Toàn Văn Bản Di Chúc Bác Hồ / TOP #10 Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 8/2022 # Top View | Bac.edu.vn

Bác Hồ Viết Di Chúc

--- Bài mới hơn ---

  • Người Làm Chứng Di Chúc
  • Di Chúc Không Công Chứng, Chứng Thực Có Hợp Pháp Không?
  • Hướng Dẫn Cách Lập Di Chúc Bằng Văn Bản Để Có Hiệu Lực Pháp Luật
  • Hướng Dẫn Lập Di Chúc Nha Trang
  • 13 Phần Mềm Tiện Ích Cho Dân Văn Phòng Trên Iphone 2022
  • (Chinhphu.vn) – Bác Hồ, vị lãnh tụ thiên tài, anh hùng giải phóng dân tộc Việt Nam, nhà văn hóa kiệt xuất, đã cống hiến trọn đời cho độc lập, tự do của Tổ quốc, vì cuộc sống no ấm hạnh phúc của nhân dân. Người để lại cho đất nước, cho Đảng ta, nhân dân ta một văn kiện lịch sử vô giá, đó là bản Di chúc thiêng liêng, mà đến nay và mãi về sau, chúng ta luôn ghi nhớ, học tập và làm theo.

    Bác Hồ viết bản Di chúc – Ảnh tư liệu của Cục Văn thư và Lưu trữ Nhà nước

    Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh là tài sản vô giá của Đảng và nhân dân ta

    Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh được viết trong giai đoạn cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc ta diễn ra hết sức ác liệt nhưng đã đạt được những dấu mốc quan trọng; cách mạng dù còn khó khăn, song đang trên đà thắng lợi, đòi hỏi sự đoàn kết, chiến đấu bền bỉ của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân với niềm tin vững chắc vào thắng lợi cuối cùng.

    Theo đồng chí Vũ Kỳ, Thư ký của Bác Hồ, Bác bắt đầu viết những dòng đầu tiên của bản Di chúc để lại cho muôn đời sau lúc 9 giờ sáng thứ Hai, ngày 10/5/1965, đến 10 giờ, Bác viết xong phần mở đầu. Bác xếp tài liệu lại và chuyển sang làm các công việc thường ngày. Các ngày tiếp theo, ngày 11, 12, 13/5/1965, cũng vào giờ đó (từ 9 giờ đến 10 giờ), Bác viết tiếp các phần còn lại.

    Riêng ngày 14/5/1965, do buổi sáng có lịch đi thăm một hợp tác xã ở ngoại thành Hà Nội và dự một phiên họp của Bộ Chính trị, Bác chuyển viết Di chúc sang buổi chiều với thời gian gấp đôi, từ 14 giờ đến 16 giờ. Đúng 16 giờ, Bác đánh máy xong Bản Di chúc và cho vào phong bì.

    Đến 21 giờ hôm đó, Bác giao chiếc phong bì cho đồng chí Vũ Kỳ và dặn: “Chú cất giữ cẩn thận, vào dịp này sang năm nhớ đưa lại cho Bác”.

    Và cứ đến dịp sinh nhật Bác hằng năm, đồng chí Vũ Kỳ lại đặt bản Di chúc lên bàn làm việc của Bác; sau đó Bác bổ sung và giao lại cho đồng chí Vũ Kỳ. Bác đọc kỹ bản Di chúc xem xét, cân nhắc kỹ từng đoạn, từng câu, từng ý, từng lời và bổ sung thêm vào bản Di chúc tùy theo tình hình đất nước. Đặc biệt là qua tình hình chiến sự miền Nam, Bác lại viết thêm những phần cần thiết vào bản Di chúc.

    Năm 1966, Bác bổ sung thêm phần nói về tự phê bình và phê bình trong Đảng, trong đó Bác nhấn mạnh: “Phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau”. Năm 1967, Bác xem lại bản Di chúc, nhưng không sửa gì. Năm 1968, Bác viết thêm 6 trang, gồm một số đoạn về việc riêng và một số công việc cần làm sau khi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước thắng lợi.

    Năm 1969, Bác xem và viết lại toàn bộ phần mở đầu gồm một trang viết tay. Ngày 19/5/1969, Bác sửa lần cuối. Toàn văn Di chúc được công bố sau ngày Bác Hồ qua đời (ngày 2/9/1969).

    Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh là tài sản vô giá của Đảng và nhân dân ta, có giá trị lý luận và thực tiễn to lớn về nhiều mặt; là sự kết tinh của tinh hoa văn hóa dân tộc với tinh hoa văn hóa của nhân loại, là những chỉ dẫn quý báu, nguồn cổ vũ, động viên to lớn đối với toàn Đảng, toàn dân, toàn quân trong sự nghiệp kháng chiến kiến quốc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Di chúc là những lời căn dặn tâm huyết, toát lên khí phách, tinh thần lạc quan chiến thắng của một bậc “đại trí, đại nhân, đại dũng”, là sự kết tinh tư tưởng, đạo đức, phong cách, tâm hồn cao đẹp của vị lãnh tụ suốt đời phấn đấu hy sinh vì Tổ quốc, vì nhân dân và nhân loại.

    Bản Di chúc cũng là ánh sáng soi đường, là sức mạnh thôi thúc hành động cho cách mạng Việt Nam phát triển đi lên, cho đất nước ta phồn vinh, cho nhân dân được tự do, no ấm và hạnh phúc, không chỉ đối với nhân dân ta mà còn đối với các dân tộc đang đấu tranh cho tự do, độc lập, hòa bình, công lý, vì hạnh phúc của con người.

    Đảng và nhân dân luôn ở trong trái tim của Người

    Là người sáng lập, giáo dục và rèn luyện Đảng ta, Người đã dẫn dắt Đảng và dân tộc ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm căn dặn trong Di chúc: “Trước hết nói về Đảng”. Chỉ rõ “Đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng và của dân ta”, Người tâm huyết nhắc nhở các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ “cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình”. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng chỉ cho chúng ta, muốn làm được việc đó thì trong Đảng phải đoàn kết nhất trí, thực hành dân chủ, tự phê bình và phê bình, phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau.

    Đặc biệt, Người nhấn mạnh: “Đảng ta là một đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”. Trong hai câu văn ngắn gọn nhưng Người liên tiếp sử dụng hai từ “thật sự” và “thật” như một lời nhắn gửi mang tính quy luật, phổ biến, phải làm thường xuyên, liên tục, nếu không Đảng khó lòng mà giữ nổi vai trò cầm quyền của mình. Điều đó cho thấy sự nung nấu, suy tính của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong nhiều năm, chứa đựng chiều sâu của tư tưởng, tình cảm, chiều cao trí tuệ của Người.

    Để thực hiện đoàn kết, thống nhất trong Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu phải thực hiện các nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt của Đảng, làm cho Đảng ta thật sự trong sạch, vững mạnh. Người chỉ rõ: “Việc cần phải làm trước tiên là chỉnh đốn lại Đảng, làm cho mỗi đảng viên, mỗi đoàn viên, mỗi chi bộ đều ra sức làm tròn nhiệm vụ Đảng giao phó cho mình, toàn tâm toàn ý phục vụ nhân dân. Làm được như vậy, thì dù công việc to lớn mấy, khó khăn mấy chúng ta cũng nhất định thắng lợi”.

    Trong Di Chúc Bác Hồ cũng chỉ rõ: “Cuộc kháng chiến chống Mỹ có thể kéo dài mấy năm nữa…” và “Dù khó khăn gian khổ đến mấy, nhân dân ta nhất định sẽ hoàn toàn thắng lợi”. Sau khi chiến tranh kết thúc, Người căn dặn: “Công việc toàn đảng, toàn quân và toàn dân ta phải ra sức làm là mau chóng hàn gắn vết thương nghiêm trọng do đế quốc Mỹ gây ra trong cuộc chiến tranh xâm lược dã man”. Đó là công việc khó khăn, vô cùng phức tạp nên Người rất quan tâm căn dặn trong Di chúc.

    Đối với Đoàn viên thanh niên, trong Di chúc Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ vai trò của thanh niên trong sự nghiệp cách mạng, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, là đội hậu bị của Đảng, là người chủ tương lai của đất nước, do vậy Đảng phải chăm lo bồi dưỡng đạo đức cách mạng cho họ. Đó là thể hiện sự quan tâm sâu sắc của Đảng, Bác Hồ đối với việc bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau. Bác căn dặn và nhấn mạnh: “Đảng cần phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng” vừa “chuyên”.

    Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh: Bản đánh máy ngày 15/5/1969 có sự chứng kiến của Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành trung ương Đảng, Lê Duẩn và bản viết tay sửa chữa, bổ sung năm 1965 và năm 1969 – Ảnh tư liệu của Cục Văn thư và Lưu trữ Nhà nước

    Theo Bác, việc bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết”.

    Dân tộc ta đã trải qua nhiều cuộc chiến tranh chống giặc ngoại xâm bảo vệ nền độc lập dân tộc. Sau mỗi lần chiến thắng, ông cha ta lại có kế sách để bồi dưỡng sức dân, tăng cường lực lượng. Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kế thừa truyền thống lâu đời đó của dân tộc ta. Với tình thương bao la dành cho mọi tầng lớp nhân dân, Bác đặc biệt quan tâm và căn dặn: “Nhân dân lao động ta ở miền xuôi cũng như miền núi, đã bao đời chịu đựng gian khổ, bị chế độ phong kiến và thực dân áp bức bóc lột, lại kinh qua nhiều chiến tranh…

    Theo ý nguyện của Bác, Đảng cần phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hóa, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân.

    Lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về nhân dân chứng tỏ Người hiểu thấu đáo ngọn nguồn về nhân dân, về sức mạnh của nhân dân, Bác thực sự quan tâm lo lắng cho dân và về mối quan hệ giữa Đảng với Dân và Dân với Đảng. Trong tình thương bao la dành cho mọi tầng lớp nhân dân, Bác trăn trở nhiều đến nông dân – tầng lớp chịu nhiều vất vả làm ra của cải vật chất cho xã hội. Người nhấn mạnh những đóng góp to lớn của nông dân, vai trò của nông dân đối với sự nghiệp cách mạng của nước nhà: “Trong bao năm chống thực dân Pháp, tiếp đến chống đế quốc Mỹ, đồng bào ta, nhất là đồng bào nông dân đã luôn hết sức trung thành với Đảng và Chính phủ ta, ra sức góp của góp người, vui lòng chịu đựng mọi khó khăn gian khổ. Nay ta đã hoàn toàn thắng lợi, tôi có ý đề nghị miễn thuế nông nghiệp một năm cho các hợp tác xã sản xuất nông nghiệp để cho đồng bào hỉ hả, mát dạ, mát lòng, thêm nhiều phấn khởi, đẩy mạnh sản xuất”.

    Đối với con người, Bác căn dặn: “Đầu tiên là công việc đối với con người. Đối với những người đã dũng cảm hy sinh một phần xương máu của mình…, Đảng, Chính phủ và đồng bào phải tìm mọi cách làm cho họ có nơi ăn chốn ở yên ổn, đồng thời phải mở những lớp dạy nghề thích hợp với mỗi người để họ có thể dần dần “tự lực cách sinh”. Ngay đối với những nạn nhân của chế độ xã hội cũ, Người cũng nhắc nhở “Nhà nước phải dùng vừa giáo dục, vừa dùng pháp luật để cải tạo họ, giúp đỡ họ trở nên những người lao động lương thiện”.

    Bác đưa ra lời tiên đoán có tính chất khẳng định, như một tất yếu của lịch sử: “Cuộc kháng chiến chống Mỹ có thể kéo dài mấy năm nữa. Đồng bào ta có thể hy sinh nhiều của, nhiều người. Dù sao, chúng ta phải quyết tâm đánh giặc Mỹ đến thắng lợi hoàn toàn”. Trong Di chúc , Bác viết: “…Tôi mong rằng, Đảng ta sẽ ra sức hoạt động, góp phần đắc lực vào việc khôi phục lại khối đoàn kết giữa các đảng anh em trên nền tảng chủ nghĩa Mác-Lênin và chủ nghĩa quốc tế vô sản, có lý, có tình”.

    “Chỉ tiếc là tiếc rằng không được phục vụ lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa”

    Lời cuối cùng trong bản Di chúc có lẽ là tình cảm lắng đọng, gây xúc động mạnh nhất, trở thành đề tài phong phú cho văn học nghệ thuật về tấm lòng của Bác đối với nhân dân. “Để lại muôn vàn tình thân yêu” – cách nói nghe thân thuộc, tha thiết, cháy bỏng. Bác ra đi, không đem theo gì cho mình; tất cả, Bác để lại trọn vẹn cho đồng chí, đồng bào, cho các cháu thiếu niên và nhi đồng: Cuộc sống và tình yêu, lý tưởng và ước nguyện, ham muốn tột bậc đồng bào ta ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành… Bác lo cho đến khi từ biệt thế giới này, không có điều gì phải hối hận, “chỉ tiếc là tiếc rằng không được phục vụ lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa”. Bác “để lại muôn vàn tình thân yêu” cho toàn dân, toàn Đảng, cho toàn thể bộ đội, cho các cháu thanh niên và nhi đồng”.

    Từ ngày Bác Hồ đi xa đến nay, toàn Đảng, toàn dân ta đang ra sức và quyết tâm thực hiện Di chúc thiêng liêng của Bác, lấy nhiệm vụ xây dựng Đảng là then chốt, kinh tế là trọng tâm với phát triển văn hóa là nền tảng tinh thần xã hội. Cách mạng nước ta phải trải qua muôn vàn thử thách, dù thế giới biến đổi khôn lường, toàn Đảng và toàn dân ta nguyện sống chiến đấu, lao động và học tập theo gương Bác Hồ vĩ đại. Đưa miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội, đấu tranh giải phóng miền Nam thống nhất đất nước. Thực hiện đúng như lời thề mà đồng chí Lê Duẩn, Bí thư thứ nhất, tuyên đọc khi vĩnh biệt Bác Hồ, chúng ta quyết tâm thực hiện những điều Bác căn dặn trong Di chúc: “mang lá cờ bách chiến bách thắng của Hồ Chủ tịch tới đích cuối cùng”.

    50 năm thực hiện Di chúc Bác Hồ, Đảng ta và nhân dân ta vui mừng báo cáo với Bác về những thắng lợi và thành tựu đạt được. Song chúng ta cũng xin nhận với Bác rằng chúng ta còn nhiều thiếu sót, yếu kém chưa làm được nhiều điều Bác căn dặn. Trong việc xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước, thực hiện quyền làm chủ của nhân dân và khối đại đoàn kết toàn dân tộc, bên cạnh những thành tựu và ưu điểm đáng kể, chúng ta còn vấp phải không ít sai lầm và khuyết điểm. Sự suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức và lối sống, sự vi phạm các nguyên tắc về tổ chức và sinh hoạt, sự lạm dụng quyền lực, tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí trong một bộ phận cán bộ, đảng viên đã có những tác động tiêu cực đến việc nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, làm giảm sút lòng tin của nhân dân đối với Đảng, với chế độ. Cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng được tiến hành trong nhiều năm qua, đặc biệt là Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” được phát động từ sau Đại hội X đến nay, chính là để Đảng ta khắc phục yếu kém và khuyết điểm, khôi phục và phát huy những phẩm chất cao đẹp vốn có.

    Thực hiện Di chúc của Bác Hồ, cán bộ, đảng viên chúng ta càng luôn luôn nhớ lời Bác căn dặn, phải tu dưỡng đạo đức cách mạng, thật sự “cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư”. Đồng thời, phải có bản lĩnh chính trị vững vàng, lập trường tư tưởng kiên định, mãi mãi đi theo con đường Bác đã chọn, xây dựng Đảng ta thật sự trong sạch, vững mạnh, xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân. Thực hiện một cách tốt nhất lời Bác căn dặn lại trong Di chúc, đó là những chỉ dẫn hết sức quý báu đối với Đảng và nhân dân ta xứng đáng với những điều mong muốn cuối cùng của Bác, cũng là những dòng cuối cùng của Người viết trong Di chúc: “Điều mong muốn cuối cùng là toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”.

    Nguyễn Văn Công

    Giám đốc Khu Di tích Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch

    --- Bài cũ hơn ---

  • Di Chúc Của Chủ Tịch Hồ Chí Minh Mãi Mãi Sáng Soi
  • Di Chúc Của Chủ Tịch Hồ Chí Minh
  • Hướng Dẫn Bật Tính Năng Tự Động Dịch Thuật Website Trên Chrome
  • Biên Dịch Sang Tiếng Anh
  • Top 03 Phần Mềm Dịch Tiếng Anh Trên Điện Thoại Tốt Nhất
  • Bác Hồ Viết ‘di Chúc’ Như Thế Nào?

    --- Bài mới hơn ---

  • Kết Quả 45 Năm Thực Hiện Di Chúc Của Bác Hồ
  • 125 Sinh Nhật Bác: Di Chúc Hồ Chí Minh
  • Chứng Thực Văn Bản Di Chúc Để Thừa Kế Tài Sản Gắn Liền Với Đất
  • Ðiều Then Chốt Trong Bản Di Chúc Thiêng Liêng
  • Mẫu Di Chúc Thừa Kế Viết Tay Hợp Pháp, Mẫu Di Chúc Công Chứng 2022
  • Trong bốn năm, từ 1965 đến 1969, mỗi năm Bác dành khoảng 10 ngày, mỗi ngày thường dùng khoảng thời gian từ 9h đến 10h để viết những dòng dặn lại mai sau.

    Chủ tịch Hồ Chí Minh viết di chúc từ ngày 10/5/1965, một tài liệu mà Bác đề là “tuyệt đối bí mật”, một “lá thư” dặn lại mai sau. chúng tôi Bùi Đình Phong (giảng viên cao cấp Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh) sau nhiều năm nghiên cứu về di sản Chủ tịch Hồ Chí Minh, với một cách tiếp cận mới, đã thực hiện cuốn sách Xây dựng đất nước phồn vinh theo di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

    Cuốn sách gồm ba chương, đi từ chỗ phân tích một số khía cạnh trong văn bản Di chúc đến quá trình hơn 30 năm đổi mới, Đảng và Nhà nước từng bước thực hiện theo Di chúc của Bác, cuối cùng là một vài suy nghĩ tiếp tục xây dựng Tổ quốc Việt Nam hùng cường, phồn vinh, hạnh phúc, sánh vai với các cường quốc năm châu, cùng nhịp bước với trào lưu tiến bộ của thế giới và ý nguyện hòa bình của nhân loại.

    Quá trình Bác Hồ viết Di chúc được thể hiện trong phần đầu cuốn sách. Sách dẫn lại lời của Vũ Kỳ – thư ký của Chủ tịch Hồ Chí Minh, người được chứng kiến cả quá trình Bác Hồ viết Di chúc từ năm 1965 đến năm 1969: “Tôi nhớ mãi sáng tháng 5 ấy. Đó là buổi sáng thứ hai, mồng 10/5/1965 không thể nào quên. Khắp nơi trong cả nước đang sôi nổi thi đua lập thành tích mừng thọ Bác Hồ 75 tuổi… Đúng 9h, Bác Hồ ngồi chăm chú viết. Vấn đề chắc đã được suy ngẫm từ lâu”.

    Đó là giờ phút Chủ tịch Hồ Chí Minh viết những dòng đầu tiên vào tài liệu “Tuyệt đối bí mật” để dặn lại cho muôn đời sau. “Tuyệt đối bí mật” vì Bác không muốn cho nhiều người biết việc làm của một người “sắp đi xa”, ngại dẫn đến những suy nghĩ không có lợi.

    Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết nhiều văn bản mang tính lịch sử như bản Tuyên ngôn độc lập (1945), Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến (1946), Lời kêu gọi Không có gì quý hơn độc lập tự do (1966)… Các văn bản ấy đều viết trong khoảng thời gian ngắn.

    Nhưng khi viết tài liệu “Tuyệt đối bí mật” thì khác. Chủ tịch Hồ Chí Minh viết Di chúc trong bốn năm (10/5/1965 – 5/1969). Mỗi năm Bác dành khoảng mười ngày vào dịp sinh nhật của mình (từ ngày 10 đến khoảng ngày 19/5) để viết.

    “Bác rất cẩn trọng dành thời gian bốn năm với nhiều tâm huyết, cân nhắc từng câu, từng chữ, từng ý, từng lời, xóa đi, viết lại, bổ sung. Mấy trang giấy của Bác, trên dưới một nghìn từ là cả một quá trình suy tư, trăn trở, tìm tòi mà có lẽ Người cũng chưa thật sự hài lòng”, trích cuốn sách Xây dựng đất nước phồn vinh theo di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

    Ngày 10/5/1965, từ 9h đến 10h, Người bắt đầu viết tài liệu “Tuyệt đối bí mật”. Ngày 11 và 13/5, cũng từ 9h đến 10h, Người viết tiếp tài liệu “Tuyệt đối bí mật”.

    Ngày 14/5, sáng, Bác thăm hợp tác xã nông nghiệp Phương Đông (xã Xuân Phương, Từ Liêm, Hà Nội). 10h, Người họp Bộ Chính trị bàn về công tác đào tạo cán bộ. Từ 14h đến 16h, Người viết tiếp phần cuối tài liệu “Tuyệt đối bí mật”, đúng 16h thì viết xong. Người viết mấy dòng chữ “Hà Nội, ngày 15 tháng 5 năm 1965” trước chữ ký Hồ Chí Minh. Bên cạnh, phía trái là chữ ký chứng kiến của đồng chí Lê Duẩn.

    21h ngày 14/5/1965, Vũ Kỳ đưa Bác lên nhà sàn. Bác giao lại chiếc phong bì cho Vũ Kỳ và dặn: “Chú cất giữ cẩn thận. Sang năm, mồng 10/ 5, nhớ đưa lại cho Bác”.

    Sáng 10/5/1966, nhớ lời Bác dặn, Vũ Kỳ đặt chiếc phong bì trên bàn làm việc của Bác, nhưng Bác không viết gì thêm. Theo Vũ Kỳ, từ ngày 12 đến ngày 14/5, Bác ghi thêm liền sau đoạn “trong Đảng thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình, là cách tốt nhất để củng cố và phát triển sự đoàn kết và thống nhất của Đảng” câu “phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau”.

    Từ dịp sinh nhật năm 1966 đến trước dịp sinh nhật năm 1968, Bác không viết gì thêm vào tài liệu “Tuyệt đối bí mật”.

    Năm 1968, đúng ngày 10/5, từ 9h đến 10h, Người viết lại phần mở đầu của tài liệu “Tuyệt đối bí mật” và phần “Về việc riêng”. Ngày 11/5, đúng 9h, Bác tiếp tục viết tài liệu “Tuyệt đối bí mật”, phần nói về công tác chỉnh đốn Đảng. Ngày 12/5, đúng 9h, Bác tiếp tục viết tài liệu “Tuyệt đối bí mật”, đọc và sửa chữa những phần đã viết.

    Các ngày 13, 14, 15, 16, 17, 18/5, trong khung giờ từ 9h đến 10h, Bác tiếp tục đọc, sửa chữa, bổ sung tài liệu “Tuyệt đối bí mật”. Đúng ngày 19/5/1968, sau khi tiếp thân mật các cán bộ như Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đến chúc mừng sinh nhật, Bác tiếp tục sửa chữa và bổ sung tài liệu “Tuyệt đối bí mật”.

    Năm 1969, vẫn như những năm trước, Bác làm việc đều đặn và không quên sửa tài liệu “Tuyệt đối bí mật”. Vẫn đều đặn vào khoảng từ 9h đến 10h sáng các ngày từ 10 đến 20/5/1969. Ngày 20/5, Người xem lại lần cuối văn bản, rồi bỏ vào phong bì cất đi.

    Theo PGS. TS Bùi Đình Phong “Những lời căn dặn cuối cùng của Bác là một văn kiện lịch sử vô giá kết tinh tư tưởng, đạo đức, phong cách, tâm hồn, tình cảm thiết tha của một nhân cách, một lãnh tụ, một con người cả cuộc đời vì nước vì dân, cống hiến vô tư, cực đại cho dân tộc và nhân loại, không có một chút gì cho cá nhân mình, không dính líu gì với vòng danh lợi”.

    --- Bài cũ hơn ---

  • 50 Năm Thực Hiện Di Chúc Bác Hồ: Lời Dặn Đầu Tiên Của Bác
  • Toàn Văn Di Chúc Của Chủ Tịch Hồ Chí Minh Công Bố Năm 1969
  • Di Chúc Của Chủ Tịch Hồ Chí Minh Công Bố Ở Trong Nước Và Nước Ngoài
  • Lời Dặn Đầu Tiên Của Bác Trong Di Chúc
  • Di Chúc Của Bác Hồ Được Lưu Giữ, Bảo Quản Như Thế Nào?
  • 125 Sinh Nhật Bác: Di Chúc Hồ Chí Minh

    --- Bài mới hơn ---

  • Chứng Thực Văn Bản Di Chúc Để Thừa Kế Tài Sản Gắn Liền Với Đất
  • Ðiều Then Chốt Trong Bản Di Chúc Thiêng Liêng
  • Mẫu Di Chúc Thừa Kế Viết Tay Hợp Pháp, Mẫu Di Chúc Công Chứng 2022
  • Suy Nghĩ Về Một Bảo Vật Quốc Gia
  • Mẫu Văn Bản Di Chúc Thừa Kế
  • Hồ Chí Minh là một nhân vật lịch sử. Đánh giá về các nhân vật lịch, về đóng góp và sai lầm của họ, là công việc của các sử gia chân chính.

    Ở đây, tôi chỉ làm một việc duy nhất: khảo sát các văn bản di chúc của Hồ Chí Minh, trên cơ sở đó chỉ ra một số điều mà văn bản cho phép nhìn thấy. Đúng hơn là các văn bản của Hồ Chí Minh cho phép đặt ra một số nghi vấn mà tôi không có câu trả lời. Tôi cũng không có tham vọng trả lời, tôi chỉ làm công việc đặt ra các câu hỏi.

    Trong bài này, để tiến hành khảo sát các bản di chúc, tôi sử dụng các bản gốc đánh máy năm 1965 và bản gốc viết tay các năm 1968-1969, của Hồ Chí Minh, được công bố trong cuốn ” Toàn văn di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh”, NXB Trẻ, 1999.

    Bản di chúc đầu tiên được đánh máy và ký ngày 15/5/1965, với sự chứng kiến của Lê Duẩn, lúc bấy giờ là Bí thư thứ nhất Ban chấp hành trung ương, có chữ ký của Lê Duẩn trong văn bản đánh máy.

    Bản di chúc thứ hai, được viết tay, bằng mực xanh, vào dịp sinh nhật thứ 78, tức là vào tháng 5 năm 1968, với rất nhiều sửa chữa, gạch xóa bằng mực đỏ, không có chữ ký, không có người chứng kiến.

    Bản thứ ba, đề ngày 10/5/1969, chỉ có một trang viết tay, với nội dung là phần mở đầu của di chúc.

    Như vậy, có thể thấy, Hồ Chí Minh viết hoặc sửa di chúc vào mỗi dịp sinh nhật. Điều này cũng có thể hiểu được : chính là vào dịp sinh nhật mà người ta nghĩ đến quỹ thời gian còn lại của mình, nhất là đối với những người cao tuổi. Hồ Chí Minh đã chuẩn bị cho cái chết của mình một cách đầy ý thức, từ nhiều năm trước khi chết.

    Bản gốc di chúc thứ nhất và thứ hai đều có ghi quốc hiệu : ” Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam / Độc lập-Tự do – Hạnh phúc “. Và đều có ghi chú ở ngay dòng đầu tiên : ” Tuyệt đối bí mật “. Đồng thời việc viết và sửa chữa di chúc nhiều lần, việc sửa chữa, thêm bớt từng chữ một, cho thấy rằng, đối với Hồ Chí Minh, di chúc là một văn bản hết sức quan trọng, hết sức có ý nghĩa đối với ông.

    Tôi xin xác định rõ : ở đây tôi không đi vào phân tích toàn bộ các văn bản di chúc, không phân tích tư tưởng của Hồ Chí Minh, không đánh giá đúng sai. Có thể tôi sẽ làm việc đó vào một lúc khác nhưng không phải lúc này.

    Nhận xét sơ bộ đầu tiên của tôi có thể tóm gọn trong mấy câu hỏi sau đây:

    1. Vì sao từ bản di chúc thứ hai ông chọn hình thức viết tay, chứ không đánh máy nữa ? Liệu ta có thể nghĩ đến một trong những câu trả lời khả dĩ: “để không ai có thể sửa đổi hay đánh tráo được ” ? Ta biết rằng đối với một văn bản đánh máy, trừ trang có chữ ký ra, bất kỳ trang nào cũng có thể bị thay thế mà… không để lại dấu vết gì. Dù sao đấy cũng chỉ là một phỏng đoán. Nhưng nếu quả thật Hồ Chí Minh đã có linh cảm và lo ngại rằng di chúc của ông sẽ bị sửa chữa sau khi ông chết thì linh cảm và lo ngại ấy quả là chính xác, vì đó chính là điều mà Bộ Chính trị đã làm.

    2. Bản di chúc thứ hai, 1968, không có chữ ký, và không có người chứng kiến. Văn bản được công bố với rất nhiều sửa chữa cho phép phỏng đoán rằng đó có thể là một bản nháp. Câu hỏi là : từ sinh nhật 1968 đến sinh nhật 1969 ông Hồ Chí Minh hoàn toàn có thời gian để chép lại văn bản ngắn ấy thành một văn bản hoàn chỉnh, có chữ ký của ông đàng hoàng, như ông đã làm với văn bản thứ nhất, nhưng tại sao ông không làm điều đó ? Tại sao ông mất 5 năm để viết một di chúc, thay đổi, sửa chữa rất nhiều, chứng tỏ nó rất quan trọng đối với ông, mà rốt cuộc ông chỉ để lại một văn bản dang dở và gạch xóa sửa chữa nhằng nhịt như vậy ? Liệu có phải ông Hồ đã viết lại sạch sẽ và ký cẩn thận, nhưng văn bản chính thức có chữ ký đó không còn nữa ?

    3. Văn bản năm 1969 chỉ có một trang viết tay, nội dung cho thấy đó là lời mở đầu di chúc, lặp lại một số nội dung đã từng viết ở phần mở đầu của những di chúc trước. Tuy nhiên trông nó như là bản nháp, vì đầu trang không đề quốc hiệu, cũng không có dòng chữ “Tuyệt đối bí mật”, như hai bản trước. Chẳng lẽ Hồ Chí Minh chỉ viết phần mở đầu mà không viết phần nội dung chính ? Điều này thật đáng ngạc nhiên. Bởi Hồ Chí Minh hiểu rõ tầm quan trọng của di chúc, hiểu rõ rằng di chúc của ông chính là một văn bản lịch sử. Câu hỏi đặt ra là : Liệu có phải văn bản năm 1969 chỉ có chừng đó không ? Liệu có phải Hồ Chí Minh đã viết một bản di chúc thứ ba rất hoàn chỉnh, vào sinh nhật năm 79 tuổi, nhưng chỉ còn lại một trang nháp, và phần chính của nó đã bị thất lạc, hoặc bị hủy bỏ, hoặc không được công bố?

    Tại sao có những câu hỏi này?

    Vì vậy, câu hỏi đặt ra là:

    Liệu có thể xảy ra trường hợp : trong bản di chúc viết năm 1969 Hồ Chí Minh đã có những thay đổi khiến cho người ta không muốn lưu giữ văn bản ấy? Liệu có phải bản di chúc cuối cùng, bản di chúc chính thức của Hồ Chí Minh (viết năm 1969, với chữ ký của ông, và là bản mà ông muốn đưa ra trước toàn dân) đã bị biến mất, đã bị hủy bỏ, hoặc đã bị cất giấu, không được công bố?

    4. Bản đánh máy đầu tiên với đầy đủ tất cả những nghi thức cần thiết cho thấy rằng ông Hồ Chí Minh hiểu rõ thế nào là một bản di chúc. Vậy tại sao những bản di chúc về sau (được nhà nước công bố) lại ở trong tình trạng của bản nháp, gạch xóa, tẩy sửa, thiếu những nghi thức cần thiết đó?

    Và câu hỏi là : bản di chúc nào là bản mà ông Hồ muốn đưa ra trước toàn dân?

    Dĩ nhiên, đó không phải là bản viết năm 1965, bởi nó đã bị thay thế bằng các văn bản khác. Từ những gì đã công bố, ít nhất ta biết rằng ông Hồ đã viết lại hoàn toàn di chúc vào sinh nhật năm 1968. Và trong bản gốc viết tay, ông nói rõ lý do, mặc dù sau khi cân nhắc ông gạch bỏ câu này: ” Tháng 5/1968, khi tôi xem lại thư này thì tình hình trong nước cũng như tình hình thế giới có rất nhiều thay đổi “. Những thay đổi đó đã khiến cho cách nhìn nhận của ông thay đổi, và ông cảm thấy cần phải viết lại hoàn toàn. Cách đánh số trang của bản viết tay năm 1968 cho thấy rằng đó là một bản hoàn chỉnh, có logic riêng, có cấu trúc riêng, độc lập với văn bản năm 1965. Đó là một văn bản mới hoàn toàn. Việc quốc hiệu được ông Hồ ghi đầu trang cũng là một dấu hiệu xác nhận đó là một văn bản mới. Vậy có nghĩa là văn bản năm 1965 đã bị thay thế bởi văn bản năm 1968. Và phải xem bản viết năm 1965 là không còn hiệu lực?

    Và điều quan trọng, xin nhắc lại : Hồ Chí Minh muốn công bố trước toàn dân bản di chúc nào?

    Chúng ta thấy rõ rằng ông viết di chúc cho toàn thể nhân dân. Bản viết năm 1968 cho thấy nhân dân là đối tượng chính mà ông nghĩ đến. Và việc chôn cất ông, theo như ông dặn lại trong di chúc, là việc của đồng bào ba miền, chứ không phải là việc của Bộ Chính trị.

    Thật đáng ngạc nhiên nếu ông muốn công bố cho toàn dân mấy văn bản gạch xóa, thêm bớt nhằng nhịt đó. Tiến hành viết di chúc trong vòng 5 năm hẳn ông phải có một bản hoàn chỉnh, rõ ràng, sạch sẽ, với chữ ký và người chứng kiến, một văn bản có giá trị pháp lý, như là văn bản đầu tiên ? Tại sao không có một văn bản như vậy ? Lẽ nào trước khi mất ông không dặn lại là phải công bố bản di chúc nào ? Phải chăng ông Hồ đã để lại một bản hoàn chỉnh, đảm bảo các thủ tục pháp lý, nhưng bản đó đã không được công bố?

    Hy vọng giới sử học chân chính một ngày nào đó sẽ làm sáng tỏ.

    Trên thực tế chúng ta không biết bản nào là bản di chúc chính thức, chúng ta không biết Hồ Chí Minh muốn công bố bản nào. Hiện tại thì bản cuối cùng tương đối đầy đủ mà chúng ta có là bản thứ hai, bản được viết năm 1968. Và tôi đành phải làm việc trên những gì còn lại và được công bố.

    Có thể các bạn sẽ cảm nhận được sự dối trá đang đè nặng lên cuộc sống của các bạn như thế nào khi các bạn đối chiếu với những gì mà các bạn đang được rao giảng, qua tài liệu của Ban Tuyên giáo soạn cho các bạn. Có thế các bạn sẽ đặt câu hỏi về việc tại sao Đảng, Nhà nước lại chi tiêu tốn kém như vậy cho cái màn kịch khổng lồ đem diễn trên toàn quốc (nhất là trong các trường học) từ nhiều năm nay về việc “học tập” này.

    Paris, 23/4/2015

    Nguyễn Thị Từ Huy

    Nguồn Blog Nguyễn Thị Từ

    --- Bài cũ hơn ---

  • Kết Quả 45 Năm Thực Hiện Di Chúc Của Bác Hồ
  • Bác Hồ Viết ‘di Chúc’ Như Thế Nào?
  • 50 Năm Thực Hiện Di Chúc Bác Hồ: Lời Dặn Đầu Tiên Của Bác
  • Toàn Văn Di Chúc Của Chủ Tịch Hồ Chí Minh Công Bố Năm 1969
  • Di Chúc Của Chủ Tịch Hồ Chí Minh Công Bố Ở Trong Nước Và Nước Ngoài
  • Những Chi Tiết Chưa Nói Của Di Chúc Bác Hồ.

    --- Bài mới hơn ---

  • Quy Định Của Pháp Luật Về Xác Lập Di Chúc Có Điều Kiện ? Thủ Tục Lập Di Chúc Hợp Pháp ?
  • Quy Định Pháp Luật Về Di Chúc
  • Hướng Dẫn Đánh Văn Bản Trong Excel
  • Hướng Dẫn Đánh Văn Bản Trên Excel
  • Hướng Dẫn Chuyển Nội Dung Excel Sang Word 2022
  • TS Lưu Trần Luân, NXB Chính trị Quốc gia, kể lại: Bộ Chính trị đã quyết định giao Di chúc Bác Hồ cho một đồng chí là Ủy viên Bộ Chính trị lưu giữ. “Trước khi đồng chí qua đời, các cơ quan chức năng đã thu lại tài liệu “Tuyệt đối bí mật” này trong két sắt tại nhà riêng của đồng chí và tiếp tục giao cho một Ủy viên Bộ Chính trị khác quản lý. Đến cuối năm 1989, Di chúc của Bác mới được giao lại cho cơ quan chức năng…”.

    Lần đầu tiên, toàn văn Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh được triển lãm tại Bảo tàng Hồ Chí Minh vào tháng 5/ 2009 đã thu hút sự quan tâm của mọi người.

    40 năm sau ngày Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh được công bố, chúng ta vẫn thấy tầm nhìn thời đại trong mỗi lời thiêng liêng Người để lại. Dường như những gì Người vạch ra, tiên lượng từ hơn 4 thập kỷ trước, đến nay vẫn còn nguyên giá trị.

    Vì thế, nhắc lại những ký ức về Người một lần nữa, “không phải để than khóc trước việc Người từ trần, mà để ca ngợi cuộc sống của Người, như một thiên anh hùng ca của một trong những vị lãnh tụ cách mạng vĩ đại nhất của thế kỷ này.

    Cùng với toàn thể loài người tiến bộ, lịch sử sẽ mãi mãi tưởng nhớ đến Bác Hồ là một người hiền hậu và đáng yêu nhất” (Báo Người quan sát của I-rắc). Bởi vì, cùng với những giá trị thời đại, chúc thư của vị lãnh tụ Hồ Chí Minh cũng mang nhiều nét độc đáo.

    Lần đầu Di chúc được phổ biến rộng rãi

    Hồ Chí Minh bắt đầu viết chúc thư, mà Người gọi là tài liệu “Tuyệt đối bí mật”, vào 9h sáng ngày 10/5/1965, dịp Người tròn 75 tuổi. “Chọn đúng vào một ngày tháng Năm, nhân dịp sinh nhật mình; chọn đúng vào lúc 9h, giờ đẹp nhất của một ngày; chọn đúng vào lúc sức khỏe tốt nhất trong những năm gần đây… để viết về ngày ra đi của mình…” (Bác Hồ viết di chúc như thế nào – Hồi ký của đồng chí Vũ Kỳ).

    Rồi từ đó, mỗi năm, từ mồng 10 đến 20 tháng năm, mỗi hôm, Người dành trọn 1 tiếng, từ 9h đến 10h, để chỉnh sửa Di chúc.

    Từng từ, từng câu, một cách cẩn trọng. Những bút tích của Người còn lại trong các bản Di chúc đã cho thấy, đây là văn bản được Người tập trung thời gian, suy nghĩ, chỉnh sửa nhiều nhất so với các văn bản bút tích của Người để lại. Điều đó, thể hiện tinh thần trách nhiệm của Người trước sự nghiệp cách mạng của dân tộc, nhưng đó còn là tấm lòng của vị lãnh tụ với tương lai đất nước.

    Bản Di chúc còn mang nét độc đáo rất riêng nữa là, dù bút tích Người ghi rõ “Tuyệt đối bí mật”, nhưng đây lại là tài liệu được công bố rộng rãi nhất, được nhiều thế hệ học tập, noi theo. Di chúc của Hồ Chủ tịch đã được Bộ Chính trị cho xuất bản và công bố cùng ngày tổ chức lễ quốc tang 9/9/1969. Không chỉ Trung ương trực tiếp xuất bản Di chúc với số lượng lớn, mà nhiều NXB và hàng loạt tờ báo Trung ương và địa phương cũng đăng tải, công bố bút tích của Người trên trang nhất vào thời điểm đó.

    Năm 1970, bản Di chúc của Người lại được Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tổ chức in tại cơ sở bí mật ở Sài Gòn và phát hành rộng rãi tại các vùng giải phóng. 20 năm sau ngày Hồ Chủ tịch qua đời, một lần nữa Di chúc của Người được xuất bản, nhưng lần này là toàn văn, do NXB Sự thật ấn hành với số lượng tới hơn 100.000 bản. Từ đó cho đến nay, Di chúc của Bác đã nhiều lần được tái bản với số lượng lớn.

    Trong Di chúc của Người chỉ tập trung vào các vấn đề lớn, mang tính vận mệnh dân tộc, vì Tổ quốc, vì nhân dân.

    Có thể nói rằng, Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh là một Di chúc đặc biệt, khi tài liệu này như một văn kiện chính trị để lại cho toàn Đảng, toàn dân và đến hôm nay, nhiều vấn đề vẫn còn mang tính thời sự.

    Bài viết trên tờ Tin tức của Cộng hòa Ả rập thống nhất đã có những nhận xét chính xác về Bác Hồ: “Nếu ta nói rằng, lịch sử loài người trước đây chưa từng được biết đến một kiểu mẫu nào như thế, thì chỉ riêng cuộc đời của Cụ cũng đã xác nhận chân lý ấy…”.

    Độc đáo hành trình lưu giữ

    Ngoài những nội dung trong Di chúc mang tính độc đáo, Di chúc của Hồ Chủ tịch còn có một quá trình lưu giữ, bảo quản cũng độc đáo không kém.

    Vì những lý do khách quan, vào năm 1989, toàn văn Di chúc của Hồ Chủ tịch cũng như ngày mất của Người mới được công bố, bằng Thông báo của Bộ Chính trị khóa VI.

    Sau ngày đó, đồng chí Vũ Kỳ, thư ký riêng của Bác Hồ đã công bố một số bài viết dưới dạng hồi ký với nhiều nội dung, trong đó, có những điểm nhấn: Các học trò xuất sắc của Hồ Chủ tịch đã vô cùng xúc động khi trái tim của vị lãnh tụ thiên tài ngừng đập. Nhưng rồi, cố trấn tĩnh trước đau thương quá lớn này, lần lượt Thủ tướng Phạm Văn Đồng và đồng chí Lê Duẩn, Bí thư thứ nhất, hỏi đồng chí Vũ Kỳ về việc Hồ Chủ tịch có để lại gì không.

    Khi nghe đồng chí Vũ Kỳ trả lời “có”, Bí thư Thứ nhất Lê Duẩn, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đề nghị không được nói với ai và sẽ tổ chức cho đồng chí Vũ Kỳ trình tài liệu “Tuyệt đối bí mật” trước Trung ương.

    Chiều 3/9/1969, BCH Trung ương Đảng đã họp hội nghị bất thường. Với trách nhiệm thiêng liêng với Chủ tịch Hồ Chí Minh, với Đảng và với nhân dân, đồng chí Vũ Kỳ đã nghiêm cẩn mang tài liệu “Tuyệt đối bí mật” đi cùng các đồng chí trong Bộ Chính trị, bước vào hội trường trao lại cho BCH Trung ương. Từ thời khắc đó, Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã không còn nằm ở Văn phòng Chủ tịch nước nữa.

    Trước khi đồng chí qua đời, các cơ quan chức năng đã thu lại tài liệu “Tuyệt đối bí mật” này trong két sắt tại nhà riêng của đồng chí và Bộ Chính trị tiếp tục giao cho một Ủy viên Bộ Chính trị khác quản lý.

    Đến cuối năm 1989, Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh mới được giao lại cho cơ quan chức năng là Cục Lưu trữ, Văn phòng Trung ương Đảng bảo quản. Từ đó đến nay, Di chúc của Người đã được lưu giữ tuyệt đối cẩn trọng”./.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chuyện Chưa Kể Về Bản Di Chúc Và Những Kỷ Vật Đặc Biệt Của Bác Hồ
  • Có Mấy Loại Di Chúc Theo Quy Định Mới?
  • Hình Thức Của Di Chúc
  • Thời Điểm Có Hiệu Lực Của Di Chúc Và Điều Kiện Lập Di Chúc Hợp Pháp
  • Di Chúc Lập Bằng Văn Bản Không Công Chứng Chứng Thực Có Giá Trị Pháp Lý Không?
  • 50 Năm Thực Hiện Di Chúc Bác Hồ: Lời Dặn Đầu Tiên Của Bác

    --- Bài mới hơn ---

  • Bác Hồ Viết ‘di Chúc’ Như Thế Nào?
  • Kết Quả 45 Năm Thực Hiện Di Chúc Của Bác Hồ
  • 125 Sinh Nhật Bác: Di Chúc Hồ Chí Minh
  • Chứng Thực Văn Bản Di Chúc Để Thừa Kế Tài Sản Gắn Liền Với Đất
  • Ðiều Then Chốt Trong Bản Di Chúc Thiêng Liêng
  • Một trong những nội dung quan trọng được Chủ tịch Hồ Chí Minh đề cập đầu tiên trong bản Di chúc là vấn đề xây dựng Đảng. Vượt qua ngôn ngữ, hình thức của một bản Di chúc thông thường, những vấn đề viết về xây dựng Đảng của Người trong Di chúc đã đạt đến tầm lý luận sâu sắc.

    Đoàn kết là sức mạnh của Đảng

    Nói về Đảng, trước hết Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định vị trí, vai trò tổ chức và lãnh đạo của Đảng trong sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta: “Nhờ đoàn kết chặt chẽ, một lòng một dạ phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc, cho nên từ ngày thành lập đến nay, Đảng ta đã đoàn kết, tổ chức và lãnh đạo nhân dân ta hăng hái đấu tranh tiến từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.”

    Đây là sự tổng kết mang tính lý luận và thực tiễn sâu sắc về vị trí, vai trò của Đảng. Thực tế cho thấy, từ khi được thành lập, Đảng đã lãnh đạo nhân dân ta tiến hành Cách mạng Tháng Tám thắng lợi, lập nên nhà nước công nông đầu tiên trong lịch sử dân tộc.

    Tiếp đó, Đảng lãnh đạo nhân dân tiến hành cuộc kháng chiến anh dũng chống thực dân Pháp xâm lược.

    Và cho đến thời điểm Người viết Di chúc, Đảng đã và đang lãnh đạo nhân dân tiến hành hai nhiệm vụ chiến lược: xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam tiến tới thống nhất nước nhà.

    Bác khẳng định yếu tố cốt lõi dẫn đến sự tổ chức, lãnh đạo thành công của Đảng đó là: “Nhờ đoàn kết chặt chẽ, một lòng một dạ phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc.” Như vậy, hai yếu tố quan trọng giúp cho Đảng có khả năng tổ chức, lãnh đạo, tập hợp được đông đảo quần chúng nhân dân, phát huy được sức mạnh của cả dân tộc trong sự nghiệp cách mạng là sự đoàn kết chặt chẽ trong Đảng và Đảng một lòng, một dạ phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc.

    Hai yếu tố này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Đảng có đoàn kết chặt chẽ thì mới thực hiện được tôn chỉ, mục đích phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc. Ngược lại, phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc là cơ sở để tạo ra và củng cố sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng.

    Bác cũng khẳng định: “Đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng và của dân ta. Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng

    như giữ gìn con ngươi của mắt mình.”

    Thật vậy, đoàn kết là một nội dung quan trọng trong hệ giá trị truyền thống của dân tộc Việt Nam được hình thành, củng cố và phát triển lâu dài trong công cuộc dựng nước và giữ nước.

    Là người sáng lập ra Đảng Cộng sản Việt Nam, hơn ai hết, Bác hiểu rõ đoàn kết có sức mạnh to lớn như thế nào.

    Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đoàn kết luôn là tư tưởng chiến lược cách mạng lâu dài nhất quán, có ý nghĩa sống còn, quyết định sự thành bại của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc. Đoàn kết thống nhất trong Đảng chính là cơ sở của đoàn kết toàn dân và đoàn kết quốc tế, là sức mạnh của Đảng và là nguồn gốc của mọi thắng lợi. Do đó, trong công tác xây dựng Đảng, vấn đề đoàn kết đã được Bác đặt lên hàng đầu.

    Sự so sánh giữa “giữ gìn đoàn kết nhất trí trong Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình” hàm chứa ẩn ý rất sâu sắc. Có giữ gìn được đoàn kết trong Đảng mới giúp cho Đảng sáng suốt trong tổ chức, lãnh đạo nhân dân, trong xác định đường lối cách mạng. Ngược lại, Đảng không giữ gìn được sự đoàn kết, khác nào mắt bị hỏng con ngươi, như người mù không thấu tỏ đường đi.

    Có thể thấy, chỉ trong một đoạn ngắn mà Bác sử dụng đến 5 từ “đoàn kết” cho thấy đây là một điều kiện không thể thiếu, một điều kiện tất yếu khi Đảng muốn xây dựng, phát triển trong sạch, vững mạnh.

    Không những chỉ ra vai trò to lớn của sự đoàn kết, Bác còn chỉ ra cách thức, phương pháp để thực hiện đoàn kết nhất trí trong Đảng.

    Bác viết: “Trong Đảng thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất để củng cố và phát triển sự đoàn kết và thống nhất của Đảng. Phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau.” Đây không chỉ là sự đúc kết, khái quát mang tầm lý luận sâu sắc mà còn là biểu hiện tầm cao trí tuệ của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

    Sinh thời, Người từng nêu lên mối quan hệ giữa thực hiện dân chủ và đoàn kết trong Đảng: Không thực hiện dân chủ thì không đoàn kết được, nhất là dân chủ trong Đảng. Vì Đảng ta cầm quyền, không dân chủ trong Đảng thì làm sao dân chủ trong dân được. Nhờ có dân chủ mà Đảng ta đã khơi dậy, phát huy cao nhất trí tuệ, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của mình. Nhờ có dân chủ trong Đảng nên đã khắc phục được tình trạng bè cánh, cục bộ, địa phương chủ nghĩa, quan liêu, hách dịch, cửa quyền, xa rời quần chúng.

    Vì vậy, “thực hành dân chủ rộng rãi” là điều vô cùng cần thiết trong Đảng.Bên cạnh đó, phê bình và tự phê bình cũng là một nguyên tắc trong sinh hoạt Đảng, là quy luật phát triển và là vũ khí sắc bén của Đảng.

    Phê bình và tự phê bình không những để sửa chữa khuyết điểm trong Đảng, làm cho đảng viên tiến bộ và mạnh lên mà còn khẳng định Đảng thật sự chân chính. Khi căn dặn về thực hiện phê bình và tự phê bình trong Đảng, Bác lưu ý phải tiến hành “thường xuyên và nghiêm chỉnh.” Bởi lẽ, nếu không được tiến hành thường xuyên, lúc làm, lúc không thì sự phê bình và tự phê bình không kịp thời; mặt khác, nếu tiến hành không nghiêm chỉnh, qua loa, hình thức, “dĩ hòa vi quý” thì không có hiệu quả, thậm chí còn phản tác dụng.

    Bác cũng không quên nhắc nhở cán bộ, đảng viên “phải có tình thương yêu lẫn nhau.” Bởi trên cơ sở tình đồng chí thương yêu lẫn nhau thì mới thực hành được “dân chủ rộng rãi,” mới “thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình.” Không có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau sẽ dẫn đến dân chủ hình thức, tự phê bình và phê bình không nghiêm túc.

    “Mỗi đảng viên và cán bộ phải thực sự thấm nhuần đạo đức cách mạng”

    Trong Di chúc, nói về Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Đảng ta là một đảng cầm quyền” tức là chính quyền do Đảng Cộng sản tổ chức và lãnh đạo là chính quyền của dân, do dân và vì dân. Do đó, người yêu cầu: “Mỗi đảng viên và cán bộ phải thực sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư.”

    Vì đạo đức cách mạng là “nền tảng,” là “cái gốc” của người cán bộ. Bởi “có đạo đức cách mạng thì khi gặp khó khăn, gian khổ, thất bại, cũng không sợ sệt, rụt rè, lùi bước. Vì lợi ích chung của Đảng, của cách mạng, của giai cấp, của dân tộc và của loài người mà không ngần ngại hy sinh tất cả lợi ích riêng của cá nhân mình. Khi cần, thì sẵn sàng hy sinh cả tính mạng của mình cũng không tiếc,” “Có đạo đức cách mạng thì khi gặp thuận lợi và thành công cũng vẫn giữ vững tinh thần gian khổ, chất phác, khiêm tốn, “lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”; lo hoàn thành nhiệm vụ cho tốt chứ không kèn cựa về mặt hưởng thụ; không công thần, không quan liêu, không kiêu ngạo, không hủ hoá.”

    Có thể nói, đạo đức cách mạng chính là cơ sở giúp đảng viên và cán bộ giáo dục, thuyết phục và lãnh đạo quần chúng nhân dân, là tấm gương sáng cho mọi người noi theo.

    Bên cạnh đó, người cán bộ, đảng viên cũng cần phải “thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư.” Bởi một dân tộc biết cần, kiệm, biết liêm, là một dân tộc giàu về vật chất, mạnh về tinh thần, là một dân tộc văn minh tiến bộ. Cần, Kiệm, Liêm, là gốc rễ của Chính. Nhưng một cây cần có gốc rễ, lại cần có cành, lá, hoa, quả mới là hoàn toàn.

    Và câu cuối cùng trong phần nói về Đảng trong Di chúc, Bác viết: “Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, người đầy tớ thật trung thành của nhân dân.”

    Để Đảng ta thật trong sạch, xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân, Bác căn dặn: “Trước mặt quần chúng, không phải ta cứ viết lên trán chữ “cộng sản” mà ta được họ yêu mến. Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách, đạo đức. Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước.”

    Bác cũng nhắc nhở rằng, trong học tập, lao động, công tác cũng như trong cuộc sống đời thường của từng người ở xã hội ta vào thời kỳ cách mạng nào cũng thế, nếu sự bất liêm, bất chính, lãng phí, tham ô, lười biếng, vô trách nhiệm, thu vén cá nhân, ích kỷ vì lợi ta hại người.. còn lẩn khuất đâu đó bằng sự dối trá với chính mình, với tập thể và cộng đồng thì đó là “kẻ thù nội xâm” nguy hiểm khôn lường.

    Không ngừng chăm lo tự xây dựng, chỉnh đốn Đảng

    Thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, suốt 50 năm qua, Đảng ta đã không ngừng xây dựng, chỉnh đốn cả về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức.

    Nghị quyết Trung ương 23, khóa III (tháng 12/1974) về xây dựng Đảng đã tạo sức mạnh, sự thống nhất ý chí, hành động của Đảng, lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đến toàn thắng.

    Đại hội VI của Đảng (tháng 12/1986) là sự tự phê bình, phê bình nghiêm túc, một cuộc chỉnh đốn lớn để đi đến hoạch định đường lối đổi mới.

    Hội nghị Trung ương 3, khóa VII (tháng 6/1992) về đổi mới, chỉnh đốn Đảng lãnh đạo công cuộc đổi mới phát triển mạnh mẽ vượt qua thách thức của sự sụp đổ của mô hình chủ nghĩa xã hội ở Đông Âu và Liên Xô…

    Với thành quả của các chặng đường đấu tranh cách mạng, trực tiếp là của công cuộc đổi mới, Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII đánh giá đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ và vị thế như ngày nay. Đó là kết quả sự nỗ lực phấn đấu không ngừng của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, trong đó có sự hy sinh quên mình và đóng góp quan trọng của cán bộ, đảng viên. Chúng ta có quyền tự hào về bản chất tốt đẹp, truyền thống anh hùng và lịch sử vẻ vang của Đảng ta-Đảng của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, đại biểu của dân tộc Việt Nam anh hùng./.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Toàn Văn Di Chúc Của Chủ Tịch Hồ Chí Minh Công Bố Năm 1969
  • Di Chúc Của Chủ Tịch Hồ Chí Minh Công Bố Ở Trong Nước Và Nước Ngoài
  • Lời Dặn Đầu Tiên Của Bác Trong Di Chúc
  • Di Chúc Của Bác Hồ Được Lưu Giữ, Bảo Quản Như Thế Nào?
  • Nguyên Văn Bản Di Chúc Của Chủ Tịch Hồ Chí Minh Nguyen Van Ban Di Chuc Cua Chu Tich Ho Chi Minh Doc
  • Toàn Văn Di Chúc Của Chủ Tịch Hồ Chí Minh

    --- Bài mới hơn ---

  • Nguyên Văn Bản Di Chúc Của Chủ Tịch Hồ Chí Minh Nguyen Van Ban Di Chuc Cua Chu Tich Ho Chi Minh Doc
  • Di Chúc Của Bác Hồ Được Lưu Giữ, Bảo Quản Như Thế Nào?
  • Lời Dặn Đầu Tiên Của Bác Trong Di Chúc
  • Di Chúc Của Chủ Tịch Hồ Chí Minh Công Bố Ở Trong Nước Và Nước Ngoài
  • Toàn Văn Di Chúc Của Chủ Tịch Hồ Chí Minh Công Bố Năm 1969
  • Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh công bố năm 1969, đề ngày 10-5 gồm 4 trang in khổ 14,5×22 cm. Trong lễ tang của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng chí Lê Duẩn, khi đó là Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam đọc lời điếu và công bố Di chúc của Người.

    VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ

    Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

    Cuộc chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta dù phải kinh qua gian khổ, hy sinh nhiều hơn nữa, song nhất định thắng lợi hoàn toàn. Đó là một điều chắc chắn.

    Ông Đỗ Phủ là người làm thơ rất nổi tiếng ở Trung Quốc đời nhà Đường, có câu rằng “Nhân sinh thất thập cổ lai hy”, nghĩa là “Người thọ 70, xưa nay hiếm”.

    Năm nay, tôi vừa 79 tuổi, đã là lớp người “xưa nay hiếm” nhưng tinh thần, đầu óc vẫn rất sáng suốt, tuy sức khoẻ có kém so với vài năm trước đây. Khi người ta đã ngoài 70 xuân, thì tuổi tác càng cao, sức khoẻ càng thấp. Điều đó cũng không có gì lạ. Nhưng ai mà đoán biết tôi còn phục vụ cách mạng, phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân được bao lâu nữa?

    Vì vậy, tôi để sẵn mấy lời này, phòng khi tôi sẽ đi gặp cụ Các Mác, cụ Lênin và các vị cách mạng đàn anh khác, thì đồng bào cả nước, đồng chí trong Đảng và bầu bạn khắp nơi đều khỏi cảm thấy đột ngột.

    TRƯỚC HẾT NÓI VỀ ĐẢNG – Nhờ đoàn kết chặt chẽ, một lòng một dạ phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc, cho nên từ ngày thành lập đến nay, Đảng ta đã đoàn kết, tổ chức và lãnh đạo nhân dân ta hăng hái đấu tranh tiến từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

    Đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng và của dân ta. Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình.

    Trong Đảng thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất để củng cố và phát triển sự đoàn kết và thống nhất của Đảng. Phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau.

    Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thực sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân.

    ĐOÀN VIÊN VÀ THANH NIÊN ta nói chung là tốt, mọi việc đều hăng hái xung phong, không ngại khó khăn, có chí tiến thủ. Đảng cần phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng” vừa “chuyên”. Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết.

    NHÂN DÂN LAO ĐỘNG ta ở miền xuôi cũng như ở miền núi, đã bao đời chịu đựng gian khổ, bị chế độ phong kiến và thực dân áp bức bóc lột, lại kinh qua nhiều năm chiến tranh. Tuy vậy, nhân dân ta rất anh hùng, dũng cảm, hăng hái, cần cù. Từ ngày có Đảng, nhân dân ta luôn luôn đi theo Đảng, rất trung thành với Đảng. Đảng cần phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hóa, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân.

    CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ có thể còn kéo dài. Đồng bào ta có thể phải hy sinh nhiều của, nhiều người. Dù sao, chúng ta phải quyết tâm đánh giặc Mỹ đến thắng lợi hoàn toàn.

    Còn non, còn nước, còn người

    Thắng giặc Mỹ, ta sẽ xây dựng hơn mười ngày nay!

    Dù khó khăn gian khổ đến mấy, nhân dân ta nhất định sẽ hoàn toàn thắng lợi. Đế quốc Mỹ nhất định phải cút khỏi nước ta. Tổ quốc ta nhất định sẽ thống nhất. Đồng bào Nam Bắc nhất định sẽ sum họp một nhà. Nước ta sẽ có vinh dự lớn là một nước nhỏ mà đã anh dũng đánh thắng hai đế quốc to – là Pháp và Mỹ; và đã góp phần xứng đáng vào phong trào giải phóng dân tộc.

    VỀ PHONG TRÀO CỘNG SẢN THẾ GIỚI – là một người suốt đời phục vụ cách mạng, tôi càng tự hào với sự lớn mạnh của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế bao nhiêu, thì tôi càng đau lòng bấy nhiêu vì sự bất hoà hiện nay giữa các đảng anh em! Tôi mong rằng Đảng ta sẽ ra sức hoạt động, góp phần đắc lực vào việc khôi phục lại khối đoàn kết giữa các đảng anh em trên nền tảng chủ nghĩa MácLênin và chủ nghĩa quốc tế vô sản, có lý có tình. Tôi tin chắc rằng các đảng anh em và các nước anh em nhất định sẽ phải đoàn kết lại.

    VỀ VIỆC RIÊNG – Suốt đời tôi hết lòng hết sức phục vụ Tổ quốc, phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân. Nay dù phải từ biệt thế giới này, tôi không có điều gì phải hối hận, chỉ tiếc là tiếc rằng không được phục vụ lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa. Sau khi tôi đã qua đời, chớ nên tổ chức điếu phúng linh đình, để khỏi lãng phí thì giờ và tiền bạc của nhân dân.

    Cuối cùng, tôi để lại muôn vàn tình thân yêu cho toàn dân, toàn Đảng, cho toàn thể bộ đội, cho các cháu thanh niên và nhi đồng. Tôi cũng gửi lời chào thân ái đến các đồng chí, các bầu bạn và các cháu thanh niên, nhi đồng quốc tế.

    Điều mong muốn cuối cùng của tôi là: Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”.

    Hà Nội, ngày 10 tháng 5 năm 1969

    HỒ CHÍ MINH

    --- Bài cũ hơn ---

  • Di Chúc Của Chủ Tịch Hồ Chí Minh: Như Ngọn Đuốc Soi Đường Cho Dân Tộc
  • Mẫu Văn Bản Di Chúc Thừa Kế Tài Sản
  • Top 8 Trang Web Dịch Văn Bản Tốt Nhất Hiện Nay
  • Dịch Văn Bản Tiếng Anh Sang Tiếng Việt Chuẩn Nhất
  • Hãy Phiên Dịch Văn Bản Đăng Ký Của Mọi Người Snags Tiếng Anh
  • Kết Quả 45 Năm Thực Hiện Di Chúc Của Bác Hồ

    --- Bài mới hơn ---

  • 125 Sinh Nhật Bác: Di Chúc Hồ Chí Minh
  • Chứng Thực Văn Bản Di Chúc Để Thừa Kế Tài Sản Gắn Liền Với Đất
  • Ðiều Then Chốt Trong Bản Di Chúc Thiêng Liêng
  • Mẫu Di Chúc Thừa Kế Viết Tay Hợp Pháp, Mẫu Di Chúc Công Chứng 2022
  • Suy Nghĩ Về Một Bảo Vật Quốc Gia
  • Di chúc của Bác Hồ vừa có những điều cụ thể vừa có những điều định hướng chiến lược lâu dài.

    Toàn văn bản Di chúc của Bác là kết tinh những triết lý hết sức cô đọng, sâu sắc ở nhiều tầng bản chất, có lẽ phải qua nhiều thế hệ kế tiếp mới có thể lý giải thỏa đáng. Tuy vậy, bước đầu có thể khẳng định: Những điều mong muốn cuối cùng của Bác: “Toàn Ðảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới” cũng chính là những mục tiêu chiến lược lâu dài của cách mạng nước ta mà Bác di chúc lại cho toàn Ðảng, toàn dân ta tiếp tục thực hiện đến thắng lợi hoàn toàn. Bác đã viết bằng cả tâm huyết của mình bản Di chúc thiêng liêng, trong đó, điều then chốt là xây dựng Ðảng ta thật sự trong sạch, vững mạnh. Bác mong muốn toàn Ðảng và toàn dân ta, mỗi người, mỗi đảng viên và cán bộ phải nêu gương suốt đời tu dưỡng, rèn luyện và thực hành đạo đức cách mạng.

    Ðiều then chốt nhất ấy là kết quả tất yếu trong suốt cuộc đời hoạt động của Bác được tích lũy lại, trên cơ sở thấy rõ vai trò của con người. Theo Bác, phàm tất cả những cái gì thuộc về đời sống xã hội cũng đều do con người, vì con người và được thực hiện bởi con người với những động cơ, mục đích và phương pháp khác nhau. Ðộng cơ, mục đích và phương pháp ấy, trước hết là do đạo đức điều chỉnh để hướng con người đạt tới các giá trị chân, thiện, mỹ, tránh được cái xấu xa… Vì vậy, đạo đức luôn là gốc của con người nói chung và theo đó, đạo đức cách mạng là gốc của những chiến sĩ cách mạng, là gốc của cán bộ, đảng viên. Nhờ có đạo đức cách mạng mà người chiến sĩ cách mạng có thể vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, bị địch tù đày, tra tấn, thậm chí chấp nhận hy sinh để hoàn thành nhiệm vụ cách mạng. Vì vậy, sự nghiệp cách mạng luôn yêu cầu người chiến sĩ cách mạng phải thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện và thực hành đạo đức, nêu cao tấm gương đạo đức như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong… Những điều giáo huấn này đã được Bác nhấn mạnh nhiều lần trong các bài viết, bài nói của Người.

    Trong Di chúc, Bác viết rất rõ, thật cụ thể, dễ hiểu, dễ nhớ: “Ðảng ta là một đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Ðảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đày tớ thật trung thành của nhân dân”.

    “Ðảng ta là một đảng cầm quyền” đòi hỏi mỗi đảng viên và cán bộ phải “thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng”, chống chủ nghĩa cá nhân. Mỗi cán bộ, đảng viên đã nêu cao tấm gương đạo đức cách mạng thì nhất định toàn dân sẽ tin tưởng, noi theo, một lòng một dạ đi theo Ðảng đem hết tinh thần và nghị lực đưa cách mạng đến thắng lợi hoàn toàn. Ðây chính là vấn đề then chốt bảo đảm cho cách mạng thành công. Sự thắng lợi của cách mạng nước ta từ khi có Ðảng ta lãnh đạo đến nay đã chứng minh quy luật đó.

    Ðạo đức cách mạng, trong tư tưởng của Bác, rất sâu sắc và rộng lớn, được thể hiện tập trung ở yêu cầu nhiều mặt của hệ thống các chuẩn mực đạo đức (còn gọi là tiêu chuẩn, quy phạm, quy tắc đạo đức…) với nhiều tầng bản chất từ trừu tượng đến cụ thể. Có cả những chuẩn mực đạo đức cơ bản, sâu sắc, trừu tượng; lại có cả những chuẩn mực đạo đức rất cụ thể… Hệ thống các chuẩn mực đạo đức này chính là sự cụ thể hóa các chuẩn mực đạo đức cơ bản, trừu tượng, gắn liền với hành vi của con người, nên rất dễ hiểu, dễ nhớ, dễ làm. Do là sự cụ thể hóa của các chuẩn mực đạo đức cơ bản, trừu tượng, cho nên khi đã thấm nhuần và thực hiện tốt các chuẩn mực đạo đức cụ thể thì cũng có nghĩa là đã đáp ứng được yêu cầu của các chuẩn mực đạo đức cơ bản, và ngược lại. Xuất phát từ đặc điểm của tư duy và hành động của đại đa số nhân dân, đảng viên và cán bộ nước ta, Bác chỉ ra hệ thống các chuẩn mực đạo đức cách mạng cụ thể ấy là cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Bác đã có bài viết chuyên về cần, kiệm, liêm, chính để giải thích rõ yêu cầu của mỗi chuẩn mực. Nghiên cứu cách viết

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bác Hồ Viết ‘di Chúc’ Như Thế Nào?
  • 50 Năm Thực Hiện Di Chúc Bác Hồ: Lời Dặn Đầu Tiên Của Bác
  • Toàn Văn Di Chúc Của Chủ Tịch Hồ Chí Minh Công Bố Năm 1969
  • Di Chúc Của Chủ Tịch Hồ Chí Minh Công Bố Ở Trong Nước Và Nước Ngoài
  • Lời Dặn Đầu Tiên Của Bác Trong Di Chúc
  • Chuyện Chưa Kể Về Bản Di Chúc Và Những Kỷ Vật Đặc Biệt Của Bác Hồ

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Chi Tiết Chưa Nói Của Di Chúc Bác Hồ.
  • Quy Định Của Pháp Luật Về Xác Lập Di Chúc Có Điều Kiện ? Thủ Tục Lập Di Chúc Hợp Pháp ?
  • Quy Định Pháp Luật Về Di Chúc
  • Hướng Dẫn Đánh Văn Bản Trong Excel
  • Hướng Dẫn Đánh Văn Bản Trên Excel
  • 50 năm Bác để lại cho đời những lời minh triết trong bản Di chúc cũng là 50 năm bao thế hệ người Việt nối tiếp nhau đón nhận và lan tỏa những yêu thương vô vàn Người để lại cho đời. Không chỉ bản Di chúc là Bảo vật quốc gia quý giá, nhiều kỷ vật người để lại đã và vẫn tiếp tục kể với sông núi, cháu con về trái tim bao la mà rất đỗi giản dị của Bác Hồ.

    Bảo tàng Hồ Chí Minh hiện đang lưu giữ hàng vạn tư liệu, hiện vật kể về cuộc đời sáng rỡ kì lạ – cuộc đời người con ưu tú bậc nhất của dân tộc – Chủ tịch Hồ Chí Minh. Cụ thể, kho cơ sở của bảo tàng có 13 vạn tài liệu, hiện vật; kho tư liệu có hơn 12 ngàn tài liệu, trong đó có nhiều tư liệu quý; thư viện hiện có hơn 6.700 đầu sách với khoảng 25.000 nghìn bản cùng các đầu tạp chí, báo…

    Trong đó khối tư liệu – hiện vật đồ sộ đó, Di chúc của Người là một trong những hiện vật quý giá nhất.

    Bảo tàng Hồ Chí Minh có riêng một khu trưng bày với tên gọi Bác Hồ viết Di chúc. Tại đây không chỉ trưng bày các bản Di chúc qua các năm của Chủ tịch Hồ Chí Minh mà còn tái hiện hình ảnh Bác ngồi viết Di chúc trong căn nhà sàn của Người.

    Tuy bản trưng bày tại Bảo tàng không phải là bản gốc Di chúc, nhưng đây là bản sao lưu trực tiếp từ bản gốc hiện đang lưu trữ tại Cục lưu trữ của Văn phòng Trung ương Đảng nên sự chân thực và sống động vẫn khiến người xem xúc động nghẹn ngào trước bút tích của Người và những lời minh triết đầy ân cần, yêu thương.

    Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh là văn bản gốc do Người viết từ ngày 10-5-1965 đến ngày 19-5-1969. Suốt 50 năm qua, bản Di chúc được coi là di sản văn hóa vô cùng quý báu của Đảng, của dân tộc ta và được bảo quản đặc biệt. Bản Di chúc được công nhận là Bảo vật quốc gia vào năm 2012 theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ.

    Bản gốc hiện đang được lưu giữ tại Kho Lưu trữ Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, được Cục Lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng bảo quản theo chế độ đặc biệt, lý do vì Bảo vật quốc gia này Bác viết trên giấy với chất liệu không được tốt, trải qua 50 năm nay đã ố vàng, một số chỗ nét chữ đã hơi nhòe.

    Cho đến nay, rất ít người thật sự được tiếp cận với bản gốc của Di chúc bởi rất hiếm khi những bảo vật này được trưng bày rộng rãi cho công chúng thưởng lãm.

    Ông Đinh Hữu Long – phó cục trưởng Cục Lưu trữ, Văn phòng Trung ương Đảng kể, sau khi Bác qua đời năm 1969, tại hội nghị của Bộ Chính trị, ông Vũ Kỳ có đưa bản gốc Di chúc của Bác và Bộ Chính trị đã quyết định giao bản Di chúc cho ông Trần Quốc Hoàn lúc đó là Bộ trưởng Bộ Công an giữ. Ông Trần Quốc Hoàn đã giữ bản Di chúc suốt 18 năm từ năm 1969 đến năm 1987.

    Từ năm 1987, Ban Bí thư quyết định giao bản Di chúc cho Cục Lưu trữ của Văn phòng Trung ương Đảng lưu giữ cho tới nay.

    Từ đó, Cục Lưu trữ của Văn phòng Trung ương Đảng chỉ phục vụ nhu cầu tiếp cận với bản gốc bản Di chúc trong một số trường hợp đặc biệt như phục vụ nghiên cứu của Văn phòng Tổng Bí thư; phục vụ nghiên cứu tại phòng đọc của cán bộ nghiên cứu thuộc Khu Di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch; một số tỉnh ủy; một vài lần phục vụ việc ghi hình của các đài truyền hình, hãng phim trong nước…

    Từ năm 2022, được sự đồng ý của lãnh đạo Văn phòng Trung ương Đảng, bản Di chúc đã được sao thành 3 bản in mầu. Ba bản in mầu này hiện đang được lưu giữ cùng với bản gốc của Di chúc.

    Ông Đinh Hữu Long cho biết, Cục Lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng từng một đôi lần đề xuất với Ban Bí thư, với Bộ Chính trị đưa bản gốc Di chúc của Bác ra trưng bày tại Bảo tàng Hồ Chí Minh để công chúng được tiếp cận.

    Nhưng Bộ Chính trị vẫn cho rằng trong điều kiện nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng ở Bảo tàng Hồ Chí Minh thì việc đảm bảo cho bản Di chúc được trường tồn sẽ khó khăn. Vì vậy, tới thời điểm này, bản gốc Di chúc của Bác vẫn chưa được trưng bày cho toàn dân xem, mặc dù đã có rất nhiều cuốn sách và hàng ngàn bài nghiên cứu, bài báo viết về bản Di chúc vô giá này.

    Nhận xét về Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã viết : “Bản Di chúc tuy ngắn gọn song nó chứa đựng biết bao giá trị tư tưởng và tình cảm, là sự kết tinh một đời hoạt động cách mạng của Hồ Chí Minh, đem lại sự đổi đời của dân tộc Việt Nam ta, đồng thời để lại những di sản bất hủ đối với những thế hệ mai sau…” (đăng trên báo Nhân dân ngày 17-5-2006).

    Tại Bảo tàng Hồ Chí Minh có một bộ ảnh tư liệu quý giá với 601 ảnh chụp 12 cái Tết Bác Hồ đi thăm và chúc Tết quân, dân Hà Nội.

    Trong thời gian sống và làm việc tại Hà Nội từ 1954 đến 1969, dù bận trăm công nghìn việc nhưng những ngày Tết Nguyên đán của dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn dành thời gian để đến từng ngôi nhà, ngõ xóm và những khu phố ở Hà Nội thăm và chúc Tết những người dân lao động, các cán bộ, chiến sĩ Thủ đô.

    Những hình ảnh về hoạt động của Người đã được các nghệ sĩ nhiếp ảnh Phủ Chủ tịch ghi lại và nay nằm trong bộ sưu tập quý của Bảo tàng Hồ Chí Minh.

    Trong quãng thời gian sống ở Hà Nội từ 1954 đến 1969 với 14 cái Tết, nhưng Bác Hồ chỉ đón 12 cái Tết ở Hà Nội bởi Tết đầu tiên sau khi trở lại Thủ đô năm 1955, Chủ tịch Hồ Chí Minh dành trọn thời gian lên thăm Thái Nguyên, và Tết Nguyên đán Mậu Thân 1968, Người sang Trung Quốc chữa bệnh.

    Trong bộ sưu tập ảnh chúc Tết của Bác tại Bảo tàng Hồ Chí Minh thì bộ 12 bức ảnh ghi lại những khoảnh khắc cuối cùng của Người vui đón xuân cùng đồng bào và chiến sĩ Thủ đô rất cảm động. Tết Nguyên đán 1969 là cái Tết cuối cùng trước khi Người đi xa mãi mãi. Mặc dù sức khỏe của Người không được tốt, nhưng Người vẫn đi thăm – chúc Tết đồng bào và chiến sĩ.

    Ngày 16-2-1969 (tức sáng mùng 1 Tết): 6h30 sáng, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng các ông Nguyễn Lương Bằng, Văn Tiến Dũng đến thăm và chúc Tết cán bộ, chiến sĩ Quân chủng Phòng không, Không quân tại sân bay Bạch Mai, Hà Nội.

    11h: Người đến thăm và chúc Tết nhân dân xã Vật Lại, huyện Ba Vì, Hà Tây (Hà Nội ngày nay). Người cùng nhân dân xã Vật Lại khai xuân trồng cây trên đồi của xã. Buổi trưa, dưới bóng cây bạch đàn trên đồi Vật Lại, Người thân mật nói chuyện và chúc Tết nhân dân địa phương.

    Cây đa ở Vật Lại là cây cuối cùng do Bác trồng đã trở thành kỷ vật thiêng liêng, niềm vinh dự, tự hào của Đảng bộ, nhân dân Vật Lại nói riêng và nhân dân cả nước nói chung.

    Năm 1990, Bảo tàng Hồ Chí Minh đã tiếp nhận một quý vật. Đó là chiếc huy hiệu mà Chủ tịch Hồ Chí Minh tặng cho người đạp xích lô Nguyễn Văn Thảo vào năm 1958. Ông Thảo sau 32 năm giữ gìn chiếc huy hiệu như báu vật, đúng ngày sinh nhật Bác năm 1990, ông đã tặng lại kỷ vật cho Bảo tàng Hồ Chí Minh để nhiều người được chiêm ngưỡng, biết đến.

    Chuyện về chiếc huy hiệu là một câu chuyện cảm động về tấm lòng của Bác luôn quan tâm, động viên nhân dân làm những việc tốt dù nhỏ nhoi.

    Ông Nguyễn Văn Thảo làm nghề chở xích lô. Năm 1958, trong một lần chở khách, ông nhặt được một bọc lớn của khách để quên trên xe mình. Ông đã tìm vị khách đó để trả lại nhưng không thấy nên đã mang vào đồn công an nhờ trả lại cho người mất.

    Xúc động trước việc tốt của ông Thảo, Bác Hồ đã tặng Huy hiệu Bác Hồ cho người đạp xích lô thật thà.

    Trong bộ sưu tập quý của Bảo tàng Hồ Chí Minh có một bộ quần áo bằng vải đũi rất đặc biệt, hầu như vẫn còn như mới dù nó đã được gìn giữ hơn 60 năm…

    Đó là bộ quần áo mà Bác Hồ đã tặng cho ông Trịnh Như Lương và sau 60 năm giữ gìn như báu vật, con gái ông Lương đã tặng lại cho Bảo tàng Hồ Chí Minh năm 2010.

    Ông Trịnh Như Lương (1916-1980) quê ở Hà Nội, lúc nhỏ theo học tại trường Anbe Saro, tham gia cách mạng từ trước năm 1945. Kháng chiến nổ ra, ông Lương được giao phụ trách liên trại tù binh, hàng binh Pháp kiều. Trong hoàn cảnh chiến tranh, dù thiếu thốn đủ bề nhưng ông luôn phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.

    Ghi nhận cố gắng của ông, Bác Hồ đã tặng ông bộ quần áo bằng vải đũi, được dệt từ sợi tơ tằm và một lá thư do tự tay Người đánh máy trên loại giấy in sẵn mẫu Chủ tịch Chính phủ Việt Nam, dưới có chữ ký màu mực xanh đen.

    Người viết: “Gửi chú Lương, phụ trách Trại tù binh. Từ ngày kháng chiến, chú và anh em ở đó phụ trách một việc khó nhọc. Cũng như toàn thể và quân đội đang chịu khó nhọc. Nhân Năm Mới, tôi gửi lời hỏi thăm tới chú và những anh em làm việc với chú.

    Các chú cố gắng làm tròn nhiệm vụ, giữ đúng Cần, Kiệm, Liêm, Chính. Chính phủ sẽ ghi nhớ công trạng, những nhân viên tận tụy và trung thành. Sẵn đây, đồng bào có gởi tặng tôi một bộ áo, tôi gởi biếu chú. Chào thân ái và quyết thắng – 1949″.

    Bộ quần áo được gia đình ông Trịnh Như Lương giữ gìn cẩn thận như giữ một kỷ vật thiêng liêng mà chưa một lần mặc.

    Bảo tàng Hồ Chí Minh cũng đang gìn giữ một hiện vật mà câu chuyện về nó thật cảm động.

    Ông Phan Duy Vẽ sinh năm 1913 quê ở Hưng Yên. Năm 1945, là Đoàn viên Đoàn Thanh niên cứu quốc, ông Vẽ tham gia phong trào Việt Minh khởi nghĩa giành chính quyền tại tỉnh Hưng Yên; sau đó, ông tiếp tục đảm nhận nhiều chức vụ khác nhau và luôn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.

    Ông Phan Duy Vẽ bị cận thị nặng nên khi đi làm việc, luôn phải mang theo một chiếc ông nhòm nhỏ bên người. Năm 1960, trong một buổi đến xem thực địa tại một địa điểm bí mật, thấy ông Vẽ chỉ có chiếc ống nhòm nhỏ, thương người lính tận tụy và phải vất vả hơn với đôi mắt cận thị nặng, Bác đã tặng ông Vẽ chiếc ống nhòm để ông nhìn rõ hơn.

    Quà tặng quý đó của Bác Hồ được ông Phan Duy Vẽ nâng niu, luôn mang theo mình và cất giữ cẩn thận. Món quà không chỉ hữu ích cho ông trong công việc hàng ngày mà còn cho ông bao ấm áp bởi tấm lòng săn sóc của vị lãnh tụ tới từng việc nhỏ nhất, tới từng người dân.

    Ngày 26-8-2013, Bảo tàng Hồ Chí Minh đã tiếp nhận chiếc ống nhòm – kỷ vật quý giá của gia đình ông Phan Duy Vẽ do bà Phan Thị Thục Oanh, con gái ông, trao tặng.

    Bảo tàng Hồ Chí Minh hiện đang lưu giữ một chiếc băng tang viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh rất đặc biệt.

    Từ ngày 4-9-1969, Lễ viếng và Lễ truy điệu Chủ tịch Hồ Chí Minh được cử hành trọng thể tại Hội trường Ba Đình. Ban Tổ chức đã chuẩn bị băng tang may sẵn, chuyển đến các cơ quan, đơn vị phát cho cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân trong phạm vi cả nước để tang Bác.

    Đúng 50 năm trước, Hà Nội mưa tầm tã không ngớt nhưng không ngăn nổi dòng người như thác lũ xếp hàng vào viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trong dòng người đau buồn ngày ấy có phó giáo sư, tiến sĩ Nguyễn Trọng Phúc, nguyên Viện trưởng Viện Lịch sử Đảng, khi đó đang là học viên dự bị đại học, trường Đại học Chính trị thuộc Bộ Đại học.

    Ông Nguyễn Trọng Phúc xúc động kể, những ngày tháng 9 ấy, vừa nhận tin trúng tuyển vào trường Đại học Chính trị thuộc Bộ Đại học, trong lúc đang làm thủ tục nhập học thì được tin Bác mất, ông quyết định đạp xe về Hà Nội dự Lễ tang Bác.

    Nhận băng tang từ Ban tổ chức, loại băng tang dành cho các đảng viên, vải màu đen pha đỏ, chàng tân sinh viên lúc đó ngập trong đau buồn. Hình ảnh lần được vinh dự gặp Bác Hồ lại trào về với bao niềm xúc động.

    Chiếc băng tang dùng trong ngày viếng Bác, ông Phúc luôn trân trọng giữ gìn và bảo quản trong cuốn sổ tay ghi chép của mình từ năm 1969 đến nay.

    Ông Phúc kể, trong thời kỳ chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, ngôi nhà, nơi gia đình ông sinh sống tại khu tập thể bệnh viện Bạch Mai đã bị bom B52 tàn phá, nhưng có một điều kỳ diệu, sau khi bới tìm trong hố bom, chiếc băng tang và cuốn sổ ghi chép ngày ấy vẫn còn nguyên vẹn.

    Với mong muốn kỷ vật được lưu giữ và bảo quản lâu dài, năm 2012 ông Phúc đã tặng lại cho Bảo tàng Hồ Chí Minh.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Có Mấy Loại Di Chúc Theo Quy Định Mới?
  • Hình Thức Của Di Chúc
  • Thời Điểm Có Hiệu Lực Của Di Chúc Và Điều Kiện Lập Di Chúc Hợp Pháp
  • Di Chúc Lập Bằng Văn Bản Không Công Chứng Chứng Thực Có Giá Trị Pháp Lý Không?
  • Có Cần Thiết Phải Công Chứng Hoặc Chứng Thực Di Chúc Bằng Văn Bản Hay Không?
  • Di Chúc Của Bác Hồ Được Lưu Giữ, Bảo Quản Như Thế Nào?

    --- Bài mới hơn ---

  • Lời Dặn Đầu Tiên Của Bác Trong Di Chúc
  • Di Chúc Của Chủ Tịch Hồ Chí Minh Công Bố Ở Trong Nước Và Nước Ngoài
  • Toàn Văn Di Chúc Của Chủ Tịch Hồ Chí Minh Công Bố Năm 1969
  • 50 Năm Thực Hiện Di Chúc Bác Hồ: Lời Dặn Đầu Tiên Của Bác
  • Bác Hồ Viết ‘di Chúc’ Như Thế Nào?
  • Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh hiện đang được Cục Lưu trữ Văn phòng TƯ Đảng bảo quản theo chế độ đặc biệt.

    Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh là văn bản gốc do Bác viết từ ngày 10/5/1965 đến ngày 19/5/1969.

    Đây là một tài liệu có ý nghĩa vô cùng to lớn, là di sản văn hóa vô cùng quý báu của Đảng và dân tộc ta; đã được công nhận là bảo vật quốc gia vào năm 2012.

    Bút tích Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ảnh tư liệu

    Phó Cục trưởng Cục Lưu trữ văn phòng TƯ Đảng Đinh Hữu Long cho biết, ngày 4/3/1987, theo quyết định của Ban Bí thư, bản Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh được chuyển cho Vụ Lưu trữ của Văn phòng TƯ Đảng (nay là Cục Lưu trữ Văn phòng TƯ Đảng) tiếp nhận, lưu giữ và bảo quản.

    Hiện trạng bản Di chúc của Bác được viết trên giấy, gồm 8 tờ. Trong đó bản viết ngày 10/5/1965 có 3 tờ kích thước 21 x 27cm; bản viết tháng 5/1968 có 3 tờ kích thước 18,5 x 26cm và 1 tờ kích thước 18,5 x 24cm; bản viết ngày 10/5/1969 có 1 tờ kích thước 20 x 30,5cm.

    Miêu tả cụ thể, ông Long cho hay, 3 tờ ngày 15/5/1965 được đánh máy chữ mực xanh (đánh máy một mặt) trên giấy thường, có chữ ký của Chủ tịch Hồ Chí Minh phía cuối trang 3, bên cạnh chữ ký của Chủ tịch Hồ Chí Minh là chữ ký của người làm chứng là ông Lê Duẩn, Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành TƯ Đảng.

    4 tờ tháng 5/1968 được viết bằng mực xanh, 2 tờ viết hai mặt, 2 tờ viết một mặt. Xen kẽ dòng viết mực xanh là những dòng viết bằng mực đỏ, có chỗ gạch xóa.

    1 tờ ngày 10/5/1969 được viết bằng mực xanh ở mặt sau của tờ Tin tham khảo đặc biệt của Việt Nam Thông tấn xã) trang 15a, ra ngày 3/5/1969). Xen kẽ dòng viết mực xanh là những dòng viết bằng mực đỏ, có chỗ gạch xóa.

    Theo ông Long, bản Di chúc hiện đang được Cục Lưu trữ Văn phòng TƯ Đảng bảo quản theo chế độ đặc biệt.

    Tuy nhiên, các tờ giấy đều có chất lượng không tốt, trong tình trạng ố vàng, một số dòng chữ hơi nhòe. Để hạn chế tối đa việc phục vụ bản gốc Di chúc làm ảnh hưởng đến tình trạng vật lý của tài liệu, ngày 14/9/2015 Cục đã có công văn về việc đề nghị sao Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

    Được sự đồng ý của lãnh đạo Văn phòng TƯ Đảng, bản Di chúc đã được sao thành 3 bản in mầu. Ba bản in mầu này hiện đang được lưu giữ cùng với bản gốc của Di chúc.

    Ông Long cho hay, từ năm 1989 đến nay, Cục luôn quan tâm, chú trọng đến công tác phát huy giá trị của bản Di chúc.

    Các hình thức như: Phục vụ nghiên cứu của Văn phòng Tổng bí thư; Phục vụ nghiên cứu tại phòng đọc của cán bộ nghiên cứu thuộc Khu Di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch, một số Tỉnh ủy; Công bố bản Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 15 (1966-1969), do Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật xuất bản vào năm 2011…

    “Chúng tôi đang bảo quản và giữ gìn bảo vật quốc gia, đây là một trong số những bảo vật có thể nói là khó bảo quản nhất, nên nhiệm vụ của chúng tôi khá nặng nề”, ông Long chia sẻ.

    Theo Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh Nguyễn Xuân Thắng, hiện nay có không ít người nghĩ việc học để làm cán bộ rồi mới làm việc, làm người.

    Hương Quỳnh

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nguyên Văn Bản Di Chúc Của Chủ Tịch Hồ Chí Minh Nguyen Van Ban Di Chuc Cua Chu Tich Ho Chi Minh Doc
  • Toàn Văn Di Chúc Của Chủ Tịch Hồ Chí Minh
  • Di Chúc Của Chủ Tịch Hồ Chí Minh: Như Ngọn Đuốc Soi Đường Cho Dân Tộc
  • Mẫu Văn Bản Di Chúc Thừa Kế Tài Sản
  • Top 8 Trang Web Dịch Văn Bản Tốt Nhất Hiện Nay
  • Toàn Văn Di Chúc Của Chủ Tịch Hồ Chí Minh Công Bố Năm 1969

    --- Bài mới hơn ---

  • 50 Năm Thực Hiện Di Chúc Bác Hồ: Lời Dặn Đầu Tiên Của Bác
  • Bác Hồ Viết ‘di Chúc’ Như Thế Nào?
  • Kết Quả 45 Năm Thực Hiện Di Chúc Của Bác Hồ
  • 125 Sinh Nhật Bác: Di Chúc Hồ Chí Minh
  • Chứng Thực Văn Bản Di Chúc Để Thừa Kế Tài Sản Gắn Liền Với Đất
  • Trong Lễ tang của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đồng chí Lê Duẩn – Bí thư Thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam đọc lời điếu và công bố Di chúc của Người.

    Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh

    (công bố năm 1969)

    VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ

    Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

    Cuộc chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta dù phải kinh qua gian khổ, hy sinh nhiều hơn nữa, song nhất định thắng lợi hoàn toàn.

    Đó là một điều chắc chắn.

    Tôi có ý định đến ngày đó, tôi sẽ đi khắp hai miền Nam Bắc, để chúc mừng đồng bào, cán bộ và chiến sĩ anh hùng, thǎm hỏi các cụ phụ lão, các cháu thanh niên và nhi đồng yêu quý của chúng ta.

    Ông Đỗ Phủ là người làm thơ rất nổi tiếng ở Trung Quốc đời nhà Đường, có câu rằng “Nhân sinh thất thập cổ lai hy”, nghĩa là “Người thọ 70, xưa nay hiếm”.

    Nǎm nay, tôi vừa 79 tuổi, đã là lớp người “xưa nay hiếm” nhưng tinh thần, đầu óc vẫn rất sáng suốt, tuy sức khoẻ có kém so với vài nǎm trước đây. Khi người ta đã ngoài 70 Xuân, thì tuổi tác càng cao, sức khoẻ càng thấp. Điều đó cũng không có gì lạ.

    Nhưng ai mà đoán biết tôi còn phục vụ cách mạng, phục vụ tổ quốc, phục vụ nhân dân được bao lâu nữa?

    Vì vậy, tôi để sẵn mấy lời này, phòng khi tôi sẽ đi gặp cụ Các Mác, cụ Lê – nin và các vị cách mạng đàn anh khác, thì đồng bào cả nước, đồng chí trong Đảng và bầu bạn khắp nơi đều khỏi cảm thấy đột ngột.

    TRƯỚC HẾT NÓI VỀ ĐẢNG – Nhờ đoàn kết chặt chẽ, một lòng một dạ phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc, cho nên từ ngày thành lập đến nay, Đảng ta đã đoàn kết, tổ chức và lãnh đạo nhân dân ta hǎng hái đấu tranh tiến từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

    ĐOÀN KẾT là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng và của dân ta. Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình.

    Trong Đảng thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất để củng cố và phát triển sự đoàn kết và thống nhất của Đảng. Phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau.

    Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thực sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân.

    ĐOÀN VIÊN THANH NIÊN ta nói chung là tốt, mọi việc đều hằng hái xung phong, không ngại khó khǎn, có chí tiến thủ. Đảng cần phải chǎm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng” vừa “chuyên”.

    Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết.

    NHÂN DÂN LAO ĐỘNG ta ở miền xuôi cũng như ở miền núi, đã bao đời chịu đựng gian khổ, bị chế độ phong kiến và thực dân áp bức bóc lột, lại kinh qua nhiều nǎm chiến tranh.

    Tuy vậy, nhân dân ta rất anh hùng, dũng cảm, hǎng hái, cần cù. Từ ngày có Đảng, nhân dân ta luôn luôn đi theo Đảng, rất trung thành với Đảng.

    Đảng cần phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và vǎn hóa, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân.

    CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ có thể còn kéo dài. Đồng bào ta có thể phải hy sinh nhiều của, nhiều người. Dù sao, chúng ta phải quyết tâm đánh giặc Mỹ đến thắng lợi hoàn toàn.

    Còn non, còn nước, còn người, thắng giặc Mỹ, ta sẽ xây dựng hơn mười ngày nay!

    Dù khó khǎn gian khổ đến mấy, nhân dân ta nhất định sẽ hoàn toàn thắng lợi. Đế quốc Mỹ nhất định phải cút khỏi nước ta. Tổ quốc ta nhất định sẽ thống nhất. Đồng bào Nam Bắc nhất định sẽ sum họp một nhà. Nước ta sẽ có vinh dự lớn là một nước nhỏ mà đã anh dũng đánh thắng hai đế quốc to – là Pháp và Mỹ; và đã góp phần xứng đáng vào phong trào giải phóng dân tộc.

    VỀ PHONG TRÀO CỘNG SẢN THẾ GIỚI – là một người suốt đời phục vụ cách mạng, tôi càng tự hào với sự lớn mạnh của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế bao nhiêu, thì tôi càng đau lòng bấy nhiêu vì sự bất hoà hiện nay giữa các đảng anh em!

    Tôi mong rằng Đảng ta sẽ ra sức hoạt động, góp phần đắc lực vào việc khôi phục lại khối đoàn kết giữa các đảng anh em trên nền tảng chủ nghĩa Mác – Lênin và chủ nghĩa quốc tế vô sản, có lý, có tình.

    Tôi tin chắc rằng các đảng anh em và các nước anh em nhất định sẽ phải đoàn kết lại.

    VỀ VIỆC RIÊNG – Suốt đời tôi hết lòng hết sức phục vụ Tổ quốc, phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân. Nay dù phải từ biệt thế giới này, tôi không có điều gì phải hối hận, chỉ tiếc là tiếc rằng không được phục vụ lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa.

    Sau khi tôi đã qua đời, chớ nên tổ chức điếu phúng linh đình, để khỏi lãng phí thì giờ và tiền bạc của nhân dân.

    Cuối cùng, tôi để lại muôn vàn tình thân yêu cho toàn dân, toàn Đảng, cho toàn thể bộ đội, cho các cháu thanh niên và nhi đồng.

    Tôi cũng gửi lời chào thân ái đến các đồng chí, các bầu bạn và các cháu thanh niên, nhi đồng quốc tế.

    Điều mong muốn cuối cùng của tôi là: Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Di Chúc Của Chủ Tịch Hồ Chí Minh Công Bố Ở Trong Nước Và Nước Ngoài
  • Lời Dặn Đầu Tiên Của Bác Trong Di Chúc
  • Di Chúc Của Bác Hồ Được Lưu Giữ, Bảo Quản Như Thế Nào?
  • Nguyên Văn Bản Di Chúc Của Chủ Tịch Hồ Chí Minh Nguyen Van Ban Di Chuc Cua Chu Tich Ho Chi Minh Doc
  • Toàn Văn Di Chúc Của Chủ Tịch Hồ Chí Minh
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100