểm;

4. Tổ chức bảo hiểm tương hỗ.”

“5. Tổ chức, cá nhân tham gia góp vốn thành lập doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm phải có đủ năng lực tài chính và có bằng chứng để chứng minh nguồn tài chínhhợp pháp khi tham gia góp vốn thành lập doanh nghiệp bảo hiểm.”

“g) Chủ tịch Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc (Giám đốc), chuyên gia tính toán;

h) Chia tách, sáp nhập, hợp nhất, giải thể, chuyển đổi hình thức doanh nghiệp, đầu tư ra nước ngoài.”

11. Điều 97 được sửa đổi, bổ sung như sau:

c) Có Chứng chỉ đại lý bảo hiểm do cơ sở đào tạo được Bộ Tài chính chấp thuận cấp.

Bộ Tài chính quy định về chương trình, nội dung, hình thức đào tạo, việc cấp Chứng chỉ đại lý bảo hiểm.”

“Điều 97. Quỹ dự trữ và Quỹ bảo vệ người được bảo hiểm

1. Doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm phải lập quỹ dự trữ bắt buộc để bổ sung vốn điều lệ và bảo đảm khả năng thanh toán. Quỹ dự trữ bắt buộc được trích hàng năm theotỷ lệ 5% lợi nhuận sau thuế. Mức tối đa của quỹ này do Chính phủ quy định.

2. Ngoài quỹ dự trữ bắt buộc quy định tại khoản 1 Điều này, doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm có thể lập các quỹ dự trữ khác từ lợi nhuận sau thuế của năm tàichính theo quy định trong điều lệ của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm.

3. Quỹ bảo vệ người được bảo hiểm được thành lập để bảo vệ quyền lợi của người được bảo hiểm trong trường hợp doanh nghiệp bảo hiểm phá sản hoặc mất khả năng thanh toán.

Nguồn để lập Quỹ bảo vệ người được bảo hiểm được trích lập theo tỷ lệ phần trăm trên phí bảo hiểm áp dụng đối với tất cả hợp đồng bảo hiểm.

Chính phủ quy định việc trích lập và quản lý, sử dụng Quỹ bảo vệ người được bảo hiểm.”

“Điều 105. Hình thức hoạt động

1. Doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm nước ngoài được phép hoạt động tại Việt Nam dưới các hình thức sau đây:

a) Công ty trách nhiệm hữu hạn bảo hiểm, công ty trách nhiệm hữu hạn môi giới bảo hiểm;

b) Chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài.

2. Doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm nước ngoài cung cấp dịch vụ bảo hiểm qua biên giới theo quy định của Chính phủ.

3. Doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm nước ngoài được đặt văn phòng đại diện tại Việt Nam. Văn phòng đại diện không được kinh doanh bảo hiểm tại Việt Nam.”

“Điều 108. Thẩm quyền cấp giấy phép

15. Điều 122 được sửa đổi, bổ sung như sau:

Bộ Tài chính cấp giấy phép thành lập và hoạt động cho doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệpmôi giới bảo hiểm có vốn đầu tư nước ngoài, chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài; giấy phép đặt văn phòng đại diện của doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệpmôi giới bảo hiểm nước ngoài tại Việt Nam.”

“4. Giám sát hoạt động kinh doanh bảo hiểm thông qua hoạt động nghiệp vụ, tình hình tài chính, quản trị doanh nghiệp, quản trị rủi ro và việc chấp hành pháp luật của doanh nghiệp bảohiểm, doanh nghiệp môi giới bảo hiểm; áp dụng các biện pháp cần thiết để doanh nghiệpbảo hiểm bảo đảm các yêu cầu về tài chính và thực hiện những cam kết với bên mua bảo hiểm;”

“Điều 122. Thanh tra chuyên ngành kinh doanh bảo hiểm

1. Cơ quan quản lý nhà nước về kinh doanh bảo hiểm thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành kinh doanh bảo hiểm.

2. Tổ chức và hoạt động của thanh tra chuyên ngành kinh doanh bảo hiểm theo quy định của Luật này và pháp luật về thanh tra.”

“3. Chứng chỉ đào tạo đại lý bảo hiểm đã được cấp trước ngày Luật này có hiệu lực vẫn có giá trị sử dụng, không phải làm thủ tục chuyển đổi thành Chứng chỉ đại lý bảo hiểm.”

Luật này đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XII, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 24 tháng 11 năm 2010.

1. Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 07 năm 2011.

2. Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn các điều, khoản được giao trong Luật; hướng dẫn những nội dung cần thiết khác của Luật này để đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước.

Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm Số 61/2010/qh12

Luật Sửa Đổi, Bổ Sung Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm Năm 2010

Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm Sửa Đổi 2010

Tải Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm 2000

Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm Năm 2000