Văn Bản Chinh Phụ Ngâm Lớp 10 / Top 8 # Xem Nhiều Nhất & Mới Nhất 2/2023 # Top View | Bac.edu.vn

Giáo Án Ngữ Văn 10: Đọc Văn: Tình Cảnh Lẻ Loi Của Người Chinh Phụ (Trích “Chinh Phụ Ngâm”)

TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TÂN TRỤ ——————–š›——————- Giáo án giảng dạy (2tiết) Văn bản: (Trích “Chinh phụ ngâm”) Nguyên tác chữ Hán: Đặng Trần Côn Diễn Nôm: Đoàn Thị Điểm (?) GVHD: (cô) Nguyễn Thị Mỹ Châu SVTT: Đỗ Thị Linh Ngọc Tân trụ, ngày 15 tháng 03 năm 2010 Trường thực tập: THPT Tân Trụ Tiết 82-83 GVHD: (cô) Nguyễn Thị Mỹ Châu Ngày dạy: 16/03/2010 SVTT: Đỗ Thị Linh Ngọc Lớp dạy: 10D3 Đọc văn: TÌNH CẢNH LẺ LOI CỦA NGƯỜI CHINH PHỤ (Trích “Chinh phụ ngâm”) Nguyên tác chữ Hán: Đặng Trần Côn Diễn Nôm: Đoàn Thị Điểm (?) A.MỤC TIÊU BÀI HỌC: Giúp học sinh: -Cảm nhận được nổi cô đơn khổ đau của người chinh phụ phải sống trong cảnh cô đơn, chia lìa đôi lứa. Đồng thời hiểu được ý nghĩa đề cao tình yêu hạnh phúc. -Nắm được nghệ thuật miêu tả nội tâm nhân vật. B.PHƯƠNG TIỆN THỰC HIỆN: -Sách giáo khoa, sách giáo viên. -Sách thiết kế bài giảng. C.PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY: -Phương pháp đọc sáng tạo, giảng bình. -Phương pháp nêu vấn đề, gợi tìm. D.TIẾN TRÌNH DẠY HỌC: 1.Ổn định lớp. 2.Kiểm tra bài cũ. -Em hãy phân tích nhân vật Trương Phi? Qua nhân vật này, em rút được bài học kinh nghiệm gì cho bản thân? -Gợi ý: +Sống ngay thẳng, trung thành tiết nghĩa, không chấp nhận kẻ bội nghĩa. + Không đồng ý lắc léo quanh co nhưng lại rất nóng tính nên dẫn đến thô bạo, lỗ mãng. 3.Bài mới: Vào thế kỉ thứ XVIII, tình hình xã hội nước ta rối ren, chính trị bất ổn, chiến tranh liên miên. Triều đình cần nhiều binh lính để chiến đấu. Vì vậy, rất nhiều trai tráng từ giả gia đình gia nhập quân ngũ. Nhưng “cổ lai chinh chiến khứ nhân hồi” (xưa nay, đi chiến đấu có mấy ai trở về). Sự ra đi không hẹn ngày về của những thanh niên đã khiến vợ của họ, những người thiếu phụ, đã trở thành những người chinh phụ. Cảm thương cho tình cảnh xót xa này, Đặng Trần Côn đã sáng tác tác phẩm Chinh phụ ngâm. Hôm nay, chúng ta sẽ tìm hiểu một đoạn trích trong tác phẩm này. Đoạn trích có tên: “Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ”. PHƯƠNG PHÁP NỘI DUNG BÀI HỌC Cho HS tự đọc phần tiểu dẫn. Sau đó, GV đặt câu hỏi cho HS trả lời và GV nhận xét và chốt lại kiên thức. -Em hãy cho biết đôi nét về cuộc đời tác giả? -Những điều gì cần lưu ý về dịch giả? -Em hãy trình bày về cuộc đời của Đoàn Thị Điểm và Phan Huy Ích? -Qua phần tiểu dẫn, em cho biết hoàn cảnh sáng tác của bài thơ “Chinh phụ ngâm”? -Trong nguyên tác và bản diễn Nôm, bài thơ được viết theo những thể gì? -Tác phẩm muốn nói lên điều gì? GV gọi một em đọc diễn cảm văn bản (nhận xét giọng đọc). Sau đó, GV đặt câu hỏi: -Theo em, đoạn trích có thể chia làm mấy đoạn? Ý chính từng đoạn là gì? -Cho HS nêu đại ý sau khi khai thác hết đoạn trích. GV đọc hoặc gọi HS đọc lại đoạn I (nhận xét giọng đọc, cách ngắt nhịp).Đặt câu hỏi: -Những ngoại cảnh được đề cập đến trong đoạn thơ thứ nhất? Ngoại cảnh đó gợi cho em suy nghĩ gì về tâm trạng chinh phụ? Gợi ý: +Hiên vắng, rèm thưa gợi cho em cảm giác như thế nào về không gian ở đây? +Không gian ở đây tồn tại hai hình ảnh: ngọn đèn và người chinh phụ. Vậy người chinh phụ chia sẽ lòng mình với ai? Em có cảm nhận gì về tâm trạng của người chinh phụ lúc này? +Em có biết bài ca dao, câu thơ nào miêu tả ngọn đèn không? +Ngọn đèn dùng để diễn tả điều gì? -Âm thanh nào xuất hiện ở đây? Âm thanh đó có tác dụng gì? -Tác giả đã sử dụng biện pháp nghệ thuật gì?Nhằm mục đích gì? -Trong khổ thơ vừa rồi, người chinh phụ có những hành động gì? Em có suy nghĩ gì về tâm trạng của người chinh phụ? Gợi ý: + “Gieo từng bước” diễn tả bước đi như thế nào? + Giải thích cụm từ “rủ thác đòi phen”? + Dựa vào chú thích sách giáo khoa, em giải thích cụm từ “ hương gượng đốt, gương gượng soi, sắt cầm gượng gãy”, “dây uyên, phím loan”? + Điệp từ “gượng” có tác dụng gì? Cho HS đọc đoạn thơ thứ hai. GV nhận xét giọng đọc. Sau đó, đặt câu hỏi. -Nổi nhớ chồng của người chinh phụ được diễn tả như thế nào? Gợi ý: +Gió đông, non Yên được nhắc đến nhằm mục đìch gì? + Các từ “thăm thẳm, đau đáu” gợi cho em cảm nhận như thế nào về nổi nhớ của người chinh phụ? + Tiếng côn trùng, mưa phun có tác dụng gì? GV gọi HS đọc phàn ghi nhớ. I.TÌM HIỂU CHUNG: 1.Tác giả và dịch giả: a.Tác giả: -Đặng Trần Côn (?-?), sống vào khoảng thế kỉ XVIII. -Quê: làng Nhân Mục, huyện Thanh Trì (nay là quận Thanh Xuân, Hà Nội). -Tác phẩm chính: Chinh phụ ngâm, thơ và một số bài phú chữ Hán. b.Dịch giả: Nguyên tác “Chinh phụ ngâm” có rất nhiều bản dịch nhưng bản dịch hay nhất và được lưu hành rộng rãi thì chưa biết chính xác dịch giả. Đa số ý kiến cho rằng dịch giả là Đoàn Thị Điểm. Một số thuyết cho rằng đó là Phan Huy Ích. Nhưng chúng ta theo truyền thống khẳng định: bản dịch này là của Đoàn Thị Điểm. -Đoàn Thị Điểm (1705-1748) +Hiệu là Hồng Hà nữ sĩ +Quê: Kinh Bắc (nay là tỉnh Hưng Yên). +Nổi tiếng là thông minh xinh đẹp. +Lấy chồng năm 37tuổi, vừa cưới xong chồng bà đi sứ. Nên có thể bà dịch “Chinh phụ ngâm” trong thời gian này. +Sáng tác: ngoài Chinh phụ ngâm còn có Truyền kì tân phá. -Phan Huy Ích (1750-1822) +Tự là Dụ Am. +Quê: Thiên Lộc, Nghệ An (nay là Hà Tĩnh). +26tuổi đổ tiến sĩ. +Sáng tác: Dụ Am văn tập, Dụ Am ngâm lục. 2.Tác phẩm “Chinh phụ ngâm”. a.Hoàn cảnh sáng tác: Vào đầu thời Lê Hiển Tông , có nhiều cuộc khởi nghĩa nông dân nổ ra quanh kinh thành Thăng Long. Triều đình cất quân đánh dẹp, nhiều trai tráng phải từ bỏ người thân ra trận. Đặng Trần Côn cảm động trước nổi khổ đau mất mát của con người nhất là người vợ lính trong chiến tranh. Ông đã sáng tác bài thơ này. b.Thể thơ: -Nguyên tác chữ Hán: viết theo thể trường đoản cú (câu thơ dài ngắn xen lẫn), gồm 476 câu. -Bản diễn Nôm: viết theo thể song thất lục bát, gồm 412 câu. c.Nội dung: -Nói lên sự oán ghét chiến tranh phi nghĩa. -Thể hiện tâm trạng khát khao tình yêu, hạnh phúc lứa đôi. 3.Đoạn trích “Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ” a.Vị trí: Từ câu 193 đến câu 216. b.Bố cục: 2đoạn -Đoạn I: “Từ đầu àphím loan ngại chùng”. àNổi cô đơn, lẻ loi, sầu muộn của người chinh phụ. -Đoạn II: Phần còn lại. àNổi nhớ thương chồng. c.Đại ý: Tình cảnh và tâm trạng của người chinh phụ. Nàng phải sống cô đơn buồn khổ trong thời gian dài chồng đi đánh trận không tin tức, không rõ ngày về. II.ĐỌC-HIỂU VĂN BẢN: 1.Đoạn I: Nổi cô đơn, lẻ loi, sầu muộn. a.Ngoại cảnh: -Từ ngữ diễn tả ngoại cảnh: hiên vắng, rèm thưa, đèn, hoa đèn, bóng hoè phất phơ và các âm thanh: tiếng gà gáy, tiếng trống cầm canh. -Diễn giải: ìKhông gian: +Hiên vắng, rèm thưa: không gian tẻ nhạt, vắng vẻ và buồn. +Ngọn đèn: § Bạn duy nhất của người chinh phụ. Song, vật vô tri này có hiểu được nổi lòng của chinh phụ không? Hay “Thiếp lòng riêng bi thiết mà thôi”. Khối buồn đau riêng người chinh phụ chịu đựng, không ai chia sớt giải tỏ nổi lòng. Đối diện với ngọn đèn trong đêm tối cô quạnh, bóng người chinh phụ vò võ trong đêm thể hiện sự khát khao đồng cảm chia sẽ, giải bày tâm sự. Hình ảnh người phụ nữ vò võ trong đêm tối cũng từng xuất hiện trong ca dao, Truyện Kiều: “Đèn thương nhớ ai Mà đèn không tắt”. (Ca dao) à Nhớ thương người yêu. “Người về chiếc bóng năm canh Kẻ đi muôn dặm một mình xa xôi” (Truyện Kiều-Nguyễn Du) àNổi nhớ của Thuý Kiều về Thúc Sinh sau buổi chia tay. § Dùng để tả không gian tối tăm mênh mông. Giữa đêm tối ngập tràn, ánh sáng ngọn đèn không đủ để tỏ sáng cả không gian. Mà đó chỉ là một điểm sáng loe loét giữa màn đêm u tối. Hay có thể nói rằng: Ngọn đèn sáng lên để thấy cả một vùng đang ngập tối. Đây chính là biện pháp nghệ thuật đặc trưng trong thơ cổ: dùng ánh sáng để tả bóng tối. +Hoè phất phơ: gợi cảm giác hoang vắng của vùng đất sâu và xa. ìÂm thanh: tiếng gà gáy và tiếng trống. Âm thanh xuất hiện báo hiệu trời đã khuya. Đồng thời, sự xuất hiện này cũng không làm tan biến cái vẻ tĩnh lặng mà nó làm tăng thêm sự tịch mịch của không gian, tạo ấn tượng về một đêm thanh vắng lạnh người. Bởi âm thanh phát ra rồi chìm dần vào bóng tối. Ở đây, tác giả và dịch giả đã dùng động để tả tĩnh tạo nên ưu điểm cho bài thơ. ìThời gian: “Khắc giờ đằng đẳng như niên Mối sầu dằng dặt tựa miền biển xa” +Biện pháp nghệ thuật so sánh phóng đại: khắc giờ như niên, mối sầu như biển. +Kết hợp với các từ láy “đằng đẳng, dằng dặt”: diễn tả tâm trạng nặng nề, dai dẳng. àSự cảm nhận thời gian của nhân vật cho thấy nàng trong tâm trạng sầu muộn, lo âu, chờ đợi, khắc khoải. Đồng thời, ôm trong lòng nổi buồn đau nặng trĩu, dai dẳng theo thời gian, sâu và rộng lớn như biển. Thời gian trôi đi một cách nhạt nhẻo, buồn chán. èNgoại cảnh được tác giả miêu tả khá kĩ. Sự lựa chọn từ ngữ để diễn tả không gian, thời gian và âm thanh rất phù hợp với tâm trạng nhân vật. Các từ: hiên vắng, rèm thưa, đèn, gà eo óc, hoè phất phơ đều giống nhau ở nét nghĩ vắng và lặng. Cho nên, tâm trạng cô đơn lẻ loi, buồn đau và sự chờ đợi mỏi mòn không còn ẩn trong nội tâm mà tuôn ra gắn liền với ngoại cảnh. Người đọc có thể cảm nhận được, thị giác được nổi lòng của người chinh phụ. Ở đây, tác giả đã lấy cái hữu hình để tả cái vô hình. Quả thật: “Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu-Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”. b.Cử chỉ, hành động,: -Từ ngữ diễn tả hành động: (1) “Dạo, gieo từng bước; ngồi, rủ thác đòi phen”: Diễn giải hành động: Người chinh phụ đi đi lại lại ở hiên nhà. Rồi vào phòng, nàng ngồi kéo rèm lên xuống trông tin của chim thước nhưng chẳng thấy. àLo lắng, nhớ mong, ngóng trông tin tức của chồng. Sự lặp lại của hành động cho thấy sự tù túng, bế tắt của người chinh phụ. (2) “Hương gượng đốt, gương gượng soi, sắt cầm gượng gãy”: Người chinh phụ cố gắng gượng để thoát khỏi cảnh cô đơn, đau khổ bằng những hành động thường ngày như đốt hương, soi gương, gãy đàn nhưng: + Đốt hương-hồn “mê mải” àthả hồn theo hương khói, không tập trung, gần như vô thức. +Soi gương-lệ “châu chan” ànước mắt tuôn chảy khiến hình ảnh trong gương bị mờ nhoè. +Sắt cầm: cây đàn hoà điệu ví cảnh vợ chồng hoà thuận. +Dây uyên, phím loan: gợi những loài chim loan phượng, uyên ương sống thành đôi không rời nhau. +Gãy đàn- dây đứt, phím chùngàđiềm gở. +Điệp từ “gượng” (3lần): miễn cưỡng àNàng không thoát được nổi cô đơn, lẻ loi trong đêm vắng mà lại thêm đau khổ. èTâm trạng cô đơn, khắc khoải ngày càng sâu đậm và da diết khi người chồng đi chiến trận không biết khi nào trở về. Qua đó, ta thấy thái độ quan tâm, lo lắng cho chồng, khát khao vợ chồng như loan phượng có đôi, sắt cầm réo rắt. 2.Đoạn II: Nổi nhớ thương chồng triền miên da diết: -Tứ thơ có sự chuyển động theo hướng mở rộng dần: từ ngoại cảnh xung quanh nhà ànúi non, trời đất. -Gió Đông: gió mùa xuân ấm áp. -Non Yên: nơi chồng mình đang giặc. àNổi nhớ nhung của người chinh phụ không biết giải bày cùng ai đành nhờ ngọn gió Đông đem theo hơi ấm tình của tình thương đến với chồng. Hình ảnh gió đông và non Yên mang tính ược lệ gợi lên không gian rộng lớn và khoảng cách xa xôi muôn trùng giữa chinh phụ và chinh phu. Khoảng cách đó càng tăng nổi nhớ nhung da diết đối với chồng. -Tâm trạng người chinh phụ được diễn tả một cách trực tiếp. -“Thăm thẳm” nổi nhớ kéo dài vô tận và được cụ thể bằng hình ảnh so sánh đường lên bằng trời. -“Đau đáu” nổi nhớ khôn nguôi, xâu xé tâm can người chinh phụ. -Giữa “Truyện Kiều-Nguyễn Du” với “Chinh phụ ngâm-Đặng Trần Côn” đã có điểm chung: cảnh buồn ó người buồn àSự đồng điệu giữa thiên nhiên và con người. “Cảnh buồn người thiết tha lòng”. “Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ” (Truyện Kiều) – Sương, tiếng côn trùng, tiếng mưa phun: hình ảnh và âm thanh như chất xúc tác làm nổi buồn chà đi xát, da diết hơn diễn tả nổi nhớ thương đến đau đớn cõi lòng. à Gợi nổi nhớ nhung tha thiết và khôn nguôi, một nổi nhớ nhung luôn canh cánh bên lòng. Nó diễn tả chân thực tâm trạng người chinh phụ. Qua đó, bộc lộ khát khao tình yêu hạnh phúc lứa đôi. Nhà thơ mượn cảnh để tả tình, mượn thiên nhiên để thể hiện tâm trạng, đặt người chinh phụ vào không gian có tầm vóc vũ trụ. Đây là biện pháp ước lệ đặc trưng của thơ cổ điển. III.GHI NHỚ: Đoạn trích miêu tả những cung bậc và sắc thái khác nhau của nổi cô đơn, buồn khổ ở người chinh phụ, khát khao được sống trong tình yêu hạnh phúc lứa đôi. E.CỦNG CỐ VÀ DẶN DÒ: 1.Củng cố: -Tâm trạng người chinh phụ phải sống trong cảnh nhớ nhung sầu muộn. Đề cao quyền hưởng hạnh phúc của con người. -Nghệ thuậtt miêu tả nội tâm nhân vật. 2.Dặn dò: -Học thuộc lòng đoạc trích, nội dung bài học. -Viết một đoận vă ngắn miêu tả tâm trạng người chinh phụ. -Chuẩn bị bài mới: Lập dàn ý văn nghị luận. Phê duyệt của giáo viên hương dẫn Tân Trụ, ngày 15 tháng 03 năm 2010. Sinh viên kí tên Nguyễn Thị Mỹ Châu Đỗ Thị Linh Ngọc

Tình Cảnh Lẻ Loi Của Người Chinh Phụ (Trích Chinh Phụ Ngâm)

Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ (Trích Chinh phụ ngâm – Đặng Trần Côn)

Nội dung Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ

I. Đôi nét về tác giả

– Đặng Trần Côn hiện chưa rõ năm sinh, năm mất

– Quê quán: làng Nhân Mục, tên nôm là làng Mọc, huyện Thanh Trì, nay thuộc phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân, Hà Nội

– Ông sống vào khoảng nửa dầu thế kỉ XVIII

– Sáng tác: Ngoài sáng tác chính là tác phẩm Chinh phụ ngâm, ông còn làm thơ chữ Hán và viết một số bài phú chữ Hán

II. Đôi nét về tác phẩm Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ (Trích Chinh phụ ngâm)

1. Tác phẩm Chinh phụ ngâm

a) Hoàn cảnh ra đời

Đầu đời vua Lê Hiền Tông có nhiều cuộc khởi nghĩa của nông dân nổ ra quanh kinh thành Thăng Long, triều đình cất quân đánh dẹp. Đặng Trần Côn “cảm thời thế mà làm ra”

b) Giá trị nội dung và nghệ thuật

– Giá trị nội dung

+ Là tiếng nói oán ghét chiến tranh phong kiến phi nghĩa

+ Thể hiện khát vọng hạnh phúc lứa đôi

– Giá trị nghệ thuật

+ Thể thơ: trường đoản cú (nguyên tác), song thất lục bát (bản dịch)

+ Hình ảnh mang tính ước lệ, tượng trưng

+ Nghệ thuật tả cảnh ngụ tình

+ Bản dịch đã đưa ngôn ngữ dân tộc lên một tầm cao mới, phong phú, uyển chuyển

2. Vị trí đoạn trích

Đoạn trích từ câu 193 đến câu 216 của tác phẩm

3. Bố cục (2 phần)

– Phần 1 (16 câu đầu): Nỗi cô đơn của người chinh phụ

– Phần 2 (còn lại): Nỗi thương nhớ chồng nơi xa

4. Giá trị nội dung

Đoạn trích miêu tả những cung bậc và sắc thái khác nhau của nỗi cô đơn, buồn khổ ở người chinh phụ khát khao được sống trong tình yêu và hạnh phúc lứa đôi.

5. Giá trị nghệ thuật

– Miêu tả tâm lí nhân vật (tả cảnh ngụ tình, độc thoại nội tâm…

– Các biện pháp nghệ thuật: điệp ngữ, so sánh, từ láy, câu hỏi tu từ…

III. Dàn ý phân tích Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ (Trích Chinh phụ ngâm)

I. Mở bài

– Giới thiệu về tác giả Đặng Trần Côn và tác phẩm Chinh phụ ngâm

– Giới thiệu về đoạn trích Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ

II. Thân bài

1. 16 câu đầu: Nỗi cơ đơn, lẻ loi của người chinh phụ

a) 8 câu thơ đầu

– Không gian:

+ Hiên vắng: vắng vẻ, hiu quạnh

+ Khuê phòng: cô đơn, nhớ nhung

– Thời gian:

+ Đèn: ban đêm, thời gian của tâm trạng

+ Hoa đèn: thời gian qua lâu gợi nỗi niềm khắc khoải

– Hành động của người chinh phụ:

+ Dạo – gieo từng bước: đi đi lại lại, quanh quanh, quẩn quẩn

⇒ Nỗi nhớ như ngưng đọng trong từng bước đi

+ Rủ thác: hành động vô thức, không có chủ đich

+ Nghe ngóng tin tức: nhớ mong, khao khát người chồng trở về

+ Giãi bày, chia sẻ với ngọn đèn – vật vô tri vô giác

– Biện pháp nghệ thuật:

+ Điệp ngữ vòng: đèn biết chăng – đèn có biết, diễn tả tâm trạng buồn triền miên, kéo dài lê thê trong thời gian và không gian, dường như không bao giờ đứt, ngừng.

+ Câu hỏi tu từ: đèn biết chăng? ⇒ như một lời than thở, thể hiện nỗi khắc khoải đợi chờ và hi vọng luôn day dứt không yên trong người chinh phụ.

b) 8 câu thơ còn lại

– Cảnh vật thiên nhiên:

+ Gà eo óc gáy – sương năm trống: gà gáy báo hiệu canh năm, báo hiệu người vợ trẻ xa chồng đã thao thức suốt đêm

⇒ Tiếng gà khắc khoải như xoáy sâu vào tính chất tĩnh lặng của không gian, đồng thời cũng xoáy sâu vào tâm trạng người chinh phụ

+ Hòe phất phơ: cảnh vật quạnh hiu

– Cảm thức của người chinh phụ về thời gian:

+ Hòe: bóng cây hòe ngoài sân, trong vườn ngắn rồi lại dài, dài rồi lại ngắn, thể hiện sự trôi đi của thời gian – thời gian của xa cách và nhớ thương

+ Thời gian của tâm trạng:

– Hành động của người chinh phụ:

+ Đốt hương tìm sự thanh thản nhưng tình cảm lại mê man theo những suy nghĩ viển vông, khắc khoải, những dự cảm chẳng lành

+ Soi gương nhưng chỉ thấy hiện lên đó gương mặt đau khổ đầm đìa nước mắt.

+ Gượng gảy đàn sắt đàn cầm để ôn lại kỉ niệm vợ chồng nhưng lại lo lắng có điềm gở. Sự lo lắng không chỉ cho thấy nỗi cô đơn mà còn cho thấy niềm khát khao hạnh phúc lứa đôi của người phụ nữ.

⇒ Sự mâu thuẫn giữa cảm xúc và lí trí

⇒ 16 câu thơ đầu thể hiện tình cảnh lẻ loi, nỗi cô đơn sầu muộn của người chinh phụ.

2. Nỗi nhớ thương chồng của người chinh phụ

a) 6 câu thơ đầu

– Hình ảnh thiên nhiên:

+ Gió đông: gió mùa xuân, gió báo tin vui, thể hiện sự sum họp, đoàn viên.

+ Non Yên: núi Yên Nhiên, nơi phương bắc xa xăm – nơi người chồng đang chinh chiến.

– Biện pháp nghệ thuật

+ Hình ảnh ước lệ: non Yên.

+ Điệp ngữ vòng: non Yên, trời

+ Từ láy: thăm thẳm, đau đáu.

⇒ Không gian vô tận, mênh mông, không giới hạn, không chỉ là không gian vô tận ngăn cách hai vợ chồng, mà còn là nỗi nhớ không nguôi, không tính đếm được của người chinh phụ, là tình yêu thương của người vợ nơi quê nhà.

b) 2 câu còn lại

– Hai câu thơ mang tính khái quát, triết kí sâu sắc

– Lời thơ chuyển sang độc thoại nội tâm, trực tiếp bày tỏ nỗi lòng người chinh phụ với hình ảnh người chinh phu tràn ngập trong tâm tưởng.

⇒ 8 câu thơ cuối như lời gửi gắm nỗi niềm thương nhớ khôn nguôi đến người chồng nơi biên ải xa xôi.

III. Kết bài

– Khái quát lại giá trị nội dung và nghệ thuật của đoạn trích.

– Liên hệ với số phận người phụ nữ trong xã hội phong kiến có chồng đi lính

Đã có app VietJack trên điện thoại, giải bài tập SGK, SBT Soạn văn, Văn mẫu, Thi online, Bài giảng….miễn phí. Tải ngay ứng dụng trên Android và iOS.

Nhóm học tập facebook miễn phí cho teen 2k5: chúng tôi

Theo dõi chúng tôi miễn phí trên mạng xã hội facebook và youtube:

tac-gia-tac-pham-lop-10.jsp

Nhóm Bài Thơ: Chinh Phụ Ngâm Khúc

Lịch sử văn học của chúng ta còn có những vấn đề cần bàn lại cho thấu đáo hơn. Một trong những vấn đề đó là sự tồn nghi về tác giả hay dịch giả của một số tác phẩm. Bài này nhằm góp ý kiến về một trường hợp cụ thể: vấn đề dịch giả Chinh phụ ngâm khúc.

I. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ

Trong tập Giảng văn Chinh phụ ngâm xuất bản ở Thanh Hoá năm 1950, Giáo sư Đặng Thai Mai có viết: “Sự thực, thì hai trăm năm sau khi tập Chinh phụ ngâm đã được viết bằng chữ Hán và phu diễn vào trong hình thức Việt văn của nó, người ta chỉ biết có một bài chinh phụ, người ta chỉ nhớ đến một khúc ngâm chinh phụ: ấy là Chinh phụ ngâm của Đoàn Thị Điểm”. Đây là một nhận xét đúng đắn, xuất phát từ thực tế nghiên cứu văn học, từ thực tế dư luận thống nhất của nhân dân ta hơn 200 năm nay về dịch giả Chinh phụ ngâm khúc. Thế thì, tại sao hôm nay vấn đề lại đưa ra bàn lại? Nguyên do như sau:

Báo Nam phong số 106 tháng 6 năm 1926 có đăng một bài nhan đề “Phan Dụ Am tiên sinh văn tập” của ông Đông Châu. Trong bài đó, tác giả có viết: ” Chinh phụ ngâm khúc bấy lâu nay ta vẫn truyền là bà Điểm diễn Nôm, dễ thường không phải, mà chính là của cụ Phan Huy Ích diễn ra đó chăng?”

Mối ngờ này được đặt ra một cách hết sức dè dặt là vì “Tôi – lời ông Đông Châu – có tiếp thư ông Phan Huy Chiêm cũng là con cháu về họ Phan nói rằng cứ tra cứu trong Phan gia tộc phả cùng lời các cụ phụ lão trong họ Phan truyền lại, thì bài Chinh phụ ngâm bằng Hán văn là của ông Đặng Trần Côn, người làng Nhân Mục làm ra, mà cụ Phan Huy Ích dịch ra văn Nôm, hiện nhà họ Phan còn giữ được bản chính vừa Chữ vừa Nôm, và khi phiên dịch xong bài Chinh phụ ngâm, có làm bài thơ ngẫu thuật bằng chữ Nho rằng:

Nhân Mục tiên sinh “Chinh phụ ngâm”,Cao tình dật điệu bá từ lâm.Cận lai khoái trá tương truyền tụng,Đa hữu thôi xao vi diễn âm.Vận luật hạt cùng văn mạch tuý,Thiên chương tu hướng nhạc thanh tầm.Nhàn trung phiên dịch thành tân khúc,Tự tín suy minh tác giả tâm.

(Ông Đặng Trần Côn người làng Nhân Mục làm ra bài Chinh phụ ngâm bằng chữ Nho, từ điệu cao kỳ đã truyền bá ở chốn từ lâm. Ai cũng truyền tụng, lấy làm khoái chá lắm, đã có nhiều người thôi xao diễn ra ca Nôm. Nhưng theo về âm luật thì dịch sao cho hết được cái tinh tuý trong mạch văn, vậy phải theo thiên chương mà hiệp với âm nhạc mà diễn ra mới được. Nay nhân buổi nhàn đã dịch ra thành khúc mới, tin chắc rằng suy minh được bụng tác giả).

Năm 1943, ông Hoa Bằng mới trở lại vấn đề này với bài “Dịch phẩm Chinh phụ ngâm phải chăng của bà Đoàn Thị Điểm?” đăng trên tạp chí Tri tân số 113. Bài báo đã dựa vào ba tài liệu chủ yếu: Lịch triều hiến chương loại chí, Tang thương ngẫu lục và Đoàn thị thực lục. Nhưng cả ba bộ sách đều không cho được một ánh sáng nào để giải quyết vấn đề cả. Cuối cùng ông chỉ xác nhận một điều là: Đoàn Thị Điểm và Phan Huy Ích đều có dịch Chinh phụ ngâm khúc. Còn như bản Chinh phụ ngâm khúc hiện hành là của ai? thì không giải quyết được. Ông Hoa Bằng đã kết luận: “Trong khi chưa đủ chứng cớ mà phán đoán cái án văn học này vì chưa tìm được những nguồn chắc chắn để giải quyết bản dịch Chinh phụ ngâm hiện hành là của bà Đoàn Thị Điểm, thì thiết tưởng nên đề chữ ‘khuyết danh’ ở bản dịch”.

Một năm sau, ông Trúc Khê lại quay về tìm ở nhà họ Đoàn với bộ Đoàn thị thực lục – gia phả của họ Đoàn. Kết quả cũng không biết gì hơn, vì Đoàn thị thực lục không nói gì đến việc bà dịch Chinh phụ ngâm khúc cả – và ông cũng chỉ có thể kết luận: “Bản dịch Chinh phụ ngâm khúc có thể không phải là của bà Đoàn Thị Điểm (Trúc Khê: “Những tài liệu mới về Đoàn Thị Điểm”. Tiểu thuyết thứ bảy, 9-1944).

Đến năm 1953, công việc đã đến tay ông Hoàng Xuân Hãn. Trong Chinh phụ ngâm bị khảo, xuất bản năm ấy tại Pa-ri, ông Hãn đã sưu tầm được bốn bản Chinh phụ ngâm khác nhau và một số bản phỏng tác khác. Trên cơ sở bốn bản Chinh phụ ngâm khúc này, ông đã thống kê, phân tích và đi đến kết luận rằng: bản Chinh phụ ngâm khúc hiện hành là bản của Phan Huy Ích. Cho xuất bản cuốn Chinh phụ ngâm bị khảo, ý chừng ông muốn giải quyết cho xong xuôi vấn đề – và chính ông cũng tin như thế. Điều đó chúng ta có thể thấy rõ ở bài tựa cuốn Bị khảo của ông.

Còn có thể kể một số bài bản khác nữa về vấn đề trên, nhưng phần nhiều không ngoài những quan điểm đã giới thiệu.

II. KHẢO SÁT LẠI NHỮNG GIẢ THUYẾT CỦA VẤN ĐỀ

Như phần trên chúng tôi đã trình bày, những người nghiên cứu trước đây đều không ngờ vực gì cả về một việc này: Đoàn Thị Điểm và Phan Huy Ích, cả hai người đều có dịch Chinh phụ ngâm khúc của Đặng Trần Côn.

Trong Chinh phụ ngâm bị khảo, ông Hoàng Xuân Hãn đã sưu tầm được bốn bản dịch Chinh phụ ngâm khúc được sắp xếp đánh dấu theo thứ tự A, B, C, D (chúng tôi sẽ giữ nguyên cách đánh số này). Và, theo ông:

– Bản A, bản Chinh phụ ngâm khúc, hiện hành là của Phan Huy Ích.

– Bản B, là của Đoàn Thị Điểm, vì bản này ở đầu sách có ghi hai chữ “nữ giới”, ý nói đó là do đàn bà diễn ca (tr.27).

– Bản C, bản của Nguyễn Khản. Vì Đoàn thị thực lục có chép: chỉ có nhà Nguyễn Nghiễm tàng trữ các tác phẩm của Đoàn Thị Điểm mà thôi, và xem thế thì biết rằng họ Nguyễn chuộng thi văn của bậc tài tử, mà trong đó chắc có bài Chinh phụ ngâm khúc diễn ca. Nhân đó, nếu Nguyễn Khản có ý đem Chinh phụ ngâm mà tái diễn, thì cũng không vô lý (tr.24).

– Bản D, không biết là do ai dịch. Bản này chỉ là một bản đã phiên âm ra chữ Quốc ngữ. Lời văn kém hơn các bản kia.

Những người chủ trương cho là của Phan Huy Ích, luận cứ của họ có thể quy lại đầu đủ như sau:

1. Gia phả của họ Phan. Vì trong gia phả có chép: “Ông lại từng diễn Chinh phụ ngâm khúc. Nay từ các bậc danh nhân văn sĩ cho đến trai gái thôn quê ai mà không đọc”. Hiện nay có một số người họ Phan còn thuộc cả khúc ngâm, chỉ có khác bản hiện hành 13 vế (Bản Quốc ngữ ông Huy Chiêm ghi lại gửi cho ông Hãn vào mùa hè năm 1952 thì khác 13 vế, nhưng một người khác của họ Phan được cho anh Lại Ngọc Cang vào tháng 8-1961, thì khác 21 vế và có một vài chỗ khác với cả 13 vế của ông Huy Chiêm đã ghi) và theo tương truyền các cụ theo bản đó là của Phan Huy Ích.

2. Bài thơ Ngẫu thuật của Phan Huy Ích, vì qua thơ ngẫu thuật đó họ Phan đã nói lên quan điểm dịch của mình, và quan điểm đó lại được thể hiện rất rõ trong Chinh phụ ngâm khúc, bản hiện hành.

3. Bản A (bản hiện hành) gần với ta hơn trong thời gian. Vì bản A ít có tiếng cổ, về cú pháp hầu như đã rũ sạch ảnh hưởng của cú pháp tiếng Hán. Và đặc biệt là thi pháp và thể loại, thì ở bản A đã đạt đến một trình độ hoàn thiện nhất. Nó chỉ có thể xuất hiện vào đầu thế kỷ XIX. Ở thế kỷ XVIII thể loại này chưa đạt đến trình độ hoàn hảo như bản hiện hành được.

4. Đoàn Thị Điểm đã có một bản Chinh phụ ngâm khúc diễn ca khác: ấy là bản có hai chữ “nữ giới” ở đầu sách, vì hai chữ đó, ý nói là do đàn bà diễn ca.

+ Sự phát triển của văn học chữ Nôm thế kỷ XVIII. Thế kỷ XVIII là thế kỷ của song thất lục bát.

+ Vai trò của nhà văn lớn trong việc sử dụng ngôn ngữ đối với một giai đoạn văn học nhất định.

+ Đặc thù của văn học Việt Nam, cần xét nó trong khi đề cập đến vấn đề ngôn ngữ để xác định thời điểm xuất hiện của một tác phẩm văn học.

1. Gia phả của họ Phan. Quả gia phả họ Phan có chép: “Ông lại từng diễn Chinh phụ ngâm khúc. Nay từ các bậc danh nhân, văn sĩ, cho đến trai gái thôn quê, ai mà không đọc”. Nhưng từ những lời đó mà đi đến kết luận rằng: “Bài diễn ca được phổ truyền như vậy là bản “A” ( Chinh phụ ngâm bị khảo tr.27) thì cũng cần bàn lại.

Gia phả họ Phan viết về Phan Huy Ích chắc chắn là phải vào sau khi ông mất (1822) – mà dù cho có viết trong sinh thời của ông, nghĩa là trước cái mốc 1822 bao lâu cũng được – thì như thế có nghĩa là: từ năm 1804 (năm giả thiết Phan Huy Ích dịch Chinh phụ ngâm khúc) đến năm 1822, Chinh phụ ngâm khúc được phổ biến rộng rãi với tên dịch là Phan Huy Ích (vì bản của Đoàn Thị Điểm không được phổ biến!), nhưng từ năm 1822 đến năm 1902, không hiểu vì lẽ gì mà trong dư luận lúc bấy giờ người ta lại cho là của Đoàn Thị Điểm, để cho Vũ Hoạt năm 1902 khắc in bản Long Hoà, trong bài mở đầu có nói: “Nhớ xưa Đặng tiên sinh làm sách ấy, Đoàn phu nhân diễn ra Quốc âm”. Và rồi từ đó về sau nhân dân ta cứ vẫn mặc nhiên công nhận bản Chinh phụ ngâm hiện hành là của Đoàn Thị Điểm.

Sự thực, thì trong nhiều trường hợp, và thường là thế – cái “bia miệng” còn có hiệu lực, còn phản ánh đúng gấp mấy lần cái bia của sử sách. Lại nữa, ai chép gia phả họ Phan, thái độ của người chép ra làm sao. Đó cũng là những vấn đề cần được chú ý cân nhắc. Và cho đến nay, cả chúng ta và cả đến những nhà nghiên cứu văn học có uy tín cũng vẫn băn khoăn khi có người trở lại vấn đề này và cho là của Phan Huy Ích.

Tại sao vậy? Không phải bởi tại dư luận bao đời nay có cảm tình riêng gì đối với Hồng Hà nữ sĩ, bởi tại chúng ta chịu ràng buộc về cái dư luận ấy, mà chính là khúc ngâm hiện hành về tình và lý chỉ có thể là của Đoàn Thị Điểm. Văn là người – một người đàn ông suốt đời làm quan như Phan Huy Ích người đàn ông suốt đời làm quan như Phan Huy Ích thì khó mà có mối cảm tình, có mối cảm xúc sâu sắc biểu lộ ra trong cái văn của bản Chinh phụ hiện hành. Để tâm hồn cho thật yên tĩnh, chúng ta đọc lại thật kỹ bản A và cả bản B, chúng ta thấy rõ cái cảm tình trong bản Am bản hiện hành – chỉ có thể xuất phát từ cái từng trải nhân tình thế thái trong suốt cả cuộc đời sống gần gũi với quần chúng nhân dân của tác giả. Chúng tôi xin lấy hai câu mở đầu làm thí dụ:

Thuở trời đất nổi cơn gió bụi,Khách má hồng nhiều nỗi truân chuyên.

Thuở trời đất nổi cơn gió bụi,Khách hồng nhan nhiều nỗi truân chuyên.

Xin các bạn chú ý hai chữ má hồng với hồng nhan ở hai câu thất bình ở hai bản. “Má hồng” với “hồng nhan” là một, “má hồng” chỉ là tiếng dịch của “hồng nhan”. Nhưng không phải đơn giản như thế. Trong quan niệm của nhân dân ta suốt bao đời nay, “má hồng” với “hồng nhan” vẫn có chỗ khác nhau rất rõ. Hai tiếng này không bao giờ lẫn lộn làm được cả. “Hồng nhan”, nghe như có cái gì khinh bạc, rẻ rúng ở bên trong: “Hồng nhan” bao giờ cũng đi đôi với “bạc mệnh”. Hai cái như hình và bóng.

Như vậy, rõ ràng là khi để chữ “má hồng”, ở bản A, Đoàn Thị Điểm rất có ý thức về mình, về cả cái giới của mình, và qua đó để lộ một mối thông cảm, một sự cảm xúc vô cùng sâu sắc, vô cùng quý báu. Và “hồng nhan” ở đây (ở bản B) chỉ có thể là quan niệm của người đàn ông quen xem nhẹ “đàn bà”, bàng quan trước mọi tâm tư tủi nhục của họ trong xã hội cũ! Lý thú ở đây là còn ở chỗ, ở bản C mà ông Hoàng Xuân Hãn cho là của Nguyễn Khản cũng để chữ “hồng nhan”.

Nẻo trời đất nổi cơn gió bụi,Kẻ hồng nhan nhiều nỗi truân chuyên.

Tôi muốn các bạn lưu ý đến câu bát của bản A: “Vì ai gây dựng cho nên nỗi này”, và câu bát bản B: “Mấy ai gây dựng nhân duyên lỡ làng”, và xa hơn các ví dụ tương tự rải rác ở trong bản B để thấy rõ vấn đề hơn. Vấn đề đó là: Chỉ có Đoàn Thị Điểm một tâm hồn, một người đàn bà mới có được cái bút pháp, cái phong cách biểu lộ một mối cảm xúc vô hạn đối với người đàn bà như ở bản A, bản hiện hành.

Chúng ta có thể xem một số thí dụ khác ở tập Truyền kỳ tân phả, tác phẩm của nữ sĩ.

Giờ xin nói đến việc thuộc Chinh phụ ngâm của một số người của nhà họ Phan, và bản Quốc ngữ ông Huy Chiêm ghi gửi cho ông Hoàng Xuân Hãn vào năm 1952 khác bản hiện hành 13 vế. Một thực tế hiển nhiên ai cũng thấy được là trong những tác phẩm văn học trước đây, thì Chinh phụ ngâm khúc (bản hiện hành) là tác phẩm được nhân dân trong cả nước yêu mến và trân trọng sau Truyện Kiều của Nguyễn Du. Vì thế việc thuộc lòng Truyện Kiều cũng như thuộc lòng Chinh phụ ngâm, đối với chúng ta không có gì lạ. Và từ đó, chúng ta cũng thấy được dễ dàng rằng, cũng như Truyện Kiều, Chinh phụ ngâm khúc cũng đã trải qua rất nhiều lần “nhuận sắc” của nhân dân qua bao đời nay rồi. Nay chúng ta chỉ cần lấy các bản Chinh phụ ngâm Quốc ngữ đã được in ra trên giấy trắng mực đen đối chiếu với nhau, cũng thấy dễ dàng điều đó. Huống hồ Chinh phụ ngâm khúc nằm trong thời lưu truyền bằng miệng, hay với một bản Nôm trước đây. Điều này ta thấy rất rõ ngay trong những người nhà họ Phan thuộc Chinh phụ ngâm khúc: ông Huy Chiêm ghi lại cho ông Hoàng Xuân Hãn chỉ khác 13 vế, nhưng có người khác lại đọc cho anh Lại Ngọc Cang nghe thì khác đến 21 vế, và khác cả ngay với số 13 câu khác kia mà ông Hãn đã công bố trong cuốn Chinh phụ ngâm bị khảo.

Không chú ý đúng mức đến tình hình đó, mà chỉ căn cứ vào việc “ghi”, “thuộc” và “khác” này để làm căn cứ đoán định bản hiện hành là của họ Phan là không thích đáng.

Ngoài ra còn có một số câu hỏi cũng cần đặt ra ở đây: Bản Chinh phụ ngâm chữ và Nôm mà nhà họ Phan còn giữ được như ông Phan Huy Chiêm đã nói từ năm 1926 tại sao không thấy có trong Dụ Am văn, thi ngâm tập là bộ “toàn tập” của Phan Huy Ích hiện có? Bảo rằng Phan Huy Ích không thể cùng vào mấy tập này vì ý định đóng riêng ra thành một quyển, sợ để gộp vào, tập sách dày quá. Điều đó có lẽ không đúng, vì với khổ lớn của các tập sách của Dụ Am, thì có thêm Chinh phụ ngâm vào cũng chỉ dày thêm 8 tờ. Hơn nữa sách Dụ Am cũng không dày là bao, quyển dày nhất chưa đến 2cm. Hay vì Phan Huy Ích dù sao cũng là một người có tội với triều Nguyễn nên không muốn để gộp vào? Cũng không phải. Vì trong tập Dụ Am thơ văn, văn tế viết hồi triều Tây Sơn còn có ghi đủ cả theo thứ tự năm làm mà xếp thành sách. Nghiên cứu các tập sách của Dụ Am, chúng tôi thấy nhà họ Phan rất có ý thức bảo vệ di sản của tổ tiên, bảo vệ quyền tác giả của những tác phẩm của họ Phan.

Còn như việc người nhà họ Phan cho rằng bản dịch Chinh phụ ngâm khúc hiện hành là bản của Phan Huy Ích, vì người nhà họ Phan (mà trước đây cả chúng ta nữa) chỉ biết theo như trong gia phả đã ghi, cho nên các cụ tin như thế cũng dễ hiểu. Không những các người nhà họ Phan hiện nay đã nhầm điều đó, mà ngay cả người chép gia phả họ Phan trước kia cũng nhầm như các cụ hiện nay nên đã ngộ chép vào gia phả như thế. Điều đó không phải là hiếm ở văn gia phả của ta.

Vì thế mà, qua gia phả họ Phan càng làm cho chúng ta ngờ về việc Phan Huy Ích là dịch giả bản Chinh phụ ngâm khúc hiện hành, và càng thấy rõ Đoàn Thị Điểm là dịch giả khúc ngâm.

2. Bài thơ Ngẫu thuật của Phan Huy Ích: như đã trình bày ở phần I, trong Dụ Am ngâm tập (ký hiệu Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm là A.603), tờ 60a-b có chép bài Tân diễn Chinh phụ ngâm khúc thành ngẫu thuật. Qua bài ngẫu thuật này, các nhà nghiên cứu trước đây đều thống nhất ở một điểm nhất định: Phan Huy Ích có dịch Chinh phụ ngâm khúc, nhưng vấn đề mấu chốt là bản dịch của Phan Huy Ích là bản nào? Số người chủ trương bản Chinh phụ ngâm khúc hiện hành là của Phan Huy Ích (Hoàng Xuân Hãn, Lại Ngọc Cang) đã khai thác bài Đường luật này (tìm xem quan điểm dịch của Phan Huy Ích) và đi đến kết luận đại để rằng:

a) Trước Phan Huy Ích đã có nhiều người diễn âm Chinh phụ ngâm khúc, nhưng nay họ Phan lại dịch lại vì ông nhận thấy những người diễn âm trước đã quá gò lời chuốt chữ, câu nệ ở vận luật nên đã không diễn được hết cái “văn mạch tuý” của khúc ngâm (chú ý câu thứ tư).

b) Quan điểm của Phan Huy Ích biểu lộ ở hai câu luận: “Vận luật hạt cùng văn mạch tuý, Thiên chương tu hướng nhạc thanh tầm”, nghĩa là: lấy vận luật thì không sao diễn hết được tinh tuý của mạch văn, cho nên phải theo từng thiên, từng chương mà tìm âm thanh cho êm ái ( Chinh phụ ngâm bị khảo, tr.27), quan điểm đó được thể hiện ở bản A, vì bản A là bản dịch không câu nệ về nghĩa đen và về các vế. Bản B thì trái lại. Phan Huy Ích là phỏng dịch, còn Đoàn Thị Điểm chỉ áp dịch (Sđd tr.67)

Nhưng chúng tôi thì lại nghĩ khác.

a) Câu 4: “Đa hữu thôi xao vi diễn âm”, không nên hiểu cái sự thực của “câu thực” ấy thành một lời nhận xét, một lời phê phán các bản diễn âm có từ trước-nhất là khi lời nhận xét đó là không tốt, như “đã nhiều kẻ gò lời chuốt chữ…”

b) Hai câu luận:

Vận luật hạt cùng văn mạch tuý,Thiên chương tu hướng nhạc thanh tầm.

Luận cái gì? Thì hẳn là luận cái thực ở câu 3, câu 4. Nhưng ở đây là bài Ngẫu thuật sau khi dịch xong Chinh phụ ngâm khúc nên “cái thực” đây là cái việc dịch lần này của mình (Phan Huy Ích) đối với cái khúc ngâm “cao tình dật điệu bá từ lâm” của Đặng Trần Côn.

Chúng tôi đặc biệt chú ý đến mấy chữ này: chữ diễn âm ở câu bốn, chữ phiên dịch ở câu bảy. Chúng tôi cho rằng chính quan điểm dịch của Phan Huy Ích được biểu hiện ở mấy chữ đó. Một bài Đường luật 56 chữ, mỗi chữ vận dụng đều được cân nhắc thật chính xác. Điều đó là tất yếu, đối với văn đại khoa hay đối với các thi sĩ có tài. Mà Phan Huy Ích là một ông nghè, thì tất nhiên là không dễ dãi trong khi dùng chữ.

“Diễn âm” và “phiên dịch”, mỗi chữ có một nội dung không phải giống nhau hẳn. “Diễn âm”, nghĩa đen của chữ diễn có nhiều nghĩa, nhưng ở trong “diễn âm” thì nó chỉ có nghĩa là: căn cứ vào một bài đã có sẵn mà suy rộng nghĩa ra rồi lấy ý mà diễn đạt ra bằng Quốc âm (nghĩa ở đây). Vậy ở ta trước đây, “diễn âm” có nghĩa như là “phỏng dịch” của ta hiểu bây giờ. Vì từ tiếng Hán thì gọi là “ý dịch”. “Phỏng dịch” không có trong từ vị tiếng Hán. Đã là “diễn” thì không đòi hỏi phải theo từng lời, từng chữ, từng câu mà chỉ cần dịch thoát ý, lấy cái tinh thần của câu văn. Do đó mà số câu ở bài diễn âm ít hơn ở bài nguyên tác là một điều dễ hiểu.

Còn “phiên dịch” thì hoàn toàn không có nghĩa là “phỏng dịch”. Vì “phỏng dịch” mà từ tiếng Hán gọi là “ý dịch” đó, thì “ý dịch” – cái từ này cũng mới xuất hiện sau nay, chữ từ “Dân quốc tam thập lục niên” trở về trước là không có. Khái niệm “phiên dịch” vẫn có trong từ vị tiếng Hán đã từ lâu. Đã là “phiên dịch” thì phải dịch cho hết nghĩa, phải dịch từng chữ, từng câu. Nhất là ở đây, lại dịch một khúc ngâm nổi tiếng của Đặng Trần Côn như chính tự tác giả nói ở câu thừa “Cao tình dật điệu bá từ lâm”. Do đó mà số câu ở bản B dịch theo quan niệm này, số câu lại nhiều hơn nguyên tác, vì phải dịch cho hết ý của bài chữ Nho Đặng Trần Côn.

Chúng ta theo dõi bảng thống kê do ông Hoàng Xuân Hãn thống kê ở Chinh phụ ngâm bị khảo (tr.67).

Nhìn vào bản thống kê này, có hai điểm cần chú ý:

a. Số vế ở cột 1 càng nhiều, chứng tỏ bản dịch càng phải sát với nguyên tác. Bản A bản hiện hành có 8 vế, bản B có 36 vế.

b. Số vế ở các cột 2, 3, 4, 5, 6 càng nhiều, chứng tỏ bản dịch càng xa nguyên tác. Bản A là bản dịch theo quan điểm diễn âm. Còn bản B, thì theo quan điểm phiên dịch, dịch từng câu, từng chữ, dịch cho hết ý của bản Hán mới “suy minh tác giả tâm”. Và quan điểm đó là quan điểm của Phan Huy Ích (nên không phải là bản C). Bản A (bản hiện hành) là của Đoàn Thị Điểm.

Một lý do nữa khiến chúng ta tin chắc điều nhận xét của bản B chỉ có thể do Phan Huy Ích dịch là đúng, bởi lẽ bản B dịch hết ý, câu nào dịch câu nấy. Một nhà Hán học uyên bác như họ Phan nhất định là có một trình độ thưởng thức bản Hán văn của Đặng Trần Côn cao lắm. Điều đó thấy rõ ở hai câu đầu bài Ngẫu thuật của cụ.

Đối chiếu kỹ bản Hán văn với bản A, chúng ta thấy rằng bản A vì phỏng dịch nên đã bỏ đi rất nhiều ý của bản Hán.

Những ý này đã làm cho họ Phan không vừa lòng mà phải dịch lại. Vì vậy trong khi đánh giá bản dịch, chúng ta nên chú ý đánh giá cho vừa phải. Một vài thí dụ:

Thương đài, thương đài, hựu thương đàiNhất bộ nhàn đình bách cảm thôi.

Rêu xanh mấy lớp chung quanh(Sân đi một bước trăm tình ngẩn ngơ).

Rêu lại rêu xanh xanh đòi chốn(Bước nhàn đình ngâm ngụt kẻ trăm)

Sa song tịch mịch chuyển tà huyTà huy, tà huy hựu tà huyThập ước giai kỳ cửu độ vi

Bức rèm thưa lần giải bóng dươngBóng dương mấy buổi xuyên ngangLời sao mời hẹn, chín thường đơn sai

Chốn song the tứ bề vắng vẻÁc tà tà bóng xế rèm hoaTà tà thôi đã lại tà,Xem trong mười hẹn kể đà chín sai.

3. Luận cứ thứ ba, chủ trương bản Chinh phụ ngâm khúc hiện hành là của Phan Huy Ích là bởi vì: “văn bản A gần với ta hơn trong thời gian ít tiếng cổ hơn so với bản B” (ý của ông Hoàng Xuân Hãn trong Chinh phụ ngâm bị khảo). Trên cơ sở nhận định đó, có người (anh Lại Ngọc Cang) lại đi xa hơn một chút về tiếng cổ, về thể loại, để xác nhận từ đó trên một mặt khác nữa là: thể loại song thất lục bát trong bản A đã đật đến một trình độ hoàn thiện nhất, nó chỉ có thể xuất hiện vào đầu thế kỷ XIX, thế kỷ của Đoạn trường tân thanh.

Trước hết cần phải nói rằng, cách làm này (cách so sách chữ cổ, xem sự xuất hiện hay mất đi của một từ trong văn học, xem sự phát triển của thể loại văn học…) là một điều thường thấy ở trong văn học các nước để xác định thời điểm xuất hiện của một tác phẩm văn học nếu có. Song đối với chúng ta, khi làm công việc này, một điều hết sức quan trọng là phải đặc biệt chú ý đến đặc điểm của tình hình văn học của chúng ta, phải cố gắng khai thác cho hết mọi tác phẩm văn học có thể khảo được. Bởi vì không làm như thế, chúng ta sẽ chỉ có thể có được một kết quả mà bên ngoài thì có vẻ khoa học, nhưng thực ra không phản ánh được cái thực chất; chỉ có thể có được một kết quả hết sức phiến diện, không phản ánh được cái chung, cái khái quát của văn học của ta. Ở đây, về thời gian: từ 1742 – 1745 – thời điểm giả sử xuất hiện bản dịch Chinh phụ ngâm của Đoàn Thị Điểm, năm 1803 – thời điểm giả sử xuất hiện bản dịch Chinh phụ ngâm khúc của Phan Huy Ích, thì không lâu là bao. Năm mươi năm so với lịch sử phát triển tiếng nói của một dân tộc không có một ý nghĩa đáng kể lắm. Ai tự vãn ra đời từ nửa cuối thế kỷ XVIII và Truyện Kiều, đầu thế kỷ XIX là một thí dụ. Cho nên đọc lại hai áng văn đó, chúng ta không hề thấy nó “cổ”.

Về mặt chữ viết, chữ của ta là chữ Nôm, vốn không có một quy cách nào thống nhất, cho nên cách đọc không có gì là ổn định. Hơn nữa thử hỏi: có phải là trong thời gian ngắn năm mươi năm ấy, ngôn ngữ của ta chỉ có những chữ như đăm chiêu (Dạo hiên vắng đắm chiêu từng bước – bản A câu 193), bẻ bai (Trúc sập soè, mai cũng bẻ bai – bản A câu 282), chốc mòng (Bến ngâu sàn sạt, cung trăng chốc mòng – bản A câu 240)… để diễn đạt tư tưởng cho tất cả mọi trạng thái tâm lý, tình cảm hay không? Không phải. Ở bản A cần diễn đạt dáng đi tư lự, cái nhịp nhàng uốn éo, diễn đạt cái tâm lý ngóng trông, mong mỏi tha thiết… nên Đoàn Thị Điểm đã dùng đăm chiêu, bẻ bai, chốc mòng… mà thôi. Còn ở chỗ khác, không cần diễn tả những trạng thái ấy nên người ta không dùng. Xét về tiếng cổ trong bản B cũng thế. Một chữ như: lãi linh (thiếp lãi linh đâu làm Tố nữ – bản B, câu 471), giang (Bến ngân tranh, tay ấp bùng giang – bản B, câu 308) chỉ nói rằng nó cổ, nó mất đi không thấy xuất hiện trong các tác phẩm văn học, trong tiếng nói của ta nữa trong năm mươi năm ấy, khi mà nó:

– Không thấy có ở những tác phẩm văn học của một người hay của nhiều người ở trong thời gian ấy.

– Không dùng được nữa để diễn tả cùng một nội dung tâm lý, cùng một nội dung tình cảm như nhau ở trong những tác phẩm văn học qua các thời kỳ xuất hiện của các tác phẩm tương đối đều đặn.

Thế thì, tại sao mà bản A (bản hiện hành của Đoàn Thị Điểm) có nhiều tiếng cổ hơn bản B, khi đọc lên ta có cảm giác “gần với ta hơn trong thời gian”. Hay nói một cách khác, mới hơn, trẻ hơn? Mới hơn, hay trẻ hơn, cái cảm giác đó thực ra hoàn toàn không phải là vì bản thân cái từ nó mới. Cảm giác cổ hơn, xưa hơn cũng thế. Cổ, xưa, cái cảm giác đó thực ra không phải là do cái bản thân từ cổ gây nên, mà chủ yếu là bởi tại cách vận dụng nó, các sử dụng nó trong cú pháp, trong cái phong cách ngôn ngữ của từng nhà văn.

Ở đây tôi còn chủ ý một điều nữa là: xét trong Dụ Am thi văn tập, rải rác trong một đôi bài văn tế có những từ Phan Huy Ích có dùng như:

– Hầu cách linh dư, kính dâng điện lễ (Từ cung, mẹ Lê Ngọc Hân tế con)

– Cách mái linh dư, dâng tuần điện tế… vơi vơi hoàng giản một điêu… (Hoa lệ tế Lê Ngọc Hân 1799).

Đem đối chiếu bài văn tế cuối này với bản A, có những từ giống nhau:

– Tự ta đội chín lần sống thác, lệnh cửa viên nổi tiếng trống ngọn cờ; cùng nhau vâng muôn dặm ruổi giong, đoàn áo giáp trải chân rừng mặt bể.

– Giữ chiến pháp lấy mình làm nhẹ.

Vấn đề là: có nên xem có sự thống nhất một số từ, một số ý ở bài văn tế này với Chinh phụ ngâm khúc bản A mà cho rằng chính Phan Huy Ích là dịch giả bản A, mà cho rằng hai bản này (Bài Văn tế và bài Chinh phụ ngâm khúc) chỉ có thể hiểu là do một người viết không?

Không phải thế. Vì ta có thể hỏi ngược lại, làm sao lại không đặt vấn đề cho Phan Huy Ích trong khi làm bài văn tế này đã chịu ảnh hưởng bản Chinh phụ ngâm khúc của Đoàn Thị Điểm. Hơn thế, xét ra những từ này đều là những từ dịch từ tiếng Hán, hay là những từ thuần Nôm của ta nổi tiếng trống ngọc cờ, gió lộng, đáy nước biển…, và cả những từ nguyên tiếng Hán: chinh phụ, dũng sĩ… Vô luận là từ thuộc loại nào đó cũng đã nhập vào vốn từ vị ngôn ngữ của ta rồi, và hơn thế nữa, tất cả những từ đó đều chỉ sử dụng trong một đề tài nhất định, để diễn tả một trạng thái tâm lý tương tự, cho nên sự thống nhất này là không quan trọng, mà là tất yếu.

Một người, hai người, hay rất nhiều người khác nữa, vô luận là thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX và cho đến giữa thế kỷ XX và ta tin rằng cả sau này nữa nếu có viết về đề tài này thì bất kỳ ở thế nào cũng vận dụng những từ hay cả những ý ấy. Xin đọc các bài văn tế của Đặng Vũ Khiên viết năm 1946, của Tú Mỡ viết năm 1984… cũng thấy rõ điều đó.

Hơn thế, khái niệm của những từ này, ở đây đã được sử dụng trong một bài văn vần, phải bị qui định bởi vận, luật, cho nên dù cho dùng “cửu trùng” hay “chín lần”, hay “bệ rồng” cũng là một điều dễ hiểu. Ở đây không có sự vận dụng từ một cách tự do như trong một bài văn xuôi.

Vì thế, chúng ta không thể hễ thấy một số từ nào đó được vận dụng trong một số bài viết về một số đề tài tương tự nào đó mà cho rằng những bài đó phải là do một người viết được.

Cái quan trọng chủ yếu ở đây không phải là do cả những từ. Ở đây, Phan Huy Ích không vừa lòng với những bài diễn âm Chinh phụ ngâm khúc có từ trước, thì điều không vừa lòng của họ Phan không phải là không vừa lòng với những từ, mà không vừa lòng với cách dịch như đã nói ở phần trước. Cho nên ở đây Phan Huy Ích trong khi làm văn tế, sử dụng các vốn từ ngữ chung ấy thì không có gì là lạ.

Thêm vào đó, Chinh phụ ngâm khúc có trên 400 câu, sáng tác của Dụ Am gồm 3 tập dày, mà ở đây chúng ta chỉ thấy được năm, mười câu có một đôi từ giống nhau, thì riêng về tỷ lệ này so với khối lượng kia là một lý lẽ không đáng kể. Tóm lại, ở đây cũng không có cái lẽ gì để bảo Phan Huy Ích là dịch giả của bản A cả. Trái lại, theo chúng tôi thì Phan Huy Ích đã chịu ảnh hưởng Đoàn Thị Điểm và chính Đoàn Thị Điểm là dịch giả bản Chinh phụ ngâm khúc hiện hành.

Trong lịch sử văn học nước ta, thế kỷ XVIII đã đánh dấu một giai đoạn phát triển căn bản của văn học chữ Nôm, nó được bắt nguồn từ trước kia, chỉ kể từ cuối thế kỷ XVI với Tứ thời khúc vịnh của Hoàng Sĩ Khải rồi đến Ngoạ Long Cương vãn của Đào Duy Từ, Sãi vãi của Nguyễn Cư Trinh, phú của Nguyễn Bá Lân… và đến An Đô Vương (Trịnh Cương), Định Vương (Trịnh Căn), Minh Đô Vương (Trịnh Doanh) rồi đến Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều, Ai tư vãn của Ngọc Hân.

Điểm đặc biệt ở thế kỷ XVIII là thể loại song thất lục bát khá thịnh hành. Thể này có lẽ bắt nguồn từ Tứ thời khúc vịnh (hay trước nữa) và ổn định đến mức hoàn hảo nhất với Chinh phụ ngâm khúc của Đoàn Thị Điểm, với Cung oán của Nguyễn Gia Thiều, và với Ai tư vãn của Ngọc Hân. Nó không phải đợi đến đầu thế kỷ XIX mới ổn định như có người đã nghĩ.

Một bài văn dịch, Phan Huy Ích chú ý làm sao diễn tả hết tứ thơ chữ Hán là chủ yếu, chứ không phải vì vận luật mà bỏ mất ý của nguyên tác. Bởi thế, Phan Huy Ích nói rất có lý rằng: “vận luật hạt cùng văn mạch tuý”. Cứ gò bó với âm luật thì làm sao mà diễn tả cho hết được ý của tác giả?

Đoàn Thị Điểm thì phỏng dịch, nên ý tứ thoát hơn, có nhiều sáng tạo. Đó là cái ngoài cộng thêm cái tài thơ Nôm của nữ sĩ. Vậy chính Hồng Hà nữ sĩ là dịch giả bản Chinh phụ ngâm khúc hiện hành.

III. VÀI KẾT LUẬN NHỎ

Một nghi vấn văn học âm thầm kéo dài trong suốt hơn 60 năm qua, hôm nay lại đặt ra với chúng ta. Những tài liệu xung quanh cái nghi vấn nay tưởng cũng đã khai thác gần đủ. Nhưng không có một tài liệu nào làm bằng chứng chắc chắn cho Phan Huy Ích là dịch giả bản Chinh phụ ngâm khúc hiện hành cả. Vì vậy,

1. Những giả thuyết về Phan Huy Ích không có điều kiện tồn tại, mà trái lại qua đó, chúng ta lại thấy rõ hơn: chính Đoàn Thị Điểm là dịch giả bản dịch Chinh phụ ngâm khúc hiện hành. Điều đó phù hợp với công luận của nhân dân ta trong hơn 200 năm nay, như ông Đặng Thai Mai đã nói “người ta chỉ biết có một bài chinh phụ, người ta chỉ nhớ đến một khúc ngâm chinh phụ: ấy là tập Chinh phụ ngâm của Đoàn Thị Điểm”.

2. Một nghi vấn văn học được nêu ra thiếu chứng cớ có khoa học chắn chắn, thì tưởng chúng ta cũng không nên quá băn khoăn với nó. Và, cũng không nên cho đây là một nghi vấn văn học nữa. Bản dịch Chinh phụ ngâm khúc hiện hành là của Đoàn Thị Điểm. Thái độ đó không phải là thái độ bảo thủ, mà là một thái độ khoa học, biết triệt tiêu đi những yếu tố nào mà sau khi đã xét hết những điều kiện để tồn tại của nó.

Chừng nào có ai phát hiện được tài liệu mới, chắc chắn, thì chúng ta sẽ đưa vấn đề ra bàn lại.

Nguyễn Thạch GiangViết tại Giả Ngoại Hương Viên, ngày 8/10/1992 kỷ niệm 90 năm năm sinh của thầy: Giáo sư Đặng Thai Mai (25/12/1992)

Nguồn: Tạp chí Hán Nôm, số 1(14) năm 1993

Soạn Bài Sau Phút Chia Li (Trích Chinh Phụ Ngâm Khúc) (Chi Tiết)

Lựa chọn câu để xem lời giải nhanh hơn

Câu 5 Trả lời câu 5 (trang 93 sgk Ngữ Văn 7 Tập 1): Hãy chỉ ra một cách đầy đủ các kiểu điệp ngữ trong đọan thơ và nêu tác dụng biểu cảm của các điệp ngữ đó? Lời giải chi tiết:

– Các điệp ngữ trong đoạn thơ “Sau phút chia li”:

+ Điệp ngữ “chàng” và “thiếp” (được kết hợp ngược chiều trong câu “chàng thì đi…thiếp thì về” hoặc được kết hợp chéo trong cụm từ “lòng chàng ý thiếp”).

+ Các điệp ngữ Tiêu Tương – Hàm Dương, cùng – cùng, ngàn dâu – ngàn dâu, xanh ngắt – xanh ngắt.

– Tập trung phân tích hai các tác dụng sau:

+ Tạo nhạc điệu trầm buồn cho thơ, phù hợp với nỗi sầu chia cách của người chinh phụ.

+ Góp phần diễn tả tính chất hai mặt của nỗi sầu chia li: gắn bó mà phải xa cách.

Luyện tập Hãy phân tích màu xanh trong đoạn thơ Lời giải chi tiết:

a. Các từ chỉ màu xanh được dùng khá nhiều trong đoạn trích: mây biếc, núi xanh, xanh xanh (ngàn dâu), xanh ngắt (ngàn dâu).

b. Sự kkác nhau của các từ chỉ màu xanh là ở chỗ nó chỉ những sự vật hiện tượng khác nhau, do đó nó có nội hàm ý nghĩa khác nhau. Đồng thời các từ cũng miêu tả màu xanh ở các mức độ khác nhau.

c. Tác dụng:

– Các từ: mây biếc, núi xanh gợi tả cái mênh mông, rộng lớn của không gian, tương ứng với nỗi sầu chia li không thể có lưòi nào nói hết được của người thiếu phụ.

– Hai từ còn lại miêu tả màu của ngàn dâu với mức độ tăng tiến (xanh xanh, xanh ngắt) vừa có ý nghĩa tượng trưng chỉ một linh cảm về sự cách xa vĩnh viễn (màu xanh của ngàn dâu trong thơ ca trung đại thường ngụ ý chỉ những đổi thay to lớn – có thể tìm hiểu thêm câu thành ngữ Thương hải biến vi tang điền (biển xanh biến thành nương dâu), hàm ý chỉ sự đổi thay to lớn), vừa gợi ra khoảng cách xa vời vợi và nỗi sầu ngày vừa lan toả, vừa thẳm sâu của người vợ khi chỗng đã cất bước ra đi.

Bố cục Bố cục: 3 đoạn

– Khúc ngâm 1 (4 câu đầu): Nói về nỗi trống trải của lòng người trước thực tế chia li phũ phàng.

– Khúc ngâm 2 (4 câu tiếp theo): Nói về nỗi xót xa trong cách trở núi sông.

– Khúc ngâm 3 (4 câu cuối): Nói về nỗi sầu thương trước bao cảnh vật.

ND chính

Đoạn trích ” Sau phút chia ly ” đã diễn tả một cách sâu sắc nhất nỗi lòng bi ai của người chinh phụ có chồng ra chiến trận và sự chờ đợi chồng trở về trong cảnh lẻ loi, đơn bóng. Qua đó tố cáo chiến tranh phi nghĩa và nỗi khao khát hạnh phúc lứa đôi của người phụ nữ.

chúng tôi