Quyết Định 2178 Qđ Byt

Quyết Định 2178 QĐ Byt, Quyết Định 1319 Năm 2024 Quy Định Về Quy Trình Tiếp Nhận Giải Quyết Tố Giác, Tin Báo Tội Phạm Và Kiế, Quyết Định 1319 Năm 2024 Quy Định Về Quy Trình Tiếp Nhận Giải Quyết Tố Giác, Tin Báo Tội Phạm Và Kiế, Mẫu Số 45-ds Quyết Định Đình Chỉ Giải Quyết Vụ án Dân Sự (dành Cho Thẩm Phán), Quyết Định Hủy Bỏ Quyết Định Không Khởi Tố Vụ An Hình Sự, Giải Quyết Khiếu Nại Quyết Định Kỷ Luật Công Chức, Quyết Định Giải Quyết Cho Người Chấp Hành án Tạm Vắng Nơi Cư Trú, Quyết Định Số 1955 /qĐ-bgdĐt Ngày 30 Tháng 5 Năm 2014 Của Bộ Trưởng Bộ Giáo Dục Và Đào Tạo Và Quyết , Quyết Định Số 1319/qd-bca Về Quy Trình Tiếp Nhận, Giải Quyết Tố Giác, Tin Báo Về Tội Phạm, Quyết Định Số 1955 /qĐ-bgdĐt Ngày 30 Tháng 5 Năm 2014 Của Bộ Trưởng Bộ Giáo Dục Và Đào Tạo Và Quyết, Quyết Định Số 1319/qĐ-bca-c41 Về Quy Trình Tiếp Nhận, Giải Quyết Tố Giác, Tin Báo Về Tội Phạm Và Ki, Quyết Định Số 1319/qĐ-bca-c41 Về Quy Trình Tiếp Nhận, Giải Quyết Tố Giác, Tin Báo Về Tội Phạm Và Ki, Quyết Định Số 1319/qĐ-bca-c41 Về Quy Trình Tiếp Nhận, Giải Quyết Tố Giác, Tin Báo Tộ Phạm Và Kiến Ng, Quyết Định 17/2007/qĐ-bca(c11) Về Quy Trình Điều Tra, Giải Quyết Tai Nạn Giao Thông Đường Thủy Do Bộ, Quyết Định Số 1319/qĐ-bca-c41 Về Quy Trình Tiếp Nhận, Giải Quyết Tố Giác, Tin Báo Tộ Phạm Và Kiến Ng, Quyet Dinh So 1319/qd-bca Ve Quy Trinh Tiep Nhan, Giai Quyet To Giac, Tin Bao Ve Toi Pham Va Kien Ng, Quyet Dinh So 1319/qd-bca Ve Quy Trinh Tiep Nhan, Giai Quyet To Giac, Tin Bao Ve Toi Pham Va Kien Ng, Quyết Định 17/2007/qĐ-bca(c11) Về Quy Trình Điều Tra, Giải Quyết Tai Nạn Giao Thông Đường Thủy Do Bộ, Quyết Định Số 51 Nghị Quyết Trung ương 6 Khóa 11, Giải Quyết Khiếu Nại Quyết Định Kỷ Luật, Nghị Quyết Khác Gì Quyết Định, Nghị Quyết Khác Quyết Định Như Thế Nào, Quyết Định Giải Quyết Khiếu Nại Lần Đầu, Nghị Quyết Khác Quyết Định, Quyết Định Giải Quyết Khiếu Nại, Quyết Định Số 487/qĐ-bnn-tcc Ngày 26/02/2007 Của Bộ Nn Và Ptnt Về Việc Ban Hành Định Mức Điều Tra Qu, Quyết Định Ban Hành Tiêu Chuẩn Định Mức Sử Dụng Máy Móc Thiết Bị Chuyên Dù, Quyết Định Ban Hành Quy Định Tuyển Sinh Và Đào Tạo Trình Độ Tiến Sĩ, Quyết Định Số 875-qĐ/tu, Ngày 12/3/2013 Quy Định Một Số Vấn Đề Về Quản Lý Cán Bộ, Đảng Viên, Giấy Đề Nghị Hỗ Trợ Theo Mẫu (Được Đính Kèm Trong Quyết Định), Quyết Định Ban Hành Quy Định Công Tác Học Vụ Dành Cho Sinh Viên, Quyết Định 21 Của Thủ Tướng Ban Hành Quy Định Về Hạn Mức Trả Tiền Bảo Hiểm Có Hiệu Lực, Một Người Chồng Quyết Định ở Nhà Để Chăm Sóc Việc Gia Đình, Theo Các Nhà Thống Kê Lao Động Thì, Tại Sao Việc Xác Định Động Cơ Vào Đảng Đúng Đắn Được Đặt Lên Hàng Đầu Và Có ý Nghĩa Quyết Định, Chiến Lược Phát Triển Gia Đình Việt Nam Đến Năm 2024, Tầm Nhìn 2030 – Quyết Định Số 629/qĐ-ttg Của T, Chiến Lược Phát Triển Gia Đình Việt Nam Đến Năm 2024, Tầm Nhìn 2030 – Quyết Định Số 629/qĐ-ttg Của T, Quyết Định Về Việc Ban Hành Quy Định Đào Tạo Trình Độ Thạc Sĩ, Quyết Định Ban Hành Quy Định Về Chức Năng Nhiệm Vụ, Quyết Định Ban Hành Quy Định Về Việc Học Và Kiểm Tra Chuẩn Đầu Ra, Quyết Định Ban Hành Qui Định Chương Trình Dự Bị Tiến Sĩ, Quyết Định 790/qĐ-btc Ngày 30/03/2012 Quy Định Về Chế Độ Quản Lý Tài Sản Nhà Nước, Quyết Định Ban Hành Định Mức Tiêu Hao Nhiên Liệu, Quyết Định 3989-qĐ/vptw Ngày 16/8/2024 Của Văn Phòng Trung ương Đảng Quy Định Về Chế Độ Chi Tổ Chức , Quyết Định 3989-qĐ/vptw Ngày 16/8/2024 Của Văn Phòng Trung ương Đảng Quy Định Về Chế Độ Chi Tổ Chức , Quyết Định 3989-qĐ/vptw Ngày 16/8/2024 Của Văn Phòng Trung ương Đảng Quy Định Về Chế Độ Chi Tổ Chức, Quyết Định 149/qĐ-hĐtv-tckt Ngày 28/02/2014 “về Ban Hành Quy Định Tổ Chức Giao Dịch Với Khách Hàng T, Quyết Định 149/qĐ-hĐtv-tckt Ngày 28/02/2014 “về Ban Hành Quy Định Tổ Chức Giao Dịch Với Khách Hàng T, Quyết Định Ban Hành Quy Định Đào Tạo Trình Độ Tiến Sĩ, Quyết Định Ban Hành Định Mức Kinh Tế – Kỹ Thuật, Quyết Định Số 1221 Quy Định Về Vệ Sinh Trường Học, Quyết Định Kỷ Luật Đồng Chí Đinh La Thăng, Quyết Định Ban Hành Quy Định Về Trích Dẫn Và Chống Đạo Văn, Quyết Định Quy Định Tiêu Chuẩn Nhà ở Công Vụ, Mẫu Quyết Định Giải Quyết Đơn Tố Cáo, Nghị Quyết Quyết Định, Quyết Định Ban Hành Quy Định Về Đạo Đức Nhà Giáo, Quyết Định Kỷ Luật ông Đinh La Thăng, Quyet Dinh Thanh Lap Hoi Dong Dinh Gia Tai San, Quyết Định Ban Hành Định Mức Sản Xuất, To Trinh Ra Quyết Định Chỉ Định Pho Trưởng Ap, Quyết Định Ban Hành Quy Định Mở Ngành Đào Tạo, Biên Bản Bàn Giao Tài Sản Cố Định Quyết Định 15, Quyết Định Kỷ Luật Đinh La Thăng, Quyết Định Ban Hành Kèm Theo Quy Định, Quyết Định Ban Hành Quy Định Về Tổ Chức Hội Họp, Quyết Định Số 149/2002/qĐ-bqp Ngày 15 Tháng 10 Năm 2002 Của Bộ Trưởng Bộ Quốc Phòng Về Việc Quy Định, Quyết Định Số 149/2002/qĐ-bqp Ngày 15 Tháng 10 Năm 2002 Của Bộ Trưởng Bộ Quốc Phòng Về Việc Quy Định, Quyết Định Ban Hành Định Mức, Quyết Định Ban Hành Quy Định, Quyết Định Chỉ Định Thầu, Quyết Định Số 16 Quy Định Về Đạo Đức Nhà Giáo, Mẫu Quyết Định Chỉ Định Thầu, Quyết Định Chỉ Định Bổ Sung Ban Chi ủy, Quyết Định Số 2088 Quy Định Về Y Đức, Quyết Định Đình Chỉ Công Tác, Quyết Định Đình Chỉ Vụ án Hình Sự, Quyết Định 458/qĐ-ubnd Ngày 15 Tháng 2 Năm 2024 Của Ubnd Tỉnh Bình Định, Quyết Định 2530quyết Định Số 2530/2000/qĐ-bqp Ngày 02/11/2000 Của Bộ Trưởng Bộ Quốc , Quyết Định Số 93 Về Cơ Chế Một Cửa, Quyết Định Số 87/qĐ-ttg, Sao Y Quyết Định, Quyết Định Số 846/qĐ-ttg, Quyết Định Số 875-qĐ/tu, Quyết Định 76, Quyết Định Số 856/qĐ-ttg, Quyết Định Số 43 Của Bộ Y Tế, Quyết Định 1/500 Là Gì, Quyết Định Đi Học Lại, Quyết Định 1/500, Quyết Định Số 893, Quyết Định Số 877/qĐ-ttg, Quyết Định 100, Ra Quyết Định Là Gì, Quyết Định Số Đẹp, Quyết Định Số Là Gì, Quyết Định 79/qĐ-bxd Pdf, Quyết Định Đi Học, Quyết Định Dẹp Vỉa Hè, Quyết Định Đầu Tư Là Gì, Quyết Định Đầu Tư,

Quyết Định 2178 QĐ Byt, Quyết Định 1319 Năm 2024 Quy Định Về Quy Trình Tiếp Nhận Giải Quyết Tố Giác, Tin Báo Tội Phạm Và Kiế, Quyết Định 1319 Năm 2024 Quy Định Về Quy Trình Tiếp Nhận Giải Quyết Tố Giác, Tin Báo Tội Phạm Và Kiế, Mẫu Số 45-ds Quyết Định Đình Chỉ Giải Quyết Vụ án Dân Sự (dành Cho Thẩm Phán), Quyết Định Hủy Bỏ Quyết Định Không Khởi Tố Vụ An Hình Sự, Giải Quyết Khiếu Nại Quyết Định Kỷ Luật Công Chức, Quyết Định Giải Quyết Cho Người Chấp Hành án Tạm Vắng Nơi Cư Trú, Quyết Định Số 1955 /qĐ-bgdĐt Ngày 30 Tháng 5 Năm 2014 Của Bộ Trưởng Bộ Giáo Dục Và Đào Tạo Và Quyết , Quyết Định Số 1319/qd-bca Về Quy Trình Tiếp Nhận, Giải Quyết Tố Giác, Tin Báo Về Tội Phạm, Quyết Định Số 1955 /qĐ-bgdĐt Ngày 30 Tháng 5 Năm 2014 Của Bộ Trưởng Bộ Giáo Dục Và Đào Tạo Và Quyết, Quyết Định Số 1319/qĐ-bca-c41 Về Quy Trình Tiếp Nhận, Giải Quyết Tố Giác, Tin Báo Về Tội Phạm Và Ki, Quyết Định Số 1319/qĐ-bca-c41 Về Quy Trình Tiếp Nhận, Giải Quyết Tố Giác, Tin Báo Về Tội Phạm Và Ki, Quyết Định Số 1319/qĐ-bca-c41 Về Quy Trình Tiếp Nhận, Giải Quyết Tố Giác, Tin Báo Tộ Phạm Và Kiến Ng, Quyết Định 17/2007/qĐ-bca(c11) Về Quy Trình Điều Tra, Giải Quyết Tai Nạn Giao Thông Đường Thủy Do Bộ, Quyết Định Số 1319/qĐ-bca-c41 Về Quy Trình Tiếp Nhận, Giải Quyết Tố Giác, Tin Báo Tộ Phạm Và Kiến Ng, Quyet Dinh So 1319/qd-bca Ve Quy Trinh Tiep Nhan, Giai Quyet To Giac, Tin Bao Ve Toi Pham Va Kien Ng, Quyet Dinh So 1319/qd-bca Ve Quy Trinh Tiep Nhan, Giai Quyet To Giac, Tin Bao Ve Toi Pham Va Kien Ng, Quyết Định 17/2007/qĐ-bca(c11) Về Quy Trình Điều Tra, Giải Quyết Tai Nạn Giao Thông Đường Thủy Do Bộ, Quyết Định Số 51 Nghị Quyết Trung ương 6 Khóa 11, Giải Quyết Khiếu Nại Quyết Định Kỷ Luật, Nghị Quyết Khác Gì Quyết Định, Nghị Quyết Khác Quyết Định Như Thế Nào, Quyết Định Giải Quyết Khiếu Nại Lần Đầu, Nghị Quyết Khác Quyết Định, Quyết Định Giải Quyết Khiếu Nại, Quyết Định Số 487/qĐ-bnn-tcc Ngày 26/02/2007 Của Bộ Nn Và Ptnt Về Việc Ban Hành Định Mức Điều Tra Qu, Quyết Định Ban Hành Tiêu Chuẩn Định Mức Sử Dụng Máy Móc Thiết Bị Chuyên Dù, Quyết Định Ban Hành Quy Định Tuyển Sinh Và Đào Tạo Trình Độ Tiến Sĩ, Quyết Định Số 875-qĐ/tu, Ngày 12/3/2013 Quy Định Một Số Vấn Đề Về Quản Lý Cán Bộ, Đảng Viên, Giấy Đề Nghị Hỗ Trợ Theo Mẫu (Được Đính Kèm Trong Quyết Định), Quyết Định Ban Hành Quy Định Công Tác Học Vụ Dành Cho Sinh Viên, Quyết Định 21 Của Thủ Tướng Ban Hành Quy Định Về Hạn Mức Trả Tiền Bảo Hiểm Có Hiệu Lực, Một Người Chồng Quyết Định ở Nhà Để Chăm Sóc Việc Gia Đình, Theo Các Nhà Thống Kê Lao Động Thì, Tại Sao Việc Xác Định Động Cơ Vào Đảng Đúng Đắn Được Đặt Lên Hàng Đầu Và Có ý Nghĩa Quyết Định, Chiến Lược Phát Triển Gia Đình Việt Nam Đến Năm 2024, Tầm Nhìn 2030 – Quyết Định Số 629/qĐ-ttg Của T, Chiến Lược Phát Triển Gia Đình Việt Nam Đến Năm 2024, Tầm Nhìn 2030 – Quyết Định Số 629/qĐ-ttg Của T, Quyết Định Về Việc Ban Hành Quy Định Đào Tạo Trình Độ Thạc Sĩ, Quyết Định Ban Hành Quy Định Về Chức Năng Nhiệm Vụ, Quyết Định Ban Hành Quy Định Về Việc Học Và Kiểm Tra Chuẩn Đầu Ra, Quyết Định Ban Hành Qui Định Chương Trình Dự Bị Tiến Sĩ, Quyết Định 790/qĐ-btc Ngày 30/03/2012 Quy Định Về Chế Độ Quản Lý Tài Sản Nhà Nước, Quyết Định Ban Hành Định Mức Tiêu Hao Nhiên Liệu, Quyết Định 3989-qĐ/vptw Ngày 16/8/2024 Của Văn Phòng Trung ương Đảng Quy Định Về Chế Độ Chi Tổ Chức , Quyết Định 3989-qĐ/vptw Ngày 16/8/2024 Của Văn Phòng Trung ương Đảng Quy Định Về Chế Độ Chi Tổ Chức , Quyết Định 3989-qĐ/vptw Ngày 16/8/2024 Của Văn Phòng Trung ương Đảng Quy Định Về Chế Độ Chi Tổ Chức, Quyết Định 149/qĐ-hĐtv-tckt Ngày 28/02/2014 “về Ban Hành Quy Định Tổ Chức Giao Dịch Với Khách Hàng T, Quyết Định 149/qĐ-hĐtv-tckt Ngày 28/02/2014 “về Ban Hành Quy Định Tổ Chức Giao Dịch Với Khách Hàng T, Quyết Định Ban Hành Quy Định Đào Tạo Trình Độ Tiến Sĩ, Quyết Định Ban Hành Định Mức Kinh Tế – Kỹ Thuật, Quyết Định Số 1221 Quy Định Về Vệ Sinh Trường Học,

Quy Định Về Quản Lý Chất Thải Y Tế Theo Tt58 Byt

Published on

Hướng dẫn thực hiện quy định Quản lý chất thải y tế trong các cơ sở y tế trên toàn quốc

1. QUY ĐỊNH VỀ QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN Y TẾ THEO QUY ĐỊNH TẠI THÔNG TƯ LIÊN TỊCH SỐ 58/2024/TTLT-BYT-BTNMT 1

3. 2. Tỷ trọng các loại chất thải rắn trong cơ sở y tế như thế nào? – CTRYT thông thường? – CTRYT nguy hại? – CTRYT lây nhiễm? 3

4. Một số thông tin về chất thải rắn YT  Chất thải rắn trong CSYT gồm: – Trung bình 1 giường bệnh thải 0,86kg/gb/ngày, – Trong đó: 80-90%: CTRYT thông thường và 10-20% CTR nguy hại – Trung bình 0,14-0,2 kg CTR nguy hại/gb/ngày  Lượng CTRYT toàn quốc trong 1 ngày khoảng 450 tấn và sẽ tới 600 tấn vào 2024. (website Cục MTYT 2024 và Báo cáo Môi trường quốc gia năm 2011 về chất thải rắn y tế) * Chất thải rắn trong cơ sở Y tế: – 85% CTRYT thông thường – 15 % CTRYT nguy hại, trong đó: + 5% CTRYT lây nhiễm + 10% CTRYT hóa chất (WHO, Safe management of wastes from health care activities, 2013) 4

5. 3. Tại sao phải thực hiện quy định quản lý chất thải y tế? 5

6. Lý do phải thực hiện QLCTYT  Quy định của pháp luật  An toàn: NB, NVYT và cộng đồng  Kinh tế 6

7. 4. Những khó khăn nào gặp phải trong quản lý chất thải rắn y tế tại BV? 7

8. 5. Thông tư 58/2024/TTLT-BYT-BTNMT có hiệu lực từ 01/04/2024 có điều gì khác so với quy chế QLCTYT tại QĐ 43/2007/QĐ-BYT? 8

9. 9 1. Trung bình một ngày, một giường bệnh thải ra bao nhiêu CTRYT nguy hại?

10. Phần I. 14 điểm lưu ý tại thông tư 58/2024/TTLT-BYT-BTNMT với quyết định 43/2007/QĐ-BYT 10

11. 1. Phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng Quyết định 43/2007/QĐ-BYT – Áp dụng cho cả các cơ sở sản xuất, kinh doanh dược phẩm; -Quy định cho cả chất thải phóng xạ Điều 1,2 Thông tư 58/2024/TTLT-BYT- BTNMT 11 -Không quy định đối với đối tượng sản xuất-kinh doanh dược phẩm và một số loại hình như mai táng, hỏa táng, CT phóng xạ phát sinh từ hoạt động YT (trừ PKBS gia đình; P chẩn trị YHCT; CSDV đếm mạch, đo nhiệt độ, đo huyết áp; CSSK tại nhà; cơ sở DV vận chuyển NB; cơ sở DV kính thuốc; cơ sở DV làm răng giả; bệnh xá; YT cơ quan, đơn vị, tổ chức được hướng dẫn tại VB khác); -Không quy định đối với chất thải phóng xạ do đã được quy định trong VB khác Điều 1,2, phụ lục 01 A

13. 3. Phân loại chất thải Quyết định 43/2007/QĐ-BYT 05 nhóm: 1. CT lây nhiễm; 2. Chất thải hóa học nguy hại; 3. Chất thải phóng xạ; 4. Bình chứa áp suất; 5. Chất thải thông thường. 0 linh hoạt trong phân loại CTRYT khi CSYT áp dụng cùng một biện pháp cho các loại chất thải y tế khác nhau Điều 5,6,13 Thông tư 58/2024/TTLT-BYT- BTNMT 01 Khoản về nguyên tắc phân loại, 03 nhóm: 1. Chất thải lây nhiễm; 2. Chất thải nguy hại không lây nhiễm; 3. Chất thải thông thường. Có linh hoạt trong phân loại đối với các CSYT áp dụng cùng phương pháp xử lý cho nhiều loại CT khác nhau Điều 6 13

14. 4. Tiêu chuẩn, bao bì, dụng cụ đựng chất thải y tế Quyết định 43/2007/QĐ-BYT Đưa ra tiêu chuẩn chi tiết, cụ thể cho bao bì lưu chứa chất thải Điều 7, 8, 9, 10 Thông tư 58/2024/TTLT-BYT- BTNMT Không quy định chi tiết cụ thể tiêu chuẩn bao bì, dụng cụ mà chỉ quy định về các điều kiện an toàn trong phân loại, thu gom, lưu giữ chất thải cho bao bì Điều 5 14

15. 5. Mã màu của bao bì, dụng cụ đựng chất thải y tế Quyết định 43/2007/QĐ-BYT 04 màu truyền thống đã sử dụng Điều 7 Thông tư 58/2024/TTLT-BYT- BTNMT 04 màu như Quyết định 43/2007/QĐ-BYT Điều 5 15

16. 6. Biểu tượng Quyết định 43/2007/QĐ-BYT Quy định biểu tượng cho các loại CTLN, gây độc tế bào, P Xạ, tái chế. Tuy nhiên chưa quy định thống nhất về thiết kế, màu sắc theo quy định Bộ TN&MT Điều 11 Thông tư 58/2024/TTLT-BYT- BTNMT Quy định biểu tượng cho các loại CTLN, gây độc tế bào, chất thải chứa chất độc hại, chất thải tái chế và quy định về thiết kế, màu sắc phù hợp với quy định của Bộ TN&MT Điều 5 16

17. 7. Thu gom chất thải y tế Quyết định 43/2007/QĐ-BYT -Quy định khi đến ¾ vạch trên các túi, thùng thì thu gom; -Không quy định cho thu gom CTLNSN đối với cơ sở y tế đặc thù; -Không quy định thu gom chất thải thủy ngân Điều 14 Thông tư 58/2024/TTLT-BYT- BTNMT – Không quy định tiêu chuẩn vạch cho túi, dụng cụ mà chỉ quy định quá trình thu gom đảm bảo miệng túi kín, dụng cụ đậy kín và không rơi vãi trong quá trình thu gom; – Quy định tần suất thu gom: ít nhất một lần/ngày. Tuy nhiên có quy định cho CSYT có lượng CTLN phát sinh dưới 5kg/ngày, tần suất thu gom CTSN tối thiểu 01 lần/tháng – Có quy định thu gom chất thải thủy ngân Điều 7 17

18. 8. Lưu giữ chất thải Quyết định 43/2007/QĐ-BYT Không quy định đối với thời gian lưu giữ chất thải y tế thu gom từ các cơ sở y tế khác về xử lý Điều 16 Thông tư 58/2024/TTLT-BYT-BTNMT Có quy định thời gian lưu giữ chất thải y tế của các CSYT khác về xử lý: -Ưu tiên xử lý ngay trong ngày và không để quá 02 ngày; -Lưu giữ chất thải lây nhiễm trong thiết bị bảo quản lạnh <80 c, thời gian lưu trữ tối đa là 07 ngày. Điều 8 18

21. 11. Xử lý chất thải y tế Quyết định 43/2007/QĐ-BYT Quy định cụ thể về hình thức, công nghệ và phương pháp xử lý cho một số loại chất thải Điều 19-27, 29,30 Thông tư 58/2024/TTLT-BYT- BTNMT Chỉ quy định về hình thức xử lý, không quy định về công nghệ xử lý Điều 13 21

22. 12. Chế độ báo cáo Quyết định 43/2007/QĐ-BYT Không có quy định Thông tư 58/2024/TTLT-BYT- BTNMT Quy định tại Điều 16 22

25. Phần II. Quy định về Quản lý chất thải y tế theo Thông tư 58/2024/TTLT-BYT-BNV 25

26. Điều 1. Phạm vi điều chỉnh 1. Quy định chi tiết Khoản 6, Khoản 7 Điều 49 Nghị định số 38/2024/NĐ-CP ngày 24 tháng 4 năm 2024 của Chính phủ quy định về quản lý chất thải và phế liệu 2. Không điều chỉnh về QLCT phát sinh từ hoạt động mai táng, hỏa táng và chất thải phóng xạ phát sinh từ hoạt động y tế. 26

28. Điều 3. Giải thích từ ngữ  CHẤT THẢI Y TẾ (CTYT) là chất thải phát sinh trong quá trình hoạt động của các cơ sở y tế, bao gồm chất thải y tế nguy hại, chất thải y tế thông thường và nước thải y tế;  CTYT NGUY HẠI là chất thải y tế chứa yếu tố lây nhiễm hoặc có đặc tính nguy hại khác vượt ngưỡng chất thải nguy hại, bao gồm chất thải lây nhiễm và chất thải nguy hại không lây nhiễm  QUẢN LÝ CTYT là quá trình giảm thiểu, phân định, phân loại, thu gom, lưu giữ, vận chuyển, tái chế, xử lý chất thải y tế và giám sát quá trình thực hiện 28

29. Điều 4. Phân định 29

30. BAO BÌ, DỤNG CỤ, THIẾT BỊ CHỨA CTYT 30

31. Điều 5. Bao bì, thiết bị, dụng cụ đựng CTYT 1. Có biểu tượng theo quy định tại Phụ lục số 02 2. Bảo đảm an toàn, chống thấm, kích thước phù hợp 3. Màu sắc: 4. Không làm bằng nhựa PVC n u x lý b ng ph ng phápế ử ằ ươ đốt. 5. Có nắp đóng, mở thuận tiện trong quá trình sử dụng. 6. Thùng, hộp đựng chất thải sắc nhọn phải có thành, đáy cứng không bị xuyên thủng (ngoài quy định tại các khoản trên). 7. Thùng, hộp đựng CT có thể tái sử dụng sau khi được làm sạch và để khô. 31

32. Nhận diện và lý do không dùng chất liệu PVC ? Chất liệu Thành phần Đặc điểm PVC Polyvinylclorua Nhựa có tỷ trọng 1,25-1,46 g/1 cm3 (nặng hơn nước)  chìm trong nước, đốt có ngọn lựa xanh lá cây gây độc bởi phụ gia chứa halogen PE Polyetylen Nhựa, không độc, có tỷ trọng từ 0,88- 0,965 g/1cm3 (nhẹ hơn nước)  nổi trong nước PP Polypropylen Nhựa, không độc, có tỷ trọng thấp 0,85- 0,95 g/cm3 (nhẹ hơn nước)  nổi trong nước, đốt có màu xanh nhạt 32

34. Lọ đựng vật sắc nhọn tự tạo không đạt yêu cầu 34

35. Các mẫu thùng, hộp đựng chất thải y tế sắc nhọn 35

36. Xử lý các hộp/thùng đựng chất thải y tế để dùng lại 36

37. PHÂN LO I, THU GOM T IẠ Ạ KHOA/PHÒNG 37

38. Đâu là chất thải lây nhiễm? 38

39. Đâu là chất thải nguy cơ lây nhiễm cao? 39

40. 40 Chất thải gì vậy nhỉ?

41. Loại gì? 41

42. PHÂN LOẠI 43

43. Điều 6.2. Phân loại và màu sắc phương tiện chứa a) Chất thải lây nhiễm sắc nhọn: Thùng hoặc hộp cứng màu vàng; b) Chất thải lây nhiễm không sắc nhọn: Túi hoặc trong thùng có lót túi và có màu vàng; c) Chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao: Túi hoặc trong thùng có lót túi và có màu vàng; d) Chất thải giải phẫu: 2 lần túi hoặc trong thùng có lót túi và có màu vàng; đ) Chất thải nguy hại không lây nhiễm dạng rắn: Túi hoặc trong thùng có lót túi và có màu đen; e) Chất thải nguy hại không lây nhiễm dạng lỏng: Các dụng cụ có nắp đậy kín; g) Chất thải y tế thông thường không phục vụ mục đích tái chế: Túi hoặc trong thùng có lót túi và có màu xanh; h) Chất thải y tế thông thường phục vụ mục đích tái chế: Túi hoặc trong thùng có lót túi và có màu trắng. 45 Lưu ý: Thùng chứa CTRYT phải có túi lót và màu phù hợp với phân loại chất thải cả túi và thùng

44. Điều 6.3. Vị trí đặt bao bì, dụng cụ phân loại a) Mỗi khoa, phòng, bộ phận phải bố trí vị trí để đặt các bao bì, dụng cụ phân loại chất thải y tế; b) Vị trí đặt bao bì, dụng cụ phân loại chất thải y tế phải có hướng dẫn cách phân loại và thu gom chất thải. 46

45. Góc để thùng thu gom chất thải y tế tại buồng bệnh 47

46. Phòng chuẩn bị dụng cụ 48

47. 49 Đổi màu sọt Đổi màu xô

48. Phòng khám răng 50 Đổi màu xô

49. Trong phòng mổ 51 Đổi màu xô Đổi màu xô

50. 52 Thu gom CTRYT khi chăm sóc, phục vụ người bệnh

51. 53 Sắp xếp phương tiện thu gom CTRYT trên xe tiêm, xe thủ thuật

52. THU GOM 54

53. Điều 7.1. Thu gom chất thải lây nhiễm a) Thu gom riêng từ nơi phát sinh về khu vực lưu giữ trong khuôn viên cơ sở YT; b) Trong quá trình thu gom, túi đựng chất thải phải buộc kín, thùng đựng chất thải phải có nắp đậy kín, bảo đảm không bị rơi, rò rỉ chất thải trong quá trình thu gom; c) CSYT quy định tuyến đường và thời điểm thu gom phù hợp; d) CT có nguy cơ lây nhiễm cao phải xử lý sơ bộ trước khi thu gom về khu lưu giữ, xử lý chất thải trong khuôn viên cơ sở y tế; đ) Tần suất thu gom chất thải lây nhiễm từ nơi phát sinh về khu lưu giữ chất thải trong khuôn viên cơ sở y tế ít nhất 01 (một) lần/ngày; e) CSYT có lượng CT lây nhiễm phát sinh dưới 05 kg/ngày, tần suất thu gom chất thải lây nhiễm sắc nhọn từ nơi phát sinh về khu lưu giữ tạm thời trong khuôn viên cơ sở y tế hoặc đưa đi xử lý, tiêu hủy tối thiểu là 01 (một) lần/tháng. 55

54. Điều 7.2. Thu gom CT nguy hại không lây nhiễm và CT thông thường 2. Chất thải nguy hại không lây nhiễm: a) Thu gom, lưu giữ riêng tại khu lưu giữ chất thải trong khuôn viên cơ sở y tế; b) Chất hàn răng amalgam thải và thiết bị y tế bị vỡ, hỏng, đã qua sử dụng có chứa thủy ngân: được thu gom và lưu giữ riêng trong các hộp bằng nhựa hoặc các vật liệu phù hợp và bảo đảm không bị rò rỉ hay phát tán hơi thủy ngân ra môi trường. 3. Chất thải y tế thông thường: Chất thải y tế thông thường phục vụ mục đích tái chế và chất thải y tế thông thường không phục vụ mục đích tái chế được thu gom riêng. 56

55. Bạn chọn xe nào để vận chuyển chất thải y tế trong nội bộ?

56. LƯU GIỮ 58

57. Điều 8.1. Khu vực lưu giữ Yêu cầu với cơ sở lưu giữ tại CSYT: a) CSYT thực hiện xử lý chất thải y tế nguy hại cho cụm CSYT và BV phải có khu vực lưu giữ chất thải y tế nguy hại đáp ứng các yêu cầu kỹ thuật theo quy định tại Phụ lục số 03 (A); b) CSYT không thuộc đối tượng quy định tại Điểm a phải có khu vực lưu giữ CTYTNH đáp ứng các yêu cầu kỹ thuật theo quy định tại Phụ lục số 03 (B). 59

58. Điều 8.2. Dụng cụ, thiết bị lưu giữ CTYT nguy hại trong CSYT Phải đáp ứng các yêu cầu sau: a) Thành cứng, không bị bục vỡ, rò rỉ dịch thải; b) Có biểu tượng loại chất thải lưu giữ; c) Có nắp đậy kín và chống được sự xâm nhập của các loài động vật; d) DC, thiết bị lưu chứa hóa chất thải được làm bằng vật liệu không có phản ứng với chất thải lưu chứa, chống được sự ăn mòn. CT hóa chất dạng lỏng phải có nắp đậy kín chống bay hơi và tràn đổ chất thải. 60

59. Điều 8. Các quy định khác về lưu giữ CTYT 3. Phải lưu giữ riêng CTYTNH và CTYT thông thường tại khu vực lưu giữ trong CSYT. 4. CTLN và CTNH không lây nhiễm phải lưu giữ riêng trừ trường hợp các loại chất thải này áp dụng cùng một phương pháp xử lý. 5. CTYT thông thường tái chế và CTYT thông thường không tái chế được lưu giữ riêng. 6. Thời gian lưu giữ chất thải lây nhiễm: a) CTLN phát sinh tại CSYT: < 02 ngày ở ĐK thường (< 3 ngày với cơ sở có < 5 kg) và < 07 ngày trong thiết bị bảo quản lạnh dưới 8°C. CT phải được lưu giữ trong các bao bì được buộc kín hoặc thiết bị lưu chứa được đậy nắp kín; b) CTLN từ CSYT khác chuyển đến: ưu tiên xử lý trong ngày, nếu chưa xử lý ngay, phải giữ ở nhiệt độ < 20°C và < 02 ngày. 7. Đã thực hiện theo TT 58 rồi thì không phải thực hiện các quy định tại Khoản 2 Điều 7 Thông tư số 36/2024/TT-BTNMT. 61

60. 62 Phương tiện trên có đảm bảo quy định của TT 58 không?

61. 63 Đóng gói CTRYT trước khi vận chuyển ra khỏi khoa phòng

62. Lưu giữ CTRYT có phù hợp? 64

63. Lưu giữ chất thải y tế tại cơ sở YT như trong ảnh có khó khăn? 65

64. Bên trong nhà lưu giữ chất thải y tế 66

65. GIẢM THIỂU 67

66. Điều 9. Giảm thiểu 1. Lắp đặt, sử dụng các thiết bị, dụng cụ, thuốc, hóa chất và các nguyên vật liệu phù hợp, bảo đảm hạn chế phát sinh chất thải y tế. 2. Đổi mới thiết bị, quy trình trong hoạt động y tế nhằm giảm thiểu phát sinh chất thải y tế. 3. Quản lý và sử dụng vật tư hợp lý và hiệu quả. 68

67. QUẢN LÝ NHẰM MỤC ĐÍCH TÁI CHẾ 69

68. Điều 10. Tái chế 1. Chỉ được phép tái chế CTYT thông thường và CT quy định tại Khoản 3 Điều này. 2. Không sử dụng vật liệu tái chế từ CTYT để sản xuất các đồ dùng, bao gói sử dụng trong lĩnh vực thực phẩm. 3. CTLN sau khi xử lý đạt QCKT quốc gia về môi trường được quản lý như chất thải y tế thông thường. 4. Ngoài các quy định tại Khoản 1, Khoản 2, khi chuyển giao chất thải quy định tại Khoản 3 để tái chế, CSYT phải thực hiện: a) Buộc kín bao bì và có biểu tượng chất thải tái chế theo quy định tại Phụ lục số 02; b) Ghi đầy đủ thông tin vào Sổ bàn giao chất thải phục vụ mục đích tái chế theo mẫu quy định tại Phụ lục số 04 70

69. V N CHUY N CTYT NGUYẬ Ể H I Đ X LÝ THEO MÔẠ Ể Ử HÌNH C MỤ 71

70. Điều 11. Vận chuyển trong cụm xử lý 1. Các hình thức: a) CSYT thuê ĐV vận chuyển: lưu ý ĐV hợp pháp (GP). Chủ xử lý CTNH, chủ hành nghề QL CTNH tham gia vận chuyển chất thải y tế trong cụm nhưng ngoài phạm vi của giấy phép phải báo cáo CQ cấp giấy phép trước khi thực hiện theo quy định tại Khoản 5 Điều 23 Thông tư số 36/2024/TT-BTNMT; b) CSYT tự vận chuyển hoặc thuê đơn vị khác không thuộc đối tượng quy định tại Điểm a để vận chuyển CTYTNH phải đáp ứng các quy định tại Khoản 2, 3 và Khoản 4 Điều này và phải được UBND tỉnh/TP phê duyệt tại kế hoạch thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải y tế trên địa bàn tỉnh. 2. Phương tiện: CSYT được thuê vận chuyển, sử dụng xe thùng kín, hoặc xe bảo ôn chuyên dụng hoặc phương tiện vận chuyển khác để vận chuyển từ CSYT đến CS xử lý cho cụm nhưng phải đáp ứng yêu cầu tại Khoản 3 và Khoản 4 Điều này. 72

71. Điều 11. Vận chuyển trong cụm xử lý (tiếp) 3. DC, thiết bị lưu chứa CTYTNH hại trên phương tiện vận chuyển : a) Có thành, đáy, nắp kín, kết cấu cứng, chịu được va chạm, không bị rách vỡ bởi trọng lượng chất thải, bảo đảm an toàn trong quá trình vận chuyển; b) Có biểu tượng về loại chất thải lưu chứa theo quy định tại Phụ lục số 02 với kích thước phù hợp, được in rõ ràng, dễ đọc, không bị mờ và phai màu trên thiết bị lưu chứa chất thải; c) Được lắp cố định hoặc có thể tháo rời trên phương tiện vận chuyển và bảo đảm không bị rơi, đổ trong quá trình vận chuyển chất thải. 4. CTLN trước khi vận chuyển phải được đóng gói trong các thùng, hộp hoặc túi kín, bảo đảm không bị bục, vỡ hoặc phát tán chất thải trên đường vận chuyển. 5. Trong quá trình vận chuyển chất thải y tế từ CSYT về cơ sở xử lý CTYT cho cụm, khi xảy ra tràn đổ, cháy, nổ chất thải y tế hoặc các sự cố khác phải thực hiện ngay các biện pháp ứng phó, khắc phục sự cố môi trường theo quy định của pháp luật. 73

72. Điều 12. Vận chuyển CTYT theo mô hình tập trung 1. Vận chuyển CTNH không lây nhiễm: thực hiện theo quy định tại Điều 8 Thông tư số 36/2024/TT-BTNMT. 2. Vận chuyển CTLN: thực hiện theo quy định tại Khoản 1 Điều này và phải đáp ứng các yêu cầu sau: a) CTLN trước khi vận chuyển phải được đóng gói trong các bao bì, dụng cụ kín, bảo đảm không bục, vỡ hoặc phát tán chất thải trên đường vận chuyển; b) Thùng của phương tiện chuyên dụng để vận chuyển chất thải lây nhiễm là loại thùng kín hoặc thùng được bảo ôn; c) Các khu vực không sử dụng được phương tiện vận chuyển chuyên dụng để vận chuyển chất thải y tế nguy hại, được sử dụng các loại phương tiện vận chuyển khác nhưng phải đáp ứng các quy định tại Khoản 3, Khoản 4 Điều 11 Thông tư này và được ghi trong giấy phép xử lý chất thải nguy hại do cơ quan có thẩm quyền cấp theo quy định tại Thông tư số 36/2024/TT-BTNMT. 3. Vận chuyển CTYT tế thông thường thực hiện theo quy định pháp luật về quản lý chất thải thông thường. 74

73. Phương tiện vận chuyển CTRYT chuyên dụng

74. Phương tiện vận chuyển CTYT cho những cơ sở nhỏ 76

75. Trân trọng cảm ơn 77

Văn Bản; Văn Bản Nghệ Thuật

Văn bản; văn bản nghệ thuật (tiếng Nga : khudojestvennyi tekst)

Với nghĩa rộng :

1) Bản ghi bằng chữ viết hoặc chữ in, một phát ngôn hoặc một thông báo ngôn từ (phân biệt với thực hiện phát ngôn hoặc thông báo ấy bằng nói miệng) ;

2) Phương diện tri giác cảm xúc của tác phẩm được biểu đạt và ghi nhận bằng các kí hiệu ngôn ngữ ;

3) Đơn vị nhỏ nhất tương đối (có tính thống nhất tương đối và tính độc lập tương đối) của giao tiếp bằng ngôn từ.

Với nghĩa hẹp : văn bản tác phẩm văn học, một dạng của “văn bản nghệ thuật” nói chung. Văn bản là một chỉnh thể nghĩa, một khối thống nhất có tổ chức của các thành tố hợp thành, một thông báo mà tác giả (người phát) gửi tới người đọc, người xem (người nhận).

Nghĩa của văn bản được xác định bởi quan hệ của nó với thực tại ngoài văn bản với các văn bản khác, với từng cá nhân, với kí ức và các phẩm chất khác nữa của người phát và người nhận thông báo.

Văn bản thực hiện ba chức năng chính : truyền thông tin, chế biến thông tin mới và bảo quản thông tin (ghi nhớ).

Ở mức cao nhất, văn bản nghệ thuật thực hiện chức năng sáng tạo, là nguồn phát ngôn thông tin mới, Chức năng “nguồn phát” của văn bản nghệ thuật bị quy định bởi tính phức tạp của quan hệ của nó với các yếu tố khác của quá trình giao tiếp và bởi các đặc điểm của từng loại hình nghệ thuật. Quan hệ ngôn ngữ văn bản trong hệ thống nghệ thuật vốn mang tính biện chứng. Bởi vậy, sự tiếp nhận thông tin trong hệ thống văn bản nghệ thuật không bao giờ đơn nghĩa. Người nhận bao giờ cũng ở trong quan hệ đồng sáng tạo với thông báo được nhận : anh ta phải giải mã nó, tức là chọn một mã ý nghĩa thích hợp hoặc thậm chí tạo ra một mã mới. Như vậy hành vi sáng tạo diễn ra và hoàn tất cả hai khâu thông tin (tính tích cực của người phát và tính tích cực của người nhận). Tuy vậy, ở các nền văn hóa khác nhau, tại các thời điểm lịch sử khác nhau, trọng lượng của chúng cũng khác nhau. Ví dụ : các văn bản nghệ thuật truyền thống vùng Cận Đông thường áp chế tính tích cực của người nhận, trong khi đó, ở các văn bản nghệ thuật châu Âu, cả người phát lẫn người nhận đều ở trong quan hệ đối thoại.

Cấu trúc bên trong của văn bản nghệ thuật là không thuần nhất :

quy luật của nó là một thứ “trò chơi” ý nghĩa, nó tạo ra những hệ thống lập mã khác nhau, cấu trúc của nó mang tính đối thoại, tính đa thanh (M. Ba-khơ-tin), nhưng vẫn giữ được tính thống nhất, cấu trúc của nó vừa là cấu trúc đóng kín vừa là cấu trúc mở ngỏ.

Với tất cả tính độc đáo của nó, văn bản nghệ thuật vẫn buộc phải thực hiện chức năng “phi nghệ thuật” là truyền thông tin. Do vậy mà có thể “kể lại” một tác phẩm nào đó, có thể dịch văn bản nghệ thuật từ một ngôn ngữ của loại hình nghệ thuật này sang ngôn ngữ một loại hình nghệ thuật khác (chuyển thể tiểu thuyết sang điện ảnh, sân khấu, minh họa sách, chuyển thể trường ca sang múa balet,…). Chức năng này hoạt động mạnh trong văn bản nghệ thuật trần thuật, yếu trong văn bản nghệ thuật trữ tình và có vai trò đặc biệt trong văn học chính luận, khoa học viễn tưởng,…

Chức năng ghi nhớ được thực hiện như là quan hệ của văn bản nghệ thuật với các truyền thống văn hóa trước đó (“kí ức thể loại” theo xác định của Ba-khơ-tin). Về mặt này, văn bản nghệ thuật là chất liệu cho việc tái lập (gắn văn hóa với các giai đoạn trước, khôi phục sự đứt đoạn truyền thống). Do đi vào kí ức của văn hóa, văn bản nghệ thuật không chỉ trở thành định hướng lịch sử mà còn trở thành định hướng đạo đức cho sự phát triển tinh thần của nhân loại, chừng nào nó còn giữ được giá trị cao của thông báo.

Các tiêu chuẩn giá trị của văn bản nghệ thuật mang tính lịch sử và tính đặc thù với từng nền văn hóa, nhưng các tiêu chuẩn ấy không thể cô lập với nhau. Sự tích lũy và tương tác của các văn bản nghệ thuật, việc dịch và chuyển chúng trong hệ thống các ngành và các nền văn hóa khác nhau sẽ giúp vào việc làm giàu cho văn hóa nghệ thuật thế giới.

Văn Bản Và Các Kiểu Văn Bản

1. Văn bản

Trong đời sống, khi muốn biểu hiện một tư tưởng, tình cảm, nguyện vọng của bản thân cho người khác biết chúng ta cần phải giao tiếp.

Văn bản được thể hiện dưới các hình thức khác nhau: các câu ca dao, lời phát biểu trong cuộc họp, một bức thư gửi cho người thân, một cuốn tiểu thuyết, đơn xin nghỉ học…

Có sáu kiểu văn bản và phương thức biểu đạt tương ứng:

a) Văn bản tự sự: Trình bày diễn biến sự việc, có nhân vật và có cốt truyện.

b) Văn bản miêu tả: Tái hiện trạng thái sự vật và con người bằng cảm nhận của bản thân mình.

c) Văn bản biểu cảm: Bày tỏ tình cảm, thái độ, cảm xúc của mình về sự vật, con người nào đó.

d) Văn bản nghị luận: Bàn luận, nêu ý kiến đánh giá của mình về một vấn đề mang tính xã hội.

e) Văn bản thuyết minh: Giới thiệu đặc điểm, tính chất, phương pháp của một sự việc, một công trình nghiên cứu khoa học…

f) Văn bản hành chính công vụ: Trình bày một ý muốn, một quyết định nào đó, thể hiện quyền hạn trách nhiệm giữa người với người trong xã hội.

II. BỐ CỤC TRONG VĂN BẢN

Bất cứ một văn bản nào khi tạo lập cũng cần được trình bày theo một bố cục nhất định.

Bố cục: Là sự bố trí, xếp đặt các phần, các đoạn thành một trình tự, một hệ thống rành mạch và hợp lí.

Bố cục của văn bản thường có ba phần: Mở bài, Thân bài, Kết bài. Mỗi phần văn bản lại có nhiệm vụ, chức năng riêng biệt.

Khi tạo lập văn bản cần phân biệt rõ ràng nhiệm vụ của mỗi phần, nếu không sẽ gây lộn xộn, khó diễn tả mục đích giao tiếp, gây khó hiểu cho người tiếp nhận.

Nội dung các phần, các đoạn trong văn bản phải thông nhất chặt chẽ với nhau, có sự phân biệt rạch ròi. Việc xếp đặt các phần, các đoạn trong văn bản phải giúp cho người tạo lập văn bản chuyền tải được mục đích giao tiếp đã đặt ra.

Ví dụ: Em muốn viết một lá đơn xỉn nghỉ học vì bị ốm thì những nội dung trong đơn cần phải sắp xếp theo một trật tự nhất định: Đơn gửi ai, lí do xin nghỉ học, lời hứa sẽ chép bài và làm bài đầy đủ, lời cảm ơn, tên người viết đơn…

III. LIÊN KẾT TRONG VĂN BẢN

Liên kết nghĩa là gắn liền với nhau. Đây là tính chất quan trọng nhất của văn bản, làm cho văn bản trở nên có nghĩa, dễ hiểu.

Liên kết văn bản là nghệ thuật nói và viết tạo nên sự chặt chẽ, liền mạch, tính thông nhất, trọn vẹn và hoàn chỉnh của văn bản. Để văn bản có tính liên kết, người viết (người nói) phải làm cho các câu, đoạn thống nhất và gắn bó chặt chẽ với nhau cả về nội dung ý nghĩa (liên kết các ý, các tình tiết diễn biến cốt truyện, nhân vật, tâm trạng nhân vật, không gian, thời gian…) và hình thức nghệ thuật (liên kết từ ngữ, câu, đoạn trong văn bản).

Tác dụng của liên kết văn bản: Liên kết tạo nên sự chặt chẽ, liền mạch từ đầu đến cuối văn bản, tạo nên tính thông nhất, hoàn chỉnh, trọn vẹn của văn bản. Nếu không biết liên kết thì văn bản sẽ trở nên rời rạc, xộc xệch.

Trong các bài thơ tứ tuyệt Đường luật, sự liên kết văn bản đã được đúc kết thành thi pháp chặt chẽ. Các phần khai, thừa, chuyển, hợp, sự phối hợp bằng trắc, niêm, vần, đối,… được quy định thành luật thơ nghiêm ngặt. Giữa cảnh và tình, giữa ý từng câu đều có sự liên kết chặt chẽ

“Thiếu tiểu li gia lão đại hồi Hương âm vô cải mắn mao tồi Nhi đồng tương kiến bất tương thức Tiếu vấn khách tòng hà xứ lai”

Thể thơ: Thât ngôn tứ tuyệt Đường luật. Hiệp vần “hồi – tồi – lai”

Về niêm: bằng trắc chặt chẽ, hài hòa

Về ý: Câu 1: Nói về một đời xa quê. Câu 2: Đầu tóc bạc phơ, tuổi già nhưng tâm hồn vẫn gắn bó thiết tha với quê hương (giọng quê không đổi). Câu 3, 4: Người đồng hương mà trở thành khách lạ từ đâu đến thăm làng.

Chủ đề: Tình yêu thắm thiết, thuỷ chung đôi với quê hương. ” Hồi hương ngẫu thư ” là một văn bản nghệ thuật, cả về hình thức, và nội dung đều có tính liên kết đặc sắc.

IV. MẠCH LẠC TRONG VĂN BẢN

Mạch lạc là sự nhất quán, thống nhất, chặt chẽ, liên tục một nội dung tư tưởng được thể hiện trong suốt quá trình triển khai văn bản. Bất cứ văn bản nào cũng đòi hỏi cần có sự mạch lạc, có sự liên kết chặt chẽ giữa các ý.

Nếu liên kết biểu hiện ở hình thức thì mạch lạc biểu hiện ở nội dung bên trong, là sự thông nhất ở chỉnh thể văn bản.

Một văn bản có tính mạch lạc là văn bản:

– Các phần, các câu trong văn bản cần đảm bảo các mối quan hệ thời gian, không gian, nhân quả, tương phản…

Bất cứ văn bản nào cũng cần các yếu tố này, nếu dùng sai quan hệ thì mạch lạc trong văn bản bị phá vỡ.

– Trôi chảy thành dòng, thành mạch

– Tuần tự đi qua các phần, các đoạn trong văn bản

– Thông suốt, liên tục, không đứt đoạn.

V. QUÁ TRÌNH TẠO LẬP MỘT VĂN BẢN

– Định hướng chính xác. Trong bước này cần trả lời chính xác các câu hỏi:

+ Đối tượng giao tiếp: văn bản nói (viết) cho ai?

+ Nội dung giao tiếp: nói (viết) về cái gì?

+ Cách thức giao tiếp: nói (viết) như thế nào?

– Tìm ý và sắp xếp ý thành bố cục: Sau khi định hướng, cần phải tìm ý phục vụ cho bài nói (viết). Nhưng đó mới chỉ là những ý tồn tại biệt lập, không thống nhất. Vì vậy, khi đã có ý, người nói (viết) cần phải sắp xếp các ý đó thành bố cục rành mạch, hợp lí theo đúng định hướng trên.

– Diễn đạt các ý trong bố cục thành câu, đoạn, văn bản:

Nếu bố cục chỉ là bộ khung, là những nét phác thảo thì đến bước này bộ khung và những nét phác thảo đó sẽ được làm đầy, được chi tiết hoá, cụ thể hoá bằng câu chữ hoàn chỉnh.

Từ ngữ, câu văn viết và nói ra cần đảm bảo tính chính xác, trong sáng và có sự liên kết chặt chẽ, mạch lạc.

– Kiểm tra lại văn bản đã tạo ra: Đây là bước điều chỉnh những sai sót mắc phải trong quá trình tạo lập văn bản. Bước này giúp cho việc nói viết văn bản được hoàn thiện hơn, đảm bảo đạt được mục đích đặt ra trong bước định hưởng.

Ví dụ: Tạo lập một văn bản viết thư.

a. Để tạo lập một văn bản viết thư, cần xác định bốn yếu tố:

* Viết để làm gì?

* Viết về cái gì?

* Viết như thế nào?

b. Sau khi xác định được 4 yếu tố, cần sắp xếp ý (dàn bài): ý nào trình bày trước, ý nào trình bày sau… sao cho việc trình bày logic và hiệu quả nhất.

c. Diễn đạt các ý đã sắp xếp thành câu, đoạn văn viết thành văn. Việc viết thành văn cần đạt được nhiều yêu cầu sau đây:

* Đúng chính tả

* Đúng ngữ pháp

* Dùng từ chính xác

* Sát với bố cục

* Có tính liên kết

* Lời văn trong sáng

Ngoài ra, đối với văn tự sự thì lời kể chuyện phải hấp dẫn.

d. Để kiểm tra chất lượng một văn bản, cần dựa trên các tiêu chuẩn đã nêu trong mục b và mục c.

a) Dàn, bài chưa phải là một văn bản hoàn chỉnh. Đó là những ý cụ thể, chi tiết, nhưng không nhất thiết phải là những câu văn trọn vẹn, đúng ngữ pháp, có liên kết chặt chẽ.

b) Muốn phân biệt được mục lớn và mục nhỏ, cần thống nhất hệ thống kí hiệu.

Ví dụ: I, II, III… là các ý lớn, sau đó đến 1, 2, 3… là các ý nhỏ hơn, rồi đến a, b, c… và các gạch đầu dòng, các dấu cộng là các ý nhỏ hơn.

Hệ thống kí hiệu này sẽ giúp cho việc kiểm soát xem các mục đã đầy đủ chưa, đã được sắp,xếp rành mạch và hợp lí chưa. Từ dàn bài với các ý phác thảo, nếu thấy chưa đầy đủ, người lập dàn ý có thể bố sung thêm cho hợp lí phù hợp với trật tự logic của đề bài.

VI. MỘT SỐ LOẠI VĂN BẢN KHÁC

Trong cuộc sống, sinh hoạt và học tập, văn bản đề (kiến) nghị được viết khi một cá nhân hay tập thể xuất hiện những nhu cầu, quyền lợi chính đáng để gửi lên tổ chức hoặc cá nhân có thẩm quyền nhằm nêu ý kiến của mình.

Văn bản đề nghị cần trình bày trang trọng, ngắn gọn theo một số mục đã được quy định sẵn. Nội dung không nhất thiết phải trình bày đầy đủ tất cả nhưng cần chú ý một một số mục nhất định.

Báo cáo thường là bản tổng hợp trình bày về tình hìntí sự việc và các kết quả đạt được của cá nhân hay của tập thể.

Bản báo cáo trình bày trang trọng, rõ ràng, theo một số mục đã được quy định sẵn. Nội dung nhất thiết phải trình bày đầy đủ tất cả nhưng cần chú ý các mục chính đã quy định của bản báo cáo.

Văn Bản Và Cấu Trúc Ngoài Văn Bản

Rất khó định nghĩa khái niệm văn bản. Trước hết, cần phải chống lại thói quen đồng nhất văn bản với quan niệm về chỉnh thể của tác phẩm nghệ thuật. Hoàn toàn không có cơ sở để đối lập, theo kiểu hết sức phổ biến hiện nay, giữa văn bản như một thứ hiện thực của các quan niệm, tư tưởng nào đó với sự hiểu biết được xem là cái gì đó rất đỏng đảnh và chủ quan trong toàn bộ cái vẻ bên ngoài của nó.

Là một mô hình thế giới cụ thể, một thông tin nào đó bằng ngôn ngữ nghệ thuật, tác phẩm nghệ thuật không thể tồn tại bên ngoài ngôn ngữ ấy, cũng như bên ngoài tất cả các ngôn ngữ giao tiếp xã hội khác. Với người đọc muốn dựa vào các bộ mã được lựa chọn tùy tiện và chủ quan để giải mã, nghĩa sẽ bị xuyên tạc nghiêm trọng, còn với người đọc muốn tiếp xúc với một văn bản bị tách ra khỏi tổng thể các mối liên hệ ngoài văn bản, thì tác phẩm sẽ chẳng còn là nhân tố đại diện cho bất kỳ một loại ý nghĩa nào. Toàn bộ các mã được hình thành trong quá trình lịch sử biến văn bản thành nhân tố biểu nghĩa bao giờ cũng có quan hệ với phạm vi của các mối liên hệ ngoài văn bản. Nhưng đó là những mối liên hệ rất thực tế. Tính thực tế của khái niệm “tiếng Nga” hoàn toàn không nhỏ hơn so với tính thực tế của khái niệm “văn bản bằng tiếng Nga”, dù đó là thực tế thuộc những loại khác nhau và phương pháp nghiên cứu chúng cũng khác nhau.

Các mối liên hệ ngoài tác phẩm có thể mô tả như là quan hệ giữa vô số yếu tố được định hình trong văn bản với vô số yếu tố mà từ đó có thể tiến hành lựa chọn một yếu tố khả dụng nào đấy. Rõ ràng, việc sử dụng một loại nhịp điệu nào đó trong một hệ thống không cho phép có ngoại lệ, trong hệ thống cho phép lựa chọn một khả năng thay thế, hoặc đưa ra 5 kiểu tổ chức câu thơ có giá trị ngang nhau, – sẽ cho chúng ta những cấu trúc nghệ thuật hoàn toàn khác nhau, dù về mặt vật chất, bình diện được định hình của tác phẩm – văn bản của nó, chẳng hề có gì thay đổi.

Nên nhớ, cấu trúc ngoài văn bản cũng có cấp độ giống như ngôn ngữ của tác phẩm nghệ thuật nói chung. Hơn nữa, khi nhập vào những tầng bậc khác nhau của trật tự cấp độ, yếu tố này hay yếu tố kia của văn bản có thể tham gia vào các mối liên kết khác nhau ngoài văn bản (tức là có một đại lượng biểu thị độ bất ổn định khác nhau). Chẳng hạn, nếu chúng ta xác định văn bản nào đó là một tác phẩm thơ Nga, thì ở đây, khả năng sử dụng mọi vận luật tiêu biểu cho câu thơ Nga nói chung đều có xác suất như nhau. Nếu chúng ta thu hẹp ranh giới biên niên của cấu trúc mà chúng ta sẽ liệt vào đấy một văn bản nào đó cho tới phạm trù “tác phẩm của một nhà thơ Nga thế kỷ XIX”, hay chúng ta làm như thế với một thể loại (“ballad”), thì xác suất sẽ thay đổi. Nhưng văn bản lại nhất loạt thuộc về tất cả các cấu trúc ấy, và đó là điều cần phải tính đến khi xác định mức độ bất ổn định của nó.

Việc đặc điểm của một văn bản thuộc về các thể loại, phong cách khác nhau, về thời đại, tác giả v.v… làm thay đổi mức độ bất ổn định của những yếu tố riêng lẻ của nó không chỉ buộc phải xem các mối liên hệ ngoài văn bản  như một cái gì đó hoàn toàn thực tế, mà còn chỉ ra một số cách thức làm thay đổi thực tế ấy.

Cần phân biệt các mối liên hệ ngoài văn bản ở cấp độ ngôn ngữ nghệ thuật và cấp độ thông báo nghệ thuật. Ở trên, chúng tôi đã dẫn ra những ví dụ về các mối liên hệ ngoài văn bản ở cấp độ ngôn ngữ nghệ thuật. Ở cấp độ thông báo nghệ thuật, đó là những trường hợp, khi việc không sử dụng yếu tố này hay yếu tố kia, sự vắng mặt có nghĩa, “thủ pháp-âm”[1] trở thành một bộ phận hữu cơ của văn bản đã được định hình dưới dạng văn tự. Chẳng hạn, sự bỏ qua các khổ đã được đánh số trong văn bản cuối cùng của Evgheni Oneghin, việc Pushkin thay thế đoạn kết đã có sẵn trong bài thơ Napoleon bằng một mẩu câu bỏ lửng: “Thế giới trở nên hoang vắng…”, việc sử dụng câu thơ không vần trên cái nền chờ vần của độc giả v.v… Tương quan giữa yếu tố không sử dụng – thủ pháp – âm – với cấu trúc được độc giả chờ đợi và, đến lượt nó, tương quan giữa cấu trúc được chờ đợi với mức độ xác suất sử dụng trong vị thế cấu trúc nào đó của một yếu tố được định hình về mặt văn bản sẽ biến thông tin do sự thủ pháp – âm mang lại thành một đại lượng hoàn toàn thực tế và có thể đo lường. Vấn đề này là một phần của vấn đề mang tính khái quát cao hơn – vai trò cấu trúc của chỗ trống có nghĩa (“zero-probleme”), giá trị ngữ nghĩa của chỗ ngắt giọng, quy mô thông tin do sự im lặng nghệ thuật mang lại.

Điều kiện thiết yếu ở đây, như chúng ta thấy, là làm thế nào để yếu tố có nghĩa hoặc một tập hợp các yếu tố có nghĩa thuộc loại đồng nghĩa nào đó được đặt vào đúng vị trí giữ vai trò của thủ pháp-âm trong văn bản thuộc cấp độ này hay cấp độ kia phù hợp với cấu trúc mã của nó. Cho nên, văn bản dứt khoát phải nhập vào một cấu trúc ngoài văn bản phức tạp để tạo thành một cặp đối lập với nó.

Vẫn còn một nguyên nhân khác khiến cho vấn đề trở nên phức tạp: các cấu trúc ngoài văn bản làm thay đổi mức độ xác suất ở những yếu tố nào đó của chúng tuỳ thuộc vào việc, chúng có quan hệ hay không với “các cấu trúc của người nói” – tác giả, hay “các cấu trúc của người nghe”- độc giả, với toàn bộ sự phức tạp của vấn đề này trong nghệ thuật như là hệ quả tất yếu sẽ xẩy ra.

Khái niệm văn bản

Hoàn toàn có thể đưa ra những định nghĩa như sau làm nền tảng cho khái niệm văn bản:

1. Tính biểu thị. Văn bản được định hình bằng những ký hiệu cụ thể và với ý nghĩa như thế, nó đối lập với các cấu trúc ngoài văn bản. Với văn học nghệ thuật, trước hết, đó là sự biểu thị của văn bản bằng các ký hiệu của ngôn ngữ tự nhiên. Sự biểu thị, trái ngược với sự không biểu thị, buộc phải xem văn bản là sự hiện thực hoá một hệ thống nào đấy, là sự phản ánh vật chất của nó. Trong cặp đối lập ngôn ngữ và lời nói của de Saussure, văn bản bao giờ cũng thuộc về lĩnh vực lời nói. Với lý do như thế, văn bản bao giờ cũng có hàng loạt yếu tố hệ thống và những yếu tố ngoài hệ thống. Thật ra, việc kết hợp các nguyên tắc về trật tự cấp độ và sự chồng xếp đa tầng cấu trúc sẽ dẫn tới chỗ: cái ngoài hệ thống từ giá độ của một trong số những tiểu cấu trúc có thể trở thành cái hệ thống từ giác độ của một tiểu cấu trúc khác; và việc chuyển mã của văn bản sang ngôn ngữ cảm thụ nghệ thuật của cử toạ hoàn toàn có thể chuyển bất kỳ yếu tố nào vào tầng bậc của những cái thuộc hệ thống. Và toàn bộ sự hiện diện của các yếu tố ngoài hệ thống – hệ quả tất yếu của sự vật chất hoá, cũng như cảm giác cho rằng, cùng là những yếu tố như thế, nhưng ở cấp độ này, chúng có thể là những yếu tố thuộc hệ thống, nhưng ở cấp độ khác, chúng lại là những yếu tố ngoài hệ thống, – nhất thiết sẽ đi kèm với văn bản.

2. Tính phân giới. Tính phân giới là đặc trưng của văn bản. Về phương diện này, một mặt, văn bản đối lập với tất cả các ký hiệu được biểu hiện bằng vật chất không thuộc thành phần của nó, theo nguyên tắc can dự, nó đối lập với cái không can dự. Mặt khác, nó đối lập với tất cả các cấu trúc có dấu hiệu không phân giới – ví như cấu trúc của các ngôn ngữ tự nhiên, và các cấu trúc không phân giới (“cấu trúc mở”) của các văn bản bằng lời nói của nó. Nhưng trong hệ thống các ngôn ngữ tự nhiên cũng vẫn có những cấu trúc có phạm trù biểu hiện sự phân giới rõ rệt: ví như từ và, đặt biệt là câu. Không phải ngẫu nhiên mà chúng có vai trò đặc biệt quan trọng đối với việc tổ chức văn bản nghệ thuật. Khi xưa, A.A.Potebnhia từng nói về tính đẳng cấu giữa từ với văn bản nghệ thuật. A.M.Piatigorski đã chỉ ra, mối văn bản có một ý nghĩa văn bản duy nhất và ở phương diện này, có thể xem nó là một tín hiệu không thể chia tách. “Thành tiểu thuyết”, “thành bài ký”, “thành văn khấn” – điều đó có nghĩa là hiện thực hoá một chức năng văn hoá nào đó và truyền đạt một ý nghĩa toàn vẹn nào đó. Mỗi một văn bản được người đọc xác định bằng một tổ hợp các dấu hiệu. Vì vậy, chuyển ký hiệu cho một văn bản khác là một trong những phương thức cơ bản dùng để tổ chức các nghĩa mới (dấu hiệu văn bản của một tài liệu được chuyển cho tác phẩm nghệ thuật v.v…).

Trong những loại hình văn bản khác nhau, khái niệm ranh giới được biểu hiện theo những kiểu khác nhau: đó là mở đầu và kết thúc ở cấu trúc triển khai trong thời gian, khung trong hội hoạ, hàng đèn trước sân khấu trong nhà hát. Sự phân giới giữa không gian cấu trúc (nghệ thuật) với không gian phi cấu trúc là phương thức cơ bản của điêu khắc và kiến trúc.

Tính phân cấp của văn bản, việc hệ thống của nó được tách ra thành cấu trúc phức tạp của những tiểu hệ thống sẽ dẫn tới chỗ: hàng loạt yếu tố thuộc cấu trúc bên trong sẽ được phân giới trong các tiểu hệ thống thuộc một loại hình khác (ranh giới của các chương, các khổ, các câu thơ, của các nhịp, phách…). Ranh giới chỉ cho người đọc, rằng anh ta đang tiếp xúc với văn bản bằng cách gợi dậy trong ý thức của anh ta toàn bộ hệ thống của các mã nghệ thuật tương ứng, rằng anh ta đang đứng ở một vị thế cấu trúc vững chắc. Do một loạt yếu tố này thì là tín hiệu của một ranh giới nào đó, còn những yếu tố khác lại là những tín hiệu của một số ranh giới trùng với vị thế chung trong văn bản (kết thúc chương cũng là kết thức cuốn sách), nên trật tự đẳng cấp của các cấp độ cho phép ta nói về vị thế chủ đạo của các ranh giới này hay ranh giới kia (ranh giới các chương giữa vị thế chủ đạo hơn so với ranh giới các khổ, ranh giới của tiểu thuyết giữ vị thế chủ đạo so với ranh giới các chương), nó mở ra khả năng đối sánh vai trò của các tín hiệu phân giới nào đó về phương diện cấu trúc. Song song với điều đó, sự bão hoà ranh giới nội tại của văn bản (sự hiện diện của “ngắt dòng”, phân khổ, hay phân đoạn cấu trúc, chia nhỏ thành các chương v.v…) và sự đánh dấu các ranh giới bên ngoài (mức độ đánh dấu các ranh giới bên ngoài có thể hạ sát tới mức mô phỏng chỗ ngắt máy móc của văn bản) cũng tạo ra cơ sở để phân loại các dạng kiến tạo văn bản.

3. Tính cấu trúc. Văn bản không phải là một trình tự giản đơn của các ký hiệu nằm ở khoảng cách giữa hai ranh giới bên ngoài. Văn bản bao giờ cũng là một tổ chức nội tại biến nó thành một chỉnh thể cấu trúc ở cấp độ ngữ đoạn. Vì thế, muốn thừa nhận một tổ hợp câu nào đó của ngôn ngữ tự nhiên là một văn bản nghệ thuật, cần phải chứng minh, chúng tạo thành một cấu trúc thuộc loại thứ cấp nào đó ở cấp độ tổ chức nghệ thuật.

Nên nhớ, tính cấu trúc và tính phân giới của văn bản gắn bó chặt chẽ với nhau.

Trật tự đẳng cấp của khái niệm văn bản

Cần nhấn mạnh rằng, khi bàn về tính biểu thị vật chất của văn bản, chúng tôi muốn nói tới một đặc điểm thể hiện tính riêng biệt cao nhất của các hệ thống ký hiệu. Thực thể vật chất hiện ra trong các hệ thống ký hiệu không phải là các “sự vật”, mà là tương quan giữa các sự vật. Cũng như thế, điều này còn thể hiện cả trong vấn đề văn bản nghệ thuật, loại văn bản được kiến tạo như một hình thái tổ chức, tức là như một hệ thống các quan hệ nào đó của những đơn vị vật chất tạo nên nó. Đây là lý do giải thích vì sao giữa các cấp độ khác nhau của văn bản có thể xác lập những mối liên hệ cấu trúc mang tính bổ trợ: quan hệ giữa các loại hình hệ thống. Có thể tháo dỡ văn bản thành nhiều tiểu văn bản (cấp độ âm vị, cấp độ cú pháp v.v…), trong đó, mỗi tiểu văn bản có thể xem là một đơn vị tổ chứ độc lập. Quan hệ cấu trúc giữa các cấp độ thể hiện đặc trưng của văn bản trong chỉnh thể của nó. Chính những mối liên hệ vững bền này (bên trong các cấp độ và giữa các cấp độ) mang lại cho văn bản đặc điểm của cái bất biến. Hoạt động của văn bản trong hoàn cảnh xã hội sẽ tạo ra xu hướng phân chia văn bản thành các biến thể. Với folklo và văn học trung đại, hiện tượng này đã được nghiên cứu kỹ lưỡng. Người ta thường nghĩ rằng, kỹ nghệ in ấn khiến văn hoá hiện đại bị lệ thuộc vào ngôn ngữ chữ viết, và như thế, nó sẽ làm triệt tiêu các biến thể của văn bản văn học. Điều này, không hẳn là như vậy. Chỉ cần ghi âm cách đọc cùng một bài thơ của nhiều người đọc khác nhau, ta sẽ thấy, văn bản in chỉ cho ra một loại hình văn bản cố định nào đó (ví như, ở cấp độ ngữ điệu), còn bản ghi âm thì có nhiều biến thể của nó. Nếu không nghiên cứu văn học hiện đại từ quan điểm nhà văn như chúng ta vẫn quen làm, mà nghiên cứu từ quan điểm độc giả, thì sự bảo tồn biến thể là thực tế hiển nhiên. Cuối cùng, vấn đề văn bản và các biến thể của nó cũng là vấn đề đối với các nhà văn bản học.

Việc văn bản là một hệ thống cố định của nhiều mối quan hệ bộc lộ rất rõ khi nghiên cứu giải cấu trúc các tác phẩm dở dang hoặc đã bị thất lạc. Hơn nữa, dù giới folklore đã có nhiều thành tựu trong việc nghiên cứu vấn đề này, dù với các nhà nghiên cứu văn hoá cổ-trung đại, nhiệm vụ ấy đã thành truyền thống, nhưng nó vẫn xuất hiện thường xuyên trước các nhà nghiên cứu văn học hiện đại. Cho nên, có thể chỉ ra, nhất là trong lĩnh vực Pushkin học, nhiều thử nghiệm giải cấu trúc các ý tưởng và dự định sáng tác của nhà thơ, những thử nghiệm lý thú nhằm khôi phục các văn bản đã bị thất lạc. Nếu văn bản không phải là một cấu trúc bất biến nào đó trong giới hạn của nó, thì không có cơ sở để đặt ra những nhiệm vụ như vậy.

Những rõ ràng là, từ hướng tiếp cận vấn đề như thế, có thể tập hợp một nhóm văn bản (ví như hài kịch Nga thế kỷ XVIII), rồi khảo sát nhóm văn bản ấy như một văn bản bằng cách mô tả hệ thống luật lệ cố định của nó và gắn toàn bộ những khác biệt với các biến nảy sinh trong quá trình hoạt động xã hội của nó. Cũng có thể tạo ra một sự trừu xuất tương tự như thế ở một cấp độ rất cao. Chắc chắn, nếu khảo sát khái niệm “văn học nghệ thuật thế kỷ XX” như một văn bản được đem ra mô tả nào đó với những tương quan phức tạp giữa các mối liên hệ biến thái và bất biến, trong hệ thống và ngoài hệ thống, thì đó là nhiệm vụ hoàn toàn khả thi.

Từ những gì đã nói, có thể thấy, nếu chọn một nhóm văn bản đẳng cấu theo một tương quan nào đó, rồi miêu tả chúng như một văn bản, thì trong tương quan với các văn bản được miêu tả, sự miêu tả tương tự như thế chỉ bao hàm các yếu tố của hệ thống, còn bản thân các văn bản, trong tương quan với sự miêu tả ấy, chỉ hoạt động như là sự kết hợp phức tạp của các yếu tố có tổ chức (yếu tố hệ thống, xung yếu) và vô tổ chức (ngoài hệ thống, thứ yếu). Bởi vậy, văn bản thuộc cấp độ cao hơn sẽ hoạt động như một ngôn ngữ miêu tả trong tương quan với các văn bản ở cấp độ thấp hơn. Và, đến lượt mình, ngôn ngữ miêu tả của các văn bản nghệ thuật, trong một tương quan nào đó, mang tính đẳng cấu với các văn bản ấy. Có một hệ quả khác: sự mô tả ở cấp độ cao nhất (ví như “văn bản nghệ thuật”), nếu nó chỉ bao hàm các tương quan hệ thống, sẽ là ngôn ngữ dùng để mô tả các văn bản khác, nhưng bản thân sự mô tả ấy không phải là văn bản (theo quy tắc: là hệ thống vật chất hoá, văn bản chứa đựng các yếu tố ngoài hệ thống).

Dựa vào các luận điểm nêu trên, có thể rút ra một quy tắc bổ ích. Thứ nhất: ngôn ngữ miêu tả văn bản là một trật tự cấp bậc. Không thể xáo trộn sự mô tả ở những cấp độ khác nhau. Cần phải giới thuyết chính xác, sự miêu tả đang được tiến hành ở cấp độ (các cấp độ) nào. Thứ hai: trong giới hạn của một cấp độ nào đó, sự miêu tả phải có tính cấu trúc và toàn vẹn. Thứ ba: các siêu ngôn ngữ ở những cấp độ khác nhau của sự miêu tả dứt khoát phải khác nhau.

Tuy nhiên, cần nhấn mạnh, rằng hiện thực được mô tả trong nghiên cứu không hoàn toàn đồng nhất với hiện thực được người đọc cảm nhận: trong sự mô tả của nhà nghiên cứu, trật tự cấp bậc của các văn bản tựa những chồng xếp lên nhau là một thực tế. Nhưng với người đọc, chỉ có một văn bản duy nhất do tác giả sáng tạo ra lại là một thực tế. Thể loại có thể là một văn bản thống nhất, nhưng không thể biến nó thành đối tượng thụ cảm nghệ thuật. Khi thụ cảm một văn bản do tác giả sáng tạo ra như một bản thể duy nhất, người tiếp nhận thông tin bao giờ cũng phân tích tất cả những gì được kiến tạo ở đó như một trật tự cấp bậc của các bộ mã làm hiển lộ ngữ nghĩa tiềm ẩn trong một tác phẩm nghệ thuật hiện hữu nào đấy với anh ta.

Bởi vậy, rõ ràng là, sẽ khôngthể có một định nghĩa hoàn chỉnh về văn bản nghệ thuật, nếu thiếu sự phân loại bổ trợ ở bình diện “người phát-người nhận”. Chẳng hạn, nhiều cách lý giải qua diễn xuất khác nhau của một vai, một vở nhạc kịch, một loại truyện kể trong hội hoạ (ví như bức Madonna và hài đồng) v.v…, nếu thụ cảm từ quan điểm này, thì chúng chỉ là sự lặp lại của một văn bản (sự khác biệt không được phát hiện. Cử toạ thiếu trình độ chuyên môn:trong bảo tàng Hermitage“mọi thứ giống hệt nhau”, “tất cả tranh thánh đều giống nhau như đúc”, hoặc “không thể phân biệt các nhà thơ thế kỷ XVIII”), hoặc là các phiên bản của cùng một văn bản cố định, nhưng nếu thụ cảm từ quan điểm khác chúng lại là những văn bản khác nhau, thậm chí đối lập với nhau.

Ký hiệu tạo hình bằng ngôn từ (hình tượng)

Thuộc tính mã hoá của các văn bản nghệ thuật – các hệ thống mô hình hoá – sẽ dẫn tới chỗ: một số dấu hiệu đặc trưng của chính văn bản như nó vốn dĩ, trong quá trình giao tiếp nghệ thuật được chuyển qua phạm vi của hệ thống mã hoá. Chẳng hạn, tính phân giới không chỉ là dấu hiệu cảu văn bản, mà còn trở thành thuộc tính cơ bản của ngôn ngữ nghệ thuật.

Bây giờ chúng tôi sẽ dừng lại ở vấn đề vềếy nghĩa tính phân giới như một nguyên tắc cấu trúc đối với kết cấu, mà cụ thể là sẽ dừng lại ở chỗ: điều ấy có hệ quả thế nào đối với ngôn ngữ nghệ thuật?

Nghệ thuật ngôn từ chỉ thực sự trở thành nghệ thuật khi nó nỗ lực khắc phục đặc điểm cố hữu của từ như một ký hiệu ngôn ngữ – mối liên hệ giữa các bình diện nội dung và biểu hiện không có sự chế định lẫn nhau – và xây dựng một mô hình nghệ thuật bằng lời theo nguyên tắc hình tượng hệt như trong các nghệ thuật tạo hình. Đó chẳng phải là điều ngẫu nhiên và nó gắn bó hữu cơ với số phận của các ký hiệu trong lịch sử văn hoá của nhân loại.

Với tính ước lệ trong quan hệ giữa cái được biểu đạt với cái biểu đạt, do chỉ có thể hiểu khi được gắn với một bộ mã nào đó, các ký hiệu của ngôn ngữ tự nhiên rất dễ trở thành cái không thể hiểu được và bất kỳ ở đâu, hễ hệ thống ngữ nghĩa mã hoá được bện kết vào đời sống xã hội là chúng lại trở thành cái dối trá. Ký hiệu như là nguồn mạch thông tin cũng dễ dàng trở thành phương tiện phao tin nhảm nhí, đánh lạc hướng xã hội.ỏTong đời sống văn hoá của nhân loại, xu hướng đấu tranh với ngôn từ, ý thức về khả năng lừa dối cắm rễ rất sâu trong bản chất của nó là nhân tố thường trực, chẳng kém gì xu hướng thán phục trước sức mạnh của nó. Không phải ngẫu nhiên mà hình thức thấu hiểu cao nhất đối với nhiều loại hình văn hoá được đặt vào dạng thức “thông hiểu không lời” và được liên hệ với sự giao tiếp ngoài lời như âm nhạc, tình yêu và ngôn ngữ biểu cảm cận ngôn ngữ học.

Các ký hiệu tạo hình có một đặc tính ưu việt: do cấu trúc ký hiệu và nội dung của đó đã nói lên sự tương đồng bền ngoài, mang tính trực quan, nên cũng không đòi hỏi phải am hiểu những bộ mã phức tạp (người tiếp nhận những thông tin như thế có cảm giác trong trường hợp này anh ta không sử dụng bất kỳ một loại mã nào cả). Có thể dẫn ra đây một thí dụ về ký hiệu giao thông theo kiểu hỗn hợp do hai yếu tố tạo thành: vạch cấm và mõm ngựa. Yếu tố thứ nhất có tính ước lệ: muốn hiểu ý nghĩa của nó cần nắm vững bộ mã dành riêng cho ký hiệu giao thông. Yếu tố thứ hai mang tính hình tượng và chỉ có thể dùng kinh nghiệm đời sống đã tích luỹ được để giải mã (người chưa bao giờ nhìn thấy ngựa sẽ không thể hiểu được). Nhưng chúng ta sẽ làm một thí nghiệm thầm trong óc: kết hợp ký hiệu cấm với một chữ số hoặc một từ. Cả hai yếu tố đều đúng luật, nhưng mức độ ước lệ của chúng sẽ rất khác nhau. Trên cái nền của ký hiệu giao thông tự động, có thể dựa vào một bộ mã chuyên ngành, chỉ có một phạm vi rất hẹp am hiểu, để giải mã, thì từ và chữ số sẽ trở nên nổi bật nhờ vào sự hiểu biết chung và về mặt chức năng chúng cũng tương đương như cái mõm ngựa hoặc bất kỳ một yếu tố hình tượng nào khác. Thí dụ về một ký hiệu ước lệ có thể tương đươcng với một ký hiệu tạo hình về mặt chức năng hết sức lý thú đối với văn học. Bằng chất liệu từ ngôn ngữ tự nhiên – hệ thống các ký hiệu ước lệ, nhưng được tập thể hiểu rõ tới mức, người ta không còn cảm thấy tính ước lệ ấy nữa trên cái nền của những “ngôn ngữ” khác, mang tính chuyên biệt lớn hơn,- và thế là xuất hiện ký hiệu thứ sinh thuộc loại tạo hình (có lẽ cần phải gắn nó với “hình tượng” của lý luận văn học truyền thống). Ký hiệu tạo hình thứ sinh có những đặc điểm của ký hiệu hình tượng: sự tương đồng trực tiếp với đối tượng, tính trực quan, nó tạo ra ấn tượng về sự chế định của mã ít hơn và vì thế – có vẻ như – đảm bảo tính chân thực lớn hơn, sự tường minh lớn hơn so với các ký hiệu ước lệ. Ở loại ký hiệu này có hai phương diện không thể tách riêng: sự tương đồng với đối tượng được nó biểu nghĩa và sự khác biệt với đối tượng được nó biểu nghĩa. Hai khái niệm ấy không thể tồn tại tách rời nhau.

Người dịch: Lã Nguyên

Nguồn: Лотман Ю.М. Структура художественного текста

 

[1] Tiếng Nga: “минус-приём”, thuật ngữ của Iu.Lotman, được ông sử dụng trong ký hiệu học đại cương để chỉ “sự vắng mặt có ý nghĩa”. Với sáng tác văn học, “thủ pháp-âm” là sự loại bỏ cố ý theo kiểu phá cách những yếu tố mang nghĩa nào đó trong văn bản thuộc phạm vi chờ đợi của độc giả.-ND.