Văn Bản Báo Cáo Về Bắc Kỳ Trung Kỳ Và Nam Kỳ / Top 6 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 2/2023 # Top View | Bac.edu.vn

Báo Cáo Về Bắc Kỳ, Trung Kỳ Và Nam Kỳ

Mátxcơva, 1924

Cuộc đấu tranh giai cấp không diễn ra giống như ở phương Tây.

Về phía người lao động, đó là sự không giác ngộ, sự nhẫn nhục và vô tổ chức. Về phía bọn chủ, không có máy móc, ruộng đồng thuộc sở hữu của những địa chủ hạng trung và hạng nhỏ và những kẻ mà ở đó được coi là đại địa chủ thì chỉ là những tên lùn tịt bên cạnh những người trùng tên với họ ở châu Âu và châu Mỹ; không có tỷ phú người An Nam. Những tên trọc phú ở đó thì ở đây chỉ là những kẻ thực lợi khá giả thôi.

Cho nên, nếu nông dân gần như chẳng có gì thì địa chủ cũng không có vốn liếng gì lớn; nếu nông dân chỉ sống bằng cái tối thiểu cần thiết thì đời sống của địa chủ cũng chẳng có gì là xa hoa; nếu thợ thuyền không biết mình bị bóc lột bao nhiêu thì chủ lại không hề biết công cụ để bóc lột của họ là máy móc; người thì chẳng có công đoàn, kẻ thì chẳng có tơrớt. Người thì nhẫn nhục chịu số phận của mình, kẻ thì vừa phải trong sự tham lam của mình. Sự xung đột về quyền lợi của họ được giảm thiểu. Điều đó, không thể chối cãi được.

Nhưng người ta sẽ bảo: thế là chúng ta ở thời Trung cổ à? ồ! Sẽ là quá đáng nếu so sánh người “nhà quê”[2] với người nông nô. An Nam chưa bao giờ có tăng lữ và thuế mười phần trăm. Hoàng đế trị

vì nhưng chẳng lo cai trị gì. Tất nhiên là đã có quan lại rồi. Nhưng có thể so sánh họ với chúa phong kiến không? Không. Trước hết quan lại được tuyển lựa theo con đường dân chủ: con đường thi cử, mở rộng cho mọi người và mọi người có thể chuẩn bị thi mà chẳng tốn kém gì. Hơn nữa, quyền lực của quan lại được cân bằng bằng tính tự trị của xã thôn.

Xã hội ấn Độ – China[3] – và tôi có thể nói: ấn Độ hay Trung Quốc về mặt cấu trúc kinh tế, không giống các xã hội phương Tây thời Trung cổ, cũng như thời cận đại, và đấu tranh giai cấp ở đó không quyết liệt như ở đây.

Mai đây, khi chủ nghĩa tư bản phương Tây làm đổi thay phương Đông thì đấu tranh giai cấp có trở nên quyết liệt không ? Đại thể là có, nếu xét gương của Nhật Bản.

Thật ra là có, vì sự tây phương hoá ngày càng tăng và tất yếu của phương Đông; – nói cách khác, chủ nghĩa Mác sẽ còn đúng cả ở đó. Dù sao thì cũng không thể cấm bổ sung “cơ sở lịch sử” của chủ nghĩa Mác bằng cách đưa thêm vào đó những tư liệu mà Mác ở thời mình không thể có được.

Mác đã xây dựng học thuyết của mình trên một triết lý nhất định của lịch sử, nhưng lịch sử nào? Lịch sử châu Âu. Mà châu Âu là gì? Đó chưa phải là toàn thể nhân loại.

Mác cho ta biết rằng sự tiến triển các xã hội trải qua ba giai đoạn: chế độ nô lệ, chế độ nông nô, chế độ tư bản; và trong mỗi giai đoạn ấy, đấu tranh giai cấp có khác nhau. Chúng ta phải coi chừng! Các dân tộc Viễn Đông có trải qua hai giai đoạn đầu không? Từ nhiều thế kỷ nay, họ chẳng hưởng được thái bình hay sao để đến mức làm cho người châu Âu khinh rẻ họ (lười nhác, mê muội hàng nghìn năm, v.v.)?

Xem xét lại chủ nghĩa Mác về cơ sở lịch sử của nó, củng cố nó bằng dân tộc học phương Đông. Đó chính là nhiệm vụ mà các Xôviết đảm nhiệm (ban thuộc địa của chúng tôi vừa nhận được thư mời chúng tôi tham gia công tác này). Và các Xôviết sẽ thành công; vì rằng, đứng lên trên các thành kiến chủng tộc, họ sẽ làm cho thế giới được miễn nghe các lời tầm phào của những Guýtxtavơ Lơbốp và những Hăngri Coócđiê.

(…)

Chủ nghĩa dân tộc là động lực lớn của đất nước. Chính nó đã gây nên cuộc nổi dậy chống thuế năm 1908, nó dạy cho những người culi biết phản đối, nó làm cho những người “nhà quê” phản đối ngầm trước thuế tạp dịch và thuế muối. Cũng chủ nghĩa dân tộc đã luôn luôn thúc đẩy các nhà buôn An Nam cạnh tranh với người Pháp và người Trung Quốc; nó đã thúc giục thanh niên bãi khoá, làm cho những nhà cách mạng trốn sang Nhật Bản và làm vua Duy Tân mưu tính khởi nghĩa năm 1917[4].

Chiến tranh đã làm thay đổi chủ nghĩa dân tộc:

1. Chủ nghĩa dân tộc đã hiện đại hoá khi chuyển từ giới thượng lưu này sang giới thượng lưu khác. Chính thanh niên An Nam ngày nay đang chỉ đạo nó.

2. Chủ nghĩa dân tộc ăn sâu vào quần chúng nhờ sự phát triển của các phần tử thành thị và nhất là nhờ sự tuyển mộ và trở về của “lính tình nguyện”.

3. Trong chủ nghĩa dân tộc có cả lòng căm ghét bọn xâm lược Trung Quốc và người ấn Độ sinh cơ lập nghiệp ở trên đất nước này.

4. Nó có xu hướng hợp pháp hoá các hình thức biểu hiện và yêu sách của nó. Một mặt, chính quyền nhượng bộ. Mặt khác, lớp thanh niên từ bỏ phương pháp tiến hành những cuộc nổi dậy bột phát của lớp người đi trước, và ngày nay, người ta thiên về chiến thuật của những nhà cách mạng châu Âu: tuyên truyền, tổ chức và khởi nghĩa quần chúng. Trong khi lớp người già muốn độc lập ngay thì lớp trẻ yêu sách những thiết chế chuẩn bị cho độc lập (tờ La Tribune indigène[5]: cơ quan của phái lập hiến).

(…)

Cương lĩnh của chúng tôi.

Phương hướng chung.

Phát động chủ nghĩa dân tộc bản xứ nhân danh Quốc tế Cộng sản. Khẩu hiệu này, do Mátxcơva tung ra, đánh vào các nhà tư sản như một nghịch lý táo bạo, nhưng thật ra điều đó có nghĩa gì? Một chính sách mang tính hiện thực tuyệt vời. Giờ đây, người ta sẽ không thể làm gì được cho người An Nam nếu không dựa trên các động lực vĩ đại, và duy nhất của đời sống xã hội của họ. Khi chủ nghĩa dân tộc của họ thắng lợi, thì đã lâu lắm rồi, phần lớn thế giới sẽ xôviết hoá và lúc đó, nhất định chủ nghĩa dân tộc ấy sẽ biến thành chủ nghĩa quốc tế. Trong khi chờ đợi, chủ nghĩa dân tộc sẽ quấy rối chủ nghĩa đế quốc Pháp và bằng việc làm này, Quốc tế Cộng sản sẽ được lợi trực tiếp.

a/ ở Đông Dương.

Hành động hợp pháp phụ thuộc vào việc nước Pháp thừa nhận các Xôviết. Điều đầu tiên phải làm là sẽ thiết lập các lãnh sự quán Nga ở Sài Gòn, Hải Phòng, Hà Nội, Đà Nẵng. Những lãnh sự quán này tự nhiên sẽ là những trung tâm tuyên truyền chủ nghĩa bônsêvích và lựa chọn các chiến sĩ bản xứ để gửi sang Nga. Hoạt động bất hợp pháp sẽ là trợ cấp cho một tờ báo, rải truyền đơn và nhất là các bài đả kích bằng tiếng bản xứ và chữ Hán, là tổ chức những hội kín. Nhân viên tuyên truyền gồm có: người bản xứ, người Pháp và người Nga, nếu có thể được thì, biết tiếng nước này, và làm một nghề khiến họ tiếp xúc được với dân bản xứ (nữ hộ sinh, nữ giáo viên, thầy thuốc ở nông thôn, dân đồn điền. Một luật sư cho người bản xứ sẽ được mọi người biết tiếng ngay). Thành lập ra ở Chợ Lớn một phân bộ cộng sản Trung Quốc.

b/ ở Nhật Bản, ở Trung Quốc và ở Xiêm.

Tiếp xúc với những nhóm người di tản. Thành lập một lãnh sự quán ở Vân Nam phủ, thành phố rất quan trọng nằm ở biên giới Bắc Kỳ, trung tâm tuyên truyền đặt ở vị trí đó rất tuyệt. Tranh thủ làm cho các Xôviết được công nhận ở Xiêm nơi mà Anh, Pháp và Mỹ luôn luôn có mưu đồ. Mỹ có 4 cố vấn trực thuộc Bộ Ngoại giao, Anh và Pháp có hai cố vấn trực thuộc Bộ Tư pháp. Tại sao nước Nga lại không có? Hơn nữa, một lãnh sự quán ở Băng Cốc sẽ tìm thấy các ngả đường đi ấn Độ thuộc Anh, Giava thuộc Hà Lan và Đông Dương thuộc Pháp.

c/ ở Pháp.

Nhóm cộng sản ở Nghị viện sẽ có hai nhiệm vụ quan trọng:

1) Thừa nhận các Xôviết; 2) Xoá chế độ bản xứ. Trong nhiệm kỳ, sẽ yêu cầu bỏ thuốc phiện ở Đông Dương; nó sẽ tố giác các vụ bê bối như vụ bê bối của độc quyền ở Sài Gòn. Từ Pháp đến Đông Dương quá xa cách vì vậy sẽ không có vấn đề Nghị viện đi xem xét như có thể làm đối với Angiêri và Tuynidi.

Ban thuộc địa sẽ lo trước hết việc tổ chức công đoàn. Hội liên hiệp thuộc địa sẽ làm đúng với danh hiệu của mình. Tờ Le Paria sẽ ra mỗi tuần 2 lần.

Hoạt động thuộc địa của Đảng Cộng sản Pháp hẳn là còn yếu kém nhưng chút ít nó làm được thì chẳng có đảng nào làm được, còn nếu nó chưa quan tâm đến người bản xứ, đó là vì người bản xứ chưa đến với nó được mấy. Nhiệm vụ số một của nó là đào tạo những chiến sĩ bản xứ. Đào tạo không chỉ những nhà tuyên truyền mà cả những nhà cách mạng theo kiểu châu Âu.

d/ ở Nga.

Muốn thế, đưa đến Mátxcơva hay đến các trung tâm khác, các sinh viên An Nam (còn sớm để có thể coi thường người trí thức). Cũng đưa cả những người lao động chân tay vì phải đào tạo những quân nhân, thuỷ thủ cho hồng quân bản xứ và các chi bộ xí nghiệp bản xứ, đủ sức thay thế các kỹ thuật viên của chủ nghĩa tư bản.

(…)

Kết luận: Khả năng khởi nghĩa vũ trang ở Đông Dương. Để có cơ thắng lợi, một cuộc khởi nghĩa vũ trang ở Đông Dương:

1. Phải có tính chất một cuộc khởi nghĩa quần chúng chứ không phải một cuộc nổi loạn. Cuộc khởi nghĩa phải được chuẩn bị trong quần chúng, nổ ra trong thành phố, theo kiểu các cuộc cách mạng ở châu Âu, chứ không phải nổ ra đột ngột ở biên giới Trung Quốc, theo phương pháp của những nhà cách mạng trước đây.

3. Cuộc khởi nghĩa phải trùng hợp với cách mạng vô sản ở Pháp.

4. Sự nghiệp của người bản xứ gắn mật thiết với sự nghiệp của vô sản toàn thế giới; mỗi khi chủ nghĩa cộng sản giành được chút ít thắng lợi trong một nước nào đó, nhất là trong một quốc gia đế quốc chủ nghĩa (nước Đức chẳng hạn) thì đó càng là thắng lợi cả cho người An Nam.

Nguồn: Hồ Chí Minh. Toàn tập – tập 1. Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000. Phiên bản điện tử: http://dangcongsan.vn/cpv/index.html

[3] La société Indo – Chinoise.

Tác Phẩm “Báo Cáo Về Bắc Kỳ, Trung Kỳ Và Nam Kỳ” Của Nguyễn Ái Quốc (Hồ Chí Minh)

Tháng 7-1920, lần đầu tiên Nguyễn Ái Quốc được tiếp cận với Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của Lênin và tìm thấy trong đó “cái cần thiết cho chúng ta, con đường giải phóng chúng ta”. Tại Đại hội Tua (12-1920) của Đảng Xã hội Pháp, Nguyễn Ái Quốc bỏ phiếu tán thành gia nhập Quốc tế III và từ người yêu nước trở thành người cộng sản. Từ đây, trong những hoạt động thực tiễn và lý luận sôi nổi và phong phú của mình, Nguyễn Ái Quốc đã tham gia Ban Nghiên cứu thuộc địa của Đảng Cộng sản Pháp, nghiên cứu và tuyên truyền chủ nghĩa Mác – Lênin về Việt Nam và các nước thuộc địa. Nhận thức của Người về con đường cứu nước và giải phóng dân tộc ta theo con đường cách mạng vô sản từng bước hình thành.

Tháng 6-1923, Nguyễn Ái Quốc rời nước Pháp sang Mátxcơva (Liên Xô) để tham gia những sinh hoạt chính trị quốc tế quan trọng ở đây. Tại Mátxcơva, trung tâm của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, Người được theo học một khoá ngắn hạn của Trường Đại học Phương Đông, tham dự Đại hội lần thứ V Quốc tế Cộng sản và nhiều đại hội các đoàn thể quần chúng khác như Quốc tế Nông dân, Quốc tế Thanh niên, Quốc tế Cứu tế đỏ và Quốc tế Công hội đỏ, v.v.. Tại các diễn đàn này, Nguyễn Ái Quốc đã tham gia các cuộc tranh luận về các vấn đề chiến lược và sách lược của cách mạng vô sản ở chính quốc và cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa. Người nhận thức thêm được nhiều vấn đề lý luận quan trọng, nhưng cũng nhận thấy Quốc tế Cộng sản hiểu biết rất hạn chế về tình hình thuộc địa. Do vậy, trước khi rời Mátxcơva về phương Đông cuối năm 1924, Nguyễn Ái Quốc đã hoàn thành Báo cáo về Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ gửi Ban Chấp hành Quốc tế Cộng sản để trình bày nhiều vấn đề về thuộc địa ở Việt Nam.

số những tác phẩm lần đầu được bổ sung vào bộ Báo cáo về Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ là một trong Hồ Chí Minh toàn tập, tập 1 của Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, năm 2000, trong đó nêu một số đoạn quan trọng thể hiện tư tưởng, quan điểm và tinh thần sáng tạo của Nguyễn Ái Quốc. Năm 2007, Bảo tàng Hồ Chí Minh, trên cơ sở những tài liệu ở các kho lưu trữ của Liên bang Nga, mới sưu tầm được đầy đủ tác phẩm này.

2. Nội dung chủ yếu của tác phẩm

Toàn văn tác phẩm được trình bày ngắn gọn, rõ ràng với bốn phần. Phần 1, tình hình người bóc lột, nêu khái quát chính sách bóc lột của người Pháp ở thuộc địa. Phần 2, tình hình người bị bóc lột, chia làm bốn mục về các giai cấp trong xã hội; cuộc đấu tranh giai cấp; cuộc xung đột giữa hai thế hệ nhà Nho cũ và thanh niên An Nam đã Âu hoá, hai nền văn minh châu Âu (nhất là Pháp) và châu Á (nhất là Trung Hoa); chủ nghĩa dân tộc, v.v.. Phần 3, cương lĩnh của chúng tôi. Phần 4, tương lai, bao gồm ba mục người bị bóc lột có thắng nổi người bóc lột không; Đông Dương có đi theo chủ nghĩa Bônsêvích được không; thực dân Pháp làm gì để ngăn cản tuyên truyền Bônsêvích. Cuối cùng là kết luận, nêu khả năng và điều kiện của khởi nghĩa vũ trang ở Đông Dương. Tác phẩm phân tích nhiều vấn đề chính trị ở một nước thuộc địa như Việt Nam, trong đó nhấn mạnh một số luận điểm quan trọng sau đây:

a) Về giai cấp và đấu tranh giai cấp ở Việt Nam

Về mặt giai cấp, trên quan điểm lịch sử – cụ thể, Nguyễn Ái Quốc cho rằng, ở Đông Dương cũng như ở Trung Quốc và Ấn Độ v.v. tuy có sự phân hoá giai cấp, nhưng không sâu sắc và triệt để như ở phương Tây. Sự đối lập về tài sản, phương tiện sinh hoạt và mức sống giữa địa chủ và nông dân, giữa tư sản và công nhân không lớn, do đó sự xung đột về quyền lợi của họ không những không quyết liệt mà còn được giảm thiểu. Về mặt xã hội, Nguyễn Ái Quốc nêu vấn đề có lẽ các dân tộc Viễn Đông, trong đó có Việt Nam, trong lịch sử không trải qua chế độ nô lệ và chế độ phong kiến nông nô như sự phân tích của C.Mác về sự phát triển các xã hội.

Chế độ phong kiến ở Việt Nam không có chế độ lãnh địa và quan hệ lãnh chúa – nông nô, không có cát cứ lâu dài và tầng lớp tăng lữ, chứa đựng nhiều yếu tố dân chủ và tính tự trị của làng xã. Ngay từ buổi đầu dựng nước, dân tộc Việt Nam đã phải chống ngoại xâm, phải huy động sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc để giành thắng lợi, nên có tính cố kết cộng đồng bền vững. “Cuộc đấu tranh giai cấp không diễn ra giống như ở phương Tây”. Do vậy, cũng không thể áp dụng rập khuôn lý luận đấu tranh giai cấp của chủ nghĩa Mác.

b) Về dân tộc và chủ nghĩa dân tộc ở Việt Nam

Chủ nghĩa dân tộc mà Nguyễn Ái Quốc đề cập trong tác phẩm là chủ nghĩa yêu nước và tinh thần dân tộc của các dân tộc thuộc địa đang đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc xâm lược, giành độc lập và là một bộ phận của cách mạng vô sản. Nguyễn Ái Quốc, dựa trên quan điểm mácxít, thừa nhận đấu tranh giai cấp trong xã hội có giai cấp là một động lực to lớn của lịch sử, nhưng không phải là động lực duy nhất. Là người dân thuộc địa, đang đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc, giành độc lập dân tộc, Nguyễn Ái Quốc đã sớm nhận thức đúng đắn sức mạnh của chủ nghĩa dân tộc. Người xem chủ nghĩa dân tộc là một động lực vĩ đại, thậm chí là duy nhất của các dân tộc thuộc địa, nhấn mạnh vấn đề giai cấp và đấu tranh giai cấp mà coi nhẹ hoặc bỏ qua vấn đề dân tộc ở thuộc địa là không đúng.

Các nước thuộc địa, nhất là ở Á – Phi, đều là những nước nông nghiệp nghèo nàn và lạc hậu, bị chủ nghĩa thực dân, đế quốc kìm hãm và bóc lột tàn bạo. Trong cuộc đấu tranh giải phóng, họ không có vũ khí nào khác là chủ nghĩa yêu nước và tinh thần dân tộc. Trong đấu tranh chống đế quốc để giành độc lập, mâu thuẫn dân tộc với đế quốc là mâu thuẫn cơ bản và chủ yếu nhất; mâu thuẫn giai cấp trong nội bộ dân tộc tuy vẫn tồn tại nhưng chưa sâu sắc và đứng sau mâu thuẫn dân tộc với đế quốc. Dù là tư sản hay địa chủ cũng đều là người dân nô lệ, mất nước, bị áp bức và ít nhiều đều có tinh thần chống đế quốc. Nguyễn Ái Quốc chứng minh điều đó bằng những cuộc đấu tranh yêu nước cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX ở Việt Nam lôi cuốn mọi tầng lớp nhân dân tham gia và tất cả đều được thúc đẩy bởi chủ nghĩa yêu nước và tinh thần dân tộc. Người khẳng định: “Chủ nghĩa dân tộc là một động lực lớn của đất nước”. “Giờ đây, người ta sẽ không thể làm được gì cho người An Nam nếu không dựa trên các động lực vĩ đại, và duy nhất trong đời sống xã hội của họ”.

Đây là một luận điểm mới mẻ và sáng tạo của Nguyễn Ái Quốc, vì Người đã sớm đề cao sức mạnh của chủ nghĩa dân tộc ở trung tâm của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, khi chủ nghĩa dân tộc còn bị phân biệt và bị xem là thuộc phạm trù của hệ tư tưởng tư sản, nhận thức của nhiều Đảng Cộng sản và công nhân về vấn đề dân tộc và chủ nghĩa dân tộc còn hạn chế.

c) Về phát triển và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác ở Việt Nam

Từ thực tiễn các nước thuộc địa phương Đông và Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc đặt vấn đề cần vận dụng sáng tạo lý luận của Mác vào thực tiễn của mỗi nước, từ đó bổ sung và phát triển chủ nghĩa Mác. Người nhận định Mác đã xây dựng học thuyết của mình trên một triết lý nhất định của lịch sử nhưng là lịch sử châu Âu, mà châu Âu chưa phải là toàn thể nhân loại. Do đó, cần “Xem xét lại chủ nghĩa Mác về cơ sở lịch sử của nó, củng cố nó bằng dân tộc học phương Đông”. Từ tình trạng các nước thuộc địa và nửa thuộc địa ở phương Đông, ở Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc nêu lên nhiều vấn đề lý luận làm cơ sở cho đường lối và phương pháp giải phóng dân tộc theo con đường của cách mạng vô sản.

3. Ý nghĩa của tác phẩm

Tác phẩm Báo cáo về Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ thể hiện sự am hiểu sâu sắc của Nguyễn Ái Quốc về lý luận và thực tiễn, cũng như khả năng vận dụng sáng tạo những nguyên lý phổ biến của chủ nghĩa Mác vào thực tiễn Việt Nam. Đứng vững trên quan điểm thực tiễn và vận dụng phép biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác, Nguyễn Ái Quốc đã trung thực và dũng cảm, độc lập và sáng tạo trong việc tìm ra chân lý. Những luận điểm trong Báo cáo về Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ là sự đúc rút từ việc nghiên cứu chủ nghĩa Mác – Lênin và thực tế ở các nước thuộc địa, nhất là các thuộc địa ở phương Đông và Việt Nam. Theo nhiều giới nghiên cứu trong và ngoài nước, đây là một trong những tác phẩm lý luận chính trị xuất sắc của Nguyễn Ái Quốc. Tác phẩm đã đặt cơ sở cho sự hình thành đường lối và phương pháp của cách mạng Việt Nam.

Theo cuốn Tư tưởng chính trị của C.Mác, Ph.ĂngghenV.I.Lênin và Hồ Chí Minh (PGS.TS Lê Minh Quân)

Thông Báo Kết Quả Kỳ Họp Thứ 9, Hđnd Tỉnh Quảng Nam Khóa Ix, Nhiệm Kỳ 2022

– Nghị quyết 32/NQ-HĐND ngày 05/12/2018 về bầu chức danh Ủy viên Ủy ban nhân dân tỉnh nhiệm kỳ 2016-2021

– Nghị quyết 33/NQ-HĐND ngày 05/12/2018 về bầu chức danh Ủy viên Ủy ban nhân dân tỉnh nhiệm kỳ 2016-2021.

– Nghị quyết 34/NQ-HĐND ngày 05/12/2018 về xác nhận kết quả lấy phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do HĐND tỉnh bầu.

– Nghị quyết 35/NQ-HĐND ngày 06/12/2018 về kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội năm 2019.

– Nghị quyết 36/NQ-HĐND ngày 06/12/2018 về phê chuẩn quyết toán ngân sách nhà nước năm 2017.

– Nghị quyết 37/NQ-HĐND ngày 06/12/2018 về dự toán thu chi và phương án phân bổ ngân sách địa phương năm 2019.

– Nghị quyết 38/NQ-HĐND ngày 06/12/2018 về phê duyệt chủ trương đầu tư một số dự án triển khai thực hiện năm 2018-2019 trên địa bàn tỉnh Quảng Nam.

– Nghị quyết 39/NQ-HĐND ngày 06/12/2018 về kế hoạch đầu tư công năm 2019.

– Nghị quyết 41/NQ-HĐND ngày 06/12/2018 về quyết định biên chế công chức, tổng số người làm việc trong các đơn vị sự nghiệp công lập thuộc tỉnh năm 2019.

– Nghị quyết 42/NQ-HĐND ngày 06/12/2018 về thành lập, đổi tên thôn, tổ dân phố thuộc các xã, phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh Quảng Nam.

– Nghị quyết 43/2018/NQ-HĐND ngày 06/12/2018 quy định số lượng, chức danh và mức phụ cấp hằng tháng đối với người hoạt động không chuyên trách ở thôn, tổ dân phố trên địa bàn tỉnh Quảng Nam.

– Nghị quyết 44/2018/NQ-HĐND ngày 06/12/2018 về bãi bỏ tiết 3, điểm 2 khoản 4 Điều 1 Nghị quyết số 30/2011/NQ/HĐND ngày 09/12/2011 của HĐND tỉnh và quy định mức hỗ trợ một lần đối với những người hoạt động không chuyên trách khác ở thôn, tổ dân phố trên địa bàn tỉnh Quảng Nam.

– Nghị quyết 45/2018/NQ-HĐND ngày 06/12/2018 về cơ chế, chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn tỉnh Quảng Nam.

– Nghị quyết 46/2018/NQ-HĐND ngày 06/12/2018 quy định mức chi hỗ trợ công tác quản lý, bảo vệ rừng tự nhiên trên địa bàn tỉnh Quảng Nam giai đoạn 2019-2020.

– Nghị quyết 47/2018/NQ-HĐND ngày 06/12/2018 về một số chính sách hỗ trợ phát triển du lịch miền núi tỉnh Quảng Nam đến năm 2025.

– Nghị quyết 48/NQ-HĐND ngày 06/12/2018 về phát triển kinh tế – xã hội các xã biên giới đất liền kết hợp với tăng cường và củng cố quốc phòng, an ninh, đối ngoại trên địa bàn tỉnh Quảng Nam giai đoạn 2019-2025.

– Nghị quyết 49/2018/NQ-HĐND ngày 06/12/2018 về chính sách hỗ trợ nâng cao mức sống cho một số đối tượng thuộc hộ nghèo đang hưởng chính sách người có công và bảo trợ xã hội trên địa bàn tỉnh Quảng Nam.

– Nghị quyết 50/2018/NQ-HĐND ngày 06/12/2018 về chính sách hỗ trợ đối với trẻ em mầm non, học sinh, sinh viên là người dân tộc thiểu số, học sinh khuyết tật đang học tại các cơ sở giáo dục trên địa bàn tỉnh Quảng Nam, giai đoạn 2019-2021.

– Nghị quyết 51/2018/NQ-HĐND ngày 06/12/2018 về chính sách hỗ trợ người lao động tỉnh Quảng Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng giai đoạn 2019-2021.

– Nghị quyết 52/2018/NQ-HĐND ngày 06/12/2018 quy định mức chi công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức trên địa bàn tỉnh Quảng Nam.

– Nghị quyết 53/2018/NQ-HĐND ngày 06/12/2018 quy định nội dung và mức chi thực hiện thực hiện chế độ dinh dưỡng đối với huấn luyện viên, vận động viên thể thao thành tích cao trên địa bàn tỉnh Quảng Nam.

– Nghị quyết 54/2018/NQ-HĐND ngày 06/12/2018 quy định nội dung, mức chi, định mức phân bổ kinh phí đảm bảo trật tự an toàn giao thông trên địa bàn tỉnh Quảng Nam.

– Nghị quyết 55/2018/NQ-HĐND ngày 06/12/2018 bổ sung điểm d khoản 6 Điều 11 Nghị quyết 24/2018/NQ-HĐND ngày 19/7/2018 quy định về nội dung, định mức chi và điều kiện đảm bảo cho hoạt động của HĐND các cấp tỉnh Quảng Nam.

– Nghị quyết 56/NQ-HĐND ngày 06/12/2018 về thành lập đoàn giám sát tình hình thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia Xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2015-2018 trên địa bàn tỉnh.

– Nghị quyết 57/NQ-HĐND ngày 06/12/2018 về một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng quỹ đất nông nghiệp vào mục đích công ích trên địa bàn tỉnh.

– Nghị quyết 58/NQ-HĐND ngày 06/12/2018 về kinh phí hoạt động của HĐND tỉnh năm 2019.

– Nghị quyết 59/NQ-HĐND ngày 06/12/2018 về kế hoạch tổ chức các kỳ họp trong năm 2019 của HĐND tỉnh khóa IX.

– Nghị quyết 60/NQ-HĐND ngày 06/12/2018 quy định mức hỗ trợ người hoạt động không chuyên trách thôn, tổ dân phố thôi đảm nhận chức danh sau khi sắp xếp, tổ chức lại thôn, tổ dân phố trên địa bàn tỉnh Quảng Nam.

Bộ Luật Dân Sự Nam Kỳ Là Gì ? Tìm Hiểu Về Bộ Luật Dân Sự Nam Kỳ ?

Bộ luật dân sự nam kỳ là bộ dân luật giản yếu được ban hành ngày 26.3.1884 áp dụng cho xứ Nam Kỳ.

Đây là bộ luật dân sự đầu tiên ở nước ta được xây dựng theo tinh thần của nền pháp chế phương Tây mà vai trò ảnh hưởng trực tiếp là các tư tưởng pháp lí được thể hiện trong Bộ dân luật của Pháp ban hành năm 1804.

Bộ luật này được xây dựng trong bối cảnh Nam Kỳ Việt Nam lúc đó đã trở thành thuộc địa của Pháp và quyền lập pháp trên toàn cõi Nam Kỳ đều thuộc về người Pháp. Để thuận tiện cho việc áp dụng tinh thần Bộ dân luật Pháp tại Việt Nam, người ta đã nghĩ đến việc soạn thảo một bộ dân luật riêng áp dụng tại Nam Kỳ nhưng phải được xây dựng theo bố cục và tinh thần của Bộ dân luật Pháp. Trước khi Bộ luật dân sự Nam Kỳ được chính thức ban hành, ngày 3.10.1883, Chính phủ Pháp đã ban hành hai sắc lệnh nhằm áp dụng tại Nam Kỳ, trong đó Sắc lệnh thứ nhất quy định về vấn đề quốc tịch và trú quán (giống như thiên sơ bộ và thiên I, thiên IIl trong Quyển 1 Bộ dân luật Pháp); còn sắc lệnh thứ hai quy định về vấn đề hộ tịch (giống như thiên II trong Quyển 1 Bộ dân luật Pháp). Các vấn đề còn lại trong Bộ dân luật Pháp (từ Thiên thứ IV đến Thiên thứ XI) được ban hành sau đó không lâu, trong Bộ dân luật giản yếu ngày 26.3.1884 để áp dụng tại xứ Nam Kỳ. Chính vì trong Bộ dân luật này chỉ quy định từ Thiên thứ IV đến Thiên thứ XI nên được gọi là “Bộ dân luật giản yếu”.

Về nội dung, Bộ dân luật giản yếu áp dụng tại Nam Kỳ bao gồm các thiên như sau: Thiên IV nói về sự thất tung (mất tích); Thiên V nói về giá thú; Thiên VI quy định về việc li hôn; Thiên VII quy định về chế độ phụ hệ và con chính thức; Thiên VIII quy định về vấn đề con nuôi; Thiên IX quy định về vấn đề thân quyền; Thiên X quy định về vấn đề vị thành niên, giám hộ, thoát quyền; Thiên XI quy định về vấn đề thành niên.

So với Bộ dân luật Bắc Kỳ và Bộ dân luật Trung Kỳ thì Bộ dân luật giản yếu áp dụng tại xứ Nam Kỳ chỉ quy định những vấn đề về nhân pháp (tức nói về người), chứ không quy định các vấn đề khác vốn được xem là một trong những nội dung cốt yếu của dân luật như vấn đề tài sản; vấn để nghĩa vụ dân sự và khế ước. Thậm chí, ngay cả chế độ tài sản của vợ chồng hay vấn đề thừa kế, vốn rất gần gũi với các quy định về “người” cũng không được quy định trong Bộ luật này.