Văn Bản Bị Nhảy Trang / Top 2 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 2/2023 # Top View | Bac.edu.vn

“Luật Trời” Tập 34: Sự Thật Tráo Con Bị Phơi Bày, Bà Trang (Ngọc Lan) Nhảy Sông Chạy Trốn

Tập 34 của phim truyền hình vừa lên sóng cùng với loạt diễn biến hấp dẫn. Sau bao nhiêu năm sự thật tráo con bị chôn vùi, đã đến lúc mọi chuyện dần hé lộ. Đức Tiến () và Ngọc Bích () chỉ vừa mới hóa giải hiểu lầm thì sự xáo trộn về thân phận đã tạo nên cú sốc với 2 đứa trẻ bị tráo đổi năm nào.

Sau khi nghe lén cuộc trò chuyện giữa Tiến và con chim sáo trong nhà kho, Ngọc Bích hiểu rằng mình đã hiểu lầm Tiến từ bấy lâu nay. Cô ngại ngùng xin lỗi Đức Tiến.

Khi những hiểu lầm của cả hai dần xóa bỏ cũng là lúc sự thật bắt đầu được phanh phui. Trong một lần sai Bích châm nước pha trà, bà Trang nhìn thấy chiếc lắc vàng – kỷ vật của Thảo – trên tay Bích.

Biết chắc Ngọc Bích chính là đứa con gái ruột của Thảo (Quỳnh Lam đóng đúp vai) đã bị tráo đổi năm xưa, bà Trang (Ngọc Lan) vô cùng lo lắng, càng lo lắng hơn khi giờ đây Đức Tiến đã không còn nghe theo sự sắp xếp của Trang. Nhận ra thái độ kì lạ của bà Trang khi nhìn thấy chiếc lắc tay của mình, Bích kể lại cho mẹ nghe. Bà Lụa hoảng sợ lập tức đi tìm ông Lâm.

Trong lúc này, Được (Huy Khánh) cũng tìm đến ông Lâm với ý định tố giác những việc làm xấu xa của Trang và quan trọng nhất là nói rõ thân phận của Đức Tiến. Dù bất ngờ trước những thông tin của Được nhưng ông Lâm vẫn hiểu rằng Được đang nói sự thật. Không ai ngờ Đức Tiến cũng đã nghe được toàn bộ câu chuyện này, nhưng không biết được mẹ ruột của mình là ai.

Tiến vội đi tìm bà Trang để tìm hiểu sự thật và phát hiện bà ta đang cố dìm bà Lụa xuống nước. Phát hiện Tiến đi tới, Trang vội vã buông bà Lụa ra và nhảy xuống sông bỏ trốn. Tiến vội đưa bà Lụa về nhà.

Khi bà Lụa tỉnh lại, bà đã kể sự thật cho Bích biết và đưa chiếc lắc tay để xin ông Lâm nhận lại Ngọc Bích, còn mình sẽ đi tìm và đưa Đức Tiến rời khỏi đây. Nhưng, Đức Tiến sốc vô cùng khi biết được mình không phải là con ruột của ông Lâm và đã lựa chọn giải pháp bỏ đi.

Tập 35 và cũng là tập cuối của phim truyền hình Luật trời lên sóng vào lúc 20g00 ngày 7/5/2020 trên THVL1.

Cách Sửa Lỗi Tự Động Nhảy Trang Trong Word Hiệu Quả

[Thủ thuật Office] Sửa lỗi tự động nhảy trang trong Word hiệu quả – Trong quá trình soạn thảo văn bản trên Word có những lỗi bạn cảm thấy rất khó chịu như lỗi xuống dòng hay lỗi dư thừa các khoảng trắng trong văn bản và một lỗi cũng không kém khó chịu xảy ra trong quá trình soạn thảo đó là lỗi tự động nhảy trang trong Word, biểu hiện của lỗi này là khi bạn soạn thảo một văn bản với các table thì cho dù văn bản trước đó của bạn còn rất nhiều khoảng trống có thể chứa được table tuy nhiên không hiểu vì sao table tự động nhảy xuống trang mới làm văn bản của bạn có một khoảng trống khá khó chịu! Vậy là sao để khắc phục lỗi này?

Trong bài viết trước đây về thủ thuật Office mình có hướng dẫn các bạn cách định nghĩa cụm từ gõ tắt trong Microsoft Word giúp bạn có thể nhanh chóng soạn thảo văn bản trên Microsoft Word với các cụm từ thường dùng được định nghĩa sẵn tiếp tục trong bài viết này mình sẽ hướng dẫn các bạn cách khắc phục lỗi tự động nhảy trang trong Word đơn giản và hiệu quả!

Khắc phục lỗi tự động nhảy trang trong Word

Đối với Microsoft Word 2003

Đầu tiên bạn hãy di chuyển đến đoạn văn bản có khoảng trống được tạo ra (như hình ở bên dưới)

Đối với Microsoft Word 2007, 2010, 2013

Đầu tiên bạn cũng thực hiện các bước như trên Word 2003 sau đó bạn cũng vào hộp thoại Paragraph bằng cách trên giao diện Ribbon trong phần Paragraph kích chọn vào dấu mũi tên nhỏ ở góc phải bên dưới cùng của thuộc tính Paragraph.

Tuy nhiên sau khi thực hiện phương pháp trên mà không khắc phục được lỗi nhảy table bạn có thể áp dụng phương pháp sau. Trên table bạn kích phải chuột vào biểu tượng ở góc phía bên trái trên cùng của table

Cuối cùng không có gì hơn nếu bạn cảm thấy bài viết có ích hãy subscribe blog của mình thường xuyên để cập nhật những bài viết mới nhất qua Email – Chân thành cảm ơn!

Bài Văn Phân Tích Văn Bản Chuẩn Bị Hành Trang Vào Thế Kỉ Mới, Hay, Tu

Thông qua việc phân tích văn bản Chuẩn bị hành trang vào thế kỉ mới của Phó Thủ tướng Vũ Khoan, chúng ta sẽ có cái nhìn toàn diện và sâu sắc hơn về những điểm yếu, điểm mạnh của tuổi trẻ Việt Nam để khắc phục và phát huy cũng như trách nhiệm của bản thân mỗi người trong công cuộc xây dựng đất nước, hội nhập với thế giới trong thế kỉ mới.

Đề bài: Phân tích văn bản Chuẩn bị hành trang vào thế kỉ mới

Phân tích văn bản Chuẩn bị hành trang vào thế kỉ mới

Bài văn mẫu Phân tích văn bản Chuẩn bị hành trang vào thế kỉ mới

Sau khi đất nước hoàn toàn độc lập vào ngày 30/4/1975, đất nước ta phải mất rất nhiều năm để xây dựng và khôi phục những hậu quả nặng nề của chiến tranh, đó là một hành trình nhiều gian nan và vất vả cần sự chung tay góp sức của cả dân tộc. Văn bản Chuẩn bị hành trang vào thế kỷ mới là những lời tâm huyết, chân thành của Phó thủ tướng Vũ Khoan trước thềm một thế kỷ mới, một thiên niên kỷ mới bắt đầu, trước những sự thay đổi lớn trong tương lai của một đất nước đứng lên từ chiến tranh. Bài viết đã chỉ ra cho nhân dân ta, đặc biệt là thế hệ thanh niên, những con người tương lai sẽ chèo lái đất nước những điểm mạnh và điểm yếu của con người Việt Nam, từ đó cố gắng rèn luyện cho mình được những thói quen tốt, chuẩn bị sẵn sàng nguồn nhân lực mạnh mẽ cho quá trình gây dựng đất nước, sánh ngang cùng với các cường quốc năm châu.

Vũ Khoan là một nhà hoạt động chính trị, nhiều năm làm Thứ trưởng Bộ Ngoại giao, từng là Bộ trưởng Bộ Thương mại, Phó Thủ tướng Chính phủ nước ta. Văn bản Chuẩn bị hành trang vào thế kỷ mới được viết vào năm 2000, in trong tạp chí Tia sáng (2001), trong tập Một góc nhìn tri thức (2002). Đây là thời điểm giao thoa giữa hai thế kỷ, sẵn sàng cho những thay đổi mới của đất nước, dân tộc.

Vũ Khoan đi vào đề cập đến vấn đề vai trò của con người trong hành trình bước thế kỷ mới, ông nhận định rằng “Trong những hành trang ấy có lẽ sự chuẩn bị con người là quan trọng nhất”, nhằm nhấn mạnh vai trò của con người trong công cuộc xây dựng đất nước. Sở dĩ nói như vậy bởi, từ cổ chí kim đến nay “con người là động lực phát triển lịch sử”, đặc biệt trong xã hội hiện đại khi mà nền kinh tế tri thức ngày càng có những phát triển vượt bậc thì vai trò của con người lại càng nổi trội. Bởi chính bộ óc, trí tuệ của con người sẽ gây dựng lên nền kinh tế ấy, chứ không phải bất cứ giống loài nào khác.

Tiếp theo tác giả đi vào phân tích hoàn cảnh của thế giới và đề ra những nhiệm vụ cho của đất nước trong thế kỷ mới. Chúng ta cũng biết rằng trên thế giới sự phát triển của khoa học và công nghệ đã có những bước tiến lớn trong vòng 100 năm trở lại đây, đặc biệt là ở các nước phương Tây. Thêm vào đó song song với sự phát triển thì chính sách mở cửa, hội nhập đã được thực hiện từ rất sớm, các nền kinh tế vì thế càng có sự giao thoa sâu sắc, học hỏi lẫn nhau và nhanh chóng phát triển. Trước tình hình cả thế giới với những bước chân lớn và nhiều như vậy đòi hỏi Việt Nam ta phải tự đặt ra những mục tiêu và nhiệm vụ và bằng mọi giá phải hoàn thành nó, để rút ngắn thời gian nhanh chóng đuổi kịp các nước phát triển. Những nhiệm vụ ở đây được Vũ Khoan đề ra bao gồm: Đẩy mạnh nền công nghiệp hóa, hiện đại hóa, từng bước tiếp cận và phát triển nền kinh tế tri thức, đồng thời nhanh chóng thoát khỏi nền kinh tế nghèo nàn, lạc hậu. Đó là những nhiệm vụ tối cần, cấp thiết mà quan trọng nhất trong giai đoạn chuyển giao giữa hai thế kỷ của nước ta.

Sau khi chỉ ra vai trò của con người và những nhiệm vụ tối cần để phát triển đất nước trong thế kỷ mới Vũ Khoan mới bắt đầu đi sâu vào phân tích đặc tính của con người Việt Nam, để từ đó rút ra bài học nhằm cải thiện nguồn nhân lực cho đất nước. Với mỗi một phẩm chất và đặc tính thì ông đều phân làm điểm mạnh và điểm yếu, dám nhìn nhận thẳng vào sự thật, công khai mở ra những nhận thức mới về dân tộc ta, mà xưa nay ít ai đề cập vì lòng tự ái dân tộc.

Trước hết là về trí tuệ, Vũ Khoan nhận định con người Việt Nam ta được cả thế giới thừa nhận là “thông minh, nhạy bén với cái mới”, điều này vô cùng có ý nghĩa với một xã hội đang phát triển và thay đổi từng ngày. Tuy nhiên chúng ta vẫn tồn tại nhiều điểm yếu, mà đa phần đến từ những lỗ hổng kiến thức, nặng lý thuyết, yếu thực hành, chính điều đó đã kiềm chế khả năng sáng tạo và thích ứng với môi trường xã hội năng động của chúng ta.

Về đức tính chúng ta nổi bật với hay đức tính chính là cần cù và sáng tạo, phù hợp với nền kinh tế cần nhiều sự kiên trì, kỷ luật, những máy móc hiện đại tinh vi, tuy nhiên chúng ta lại thiếu đi cái tính tỉ mỉ, không có sự tính toán, luôn mang tinh thần “nước đến chân mới nhảy”, đến đâu hay tới đó. Nếu nhanh nhạy, công việc trót lọt thì không sao, nhưng nếu làm không kịp thì để lại những hậu quả lớn, hơn thế nữa chúng ta lại cũng ưa “sáng tạo” ở những chỗ cần quy định nghiêm ngặt, còn bị ảnh hưởng bởi tư tưởng sản xuất nhỏ lẻ, thiếu bài bản.

Về tình cảm, người dân Việt Nam ta vốn có truyền thống lâu đời là đùm bọc, đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau, điều ấy thể hiện trong công cuộc đấu tranh bảo vệ đất nước ta từ hàng ngàn năm nay. Tuy nhiên có một điều đáng buồn rằng dường như những đức tính ấy lại không mấy sâu sắc trong việc làm ăn, bởi cái tư tưởng “tiểu nông”, nhỏ nhen, hay đố kỵ, có thể chung hoạn nạn nhưng chưa chắc ấm no đã cơm lành canh ngọt. Chính điều này đã làm chúng ta khó có thể liên kết với nhau trên thế giới mạng, vốn là một môi trường phát triển nhiều tiềm năng.

Cuối cùng Vũ Khoan đề cập đến thói quen của người Việt Nam, chúng ta có một điểm mạnh ấy là khả năng thích ứng nhanh, chính vì thế dễ dàng làm quen và hội nhập tốt, ứng phó với những tiến trình phát triển phức tạp của thế giới. Bên cạnh điểm mạnh đó, Vũ Khoan cũng chỉ ra rằng chúng ta cũng có những thói quen hết sức xấu, đó là thái độ bài ngoại hoặc sính ngoại quá mức, khôn vặt, bóc ngắn cắn dài và nghiêm trọng hơn cả là thói quen không biết giữ chữ tín. Đó điều là những điểm đại kỵ trong công việc hợp tác làm ăn, là hòn đá cản đường vô cùng lớn trong tiến trình hội nhập và phát triển của nước ta.

Sau khi đã chỉ ra những điểm mạnh và điểm yếu của con người Việt Nam, Vũ Khoan đã đưa ra những lời khuyên, lời kêu gọi thay đổi nội hàm nguồn nhân lực để “sánh vai cùng các cường quốc năm châu”. Ấy là chúng ta phải “lấp đầy hành trang bằng những điểm mạnh, vứt bỏ những điểm yếu” và muốn có được điều này ông nhấn mạnh tầm quan trọng, có ý nghĩa quyết định của việc thay đổi và giáo dục tầng lớp thanh niên “hãy làm cho lớp trẻ-những người chủ thực sự của đất nước trong thế kỷ tới – nhận ra điều đó, quen dần với những thói quen tốt đẹp ngay từ những việc nhỏ nhất”. Sở dĩ nói như vậy bởi tầng lớp thanh niên là nguồn nhân lực lớn và dồi dào nhất, có khả năng, sức khỏe, trí tuệ, cũng là tầng lớp dễ thay đổi, thích nghi, khả năng học tập sáng tạo cao. Khi thay đổi dần những thói quen nhỏ cho tốt thì ắt hẳn rằng với trình độ, trí tuệ và sự phấn đấu của con người Việt Nam chúng ta sẽ sớm sáng vai cùng với các cường quốc năm châu như lời kỳ vọng của Bác.

Chuẩn bị hành trang vào thế kỷ mới là một văn bản nghị luận thực tế, Vũ Khoan đã không ngần ngại thẳng thắn nhìn vào những điểm mạnh và điểm yếu của con người Việt Nam. Từ đó đưa ra lời kêu gọi, lời khuyên có sức cổ vũ lớn, không khiến người đọc phải tự ái, mà thay vào đó giúp mỗi người nhận thức được và xem xét để thay đổi bản thân ngày một tốt hơn, tương lai tham gia vào kiến thiết đất nước.

Văn Bản Trang 23 Sgk Ngữ Văn 10

Văn bản trang 23 SGK Ngữ văn 10

Mỗi văn bản trên được người nói, người viết tao ra trong loại hoạt động nào? Để đáp ứng nhu cầu gì? Dung lượng (số câu) ở mỗi văn bản như thế nào?

KIẾN THỨC CƠ BẢN

1. Văn bản là sản phẩm của hoạt động ngôn ngữ dùng trong giao tiếp, được diễn đạt bằng hình thức nói hoặc viết.

2. Các đặc điểm của văn bản:

+ Liên kết câu chặt chẽ, các ý được kết cấu mạch lạc như có trình tự.

+ Văn bản có dấu hiệu mở đầu và kết thúc.

+ Mỗi văn bản nhằm thực hiện một mục đích giao tiếp nhất định.

4. HS biết vận dụng kiến thức trên vào việc tạo lập văn bản.

HƯỚNG DẪN TRẢ LỜI CÂU HỎI

Đọc các văn bản (1), (2), (3) (SGK trang 23, 24) và trả lòi các câu hỏi bên dưới:

Câu 1.Mỗi văn bản trên được người nói, người viết tao ra trong loại hoạt động nào? Để đáp ứng nhu cầu gì? Dung lượng (số câu) ở mỗi văn bản như thế nào? Câu 2: Mỗi văn bản trên đê cập vấn đề gì? vấn đề đó được triển khai nhất quán trong toàn bộ văn bản như thế nào? Câu 3: Mỗi văn bản trên đươc tao ra nhằm muc đích gì?

Gợi ý trả lời

+ Loại hoạt động: được tạo ra trong sinh hoạt hàng ngày, nhằm khuyên nhủ nhau, đúc rút kinh nghiệm trong quan hệ xã hội

+ Dung lượng ngắn, súc tích.

+ Nội dung đề cập tới vấn đề ảnh hưởng của môi trường đến phẩm chất con người.

+ Mục đích: khuyên nhủ nhau giữ gìn phẩm chất và xây dựng môi trường sông lành mạnh.

+ Loại hoạt động: được tạo ra trong hoạt động chính trị, nhằm kêu gọi đồng bào toàn quốc đứng lên chống Pháp.

+ Dung lượng dài hơn các văn bản trên.

+ Nội dung: Kêu gọi nhân dân chống Pháp

+ Mục đích: Thuyết minh.

Văn bản 2:Hai dòng đầu và hai dòng sau có kết cấu tương đương, có ý nghĩa giá trị và hình thức gần giống nhau, đứng cạnh nhau, lặp lại mô hình cú pháp và cụm từ “Thân em”.

Băn bản 3: Có kết cấu ba phần

+ Mở đầu: Từ đầu đến “…làm nô lệ” (Nêu tóm tắt tình hình thực tế và lí do phải đứng dậy kháng chiến).

+ Nội dung chính: Tiếp đến “… nhất định về dân tộc ta” (Lời kêu gọi các tầng lóp nhân dân và chiến sĩ, tự vệ, dân quân).

+ Lời kết: Khẳng định niềm tin tất thắng.

Câu 4.Dấu hiêu mở đầu và kết thúc của văn bản (4)

– Dấu hiệu mở đầu là câu hô gọi “Hỡi đồng bào toàn quốc!”.

– Dấu hiệu kết thúc: là hai câu khẩu hiện thể hiện niềm tin và lòng quyết tâm.

II. CÁC LOẠI VĂN BẢN 1. Vấn để và lĩnh vực của văn bản Câu 2: So sánh văn bản (2), (3) với môt bài hoc thuộc môn khoa học khác (văn bản 4) và môt đơn xin nghỉ hoc (5). Rút ra nhận xét:

(HS tự tìm một bài học bất kì của các môn nêu trên – thuộc phong cách ngôn ngữ khoa học, và đơn xin nghỉ học – thuộc phong cách hành chính)