Văn Bản Bến Quê Facebook / Top 3 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 2/2023 # Top View | Bac.edu.vn

Đọc Hiểu Văn Bản “Bến Quê” Của Nguyễn Minh Châu

BẾN QUÊ (Nguyễn Minh Châu)

– Nhà văn Nguyễn Minh Châu (1930-1989) sinh tại quê gốc: làng Thôi, xã Quỳnh Hải, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An. Ông là Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam (1972).

Vào các năm 1944-1945, Nguyễn Minh Châu học Trường Kỹ nghệ Huế. Năm 1945 ông tốt nghiệp Thành Chung. Tháng 1 năm 1950 ông học chuyên khoa Trường Huỳnh Thúc Kháng (Hà Tĩnh) và sau đó gia nhập quân đội theo học Trường Sỹ quan Trần Quốc Tuấn. Từ năm 1952 đến 1956 ông công tác tại Ban tham mưu tiểu đoàn 722, 706 thuộc sư đoàn 320. Năm 1961 ông theo học Trường Văn hóa Lạng Sơn. Năm 1962 về công tác tại phòng, sau chuyển sang tạp chí Văn nghệ quân đội.

– “Hoạt động văn học của Nguyễn Minh Châu khá phong phú và có những thành công đáng trân trọng. Chỉ riêng về lĩnh vực sáng tác, nhiều tác phẩm của ông đã trở thành đề tài tìm hiểu của hàng trăm bài báo, bài nghiên cứu và những chuyên luận khoa học trong và ngoài nước. Đọc lại những trang viết của ông, đọc lại những bài viết về ông, có thể thấy rằng: về cuộc đời và sự nghiệp văn học của Nguyễn Minh Châu còn tiềm ẩn nhiều vấn đề, nhiều gợi ý có khả năng hứa hẹn cho việc tiếp tục tìm hiểu, nghiên cứu ở những bình diện và phương pháp tiếp cận mới”(1).

2. Tác phẩm:

– Tác phẩm đã xuất bản của Nguyễn Minh Châu gồm nhiều thể loại: Cửa sông (tiểu thuyết, NXB Văn học, 1967); Những vùng trời khác nhau (tập truyện ngắn, NXB Văn học, 1970); Dấu chân người lính (tiểu thuyết, NXB Thanh niên, 1972); Từ giã tuổi thơ (tiểu thuyết viết cho thiếu nhi, NXB Kim Đồng, 1974); Miền cháy (tiểu thuyết, NXB Quân đội nhân dân, 1977); Lửa từ những ngôi nhà (tiểu thuyết, NXB Văn học, 1977); Những ngày lưu lạc (tiểu thuyết viết cho thiếu nhi, NXB Kim Đồng, 1981); Những người đi từ trong rừng ra (tiểu thuyết, NXB Quân đội nhân dân, 1982); Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành (tập truyện ngắn, NXB Tác phẩm mới, 1983); Đảo đá kì lạ (viết cho thiếu nhi, NXB Kim Đồng, 1985); Mảnh đất tình yêu (tiểu thuyết, NXB Tác phẩm mới, 1987); Chiếc thuyền ngoài xa (tập truyện ngắn, NXB Tác phẩm mới, 1987); Cỏ lau (tập truyện vừa, NXB Văn học, 1989); Trang giấy trước đèn (tiểu luận phê bình, NXB Khoa học xã hội 1994); và nhiều bút ký, truyện ngắn khác đăng trên các báo.

Với những cống hiến xuất sắc của mình trong hoạt động văn học nghệ thuật, nhà văn Nguyễn Minh Châu đã được nhận: Giải thưởng Bộ Quốc phòng (năm 1984-1989); Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam (1988-1989); Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật (năm 2000).

– Truyện ngắn Bến quê in trong tập truyện cùng tên của Nguyễn Minh Châu, xuất bản năm 1985. Trong truyện ngắn này, ngòi bút của nhà văn hướng vào đời sống thế sự nhân sinh thường ngày, với những chi tiết sinh hoạt đời thường để phát hiện những chiều sâu của cuộc sống với bao qui luật và nghịch lí, vượt ra khỏi cách nhìn, cách nghĩ trước đây của cả xã hội và của chính tác giả.

II – GIÁ TRỊ TÁC PHẨM

Ấn tượng khi đọc Bến quê của Nguyễn Minh Châu là ấn tượng về một cái gì đó như là đứng trước “mấy bông hoa cuối cùng còn sót lại trở nên đậm sắc hơn”, thẫm màu hơn, một màu tím thẫm như bóng tối”. Có cái gì xót xa phôi pha đi trong bóng tối, tha thiết hơn trong cái màu đậm sót lại kia. Nó tự là mình một lần cuối, thức nhận về chảy trôi và kết đọng một lần cuối trước khi hoà vào cái mong manh vĩnh cửu. Giống như hình ảnh Nhĩ khi kết truyện: “mặt mũi Nhĩ đỏ rựng một cách khác thường, hai mắt long lanh chứa một nỗi mê say đầy đau khổ, cả mười đầu ngón tay Nhĩ đang bấu chặt vào cái bậu cửa sổ, những ngón tay vừa bấu chặt vừa run lẩy bẩy”.

Có khác thường không cái ham muốn cuối cùng của một đời người chỉ là nhờ con sang bến sông ngay bên nhà mình như thế này (?):

“Nhĩ tập trung hết sức còn lại để nói ra cái điều ham muốn cuối cùng của đời mình:

– Bây giờ con sang bên kia hộ bố…

– Để làm gì ạ?

– Chẳng để làm gì cả. – Nhĩ có vẻ ngượng nghịu vì cái điều mình sắp nói ra quá ư kì quặc – Con hãy qua đò đặt chân lên bờ bên kia, đi chơi loanh quanh rồi ngồi xuống nghỉ chân ở đâu đó một lát, rồi về”.

Nghĩa là sức nặng của toàn bộ thiên truyện dồn cả vào sự thể hiện thế giới nội tâm của Nhĩ. Có thể thấy mạch tâm trạng của Nhĩ diễn ra theo hai chặng: trước và sau khi Nhĩ nhờ anh con trai sang sông.

Tác giả không cho chúng ta biết rằng trước khi lâm bệnh Nhĩ làm nghề gì, địa vị xã hội ra sao nhưng bằng vào chi tiết Nhĩ được đi khắp nơi trên thế giới, có thể đoán định được anh là một người có vị trí quan trọng. Nhưng chính cái thời gian Nhĩ ốm liệt giường mới là quãng thời gian quan trọng, có ý nghĩa lớn hơn cả so với cả một đời bôn ba. Khi đó, anh được gần gũi với vợ con, và nhờ vậy lần đầu tiên Nhĩ thấy được tấm áo vá của người vợ cả đời chịu thương chịu khó hi sinh vì chồng. Tình cảnh ốm đau đã kéo anh về với những gì thường tình nhất của cuộc sống. Anh cảm nhận được cái nhẫn nhục đẹp đẽ của vợ mình qua “tiếng bước chân rón rén quen thuộc suốt cả một đời người đàn bà trên những bậc thang mòn lõm”. Niềm khao khát được khám phá vẻ đẹp của bờ bãi bên kia sông chỉ có thể được nhen lên, day dứt, mãnh liệt khi Nhĩ sống trong cuộc sống đời thường. Cuộc sống ấy đem lại cho anh một cách nhìn, cách nghĩ mới, chân thực, dung dị hơn, đồng thời thôi thúc anh thực hiện ước vọng cuối cùng của cuộc đời, cái mong muốn vốn dễ dàng với người khác, với chính anh khi còn khoẻ mạnh thì giờ đây trở thành thách thức ghê gớm, thậm chí là không thể.

Anh con trai không thể hiểu được đằng sau cái mong muốn “kì quặc” của người cha sắp từ giã cõi đời là cả một câu chuyện mang ý nghĩa triết lí cuộc đời. Giống như Nhĩ đã từng chưa bao giờ nghĩ tới mảnh đất bến quê sông Hồng kề cạnh nhà mình. Chính Nhĩ cũng tự nhận thấy “càng lớn thằng con anh càng có nhiều nét giống anh”. Dường như trong Nhĩ đang diễn ra một cuộc đối chất: cha / con – hiện tại / quá khứ. Con trai anh đang sống những tháng ngày như anh đã từng sống, ham mê những điều như anh từng ham mê và không nhận ra được giá trị của cái bình dị, nhỏ bé nhưng đích thực như anh đã từng không nhận ra.

Nguyễn Minh Châu đã xây dựng nhiều chi tiết, hình ảnh mang ý nghĩa biểu tượng. ở phần đầu truyện là hình ảnh những bông hoa bằng lăng còn sót lại, là màu vàng thau xen lẫn màu xanh non của bãi bồi bên kia sông Hồng, là “những tảng đất đổ oà vào giấc ngủ”, Khi đứa con trai ra đi để thực hiện hành trình tới bến quê, song hành, Nhĩ cũng thực hiện một hành trình nhọc nhằn, “đau nhức”. Chàng trai trẻ, người có thể thực hiện chuyến sang sông một cách dễ dàng thì đang “chùng chình” bởi những thế cuộc tướng sĩ và không thấy được ý nghĩa của hành trình. Người không còn thời gian nữa thì tự mình chỉ thực hiện được một nửa của hành trình dài một mét từ nệm nằm tới cửa sổ! Những khoảng không gian trong mối liên hệ thời gian như là biểu tượng của nghịch lí bừng ngộ, ở những chặng khác nhau của sự thám hiểm cuộc đời:

“Vừa nghe Tuấn nện lộp bộp đôi dép sa bô xuống thang, Nhĩ đã thu hết tàn lực lết dần trên chiếc phản gỗ. Nhấc mình ra được bên ngoài chiếc nệm nằm, anh tưởng mình vừa bay được một nửa vòng trái đất – trong một chuyến đi công tác ở một nước bên Mĩ La-tinh hai năm trước đây. Anh mệt lử. Và đau nhức. Ngồi lại nghỉ một chặng và chỉ muốn có ai đỡ cho để nằm xuống…

Lũ trẻ tiếp sức cho anh, giúp anh đi nốt “nửa vòng trái đất” còn lại:

“Cả bọn trẻ xúm vào, và rất nương nhẹ, giúp anh đi nốt nửa vòng trái đất – từ mép tấm nệm nằm ra mép tấm phản, khoảng cách ước chừng năm chục phân”.

Đó là ân huệ mà cuộc đời dung dị, hồn nhiên đem lại cho Nhĩ. Anh hướng tới khoảng không gian mơ ước bên ngoài cánh cửa sổ nhờ những bàn tay “chua lòm mùi dưa”. Lại là sự cứu cánh của cái bình dị. “Ngay lúc ấy”, bắt đầu từ lúc Nhĩ được ngồi sát ngay sau khuôn cửa sổ, khi hình ảnh của “cái miền đất mơ ước” hiện ra ngay trước mắt anh, trong con người chất chứa nghịch lí ấy diễn ra dòng suy tưởng sâu sắc. Với ngòi bút sắc sảo, Nguyễn Minh Châu đã khắc hoạ thành công tâm trạng của nhân vật này.

Hình ảnh con đò ngang với cánh buồm nâu bạc trắng hiện ra qua cái nhìn của con người đang khao khát bến bờ cũng mang ý nghĩa biểu tượng. Đó là “nhịp cầu” nối tới bến quê mơ ước:… “cái vật mà Nhĩ nhìn thấy trước tiên khi được ngồi sát ngay sau khuôn cửa sổ là một cánh buồm vừa bắt gió căng phồng lên. Con đò ngang mỗi ngày chỉ qua lại một chuyến giữa hai bên bờ ở khúc sông Hồng này vừa mời bắt đầu chống sào ra khỏi chân bãi bồi bên kia, cánh buồm nâu bạc trắng vẫn còn che lấp gần hết cái miền đất mơ ước”.

Biết đâu Nhĩ không còn đủ sức để chờ chuyến đò của ngày hôm sau thì sao! Người con trai mang theo “sứ mệnh” thực hiện niềm mơ ước cuối cùng của anh “đang sà vào một đám người chơi phá cờ thế trên hè phố. Suốt đời Nhĩ cũng đã từng chơi phá cờ thế trên nhiều hè phố, thật là không dứt ra được”. Nó có thể bị nhỡ chuyến đò sang sông. Cả đời Nhĩ đã nhỡ chuyến đò ấy. Trong sự lo lắng, khắc khoải vốn thường trực của một người đang sống những giờ phút cuối cùng, Nhĩ đã ngẫm ra: “con người ta trên đường đời thật khó tránh được những cái điều vòng vèo hoặc chùng chình, vả lại nó đã thấy có cái gì hấp dẫn ở bên kia sông đâu? Hoạ chăng chỉ có anh đã từng trải, đã từng in gót chân khắp mọi chân trời xa lạ mới nhìn thấy hết sự giàu có lẫn mọi vẻ đẹp của một cái bãi bồi sông Hồng ngay bờ bên kia, cả trong những nét tiêu sơ, và cái điều riêng anh khám phá thấy giống như một niềm mê say pha lẫn với nỗi ân hận đau đớn, lời lẽ không bao giờ giải thích hết”. Người ta khó có thể làm lại được những gì thuộc về quá khứ, không thể đi lại những chuyến đò đã nhỡ. Cái bến quê rất gần, và không khó khăn gì để đến đó, nhưng nếu cứ mắc vào cái mớ “chùng chình” thế cuộc rất có thể ta sẽ không bao giờ đến được.

Không phải ngẫu nhiên mà tác giả để cho hình ảnh Liên – vợ Nhĩ xuất hiện trong dòng suy nghĩ của nhân vật này:… “cũng như cánh bãi bồi đang nằm phơi mình bên kia, tâm hồn Liên vẫn giữ nguyên vẹn những nét tần tảo và chịu đựng hi sinh từ bao đời xưa, và cũng chính nhờ có điều đó mà sau những ngày tháng bôn tẩu, tìm kiếm… Nhĩ đã tìm thấy được nơi nương tựa là gia đình trong những ngày này”.

Liên như là hiện thân của cái bến quê mà Nhĩ đã từng không nhận ra. Nhĩ nhìn thấy tấm áo vá của vợ khi anh đã nhận thức được giá trị của cái gần gũi, bình dị. Sự tần tảo, chịu đựng hi sinh ở Liên cũng là vẻ đẹp của người phụ nữ Việt Nam nói chung. Không phải khi Nhĩ nhận ra những cái đó mới có, nó là vẻ đẹp bền vững muôn đời nhưng chỉ khi Nhĩ ý thức một cách sâu sắc về “bến quê” thì anh mới phát hiện ra nó, cảm nhận được nó. Giống như hình ảnh “từng mảnh vá trên lá buồm cánh dơi in bật trên một vùng nước đỏ” chỉ có thể rõ ràng đến thế khi con đò ngang nối liền với bến quê lại gần bờ bên này, lại gần anh, để Nhĩ có được cảm giác “chính mình trong tấm áo màu xanh trứng sáo và chiếc mũ nan rộng vành, như một nhà thám hiểm đang chậm rãi đặt từng bước chân lên cái mặt đất dấp dính phù sa”. Truyện khép lại bằng hình ảnh “chuyến đò ngang mỗi ngày một chuyến… vừa chạm vào cái bờ đất lở dốc đứng phía bên này”. Bên này là thị thành, bên kia là bến quê. Bên này chông chênh xói lở, bên kia vững vàng bồi đắp. Sự tương phản này như một lời cảnh tỉnh về nhận thức, ý thức giữ gìn những giá trị bình dị, vẻ đẹp của cái thân tình, gần gũi, để người ta không phải thảng thốt bởi “những tảng đất đổ oà vào giấc ngủ”.

Giống hoa bằng lăng nhợt nhạt từ khi mới nở bỗng cháy thẫm lên những bông cuối cùng như xác nhận xót xa trước cái mong manh chảy trôi của tạo hoá. Nhĩ muốn con trai mình không lặp lại con đường tới những giá trị đích thực như anh đã trải qua. Day dứt, trăn trở như thế âu cũng còn lại được gì đó khi nằm xuống để những tảng đất đổ ập xuống chốn không cùng.

(Sưu tầm)

Soạn Bài Bến Quê (Trích) Sbt Ngữ Văn 9 Tập 2

Giải câu 1, 2, 3, 4, 5, 6 trang 67 SBT Ngữ Văn 9 tập 2. Em hiểu như thế nào về tên truyện Bến quê, khi đối chiếu với nội dung thiên truyện ?

1. Truyện ngắn Bến quê tập trung vào một tình huống khá đặc biệt, đó là tình huống nào ? Hãy chỉ ra những nghịch lí trong tình huống ấy và nêu ý nghĩa của nó.

Trả lời:

Tình huống truyện chính là cảnh ngộ éo le, ngặt nghèo của nhân vật Nhĩ trong những ngày cuối đời. Là một người từng đi khắp mọi nơi trên trái đất, không thiếu một xó xỉnh nào, vậy mà đến cuối đời Nhĩ lại bị buộc chặt trên giường bởi một căn bệnh quái ác khiến anh gần như liệt toàn thân, và sự sống của Nhĩ đã gần như cạn kiệt. Khai thác tình huống này, tác giả phát hiện và nhấn mạnh vào những điều nghịch lí trong cảnh ngộ của nhân vật : Là người từng đi khắp thế giới, nhưng Nhĩ lại chưa từng đặt chân lên cái bãi bồi màu mỡ ngay bên kia sông ; từng bay những chuyến bay vượt nửa vòng trái đất, nhưng nay lại không thể nhích thân mình dịch chuyển vài mươi phân trên giường bệnh ; đứa con trai mà anh nhờ thay mình thực hiện điều khao khát là đặt chân lên bờ bãi bên kia sông thì lại mải mê sa vào một đám chơi phá cờ thế trên hè phố, có thể lỡ mất chuyến đò duy nhất trong ngày.

Đưa ra những nghịch lí ấy, nhà văn muốn phát hiện những quy luật của đời sống và chiêm nghiệm, triết lí về cuộc đời con người.

2. Phân tích bức tranh thiên nhiên được miêu tả ở phần đầu của truyện (từ “Ngoài cửa sổ” đến “ngay trước cửa sổ nhà mình”). Chú ý : Bức tranh ấy được miêu tả qua cái nhìn của ai ? Đường nét, màu sắc của cảnh vật được miêu tả tinh tế, gợi cảm như thế nào và gợi ra tâm trạng gì của người quan sát ?

Trả lời:

Cảnh vật được miêu tả theo cái nhìn của Nhĩ, từ gần đến xa, tạo thành một không gian có chiều sâu và bề rộng : từ những bông bằng lăng ngay phía ngoài cửa sổ đến con sông Hồng với màu đỏ nhạt lúc đã vào thu, vòm trời và sau cùng là bãi bồi bên kia sông.

Cảnh vật thiên nhiên trong một buổi sáng đầu thu, qua cái nhìn của Nhĩ, hiện ra với vẻ đẹp riêng và chỉ có thể cảm nhận được bằng những cảm xúc tinh tế. Những chùm hoa bằng lăng cuối mùa thưa thớt nhưng lại đậm sắc hơn ; con sông Hồng màu đỏ nhạt, mặt sông như rộng thêm ra ; vòm trời như cao hơn. Không gian và những cảnh sắc vốn quen thuộc, gần gũi, nhưng lại như rất mới mẻ với Nhĩ, tưởng chừng như lần đầu tiên anh cảm nhận được tất cả vẻ đẹp và sự giàu có của nó. Cái nhìn ấy thể hiện niềm tha thiết với cuộc sống, với vẻ đẹp bình dị mà sâu xa của thiên nhiên, của quê hương ở nhân vật Nhĩ.

3. Em hiểu như thế nào về ý nghĩa biểu tượng của các hình ảnh và chi tiết sau trong truyện : bãi phù sa màu mỡ bên kia sông, bờ đất lở dốc đứng ở bên này sông, đứa con trai của Nhĩ sa vào đám chơi phá cờ thế bên hè phố ?

(Em tự phát hiện ý nghĩa biểu tượng của các hình ảnh, chi tiết còn lại.)

4. Ở đoạn kết truyện, tác giả đã tập trung miêu tả chân dung và cử chỉ của nhân vật Nhĩ với một vẻ rất khác thường. Hãy giải thích ý nghĩa của các chi tiết đó.

Trả lời:

Em đọc lại đoạn kết của truyện để nhận ra sự khác thường và thái độ vội vã, khẩn thiết của nhân vật Nhĩ thể hiện trong tư thế, hành động. Hành động của Nhĩ có thể hiểu là anh đang nôn nóng, thúc giục cậu con trai hãy mau kẻo lỡ chuyến đò duy nhất trong ngày. Nhưng hình ảnh này còn gợi ra ý nghĩa khái quát hơn. Đó là ý muốn thức tỉnh mọi người về những cái vòng vèo, chùng chình để dứt ra khỏi nó, để hướng tới những giá trị đích thực, vốn rất giản dị, gần gũi và bền vững.

5. Truyện Bến quê chứa đựng những suy ngẫm, triết lí gì của tác giả về con người và cuộc đời ? Hãy nêu cảm nghĩ của em về những điều nhà văn suy ngẫm, triết lí.

Trả lời:

Truyện ngắn này chứa đựng nhiều suy ngẫm, triết lí của Nguyễn Minh Châu về đời người, là kết quả của sự chiêm nghiệm thấm thìa, sâu sắc của tác giả. Có thể nêu một số ý sau :

– Cuộc sống và số phận con người chứa đầy những điều bất thường, những nghịch lí ngẫu nhiên, vượt ra ngoài những dự định và ước muốn, cả những hiểu biết và toan tính của mỗi con người.

– Cuộc đời con người thường khó tránh khỏi những điều vòng vèo hoặc chùng chình, nhất là khi còn trẻ. Chỉ đến khi đã từng trải hoặc ở một cảnh ngộ khác thường nào đó, người ta mới nhận thức được những giá trị đích thực của cuộc sống, những giá trị ấy thường giản dị và bền vững, lại ở gần gũi quanh ta. Nhưng thường thì khi nhận thức được điều đó, con người lại không còn mấy thời gian và sức lực để đạt tới nó.

(Em có thể phát hiện thêm những triết lí khác trong truyện. Em cần nêu cảm nghĩ về những suy ngẫm, triết lí của tác giả một cách chân thực, tự nhiên.)

6. Em hiểu như thế nào về tên truyện Bến quê, khi đối chiếu với nội dung thiên truyện ?

Trả lời:

Đối chiếu với nội dung truyện, tên truyện Bến quê có thể gợi ra nhiều ý nghĩa, chẳng hạn như:

– Quê hương, gia đình là nơi lưu giữ những vẻ đẹp, những giá trị bền vững, sâu xa, là chỗ dựa, bến đỗ bình yên cho cuộc đời mỗi con người, dù có bôn ba đi khắp mọi phương trời.

– “Bến quê” không chỉ mang ý nghĩa cụ thể về không gian thân thuộc của quê hương, mà còn là biểu tượng cho những giá trị gần gũi, vững bền, thân thuộc và giản dị đối với mỗi con người, mà nhiều khi người ta thường vô tình bỏ qua, không biết trân trọng nó.

chúng tôi

Bài tiếp theo

Tóm Tắt Truyện Bến Quê Của Nguyễn Minh Châu

Đề bài: Tóm tắt truyện Bến quê của Nguyễn Minh Châu

Suốt đời Nhĩ đã từng đi tới không sót một xó xỉnh nào trên trái đất, nhưng anh chưa bao giờ đi đến cái bờ bên kia sông Hồng ngay trước cửa nhà mình.

Thế mà giờ đây, Nhĩ ốm nằm liệt giường. Phiến lưng đã có nhiều mảng da thịt vừa chai cứng vừa lở loét. Đầu thu hoa bằng lăng đã thưa thớt và nhạt màu, bờ bãi sông Hồng phô ra một màu vàng thau xen với màu xanh non trước khuôn cửa sổ của gian gác nhà Nhĩ. Anh đang nằm trên tấm phản cho Liên, vợ anh bón thức ăn, và cho Tuấn, đứa con trai thứ hai cầm chiếc khăn bông tẩm nước ấm khẽ lau miệng…. Liên mặc áo vá, anh ngắm nhìn rồi khẽ thốt lên: “‘Suốt đời anh chỉ làm em khổ tâm…mà em vẫn nín nhịn. Câu chuyện tâm tình mơ ước, Liên rót thuốc vào bát chiết yêu, dặn dò con vài điều, rồi rón rén buớc xuống cầu thang. Thằng Tuấn gần một năm nay đi học tận trong một thành phố phía Nam mới về thăm nhà tối hôm qua đang ngồi vừa nhặt rau vừa đọc sách vội chạy lên khi nghe Nhĩ gọi. Anh ngắm đứa con, thấy nó càng lớn càng có nhiều nét giống anh. Người cha sắp từ giã cõi đời đang giấu một điều tâm sự bí mật gì đó trong cái vẻ lúng túng, chợt hỏi con: “Đã bao giờ Tuấn… bên kia chưa”. Theo lời yêu cầu khẩn khoản của Nhĩ, đứa con trai mặc quần áo, đội chiếc mũ nan rộng vành, giắt vào người mấy đồng bạc ra đi sang bên sông.

Nhĩ mệt lử đau nhức…, anh cất tiếng gọi yếu ớt, “Huệ ơi! Một cô bé rất xinh đẹp chạy sang. Cô bé lễ phép hỏi Nhĩ, rồi cất tiếng gọi. Cả một lũ trẻ ở tầng dưới lần lượt chạy lên. Chúng xúm vào và rất nương nhẹ giúp Nhĩ từ mép tấm nệm nằm ra mép tấm phản độ năm chục phân mà anh tưởng đi một nửa vòng trái đất. Anh càng yêu lũ trẻ trong ngôi nhà mình.

Ngồi cạnh bậu cửa, sau lưng chống gối kè cao, Nhĩ được nhìn thấy cánh buồm. Con đò, khách qua lại bến sông. Nhĩ nghĩ về vợ anh, đứa con trai của anh. Anh đã tìm thấy được nơi nương tựa là gia đình trong những ngày đau ốm.

Ông giáo Khuyến, cụ già hàng xóm lại sang thăm Nhĩ. Cụ hốt hoàng chợt thấy mặt mũi Nhĩ đỏ rựng lên một cách khác thường. Ngay lúc ấy con đò ngang cũng vừa cập bến.

Từ khóa tìm kiếm

tom tat ben que

tóm tắt truyện bến quê

tóm tắt truyện ngắn bến quê của nguyễn minh châu

tóm tắt văn bản bến quê

tóm tắt văn bản bến quê lớp 9

Tóm Tắt Truyện Bến Quê Ngắn Gọn, Dễ Hiểu, Bài Văn Mẫu Lớp 9

Tóm tắt truyện ngắn Bến quê của nhà văn Nguyễn Minh Châu

Tóm tắt truyện Bến quê

1. Tóm tắt truyện Bến quê, mẫu số 1:

Truyện ngắn Bến quê viết về nhân vật Nhĩ. Suốt cuộc đời Nhĩ đã đi nhiều nơi, đến nhiều chỗ, thậm chí có những chuyến bay cách cả nửa vòng Trái Đất. Nhưng vì mắc phải căn bệnh hiểm nghèo những ngày cuối đời, Nhĩ phải chôn chân mình nơi giường bệnh. Cũng chính lúc này, anh mới hiểu và trân trọng những vất vả, hi sinh của Liên dành cho gia đình và cảm nhận được vẻ đẹp bình dị của bãi bồi bên kia sông-nơi mà Nhĩ chưa từng đặt chân đến. Mong ước của Nhĩ là đứa con có thể thay mình đặt chân đến đó, nhưng mặc dù đã thúc giục, cậu con trai vẫn bị những cám dỗ của trò chơi phá cờ bên hè mà để lỡ chuyến đò cười trong ngày. Cuối cùng, Nhĩ nhận ra một điều rằng: “Con người ta khó tránh khỏi cái vòng vèo, chùng chình, phải dứt ra khỏi nó để hướng tới những giá trị đích thực của cuộc sống.”

2. Tóm tắt truyện Bến quê, mẫu số 2:

Truyện ngắn Bến quê xuất bản năm 1985 dưới ngòi bút tài hoa Nguyễn Minh Châu. Tuổi trẻ, nhân vật Nhĩ đã dành thời gian để đi khắp mọi nơi trên thế giới, không đâu không có dấu chân anh. Nhưng thời gian lấy đi tất cả, giờ đây anh phải nằm liệt giường bởi căn bệnh ” bán thân bất toại” và phải sống hoàn toàn nhờ gia đình. Và chính khoảnh khắc này anh chợt nhận ra vẻ đẹp của bãi bồi bên kia sông gần nhà nhưng đã quá muộn để khám phá nó. Cuối chuyện, anh nhờ con mình có thể giúp cha thực hiện ước mơ của mình. Câu chuyện là triết lý cuộc đời mà tác giả muốn gửi gắm.

Khi còn trẻ Nhĩ từng đến rất nhiều nơi nhưng trớ trêu thay, cuối đời cuộc đời Nhĩ lại chẳng thể rời khỏi giường bệnh. Từ ô cửa sổ nhỏ, Nhĩ phát hiện ra vẻ đẹp gần gũi, bình dị bên kia sông, Nhĩ mong muốn 1 lần được đặt chân đến nhưng lại chẳng thể làm được. Nhĩ đã nhờ con trai thay mình sang bên kia sông, thế nhưng đứa con không hiểu được khát khao của cha, bị thu hút bởi những thứ ven đường mà cậu con trai đã để lỡ chuyến đò cuối cùng trong ngày. Nhĩ suy nghĩ và rút ra được chiêm nghiệm sâu sắc: Cuộc đời con người khó tránh khỏi những vòng vèo, chùng chình.

Bến quê kể về bi kịch trong cuộc đời của nhân vật Nhĩ. Từng đặt chân đến rất nhiều nơi trên trái đất, thế nhưng căn bệnh hiểm nghèo đã cột chặt Nhĩ vào giường bệnh, mọi sinh hoạt đều phải nhờ đến vợ. Nằm trên giường bệnh, Nhĩ nhìn sang bãi bồi bên kia sông và nhận ra mình chưa một lần đặt chân đến. Anh đã nhờ Tuấn, con trai của mình thay mình sang bên kia sông, thế nhưng vì tò mò với đám cờ vây ven đường mà Tuấn bỏ lỡ chuyến đò sang sông cuối cùng. Nhĩ buồn bã, thất vọng và chiêm nghiệm ra những nghịch lí trong cuộc đời.

Nhĩ đã từng đặt chân đến nhiều vùng đất nhưng cuối đời lại bị cột chặt vào giường bệnh. Nhìn sang bãi bồi bên kia sông nơi bến quê quen thuộc, anh mới nhận ra vẻ đẹp bình dị, gần gũi của quê mình. Cũng khi trên giường bệnh, anh mới cảm nhận được nỗi vất vả, tình thương, đức hi sinh của vợ mình. Nhĩ khát khao đặt chân lên bãi bờ bên kia sông nhưng bệnh tật không cho phép, anh nhờ đứa con trai mình. Đứa con không hiểu ước muốn của cha, nó miễn cưỡng đi và bị hút vào trò chơi hấp dẫn trên đường làm lỡ chuyến đò ngang duy nhất trong ngày. Nhĩ chiêm nghiệm được cái quy luật đầy nghịch lí “con người ta khó tránh được cái vòng vèo, chùng chình, phải dứt ra khỏi nó để hướng tới những giá trị đích thực của cuộc sống”.

Khi còn trẻ, qua những chuyến công tác, Nhĩ có dịp đi đến nhiều mảnh đất khác nhau trên khắp thế giới. Thế nhưng, giờ đây anh lại mắc phải căn bệnh tai quái khiến “bán thân bất toại”, chỉ có thể sống dựa vào gia đình, vợ con. Cho đến khi nằm trên giường bệnh, Nhĩ mới nhận ra vẻ đẹp của bãi bồi bên kia sông mà lâu nay mình đã bỏ quên, nhưng khi nhận ra thì đã muộn. Nhĩ không còn cơ hội đặt chân lên mảnh đất ấy. Qua hoàn cảnh và những chiêm nghiệm của Nhĩ, tác giả thể hiện những suy ngẫm về triết lí cuộc đời con người.

Truyện kể về nhân vật Nhĩ là người khi còn trẻ đã đi rất nhiều nơi trên thế giới, xa gia đình nhưng khi về già lại mắc phải một căn bệnh trầm trọng không thể tự mình ra khỏi giường. Ông được sự chăm sóc của Liên – người vợ đã tần tảo chịu đựng gian khổ, hi sinh cả cuộc đời vì chồng vì con. Ông nằm trên giường bệnh và ngắm nhìn cảnh bên kia bờ sông và ông chợt nhận ra cả cuộc đời đi khắp mọi nơi mà đến bây giờ lại không thể sang được bến sông nơi quê nhà. Ông sai người con trai tên Tuấn làm thay mình một nhiệm vụ cuối của cuộc đời là bắt chuyến đò để sang bên kia bờ sông. Nhưng vì ván cờ thế nên Tuấn đã bỏ lỡ chuyến đò của ngày hôm đó và không hoàn thành được ước nguyện của người cha. Nhĩ chợt nhận ra rằng người con có thể lỡ chuyến đò hôm nay nhưng mai lại có thể bắt được chuyến đò khác còn mình thì mãi mãi không thể tự rời khỏi giường bệnh. Chính vì vậy ông đã nhận ra được những giá trị của cuộc sống ở xung quanh mình mà bấy lâu nay ông không biết.

Nhĩ là nhân vật chính trong truyện ngắn Bến quê. Nhĩ- một người từng đi rất nhiều nơi nhưng cuối cùng bệnh nặng và không thể di chuyển chỉ có thể nằm trên giường bệnh. Có một điều trái ngang đó là anh ta chưa từng vượt qua bên kia sông.

Trong thời gian nằm trên giường bệnh anh ta quan sát và thấy được vẻ đẹp bên kia sông bình dị, gần gũi và thân thương. Anh ta thấu hiểu được nỗi vất vả, hi sinh của người với đối với mình. Hơn bất kì lúc nào Nhĩ muốn đặt chân đến bên kia bờ sông nhưng thật xa vời.

Nhĩ thấy con trai qua bên kia sông thấy mình nhưng cậu bé còn ham chơi và không hiểu hết nguyện vọng của Nhĩ nên cuối cùng đã bị lỡ chuyến đò.

Nhĩ từng khám phá và đặt chân đến rất nhiều nơi trên thế giới nhưng lại chưa từng qua bên kia bờ sông, đến khi bệnh nặng nằm một chỗ anh ta mới có dịp quan sát vẻ đẹp bình dị thân thuộc của “bến quê” đó là bãi bồi bên kia sông.Trong thời gian nằm bệnh Nhĩ vô cùng biết ơn người vợ vất vả, lo toan và hi sinh vì chồng. Nguyện vọng duy nhất lúc này là được đặt chân đến bên kia sông.Không thể tự mình thực hiện, Nhĩ sai đứa con trai của mình sang bên kia bờ sông nhưng không có lí do và chẳng để làm gì cả, cậu bé vẫn thực hiện một cách miễn cưỡng tuy nhiên vì say mê với các trò chơi mà cậu bị lỡ chuyến đó duy nhất trong ngày để trở về nhà.

Nghịch lí trong cuộc đời Nhĩ là khi còn trẻ từng đi khắp nơi nhưng chưa khi nào đặt chân đến bên bãi bồi bên kia sông. Nay, khi nằm liệt trên giường vì căn bệnh hiểm nghèo, Nhĩ mới thấy bên kia sông một vẻ đẹp rất riêng bình dị mà thân thương.Trong thời gian bị bệnh Nhĩ cảm nhận được tình cảm người vợ dành cho mình đó là sự hình thầm lặng, cao cả. Nhĩ chỉ khát khao đặt chân sang bên kia sông nhưng điều đó thật quá xa vời. Biết không thể nào thực hiện được điều đó, Nhĩ sai con mình là Tuấn sang bên kia sông theo ý muốn của mình. Thằng bé còn quá nhỏ để hiểu ước muốn của cha mình nên ham chơi và bị lỡ chuyến đò về nhà.Kết thúc truyện là hình ảnh Nhĩ cố dùng sức lực của mình nhoài tay ra ngoài, như đang ra hiệu cho một ai đó.

Bến Quê là tác phẩm nổi tiếng của nhà văn Nguyễn Minh Châu, ngoài bài làm văn Tóm tắt truyện Bến quê, học sinh và giáo viên thường làm các bài văn như, Phân tích truyện Bến quê làm nổi rõ những nỗi niềm, những tiếng thương làm ta xúc động., Nhân vật Nhĩ và những suy nghĩ về cuộc đời, con người trong truyện ngắn Bến quê, Cảm nhận về truyện Bến quê, hay cả phần Kể lại truyện Bến quê, Soạn bài Bến quê, Ngữ Văn 9

https://thuthuat.taimienphi.vn/tom-tat-truyen-ben-que-41867n.aspx