Văn Bản Chiếc Thuyền Ngoài Xa / Top 10 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 2/2023 # Top View | Bac.edu.vn

Văn Bản Chiếc Thuyền Ngoài Xa

Tóm Tắt Văn Bản Chiếc Thuyền Ngoài Xa, Chiếc Thuyền Ngoài Xa, Văn Bản Chiếc Thuyền Ngoài Xa, Tóm Tắt Chiếc Thuyền Ngoài Xa, Tóm Tắt Bài Chiếc Thuyền Ngoài Xa, ôn Tập Bài Chiếc Thuyền Ngoài Xa, Bài Văn Mẫu Chiếc Thuyền Ngoài Xa, Đề Bài Chiếc Thuyền Ngoài Xa, Dàn ý Chiếc Thuyền Ngoài Xa, Dàn Bài Chiếc Thuyền Ngoài Xa, Tóm Tắt Tác Phẩm Chiếc Thuyền Ngoài Xa, Câu Hỏi Tự Luận Chiếc Thuyền Ngoài Xa, Giáo án Chiếc Thuyền Ngoài Xa, Tóm Tắt Cốt Truyện Chiếc Thuyền Ngoài Xa, Bài Giảng Chiếc Thuyền Ngoài Xa, Từ Truyện Ngắn Chiếc Thuyền Ngoài Xa, Câu Hỏi Trắc Nghiệm Bài Chiếc Thuyền Ngoài Xa, Câu Hỏi Trắc Nghiệm Chiếc Thuyền Ngoài Xa, Tóm Tắt Ngắn Gọn Tác Phẩm Chiếc Thuyền Ngoài Xa, Truyện Ngắn Chiếc Thuyền Ngoài Xa, Phân Tích Chiếc Thuyền Ngoài Xa, Truyện Ngắn Chiếc Thuyền Ngoài Xa Sáng Tác Năm Nào, Phân Tích Tác Phẩm Chiếc Thuyền Ngoài Xa, Truyện Ngắn Chiếc Thuyền Ngoài Xa In Đậm Phong Cách, Phân Tích Giá Trị Nhân Đạo Trong Tác Phẩm Chiếc Thuyền Ngoài Xa, Thủ Tục Mua Du Thuyền, Nội Dung Bài Lá Thuyền ước Mơ, Luận án Của Nhã Thuyên, Hồ Sơ Sửa Chữa Tàu Thuyền, Luận án Nhã Thuyên, Đơn Xin Thuyên Chuyển Công Tác, Đoàn Thuyền Đánh Cá, Mẫu Sổ Danh Bạ Thuyền Viên, Nội Dung Bài Hát Những Lá Thuyền ước Mơ, Giáo án Dạy Hát Em Đi Chơi Thuyền, Giáo án Em Đi Chơi Thuyền, Mẫu Sổ Danh Bạ Thuyền Viên Tàu Cá, Nội Dung Bài Hát Em Đi Chơi Thuyền, Khổ 6 Bài Thơ Đoàn Thuyền Đánh Cá, Bài Thơ Đoàn Thuyền Đánh Cá, Thuyên Chuyển Công Tác, Sổ Danh Bạ Thuyền Viên, Nội Dung Bài Đoàn Thuyền Đánh Cá Lớp 4, Điêu Thuyền Lữ Bố Người Chết, Hướng Dẫn Chơi Điêu Thuyền, Noi Dung Doan Thuyen Danh Ca, Nội Dung Bài Đoàn Thuyền Đánh Cá, Giáo án âm Nhạc Em Đi Chơi Thuyền, Cải Thiện Chất Lượng Dịch Vụ Du Thuyền, ước Lệ Tượng Trưng Đoàn Thuyền Đánh Cá, Danh Sách 8 Thuyền Viên Mất Tích, Danh Sách Học Sinh Trường Hàn Thuyên, Yý Nghĩa Nhan Đề Bài Đoàn Thuyền Đánh Cá, Danh Sách 9 Thuyền Viên Tàu Hải Thành, ý Nghĩa Nhan Đề Bài Đoàn Thuyền Đánh Cá, Danh Sách 9 Thuyền Viên Mất Tích, Nghệ Thuật Nội Dung Bài Đoàn Thuyền Đánh Cá, Nội Dung Nghệ Thuật Bài Thơ Đoàn Thuyền Đánh Cá, Giáo Trình Tiếng Việt Cho Ngoài Nước Ngoài 2, Giấy Đê Nghị Bán, Chuyển Mang Ngoại Tệ Ra Nước Ngoài, Trong Các Loại Tia: Rơn-ghen, Hồng Ngoại, Tự Ngoại, Đơn Sắc Màu Lục; Tia Có Tần Số Nhỏ Nhất Là, Mẫu Giấy Đề Nghị Bán, Chuyển Ngoại Tệ Ra Nước Ngoài Eximbank, Bài Văn Mẫu Lớp 4 Tả Chiếc Cặp, Bài Thơ 2 Chiếc Dép, Bài Thơ ơi Chiếc Máy Bay, Tóm Tắt 6 Chiếc Nón Tư Duy, Tho Oi Chiec May Bay, Đề Tài Chiếc ô Tô Mơ ước, Đơn Chiếc, ơi Chiếc Máy Bay, Mẫu Giấy Đề Nghị Bán, Chuyển Ngoại Tệ Ra Nước Ngoài , Khi Nói Về Tia Hồng Ngoại Và Tia Tử Ngoại, Phát Biểu Nào Sau Đây Là Đúng?, Giấy Đề Nghị Bán Chuyển Ngoại Tệ Ra Nươc Ngoài, Giấy Đề Nghị Mua Chuyển Ngoại Tệ Ra Nước Ngoài, Bài Văn Mẫu Chiếc Lược Ngà, Thể Lệ Cuộc Thi Chiếc ô Tô Mơ ước, Dàn Bài Chiếc Lược Ngà, Sách 6 Chiếc Nón Tư Duy, Sách 6 Chiếc Mũ Tư Duy, Bí Quyết 6 Chiếc Lọ, Văn 9 Văn Bản Chiếc Lược Ngà, Nguyên Lý 6 Chiếc Lọ, Là Người Mẹ Đơn Chiếc, Văn Bản Chiếc Lược Ngà, Chiếc Lược Ngà, Sách 4 Chiếc Ví Của Tôi, Bài Thơ 7 Chiếc Nhẫn, Nguyên Tắc 6 Chiếc Lọ, Bài Giảng ơi Chiếc Máy Bay, Giáo án ơi Chiếc Máy Bay, Tóm Tắt Văn Bản Chiếc Lược Nga, Giáo án Thơ ơi Chiếc Máy Bay, Thuyết Minh Về Chiếc áo Dài, Bài Giảng Chiếc Lược Ngà, Bài 8 Văn Bản Chiếc Lá Cuối Cùng, Tiểu Luận 6 Chiếc Mũ Tư Duy, Công Văn Chiếc ô Tô Mơ ước 2019, Em Hãy Tóm Tắt Văn Bản Chiếc Lá Cuối Cùng, Khái Niệm 6 Chiếc Mũ Tư Duy, Văn Bản 8 Chiếc Lá Cuối Cùng,

Tóm Tắt Văn Bản Chiếc Thuyền Ngoài Xa, Chiếc Thuyền Ngoài Xa, Văn Bản Chiếc Thuyền Ngoài Xa, Tóm Tắt Chiếc Thuyền Ngoài Xa, Tóm Tắt Bài Chiếc Thuyền Ngoài Xa, ôn Tập Bài Chiếc Thuyền Ngoài Xa, Bài Văn Mẫu Chiếc Thuyền Ngoài Xa, Đề Bài Chiếc Thuyền Ngoài Xa, Dàn ý Chiếc Thuyền Ngoài Xa, Dàn Bài Chiếc Thuyền Ngoài Xa, Tóm Tắt Tác Phẩm Chiếc Thuyền Ngoài Xa, Câu Hỏi Tự Luận Chiếc Thuyền Ngoài Xa, Giáo án Chiếc Thuyền Ngoài Xa, Tóm Tắt Cốt Truyện Chiếc Thuyền Ngoài Xa, Bài Giảng Chiếc Thuyền Ngoài Xa, Từ Truyện Ngắn Chiếc Thuyền Ngoài Xa, Câu Hỏi Trắc Nghiệm Bài Chiếc Thuyền Ngoài Xa, Câu Hỏi Trắc Nghiệm Chiếc Thuyền Ngoài Xa, Tóm Tắt Ngắn Gọn Tác Phẩm Chiếc Thuyền Ngoài Xa, Truyện Ngắn Chiếc Thuyền Ngoài Xa, Phân Tích Chiếc Thuyền Ngoài Xa, Truyện Ngắn Chiếc Thuyền Ngoài Xa Sáng Tác Năm Nào, Phân Tích Tác Phẩm Chiếc Thuyền Ngoài Xa, Truyện Ngắn Chiếc Thuyền Ngoài Xa In Đậm Phong Cách, Phân Tích Giá Trị Nhân Đạo Trong Tác Phẩm Chiếc Thuyền Ngoài Xa, Thủ Tục Mua Du Thuyền, Nội Dung Bài Lá Thuyền ước Mơ, Luận án Của Nhã Thuyên, Hồ Sơ Sửa Chữa Tàu Thuyền, Luận án Nhã Thuyên, Đơn Xin Thuyên Chuyển Công Tác, Đoàn Thuyền Đánh Cá, Mẫu Sổ Danh Bạ Thuyền Viên, Nội Dung Bài Hát Những Lá Thuyền ước Mơ, Giáo án Dạy Hát Em Đi Chơi Thuyền, Giáo án Em Đi Chơi Thuyền, Mẫu Sổ Danh Bạ Thuyền Viên Tàu Cá, Nội Dung Bài Hát Em Đi Chơi Thuyền, Khổ 6 Bài Thơ Đoàn Thuyền Đánh Cá, Bài Thơ Đoàn Thuyền Đánh Cá, Thuyên Chuyển Công Tác, Sổ Danh Bạ Thuyền Viên, Nội Dung Bài Đoàn Thuyền Đánh Cá Lớp 4, Điêu Thuyền Lữ Bố Người Chết, Hướng Dẫn Chơi Điêu Thuyền, Noi Dung Doan Thuyen Danh Ca, Nội Dung Bài Đoàn Thuyền Đánh Cá, Giáo án âm Nhạc Em Đi Chơi Thuyền, Cải Thiện Chất Lượng Dịch Vụ Du Thuyền, ước Lệ Tượng Trưng Đoàn Thuyền Đánh Cá,

Phân Tích Chiếc Thuyền Ngoài Xa Đầy Đủ Nhất

I. Mở bài phần phân tích Chiếc thuyền ngoài xa

1. Tác giả

– Nguyễn Minh Châu (1930-1989) sinh ra tại quê Nghệ An.

Tác giả Nguyễn Minh Châu (1930-1989)

– Là một trong số những nhà văn đã mở đường tài hoa và tinh anh nhất.

– Trong sự nghiệp văn học của mình, ông luôn trăn trở về số phận của nhân dân và trách nhiệm của những người cầm bút, luôn thiết tha để truy tìm ra những hạt ngọc ẩn giấu nơi bề sâu của tâm hồn.

2. Tác phẩm

– Chiếc thuyền ngoài xa được in trong tập Bến quê, tác phẩm đem đến cho bạn đọc cái nhìn đúng đắn về cuộc sống xung quanh và con người.

II. Thân bài phần phân tích Chiếc thuyền ngoài xa

1. Hai phát hiện của người nghệ sĩ nhiếp ảnh

a. Phát hiện không gian “cảnh đắt trời cho”

– Phùng vốn là người có niềm say mê nghệ thuật, trong một thoáng nhìn anh đã chớp lấy cảnh đắt trời cho:

Phân tích chiếc thuyền ngoài xa: Cảnh chiếc thuyền từ xa tuyệt đẹp

+ Nhận xét “một bức tranh mực tàu của một danh họa thời cổ”, một vẻ đẹp mang nét đơn giản nhưng toàn bích. Đó là cảnh tượng vi diệu của thiên nhiên, của cuộc sống khi nhìn từ xa.

+ Phùng trở nên bối rối trước cái đẹp: “trong trái tim như có cái gì bóp thắt vào”, nhận ra rằng “bản thân cái đẹp chính là đạo đức”. Đó là niềm hạnh phúc lớn của người nghệ sĩ khi bắt gặp được cái đẹp và anh chợt nhận ra vai trò thực sự của nghệ thuật, của chất thơ.

b. Phát hiện bức tranh cuộc sống chứa đầy những nghịch lý

– Tình huống chiếc thuyền ngoài xa tạo nên sự mở đầu ấn tượng, độc đáo cho tác phẩm. Từ chiếc thuyền nhỏ xinh, đẹp đẽ mới nhìn phía xa xa vừa rồi, Phùng nhận thấy:

+ Một người đàn bà mang vẻ ngoài thô kệch xấu xí, mặt chất chứa đầy sự mệt mỏi bước ra khỏi chiếc thuyền và một lão chồng có tấm lưng rộng, mái tóc tổ quạ, còn đôi mắt độc dữ cùng đi ra.

+ Hiện trước mắt Phùng là lão chồng “dùng chiếc thắt lưng quật tới tấp vào lưng người đàn bà”, “vừa đánh vừa nguyền rủa bằng cái giọng rên rỉ đau đớn”.

+ Trong hoàn cảnh ấy, người đàn bà chỉ biết cam chịu, không kêu van một lời, cũng chẳng chống trả, hay chạy trốn.

– Thái độ của nhân vật Phùng: “kinh ngạc đến mức trong mấy phút đầu, tôi cứ đứng há mồm ra mà nhìn”. Phùng thực sự ngỡ ngàng nhận ra bản chất thật của cái đẹp đẽ, lung linh anh vừa bắt gặp được mới đó.

2. Câu chuyện của người đàn bà làng chài ở tòa án huyện

– Khi chánh án Đẩu đưa ra lời đề nghị chị nên ly hôn, chị ta liền van xin khẩn thiết “con lạy quý tòa …đừng bắt con bỏ nó”, theo chị:

+ Người đàn ông ấy bản chất vốn không phải là kẻ vũ phu, tàn bạo và độc ác như vậy, anh ta cũng chỉ là một nạn nhân của cái cuộc sống đói khổ này thôi. Người chồng cũng là chỗ dựa cho gia đình khi có biển động.

Phân tích chiếc thuyền ngoài xa: Người đàn ông làm chủ con thuyền mưu sinh

+ Chị càng không thể một mình gồng gánh nuôi nấng trên dưới 10 đứa con, vả lại “trên thuyền cũng có lúc vợ chồng con cái vui vẻ, hòa thuận”.

– Qua câu chuyện được kể và thái độ của người đàn bà làng chài, cho ta thấy được người đàn bà là hiện thân cho kiếp người bất hạnh bị cái đói, cái khổ, cái ác và cả vòng luẩn quẩn của cái số phận đen đủi dồn đến chân tường. Nhưng ở người đàn bà ấy lại có một tâm hồn vị tha cao cả, tình yêu thương tha thiết và có những suy tư của người từng trải, vô cùng sâu sắc.

– Thái độ của chánh án Đẩu và nhiếp ảnh Phùng khi người đàn bà có những lý lẽ quyết không bỏ chồng:

+ Cả hai đều có chung cảm nhận giận dữ và bất bình.

+ Nhưng sau khi nghe xong tâm sự của người đàn bà ấy thì anh ta thấy như có “một cái gì vừa mới vỡ ra”.

– Nhận xét: Ban đầu, họ vốn quen nhìn cuộc đời bằng con mắt khá đơn giản và một chiều (chỉ nghĩ đơn giản rằng, những kẻ đi theo ngụy thì đều là xấu “lão ta hồi 75 có đi lính ngụy không?”), chỉ biết qua lý thuyết, qua sách vở, không sẵn sàng để đối mặt với những nghịch lý của cuộc đời.

3. Tấm ảnh được chọn

– Nghệ sĩ Phùng vẫn mang tấm ảnh đó về tòa soạn và quả nhiên tấm ảnh được chọn và treo ở nhiều nơi

– Phùng nhận thấy những giá trị trong bức ảnh của mình:

+ “Cái màu hồng hồng của sương mai” (biểu tượng cho nghệ thuật) và người đàn bà hàng chài nghèo khổ bước ra từ bức tranh (hiện thân cho đời thực).

Soạn chiếc thuyền ngoài xa

Soạn bài vội vàng chuẩn giáo án

Soạn bài hưng đạo đại vương Trần Quốc Tuấn

III. Kết bài cho phần phân tích Chiếc thuyền ngoài xa

1. Giá trị nội dung

– Nêu cảm nhận về tác phẩm.

– Tác phẩm đã đem đến cho người đọc bài học về cách nhìn cuộc sống xung quanh và con người: phải nhìn đa diện, nhiều chiều, phải phát hiện bản chất thực sự đằng sau vẻ bề ngoài của hiện tượng.

2. Giá trị nghệ thuật

– Xây dựng tình huống truyện độc đáo, đặc sắc, cốt truyện hấp dẫn.

– Ngôn từ chắt lọc khắc họa nhân vật sắc sảo và điểm nhìn trần thuật linh hoạt, …

Soạn vào phủ chúa Trịnh chuẩn giáo án

Soạn văn tự tình siêu ngắn gọn

Phân tích bài thơ tự tình chuẩn nhất

Văn Bản Những Ngôi Sao Xa Xôi

Lê Minh Khuê là nhà văn thuộc thế hệ những tác giả bắt đầu sáng tác trong thời kì kháng chiến chống Mĩ. Với tài năng và sự tìm tòi, khám phá của mình, bà sớm gặt hái được nhiều thành công về mảng đề tài là cuộc sống chiến đấu của những thanh niên xung phong và bộ đội trên tuyến đường Trường Sơn. “Những ngôi sao xa xôi” là một trong những truyện ngắn tiêu biểu của Lê Minh Khuê. Nhân vật chính trong tác phẩm – Phương Định – là nhân vật giành được nhiều sự yêu mến, cảm phục của người đọc bởi vẻ đẹp ngoại hình, tâm hồn và sự dũng cảm, ngoan cường, bình tĩnh ung dung trước hiểm nguy.

Phương Định gây cảm tình đầu tiên cho người đọc bởi vẻ trẻ trung, xinh đẹp của một cô gái mới lớn. Cô là người nhạy cảm và luôn quan tâm đến hình thức của mình. Cô tự đánh giá: “Tôi là con gái Hà Nội. Nói một cách khiêm tốn, tôi là một cô gái khá. Hai bím tóc dày, tương đối mềm, một cái cổ cao, kiêu hãnh như đài hoa loa kèn. Cón mắt tôi thì các lái xe bảo: Cô có cái nhìn sao mà xa xăm”, vẻ đẹp ấy của cô đã hấp dẫn bao chàng trai: “các anh pháo thủ và lái xe hay hỏi thăm tôi”. Điều đó làm Phương Định tự hào nhưng điều đặc biệt là cô chưa dành riêng tình cảm cho ai.

Nhân vật chính của tác phẩm còn khiến người đọc khâm phục bởi sự dũng cảm ngoan cường, bình tĩnh ung dung vượt lên khó khăn nguy hiểm.

Phương Định cùng những người bạn của minh sống và chiến đấu trên một cao điểm, giữa một vùng trọng điểm trên tuyến đường Trường Sơn. Chị phải chạy trên cao điểm đánh phá của máy bay địch. Sau mỗi trận bom, chị cùng đồng đội phải lao ra trọng điểm, đo và ước tính khối lượng đất đá bị bom địch đào xới, đếm những quả bom chưa nổ và dùng những khối thuốc nổ đặt vào cạnh nó để phá. Đó là công việc mạo hiểm với cái chết luôn gần kề tạo áp lực khiến thần kinh vô cùng căng thẳng. Thực hiện công việc đó, Phương Định và đồng đội phải rất bình tĩnh và họ đã thực sự bình tĩnh, ung dung một cách lạ thường. Thậm chí, với họ, công việc ấy đã trở thành bình thường: “Công việc của chúng tôi là ngồi đây. Khi có bom nổ thì chạy lên, đo khối lượng đất lấp vào hố bom, đếm bom chưa nổ và khi cần thì phá bom”.

Mặc dù đã quen với công việc nguy hiểm này, thậm chí một ngày có thế phải phá tới năm quả bom nhưng mỗi lần vẫn là một thử thách tột độ với thần kinh cua Phương Định. Từ khung cảnh và không khí chứa đầy càng thẳng đến cảm giác là các anh cao xạ ở trên kia cũng đang theo dõi từng động tác cử chỉ của mình để lòng dũng cảm ở cô như được kích thích bởi sự tự trọng: “Tôi đến gần quả bom… đàng hoàng mà bước tới” ở bên quả bom kề sát với cái chết im lim và bất ngờ, từng cảm giác của con người như cũng trở nên sắc nhọn hơn: “Thỉnh thoảng lưỡi xẻng chạm vào quả bom. Một tiếng động sắc đến gai người cứa vào da thịt tôi. Vỏ quả bom nóng. Một dấu hiệu chẳng lành”.

Đặc biệt, Phương Định càng khiến người đọc yêu mến, trân trọng hơn bởi tâm hồn trong sáng, tinh tế. Chị rất giàu tình cảm với đồng chí, đồng đội, quê hương và vô cùng lạc quan yêu đời.

Giống như hai người đồng đội trong tổtrinh sát, Phương Định yêu mến những người đồng đội trong tổ và cả đơn vị của mình. Đặc biệt, cô yêu mến và cảm phục tất cả những người chiến sĩ mà hằng đêm cô gặp trên trọng điểm của những con đường vào mặt trận. Phương Định đã lo lắng, sốt ruột khi đồng đội lên cao điểm chưa về. Chị yêu thương và gắn bó với bạn bè nên có những nhận xét tốt đẹp đầy thiện cảm về Nho, phát hiện ra vẻ đep dễ thương “nhẹ, mát như một que kem trắng” của bạn. Chị còn hiều và đồng cảm sâu sắc với những sở thích và tâm trạng của chị Thao.

Phương Định cũng là người con gái có một thời học sinh hồn nhiên, vô tư bên người mẹ thân thương trong một căn buồng nhỏ nằm trên một đường phố yên tĩnh hồi Hà Nội còn thanh bình trước chiến tranh. Những kỉ niệm ấy luôn sống lại trong cô giữa chiến trường dữ dội. Nó là niềm khao khát làm dịu mát tâm hồn trong hoàn cảnh căng thẳng, khốc liệt của chiến trường.

Vào chiến trường đã ba năm, làm quen với những thử thách hiểm nguy, giáp mặt hàng ngày với cái chết nhưng ở Phương Định không mất đi sự hồn nhiên trong sáng và cả những mơ ước về tương lai: “Tôi mê hát”, “thích nhiều bài”.

Phương Định là cô thanh niên xung phong trên tuyến đường huyết mạch Trường Sơn những ngày kháng chiến chống Mĩ. Chị tiêu biểu cho thế hệ trẻ Việt Nam trong những năm tháng hào hùng ấy. Họ là những người không tiếc tuổi thanh xuân, hiến dâng trọn vẹn cho Tổ quốc những gì quý giá nhất:

“Xẻ dọc Trường Sơn đi đánh Mĩ Mà lòng phơi phới dậy tương lai”

Trong “Những ngôi sao xa xôi”, Lê Minh Khuê đã miêu tả chân thực và sinh động tâm lí nhân vật. Tác phẩm được kể từ ngôi thứ nhất tạo thuận lợi cho tác giả miêu tả thế giới nội tâm qua việc để nhân vật tự sự về mình.

Nhân vật Phương Định trong “Những ngôi sao xa xôi” của Lê Minh Khuê mang những đặc điểm tốt đẹp tiêu biểu cho tâm hồn những chàng trai, cô gái thanh niên xung phong lên đường chống Mĩ trong những năm tháng vất vả mà hào hùng của dân tộc. Phương Định để lại trong lòng độc giả niềm yêu mến, cảm phục đốì với thế hệ trẻ Việt Nam trong những ngày tháng bom rơi đạn nổ ấy. Và hơn thế, điều đó trở thành động lực để thế hệ trẻ Việt Nam hôm nay viết tiếp nét son trong trang sử của thời đại mình

‘Xa Lộ’ Mới Cho Văn Bản Điện Tử

(Chinhphu.vn) – Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 30/2020/NĐ-CP (Nghị định 30/2020) về công tác văn thư, thay thế Nghị định số 110/2004/NĐ-CP về công tác văn thư (Nghị định 110/2004) và Nghị định số 09/2010/NĐ-CP sửa đổi một số điều Nghị định 110/2004.

Theo ông Đỗ Văn Thuận, Phó Cục trưởng Cục Văn thư và Lưu trữ nhà nước, Bộ Nội vụ, Nghị định 30/2020 được Chính phủ ban hành, nhằm tạo hành lang pháp lý đối với công tác văn thư nói chung và văn thư điện tử nói riêng trong tiến trình cải cách hành chính, xây dựng Chính phủ điện tử ở Việt Nam và hội nhập quốc tế.

Nghị định số 30/2020 quy định chi tiết về công tác văn thư và quản lý nhà nước về công tác văn thư gồm: Soạn thảo, ký ban hành văn bản; quản lý văn bản; lập hồ sơ và nộp lưu hồ sơ, tài liệu vào Lưu trữ cơ quan; quản lý và sử dụng con dấu, thiết bị lưu khóa bí mật trong công tác văn thư theo nguyên tắc công tác văn thư được thực hiện thống nhất theo quy định của pháp luật có hiệu lực từ ngày 5/3/2020.

Về cơ bản Nghị định số 30/2020 được xây dựng trên cơ sở kế thừa các quy phạm pháp luật về văn thư hiện hành tại các văn bản; Nghị định 110/2004; Nghị định số 09/2010 và các thông tư hướng dẫn thực hiện; Quyết định 28/2018/QĐ-TTg ngày 12/7/2018 của Thủ tướng Chính phủ quy định về việc gửi, nhận văn bản điện tử giữa các cơ quan trong hệ thống hành chính nhà nước và Thông tư số 01/2019/TT-BNV(Thông tư 01/2019) quy định quy trình trao đổi, lưu trữ, xử lý tài liệu điện tử trong công tác văn thư, các chức năng cơ bản của Hệ thống quản lý tài liệu điện tử trong quá trình xử lý công việc của các cơ quan, tổ chức.

Lãnh đạo Cục Văn thư và Lưu trữ nhà nước cho biết, Nghị định này có những điểm mới cơ bản và ý nghĩa cụ thể như sau:

Trước hết, về phạm vi điều chỉnh: Nghị định này bổ sung nội dung quản lý và sử dụng thiết bị lưu khóa bí mật trong công tác văn thư, đây là thiết bị vật lý chứa khóa bí mật và chứng thư số của cơ quan tổ chức và dùng để ký số trên văn bản điện tử của cơ quan tổ chức theo quy định của pháp luật.

Việc thu hẹp phạm vi đối tượng áp dụng giúp cho công tác quản lý nhà nước về công tác văn thư được tăng cường, tập trung, đảm bảo tính thống nhất trong chỉ đạo về công tác văn thư theo quy định của pháp luật.

Trong đó, khái niệm về văn bản điện tử và giá trị pháp lý của văn bản điện tử có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong quá trình hoạt động và giao dịch của các cơ quan tổ chức. Cụ thể: “Văn bản điện tử” là văn bản dưới dạng thông điệp dữ liệu được tạo lập hoặc được số hóa từ văn bản giấy và trình bày đúng thể thức, kỹ thuật, định dạng theo quy định. “Văn bản điện tử” có giá trị pháp lý như văn bản giấy khi đáp ứng các điều kiện: Được ký số bởi người có thẩm quyền và ký số của cơ quan, tổ chức theo quy định của pháp luật; Chữ ký số trên văn bản điện tử phải đáp ứng đầy đủ các quy định của pháp luật.

Việc khẳng định văn bản điện tử có giá trị pháp lý như văn bản giấy khi đáp ứng các điều kiện nêu trên có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc thực hiện văn thư điện tử, quản lý và điều hành qua mạng, cải cách hành chính, chủ động thực hiện cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, xây dựng Chính phủ điện tử và hội nhập quốc tế.

Khái niệm “Văn bản chuyên ngành” cũng được chỉ rõ nguồn hình thành và quy định thẩm quyền ban hành (khác với Nghị định 110/2004) đó là: Thẩm quyền ban hành do người đứng đầu cơ quan quản lý ngành, lĩnh vực quy định về thể thức, kỹ thuật trình bày mà không phải thỏa thuận với Bộ trưởng Bộ Nội vụ. Trong thực tế, chuyên môn, lĩnh vực quản lý chuyên ngành vô cùng phong phú và phức tạp, trong mỗi chuyên ngành lại hình thành rất nhiều các quy trình nghiệp vụ dẫn đến số lượng các văn bản, mẫu biểu trong quản lý chuyên ngành vô cùng lớn và phức tạp, việc thỏa thuận với Bộ trưởng Bộ Nội vụ khi ban hành các văn bản chuyên ngành nhiều khi chỉ là hình thức. Việc bỏ quy định phải thỏa thuận với Bộ trưởng Bộ Nội vụ khi ban hành văn bản chuyên ngành vừa tạo tính chủ động cho người đứng đầu cơ quan quản lý ngành, lĩnh vực ban hành văn bản quản lý chuyên ngành vừa giảm bớt thủ tục, chi phí trong hoạt động của cơ quan nhà nước.

Về số lượng văn bản hành chính: Theo Nghị định này số lượng các loại văn bản hành chính có 29 loại gồm: Nghị quyết (cá biệt), quyết định (cá biệt), chỉ thị, quy chế, quy định, thông cáo, thông báo, hướng dẫn, chương trình, kế hoạch, phương án, đề án, dự án, báo cáo, biên bản, tờ trình, hợp đồng, công văn, công điện, bản ghi nhớ, bản thỏa thuận, giấy uỷ quyền, giấy mời, giấy giới thiệu, giấy nghỉ phép, phiếu gửi, phiếu chuyển, phiếu báo, thư công. So với Nghị định 09/2010 bổ sung thêm 01 loại văn bản đó là Phiếu báo và bớt 04 loại văn bản đó là: Bản cam kết; Giấy đi đường; Giấy chứng nhận; Giấy biên nhận hồ sơ.

Việc quy định số lượng, tên loại văn bản hành chính cụ thể giúp chúng ta phân biệt được chính xác giữa văn bản hành chính với các hình thức văn bản quy phạm pháp luật và văn bản chuyên ngành, từ đó xác định được phạm vi, hiệu lực của văn bản hành chính trong việc tổ chức thực hiện.

Về thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản hành chính: Về cơ bản thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản được thực hiện theo các quy định soạn thảo văn bản hành chính tại Nghị định 110/2004; Nghị định 09/2010; Quyết định 28/2018/QĐ-TTg và quy định tại các Thông tư hướng dẫn thực hiện.

Về chữ ký số của người có thẩm quyền và chữ ký số của cơ quan, tổ chức trên văn bản điện tử được thực hiện cơ bản như thông tư 01/2019/TT, cụ thể:

– Hình ảnh, vị trí chữ ký số của người có thẩm quyền là hình ảnh chữ ký của người có thẩm quyền trên văn bản giấy, màu xanh, định dạng Portable Network Graphics (.png) nền trong suốt; đặt canh giữa chức vụ của người ký và họ tên người ký.

– Hình ảnh, vị trí chữ ký số của cơ quan, tổ chức là hình ảnh dấu của cơ quan, tổ chức ban hành văn bản trên văn bản, màu đỏ, kích thước bằng kích thước thực tế của dấu, định dạng (.png) nền trong suốt, trùm lên khoảng 1/3 hình ảnh chữ ký số của người có thẩm quyền về bên trái. Thông tin: tên cơ quan ban hành văn bản; thời gian ký (ngày tháng năm; giờ phút giây; múi giờ Việt Nam theo tiêu chuẩn ISO 8601) được trình bày bằng phông chữ Times New Roman, chữ in thường, kiểu chữ đứng, cỡ chữ 10, màu đen.

Điểm mới tại Nghị định 30/2020 quy định về thể thức, kỹ thuật trình bày chữ ký số của cơ quan, tổ chức trên văn bản điện tử kèm theo văn bản chính được thể hiện như sau.

– Văn bản kèm theo (phụ lục) cùng tệp tin với nội dung văn bản điện tử, Văn thư cơ quan chỉ thực hiện ký số văn bản và không thực hiện ký số lên văn bản kèm theo

– Văn bản (phụ lục) không cùng tệp tin với văn bản chính, Văn thư cơ quan thực hiện ký số của cơ quan, tổ chức trên văn bản kèm theo.

+ Vị trí: Góc trên, bên phải, trang đầu của văn bản kèm theo.

+ Hình ảnh chữ ký số của cơ quan, tổ chức: Không hiển thị.

+ Thông tin: số và ký hiệu văn bản; thời gian ký (ngày tháng năm; giờ phút giây; múi giờ Việt Nam theo tiêu chuẩn ISO 8601) được trình bày bằng phông chữ Times New Roman, chữ in thường, kiểu chữ đứng, cỡ chữ 10, màu đen.

Như vậy hình ảnh chữ ký số của cơ quan, tổ chức trên văn bản kèm theo văn bản chính không cùng tệp tin với văn bản chính và trên văn bản số hóa sẽ không hiển thị hình ảnh con dấu của cơ quan tổ chức tại vị trí ký số văn bản.

Đối với các văn bản có phần căn cứ ban hành thì phần căn cứ được in nghiêng; số trang của văn bản được đánh từ trang thứ 2 trở đi canh giữa lề trên của văn bản.

Về soạn thảo và ký ban hành văn bản: Nghị định quy định “Cá nhân được giao nhiệm vụ soạn thảo văn bản chịu trách nhiệm trước người đứng đầu đơn vị và trước pháp luật về bản thảo văn bản trong phạm vi chức trách, nhiệm vụ được giao”.

Về ký ban hành văn bản đối với cơ quan, tổ chức làm việc theo chế độ thủ trưởng: “Trường hợp cấp phó được giao phụ trách, điều hành thì thực hiện ký như cấp phó ký thay cấp trưởng”.

“Trong trường hợp đặc biệt, người đứng đầu cơ quan, tổ chức có thể ủy quyền cho người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc cơ cấu tổ chức của mình ký thừa ủy quyền một số văn bản mà mình phải ký”.

Như vậy, Nghị định quy định cụ thể, rõ ràng về trách nhiệm của cá nhân được giao nhiệm vụ soạn thảo văn bản nhằm nâng cao ý thức, trách nhiệm, chất lượng văn bản của công chức, viên chức được giao hoặc đề xuất soạn thảo.

Về việc ký ban hành văn bản đối với cơ quan khuyết cấp trưởng, quy định này nhằm thống nhất cách hiểu khi đơn vị khuyết cấp trưởng, cấp phó được giao phụ trách, điều hành ký ban hành văn bản. Quy định này đã giải quyết được thực trạng, trong thực tế nhiều cơ quan tổ chức cấp phó được giao phụ trách, điều hành ghi chức danh (phó…phụ trách, điều hành; phụ trách ….) không có trong hệ thống chức danh của nhà nước quy định, dẫn đến sai thể thức, kỹ thuật trình bày văn bản và hiệu lực của văn bản.

Việc ký thừa ủy quyền theo Nghị định 09/2010, trong thời gian qua còn thực hiện chưa thống nhất. Nghị định 09/2010 quy định: “Trong trường hợp đặc biệt, người đứng đầu cơ quan, tổ chức có thể uỷ quyền cho người đứng đầu một đơn vị trong cơ quan, tổ chức ký thừa uỷ quyền (TUQ.) một số văn bản mà mình phải ký” dẫn đến có nhiều cách hiểu khác nhau, có cơ quan, tổ chức hiểu “người đứng đầu một đơn vị trong cơ quan, tổ chức” là bộ phận tham mưu, đơn vị chức năng thuộc cơ quan tổ chức ban hành văn bản mà không phải các đơn vị sự nghiệp, cơ quan nghiên cứu… trực thuộc. Tại Nghị định này người đứng đầu cơ quan, tổ chức ban hành văn bản có thể ủy quyền cho tất cả người đứng đầu các đơn vị thuộc cơ cấu tổ chức của mình được ký thừa ủy quyền.

Về quản lý văn bản đi: Nghị định quy định cụ thể về cấp số văn bản; lưu văn bản điện tử.

Cụ thể, về cấp số văn bản chuyên ngành: do người đứng đầu cơ quan quản lý ngành, lĩnh vực quy định; Cấp số văn bản hành chính: do người đứng đầu cơ quan, tổ chức quy định; việc cấp số, thời gian ban hành điện tử được thực hiện bằng chức năng của Hệ thống.

Với quy định như trên tạo điều kiện chủ động cho các cơ quan tổ chức tạo lập các hệ thống số văn bản đi, trên cơ sở thực tế số loại văn bản và số lượng văn bản ban hành của từng loại văn bản trong hoạt động của đơn vị, điều này giúp cơ quan tổ chức quản lý văn bản tốt hơn, phù hợp với tình hình thực tiễn tại đơn vị và đảm bảo tính công khai minh bạch trong việc quản lý văn bản nói chung

Về quản lý văn bản đến: Trong công tác quản lý văn bản đến được bổ sung “Phiếu giải quyết văn bản đến” để ghi ý kiến chỉ đạo giải quyết của người có thẩm quyền, ý kiến của đơn vị chủ trì và ý kiến của cá nhân được giao trực tiếp giải quyết, khi thông tin về việc chỉ đạo, giải quyết văn bản đến không thể hiện hết trên dấu Đến và để xác định trách nhiệm trong giải quyết văn bản đến.

Về sao văn bản: Điểm mới trong việc sao văn bản tại Nghị định này quy định các loại bản sao từ giấy sang điện tử và từ điện tử sang giấy, cách thức sao văn bản và thẩm quyền sao văn bản, này bao gồm:

a) Hình thức và các bản sao

– Sao y từ văn bản điện tử sang văn bản giấy được thực hiện bằng việc in từ bản gốc văn bản điện tử ra giấy; Sao y từ văn bản giấy sang văn bản điện tử được thực hiện bằng việc số hóa văn bản giấy và ký số của cơ quan, tổ chức;

– Sao lục từ văn bản giấy sang văn bản điện tử; sao lục từ văn bản điện tử sang văn bản giấy và được thực hiện bằng việc in, chụp từ bản sao y

– Trích sao từ văn bản giấy sang văn bản giấy; trích sao từ văn bản giấy sang văn bản điện tử; trích sao từ văn bản điện tử sang văn bản điện tử; trích sao từ văn bản điện tử sang văn bản giấy.

b) Thẩm quyền sao văn bản

Người đứng đầu cơ quan, tổ chức quyết định việc sao văn bản do cơ quan, tổ chức ban hành, văn bản do các cơ quan, tổ chức khác gửi đến và quy định thẩm quyền ký các bản sao văn bản.

Với quy định mới về sao văn bản giúp cho người làm văn thư hiểu rõ ràng hơn về việc sao và phương thức thực hiện sao văn bản giữa giấy và điện tử và ngược lại. Việc quy định thẩm quyền sao, ký bản sao, đảm bảo giá trị pháp lý của bản sao khi thực hiện đúng thẩm quyền sao và ký bản sao văn bản và hạn chế sao văn bản không đúng quy định tránh lãng phí.

Về kinh phí cho công tác văn thư: Nghị định 30/2020 quy định, các cơ quan, tổ chức có trách nhiệm bố trí kinh phí cho công tác văn thư trong dự toán ngân sách nhà nước hàng năm. Đối với doanh nghiệp nhà nước việc bố trí kinh phí được thực hiện theo quy định hiện hành. Kinh phí cho công tác văn thư được sử dụng vào các công việc: Mua sắm, nâng cấp hệ thống, hạ tầng kỹ thuật, trang thiết bị, vật tư tiêu hao phục vụ công tác văn thư; bảo đảm thông tin liên lạc, chuyển phát văn bản, số hóa văn bản; nghiên cứu, ứng dụng khoa học và chuyển giao công nghệ trong công tác văn thư; các hoạt động khác phục vụ công tác văn thư.

Để thực hiện đầy đủ các yêu cầu, nội dung của công tác văn thư theo quy định tại Nghị định này, việc hiện đại hóa, nâng cấp hệ thống, hạ tầng kỹ thuật, trang thiết bị, nâng cao trình độ cho người làm công tác văn thư phải thực hiện thường xuyên phù hợp với sự phát triển của khoa học, công nghệ, yêu cầu cải cách hành chính, xây dựng Chính phủ điện tử. Vì vậy quy định, các cơ quan, tổ chức có trách nhiệm bố trí kinh phí cho công tác văn thư trong dự toán ngân sách nhà nước hàng năm là vô cùng cần thiết./.

Từ khóa: Chính phủ , Nghị định 30/2020 , Chính phủ điện tử , Văn bản điện tử , văn thư