Văn Bản Chí Phèo Lớp 10 / Top 9 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 2/2023 # Top View | Bac.edu.vn

Giáo Án Ngữ Văn 10 Tiết 90, 91: Đọc – Hiểu: Chí Phèo (Trích Chí Phèo) – Nam Cao

(Trích Chí Phèo) – Nam Cao I. Mục tiêu bài học: 1. Kiến thức: – Nắm được những nét cơ bản về cuộc đời và sự nghiệp của Nam Cao. – Nắm được cốt truyện Chí Phèo, vị trí, ý nghĩa của đoạn trích đọc hiểu. – Quá trình diễn biến tâm lí, khát khao hạnh phúc và bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người của nhân vật Chí Phèo. – Sức mạnh tố cáo hiện thực xã hội đương thời của tác phẩm – Nghệ thuật nắm bắt, miêu tả tâm lí tài tình và ngòi bút nhân đạo sâu sắc mới mẻ của tác giả. 2. Kĩ năng: – Rèn kĩ năng đọc diễn cảm, nhập vai tác phẩm văn xuôi. – Rèn kĩ năng phân tích truyện ngắn và nhân vật truyện ngắn. 3. Thái độ: – Giáo dục HS đồng cảm với nỗi đau, bi kịch của số phận con người, – Biết yêu thương và trân trọng giá trị con người. – Có thái độ sống tích cực. II. Phương pháp, phương tiện: 1. Phương pháp: – Phương pháp đàm thoại – Phương pháp thuyết giảng 2. Phương tiện: – Sách giáo khoa, sách giáo viên, sách tham khảo – Bảng phụ – Hình ảnh trực quan: tác giả Nam Cao, Chí Phèo và Thị Nở III. Chuẩn bị: – Học sinh: chuẩn bị bài ở nhà về các nội dung bài học. IV. Tiến trình tổ chức các hoạt động dạy học: 1. Ổn định lớp: (1’) 2. Kiểm tra bài cũ: (5’) 3. Giới thiệu bài mới: (3’) Ở trích đoạn Hạnh phúc của một tang gia, chúng ta đã được tìm hiểu nghệ thuật trào phúng bậc thầy của Vũ Trọng Phụng. Hôm nay đến với nhà văn Nam Cao và tác phẩm Chí Phèo chúng ta sẽ cùng tìm hiểu nghệ thuật nắm bắt miêu tả tâm lí tài tình và ngòi bút nhân đạo sâu sắc, mới mẻ. Bằng nghệ thuật ấy, nhà văn đã nói lên một cách sâu sắc và mãnh liệt bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người ghê gớm và khát khao lương thiện của nhân vật Chí Phèo. 4. Hoạt động dạy học: T/g Hoạt động của giáo viên (GV) Hoạt động của học sinh (HS) Nội dung cần đạt (15’) Hoạt động 1: Hướng dẫn HS tìm hiểu về tác giả và tác phẩm. 1. Dựa vào phần chuẩn bị ở nhà, hãy cho biết mục Tiểu dẫn trong SGK đề cập đến những nội dung gì? 2. Nêu tóm tắt tiểu sử Nam Cao? 3. Nam Cao là người như thế nào? Theo dõi, trả lời. Dựa vào SGK nêu tóm tắt. (Khiêm nhường, ít nói, nội tâm phong phú, gắn bó với quê hương, người nghèo khổ) I. Giới thiệu chung: 1. Tác giả: Nam Cao (1917 – 1951) – Tiểu sử: + Gia đình nông dân + Quê: Hà Nam, vùng chiêm trũng nghèo khó – Con người (bảng phụ): (Khiêm nhường, ít nói, nội tâm phong phú, gắn bó sâu nặng với quê hương, những người nghèo khổ). – Quan điểm sáng tác: tiến bộ (bảng phụ) (25’) – GV đọc một vài tuyên ngôn nghệ thuật của Nam Cao. 4. Qua đó em thấy trong sáng tác Nam Cao chú ý tới những điều gì? (Về nội dung và nghệ thuật). 5. Các giai đoạn sáng tác của Nam Cao? – GV tổng kết vai trò và vị trí của Nam Cao. 6. Các tên cũ của truyện ngắn Chí Phèo? 7. Dựa vào SGK hãy tóm tắt lại truyện ngắn Chí Phèo? – GV nhấn mạnh lại các chi tiết cần chú ý. Hoạt động 2: Hướng dẫn HS tìm hiểu sự thức tỉnh phần người của Chí Phèo – GV giảng về hình tượng người nông dân trước Cách mạng trong văn học hiện thực phê phán. – Gọi HS đọc đoạn đầu. 8. Sau khi gặp Thị Nở, Chí Phèo có gì thay đổi? (Quan tâm đến thế giới tinh thần của con người, biệt tài nắm bắt, miêu tả tâm lí) (Trước và sau Cách mạng) (Cái lò gạch cũ, đôi lứa xứng đôi) 1 – 2 HS tóm tắt Theo dõi 1 HS đọc bài, cả lớp theo dõi (Tỉnh rượu, nghe những âm thanh: tiếng chim hót, tiếng người đi chợ về, tiếng gõ thuyền chài) +Văn chương phải có tính nhân đạo, vì con người lao khổ + Văn chương phải có sự sáng tạo mới mẻ, độc đáo) – Các giai đoạn sáng tác: + Trước Cách mạng: luôn quan tâm đến thế giới tinh thần, sự xói mòn nhân phẩm. Sở trường phát hiện và miêu tả tâm lí + Sau Cách mạng: có cống hiến cho văn học kháng chiến. 2. Tác phẩm: – Các tên cũ: Cái lò gạch cũ, Đôi lứa xứng đôi. – Tóm tắt: (SGK) – Vị trí đoạn trích: phần cuối tác phẩm. II. Đọc – hiểu văn bản: 1. Nhân vật Chí Phèo: a. Chí Phèo sau khi tỉnh rượu: – Nghe: tiếng chim hót ríu rít, tiếng người đi chợ, tiếng gõ thuyền chài thanh âm, tiếng gọi tha thiết của cuộc sống. (1) (2) (3) (4) 9. Diễn biến tâm trạng của Chí Phèo sau khi tỉnh rượu? Thể hiện tâm trạng Chí Phèo như vậy, tác giả đặt nhân vật trong thế đối sánh như thế nào? – Gọi HS đọc Thằng này rất ngạc nhiên rất vui. 10. Tại sao tác giả lại đặt vào tác phẩm chi tiết bát cháo hành của Thị Nở? 11. Đón nhận bát cháo hành, tâm trạng và cảm xúc của Chí Phèo ra sao? Nguyên nhân dẫn đến sự thức tỉnh bản chất con người trong Chí Phèo. – Gọi đại diện nhóm báo cáo, các nhóm khác bổ sung. (Suy ngẫm về hiện tại, nhớ về quá khứ, lo sợ cho tương lai) 1 HS đọc bài, cả lớp theo dõi (Thể hiện sự quan tâm và tình cảm chân thành của Thị Nở) (Ngạc nhiên, thấy bâng khuâng vì cảm nhận được tình cảm của Thị Nở) (Bản chất vốn có và tình cảm của Thị Nở) – Buồn, nhớ về quá khứ: đã từng mơ ước về cuộc sống gia đình (chồng cày thuê cuốc mướn, vợ dệt vải, bỏ vài con lợn, mua ruộng) rất đơn sơ, bình dị, rất người. – Suy ngẫm về đời mình: già mà vẫn còn cô độc, sự cô độc còn đáng sợ hơn đói rét và ốm đau Tác giả đặt nhân vật trong sự nhắc nhở về quá khứ, suy ngẫm về hiện tại và lo sợ cho tương lai. è Chí Phèo đã nhận thức được sự tồn tại của mình. * Bát cháo hành của Thị Nở: – Ý nghĩa: + Lần đầu tiên Chí được đàn bà cho + Hàm chứa sự quan tâm và tình yêu thương chân thành của Thị Nở – Tâm trạng Chí Phèo: (ngạc nhiên mắt hình như ươn ướt bâng khuâng thấy Thị có duyên ăn năn): + Xúc động, hạnh phúc, ăn năn về những tội ác đã làm. + Hắn thèm lương thiện, muốn làm hòa với mọi người biết bao. è Chí Phèo đã thức tỉnh bản chất lương thiện của con người. (Nguyên nhân: Chí Phèo vốn là người lương thiện; tình người của Thị Nở thức tỉnh tính người) (1) (2) (3) (4) (25’) Hoạt động 3: Hướng dẫn HS tìm hiểu diễn biến tâm trạng Chí Phèo khi bị từ chối tình yêu: 12. Tại sao Chí Phèo lại khát thèm lương thiện? Khát khao ấy có thực hiện được không? – Gọi HS Thị nghe thấy thế chúng định làm. 13. Tác giả đã miêu tả Chí Phèo khi bị Thị Nở từ chối như thế nào? 14. Ý nghĩa của chi tiết Chí Phèo chạy theo nắm lấy tay Thị Nở? 15. Trong đoạn vừa rồi, chi tiết hơi cháo hành xuất hiện mấy lần? 16.Việc Thị Nở từ chối tình yêu của Chí Phèo dẫn tới điều gì? 17. Hành động nào thể hiện sự phản kháng của Chí Phèo khi khao khát lương thiện bị cự tuyệt? 18. Tại sao Chí Phèo lại đến nhà Bá Kiến? – GV liên hệ lúc Chí Phèo mới ở tù về đến nhà Bá Kiến rạch mặt ăn vạ. (Chí Phèo nhận thức được bản thân mình, ân hận về những tội ác đã làm) (Ngạc nhiên, ngẩn người, thấy hơi cháo hành, sửng sốt, gọi lại, chạy theo) (Tha thiết muốn có hạnh phúc, níu kéo hạnh phúc) (2 lần. là biểu tượng của khát khao hạnh phúc mãnh liệt trong Chí Phèo) (Chí Phèo không được trở lại làm người lương thiện) (Xách dao đi trả thù) (Ý thức được Bá Kiến là kẻ thù chính, kẻ thù sâu xa đưa Chí vào đường cùng) b. Chí Phèo khi bị từ chối tình yêu: – Ngạc nhiên ngẩn người thấy hơi cháo hành ngẩn mặt, không nói gì sửng sốt gọi lại chạy theo nắm lấy tay Thị Nở. è Chí Phèo tha thiết muốn có hạnh phúc, muốn níu kéo hạnh phúc. – Uống rượu, càng uống càng tỉnh, cứ thoang thoảng thấy hơi cháo hành. * Hơi cháo hành: biểu tượng của tình yêu thương và khát khao hạnh phúc mãnh liệt. – Thị nở từ chối: Chí Phèo không được trở lại làm người lương thiện. è Chí Phèo bị cự tuyệt quyền làm người (Tấn bi kịch tinh thần đau khổ nhất của loài người) – Trả thù: xách dao đi giết Thị Nở nhưng lại đến nhà Bá Kiến đó là kẻ thù chính, kẻ thù sâu xa đối với cuộc đời Chí Phèo. (Nghệ thuật nắm bắt và miêu tả tâm lí con người) (1) (2) (3) (4) (9’) Giết chết kẻ thù, Chí Phèo cứ trở lại làm người lương thiện có được không? Tại sao? 19. Diễn biến tâm trạng của Chí Phèo được tác giả miêu tả như thế có hợp lôgic không? Vì sao? 20. Ý nghĩa cái chết của Chí Phèo? 21. Ý nghĩa chi tiết Thị Nở nhìn nhanh xuống bụng? – GV giảng về khái niệm điển hình 22. Em có thể lí giải tại sao tên tác phẩm là Chí Phèo chứ không phải Cái lò gạch cũ hay Đôi lứa xứng đôi? – GV nhấn mạnh: thể hiện quan diểm tư tưởng của tác giả về số phận con người trong xã hội. Hoạt động 4: Hướng dẫn HS tìm hiểu nhân vật Thị Nở: 23. Nguyên nhân Thị Nở lại đến với Chí Phèo? Thị có phải là kẻ bạc tình không? Vì sao? 24. Tại sao tác giả lại đưa Thị Nở đến với Chí Phèo? (Không được, vì xã hội không cho phép mà Chí Phèo không thể sống như cũ) (Hợp lôgic, vì bản chất con người vốn là lương thiện, khi bị cự tuyệt thì nhận ra kẻ thù đẩy mình đến đường cùng) (Sức mạnh tố cáo xã hội) (Nếu xã hội thực dân phong kiến còn tồn tại thì những Chí Phèo con sẽ tiếp tục ra đời) Phát biểu theo ý kiến cá nhân. (Bản tính hồn nhiên chân thành; Không phải, do xã hội cấm cản) (Đánh thức tính người, khẳng định phẩm chất tốt đẹp) – Chí Phèo tự giết mình: Chí Phèo đã thức tỉnh + Không thể sống như cũ Không còn + Không được làm người con đường khác lương thiện Chết để bảo vệ phần người vừa thức tỉnh. è Sức mạnh tố cáo xã hội: Chí Phèo là sản phẩm của xã hội thực dân, phong kiến. * Cái nhìn nhanh xuống bụng của Thị Nở: xã hội thực dân phong kiến còn tồn tại thì còn hiện tượng Chí Phèo Chí Phèo là hiện tượng điển hình. 2. Nhân vật Thị Nở: – Bản tính hồn nhiên, chân thành. – Vai trò: đánh thức nhân tính trong Chí Phèo, khẳng định phẩm chất tốt đẹp luôn tồn tại trong người lao động. (1) (2) (3) (4) (5’) Hoạt động 5: Tổng kết, kiểm tra, đánh giá: 25. Những nét cần ghi nhớ về tác giả Nam Cao? 26. Em có suy nghĩ gì về số phận con người trong xã hội bấy giờ? 27. Ngòi bút nhân đạo sâu sắc, mới mẻ của Nam Cao thể hiện ở chỗ nào? (Con người, quan điểm sáng tác) Ý kiến cá nhân. (Phát hiện và khẳng định phẩm chất tốt đẹp luôn tồn tại trong con người dù đã bị xã hội tha hóa) III. Tổng kết: – Nhà văn Nam Cao – Nội dung: + Quá trình diễn biến tâm lí phức tạp của Chí Phèo để thức tỉnh. + Tố cáo xã hội sâu sắc. – Nghệ thuật: tài năng phát hiện và nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật. 5. Dặn dò: (1’) – Về nhà tìm hiểu thêm về Nam Cao và các tác phẩm của ông. – Chuẩn bị bài mới: Luận về chính học cùng tà thuyết: Phong cách ngôn ngữ báo chí. NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN: Giáo sinh:

Cảm Nhận Về Nhân Vật Chí Phèo Trong Tác Phẩm Chí Phèo (Nam Cao)

Cảm nhận về nhân vật Chí Phèo trong tác phẩm cùng tên của Nam Cao là tốt hay không tốt? Nêu lên những cảm nhận của mình để làm sáng tỏ lên hình ảnh người cố nông hiền lành, lương thiện bị đầy vào con đường lưu manh nhưng vẫn luôn khao khát được hạnh phúc, khao khát được lương thiện. Qua đó phản ánh nỗi khổ, nỗi bất hạnh của người lao động khi phải sống trong một xã hội phong kiến thối nát.

Hướng dẫn làm văn cảm nhận về nhân vật Chí Phèo

Đề bài: Viết bài văn nêu cảm nhận của em về nhân vật Chí Phèo trong tác phẩm cùng tên của Nam Cao.

1. Phân tích đề

– Yêu cầu: nêu cảm nhận về nhân vật Chí Phèo trong truyện ngắn cùng tên.

– Phạm vi tư liệu, dẫn chứng : từ ngữ, chi tiết tiêu biểu trong truyện ngắn Chí Phèo của Nam Cao.

– Phương pháp lập luận chính: Phân tích, cảm nhận.

2. Hệ thống luận điểm

– Luận điểm 1: Chí Phèo bản chất là một người nông dân lương thiện

– Luận điểm 2: Chí Phèo là một người cô độc

– Luận điểm 3: Chí Phèo phải chịu số phận với nhiều bi kịch

– Luận điểm 4: Bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người.

3. Lập dàn ý chi tiết

a) Mở bài:

– Giới thiệu khái quát tác giả, tác phẩm

+ Nam Cao là nhà văn hiện thực lớn, một nhà báo kháng chiến, một trong những nhà văn tiêu biểu nhất thế kỷ 20.

+ Chí Phèo là một tác phẩm xuất sắc, thể hiện nghệ thuật viết truyện độc đáo của Nam Cao viết về một tấn bi kịch của một người nông dân nghèo bị tha hóa trong xã hội.

– Giới thiệu về hình tượng nhân vật Chí Phèo – một nhân vật điển hình cho con người và số phận người nông dân trong xã hội phong kiến.

: Nam Cao rất nổi tiếng với những tác phẩm truyện, những tác phẩm nổi tiếng được nhiều người biết đến là Lão Hạc, Chí Phèo, Một bữa no, Nửa đêm, Mua danh, Một đám cưới... trong đó tác phẩm nổi tiếng nhất là Lão Hạc. Tác phẩm Lão Hạc nói về sự tha hóa của số phận của một con người, sự thay đổi của con người về tính tình và tình cảm qua sự thay đổi về xã hội. Nổi bật nhất trong truyện là hình tượng Chí Phèo, một nhân vật điển hình cho con người và số phận người nông dân, chúng ta cùng đi tìm hiểu về nhân vật này.

b) Thân bài: Cảm nhận về nhân vật Chí Phèo

* Chí Phèo bản chất là một người nông dân lương thiện

– Chí Phèo xuất thân là một người nông dân nghèo, không nhà, không cửa, không một tấc đất cắm dùi.

– Mặc dù vậy, Chí vẫn có những phẩm chất tốt đẹp:

– Sau này, khi gặp Thị Nở, sự lương thiện lại một lần nữa quay lại trong Chí:

+ Nhận biết được âm thanh cuộc sống: Tiếng chim hót, tiếng cười nói của người đi chợ

* Chí Phèo là một người cô độc

– Ngay từ khi sinh ra đã phải gắn với số phận không cha, không mẹ

– Qua tiếng chửi, ta thấy nhân vật hiện lên:

+ Là một kẻ lưu manh cứ rượu vào là chửi

+ Là nạn nhân ra sức cựa quậy, mong muốn được coi là người bình thường

* Chí Phèo phải chịu số phận với nhiều bi kịch

– Bi kịch bị tha hóa:

+ Bị Bá Kiến đẩy vào tù, sau khi ra tù:

– Diễn biến tâm trạng của Chí Phèo:

+ Lúc đầu: Chí ngạc nhiên trước thái độ của Thị Nở

+ Sau khi hiểu ra mọi việc: Chí tuyệt vọng, uống rượu rồi xách dao đến nhà Bá Kiến đâm chết hắn và tự sát.

– Ý nghĩa hành động đâm chết Bá Kiến và tự sát của Chí:

+ Đâm chết Bá Kiến là hành động lấy máu rửa thù của người nông dân thức tỉnh về quyền sống.

+ Cái chết của Chí Phèo là cái chết của con người trong bi kịch đau đớn trên ngưỡng cửa trở về cuộc sống làm người.

* Đặc sắc nghệ thuật xây dựng nhân vật

– Xây dựng nhân vật điển hình trong hoàn cảnh điển hình

– Nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật

– Ngôn ngữ mộc mạc, giản dị.

c) Kết bài:

– Khái quát chung chân dung nhân vật Chí Phèo

– Nêu cảm nhận của em về hình tượng nhân vật Chí Phèo.

Chí Phèo là hiện thân của một tầng lớp trong xã hội, đồng thời Chí Phèo là một trong những hình tượng tác giả khắc họa để thể hiện được sự xấu xa của xã hội.

4. Sơ đồ tư duy cảm nhận nhân vật Chí Phèo

Những bài văn mẫu hay cảm nhận về nhân vật Chí Phèo của Nam Cao

Chí Phèo – nhân vật hội tụ đầy đủ những đặc sắc của thiên truyện

Trước Cách mạng tháng Tám, số phận người nông dân là mối quan tâm hàng đầu của dòng văn học hiện thực phê phán. Ngô Tất Tố có Tắt đèn với chị Dậu, Nguyễn Công Hoan có Bước đường cùng với anh Pha,… Và đặc biệt là Nam Cao với hàng loạt tác phẩm xuất sắc về người nông dân Việt Nam trước Cách mạng. Trong đó nói lên hình tượng trong tác phẩm cùng tên. Hình tượng nhân vật này đã để lại trong lòng người đọc nhiều cảm nhận sâu sắc.

Chí Phèo là ai? Mở đầu tác phẩm, Nam Cao đã giới thiệu nhân vật của mình một cách độc đáo. Nhà văn để Chí Phèo hiện lên trong bộ dạng của một kẻ say rượu: “Hắn vừa đi vừa chửi”. Mà hắn chửi mới lạ lùng và ngoa ngoắt làm sao: “Hắn chửi trời, chửi đời, chửi cả làng Vũ Đại, chửi cả những ai không chửi nhau với hắn”. Không lạ sao được bởi khi chửi người ta thường phải hướng tới một đối tượng cụ thể đằng này hắn hướng tới tất cả cuộc đời này, trời đất này. Lạ lùng hơn nữa, đây không phải là lần đầu tiên hắn chửi bởi “Bao giờ cũng thế, cứ rượu xong là hắn chửi”. Vì sao hắn lại đến nông nỗi ấy? Nhân vật của Nam Cao vừa mới xuất hiện đã trở thành một ẩn số khiến người đọc tò mò đoán định: con người ấy không tạo được chút cảm tính nào, song lại gieo vào lòng người một niềm xót xa – hẳn anh ta phải có nỗi niềm khổ đau nào đó mới đến nỗi dùng rượu để hủy hoại thân xác, những tiếng chửi đời ngoa ngoắt kia cũng nói lên một điều rằng chủ nhân của nó đã bị mất hết niềm tin vào cuộc đời, vào con người trên thế gian này. Người đọc tò mò đọc tiếp trang truyện và quả thực, cuộc đời Chí Phèo hiện lên như một cuốn phim bi thảm.

Chí vốn là đứa trẻ bị bỏ rơi một cách tàn nhẫn, sự ra đời của hắn không được ai mong đợi. Nói trắng ra, hắn là một đứa con hoang, cha hắn không thừa nhận, mẹ hắn bỏ lại hắn ở cái lò gạch hoang mặc cho sống chết. Vậy là chỉ có cái lò gạch hoang là đón đợi hắn mà thôi. Khi Chí xám ngắt trong chiếc váy đụp thì những người nông dân nghèo khổ đã nhặt hắn. Ban đầu là một anh đi thả ống lươn. Sau đó là một bà góa mù rồi bác phó cối. Khi bác phó cối chết, Chí Phèo thành đứa trẻ bơ vơ muốn có miếng ăn Chí phải đi hết nhà này đến nhà khác, nghèo khổ và bẽ bàng. Đời hắn bọt bèo, lênh đênh, tội nghiệp chẳng khác chi một thứ cỏ dại trôi dạt hết góc này đến xó nọ. Âu đó cũng là tình cảnh chung của số phận người nông dân trước cách mạng, đời họ cũng dập dềnh theo những phen phiêu tán li gia. Kẻ đi ở đợ, người buôn thúng bán mẹt nay đây mai đó, cực nhục hơn phải tha hương cầu thực ở xứ người.

Đến năm mười tám đôi mươi, số phận đưa đẩy Chí tới gia đình lí Kiến. Đến cửa nhà giàu tưởng kiếm được bát cơm manh áo ai ngờ lại gặp địa ngục trần gian. Bởi cái con vợ ba “quỉ cái” của lí Kiến cứ bắt hắn bóp chân khêu gợi những chuyện dâm dạt. Hắn vùng vằng: tuy còn trẻ nhưng hắn cũng phân biệt được đâu là tình yêu chân chính đâu là thói dâm dục xấu xa. Sự cám dỗ đó không làm bản chất của Chí bị bôi nhọ. Chí thực sự là chàng trai tự trọng, lương thiện. Suy cho cùng đó là bản chất tốt đẹp của người nông dân xưa, chất phác, thật thà và đầy tự trọng. Đọc đến đây, người đọc khó có thể quên hình ảnh chị Dậu của Ngô Tất Tố cầm nắm giấy bạc ném vào mặt tên quan bỉ ổi, đê tiện. Hay gần gũi hơn là một nhân vật của chính Nam Cao, lão Hạc, lòng tự trọng đã khiến lão từ chối “gần như là hách dịch” mọi sự giúp đỡ của mọi người, và cuối cùng lão đã dùng cái chết để bảo toàn lòng tự trọng cao quý nơi con người mình. Ở Chí Phèo, bản chất lương thiện ấy bị cái xã hội tăm tối ra sức hủy diệt. Nhà tù thực dân đã tiếp tay cho tên cường hào lí Kiến bắt giam Chí, biến hắn từ một người lương thiện thành con quỉ dữ.

Sau bảy, tám năm ở tù về Chí trở thành một con quỉ dữ đáng sợ “cái đầu thì trọc lốc”, “răng cạo trắng hớn”, “trông gớm chết”. Trên người hắn xăm đầy những hình thù quái dị – bản chất của hắn năm xưa đã biến mất. Bây giờ hắn là một kẻ ác chỉ biết làm việc ác. Nhà văn đã dùng đến hai lần từ “gớm chết” để bày tỏ sự kinh hãi và cũng là để khu biệt hắn với những người dân lương thiện trong cái làng này. Sự lưu manh của Chí thể hiện cụ thể ngay trong những hành động thường nhật. Mua rượu không được hắn đốt quán, hắn lấy mảnh chai rạch mặt ăn vạ kêu làng… Hắn càng ác và đáng sợ hơn khi rơi vào tay bá Kiến rồi trở thành công cụ đắc lực cho hắn. Chỉ cần bá Kiến quăng cho vài hào hắn có thể đâm chém bất cứ ai, làm tất cả những gì người ta sai. Càng ngày Chí càng trượt dài trên còn đường tội lỗi lưu manh.

Ở đây, với đặc điểm này của Chí Phèo, Nam Cao đã có một phát hiện mới trong đời sống người nông Việt Nam trước Cách mạng. Nếu chỉ dừng lại ở việc miêu tả đời sống khốn cùng, quẫn bách, nỗi cực nhục bọt bèo của người nông dân thì đã có Tắt đèn, đã có Bước đường cùng,… Nhưng cái mới của Nam Cao là đã chỉ ra con đường bị lưu manh hóa về bản chất của người nông dân. Họ vốn chất phác, thật thà, lương thiện và đầy tự trọng. Có những người cả cuộc đời không ra khỏi lũy tre làng thì làm sao có thể hại làng hại nước? Song nhà văn bằng ngòi bút sắc sảo, tỉnh táo đã vạch ra thủ phạm của tội ác đứng sau mỗi con quỷ lương tâm của người nông dân. Đó là những thủ đoạn đê tiện của bọn cường hào địa phương kết hợp với cường hào hà khắc, tàn bạo của chính quyền thực dân. Chính chúng đã tẩy não, đã nhào nặn lại và rồi bôi bẩn những tâm hồn vốn rất mong manh, lương thiện.

Song, cái tốt đẹp thuộc về bản chất xưa kia ở Chí Phèo như một tiềm thức sâu xa, nó giống như mặt trời có thể bị che mờ nhưng sẽ không bao giờ nguội tắt. Sau giấc ngủ dài mê man, nó cựa quậy, động đậy đòi tỉnh giấc. Nó thúc giục Chí Phèo trở thành người lương thiện.

Cuộc gặp gỡ với Thị Nở đã mở ra một bước ngoặt lớn lao trong cuộc đời Chí Phèo. Thị Nở chẳng khác nào ánh trăng mát lành của đêm ấy. Tình thương của Thị Nở chẳng khác nào dòng sông lấp lánh dưới ánh trăng gợi biết bao tình. Điều đó đã thức dậy cái bản chất lương thiện trong Chí làm nó sống lại và thực sự sống lại trong kiếp sống con người. Tình thương quả là một thứ biệt dược, nó có thể khôi phục, chữa lành cả những vết thương bị nhiễm trùng nặng nhất. Đoạn văn viết về sự thức tỉnh của Chí Phèo sau khi gặp Thị Nở tràn đầy chất thơ. Thị Nở đã làm sống lại trong Chí sự tự ý thức về mình. Chí Phèo sống lại với mong ước “một gia đình nhỏ”, “chồng cày thuê cuốc mướn, vợ dệt vải quanh năm, hai đứa bỏ vốn nuôi con lợn”.

Sau bao nhiêu năm, hôm nay Chí lại nghe “tiếng chim hót ngoài kia vui vẻ quá” hay “tiếng những người đi chợ về hỏi nhau: Hôm nay vải mấy xu hả dì?”. Những âm thanh ấy hôm nào chả có? Nhưng hôm nay Chí mới nghe thấy bởi hôm nay Chí mới bừng tỉnh, mới thiết tha hướng về cuộc sống. Bát cháo hành Thị Nở đem đến làm Chí cảm động “Mắt ươn ướt nước” và “hắn cười thật hiền”. Rồi hắn muốn hướng về tương lai, một tương lai bình dị: mái ấm gia đình. Nước mắt, lại là nước mắt đàn ông, Nam Cao từng gọi đó là “lăng kính biến hình của vũ trụ”. Ta có cảm giác giọt nước mắt kia, nụ cười thật hiền trên môi Chí kia đã cuốn đi, đã xua tan quá khứ tối tăm, u ám của hắn. Có lẽ chính giọt nước mắt và nụ cười ấy của Chí Phèo Thị Nở đã có khi thầm nghĩ: “Có lúc hắn hiền như đất”. Rồi hắn nói với Thị Nở: “Cứ thế này mãi thì thích nhỉ… hay là mình sang ở với tớ một nhà cho vui”. Hắn khát khao muốn trở về thế giới người lương thiện: “Trời ơi hắn thèm lương thiện, hắn muốn làm hòa với mọi người biết bao, Thị Nở sẽ mở đường cho hắn”.

Chính những trang văn trên đã làm sáng bừng cho câu chuyện và sáng bừng lên quãng đời trôi nổi, tăm tối của Chí Phèo. Chưa khi nào từng cử chỉ, hành động, câu nói của anh khiến ta cảm động như thế. Chúng thể hiện một điều rằng: lần đầu tiên trong đời Chí Phèo gặp được lí tưởng, mục đích sống của đời mình. Nó nằm ở nơi người đàn xấu xí cả xã hội chê bai, xa lánh. Ước mơ giản dị, mong manh của hắn có thể làm bất kì ai cũng phải giật mình nhìn lại những gì mình đang có để nâng niu và thấy trân trọng nó hơn.

Bài văn cảm nhận của em về nhân vật Chí Phèo hay nhất

Với tác phẩm truyện ngắn “Chí Phèo“, Nam Cao xứng đáng là một trong những tên tuổi lớn của trào lưu văn học hiện thực giai đoạn trước Cách mạng tháng Tám 1945 cùng với những cái tên như Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng… Có thể nói cùng viết về đề tài nông dân nhưng các tác phẩm của nhà văn Nam Cao, đặc biệt là trong thể loại truyện ngắn thì “Chí Phèo” đã đạt tới một giá trị nhân đạo sâu sắc thông qua một hình thức mới mẻ. Nếu như các nhà văn khác đi sâu vào phản ánh phong tục hay đời sống cùng cực của nông dân dưới thời thực dân phong kiến thì Nam Cao lại chú trọng đến việc thể hiện nỗi đau đớn đến tột cùng của những tâm hồn, nhân cách bị xúc phạm, bị hủy diệt. Đồng thời, ông cũng kín đáo bênh vực và khẳng định nhân phẩm của những con người cùng khổ. Có thể nói rằng Chí Phèo là nhân vật thể hiện rõ nhất cái nhìn mới mẻ của Nam Cao về người nông dân trước Cách mạng.

Nhân vật Chí Phèo vốn là một thanh niên hiền lành, lương thiện nhưng đã bị bọn cường hào ở làng Vũ Đại đẩy vào bước đường cùng. Là một đứa con hoang bị bỏ rơi từ lúc mới lọt lòng, Chí được một bác phó cối không con đem về nuôi. Bác phó cối chết, Chí tứ cố vô thân, hết đi ở cho nhà này lại đi ở cho nhà khác. Hoàn cảnh éo le không cha không mẹ, không một tấc đất cắm dùi, Chí lớn lên như cây cỏ, chẳng được ai ban cho chút tình thương. Trong khoảng thời gian làm canh điền cho nhà lí Kiến, Chí được tiếng là hiền như đất. Dù nghèo khổ, không được giáo dục nhưng Chí vẫn biết đâu là phải trái, đúng sai, đâu là tình yêu và đâu là sự dâm đãng đáng khinh bỉ. Mỗi lần bị mụ vợ ba lí Kiến bắt bóp chân, Chí chỉ thấy nhục chứ yêu đương gì. Và cũng như biết bao nông dân nghèo khác, Chí đã từng mơ ước một cuộc sống gia đình đơn giản mà đầm ấm: Chồng cuốc mướn cày thuê, vợ dệt vải. Chúng lại bỏ một con lợn để làm vốn liếng. Nếu làm ăn khá giả thì mua dăm ba sào ruộng làm. Một con người rất lành rồi cái mầm thiện trong con người Chí sớm bị quật ngã tả tơi và không sao gượng dậy được nữa.

Có ai ngờ đâu một anh canh điền chất phác đến thật thà ấy đã thực sự bị tha hóa bởi sự ghen ghét, tù đày, để rồi biến thành con quỷ dữ của làng Vũ Đại. Vì ghen tuông vô lối, lí Kiến đã nhẫn tâm đẩy anh Chí vào tù và nhà tù thực dân đã nhào nặn Chí thành một con người khác hẳn. Đây chính là nguyên nhân trực tiếp tạo nên bước ngoặt đau thương và bi kịch trong cuộc đời Chí. Nhưng có thể nói nguyên nhân sâu xa chính là xã hội đương thời với những thế lực bạo tàn luôn tìm cách vùi dập những người nông dân thấp cổ bé họng như Chí. Chí bị đẩy vào con đường bần cùng hóa, lưu manh hóa là tất yếu.

Khi ra tù, Chí như đã biến thành một con người hoàn toàn khác trước, với một cái tên sặc mùi giang hồ là Chí Phèo: Hắn về lớp này trông khác hẳn, mới đầu chẳng ai biết hắn là ai. Trông đặc như thằng sắng đá… Cái đầu thì trọc lốc. Cái răng cạo trắng hớn, cái mặt thì đen mà lại rất cơng cơng, hai mắt gườm gườm trông gớm chết! Hắn mặc cái quần nái đen với cái áo tây vàng. Cái ngực phanh, đầy những nét chạm trổ rồng phượng với một ông tướng cầm chuỳ, cả hai cánh tay cũng thế. Có thể nói chính nhà tù thực dân tiếp tay cho tên cường hào lí Kiến, bắt bỏ tù một anh Chí hiền lành, vô tội, để rồi thả ra một gã Chí Phèo lưu manh, côn đồ. Từ một người nông dân hiền lành, lương thiện, Chí bị biến thành quỷ dữ.

Khi mà Chí Phèo trở về làng Vũ Đại, cái mảnh đất quần ngư tranh thực, cá lớn nuốt cá bé ấy, Chí Phèo không thể hiền lành, nhẫn nhục như trước nữa. Hắn đã nắm rõ được quy luật khắt khe của sự sinh tồn: những kẻ cùng đinh càng hiền lành càng bị ức hiếp đến không thể ngóc đầu lên được. Hắn dường như đã hiểu và biết rằng phải dữ dằn, lì lợm, tàn ác mới mong tồn tại. Hắn đã mượn men rượu để tạo ra những cái đó. Hắn chìm ngập trong những cơn say triền miên và làm những việc như rạch mặt ăn vạ, đâm chém người cũng trong cơn say. Chí Phèo đã bị bá Kiến – kẻ thù của hắn biến thành con dao trong tay cường hào, thâm độc.

Và với nhân vật Chí Phèo, nhà văn Nam Cao đã phản ánh chân thực và sinh động bi kịch bị hủy diệt tâm hồn và nhân phẩm của những người nông dân nghèo khổ. Chí Phèo đã bị sa lầy trong vũng bùn của sự tha hóa mà không thể nào gượng đứng lên được, càng lúc càng lún sâu xuống đáy. Cũng có lẽ rằng hắn cũng không biết rằng hắn là con quỷ dơ của làng Vũ Đại, để tác quái cho bao nhiêu dân làng. Hắn biết đâu hắn đã phá vỡ bao nhiêu cơ nghiệp của mọi người, đập nát bao cảnh yên vui, đạp đổ bao nhiêu hạnh phúc, làm chảy máu và nước mắt của bao nhiêu người lương thiện. Và vô tình hắn cũng đã đập nát tất cả những gì thuộc về tư cách của một con người trong hắn. Tất cả dân làng Vũ Đại đều quay lung lại với hắn, khinh bỉ và ghê tởm hắn. Người ta rất sợ bộ mặt đầy những vết sẹo ngang dọc gần giống như mặt của một con thú dữ, sợ con quỷ trong tâm hồn hắn.

Có thể nói sự tha hóa của Chí Phèo một mặt tố cáo sự tàn bạo của xã hội thực dân phong kiến đã không cho con người được làm người, mặt khác thể hiện giá trị nhân đạo mới mẻ của Nam Cao trong cách nhìn nhận số phận người nông dân trước Cách mạng.

Dường như đã đi sâu vào bi kịch tinh thần của nông dân, Nam Cao nhận ra vẻ đẹp ẩn chứa trong sâu thẳm tâm hồn họ. Chí Phèo luôn luôn bị bạo lực đen tối hủy diệt nhân phẩm nhưng trong đầu óc hắn như vẫn còn le lói đâu đó ánh lửa thiên lương và khát khao được làm người. Cái độc đáo của Nam Cao chính là ở chỗ tác giả đã để cho nhân vật Chí Phèo chênh vênh giữa hai bờ Thiện – Ác. Có thể nói đằng sau bộ mặt dở người dở thú là nỗi đớn đau, vật vã của một kẻ sinh ra là người mà bị cự tuyệt quyền làm người. Trong cơn say triền miên, Chí Phèo cất tiếng chửi trời, chửi đời… Tiếng chửi của hắn như một thông điệp phát đi, và sau đó lại cầu mong có sự đáp lại nhưng cả làng Vũ Đại chẳng ai thèm chửi nhau với hắn. Cho đến cuối cùng thì chỉ có ba con chó dữ và một thằng say rượu. Người ta coi hắn chẳng khác gì một con chó dại mà thôi, ai cũng đều xa lánh và sợ hãi.

Những khi hắn tỉnh rượu, nỗi lo sợ xa xôi và sự cô đơn tràn ngập lòng hắn. Hắn thèm được làm hòa với mọi người biết bao! Mối tình bất chợt và bất ngờ với Thị Nở có thể nói là món quà nhân ái mà Nam Cao ban tặng cho Chí Phèo. Tình yêu của Thị Nở đã làm hồi sinh lại cho Chí Phèo, đánh thức lương tri và khát vọng làm người của hắn. Lần đầu tiên trong đời, hắn – một tên Chí Phèo tha hóa kia lại sợ cô đơn và hắn muốn khóc khi nhận bát cháo hành từ tay Thị Nở. Lần đầu tiên sau bao nhiêu năm dài đằng đẵng, những âm thanh quen thuộc của cuộc sống vọng đến tai hắn và ngân vang trong lòng hắn, khiến hắn càng thèm được làm một con người bình thường như bao người khác và khấp khởi hi vọng Thị Nở sẽ mở đường cho hắn.

Nhưng lúc này đây thì cánh cửa cuộc đời vừa mới hé mở đã bị đóng sập lại trước mặt Chí Phèo. Bà cô Thị Nở – đại diện cho dân làng Vũ Đại – đã dứt khoát không chấp nhận Chí Phèo. Từ hi vọng hạnh phúc, thì giờ đây Chí Phèo rơi xuống vực thẳm tuyệt vọng. Lần đầu tiên trong đời hắn ý thức sâu sắc về số phận bất hạnh của mình. Hắn lại đem rượu ra uống để mong cơn say làm vơi bớt khổ đau, tủi nhục nhưng khốn nỗi càng uống hắn càng tỉnh. Hắn đã thực sự muốn làm người trở lại, muốn làm người lương thiện nhưng cả làng Vũ Đại tẩy chay hắn, không ai coi hắn là người. Hắn cũng không thể tiếp tục làm quỷ dữ bởi đã ý thức sâu sắc về bi kịch đời mình.

Có thể nói để giành lại sự sống cho tâm hồn, thì Chí Phèo buộc phải từ bỏ thể xác. Chí Phèo đã chết trên ngưỡng cửa trở về cuộc sống của một người lương thiện. Cái chết vật vã, đau đớn và câu hỏi cuối cùng của Chí Phèo: Ai cho tao lương thiện ? còn làm day dứt và ám ảnh lương tâm người đọc cho đến tận ngày nay. Đó cũng là câu hỏi lớn của Nam Cao: Làm thế nào để con người được sống đích thực là con người trong cái xã hội tàn bạo ấy?

Với truyện ngắn đặc sắc “Chí Phèo’, Nam Cao đã thực sự đạt tới tầm cao của tư tưởng nhân đạo khi nhìn nhận và đánh giá người nông dân trước Cách mạng. Nhà văn không dừng ở hiện tượng bên ngoài mà đi sâu vào thể hiện bản chất bên trong của con người. Nam Cao cũng đã chứng tỏ bút lực già dặn của mình qua tài nghệ xây dựng hình tượng nhân vật điển hình trong hoàn cảnh điển hình. Ý nghĩa xã hội của hình tượng Chí Phèo rất lớn và sức sống của nó cũng thật lâu dài. Có thể nói tác phẩm và nhân vật đã tôn vinh tên tuổi Nam Cao trong lịch sử văn chương của nước ta.

Văn mẫu 11 cảm nhận của em về nhân vật Chí phèo trong tác phẩm cùng tên

Nhà văn Nam Cao là một nhà văn tên tuổi có vị trí quan trọng trong nền văn học hiện thực Việt Nam. Việc xây dựng nhân vật vô cùng đặc sắc điển hình tạo nên sự thành công trong sự nghiệp của Nam Cao đó chính là nhân vật Chí Phèo.

Với tác phẩm “Chí Phèo” tác giả Nam Cao xứng đáng với tên tuổi nổi bật của mình trong nền văn học nước nhà. Bởi nói tới nỗi khổ của người nông dân thì nhiều nhà văn đã thành công với nhiều tác phẩm nổi tiếng như tác phẩm Tắt Đèn của Ngô Tất Tố.

Chí Phèo là một thanh niên bản tính hiền lành, lương thiện, nhưng chính xã hội phong kiến, tầng lớp bóc lột của xã hội cũ đã chà đạp, xô đẩy cuộc đời Chí Phèo tới chân tường, không lối thoát, đánh mất giá trị con người mình, mất đi tính lương thiện vốn có của người nông dân hiền lành chất phác.

Nhân vật Chí Phèo khổ từ khi mới sinh ra, bởi anh là đứa trẻ mồ côi bị bỏ rơi trong chiếc lò gạch cũ. Rồi may mắn được bác phó cối nhặt về nuôi dưỡng thương yêu như con của mình. Nhưng chỉ được vài năm thì bác phó cối chết đi, Chí Phèo lang thang đi ở đợ cho hết nhà này tới nhà khác kiếm miếng ăn.

Năm mười mấy tuổi Chí Phèo đi làm canh điền cho gia đình giàu có quyền lực nhất làng Vũ Đại chính là nhà Bá Kiến. Chí Phèo được tiếng là hiền lành chăm chỉ như cục đất suốt ngày chỉ biết làm việc mà thôi. Dù không được học hành nhiều nhưng Chí Phèo hiểu thế nào là đúng sai, phải trái. Trong nhà Bá Kiến có bà Ba thường xuyên bắt Chí Phèo lên hầu hạ bóp chân, đấm lưng, bà ba còn trẻ nên có nhiều mong muốn trong vấn đề tình cảm, nhưng lão Bá Kiến thì già rồi nên không thể chiều bà thường xuyên được. Bà ba vợ lão Bá Kiến để mắt tới Chí Phèo, Chí Phèo biết và lão Bá Kiến biết.

Những lúc như vậy, Chí Phèo cảm thấy nhục chứ chẳng vui vẻ gì. Lão Bá Kiến thì sinh ghen tuông vô cớ với Chí Phèo rồi lão âm mưu vu vạ, cho Chí Phèo tội ăn cắp đẩy anh vào tù chừng bảy, tám năm gì đó tưởng đâu Chí Phèo đã chết mất mạng trong tù rồi chẳng ai còn nhớ tới anh nữa.

Chính những thời gian bị ngồi tù oan đã biến Chí Phèo từ con người hiền lành lương thiện trở một kẻ bị lưu manh hóa, đánh mất tính lương thiện trong mình. Khi mãn hạn tù trở về làng Vũ Đại, Chí Phèo đã biến thành một người hoàn toàn khác với trước kia, một tên giang hồ thật sự, răng cạo trắng ởn, đầu trọc lốc, ai nhìn thấy hắn cũng lảng tránh. Hắn đã trở thành tay sai cho Bá Kiến trong những việc đánh đấm đòi nợ thuê. Cuộc đời Chí Phèo từ khi ra tù về hắn triền miên trong những cơn say rượu, hết rượu, hết tiền hắn cướp để có tiền tiếp tục mua rượu uống. Hắn thật sự đã biến chất trở thành nỗi khiếp sợ của những người dân hiền lành lương thiện.

Khi xây dựng nhân vật Chí Phèo có lẽ Nam Cao đã phản ánh vô cùng sống động, chân thực cuộc sống của xã hội cũ, những người nông dân bị bần cùng, hủy hoại về tâm hồn vì sự nghèo khổ áp bức, tới cùng quẫn. Nhân vật Chí Phèo bị sa lầy trong vũng bùn của sự xuống cấp đạo đức, tha hóa lòng nhân hậu sự lương thiện. Nhưng chính Bá Kiến và xã hội lúc đó là nguyên nhân xô đẩy Chí Phèo tới bước đường đó. Sự tha hóa của Chí Phèo đã tố cáo tội ác dã man của xã hội phong kiến đã chà đạp lên nhân cách số phận của người nông dân, khiến cho người nông dân đánh mất nhân cách, tính thiện lương trong con người mình.

Càng đi sâu vào những bi kịch của người nông dân trước khi cách mạng tháng Tám xảy ra Nam Cao càng nhận ra những vẻ đẹp tiềm ẩn bên trong vẻ ngoài xù xì gai góc của họ. Mỗi người nông dân đều có nội tâm phong phú sâu sắc. Chí Phèo là một con người lương thiện, bản chất hiền lành nhưng chính xã hội đó đã tước đi quyền làm người lương thiện của Chí Phèo.

Cuộc gặp gỡ giữa Chí Phèo và Thị Nở là một cuộc gặp gỡ định mệnh, chính bát cháo hành của Thị Nở khi Chí Phèo ốm đã cứu vớt linh hồn con người của anh. Chí Phèo cảm thấy một cảm giác khó tả anh mong ước mơ hồ nhớ về nguyện vọng ước mơ của mình ngày xưa. Khi muốn có một mái ấm gia đình, vợ làm việc vợ, chồng làm việc chồng cùng nhau sum vầy sớm tối bên nhau.

Lần đầu tiên sau nhiều năm Chí Phèo tỉnh rượu hắn mơ hồ nhận thấy sự cô đơn của cuộc đời mình. Chí Phèo muốn có gia đình nhưng cánh cửa trở về làm người lương thiện đang mở ra bỗng đóng sầm trước mắt Chí Phèo. Khi bà cô ruột của Thị Nở không cho Thị Nở qua lại với anh, chê anh là thằng không cha không mẹ, thằng chuyên làm nghề rạch mặt ăn vạ…

Chí Phèo hận lắm, anh cảm thấy mình chẳng còn gì để mất cả anh muốn trả thù. Anh sẽ tìm tới bà cô Thị Nở cho bà ta một bài học, nhưng bàn chân của Chí Phèo lại đưa anh tới nhà lão Bá Kiến bởi trong tiềm thức Chí Phèo hiểu rằng mình trở nên mất lương thiện, mất tính người đi tới bước đường này đều do lão Bá Kiến gây ra. Câu hỏi Chí Phèo hỏi lão Bá Kiến khiến người đọc vô cùng xúc động “Ai cho tao lương thiện?” đó là câu hỏi thấm thía sâu sắc thể hiện sự đồng cảm của tác giả Nam Cao với đứa con tinh thần của mình.

Câu chuyện khép lại để lại trong lòng bạn đọc nhiều ám ảnh day dứt trong lòng người đọc về cuộc đời số phận của nhân vật Chí Phèo một con người đáng thương hơn đáng giận, một số phận bị bần cùng lưu manh hóa nhưng thực chất trong con người anh ta sự lương thiện vẫn luôn tồn tại, chỉ có điều nó bị xã hội phong kiến chà đạp lên mà thôi.

Truyện ngắn “Chí Phèo” với cốt truyện độc đáo, thể hiện sự nhân văn, nhân đạo của Nam Cao khi đi sâu khai thác nội tâm bên trong con người lao động thể hiện một cây bút lão luyện thiên tài của nền văn học hiện thực. Chí Phèo thật sự là một tác phẩm kinh điển của nền văn học hiện thực nước ta cho chúng ta một cái nhìn mới mẻ độc đáo hơn.

-/-

Giangdh (Tổng hợp)

Văn Nghị Luận Chí Khí Anh Hùng Lớp 10

Đề bài: Nghị luận về Chí khí anh hùng

“Lòng bốn phương” và “mặt phi thường” là những cụm từ đẹp, trang trọng mà Nguyễn Du đã dùng để nói về người anh hùng Từ Hải. “Bốn phương” nam, bắc, tây, đông có nghĩa là thiên hạ thế giới. “Lòng bốn phương” là chí nguyện lập công danh, sự nghiệp của người làm trai, ở đây là người anh hùng. “Mặt phi thường” là gương mặt của người xuất chúng, hơn người (hiểu theo nghĩa tài năng, bản lĩnh, đức độ). Nguyễn Du đã dùng những hình tượng – khái niệm có tính chất vũ trụ (“lòng bốn phương”) để chỉ phẩm chất xuất chúng (“mặt phi thường”) của Từ Hải. Tác giả muốn ví Từ Hải như chim bằng cưỡi gió bay cao,bay xa ngoài biển lớn.Không chỉ thể trong câu thơ còn diễn tả được tâm trạng của con người khi được thỏa chí tung hoành “diễn tả một cách khoái trá trong giây lát con người phi thường rời khỏi nơi tiễn biệt”.Chia li và hội ngộ,hội ngộ và chia ly, hai sự kiện trái ngược và nối tiếp chia cái đời thường của mỗi người ra thành những chặng đường giàu ý nghĩa hơn.Phải,nếu không có chia li và hội ngộ, cuộc sống chỉ là một dòng chảy đơn điệu và tẻ nhạt.Nếu hội ngộ là sướng vui,hạnh phúc thì chia li là sầu muộn, đau buồn. Hai cụm từ này có quan hệ gắn bó với nhau trong việc miêu tả chân dung người anh hùng. Phải là người có chí lớn (lòng bốn phương) thì mới thành người có tài cao, mới hiển danh thành đạt được (mới “rõ mặt phi thường”). Hai cụm từ vừa là khái niệm, vừa là hình tượng văn học, có quan hệ tương hỗ: người anh hùng là người xuất chúng, phi phàm, đồng thời lại là con người vũ trụ chứ không phải là người thường. Văn học trung đại tả người anh hùng thường gắn với các hình tượng thiên nhiên, không gian vũ trụ. Bốn câu thơ mà dựng lên một con người kỳ vĩ, đáng khâm phục, từ cái chí lớn, cho đến dáng vẻ, và nhất là sự “dứt áo ra đi”: Nửa năm hương lửa đương nồng Trượng phu thoắt đã động lòng bốn phương. Lí tưởng anh hùng của Từ Hải bộc lộ qua ngôn ngữ khi Từ Hải đối thoại với Kiều. Đây là một lời nói đẹp, mang khẩu khí của người anh hùng. Chỉ có điều, bút pháp ước lệ lại gắn bó chặt chẽ với cảm hứng vũ trụ để tôn cao, lý tưởng hóa vẻ đẹp của người anh hùng. “Lòng bốn phương” là khái niệm có nội hàm diễn tả lí tưởng con người có tầm vóc vũ trụ đồng thời lại mang tính ước lệ để nói lên con người có chí khí lớn lao. Hình tượng “trông vời trời bể mênh mang” vừa ước lệ (không tả cái nhìn cụ thể) lại vừa tạo nên ấn tượng về tầm vóc vũ trụ của Từ Hải. Các hình tượng khác như bốn bể, chim bằng, gió mây cũng vừa mang tính ước lệ vừa gợi lên tầm vóc vũ trụ của người anh hùng. Một loạt hình ảnh như vậy được tập trung trong một đoạn thơ ngắn đã khắc họa thành công và làm nổi bật chân dung người anh hùng Từ Hải với một vẻ đẹp lí tưởng. Trước hết, Từ Hải không quyến luyến, bịn rịn vì tình yêu mà quên lí tưởng cao cả. Khi Kiều ngỏ ý muốn đi theo, Từ Hải đã nói: “Sao chưa thoát khỏi nữ nhi thường tình?” (Nếu quyến luyến, chấp nhận cho Kiều đi theo, đó là thói thường nhi nữ).

Đó đều là ước lệ. Chỉ có điều, bút pháp ước lệ lại gắn bó chặt chẽ với cảm hứng vũ trụ để tôn cao, lí tưởng hóa vẻ đẹp của người anh hùng. “Lòng bốn phương” là khái niệm có nội hàm diễn tả lí tưởng con người có tầm vóc vũ trụ đồng thời lại mang tính ước lệ để nói lên con người có chí khí lớn lao. Chỉ có điều, bút pháp ước lệ lại gắn bó chặt chẽ với cảm hứng vũ trụ để tôn cao, lý tưởng hóa vẻ đẹp của người anh hùng. “Lòng bốn phương” là khái niệm có nội hàm diễn tả lí tưởng con người có tầm vóc vũ trụ đồng thời lại mang tính ước lệ để nói lên con người có chí khí lớn lao. Hình tượng “trông vời trời bể mênh mang” vừa ước lệ (không tả cái nhìn cụ thể) lại vừa tạo nên ấn tượng về tầm vóc vũ trụ của Từ Hải. Các hình tượng khác như bốn bể, chim bằng, gió mây cũng vừa mang tính ước lệ vừa gợi lên tầm vóc vũ trụ của người anh hùng. Một loạt hình ảnh như vậy được tập trung trong một đoạn thơ ngắn đã khắc họa thành công và làm nổi bật chân dung người anh hùng Từ Hải với một vẻ đẹp lí tưởng. Điều đó nói lên sự trân trọng, kính phục và thái độ ngợi ca, khẳng định của Nguyễn Du đôi với Từ Hải (Nguyễn Du đã có sự nhận thức lại nhân vật Từ Hải so với nhân vật Từ Hải trong Kim Vân Kiều truyện vốn chỉ là một con người tầm thường thành một nhân vật anh hùng lí tưởng trong Truyện Kiều của mình). Hình tượng “trông vời trời bể mênh mang” vừa ước lệ (không tả cái nhìn cụ thể) lại vừa tạo nên ấn tượng về tầm vóc vũ trụ của Từ Hải.

Bài phân tích và dàn ý nghị luận bài thơ Chí khí anh hùng

Đó là cách xử sự bất thường,dứt khoát của Từ Hải. Hình ảnh không gian hoành tráng với “mười vạn tinh binh”, với “tiếng chiêng dậy đất bóng tinh rợp đường” gợi lên khát vọng lớn lao, tầm vóc vũ trụ của người anh hùng xưa. Đây không phải là lời nói khoa trương mà là một lời nói có cơ sở của một con người tự tin vào tài năng và bản lĩnh của mình để có được một lời hứa ngắn gọn, dứt khoát, chắc nịch: “Chầy chăng là một năm sau vội gì!” Và sự thực đã chứng tỏ điều đó như truyện đã miêu tả sự trở về trong thắng lợi huy hoàng của Từ Hải. Tác giả muốn ví Từ Hải như chim bằng cưỡi gió bay cao,bay xa ngoài biển lớn.Không chỉ thể trong câu thơ còn diễn tả được tâm trạng của con người khi được thỏa chí tung hoành “diễn tả một cách khoái trá trong giây lát con người phi thường rời khỏi nơi tiễn biệt”.Chia li và hội ngộ,hội ngộ và chia ly, hai sự kiện trái ngược và nối tiếp chia cái đời thường của mỗi người ra thành những chặng đường giàu ý nghĩa hơn.Phải,nếu không có chia li và hội ngộ, cuộc sống chỉ là một dòng chảy đơn điệu và tẻ nhạt.Nếu hội ngộ là sướng vui,hạnh phúc thì chia li là sầu muộn, đau buồn.

Ở đây cũng vậy “Lòng bốn phương”, “mặt phi thường”, “cánh chim bằng”… đều là ước lệ. Chỉ có điều, bút pháp ước lệ lại gắn bó chặt chẽ với cảm hứng vũ trụ để tôn cao, lý tưởng hóa vẻ đẹp của người anh hùng. “Lòng bốn phương” là khái niệm có nội hàm diễn tả lí tưởng con người có tầm vóc vũ trụ đồng thời lại mang tính ước lệ để nói lên con người có chí khí lớn lao. Hình tượng “trông vời trời bể mênh mang” vừa ước lệ (không tả cái nhìn cụ thể) lại vừa tạo nên ấn tượng về tầm vóc vũ trụ của Từ Hải. Các hình tượng khác như bốn bể, chim bằng, gió mây cũng vừa mang tính ước lệ vừa gợi lên tầm vóc vũ trụ của người anh hùng. Một loạt hình ảnh như vậy được tập trung trong một đoạn thơ ngắn đã khắc họa thành công và làm nổi bật chân dung người anh hùng Từ Hải với một vẻ đẹp lí tưởng. Điều đó nói lên sự trân trọng, kính phục và thái độ ngợi ca, khẳng định của Nguyễn Du đôi với Từ Hải (Nguyễn Du đã có sự nhận thức lại nhân vật Từ Hải so với nhân vật Từ Hải trong Kim Vân Kiều truyện vốn chỉ là một con người tầm thường thành một nhân vật anh hùng lí tưởng trong Truyện Kiều của mình).

Cách tả người anh hùng Từ Hải trong đoạn trích của Nguyễn Du nằm trong cách tả người anh hùng nói chung của văn học trung đại nhưng vẫn mang nét riêng của ngòi bút Nguyễn Du. Phải,nếu không có chia li và hội ngộ, cuộc sống chỉ là một dòng chảy đơn điệu và tẻ nhạt.Nếu hội ngộ là sướng vui,hạnh phúc thì chia li là sầu muộn, đau buồn. Cách tả người anh hùng Từ Hải ở đây có hai đặc điểm: hình tượng có tính ước lệ và hình tượng con người vũ trụ. Tính ước lệ là một đặc trưng nổi bật của thi pháp văn học trung đại, đặc biệt trong việc tả người. Giai nhân (người đẹp) tả theo bút pháp ước lệ thì anh hùng cũng vậy. Ở một đoạn khác, Từ Hải được tả rất ước lệ.

Soạn Bài Văn Bản Lớp 10

1. Khái niệm văn bản

Văn bản là sản phẩm được tạo ra trong hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ. Nó thường gồm nhiều câu và là một chỉnh thể về mặt nội dung và hình thức.

– Các câu trong văn bản có sự liên kết với nhau chặt chẽ bằng các liên từ và liên kết về mặt nội dung. Đồng thời, cả văn bản còn phải đư­ợc xây dung theo một kết cấu mạch lạc, rõ ràng.

– Mỗi văn bản th­ường hư­ớng vào thực hiện một mục đích giao tiếp nhất định.

– Mỗi văn bản có những dấu hiệu hình thức riêng biểu hiện tính hoàn chỉnh về mặt nội dung: thư­ờng mở đầu bằng một tiêu đề và có dấu hiệu kết thúc phù hợp với từng loại văn bản.

3. Các loại văn bản thường gặp

Dựa theo lĩnh vực và chức năng giao tiếp, người ta phân biệt các loại văn bản sau:

– Văn bản thuộc phong cách ngôn ngữ sinh hoạt (thư, nhật kí…).

– Văn bản thuộc phong cách ngôn ngữ nghệ thuật (thơ, truyện ngắn, tiểu thuyết, kịch, tuỳ bút,…).

– Văn bản thuộc phong cách ngôn ngữ khoa học (sách giáo khoa, tài liệu học tập, bài báo khoa học, luận văn, luận án, công trình khoa học,…).

– Văn bản thuộc phong cách ngôn ngữ hành chính công vụ (đơn, giấy khai sinh, giấy uỷ quyền,…). Các loại văn bản này thường có mẫu biểu quy định sẵn về hình thức.

II. RÈN KĨ NĂNG

1. Các văn bản (1), (2), (3) được người đọc (người viết) tạo ra trong hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ. Các văn bản ấy là phương tiện để tác giả trao đổi kinh nghiệm, tư tưởng tình cảm với người đọc. Có văn bản gồm một câu, có văn bản gồm nhiều câu, nhiều đoạn liên kết chặt chẽ với nhau ; có văn bản bằng thơ, có văn bản bằng văn xuôi.

2. Văn bản (1) đề cập đến một kinh nghiệm trong cuộc sống (nhất là việc giao kết bạn bè), văn bản (2) nói đến thân phận của người phụ nữ trong xã hội cũ, văn bản (3) đề cập tới một vấn đề chính trị (kêu gọi mọi người đứng lên chống Pháp). Các vấn đề này đều được triển khai nhất quán trong từng văn bản. Văn bản (2) và (3) có nhiều câu nhưng chúng có quan hệ ý nghĩa rất rõ ràng và được liên kết với nhau một cách chặt chẽ (bằng ý nghĩa hoặc bằng các liên từ).

3. Ở văn bản (2), mỗi cặp câu lục bát tạo thành một ý và các ý này được trình bày theo thứ tự “sự việc” (hai sự so sánh, ví von). Hai cặp câu này vừa liên kết với nhau bằng ý nghĩa, vừa liên kết với nhau bằng phép lặp từ (“thân em”). Ở văn bản (3), dấu hiệu về sự mạch lạc còn được nhận ra qua hình thức kết cấu 3 phần : Mở bài, thân bài và kết bài.

– Mở bài: Gồm phần tiêu đề và câu “Hỡi đồng bào toàn quốc!”.

– Thân bài: tiếp theo đến “… thắng lợi nhất định về dân tộc ta!”.

– Kết bài: Phần còn lại.

4. Mục đích của việc tạo lập văn bản (1) là nhằm cung cấp cho người đọc một kinh nghiệm sống (ảnh hưởng của môi trường sống, của những người mà chúng ta thường xuyên giao tiếp đến việc hình thành nhân cách của mỗi cá nhân); văn bản (2) nói lên sự thiệt thòi của người phụ nữ trong xã hội phong kiến (họ không tự quyết định được thân phận và cuộc sống tương lai của mình mà phải chờ đợi vào sự rủi may) ; mục đích của văn bản (3) là kêu gọi toàn dân đứng lên chống lại cuộc chiến tranh xâm lược lần thứ hai của thực dân Pháp.

5. Văn bản (3) là một văn bản chính luận được trình bày dưới dạng “lời kêu gọi”. Thế nên, nó có dấu hiệu hình thức riêng. Phần mở đầu của văn bản gồm tiêu đề và một lời hô gọi ( Hỡi đồng bào toàn quốc!) để dẫn dắt người đọc vào phần nội dung, để gây sự chú ý và tạo ra sự “đồng cảm” cho cuộc giao tiếp.

Phần kết thúc là hai khẩu hiệu (cũng là hai lời hiệu triệu) để khích lệ ý chí và lòng yêu nước của “quốc dân đồng bào”.

6

– Văn bản (1) nói đến một kinh nghiệm sống, văn bản (2) nói lên thân phận người phụ nữ trong xã hội cũ, văn bản (3) đề cập đến một vấn đề chính trị.

– Ở các văn bản (1) và (2) chúng ta thấy có nhiều các từ ngữ quen thuộc thường sử dụng hàng ngày ( mực, đèn, thân em, mưa sa, ruộng cày…). Văn bản (3) lại sử dụng nhiều từ ngữ chính trị ( kháng chiến, hòa bình, nô lệ, đồng bào, Tổ quốc…).

– Nội dung của văn bản (1) và (2) được thể hiện bằng những hình ảnh giàu tính hình tượng. Trong khi đó, văn bản (3) lại chủ yếu dùng lí lẽ và lập luận để triển khai các khía cạnh nội dung.

7. a) Phạm vi sử dụng của các loại văn bản:

– Văn bản (2) dùng trong lĩnh vực giao tiếp nghệ thuật.

– Văn bản (3) dùng trong lĩnh vực giao tiếp về chính trị.

– Các bài học môn Toán, Vật lí, Hoá học, Sinh học, Lịch sử, Địa lí,… trong SGK dùng trong lĩnh vực giao tiếp khoa học.

– Đơn xin nghỉ học, giấy khai sinh dùng trong giao tiếp hành chính.

b) Mục đích giao tiếp cơ bản của mỗi loại văn bản

c) Về từ ngữ

– Văn bản (2) dùng các từ ngữ thông thường, giàu hình ảnh và liên tưởng nghệ thuật.

– Văn bản (3) dùng nhiều từ ngữ chính trị xã hội.

– Các văn bản trong SGK dùng nhiều từ ngữ, thuật ngữ thuộc các chuyên ngành khoa học.

– Văn bản đơn từ hoặc giấy khai sinh dùng nhiều từ ngữ hành chính.

d) Cách kết cấu và trình bày ở mỗi loại văn bản:

– Văn bản (2) có kết cấu của ca dao, sử dụng thể thơ lục bát.

– Văn bản (3) có kết cấu ba phần rõ ràng mạch lạc.

– Mỗi văn bản trong SGK cũng có kết cấu rõ ràng, chặt chẽ với các phần, các mục…

– Đơn và giấy khai sinh, kết cấu và cách trình bày đều theo mẫu thường được in sẵn chỉ cần điền vào đó các nội dung.

chúng tôi